Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Ngô Thế Vinh, Thích Trí Quang. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Ngô Thế Vinh, Thích Trí Quang. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Ngô Thế Vinh: Phỏng vấn 96 phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang [05.05.1966]

Bìa báo SVYK Tình Thương số 29 phát hành tháng 5 - 1966.
LỜI DẪN NHẬP: Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. 

Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một cơn gió lốc cách mạng thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng sản." 

Vậy thì đâu là sự thật? Đâu là con người thật của Thích Trí Quang? Như câu hỏi trong phim Rashomon, một kiệt tác điện ảnh của Nhật Bản. Người viết sẽ không đưa ra một kết luận nào về chân dung TT Thích Trí Quang, nhưng muốn trở lại bối cảnh chính trị xã hội của thập niên 1960s, khi mà tên tuổi Trí Quang hầu như gắn liền với những biến động thời bấy giờ. 

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

NGÔ THẾ VINH: KINH NGHIỆM LÀM BÁO SINH VIÊN NỬA THẾ KỶ TRƯỚC 1964 - 1967


Đã 42 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi. (1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng hoặc còn suy tôn ông Diệm thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một cơn gió lốc cách mạng thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng sản."

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

Trịnh Y Thư: Ngô Thế Vinh: Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa


1.

Văn học Việt Nam truyền thống không có bộ môn tiểu sử. Hay nói cho rõ hơn, không có những công trình dài hơi, thấu đáo, viết về chẳng những sự nghiệp mà cả thân thế đời sống riêng tư của các văn nghệ sĩ làm nên văn học sử nước nhà. Bên trời Tây, họ có truyền thồng này ngay từ thời Trung đại. Nhờ thế, qua Thayer, chúng ta biết những “Người tình bất tử” của Beethoven chẳng qua chỉ là sản phẩm tưởng tượng nằm bên trong khối óc âm nhạc kì vĩ nhất của nhân loại; và nhờ nữ sĩ Elizabeth Gaskell viết cuốn tiểu sử Charlotte Brontë chúng ta biết nhân vật Rochester trong cuốn tiểu thuyết kiệt tác Jane Eyre được xây dựng từ một hình tượng có thật, đó chính là ông thầy dạy học Charlotte thời bà còn là cô gái trẻ du học bên xứ Bỉ và cô nữ sinh trong trắng đem lòng yêu thầy mình, một người đàn ông đã có vợ. Hiểu biết tường tận hơn về con người cá thể của tác giả, các nhà nghiên cứu hai ba trăm năm sau có thêm trong tay cơ sở quy chiếu để đọc văn bản từ một góc độ độc lập nào đó, tâm lí học chẳng hạn, và rất có thể có cái nhìn phân tích thú vị và trung thực hơn về tác phẩm.

Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê): Vài nét về tuyển tập “Chân dung Văn HọcNghệThuật&VănHóa” của Ngô Thế Vinh


Ngô Thế Vinh là một thầy thuốc, một bác sĩ y khoa. Nên dù là một nhà văn, nhà báo, nổi tiếng với nhiều tác phẩm, đặc biệt những cuốn sách viết về dòng Mekong gần đây của anh, thì người ta vẫn thấy thấp thoáng bóng blouse trắng. Anh luôn nhìn con người như một tổng thể, thân tâm nhất như. Cho nên những bài viết của anh về các văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa trong cuốn tuyển tập này luôn có những chi tiết, những góc nhìn của người thầy thuốc, lấp lánh tình người trong mỗi câu chữ.

Võ Phiến “nhà văn lưu đày”

Những ai từng đọc Võ Phiến, từng đọc “Đất nước quê hương’’ với nào áo dài, bánh tráng, tô cháo, chén chè, rụp rụp, đất nước, con người... thì coi bộ khi phải rời xa những thứ quấn quít đó của quê nhà, Võ Phiến đã khốn khổ thế nào!

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

NGÔ THẾ VINH - PHÙNG NGUYỄN NHƯ CHƯA HỀ GIÃ BIỆT

The only certainty in this life is uncertainty
Thường hằng duy nhất trong đời này chính là sự vô thường

Gửi Ban Biên Tập Da Màu
Các Bạn Anh Phùng Nguyễn
NGÔ THẾ VINH


TIỂU SỬ PHÙNG NGUYỄN

Nhà văn Phùng Nguyễn, tên thật Nguyễn Đức Phùng, sinh năm 1950 tại Quảng Nam, là anh cả trong một gia đình đông anh em. Học xong tiểu học trong một làng quê, năm 1961 cậu học sinh Nguyễn Đức Phùng thi đậu vào lớp Đệ Thất trường trung học Trần Quý Cáp, Hội An. Ba năm sau đó Phùng theo gia đình vào Sài Gòn 1964.

Có một giai đoạn rất quan trọng mà Phùng Nguyễn đã không ghi trong phần tiểu sử của mình, đó là Phùng đi lính năm 1968, lúc ấy mới 18 tuổi và là một thương phế binh giải ngũ trước 1975. Theo người viết, những năm tháng mặc áo lính tuy ngắn nhưng đã có ảnh hưởng sâu đậm tới bước hình thành phong cách của cả văn nghiệp Phùng Nguyễn về sau này.

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

LÊ QUANG VINH

Loạn tướng hay anh hùng?

Trần Nguơn Phiêu


Tướng Lê Quang Vinh


Năm 2005 đã được đánh dấu bằng sự phổ biến Bạch thư về Nhân quyền của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Trong lúc hầu hết các diễn đàn dân chủ trên thế giới đều đồng loạt lên án nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay là một trong những tập đoàn độc tài, tham nhũng nhất trên thế giới, cuốn Bạch Thư thật đã là một tài liệu trơ trẽn, xấu hổ, nói cho có được, những việc không ai dại dột gì tin tưởng. Một đất nước khoe khoang có hơn 600 tờ báo nhưng không kể được có một tờ nào của tư nhân, một quốc gia không dám chấp nhận cho dân chúng tự do thực hành tín ngưỡng của các đạo giáo mà cố vỗ ngực khoe là một quốc gia tự do dân chủ bậc nhất, thật không có gì có thể khôi hài hơn nữa!

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

NGÔ THẾ VINH: CON ĐƯỜNG SÁCH SÀI GÒN VÀ CÂU CHUYỆN ĐỐT SÁCH


Hình 1:Trên Đường Sách, cũng là đường mang tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình (1910-1995), bên hông Bưu Điện, chạy dài từ Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng,như một tụ điểm sinh hoạt văn hoá và du lịch, đang rộn rã không khí Giáng Sinh 2017với ban nhạc Santa Claus có lẫn cả một ông Tây béo mập cao ngồng thổi kèn, vây quanhlà tấp nập khách đi xem, chụp hình,ngồi tụ tậptrong các quán cà phê sách,và một số thì tìm mua sách.Đường Sách Nguyễn Văn Bình ngày nay là hình ảnh một mini-đường sáchLê Lợicủa hơn 40 năm trước.[Photo tư liệu Ngô Thế Vinh]

CON ĐƯỜNG SÁCH LỊCH SỬ
Khởi từ ý tưởng của báo Tuổi Trẻ, ngày 15.10.2015, Sở Thông Tin và Truyền Thông Thành phố đã khởi công xây dựng con Đường Sách trên đường Nguyễn Văn Bình [là tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình] phường Bến Nghé, Quận I TP. HCM. Đây là một con đường nhỏ nằm bên hông Bưu điện Thành phố, nối liền Nhà Thờ Đức Bà và đường Hai Bà Trưng nhưng có ưu điểm là nằm ngay trong khu vực trung tâm Thành phố, đây không chỉ là một không gian sinh hoạt văn hoá mà còn là một tụ điểm du lịch, là nơi thường xuyên có nhiều du khách ghé qua.

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018

Ngô Thế Vinh: GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH VÀ ƯỚC VỌNG DUY TÂN

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012 

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012

Hình 1: trái, đến thăm Gs Trần Ngọc Ninh, Huntington Beach ngày 21 & 29 tháng 06.2018, ở tuổi 95 mà Thầy vẫn còn rất minh mẫn và sắc bén; trên bàn là những số báoTình Thương(1963-1967) có các bài viết của Thầy; phải, Gs Trần Ngọc Ninh đang ký tặng Ngô Thế Vinh cuốn Làm Gì (1979), bên cạnh là tác phẩm Nuôi Sẹo của Thư Quán Bản Thảo do nhà văn Trần Hoài Thư tặng Gs Trần Ngọc Ninh. [tư liệu Ngô Thế Vinh]    

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

Ghé thăm các Blogs: 26/01/2012


- BLOG BS HỒ HẢI -
Thứ năm, ngày 19 tháng một năm 2012

Bài đọc liên quan:

Cả năm 2011, liên tục thông tin tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) là con nợ khủng. Trong đó EVN nợ tập đoàn dầu khí Quốc gia (PVN) lên đến 14.000 tỷ. Và nhờ vào cái của nợ ấy mà EVN đòi chính phủ phải tăng giá điện để giải quyết nợ. Kết quả là trong năm 2011, giá điện đã tăng 3 lần, nhưng EVN vẫn than lỗ.

Câu chuyện vì sao lỗ thì báo chí đã phanh phui nhiều lý do. Nào là đầu tư sai chức năng vào kinh doanh chứng khoán thua lỗ. Nào là đầu tư sai chức năng vào bất động sản bị đóng băng và thua lỗ. Nào là lương từ cán bộ đến nhân viên EVN quá cao, nên đưa đến thua lỗ, v.v... và v.v...

Tất cả những nguyên nhân trên là đúng với thực tế khách quan của một cơ cấu chính trị không đúng, dẫn đến các tập đoàn độc quyền kinh doanh của đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền dẫn đến nhiều tha hoá và sai phạm trong làm ăn kinh tế.

Nhưng có một thực tế khách quan khác núp bóng dưới sự cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam, dẫn đến các tập đoàn độc quyền kinh doanh của đảng thua lỗ mà ít ai quan tâm. Đó là, EVN cũng là của đảng, mà PVN cũng là của đảng. Cả hai đứa con của đảng được đảng độc quyền cai trị cho phép chúng độc quyền kinh doanh.

Đứa con PVN được đảng cho phép độc quyền moi tài nguyên đất nước - của ông cha để lại - lên tiêu dùng và bán cho EVN. EVN lại là một đứa con cũng của đảng cho phép độc quyền sản xuất và bán điện cho toàn xã hội. 

