Hiển thị các bài đăng có nhãn Xuân 2012. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xuân 2012. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

MỪNG NĂM MỚI


Trước thềm năm Nhâm Thìn, Diễn Đàn Thế Kỷ chân thành kính chúc quý Bạn Đọc và quý Văn Hữu một năm mới An Khang và Thịnh Vượng.

Thấm thoắt đã một năm rưỡi trôi qua kể từ ngày Diễn Đàn Thế Kỷ chào đời. Đây là cái Tết thứ nhì của Diễn đàn, và cũng là lần thứ hai số Xuân Diễn Đàn Thế Kỷ đến với quý vị. Chúng ta sẽ "vui xuân" trong hai ngày, hôm nay 29 tháng Chạp và ngày mai Mồng Một Tết Nhâm Thìn, để sau đó lại quay về cuộc sống thời sự với bao nỗi lo toan căng thẳng không bao giờ dứt.

Ước mong sự tin cậy đã có được giữa Diễn Đàn Thế Kỷ với Bạn Đọc và Văn Hữu sẽ ngày thêm bền vững, để Diễn đàn của chúng ta càng tiến xa hơn nữa trong tương lai.

Diễn Đàn Thế Kỷ

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Bốn Mùa Gió Thoảng

Thơ-Trần Mộng Tú  

 
       
Anh ạ một năm vừa rơi xuống
bốn mùa gió thoảng chấp cánh bay
em ngước nhìn trời Trời rộng lượng
tặng cho em một vốc tháng ngày
tháng ngày mới quá em hối hả
bắt đầu đếm tháng giêng tháng hai
vẽ xong nét mày tháng sáu đến
hoa nắng chưa tan đã thu về.
cứ thế Trời cho Trời lấy lại
đông tuyết, xuân hoa đẹp não nề
hồn em cong xuống mềm theo tuổi
cánh cửa thời gian mầu sơn phai
phiến đá bên thềm mòn một góc
dấu giầy ai qua để lại đây

Anh ạ tháng một sao đã Tết
Trời có trừ đi mất ít ngày
em thấy thời gian như co lại
hay chính mình co với đất trời
đôi giầy vải cũ mòn bao dặm
bạn vẫn gọi lên núi xuống thuyền
như sợ ngày mai mặt trời mọc
ai nằm như chăn gấp, gối yên

Anh ạ năm nay Tết sớm thật
ngoài kia vai núi tuyết còn đầy
khói tự mặt hồ như huyễn mộng
dấu thời gian cũ vương đâu đây

Em chạm bàn tay vào giấy mới
chao ơi! Thơ thơm từng ngón gầy .

tmt

Xuân Nhâm Thìn


Phụng Cầu Hoàng

Phương Nghi


Thầy tôi hai mươi năm trước rất nghèo, ở tận cùng một con hẻm lầy lội bên cầu chữ Y.  Nhà chín người, chỉ có một cái giường duy nhất dành cho bà cụ, tám người còn lại trải chiếu nằm dưới đất.  Thầy dạy tôi chơi đờn thập lục.  Tôi thương thầy từ cái buổi đầu tiên tôi bước vào căn nhà nửa tôn nửa lá đó.  Thầy tôi ra mở cửa.  Những người đang nằm ngủ ở gian trước thấy có học trò đến thì vội vàng cuốn mền chiếu  lủi vào nhà trong.  Tôi ngồi học.  Không gian như mớ bùi nhùi với tiếng con nít khóc, tiếng rao hàng, tiếng chẻ củi rầm rầm, tiếng chưởi lộn, tiếng gà, tiếng vịt lẫn lộn với tiếng song lang và tiếng réo rắt của những bản Phú Lục, Kim Tiền, Hành Vân, Lưu Thủy…

Thầy tôi hiền.  Có lẽ vì vậy mà tôi thương?  Hay vì lẽ gì tôi chẳng biết nữa.   Tôi thường đến học vào buổi chiều, dạy xong, thầy chuẩn bị ăn cơm để tối vào đờn cho một đoàn cải lương lưu động.  Tôi vào dàn đờn chơi với thầy.   Những nhạc sĩ ngồi trong bóng tối sát sân khấu, mỗi người có một bóng đèn trái ớt tù mù kẹp vào giá nhạc để soi bản đờn.  Thầy đang lui cui lên dây, thấy tôi vào thì ngẩng lên mỉm cười: “Ờ, em” rồi thôi, không nói gì nhiều.  Tôi ngồi thụp xuống bên thầy, vừa say mê, vừa khâm phục.  Tôi nói: “Thầy ơi, em muốn mai mốt cũng đi đờn gánh hát như thầy.”  Thầy tôi nói: “Em ráng lo học, có cơ hội thì ra nước ngoài.  Gánh hát sống rày đây mai đó, cuộc đời lang bạt, rượu chè trai gái bừa bãi,  chính thầy cũng không thích. Thầy thích dạy học trò và viết sách. ”   Giờ giải lao thầy tôi vẩn vơ đâu đó có một mình, những diễn viên thì chưa thay áo diễn đã ngồi sòng.  Một anh kép phấn sáp rất đậm, ngoạm trái xoài nhểu nhão, hết nhìn tôi lại nhìn thầy, cái ý dơ dáy lộ hết trong ánh mắt tung tẩy.  Vãn hát tôi đến chào thầy rồi ra về.  Thầy tôi xếp đờn cho vào hộp, vẫn chỉ nói có ít lời: “Ờ em, thôi về đi.”

Tôi muốn đờn giỏi như thầy nên rất cố công tập luyện.  Thầy dạy tôi bản Phụng Cầu Hoàng.   Thầy biểu: “Những chữ xự ở câu một và vài câu khác là để diễn tả lời nói có ý trách hờn của nàng Trác Văn Quân với chàng Tư Mã.  Ngày nay sân khấu cải lương đổi xự thành xang, chữ này để diễn tả một tình cảm âu yếm khác, lệch đi sự nguyên thủy của bài.”   Chữ “xự” nghe nát ruột nát gan, nghe rất ai oán trong khi chữ “xang” thì lại bình lặng, chứa chan như bầu trời đằm thắm, như mặt nước bao dung.  Về sau tôi cứ tự trách mình là đã không hỏi thầy tại sao nàng Trác Văn Quân lại giận chàng Tư Mã, giận như vậy là trước hay sau khi nàng đã trốn đi cùng chàng, chàng đã làm điều gì thất thố?  Học trò ngày xưa ít dám hỏi, biểu sao nghe vậy.  Trác Văn Quân giận?  Vì lẽ gì?  Tôi cố bắt chước đờn chữ “xự” cho thật sâu, thật não nuột như thầy nhưng không làm được, sửa tới sửa lui cũng chỉ nghe ra lạt nhạt, tầm thường.  Tôi lúc ấy còn chưa biết yêu ai thì làm sao biết giận ai, làm sao nắn nót cho được cái nghiến răng, cái cau mày của một Văn Quân đa tình, đắm đuối.

Tôi ít khi nào gặp cô, tức là người vợ của thầy.  Một đôi lần tôi thấy bóng cô thấp thoáng trong gian bếp tù mù khói và tôi có cúi đầu chào.  Cô bán chuối sấy, người hơi thấp, ô dề, tóc ngắn và thưa, trong khi thầy thì rất thanh tao, rất tài hoa, rất nghệ sĩ.  Nhiều khi tôi cảm thấy tiếc, tiếc ngẩn tiếc ngơ vì cái sự không tương xứng ấy.  Thầy với cô lại không có một mụn con nào.  Thầy có hạnh phúc không?  Tôi không biết.   Tôi có cảm tưởng thầy là một Tương Như cô độc, lỡ thời, lạc vận, đêm đêm khắc khoải bên tiếng muỗi vo ve của căn nhà tum húm, lạc lõng trong cái xô bồ tạp nhạp của những pha chọc cười hạ cấp, những màn đánh kiếm, đeo mặt nạ, đu dây… Thầy bảo muốn đổi qua âm nhạc Tây phương chớ đeo đẳng mãi nhạc cổ truyền rồi trôi nổi theo gánh hát, muôn đời như cánh bèo vô định.  Thầy mượn cây organ điện của ai về tập, được một dạo phải trả cho người ta, mua thì mua không nổi.  Cái giấc Nam Kha thêm một lần eo sèo, áo não…  

Bản Phụng Cầu Hoàng còn dang dở thì tôi phải từ giã thầy ra đi.  Tôi mếu máo: “Thầy ơi, em không muốn đi.  Em muốn ở lại học cho giỏi như thầy rồi mai mốt em đi đờn với thầy.  Thầy đi tới đâu em cũng đi theo.”  Thầy ôn tồn: “Đừng nghĩ vậy.  Em đi đi.  Qua bên đó gầy dựng tương lai, có điều kiện thì học đờn trở lại.  Ở đây rồi làm gì?  Chui vào gánh hát, ăn miễu ngủ đình suốt đời sao?”  Thầy xé tờ nhật trình gói một mớ con nhạn và bốn sợi dây đờn đưa cho tôi tha thiết bảo: “Em giữ lấy.  Qua bên đó lỡ mất nhạn, đứt dây thì có mà thay vào.”  Tôi ngồi xuống bên thầy nước mắt chực tuôn: “Thầy ghi địa chỉ cho em.  Tới nơi em viết thư về liền cho thầy.”  Thầy cầm bút viết xong dặn dò chậm rãi: “Em có gửi thư về thì nhớ để tên cô ngoài bì thư, đừng để tên thầy.”  Tôi cúi đầu dắt xe đạp ra khỏi ngõ, nghe tiếng thầy cài lại then cửa ở bên trong.  Bầu trời như rách ra giữa những sợi dây điện, dây phơi quần áo, những xóm nhà bẩn chật, những mái tôn, mái lá lau nhau gần cụng đầu.  Chim én ở đâu bay về đen kịt…

Tôi cầm gói giấy có những con nhạn và bốn sợi dây đờn của thầy đạp xe lên dốc cầu chữ Y trong buổi chiều chênh chao, đắng chát nhất đời tôi và mím môi quẳng tất cả xuống dòng nước.  Tại sao nếu viết thư về thì phải để tên cô ngoài bì thư mà không được để tên thầy?  Thầy không biết là tôi thương thầy như thế nào sao, mỗi một chữ tôi viết cho thầy có buộc tấm lòng nặng trĩu của tôi mà sao tôi phải để tên cô?  Tôi dính dáng gì với cô hoặc cô dính dáng gì với tôi?  Giữa dòng xe cộ bươn bả, bon chen, người người dẫm lên nhau mà đi, mà chạy, có ai để ý tới đứa con gái mắt đỏ hoe đứng tựa thành cầu nhìn dòng nước đục ngầu nhấp nhô rác rến cuốn những tâm tình của nó mất tăm, chìm lỉm.  Tôi giận thầy.  Lần đầu tiên tôi giận thầy, mờ mịt nộ khí như bầu trời sắp có cơn giông lớn.  Tôi đấm tay lên thành cầu nói với dòng nước: “Đã đi là đi biệt, không hẹn buổi trùng phùng.  Thầy đừng chờ đừng đợi.  Ngã ba sông rộng từ đây.  Mãi mãi không bao giờ gặp lại…”