Câu chuyện EVN và PVN giống như câu chuyện một ông chủ - ở đây là đảng cộng sản Việt Nam - mở 2 doanh nghiệp A và B từ tiền xương máu của nhân dân, sau khi ông chủ cầm quyền và tự cho mình có cái quyền trên tất cả các quyền, là người lãnh đạo nhân dân. Doanh nghiệp A được ông chủ dùng của hồi môn của ông cha để lại cho doanh nghiệp B sản xuất và kinh doanh độc quyền. Thế thì B nợ A, nhưng là cũng của một ông chủ thì nợ cái gì và ai nợ ai, nếu không là ông chủ - cụ thể ở đây là đảng cộng sản Việt Nam - nợ chính mình hay là đảng cộng sản Việt nam đang nợ nhân dân vì đã tạo ra một chế độ tồi?

Như vậy, EVN nợ hay lợi dụng sai lầm chính trị để vơ vét kinh tế quốc dân? EVN nợ, hay là EVN kêu nợ là để ăn cắp tiền dân để chia chác nhau giữa các quan của đảng cầm quyền, vì hơn 80 năm qua đảng vẫn còn  mắc nợ nhân dân một lời hứa chưa thực hiện được là, mang Độc lập, Tự do, Hạnh phúc đến mọi nhà?

Asia Clinic, 9h16' ngày thứ Năm 19/01/2012


BLOG NGÔ MINH



Bình quân mỗi năm nước ta có hơn 12.000 người chết vì tai nạn giao thông và cũng chừng ấy người bị thương, tàn tật. Việt Nam là nước số người chết do tại nạn giao thông nằm trong số vài nước cao nhất thế giới. Số người chết vì tai nạn giao thông ở nước ta hàng năm lớn hơn nhiều lần số người chết năm cao nhất do bom đạn Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc thời chống Mỹ. Có một con số giật mình : Năm 2008, số người chết vì tai nạn giao thông trên 1 triệu người ở Anh là 38, Mỹ là 71, Đức 52, Italia 67, Nhật bản 32, thì Việt Nam là 284, gấp gần 10 lần Nhật bản ! Đó chuyện cách đây bốn năm. Bây giờ thì tỷ lệ người chết tai nạn giao thông ở Việt Nam chắc cao hơn các nước nhiều. Có nhiều tác nhân gây tai nạn giao thông : đường sá chật chội, xuống cấp, bọn tham nhũng “ăn” hết vốn nên đường vừa mới làm đã hư hỏng, đầy ổ voi ổ gà; Thiết kế đường sá không hợp lý; phương tiện giao thông cơ giới ngày càng tăng. Nhà nước lại khuyến khích sản xuất ô tô, xe máy để kiếm ngân sách, quảng cáo ô tô xe máy vẫn tràn ngập màn ảnh nhỏ; nhiều xe cũ quá đát tham gia giao thông, quản lý phương tiện và người tham gia giao thông kém; ý thức tuân thủ pháp luật của người tham gia giao thông kém; pháp luật chế tài chưa đủ mạnh; cảnh sát giao thông phẩm chất thấp, ăn hối lộ, nên phương tiện tham gia giao thông không còn được kiểm soát chặt chẽ v.v...


Nhưng có một tác nhân gây tai nạn giao thông rất nguy hiểm, diễn ra hàng ngày mà không được các cơ quan chức năng nhận diện. Đó là KHẨU HIỆU, QUẢNG CÁO TRÊN ĐƯỜNG. Tôi đã nhiều lần đi xe đò tuyến Hà Nội – Huế, Vinh -Huế , Thành phố HCM – Huế. Điều rất khó chịu trên các đoạn đường QL1A là các đoạn đường đi qua các thị trấn, thị xã, thành phố như Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị v.v... ở đâu cũng đỏ rực khẩu hiệu và quảng cáo. Ở các sống đường một chiều, biểu ngữ, khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng cột đèn nào cũng có, chói chang, lóa cả mắt. Ngày lễ nào có khẩu hiểu ngày đó: Đại hội đảng các cấp, Bầu cử quốc hội, HĐND, ngày sinh các vị lãnh tụ; ngày khai giảng năm học mới… cho đến việc sinh đẻ có kế hoạch, đặt vòng, thắt ống dẫn tinh, bảo vệ môi trường, ngày “sạch phố sạch làng” v.v... đều đua nhau tương ra đường. Hiện đại hơn, ở nhiều địa phương, còn làm cổng chào chắn ngang đường, chạy khẩu hiệu điện tử nhấp nháy suốt đêm ngày. 
Khẩu hiệu đã chật đường rồi lại thêm quảng cáo bảng to, bảng nhỏ, ngay bên đường và trên các cánh đồng cạnh đường, xanh đỏ tím vàng : quảng cáo từ các nhãn hiệu xi măng “sức bền thế kỷ”, bia “hàng đầu thế giới”, đến khách sạn 5 sao “ưng sao được vậy”… Đó là trên đường quốc lộ. Ở các thị xã, thành phố, khẩu hiệu luôn giăng đỏ rực phố lớn, phố nhỏ. Mỗi ngày một chủ đề kỷ niệm, tuyên truyền đều tương hết lên phố. Cứ chiều tối, hai người được thuê đi treo khẩu hiệu đẩy một xe ba gác các loại băng khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng, đến cột đèn đường hay cây cổ thủ, chỗ nào tiện là trèo lên treo. Sáng mai mọi người thức dậy đã thấy đỏ phố, đỏ đường. Chưa hết, quảng cáo, khẩu hiệu còn in lên thành xe buýt, xe ca lượn lờ khắp đường khắp phố. Tôi nghĩ có lẽ chưa đất nước nào sống bằng khẩu hiệu, quảng cáo như đất nước mình. Lại nghĩ dường như ngành văn hóa, các doanh nhân không còn chỗ nào để giới thiệu khẩu hiệu, quảng cáo, nên mới tương cả ra đường, biến con đường thành không gian quảng cao. Gơ-ben, bộ trưởng bộ tuyên truyền của Hítle phát xít có một triết lý về tuyên truyền: “Điều không có, nói mãi mọi người phải tin là có”. Có lẽ vì triết lý đó mà quảng cáo ở ta giăng rợp đường chăng ?


Các cơ quan “sản xuất” ra khẩu hiệu là Ban tuyên giáo, Bộ văn hóa, sở văn hóa hàng ngày mang khẩu hiệu, quảng cáo treo ngang dọc đường, phố với ý đồ là nhắc nhở, tuyên truyền cho mọi người chấp hành chủ trường của Đảng và Nhà nước, nhưng lại quên mất chủ trương “an toàn giao thông”. Các địa phương bán vị trí đọc dường cho các Công ty Quảng cáo để họ dựng biển quảng cáo, nhằm tăng thu ngân sách, không thèm đến xỉa đến việc tai nạn giao thông đang ngày càng gia tăng trên đường. Các cơ quan sản xuất khẩu hiệu, quảng cáo không hề nghĩ đến điều nguy hiểm là có khẩu hiệu, tức là có thông tin, thì người đi đường nhất thiết phải đọc xem khẩu hiệu nói gì, rồi giây lát quên mất mình đang lái xe ! Vì đây là một hình thức “tuyên truyên cưỡng bức”, buộc mọi người dù không thích cũng phải đọc, phải xem. Những người lái xe con, xe tải, xe máy đi dọc đường cũng thế. Họ không thể không đọc khẩu hiệu trong lúc lái xe. Khi người lái xe đang chăm chú lái xe với tốc độ cao, mà gặp phải câu khẩu hiệu giăng ngang mắt, lóa mắt, chỉ cần liếc mắt mấy phần trăm giây thôi đã không còn làm chủ tay lái. Những thời điểm đó tai nạn giao thông sẽ xẩy ra. Nhiều lái xe đang đi trên trên đường bằng, không đèo dốc gì cũng tông vào xe đi ngược chiều. Nguyên nhân có thể là buồn ngủ, có thể là phút giây liếc khẩu hiệu, quảng cáo bên đường. Đây là một thực tế cần nghiêm túc nhìn nhận.


Ở nhiều nước, trên các con đường ô tô quốc gia , hoặc các đường trong thành phố đều không bao giờ có quảng cáo, khẩu hiệu. Nhà nghiên cứu văn hóa Mai Khắc Ứng, một năm sống ở Canada về kể rằng ở nước này trên đường ô tô, trên phố chỉ có biển chỉ đường giao thông, không có bất cứ một khẩu hiệu, quảng cáo nào hết. Xem ti-vi, phim, thời sự quốc tế cũng dễ dàng nhận thấy điều đó. Có nước như Brazin, họ còn ra lệnh cấm các biển quảng cáo lớn trên các nóc nhà thành phố. Những con đường của họ gọi là “con đường sạch” . Còn ở ta đường quốc lộ, đường phố là những “con đường bẩn”, con đường ô nhiễm khẩu hiệu, quảng cáo, đang hàng ngày làm tăng thêm nguy cơ tai nạn giao thông. Đây là vấn đề rất lớn, không thể coi thường.


Cho nên, để hạn chế tai nạn giao thông, chúng tôi đề nghị Nhà nước phải có lệnh cấm việc giăng khẩu hiệu, quảng cáo trên đường, trên phố và triển khai thực hiện nghiêm túc như lệnh đội mũ bảo hiểm. Cắt khẩu hiệu treo trên đường trên phố là hình thức tuyên truyền cũ kỹ, lỗi thời, lại “lợi bất cập hại”, rất nguy hiểm cho dân lái xe và người đi đường. Hiện nay có rất nhiều phương tiện hiện đại hơn để phổ biến khẩu hiệu, quảng cáo tới mỗi người như báo chí, web., blog, nhà văn hóa. Không nên duy trì mãi phương thức tuyên truyền cổ lỗ và nguy hiểm ấy. HÃY LOẠI BỎ KHẨU HIỆU, QUẢNG CÁO, TRẢ LẠI ĐƯỜNG CHO PHƯƠNG TIỆN VÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG. 


BLOG QUÊ CHOA

NGUYỄN ĐÌNH ẤM


NQL: Còn hai bài nữa QC sẽ lần lượt đăng nốt trước giao thừa, dốc hết những bực bõ năm cũ để đón chào năm mới.


Vụ cưỡng chế đầm thủy sản của anh em họ Đoàn ở Vinh Quang, Tiên Lãng (Hải Phòng) phát lộ, khẳng định rất nhiều điều mới lạ của xã hội ta đang sống: Sự lộng hành, vô lương, tráo trở, hèn hạ và đặc biệt là sự ngu dốt của không ít cán bộ thành phố Hải Phòng và có thể nhiều nơi khác (?).


   Hôm 17/1/2012 giao ban báo chí ở Hà Nội phó chủ tịch thành phố “Hoa phượng đỏ” Đỗ Trung Thoại ngang nhiên tuyên bố: “Phá nhà ông Vươn là do người dân bức xúc phá…”. 