Tôi  không gởi một bức thư nào về cho thầy.  Một dòng cũng không.  Một chữ cũng không.  Cây đờn cũ nằm buồn thiu trong cái hộp phủ bụi trên gác nhà kho.  Tôi bỏ bê nó mà rồi tôi cũng nhớ nó điếng lòng điếng dạ.  Nó tội tình gì đâu.  Thời tiết nóng lạnh thất thường làm thân đờn bị nứt một đường dài, đen xỉn, những vảy ốc xà cừ bong ra mà vẫn còn lấp lánh như kỷ niệm xưa chưa nỡ nhạt nhòa.  Tôi không thể không nhớ thầy.  Một đêm buồn rã rượi tôi lôi cây đờn ra, vặn trục, lên dây, gảy bản Phụng Cầu Hoàng, trong lòng bi ai, thổn thức.  Trăng lu, gió lạnh… tôi chỉ có một mình… Ngọn đèn thắp dưới mái hiên lù mù, ám khói.  Ngoài cửa sổ thoắt ẩn hiện một mỹ nhân ăn vận cổ trang, xiêm y phất phới, đi hài, cài thoa, một vạt tóc vắt ngang gương mặt đẹp não nùng nhìn tôi thương cảm.  Tôi nhận ra người ấy là ai rồi.  Tôi ngừng đờn ngước lên buồn bã: “Văn Quân…Chữ xự tôi đờn thế này đã đúng với cái tình cái cảnh của nàng ngày xưa chưa?” 

Hai mươi năm sau tôi tình cờ gặp lại thầy trong một đoàn nghệ thuật cổ truyền sang đây biểu diễn.  Trên sân khấu thầy lại gảy bản Phụng Cầu Hoàng của ngày xưa với  những chữ “xự” đã kết tụ trong trái tim tôi như những mảnh vàng ròng với tất cả niềm nhớ thương da diết.  Những sôi sục ngày nào đã nguội lạnh.  Đời tôi đã trải qua lắm nỗi đoạn trường.  Tôi chạy đến ôm cánh tay thầy, trong lòng trào lên nỗi xót xa.  Thầy tôi đã già.   Già hơn xưa nhiều lắm.  Tôi kể với thầy rằng tôi đã có chồng có con, rằng cái duyên của tôi với âm nhạc đã đứt đoạn từ buổi ra đi.  Thầy tôi ngậm ngùi: “Sao em không viết thư về?  Em đi rồi ngày nào thầy cũng ngóng ra cửa chờ người đưa thư.”

Tôi nhìn xuống không trả lời.  Thầy không bao giờ hiểu cũng như tôi sẽ không bao giờ nói cho thầy nghe cái nguyên nhân vì sao tôi chẳng viết thư về.  Không bao giờ tôi nói ra.   Chuyện ấy đã trôi theo dòng nước dưới chân cầu chữ Y, vĩnh viễn không bao giờ tôi nhắc lại.  Tôi lảng qua chuyện khác, hỏi thăm thầy về đời sống hiện tại, hỏi thăm cô.  Thầy nói cô cũng được mời đi theo đoàn với thầy nhưng qua được mấy hôm thì ngã bệnh.  Tôi ngỏ ý muốn đến chào cô.  Thầy đưa tôi về căn nhà của một người trong đoàn mà thầy cô trú ngụ.  Cô nằm trên giường, đi lại rất khó khăn, cạnh bên còn chai dầu và cái cây cạo gió.

Cô cũng đã quá già.   Mái tóc ngày xưa vốn đã thưa nay càng thưa hơn, lại bạc trắng.  Cô chống tay ngồi gượng dậy, giọng nói mừng rỡ, ánh mắt hiền từ: “Lâu quá thầy cô không có tin tức gì của em.  Em qua đây làm ăn sinh sống ra sao?  Em có còn làm bánh?  Cô nhớ hồi xưa em làm bánh rất khéo.  Có lần em đem đến cho thầy một ổ bánh bông lan vừa ngon vừa đẹp.  Cô nhớ mà.”

Tôi thảng thốt bàng hoàng.  Bánh?  Bánh nào?  Có phải cái bánh đã lạc mất từ đời thuở nào trong trí nhớ lùng bùng của tôi, có phải cái lần do tình cờ nghe thầy thích bánh bông lan mà tôi đã làm đem tới.  Cô còn nhớ?  Nhớ làm gì?  Cái tình của tôi hai mươi năm trước đã lắng sâu xuống tận đáy rồi, nay bàn tay nào lại khoắn lên lần nữa.  Cô nhìn tôi mỉm cười, không nói thêm được vì mệt.  Thầy đỡ cô nằm xuống rồi tiễn tôi ra cửa.  Tôi hiểu rằng mình không có quyền.  Tôi không thể… Chữ “thương” kia cũng có năm bảy đường.  Tôi nhìn vào đôi mắt của người mà tôi từng nhớ nhung hết sức mà cũng trách hờn hết sức, nói: “Thầy.  Những chữ xự trong bản Phụng Cầu Hoàng có thể đổi thành chữ xang.  Từ nay em sẽ đờn chữ xang, không đờn chữ xự nữa.”  Thầy nắm tay tôi.  Tôi nghe rõ xúc cảm trong lòng thầy và trong lòng tôi chan hoà như nước lớn dâng đầy mặt sông.  Giọng thầy ấm áp bên tai tôi: “Thầy thương em lắm.”   Tôi sẽ nhớ suốt đời bốn chữ ấy.  Tôi lảo đảo bước ra cửa.  Giờ thì tôi đã rõ.  Tôi biết là cô hiểu tôi.  Và chính thầy cũng hiểu tôi, hơn ai hết, từ hai mươi năm trước… 