Ngoài sự cãi bừa, đổ tội cho dân, vị chức sắc mặt bự mỡ này tỏ ra dốt nát đến cực điểm khi nói về người dân như vậy. Từ đông, tây, kim, cổ không có bất cứ bải giảng, sách vở nào nói người dân là bất chính,là xấu. Thế mà  một cán bộ lãnh đạo cả thành phố lại dám ngang nhiên nói về nhân dân như thế trước cả giới truyền thông quốc gia… Trước đó, ngày 12/1/2012 chủ tịch huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền nói lý do phá nhà của anh em ông Đoàn Văn Vươn là do họ “trú ẩn để chống cưỡng chế…”. Nếu cứ như lý sự ngu dốt của ông này thì các khu phố cổ, phố cũ ở Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…phải phá hết do Pháp, Nhật, Mỹ đã trú ngụ ở đây để  chống nhân dân ta… Sự dốt nát đến thế là cùng!


   Trả lời phỏng vấn báo chí, cán bộ trung ương… chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh cùng nhiều cán bộ lãnh đạo mặt trận tổ quốc, TP Hải Phòng đều nói “ông Vươn không đóng góp cho địa phường gì nhiều…”. Tức họ cho là cứ phải đem tiền bạc đến nộp cho chính quyền thì mới là “đóng góp” cho địa phương?. Việc lấn biển, trồng cây, đắp đê cải tạo môi trường, bắt một vùng hoang vu tạo ra sản phẩm cho gia đình, xã hội, đóng thuế… mà nhà nước rất khuyến khích (“dân giàu, nước mạnh”) thì không phải là sự đóng góp của người dân “cho địa phương”?.v,v…


     Đã đành, ngụy biện thì không thể khoa học nhưng chỉ có những kẻ quá dốt nát mới thở ra những lời nông cạn, lố bịch như vậy. Trình độ, đầu óc của những kẻ lãnh đạo dân, quản lý xã hội như thế thật đáng sợ.


    Ngược lại, cũng để bênh vực gia đình, chồng con, anh em mình nhưng chị Phan Thị Hiền em dâu ông Vươn -một nông dân chất phác, hẳn không thể có bằng cấp bằng các quan Hải Phòng- trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí hôm 20/1/2012 bà tỏ ra có “cái đầu” hơn hẳn các sếp địa phương, bà nói: “Gia đình em chấp nhận mất (tức những mất mát khi chống lại cưỡng chế) để xã hội được… để đảng phát hiện loại bỏ u nhọt đứng trong hàng ngũ đảng… Nếu nhà em không chịu mất, không chấp nhận hy sinh thì tất cả bà con trên cả nước này, những người dân thấp cổ bé họng như nhà em sẽ không có chỗ nào để kêu cứu… cưỡng chế sai là ăn cướp, chống cướp thì không có tội… nhà em chỉ tự vệ quá giới hạn…”.


    Có thể trong lời nói của chị Hiền có điểm chưa hằn đã chuẩn xác nhưng rõ ràng tư duy, suy nghĩ, hiểu biết xã hội của người nông dân chân lấm tay bùn này hơn hẳn những suy nghĩ, quan niệm, hiểu biết hết sức sơ đẳng, đầu óc ngu muội, hành xử, ăn nói lố bịch… của một số quan chức thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng, xã Vinh Quang. Những lời nói của chị cũng không hằn học, ác khẩu, nhắm mắt nói liều nịnh bợ quan trên một cách hèn hạ như một số cơ quan truyền thông của địa phương…


   Có thể khẳng định, nhiều quan chức địa phương này “xách dép không đắt” cho chị Hiền vậy.

Tác giả gửi cho QC


BLOG PHẠM VIẾT ĐÀO
THỨ HAI, NGÀY 23 THÁNG MỘT NĂM 2012




Khai bút đầu xuân của Ky Khoi Ly .

Tôi không đồng ý với PGS Chu Hảo ở một số luận điểm, quan điểm. Tôi xin không nhắc lại từng chi tiết các luận điểm, quan điểm này của PGS Chu Hảo để chỉ ra sự không đồng ý cụ thể ở chỗ nào, tại sao, mà chỉ nói một cách “tổng thể”, bao trùm lên toàn bộ cái tinh thần được toát ra mà nó thể hiện quan điểm, tâm tư của ông Hảo, để cho thấy rằng ai đó đừng có hão huyền, ấu trĩ nữa.


Trải qua hơn nửa thế kỷ, những gì đã và đang xảy ra (và chắc chắn sẽ vẫn còn xảy ra), đã chứng tỏ một điều rằng bản chất cái thể chế này vẫn không hề thay đổi, không hề …. Những thay đổi, điều chỉnh, sửa chữa, mà được gọi bằng cái tên rất mỹ miều - đổi mới, đã và đang hoặc sẽ diễn ra chỉ khi nó bị dồn đến chân tường, không còn có đường chạy nào khác mà thôi (như nhà báo Huy Đức đã từng nhận định rất đúng), chỉ nhằm để cố hết sức bám lấy và duy trì bằng được cái sự thống trị của mình. Thực chất những thay đổi đó vẫn chỉ là sửa sang, cơi nới, chắp vá,… Nếu vẫn còn xoay xở được, còn "độ", còn “tút” lại được, chắc chắn người ta vẫn rất "kiên trung", không hề sờn lòng, không hề động lòng một chút nào trước nhân tình thế thái (do chính họ trực tiếp tạo nên).


Một trong những chiêu “độ” đang được sử dụng là dựng lên một chủ thuyết, một hình bóng, một hình tượng nào đó, rồi đẩy lên ngang với thần thánh, với trời đất, để bắt người khác phải nghe, thuần phục theo, còn mình và các đồng chí của mình thì chỉ làm … “ngư ông đỏ” thôi. Những thay đổi căn bản nhất, cốt lõi nhất vẫn chưa được tính đến, động đến, vẫn chưa xảy ra, cho dù người ta vẫn thi nhau kêu gào phải chỉnh, phải sửa, phải thay đổi tư duy, phải thế nọ thế kia một cách quyết liệt, triệt để. Thực chất vẫn chỉ là hô khẩu hiệu, hoặc có làm thì cũng chỉ hình thức để che mắt thiên hạ. Nhưng, như ai đó vừa mới nói, CÀNG CHỈNH CÀNG ĐỐN. Phải hiểu thế nào là "đổi mới triệt để", như nhiều người nói và kỳ vọng? Liệu chỉ cần là không cơi nới, chắp vá, sơn sửa, hay tút lại là đủ? Có lẽ thực sự phải làm thế nào thì nhiều người biết rồi. Dân ta vốn khá dễ dãi, hiền lành; chỉ cần "nới" ra một chút cái gì đấy, như người ta quẳng ra một mẩu bánh hay một khúc xương cho con chó, là đã có thể dụ yên được rồi, lại còn vui vẻ hồ hởi tung hô ơn nọ ơn kia, nhờ có cái nọ cái kia.


Hãy nhớ lại lời của một nhân vật trùm CS ở một nước châu Á không hề là “nước lạ” với bất kỳ ai, và cũng là một trong những tay trùm CS khét tiếng trên TG, nói về trí thức (không biết có cần phải nhắc lại ở đây không, vì hẳn nhiều người sống ở thời trước những 1970 của thế kỷ trước - chắc chắn nhiều người vẫn còn sống - vẫn biết?). Vì cùng theo một hệ tư tưởng, lại bị ảnh hưởng, bị điều khiển bởi cái đảng to lớn “vĩ đại” kia ở sát ngay bên cạnh, thì chắc chắn cái đảng nhỏ bé nhưng tự cho mình là “bách chiến bách thắng” cũng có cùng quan điểm như vậy, chỉ có điều họ không nói trắng ra mà thôi, và còn dùng nhiều cách chiêu dụ để chứng tỏ là rất coi trọng trí thức. Như thế, trong thâm tâm người ta, đã từ lâu, trí thức cũng chỉ được coi như là một thứ chất thải của con người cả thôi. Và thực tế qua hàng nhiều chục năm, nếu không muốn nói có đến ngót cả trăm năm qua, đặc biệt những sự kiện vừa xảy ra gần đây thôi với giới trí thức, đã chứng minh cách hành xử với giới trí thức theo đúng tinh thần của cái vị "lãnh tụ vĩ đại" kia đã nói. Họ có thèm quan tâm, thèm trả lời trí thức đâu. Một khi họ đã coi trí thức chỉ như một thứ chất thải thì, đừng có … ngửa tay đi ăn xin cái kẻ đối lập truyền kiếp của mình, coi mình chỉ như một thức cặn bã. Giới trí thức thực thụ không bao giờ chịu ngửa tay ra xin giới chính trị cầm quyền để được là “cận thần” như vậy, trừ một số trí thức về sau được gán biệt danh “trí thức cận thần” (như có người đã từng gọi). Đã từ rất lâu, họ đã tạo ra được cái tính cách là sỹ phu Bắc hà rồi. Mà không chỉ ở Bắc hà, trí thức thực thụ ở bất kỳ đâu cũng vậy. Còn kêu gọi sự quan tâm, sự động lòng trắc ẩn ư? Họ sợ giới trí thức lắm. Chắc ai cũng hiểu nỗi sợ có tính “truyền kiếp” này. Trong bài viết của nv Phạm Viết Đào đã đề cập đến chuyện của Nguyễn Trãi, và nhiều gương tày liếp lắm ở cái thời sau kháng chiến chống Pháp, mà nv Phạm Viết Đào mới chỉ đề cập đến có mỗi cố GS Trần Văn Giàu thôi.