Tới lúc rồi đoàn hát cũng ra đi và tôi trở thành người đưa tiễn.  Chưa bao giờ tôi nhớ tới ngày xưa hơn lúc này.  Tôi giữ tay thầy trong tay tôi lần chót: “Thầy nhớ viết thư cho em.”   Tôi tưởng như trước mặt mình là cây cầu chữ Y, là những đốm nắng rơi xuống mặt nước cánh bèo, là ngã ba sông sụt sùi xa ngái.  Tự nhiên tôi nhớ đến một câu trong vở hát mà tôi từng lẽo đẽo đi theo nghe thầy đờn, từng thụp xuống trong bóng tối sát bục sân khấu nghểnh cổ lên mê mẩn: “Thôi.  Thế này thì cũng toại lòng nhau.”   Một người lên ngựa, một kẻ trông theo.  Dàn đờn rớt chữ xang mùi rệu, mấy chị bán xôi, mấy cô gánh nước sụt sà sụt sịt.   Có phải vậy không thầy?  Thế này thì cũng toại lòng nhau.  Trong vầng mây bồng bênh, bãng lãng ở chân trời tôi chợt như vừa nhìn thấy đôi mắt cong vút vời vợi của Văn Quân nhìn tôi trìu mến.  Ngày xưa chắc nàng cũng đã đổi chữ “xự” thành chữ “xang”  trong bản nhạc lòng muôn thuở ấy…
   

12/2011

         

Mùi trần

Tâm Thanh


Trước Phân khoa Toán Viện Đại học Oslo ở Blindern có một pho tượng thiên thần bị gẫy một bàn tay. Ông quản lý của đại học nói đó là do một tai nạn khi di chuyển tượng từ nhà vận động Domus Athletica về, vào năm 1996. Chỉ có hai người biết nguyên do thật sự...

Lần đầu tiên tôi chú ý tới cô gái đó là vì cách cô băng qua cái sân rộng như quảng trường của đại học – cô không chọn đường ngắn nhất mà đánh vòng cung như con chim lượn trước khi đậu xuống cành lạ. Váy bay khoan thai, chân bước rụt rè. Sau nhiều lần nhìn thấy thế, tôi đâm tò mò, muốn xem gần mặt mũi cô ra sao.

Một hôm thoáng thấy cô dưới sân, tôi vội chạy xuống. Nhưng nửa đường có một cô sinh viên chận lại hỏi chuyện bài vở, nên khi tôi tới gần thì cô gái đã đi vào nhà sách Akademika cũng nằm trong khuôn viên đại học. Cô để lại trong hành lang một hương thơm không giống bất cứ mùi nước hoa nào các bà các cô thường xức trong các buổi dạ vũ. Một loại nhựa cây nồng men. Nếu tôi bước nhanh lên một chút thì cũng có thể bắt kịp cô để gợi chuyện, nhưng tôi hơi ngại lỡ gặp người quen để ý thì lại mang tiếng, bèn lảng qua bưu điện bên cạnh mua mấy con tem. Cũng xin thú thực tôi mới được nhận làm phụ khảo môn toán từ đầu niên học này thôi.

Mùi nhựa thông không ngờ ám ảnh tôi nhiều thế. Có lần ban đêm tôi mơ đuổi theo một hình nộm làm bằng rong biển. Tôi càng chạy nhanh, gió càng lộng, hình thù người nộm càng giống dáng cô gái, với những sợi tóc bằng rong thơm tho. Cuối cùng tôi với tay vuốt được vào mái tóc thì bàn tay tôi dính đầy mạch nha. Nếm vào, cả nước biển bỗng biến thành rượu nồng.

Cẩm Loan được tặng hai cái vé kịch, không biết rủ ai, rủ tôi:
“Bồ không đi, bỏ cũng uổng,” Loan nói.
“Kịch gì?”
“Hải Nữ của Ibsen.”
“Vậy thì đi... Không thôi để Loan đi với người khác cũng uổng.”
“Biết ngay là ham mà còn làm bộ!”
“Ham Hải Nữ chứ không ham bà đâu à nghe.”
“Ai mà thèm!”
Tôi với Cẩm Loan không đi tới đâu chỉ vì lúc đầu không ai đủ can đảm tỏ tình trước, để lâu tình đâm lờn. Tiếc nuối, nhưng không đủ xót xa để hâm nóng lại. Kỳ lạ chưa! Ngay lúc này tôi bỗng thấy mùi nhựa thông thoảng bên mũi – Cẩm Loan bắt đầu xức loại nước hoa này bao giờ? Nhưng mùi nhựa thông làm tôi nhớ tới cô gái lạ, chứ không kéo tôi lại gần Loan hơn. Tình bạn như thế này quí rồi. Trước giờ kéo màn, đèn u dần, tôi nghe một cuộc đối thoại từ hàng ghế sau:
“Anh tên chi?” giọng nữ thì thào.
“Gabriel,” giọng nam nhẹ.
“Ban gì?”
“Tin học.”
“Anh học sắp xong chưa?”
“Xong lâu rồi. Tôi đang đi làm.”

“Anh làm ở đâu vậy?”
“Tôi làm ở một nơi rất xa.”
“Công việc thích thú không, anh?”
“Thích lắm, cô à.”
“Vậy anh có phước.” 
“Vâng, và cái phước lớn nhất trong nghề thông tin cũng như cả đời tôi là tôi được gặp một người...”
“Ai vậy?”
“Maria... Tôi thông tin cho Maria.”
“Tin gì mà quan trọng thế?” 
“Tin vui lớn...”
Ánh sáng những ngọn đèn co lại, thành những cục than hồng bám trên vách tường. Khi tấm màn nhung đỏ được từ từ kéo lên, tiếng kể chuyện của người nam từ từ nhỏ dần rồi tắt hẳn.

Trên sân khấu, một người đàn bà trần truồng nằm ngửa, mà tôi đoán là ‘Hải nữ’. Bỗng khứu giác tôi nhận ra mùi nhựa thông, không phải từ người Cẩm Loan, mà từ đằng sau chúng tôi. Mùi nhựa thông quen thuộc (đã nhiều đêm lên men trong mơ)... là từ hàng ghế dưới tỏa ra. Tò mò và lịch sự giằng co tôi; cuối cùng tôi không quay xuống – vì một ý nghĩ kỳ cục, tôi không muốn cô gái đằng sau biết tôi đi xem kịch với một cô gái khác. Giờ giải lao, tôi kín đáo nhìn quanh, không thấy cô gái đâu.
“Anh tìm ai vậy?” Loan hỏi.
“Không!” tôi cụng ly với Loan và nốc cạn.
Sang màn hai tôi mới có thể tập trung tinh thần theo dõi các cuộc đối thoại trên sân khấu. Đến khi vãn tuồng, tôi nhớ ra cô gái lạ, quay xuống thì không thấy cô đâu nữa. Còn anh chàng tự xưng Gabriel tôi chẳng biết là ai.
Loan hỏi:
“Anh thấy kịch thế nào?”
“Tôi sợ các bà các cô quá.”
“Sao vậy?”
“Lỡ gặp phải một bà như bà Ellida, lâu lâu bắt chồng trả tự do để đi theo người tình cũ, thì mệt.”
“Có gì mà mệt. Cuối cùng, khi có quyền tự do lựa chọn thì Ellida cũng chọn ông chồng hiện tại Wangel thôi. Vấn đề là người đàn bà phải được tự do lựa chọn.”
“Lúc đầu bà ấy được tự do chọn anh thủy thủ mà!”
“Lúc đó bà ấy vẫn còn bị ước lệ xã hội ràng buộc, chưa hoàn toàn tự do.”

Tuyết rơi từng bông lớn trong nắng hanh. Lúc đó khoảng ba giờ chiều, tôi thấy cô gái xuất hiện, đi khoan thai trong màn tuyết. Không đi vòng như thói quen mà băng thẳng qua quảng trường. Và lạ lùng hơn nữa: cô đi tới đâu, tuyết giạt ra tới đó, làm như trên đầu cô có một cái dù vô hình. Rõ ràng lắm, không phải mắt tôi quáng tuyết.
Tôi vội vàng đi ra, vừa gặp thang máy, liền nhảy vào. Tôi đã thăm dò và biết cô ở đại học xá Blindern, vì thế tôi đi tắt sang, ngồi đại trong phòng khách chờ đợi. Cô không đẹp như tôi tưởng tượng khi nhìn từ xa, nhưng có sức thu hút kỳ lạ. Tôi tiến lại nói bằng tiếng Việt:
“Chào cô, cô người Việt?”
Đôi mắt một mí u buồn sau làn sương ngước lên.
“Dạ, chào anh,” giọng hơi khàn nhưng dịu dàng.
Nói xong, cô khẽ cúi đầu, chân bước lui, như muốn bỏ đi. Hương thơm thoang thoảng. Tôi níu cô lại bằng một chữ đầu tiên bật ra trên môi:
“Gabriel...”
Cô nhướng mắt ngạc nhiên, tay nắm một bàn tay vô hình:
“Gabriel, Gabriel nào?”
“Dạ không...” 
Tôi không biết nói gì hơn, hỏi vài câu bâng quơ như bất cứ những người sinh viên đồng hương nào có thể hỏi nhau, học gì, từ đâu tới, sang Na-uy lâu chưa. Cuối cùng tôi thở dài:
“Thứ hai tuần sau là Tết ta rồi.” 
Cô nhìn những cọng tuyết rơi nhẹ bên ngoài qua cái cửa sổ có treo cây trầu bà lá úa, nói:
“Dạ, Tết, nhưng không có vẻ gì là xuân cả.”
“Thứ bảy này sinh viên Việt Nam tổ chức Tết nguyên đán, cô đi cho vui!”
“Dạ, có thể.”
Tôi muốn hỏi có phải cô mới đi coi kịch. Tôi cũng định nói về hiện tượng lạ lùng mắt tôi chứng kiến lúc nãy khi cô đi dưới tuyết. Nhưng sợ tất cả chỉ là ảo giác, đành im lặng. Lợi dụng mấy giây im lặng đó, cô chào biệt và bước vội lên cầu thang. Tay vẫn nắm một bàn tay vô hình.