Đọc bài trao đổi của PGS Chu Hảo với BBC và bài viết của nv Phạm Viết Đào về trí thức và chế độ, tôi lại nhớ đến bài của GS Vũ Cao Đàm cách đây mấy năm (2008). Đã từng có cả một chương trình trên VTV1 đề cập đến vấn đề này ngày 26/10/2008: Tự do tư tưởng trong khoa học xã hội và mối quan hệ giữa nhà khoa học và nhà chính trị. Trong bài viết của GS Vũ Cao Đàm có nhắc đến một chương thú vị: "Khoa học và biến đổi xã hội" trong cuốn sách nổi tiếng “Chức năng xã hội của khoa học” của nhà vật lý chất rắn người Anh, John Bernal (cùng chuyên môn với PGS Chu Hảo), xuất bản ở Vương Quốc Anh từ năm 1939, trong đó nhà vật lý này dành hẳn một phần để nói về "Khoa học và chính trị". Trong đó Bernal đã nhận định rằng “Nhà khoa học mong muốn sử dụng các thành tựu của mình để làm biến đổi xã hội, trong khi nhà chính trị cũng mong muốn sử dụng đường lối chính trị của mình để cải biến xã hội. Trong trường hợp này, nhà khoa học đã đặt mình vào thế cạnh tranh với nhà chính trị. Điều đó cũng là lý do giải thích vì sao không ít nhà chính trị đã thẳng tay đàn áp các nhà khoa học”. Như thế có thể thấy rằng dường như đây là một cặp đôi mâu thuẫn luôn cùng tồn tại song hành, mang tính nội tại, bản chất. Cộng thêm vào đó, khi nền chính trị lại được độc chiếm, độc quyền bởi một nhóm, một tầng lớp, một thế lực XH nào đó, nó nắm hoàn toàn, toàn diện, mọi mặt của XH, nghĩa là đặt cả một quốc gia, một dân tộc dưới sự lãnh đạo của nó, triệt tiêu bất kỳ một yếu tố, cơ chế nào nhằm kìm chế, kiểm soát nó, thì đừng có mong gì có sự nhìn nhận lại giới trí thức đâu. Giới trí thức chỉ được sử dụng vào cho mục đích, quyền lợi của nhóm đảng, thế lực đó mà thôi. Vì thế họ sẽ sẵn sàng loại bỏ cái họ không cần, mà tự mình xây dựng một thế hệ các trí thức được gán đủ thứ tính từ  kèm theo, như đội ngũ trí thức cách mạng, trí thức nhân dân, trí thức mới. Và xin chia sẻ với những điều được trình bày, được phân tích, phân loại về trí thức của nv Phạm Viết Đào. Thực chất đấy chỉ là tầng lớp trí thức cận thần hay trí giả mà thôi. Nhưng có điều này tôi không “đồng thuận” với nhà văn, rằng mấy cái tay con ông cháu cha gì đó thuộc vào giới trí thức, để từ đó phân loại họ là “trí giả”, mà tôi chỉ coi họ được cho ăn học là chỉ để … ra làm quan to và rất to. Có đi học, có bằng đại học, thậm chí có bằng ThS hay TS, không có nghĩa là trí thức. Và do đó tôi cũng hiểu họ đâu có khoác áo trí thức, họ đang chính là họ: chỉ làm quan cận thần hay đại thần thôi. Đến đây lại nhớ đến một bài vừa rồi của nhà văn Vương Trí Nhàn (“Rất nên quan tâm tới ... lưu manh”), có nói rằng giới trí thức sợ nhất loại người nào [mở ngoặc thêm: nhưng phải là giới (tạm gọi là) trí thức thực thụ, chứ lọai lưu manh trí thức hay trí thức cận thần thì...miễn (vì theo GS. Vũ Cao Đàm, đấy là loại: “…KHI GẶP GIỚI KHOA HỌC THÌ NÓI CHÍNH TRỊ, KHI ĐI VỚI GIỚI CHÍNH TRỊ THÌ NÓI KHOA HỌC…, và đó thực sự là những quái thai của một nền khoa học và chính trị bệnh hoạn”)], còn giới lưu manh cũng sợ nhất loại người nào. Vì thế tôi cũng rất chia sẻ với nv Phạm Viết Đào rằng “hàm lượng trí thức” trong giới quan trường là cực thấp. Vì thế mới có rất nhiều những chuyện bi hài trong XH ta như thấy vừa qua. Ngay trong giới học thuật ngày nay cũng đầy rẫy những loại lưu manh trí thức như vậy.

Vì thế không mong đợi được gì đâu ở cái thực thể đã cũ nát, nhưng vẫn đang cố vùng vẫy để tồn tại, để kìm hãm sự phát triển, thậm chí còn đòi đi ngược trở lại với dòng thời đại, mà hãy nghĩ đến những thực thể mới, tiến bộ, phù hợp hơn với thời đại, đáp ứng được với mong mỏi của đông đảo mọi người.


Lkk



BLOG NGUYỄN QUANG VINH

Tháng Một 24, 2012 — nguyencuvinh



Mình gọi Châu giáo sư ( Nhà toán học Ngô Bảo Châu) chứ không gọi là Giáo sư Châu là có ý có tứ cả chứ không gọi lộn.


Châu trả lời Tuổi trẻ nói về trí thức. Trả lời xong thì trên mạng nóng rực vì bất bình.


Mình văn hóa lùn, không dám coi mình là trí thức, nhưng mình cũng nhắc khẽ Châu, khéo Châu lại nhầm mình là trí thức, dù Châu nhận được cái giải lớn về một đề tài nghiên cứu lớn nhưng không biết để làm gì vào thời buổi này.


Thành công của Châu rất quý.


Năng khiếu của Châu rất quý.


Đóng góp của Châu thì nó nằm ở đâu, ở mớ lý thuyết đâu đâu, còn nước nhà thì hùa theo ăn theo vài bữa vì danh thôi, chẳng có gì.


So với Châu, mình chỉ là thằng nhà văn quèn, cũng nhận được nhiều giải thưởng quèn trong nước, cũng nhận được đồng tiền còm nhờ chữ nghĩa, chẳng dám đứng trên bục cao răn dạy ai, chẳng dám nghĩ tới cái lúc được vinh danh vinh diếc, suốt ngày chỉ cắm mặt vào viết, thế thôi, trí thức cái gì loại nhà văn như bọn mình Châu nhỉ? Cho nên Châu cũng đừng lo (theo quan niệm của em) là tụi mình đang lao tới dành nhau cái chức vị trí thức. Chỉ là người cầm bút thôi, bằng sức lực và mồ hôi của mình thôi.


Làm cái gì trên đời này, nhà chính khách, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà văn, hay giáo sư như Châu, hay một chị quét rác, điều quan trọng bậc nhất là trách nhiệm sống của mình với cộng đồng, ý thức cộng đồng Châu ạ. Trí thức trí thiếc bàn làm cái gì nếu anh ta (coi như trí thức ấy) bàng quan với cuộc sống nhân dân, thấy người dân khổ mà không xót, thấy bất công trắng trợn mà không màng lên tiếng, thấy kẻ cường hào mới đang chà đạp nhân dân, chà đạp pháp luật mà làm ngơ, trí thức ấy là trí ngủ, là trí giả, cũng chỉ là thứ danh hão, đôi lúc vỗ ngực ta đang nghiên cứu nghiên kiếc, thí nghiệm thí nghiếc, rồi bỏ trốn trách nhiệm với nhân dân, trí thức ấy không chừng, vì đơn đặt hàng lớn, vì tiền lớn, lại vẽ vẽ, tính tính, toán toán, khéo chế tạo ra cả bom hạt nhân nguyên tử giết người hàng loạt như đã từng xảy ra.


Người dân cần đến trí thức là cần đến sự hướng dẫn đường đi cho họ, cần đến lẽ phải, cần đến sự vun đắp tâm hồn, vun đắp nhân cách, vun đắp dũng khí đấu tranh vì lẽ phải cho họ. Họ nuôi mình, cho mình sống, cho mình có chữ có nghĩa, có suy có nghĩ, có trí có tuệ thì phải vì họ, hy sinh vì họ.

Châu được nhà nước tặng cả căn hộ gần 20 tỷ để ở tạm mỗi khi về nước, tốt quá.


Châu được anh Tuyển tặng cả biệt thự 3 triệu đô để Châu và đồng nghiệp thỉnh thoảng ghé qua, nghỉ dưỡng sau những tháng ngày nghiên cứu. Quá tốt.


Châu được nhà nước giao cho Viện toán với hơn 600 tỷ đồng để muốn làm gì cũng được, không phát minh ra cái gì cũng được, mời các viện sĩ toán thế giới qua qua lại lại, để đạt cho được chỉ tiêu Việt Nam xếp thứ 40 về phát triển toán học của Thế giới hay cái gì đó, thôi kệ, nhà nước cho Châu thì em cứ dùng.


Nhưng Châu đừng vội nghĩ Châu là trí thức nhé.


Châu đừng vội nhầm mình là trí thức nhé.


Châu chỉ là một người làm nghề toán. Làm nghề toán và một nhà trí thức đôi khi cả đời Châu vươn tới cũng không tới.


Giáo sư Châu và Châu giáo sư khác nhau đấy.


Châu nói trí thức là những người lao động bằng trí óc.


Châu nghe chị Thương, chị Hiền (vợ anh Đoàn Văn Vươn, anh Đoàn Văn Quý) ở Tiên Lãng nói này: Họ đang chịu nhiều thiệt thòi, nhiều cái mất để mang lại cái được cho nhiều người. Được gì thế? Được một sự cải cách to lớn về Luật đất đai sau vụ Tiên Lãng. Được vạch mặt chân dung bọn cường hào mới. Được cái ý thức đấu tranh không khoan nhượng với sự bỉ ổi của các quan chức hư hỏng. Nói được như chị Thương, chị Hiền là cách nói của giới trí thức đấy Châu ạ dù họ nông dân xịn.


Anh trai cả của mình cũng là giáo sư Châu ạ, thế hệ thầy của bố mẹ em, mắt mù, bị bệnh tim, rồi tiều đường, không có tiền chữa chạy, vẫn gọi điện và khóc, xin góp nửa tháng lương giúp gia đình anh Đoàn Văn Vươn.


Cứ làm nghề toán cho tốt Châu ạ, đừng dạy dỗ ai, đừng giao lưu, đừng vội tuyên bố, cũng đừng nhầm mình là trí thức, bởi vì không khéo, Châu lại biến mình thành con cừu đấy.


Lại nhớ mạ mình hồi còn sống hay dạy bọn mình: đừng ăn xôi chùa ngọng miệng.


Có thể Châu vẫn chưa hết ngây ngất vì cái giải thưởng toán mà người ta đồn là ngang giải Nobel, còn mình, mình hạnh phúc là một nhà văn bé nhỏ với tước hiệu tự phong: Trưởng thôn Khoai Lang. Thế thôi nhỉ.


BLOG NGUYỄN QUANG VINH

Chỉ có súc vật mới quay lưng với nỗi đauđồng loại...





Nguyễn Quang Vinh - Sáng sớm ngày 1 tết, chị Thương vợ anh Đoàn Văn Vươn gọi cho mình, nghĩ là chị ấy chúc tết, ai ngờ chị ấy nói, mấy mẹ con em đi làm cái lều để ở đây anh ạ. Mình nghẹn lại. Hỏi trên đất Việt này, còn gia đình nào mà đúng sáng mồng tết lại dắt díu nhau, dầm người trong mưa lạnh để dựng lên căn lều bạt để ở không? 



Hỏi chị, sao lại chọn ngày này hả chị? Chị Thương nói, vì đến tối qua chúng nó rút hết quân rồi, cũng chẳng còn gì trong đầm hồ nữa, vét hết, châm điện cướp hết cá rồi, lại nghe báo chí, cấp trên phê phán xã nặng nề việc cho bọn xã hội đen cướp phá đầm hồ, rồi tết nữa, chúng nó rút hết rồi. Mấy mẹ con ra dựng lều ở. Tết nhất, ở đợ cực lắm, còn thắp hương ông bà tổ tiên, thắp hương cho bố anh Vươn, thắp hương cho con gái chúng em… 



Chị nói, nhờ các bác khắp nơi gửi tiền giúp qua Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, chúng em có tiền sắm tết, mua áo quần mới cho các cháu. Nhưng mua bạt che lều chưa ai bán. Bà con trong thôn cho cái bạt cũ. Chúng em đi đây. 