Nhìn trời nhìn đất, không thấy một dấu hiệu gì của mùa xuân: tuyết ngập dầy trên mái nhà và rừng cây. Trên lối đi, băng từng mảng như thủy tinh bám cứng trên những thẻ đá lót, đi mà cứ sợ té. Tôi nhớ năm nay là năm nhuận, tức là tháng hai tây có hăm chín ngày. Theo tục lệ, ngày nhuận là ngày duy nhất trong năm mà ‘cọc’ được phép đi ‘tìm trâu’, tức là phe nữ được tỏ tình với phe nam mà không sợ mang tiếng là cái đồ... ngựa. Tôi không biết nguồn gốc tục lệ đó từ đâu mà ra; nhưng chắc chắn nó không phải là thành quả của phong trào giải phóng phụ nữ, bởi nếu thế, phải chia cơ hội đồng đều, ví dụ ngày chẵn thì phe đàn bà tỏ tình và ngày lẻ dành cho đàn ông.... Vậy chắc cái tục cho con gái tỏ tình ngày nhuận là sáng kiến của mấy anh con trai vô dụng, như tôi, cả năm chả kiếm được mối nào, thì mong gỡ gạc bằng một ngày... sung rụng. Các anh ấy lại bày vẽ ra thế này: nếu người con gái tỏ tình mà người con trai vì lý do gì đó không đáp ứng thì người con trai phải ‘bồi thường danh dự’ bằng một cặp găng tay.

Chiều ngày 29.2, tôi kín đáo mua một cặp găng tay đút túi áo khoác và lên đường... cầu may. Nếu tôi lần khân ở nhà mà cô Út về thì sẽ mất đứt cặp găng, nên tôi bỏ cơm chiều, đi ăn tiệm Việt Nam. Ăn xong, ngồi uống cà-phê chán chê, có gặp vài cô gái quen, nhưng may mắn, lúc trả tiền xong, đứng dậy, cặp găng vẫn còn nguyên. 
Tuyết tiếp tục rơi. Trên đường, phần đông trai gái có đôi có cặp hết. Tôi lủi thủi lái xe chạy loanh quanh, và không biết động lực thầm kín nào xui khiến mà xe tôi chạy tới cư xá sinh viên Blindern. Tôi ra vườn sau, ngồi trên ghế băng nhìn tuyết bay cuống quít trong vùng ánh sáng vàng của ngọn đèn như những con thiêu thân. Đang tiếc rằng mình không đủ tiêu chuẩn để xin vào ở cư xá này, thì tôi thấy hai người thất thểu lê vào vườn. Một người con gái khóc xướt mướt, dìu một người thanh niên bị thương. Tôi chạy lại xem có thể tiếp tay gì không, thì giật mình thấy người thanh niên bị cụt một bàn tay. Tôi la lên:
“Trời ơi! Phải kêu xe cứu thương ngay!”
Người thanh niên trả lời:
“Không cần,” trong lời nói bình tĩnh, có nét uy nghiêm. Tôi thấy bắt buộc phải tuân lời. Người con gái đặt bạn ngồi xuống ghế, bốc tuyết mới rửa vết thương. Tôi rùng mình buốt ở cánh tay.
Tôi tò mò hỏi, “Tại sao ra nông nỗi này?” Vừa hỏi xong tôi đã nhận ra người con gái quen. Cô vừa băng bó vết thương cho bạn vừa nức nở:
“Anh ấy tự chặt bàn tay tặng tôi.”
“Sao có chuyện khùng điên như thế?”
Cô ngước mặt lên, tuyết chảy trên má, trên đôi môi nhợt nhạt. Nhìn ánh mắt cô trách móc, tôi biết mình lỡ lời. Dù vậy, tôi nghĩ hai chữ “cuồng si ” cũng chưa gói trọn.
“Tôi có xe, để tôi chở anh ấy đi nhà thương?”
“Không cần,” cô từ chối “anh ấy có thể làm những việc hơn nhà thương...”
Người thanh niên nhìn người yêu như ra hiệu cho cô đừng nói tiếp. Tôi thấy anh có một gương mặt tuyệt đẹp, bình thản, không lộ vẻ đau đớn. Cô gái yên lặng băng bó cho người yêu bằng cái khăn quàng len trắng, cứ mỗi vòng lại hôn lên vết thương, như bôi thuốc. Sau cùng cô tháo sợi thung cột tóc buộc mối băng, hôn một lần nữa, và dìu anh đứng dậy. Tôi chờ đợi cô sẽ đưa anh lên phòng cô để nghỉ, nhưng cô ôm cánh tay cụt của anh và hai người đi ra cổng.
Cảnh tượng diễn ra như trong mơ làm tôi hoang mang. Hoang mang đến nỗi khi thấy cô trở lại một mình, tôi không buồn ngạc nhiên và hỏi anh đâu nữa. Tôi đã bị du vào giấc mơ rồi.
“Tôi tâm sự với anh một chút, được không?” cô gái bất ngờ hỏi.
“Rất hân hạnh.”
“Bề gì anh cũng là người đã chứng kiến việc vừa xảy ra. Không hiểu tại sao Gabriel lại muốn cho anh thấy tất cả.”
“Thấy? Thấy gì ạ?”
“Thấy Gabriel. Thấy cảnh vừa rồi... Ngoài tôi ra, anh là người duy nhất thấy”
Tôi càng hoang mang, chỉ biết nói:
“Tôi xin cám ơn.”
“Tôi không quen nói chuyện với người lạ.”
“Tôi cũng có cảm tưởng cô không thích giao tiếp. Tôi thường nhìn thấy cô đi một mình trong sân trường... Cô đi ở mé sân chứ không đi ở giữa.”
“Vậy sao?” cô ngưng một chút, tiếp, “Tôi bị chứng sợ khoảng không...”
“Thì ra là thế... Cái vườn này, bây giờ có rộng quá đối với cô không?”
“Có anh ngồi đây thì không sao.”
“Cô có lạnh không, mình vào phòng khách nói chuyện, hoặc lên xe tôi?”
“Anh lạnh?”
“Không.”
“Vậy mình ngồi ngoài này, tuyết đẹp quá! Tôi sẽ nói mau thôi...” Và cô nói mau, “Gabriel là thiên thần bản mệnh của tôi.”