Mình gọi cho phóng viên ảnh ở Hà Nội, em xuống Tiên Lãng, tới chỗ chị Thương dựng lều nhé. Vâng ạ. Thôi bỏ tết đi em nhé. Vâng ạ. Cố gắng em nhé. Vâng ạ. Thương cậu phóng viên nhưng không biết làm gì, cần cho bà con biết, cần thêm tài liệu cho đoàn kiểm tra nên phải lên đường thôi… 



Mình không muốn viết thêm nữa, chỉ cần nhìn những tấm ảnh này là đủ biết gia cảnh của vợ anh Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý như thế nào. 

Chị Thương nói tấm bạt cũ này là nhờ bà con trong thôn cho để dựng lều

 Nhà bị cưỡng chế “nhầm”, trong căn bếp giờ còn thế này đây 

 20 năm đổ mồ hôi sôi nước mắt, hai anh em Vươn- Quý làm được căn nhà hai tầng thì bị đập phá, nay dựng căn lều bạt mọc lên chơ vơ trong mưa lạnh của ngày mồng 1 tết 


Hai đứa con dâu òa khóc khi tìm được di ảnh của bố anh Vươn, nhưng chỉ còn khung, còn di ảnh cũng bị kẻ khốn nạn nào đó đốt đi rồi 

Những đứa trẻ con Vươn- Quý giúp mẹ đi tìm kiếm những thứ đồ đạc có thể dùng được trên đống đổ nát

 Vợ anh Vươn, anh Quý và các cháu ở chung với nhau trong căn lều vừa dựng 

 Và đây là bàn thờ ông bà tổ tiên gia đình anh Vươn- anh Quý 

 Bên cạnh căn lều là cống lấy nước, mấy mảnh ván tốt để chắn cống cũng bị cướp rồi 



Cháu Đoàn Văn Hiếu 8 tuổi (mặc áo thu đông kẻ vàng đen), con anh Vươn bảo nhờ chú nói với bố cháu là: “Bố ơi! Bố nhanh về đi, con nhớ bố lắm! Bố nhanh về con được gặp bố xem họ bảo mái tóc bố bị người ta cắt thành đầu trụi” 


Lũ trẻ kể, người lớn gặp chúng đã hỏi: Mày là con cháu thằng Hiền (tức Lê Văn Hiền, chủ tịch huyện) hay con cháu họ Đoàn? (tức Đoàn Văn Vươn) 



Tôi muốn những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng, xã Vinh Quang đọc cho kỹ câu này: CHỈ CÓ SÚC VẬT MỚI QUAY LƯNG VỚI NỖI ĐAU ĐỒNG LOẠI… 



Đó là lời của Các Mác (Karl Marx) – Ông tổ của Chủ nghĩa cộng sản khoa học.





Lại bàn về trí thức

Blog Nguyễn Văn Tuấn




Câu chuyện trí thức lại trở nên ồn ào trong không gian cyber. Có quá nhiều ý kiến mà tôi khó có thể theo dõi hết. Nhưng sự ồn ào chung quanh câu chuyện là một dấu hiệu cho thấy xã hội đang … thiếu trí thức, vì nói như anh Nguyễn Vạn Phú nếu có thì đâu có ai bàn thảo làm gì. Tôi sưu tầm được vài bài (không hẳn phù hợp với quan điểm của tôi), một số là do tác giả gửi, và post lại trên trang web này, trước là làm tư liệu (để sau này có dịp bàn), sau là chia sẻ cùng các bạn.
Bài thứ nhất của anh Giản Tư Trung, bàn về trách nhiệm xã hội của giới trí thức. Ngay từ đầu, anh theo định nghĩa ví von của Gs Cao Huy Thuần, người trí thức là người không để cho xã hội ngủ. Cách ví von này đọc rất vui nhưng cũng gần với thực tế. (Nó cũng giống như định nghĩa văn hoá của Gs Trần Ngọc Ninh: văn hoá là cái gì của mình khác người ta – tôi nhớ lõm bõm như thế, chứ không chính xác từng chữ). Một cách để người trí thức đánh thức xã hội là dùng hiểu biết và uy tín chuyên môn của mình để xác lập chuẩn mực xã hội và thúc đẩy phát triển xã hội. Có lẽ đây là loại trí thức công cấp II mà tôi có đề cập đến trong bài trước.
Bài thứ hai của “Lại nói về chuyện chữ Tâm của người trí thức” của tác giả Đào Tiến Thi đăng trên trang nhà của Ts Nguyễn Xuân Diện. Bài này thật ra là một “tham luận” và bàn thêm bài của Ts Nguyễn Thị Từ Huy. Tác giả nhận diện và phân biệt 4 hạng trí thức trong xã hội Việt Nam ngày nay. Hạng 1 là những người “trí thức thứ thiệt”, đau đáu với vận mệnh đất nước quê hương và sẵn sàng dấn thân, cho dù họ không được lòng của giới cầm quyền. Hạng 2 là những người cũng quan tâm đến đất nước và dân tộc, cũng bức xúc trước những bất cập của xã hội, nhưng họ không dám dấn thân. Thay vì dấn thân, họ co rút trong cái không gian và môi trường nhỏ bé là gia đình. Hạng 3 là những người không màn đến các vấn đề xã hội dù cũng có chút hiểu biết về chính trị, nhưng họ không lên tiếng, không có hành động, mà thay vào đó là thái độ xu nịnh và lo làm ăn vì quyền lợi kinh tế cá nhân. Họ là những người thiếu lập trường, không có niềm tin, nhưng lại rất hãnh diện về những học vị và học hàm (có thể là dỏm hay mua bán) của họ. Hạng 4 là những người cũng thông minh, nhạy cảm với thời cuộc, và sử dụng thông minh của mình để dèm pha người khác; họ là những con buôn chính trị. Nhưng theo cách hiểu của tôi thì chỉ có hạng 1 là những người trí thức thật sự, còn hạng 2, 3 và 4 thì ngụy trí thức là đúng hơn.
Bài thứ ba là của Lê Phú Khải, một tác giả mà tôi ái mộ từ lâu qua những bài phóng sự của anh về Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi vẫn còn một cuốn sách của anh, trong đó có nhiều số liệu quí. Bài này của anh LPK rất … gay gắt, nhưng có nhiều dữ liệu hay. Bài có tựa đề là “Trí thức, trí ngủ và trí trá”, đọc lên đã mang tính “chiến đấu” :-). Tôi thích những giai thoại anh kể trong bài này, như lúc cụ Hồ ngắt lời phi hành gia Gherman Titov và khuyên giới khoa học nên nghiên cứu những gì “là là dưới mặt đất” thôi, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khuyên các nhà toán học nên nghiên cứu toán ứng dụng. Là người làm về khoa học thực nghiệm, nên tôi có xu hướng nghiêng về các vấn đề mang tính ứng dụng. Nhưng kinh nghiệm tôi cho thấy nghiên cứu ứng dụng không dễ chút nào, nếu không muốn nói là rất rất khó. Có lần tôi viết rằng chúng ta cần nhiều nhà khoa học toán (mathematical scientists) hơn là nhà toán học (mathematician). Nhà khoa học toán không chỉ am hiểu toán mà còn là một nhà khoa học, biết làm thí nghiệm theo qui trình của phương pháp khoa học. Đó cũng là toán ứng dụng vậy. Nhưng tôi lại nghĩ nếu chúng ta có khả năng làm toán cao cấp thì cứ làm, không nên ngăn cản. Vấn đề là ưu tiên cho lĩnh vực nào trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. Trong điều kiện hiện nay, nếu bạn có 20 triệu USD trong tay, bạn sẽ đầu tư vào việc xây một bệnh viện mới hoặc đào tạo 1000 bác sĩ chuyên khoa, hay để thực hiện những seminar về một lĩnh vực hẹp nào đó mà rất ít người hiểu được (chưa nói khả năng ứng dụng), thì bạn cho đầu tư cho lĩnh vực nào? Định ra ưu tiên là việc của nhà quản lí và cơ quan tài trợ, và điều này đòi hỏi sự sáng suốt (tầm) và đức (tâm) của Nhà nước.
Nhân bài của anh LPK, tôi nhớ đến một bài phân tích trước đây, tôi có so sánh 10 lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu của VN và Thái Lan qua con số ấn phẩm khoa học. Bảng số liệu dưới đây trình bày số ấn phẩn khoa học năm 2008 trên các tập san khoa học quốc tế của VN và Thái Lan. Mười ngành khoa học VN có ấn phẩm khoa học nhiều nhất tập trung vào các lĩnh vực lí thuyết và công nghệ thấp. Trong khi đó 10 ngành hàng đầu của Thái Lan là những lĩnh vực ứng dụng và công nghệ cao, có thể đóng góp trực tiếp cho kinh tế. Ngành vật lí và toán của Thái Lan thậm chí không nằm trong khoa học “top 10”, nhưng chúng ta biết thu nhập của người Thái Lan cao gấp ta ~9 lần.
Việt Nam
Thái Lan
Vật lí (76)
Dược học (189)
Y tế công cộng (69)
Công nghệ thực phẩm (168)
Toán lí thuyết (66)
Công nghệ sinh học và vi sinh học (161)
Y học nhiệt đới (54)
Sinh học phân tử và sinh hóa (150)
Vật lí chất rắn (35)
Khoa học vật liệu (137)
Khoa học môi trường (34)
Vi sinh học (130)
Bệnh truyền nhiễm (33)
Khoa học môi trường (127)
Vật lí ứng dụng (30)
Bệnh truyền nhiễm (127)
Khoa học vật liệu (24)
Polymer (126)
Kĩ thuật (21)
Kĩ thuật hóa học (121)