“Trời!”
“Anh không tin là mỗi người có một thiên thần bản mệnh sao?”
“Tôi không phải người Thiên Chúa giáo.”
“Không cần Thiên Chúa Giáo... Việt Nam mình có Mụ Bà, mười hai Mụ Bà mỗi người... Anh tin không?”
“Có thể có Mụ Bà hay Thiên thần... Nếu không, làm sao giải thích được hiện tượng con nít rớt từ lầu bốn xuống đất, không hề hấn gì... Rồi những bước chân sa sẩy mà vẫn bình an?” Tôi bị thúc đẩy từ bên trong phải biện hộ cho một niềm tin non nớt vừa thành hình trong con người khoa học của tôi, “Một cuộc nghiên cứu cho biết bảy mươi phần trăm người Âu Mỹ tin có thiên thần. Tôi... tôi cũng muốn gia nhập vào thành phần ấy... Nhất là hôm nay xảy ra như vậy.”
“Sự thật không lệ thuộc vào phần trăm số người tin. Riêng tôi không cần tin nữa, vì tôi đã sờ mó vào sự thật, vào Gabriel.” 
Cô cúi xuống vọc một nắm tuyết thấm những giọt máu của Gabriel, nói tiếp, “Anh ấy là một trong ba thiên sứ lớn, lẽ ra không có nhiệm vụ coi sóc riêng người nào. Nhưng từ ngày truyền một tin lớn cho nhân loại, anh hay lý tới việc nhân loại, và đâm ra quyến luyến trần gian. Anh ấy xin được đặc cách coi sóc tôi...”
“Tại sao Ông Lớn, à không, một Thiên sứ lớn lại chăm sóc riêng cô?”
“Tôi đâu biết... Anh ấy nói.. vì tôi là người ít quyến luyến trần gian nhất...”
“Tại sao cô lại xa cách trần gian như thế?”
“Rộng quá và phiền nhiễu quá...”
Một lúc sau cô nói tiếp
“Tôi đã vịn tay anh ấy đi qua được cái sân lớn trong đại học. Anh ấy đang hứa đưa tôi đi trượt tuyết trên núi vào dịp lễ Phục sinh... Gần gũi nhau, tôi biết anh ấy bắt đầu yêu trần gian hơn... Còn tôi cũng bắt đầu yêu... đời.” Cô ngưng nói, nhìn những bông tuyết nhảy múa một lúc mới tiếp, “Anh ấy chẳng biết lòng tôi, chỉ biết bảo vệ, chăm sóc. Mặc dù quyến luyến trần thế, và yêu tôi, dường như ảnh không biết tình yêu trần thế là gì.”
“Cô mặc khải tình yêu cho anh ấy?”
“Tôi không dám nói to tát như thế. Tôi chỉ biết những lúc anh nắm tay để bảo vệ tôi thì bàn tay anh ấm lên. Tôi biết đó là một tình yêu tuyệt vọng cho cả hai bên. Nhưng tôi không thể không nói ra. Vâng, tình yêu không thể không nói ra, dù nói vào gió, nói trong mơ, có phải không anh? Yêu mà không được nói ra nó khổ lắm... Kẹt tôi là gái...”
“Cũng may...”
“Anh nói may cái gì?”
“Tôi nói cũng may là có một ngày cho con gái, ngày nhuận.”
“Anh cũng để ý vụ này!... Nếu tôi không tỏ tình hôm nay thì bốn năm sau mới có một ngày nhuận, bốn mùa xuân qua...”
“Cô tỏ tình chưa?”
“Thì rồi, mới ra nông nỗi đó!”
“Sao lại ra nông nỗi?”
“Tôi vụng về quá, không biết tỏ tình cách nào, nghĩ tới câu tỏ tình thông thường của người Âu Mỹ 'Anh có thể vui lòng cho em xin bàn tay Anh, được không?' Và tôi nói như thế. À, anh ta còn một người bạn chí thân tên Michael, vị thiên thần hay đeo kiếm. Tôi bị nhiều bệnh lắm, ngoài sợ khoảng không, tôi còn sợ bóng tối, vì thế Gabriel thường nhờ Michael tới hộ vệ cho tôi thêm lòng can đảm trong bóng tối. Vừa nghe tôi xin bàn tay, Gabriel rút ngay cây kiếm của Michael đứng bên chặt đứt bàn tay mình...”
“Trời ơi! Chắc đau đớn lắm, dù là thiên thần...”
“Thiên thần thì thiên thần, biết yêu là biết đau.”
“Bây giờ bàn tay đó đâu?”
“Michael mang đi rồi. Michael nói Gabriel không thuộc về trần gian này, phải mang bàn tay về trời.” 
“À, thì ra là thế.”
Tôi thốt lời và thầm hỏi không biết trái tim Gabriel có về trời được không.
--

(Câu chuyện này đã được Hồng Vân và Anh Dũng loan trên Đài VOA tối thứ ba ngày 27.11.2001. Sau đó một số sinh viên cũ của Đại học Oslo còn nhắc lại vào ngày 29.2 mỗi năm nhuận)

Đầu Xuân, Vãng Cảnh Và Chiêm Ngắm Các Pho Tượng Nơi Những Ngôi Chùa Cổ

HUỲNH HỮU UỶ

Chùa Tây Phương, Sơn tây. Ảnh W&B Forman
Phật giáo đã gắn bó với dân tộc gần 2000 năm. Từ những thế kỷ đầu Công Nguyên cho mãi đến ngày nay, qua nhiều thời kỳ lịch sử với những dấu mốc đặc biệt, Phật giáo đã ăn sâu trong những cơ tầng cấu trúc dân tộc, lan toả nơi mỗi nguồn mạch tâm linh, văn hoá, phong tục, tập quán. Có thể nói nghệ thuật Phật giáo chiếm một phần hết sức quan trọng trong toàn bộ nền nghệ thuật đất nước.
          