Nhưng chúng ta đang bàn về trí thức, chứ không phải đầu tư cho khoa học! Ba bài tôi giới thiệu dưới đây cung cấp những quan điểm về thế nào là trí thức và vai trò của trí thức. Cái mẫu số chung mà ai cũng đồng ý là bằng cấp và chức vụ là điều kiện (có thể) cần chứ chưa đủ cho một người trí thức. Chiếc áo cà sa không làm nên thầy tu, có bằng cấp cao – dù là mua hay dỏm – không làm nên người trí thức. Những người có bằng cấp, chức danh, và tư cách mà không ưu tư với tình thế của đất nước, không quan tâm đến xã hội, không dám lên tiếng trước những bất công, chỉ lo vinh thân phì gia, v.v. thì những kẻ đó không phải là trí thức. Tiếng Anh có một chữ để mô tả những hạng người như thế: idiot – kẻ ngu xuẩn. Triết gia Aristotle đã quan niệm rằng con người là những political animals (hiểu theo nghĩa những động vật sống trong một thành phố chứ không phải là những nhóm cô lập), và ông kết luận nếu kẻ nào không tham gia vào việc công thì kẻ đó chưa là những human – con người. Có thể chiếu theo quan điểm của Aristotle để phân định trí thức với idiot.
NVT
====
Bài 1:
Câu chuyện trí thức hay là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết?
Giản Tư Trung
Tôi cảm thấy học hỏi được khá nhiều từ những góc nhìn khác nhau về khái niệm trí thức đang được chia sẻ trên diễn đàn. Riêng tôi, từ một góc nhìn, tôi hiểu nôm na, trí thức là người có trí và không để cho xã hội ngủ. Nếu ai đó có “trí” nhưng lại để cho xã hội “ngủ” thì gọi là “trí ngủ”, chứ không phải là “trí thức”. Như vậy có 2 điều kiện để hình thành trí thức: “có trí” (sự hiểu biết) và “không để cho xã hội ngủ” (thức tỉnh xã hội).
Do vậy, bàn về trí thức thì cũng chính là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết (“hiểu biết” ở đây được tạm hiểu là hiểu biết hơn so với mặt bằng chung của xã hội về một vấn đề nào đó, một khía cạnh nào đó, một ngành nghề hay lĩnh vực nào đó). Tôi rất thích một câu nói của Einstein “Thế giới này là một nơi nguy hiểm, không phải vì những kẻ xấu xa mà vì những người chỉ biết đứng nhìn và không làm gì cả”. Câu nói này nói về trách nhiệm xã hội (trách nhiệm “làm người”) của một người bình thường đối với cái xã hội hay cái cộng đồng mà mình đang sống. Một người bình thường vô cảm thì đáng phê phán, còn một người có hiểu biết sâu sắc và được lắng nghe mà yên lặng thì còn đáng phê phán hơn. Một người bình thường còn có trách nhiệm xã hội như vậy, đối với những người có hiểu biết thì trách nhiệm xã hội này còn lớn hơn.
Nói cách khác, vai trò của những người có hiểu biết là: dùng sự hiểu biết (và cả uy tín) của mình để góp phần giúp cộng đồng phân định rõ hơn sự đúng-sai, phải trái, hay-dở, tốt-xấu, nên-không nên… trước những vấn đề chung mà xã hội đã, đang và sẽ gặp phải hay trải qua; dùng sự hiểu biết của mình để truyền bá tinh thần, tư tưởng, quan điểm… mà mình tin là cần thiết để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ; dùng sự hiểu biết của mình để góp phần xác lập những chuẩn mực xã hội, những thang giá trị xã hội, góp phần định hướng và định hình xã hội… Tất nhiên sự phân định, sự truyền bá, sự xác lập hay sự định hướng, định hình này cũng cần phải dựa trên cái chuẩn là những giá trị vượt không gian và vượt thời gian, những giá trị có tính phổ quát của thế giới đương đại. Và tất nhiên, để thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thì người hiểu biết có thể nói, có thể viết, hay có thể làm gì đó. Vì làm một điều tốt cũng là cách gián tiếp góp phần đấu tranh tiêu diệt cái xấu; làm một điều đúng, cũng là cách gián tiếp góp phần chỉ cho người khác thấy những cái sai…
Không ai được phép độc quyền chân lý, nhưng ai cũng được quyền góp phần xác lập chân lý. Và chân lý thường không thuộc về số đông, mà thường thuộc về những người có hiểu biết, thường gọi là giới trí thức hay giới tinh hoa (và đôi khi chân lý tạm thời thuộc về “kẻ mạnh” bất kể sự hiểu biết và khả năng lắng nghe của họ như thế nào, bởi kẻ mạnh mà thiếu hiểu biết thì họ sẽ nắm giữ cả pháp lý lẫn đạo lý theo cách mà họ muốn để bảo vệ họ và quyền lực của họ).
Khi bàn về trí thức thì người ta thường bàn về vai trò của trí thức (thậm chí có người nói là thiên chức của trí thức). Tuy nhiên, cũng cần phải bàn về “điểm mù” của trí thức dù trí thức có cái trí hơn người. Bởi lẽ trí thức cũng là con người, mà đã là con người thì cũng sẽ có cái nhầm, có lúc sai mà mình không hề biết. Điểm mù ở đây được hiểu là “mình không biết cái mà mình không biết”. Khi chia sẻ, tranh luận hay góp ý sẽ giúp mỗi người nhìn thấy điểm mù của người và của mình. Khi nhận ra điểm mù của mình cũng là lúc “mình biết rõ cái mà mình không biết”; và khi nhận ra những “cái mà mình không biết” cũng là lúc cảm thấy mình thực sự hiểu biết. Do vậy, cùng với trách nhiệm “thức tỉnh xã hội” thì trí thức cũng có một trách nhiệm với bản thân là liên tục “phản tỉnh chính mình”, phản tỉnh với những điểm mù (nếu có) của mình.
Ở những xã hội bình thường thì có lẽ vai trò của trí thức là hướng sự bình thường đến sự phi thường; còn đối với những xã hội mà còn đầy rẫy sự bất thường thì sứ mệnh lớn của trí thức chắc hẳn là góp phần đưa sự bất thường đó trở về sự bình thường. Nói cách khác, trong những xã hội mà sự bất thường đang bao trùm thì trách nhiệm của người trí thức còn nặng nề hơn (vì có quá nhiều cái cần phải thức tỉnh) và nguy hiểm hơn (vì không dễ dàng để làm chuyện thức tỉnh trong những xã hội này)…
Nhưng, nếu là người có hiểu biết thì không thể không làm gì cả, bằng cách này hay cách khác, dù nhỏ bé hay lớn lao, dù ồn ào hay lặng lẽ…
Vài dòng tản mạn cùng anh em.
Mồng 2 Tết Nhâm Thìn, 2012
Giản Tư Trung

Bài 2:
Lại nói về chuyện chữ Tâm của người trí thức
Đào Tiến Thi
Nhân chủ đề TÀI và TÂM mà TS. Nguyễn Thị Từ Huy nêu ra (Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 21-1-2012 (28 Tết), tôi muốn góp thêm một chút. Trong bài của chị Từ Huy (T.H), chữ “tài” và chữ “tâm” thực tế không phải là “tài” và “tâm” nói chung mà là “tài” và “tâm” của người TRÍ THỨC. Còn bài này chỉ bàn về chữ TÂM của người trí thức mà thôi.
Nhân chị T.H nhắc đến bài thơ Bán vàng của Nguyễn Duy, nên thay cho mở bài, tôi xin chép hầu quý độc giả một đoạn. (Tôi thuộc bài thơ này ngay khi nó đăng lần đầu ở báo Văn nghệ khoảng 1987 - 1988):
Tâm hồn ta là một khối vàng ròng
Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ
Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ
Mảnh này vì cha mẹ, em ta
Giữ ngọc gìn vàng biết mấy công phu
Ta giàu lắm mà con ta đói lắm
Ta vương giả mà vợ ta lận đận
Cha mẹ ta trong lụt bão trắng trời
Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi
Để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
Mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
Mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao
Ta rất gần bể rộng với trời cao
Để xa cách những gì thân thuộc nhất
Nồi gạo hết lúc nào ta chả biết
Thăm thẳm nỗi lo, mắt vợ u sầu
Viên thuốc nào dành để lúc con đau
Vợ nằm đó xoay sở mần răng nhỉ ?
Cơn hoạn nạn bỗng làm ta tĩnh trí
Ngọn gió tha hương lạnh toát da gà
Cái ác biến hình còn lởn vởn quanh ta
Tai ách đến bất thần không báo trước
Tờ giấy mong manh che trở làm sao được
Một câu thơ chống đỡ mấy mạng người…
Nhân vật trữ tình ở đây là một nhà thơ, tức là người trí thức. Anh ta tự nhận “Tâm hồn ta là một khối vàng ròng” nhưng mà rồi “Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ/ Mảnh này vì cha mẹ, em ta…”
Thế mới biết cuộc mưu sinh nó ác lắm. Xuân Diệu cũng từng viết:
Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Bởi vậy, tuy tôi chia sẻ với nỗi bức xúc của chị T.H về lối sống thực dụng “sát sạt” của nhiều trí thức hiện nay, nhưng tôi vẫn nhìn ở sự thông cảm nhiều hơn.
Một ông giáo sư dù tài giỏi đến mấy thì cũng phải sống cuộc đời thường như tất cả mọi người, không phải là thánh. Cho nên, cái ông giáo sư mà chị T.H nói đến, theo tôi, cũng chưa chắc (chưa chắc thôi) đã là người xấu. Bởi vì tuy việc đọc nhận xét luận văn của ông có chế độ của nhà nước nhưng cái giá này quá bèo. Nếu đọc cho kĩ thì rõ ràng nó chẳng tương xứng tí nào. Cho nên theo lệ thường đã từ rất lâu rồi, bất cứ ai đưa đọc luận văn, dù luận văn cao học (thạc sỹ) hay nghiên cứu sinh (tiến sỹ) đều có khoản thù lao thêm cho thầy. Và tôi nghĩ thế cũng là chính đáng. Vấn đề là nhận thế nào cho phải chăng. Theo tôi, ông thầy không đòi hỏi, mà nếu trò có đưa nhiều thì nên trả bớt lại, nhất là với trò nghèo, và nhất là với trò nghèo mà lại giỏi. Càng không nên vì tiền nhiều tiền ít mà nhận xét sai lạc luận văn. Lương tâm là ở chỗ ấy, chứ không phải cứ nhận tiền là mất lương tâm. Tôi có mấy giáo sư dạy mình hồi làm thạc sỹ, sau này luôn động viên tôi đi làm tiếp tiến sỹ, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên tôi ngại đi. Có lần trong bàn tiệc có nhiều giáo sư bậc thầy, một giáo sư bảo tôi: “Nếu chú mày đi làm tiến sỹ, các thầy ở đây đều hết sức giúp đỡ, không ai lấy tiền của mày đâu”. Tôi nghĩ đó là một thái độ thành thực, sòng phẳng và tốt bụng. Tôi có một anh bạn là phó giáo sư ở một viện nghiên cứu nọ, một lần nhân đề cập chủ đề này, anh bảo: “Mình vẫn thường nhận tiền thù lao đọc phản biện. Nhận tiền thù lao này không những không xấu mà còn chính đáng. Còn ông nào không thích nhận thì tùy, thì cũng tốt thôi. Nhưng mình không chấp nhận có một ông nọ không nhận nhưng lại cầm phong bì đến cơ quan để bêu riếu người học trò đó trước mọi người”.
Đối với các bác sỹ, tầng lớp mà bây giờ dư luận xã hội hay chê trách, nhưng tôi không thấy họ xấu đến như thế. Lương họ còn thấp hơn cả lương giáo viên, việc thì lại vất vả hơn giáo viên. Và cũng chẳng dễ có việc làm thêm như giáo viên. Vậy thì lấy lý do gì để đòi hỏi quá nhiều ở họ? Lấy lý do gì để áp đặt vào họ cái gọi là Y ĐỨC, trong khi lại chẳng áp đặt những cái khác, cần thiết hơn, thực thi hơn, như QUAN ĐỨC, LẠI ĐỨC, CẢNH SÁT ĐỨC,… Mỗi lần đến bệnh viện, tuy cũng không ít những việc làm tôi bực mình, nhưng tôi thấy thương các thầy thuốc nhiều hơn là sự khó chịu. Hai mươi chín Tết năm ngoái, tôi đến bệnh viện Hòe Nhai (Hà Nội) để hỏi về tình trạng bệnh của vợ tôi (đang điều trị tại nhà), bác sỹ Đ.N.L vẫn rất chu đáo giải thích tình trạng bệnh của vợ tôi, hướng dẫn cách dùng thuốc, cách ăn uống hợp lý,… Và tôi thấy xung quanh các bác sỹ, các y tá vẫn làm việc tất bật như ngày thường (trong khi hầu hết các cơ quan đã nghỉ Tết), khiến tôi rất cảm động.
Trên kia là phần cảm thông của tôi. Cảm thông về những người làm khoa học nhưng đồng lương không đủ sống, vẫn phải lo toan kiếm sống bằng cách khác để con cái không đến nỗi tủi thân thua thiệt, nhưng chính họ lại chịu sự xét đoán cao hơn mọi người.
Tuy nhiên, tôi cũng xét đoán người trí thức khắt khe hơn TS. Nguyễn Thị Từ Huy ở chỗ khác. Cái TÂM của người trí thức theo tôi không thể chỉ trong ứng xử đời thường, trong những việc thuộc về VI MÔ như chị T.H nêu. Cái TÂM của người trí thức còn phải hướng tới những vấn đề VĨ MÔ, tức những vấn đề của đất nước, của nhân dân, và của thời đại nữa.
Theo tiêu chí đó, theo tôi hiện nay nước ta có 4 hạng trí thức:
1. Hạng đau đáu với vận mệnh đất nước và nhân dân. Xin lấy mấy câu của nhà văn Phạm Ngọc Luật viết về hạng trí thức này thay cho nhận xét của tôi: “Họ không mũ ni che tai. Không lạnh tanh máu cá. Không chép miệng triết lý vặt. Họ là những trí thức dấn thân. Họ nói và làm có thể không theo một khuôn phép thông lệ. Có thể nó đắng hơn mướp đắng, cay hơn ớt, xốc hơn mù tạt, nhưng không giả”.
Hạng thứ nhất này hiện nay chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (không biết có nổi một phần nghìn hay không) và hiện nay đánh giá về họ có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Thông thường, trong cộng đồng, họ bị chê là “hâm”, là “ngu”, là “điếc không sợ súng”, nhưng đấy chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Trong thâm tâm sâu thẳm, mỗi công dân vẫn nhìn họ với thái độ kính phục (tuy rằng đa số chỉ “kính nhi viễn chi” mà thôi), cho nên theo tôi họ là linh hồn của đất nước, nhân dân nhìn vào họ để lấy chút niềm tin vào cuộc sống. Vì những hoạt động của họ là vì đất nước và nhân dân, cho nên mặc dù nhà cầm quyền nhiều khi không ưa họ nhưng có lẽ vẫn thấy sự có mặt của họ là cần thiết, nhất là trong một số vấn đề “nhạy cảm” mà nhà nước thì không tiện hiện diện. Thử hỏi nếu không có họ thì làm sao hồi năm 2010, Hội Địa lý Hoa Kỳ sửa tên địa danh Hoàng Sa, Trường Sa vốn lúc đầu mang tên Trung Quốc? Nếu không có họ thì làm sao mới đây tạp chí Nature và tạp chí Science tuyên bố không cho đăng bản đồ Biển Đông có hình lưỡi bò?
2. Hạng có quan tâm, có “biết cả”, cũng đau khổ, cũng bức xúc ít hoặc nhiều nhưng nhìn chung không động tay động chân một việc gì cho sự nghiệp chung cả. Lý lẽ của họ là “chả làm gì được đâu”, và họ quay sang giữ lấy sự an toàn và hạnh phúc cho riêng mình, không chấp nhận bất cứ thứ hệ lụy nào do “hành động cao cả” mang lại. Hạng thứ hai này có lẽ là đông đảo nhất trong giới trí thức hiện nay. Điều đáng chú ý là họ còn lương tâm, thậm chí nhiều người rất tốt, nhưng họ chỉ dùng một nửa lương tâm thôi, tức là chỉ dành cho những việc thuộc phạm vi gia đình, anh em, bè bạn,... Tuy nhiên, ngay cả những đối tượng đó, sự tương trợ cũng chỉ khi nào nó không gây hệ lụy cho họ. Trong trường hợp một đồng nghiệp cùng đơn vị, cơ quan bị đánh, dù đúng mười mươi, nhưng nếu sếp quyết tâm đánh thì họ cũng không dám bảo vệ. Vì vậy, yêu nước thương dân đối với họ là khái niệm quá xa xỉ, không thể với tới, không dám với tới. Với cách định nghĩa tuyệt đối “trí thức là những người làm những việc không liên quan gì đến mình” thì thực chất họ cũng không còn là trí thức nữa, mà chỉ là công chức, viên chức thôi. Nhưng ngay cả với tư cách công chức, viên chức, thì họ cũng chỉ đáng ghi nhận ở bản chất lương thiện. Nhưng nếu người lương thiện xét một cách đầy đủ, không phải là người ngồi nhìn cái ác hoành hành thì họ cũng không hẳn là lương thiện nữa. Cho nên dễ thấy một điều trên cả xã hội hiện nay: người tốt thì còn nhiều nhưng việc tốt thì quá ít.
3. Hạng không quan tâm các vấn đề xã hội, chỉ mải làm ăn, rất giỏi thu vén lợi ích cá nhân. Nếu có ai nói đến những vấn đề “bức xúc”, “nhạy cảm” thì họ tránh ngay, bảo “quan tâm đến nó làm gì, nhức đầu lắm”. Thực ra bảo họ không quan tâm đến chính trị hay bảo họ “vô cảm” thì chỉ đúng một nửa. Họ có thể không biết ông chủ tịch nước bây giờ là ai, hay có biết thì chỉ biết cái tên là cùng, chứ chẳng biết con người, học vấn, đạo đức, xu hướng tư tưởng,… của vị nguyên thủ quốc gia của mình thế nào, nhưng họ lại biết rất rõ về các sếp của mình, từ sếp trực tiếp cho đến sếp của sếp, từ sếp ông đến sếp bà: sếp ông thích cà vạt màu gì, sếp bà thích nước hoa gì, sinh nhật của con gái sếp là ngày nào, v.v.. Hạng thứ ba này theo tôi chiếm một tỷ lệ khá lớn, chỉ sau hạng thứ hai. Điều đáng buồn cho họ chưa phải là thái độ bàng quan, vô cảm hay thực dụng mà cái đáng buồn là ở chỗ: họ đã đổ vỡ hoàn toàn niềm tin. Nhiều người có địa vị, có học hàm học vị sáng choang, có cả nhiều tiền của nữa nhưng chả còn chút niềm tin gì. Họ sống trong sự trống rỗng, buồn tẻ nhưng đôi khi để khỏa lấp cái trống rỗng, buồn tẻ đó, họ vênh váo với thiên hạ bằng những thứ họ có (địa vị, học hàm học vị, tiền của chẳng hạn).
4. Hạng thứ tư, hạng trí thức thoái hóa hoàn toàn, dùng chất xám để buôn chính trị, hạng người mà một nhà thơ đã gọi là “điếm cấp cao”:
Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
Điếm cấp cao bán miệng nuôi… thân (hay trôn)
Họ thường là những người thông minh, họ có một cái đầu nhạy cảm với mọi vấn đề của cuộc sống, cho nên đón ý quyền lực cũng rất tinh. Chỉ có điều họ dùng cái bẩm chất thông minh, nhạy cảm ấy hoàn toàn cho lợi ích cá nhân. Nếu hạng thứ ba phải mua địa vị, học hàm, danh hiệu bằng tiền thì hạng thứ tư này hoàn toàn bằng cái lưỡi rắn. Ví dụ, để tiến thân, cái lưỡi rắn dám phun nọc độc vào những người chân chính đang “có vấn đề”.
Hạng này cho đến nay chỉ là thiểu số nhưng có xu hướng đang phát triển.
Vẫn biết cuộc sống muôn màu muôn vẻ, trí thức thì cũng là người, có tốt có xấu, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn, nếu so sánh tầng lớp trí thức hiện nay với tầng lớp trí thức trước Cách mạng tháng Tám (chứ chưa dám so với trí thức các nước khác). Tầng lớp trí thức hiện nay về số lượng đông gấp hàng trăm lần so với tầng lớp trí thức trước Cách mạng. Học hàm, học vị thì rực rỡ mà trí thức thời trước không thể nào dám đọ. Nhưng so sánh về tính độc lập tư tưởng, về khả năng tác động vào đời sống xã hội, về tính tự chủ tự lập trong đời sống mưu sinh thì trí thức ngày nay thật khó sánh với cha ông cách đây chưa lâu. Chỉ cần để ý sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), để tang Phan Châu Trinh (1926), phong trào đón tiếp Bùi Quang Chiêu và đòi thả Nguyễn An Ninh (1926) cũng đủ thấy vai trò to lớn của trí thức trong các phong trào xã hội thời ấy như thế nào.
Đ.T.T.
Đêm Giao thừa Tân Mão sắp sang Nhâm Thìn

Bài 3:
Trí thức, trí ngủ, và trí trá
Lê Phú Khải
Người tri thức, nếu hiểu một cách thật nghiêm túc về khái niệm này, là những người suy nghĩ và hành động hướng tới lẽ phải, tới chân lý, tiến bộ xã hội. Triết gia Pháp J.P. Sartre viết : Nếu ai đó chế ra quả bom nguyên tử, thì người đó là bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái vũ khí giết người ghê gớm ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức. Giáo sư Cao Huy Thuần, giảng dạy đại học Picardie Pháp có một định nghĩa thật độc đáo, bất ngờ về thế nào là một người tri thức : Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người đó là tri thức, bất kể họ là ai!
Trong lịch sử dân tộc tay các bậc tiền hiền như Nguyễn Bình Khiêm, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn An Ninh…. Chính là các bậc trí thức tiêu biểu của đất nước.
Trong giờ phút trang nghiêm của lịch sử hôm nay, khi mà cõi bờ biên cương, biển đảo ngoài khơi đã bị lấn chiếm, đang bị nhòm ngó từng ngày, khi mà kinh tế đất nước đang suy sụp, tham nhũng lan tràn, người dân khắp nơi bị cường hào cướp đất, cướp nhà, các tiếng nói dân chủ đó đây còn bị thù ghét thì có những người cương trực là hình ảnh tiêu biểu và là niềm tự hào của trí thức Việt Nam. Đất nước có qua được những năm tháng hiểm nghèo này là trông cậy vào sự dấn thân của những người trí thức và sự can đảm của toàn dân. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng là một ví dụ sinh động theo cách hiểu của giáo sư Cao Huy Thuần về người trí thức.
Về các vị trí ngủ, hiểu theo nghĩa phổ thông là những vị có bằng cấp, có học vị cao ở nước ta thì đông lắm và buồn lắm. Một giáo sư đại học, thậm chí còn là chủ nhiệm khoa, khi đi nước ngoài dự hội thảo khoa học thì tranh đi bằng được. Nhưng đến hội nghị thì chỉ ngồi yên. Ai hỏi có ý kiến gì về bản báo cáo vừa được nghe, thì chỉ lắc đầu… vì không biết tiếng Anh (!) Sao lại có chuyện đau lòng đến thế (!). Đó là di hại của nền giáo dục XHCVN lấy công nông làm nền tảng. Chọn người đi học, không chọn người có khả năng học mà chọn theo lý lịch. Cứ được tổ chức cử đi học “đào tạo” thì thế nào cũng đỗ đến tiến sỹ! Hồi tôi còn là sinh viên Đại học sư phạm Văn Khoa Hà Nội đầu những năm 60 (Thế kỷ 20), khi chúng tôi được giới thiệu thầy Hoàng Ngọc Hiến mới ở Liên Xô về với học vị Phó tiến sỹ. Thầy Hiến hỏi cả lớp các anh chị có biết phó tiến sỹ là gì không? Cả lớp ngơ ngác, thầy Hiến liền nói : Đem một con bò Việt Nam qua Liên Xô 9 năm, dắt nó về là thành phó tiến sỹ ! Cả lớp đã cười ầm. Đó là thời thầy Hiến, sự học còn rất nghiêm túc. Còn ngày nay, có tiền có thể thuê người đi học thay mình mà vẫn đỗ cử nhân, cao học là chuyện “thường ngày ở huyện”. Chỉ một chế độ chưa loại trừ sự giả dối mới sinh ra một lớp “Trí ngủ” đông đảo đến như thế. Cái sự học của nhân loại là nghiêm túc lắm. Không phải ai cũng có thể học được, có thể đỗ bằng này bằng kia được, nếu không phải là người có năng lực học hành, có khả năng lao động trí óc. Vừa qua, giáo sư Trần Văn Giầu có công bố cuốn hồi ký. Đọc cuốn sách này trên mạng tôi mới hay, nhà ông Giầu là đại điền chủ ở Nam Bộ, nhà đông anh em, nhưng chỉ có ông là đi học mà thôi. Các người anh em khác của ông không học được vì không “sáng dạ” bằng ông. Gia đình phải chia ruộng cho họ để lại thành điền chủ không thể thành trí thức được. Đọc hồi ký của ông Trần Văn Giầu, tôi lại nhớ đến trường hợp của ông già tôi. Ông già tôi thi diplôme tới 4 lần không đỗ. Cũng thời ấy, có người rất chịu học, có vợ rồi mà vẫn đi thi lấy cái bằng Tiểu học, nhưng năm lần bảy lượt vẫn không đỗ !. Vì nền giáo dục “Tư sản” là như vậy nên các người có bằng tú tài  thời xưa đã có kiến thức đáng nể. Nếu đỗ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ thì họ là trí thức chứ không phải mang danh “Trí ngủ” như ở nước ta dưới nền giáo dục XHCN .
Bây giờ nói đến các vị “Trí trá”. Hồi còn mồ ma bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, ông nhiều lần nói với tôi về tình hình tri thức Pháp và Phương Tây. Ông cho hay, chính phủ Pháp chỉ tuyển lựa vào bộ  máy của mình những người đạt đỗ cao, có danh tiếng. Vì thế khi bước chân vào một cơ quan công quyền thì người Pháp biết rằng, quan chức nhà nước là người họ gặp xưa kia đi học cùng với họ, đều là những người giỏi. Vì thế quan chức Nhà nước là những người vừa có quyền, vừa có uy, thế mới gọi là uy quyền, nhưng dù uy quyền đến mấy, khi đã ngồi vào ghế quan chức thì anh chỉ là một công chức, một viên nha lại mà thôi. Đã là nha lại thì phải từ lời nói đến việc làm, dù làm viện trưởng, vụ trưởng, thứ trưởng,… nhất nhất phải nghe lời cấp trên. Không thể có sáng tạo gì được, không thể được xã hội xem là trí thức. Đổi lại anh ta được lương cao bổng hậu, vợ đẹp con khôn, phú quý của đời. Một bộ phận khác, dù đỗ đạt cao, nhưng không chịu chui vào bộ máy quan chức, mà làm nghề tự do như bác sỹ, kiến trúc sư, luật sư, nhà báo, nhà văn…. Tầng lớp này dám tư duy độc lập, dám ăn dám nói, dám phụng sự lẽ phải… Họ chính là trí thức của nhân dân Pháp. Họ có thể bị bầm dập nhưng được xã hội kính trọng.
Bạn sẽ hỏi tôi : Thế thì anh “Trí trá”  nằm ở đâu trong xã hội Tây cũng như Ta? Xin thưa, đó là các vị công chức, nha lại… nhưng lại muốn tỏ ra thức thời, lên tiếng về các vấn đề chính trị xã hội. Nhưng đã là nha lại, bị “Áo xiêm dàng buộc lấy nhau” mà lại lên tiếng nên phải uốn éo, phải trí trá… làm cho người khác bị lừa nhờ danh tiếng của mình (!). Nhưng không lừa được những người trí thức đích thực, có lương tâm với dân tộc.
Để kết thúc cho bài viết này, tôi cũng nhân đây nói về Toán học. Năm 1976, sau ngày nước nhà thống nhất, trong không khí hồ hởi, Việt Nam đã tổ chức một hội nghị Toán học lớn, có rất nhiều nhà toán học giỏi gốc Việt các nước về dự. Lúc đó tôi là phóng viên dài TNVN công tác trong bộ phận tuyên truyền trong giới trí thức nên phải ra tận sân bay để đón các tri thức Việt kiều về dự hội nghị. Tôi  nhớ đã đón tiến sỹ toán học Lê Dũng Tráng, người Thanh Hóa, 29 tuổi, giáo sư Fédéric Phạm cha là nhà toán học Việt Nam, mẹ là người Pháp, giáo sư Phạm sinh ra ở Pháp nên nói tiếng Việt rất khó khăn, chỉ nói được từng từ một, không thành câu! Đa số các vị là các nhà toán học lý thuyết. Một nữ giáo sư toán học ở trường Đại học sư phạm Hà Nội dự hội nghị đó, bà là một người rất nổi tiếng, rất tâm huyết với nền khoa học của nước nhà rất được mọi người kính trọng vì tính tình thẳng thắn, cương trực, bà đã nói với tôi : Toán lý thuyết rất quan trọng, rất vĩ đại nhưng với nước ta thì chẳng có tác dụng thiết thực là bao, thế mà tôi ngày nào cũng phải xếp hàng mua bắp cải để ăn! Rổi bà hỏi tôi : Anh có biết trường phái “Toán học kỳ dị” là thế nào không, anh có biết thế nào là “Bài toán bốn mầu không” ? Rồi bà giải thích “Bài toán bốn mầu là, tôi cho anh bốn mầu khác nhau anh phải tô được bản đồ thế giới mà các nước ở xung quanh một nước lại không trùng màu nhau. Nhưng trên thực tế có nước giáp gianh tới 5 – 6 nước thì làm sao mà tô được bản đồ thế giới, khi trong tay chỉ có 4 màu! Ấy vậy mà trên lý thuyết bài toán đó lại giải được. Thế nên giới toán học lý thuyết gọi bài toán đó là “Bài toán bốn mầu”! Toán lý thuyết là thế đấy anh ạ! Nó chỉ làm người nghiên cứu nó vinh thân phì gia, với một nước nghèo và lạc hậu như nước ta thì….
Được vị nữ giáo sư đáng kính này giảng giải tôi mới vỡ lẽ, tại làm sao trong hội nghị đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc đó là Phó Thủ Tướng phụ trách công tác khoa học đã kêu gọi các nhà toán học Việt Nam mà tuyệt đại là toán học lý thuyết chuyển sang nghiên cứu toán học ứng dụng cho đất nước được nhờ. Nhưng ít ai theo lời khuyên của Tướng Giáp  (!) Giáo sư tiến sỹ Trần Kiêu, chủ nhiệm khoa Sinh học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, một chuyên gia hàng đầu thế giới về sinh học rắn hổ mang, còn kể cho tôi một chuyện lý thú. Năm thiếu tá phi công vũ trụ Ti Tốp sang thăm Việt Nam. Ta có tổ chức 1 buổi gặp mặt giữa phi hành gia vũ trụ với các nhà khoa học VN, khi thiếu tá Ti Tốp khuyên các nhà khoa học VN nghiên cứu vũ trụ và đi vào lĩnh vực vũ trụ, bỗng Bác Hồ đứng ngay dậy, ngắt lời thiếu tá Ti Tốp, Bác khuyên các nhà khoa học VN nên nghiên cứu các khoa học là là mặt đất thôi! Giáo sư Trần Kiên kết luận “Tôi đã suy nghĩ nhiều về lới khuyên của Bác và chuyển đề tài “Thần kinh cá chép” của tôi rất được các nhà khoa học thế giới quan tâm sang nghiên cứu đề tài “ là là mặt đất” là “ khẩu phần ăn của cá Rô – Phi”.
Toán học rất vĩ đại, Viện nghiên cứu toán học cao cấp mà Giáo sư Ngô Bảo Châu đang là Viện trưởng rất sang trọng. Nhưng các bệnh viện nhi đồng ở nước ta các cháu thiếu nhi đang phải nằm chung 2 – 3 cháu một giường, các bà mẹ phải nằm dưới đất. Khi một em bé bị đau ruột thừa, mẹ em vừa khóc vừa bế em đến bệnh viện, vạn lạy các bác sỹ cứu nhân độ thế, nhưng bệnh viện còn chờ bố em đi bán bò có tiền nộp viện phí thì mới mổ ruột thừa cứu em… thì mọi sự sang trọng phải xem lại! Mọi vật trang trí phải xem lại.
LPK
4/2011
Nguồn: http://www.trannhuong.com/news_detail/8872/TRÍ-THỨC-TRÍ-NGỦ-VÀ-TRÍ-TRÁ