Là tiếng nói sâu đậm, cụ thể và hiện thực, nền nghệ thuật này trở nên một sức mạnh của tình cảm, tư tưởng và tâm linh. Từ những vết tích đầu tiên thực hết sức đáng kể ở Luy Lâu của đất Giao Châu xưa (nay là Thuận Thành, Hà Bắc), giữa trung tâm của đồng bằng sông Hồng, khi dân tộc tiếp nhận nguồn tôn giáo lớn này, khi các tăng lữ Tây Trúc trên đường hoằng pháp sang các xứ phương Đông dừng chân nơi đây, rồi đi ngược lên phía Bắc hoặc đi về phương Nam, cho mãi đến năm 562, khi Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), một tăng lữ gốc người phương Nam Ấn Độ, đến trụ trì luôn ở trung tâm này, trú tại chùa Pháp Vân, giảng dạy Phật pháp thì Phật giáo đã được lập thành một thiền phái, đây là dòng thiền tông thứ nhất, rồi hoà hợp với tính cách văn hoá bản địa mà tạo nên một sức sống tinh thần lạ lùng. Nhà Phật học Nguyễn Lang (tức thiền sư Nhất Hạnh) còn cho rằng vào thời Hán, khi Việt Nam còn nội thuộc Trung Quốc, trung tâm Luy Lâu được hình thành rất sớm, đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương (kinh đô của nhà Hán) sau đó ở Trung Hoa (1). Như vậy, khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch, đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam, rồi qua nhiều thời kỳ kế tiếp, Phật giáo có lúc đã trở thành quốc giáo, là thời kỳ “chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng nên, nát đi rồi lại sửa lại, lâu đài, chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư”(2), trang bị cho toàn bộ dân tộc một sức mạnh tinh thần hết sức đặc biệt, và vào những thời kỳ ấy, nghệ thuật Phật giáo đã để lại nhiều dấu vết thực là rạng rỡ.
          

Rồi lan toả đến từng mỗi ngóc ngách của cuộc sống đất nước, nghệ thuật Phật giáo thấm đậm nơi mỗi chùa làng. Chưa nói đến các trung tâm văn hoá Phật giáo lớn, chưa nói đến các quốc tự lừng lẫy, các danh lam, tự viện danh tiếng, chỉ mới đề cập đến các chùa làng rải rác nơi mỗi làng mạc Việt Nam, đã phát triển rất rực rỡ vào các thế kỷ 16, 17, 18. Một nhà nghiên cứu nghệ thuật đã đúc kết: “Thế kỷ 18, chỉ từ Thanh Nghệ trở ra, đã có hơn 12,000 làng xã với ít nhất bấy nhiêu ngôi chùa. Mỗi ngôi chùa làng dù nhỏ nhất cũng có vài chục tới vài trăm pho tượng. Nước ta có vài triệu pho tượng. Nếu tập trung lại ta sẽ có hơn một Bôrôbudur hay một Ăng-Co sơn son thiếp vàng.”(3)
          

Dưới cái nhìn quan chiêm pha chút tò mò hiếu cổ, yêu cái đẹp tạo hình, thì mỗi ngôi chùa làng rải rác khắp nơi, đặc biệt là những cổ tự mang nhiều dấu vết rêu phong của thời gian, đều là những nhà bảo tàng nghệ thuật của đất nước. Nơi những nhà bảo tàng ấy, từng pho tượng sẽ lặng lẽ mà sinh động nói với chúng ta nhiều điều. Những pho tượng ấy dù có những điểm riêng, nhưng bao giờ cũng được tạo hình theo những qui thức và ký hiệu chung. Và những pho tượng thường là được bài trí theo một cách chung, dù ở trong một ngôi chùa có kết cấu theo lối chữ Công là lối phổ biến nhất, hoặc chữ Đinh, hay chữ Tam, hay cả kết cấu theo hình chữ Quốc.(4)
          

Trừ những ngôi chùa của phái Tiểu Thừa (Nam Tông) chỉ thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, tất cả các chùa khác theo phái Đại Thừa thì thờ nhiều vị Phật, nhiều vị Bồ Tát, không những thế đôi khi còn thờ cả những tượng Thánh của Đạo giáo và Khổng giáo, và cả những nhân vật lịch sử. Điều này phản ánh được phần nào về một thời Tam giáo đồng nguyên, tỏ rõ sự dung hợp ba nền đạo lý thâm diệu của phương Đông, đến từ hai trung tâm văn hoá lớn Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nên một vẻ đẹp hài hoà giữa ba nguồn gốc Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo. Hơn thế nữa, nó đã hoà hợp, gần gũi và chia sẻ cả với những tín ngưỡng cổ truyền trong đại chúng, bàng bạc khắp nơi, từ nhiều đời trước để lại.
          
TƯỢNG THỜ Ở NHÀ BÁI ĐƯỜNG
         

Phật Quan Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt, chi tiết, điêu khắc gỗ, chùa Bút Tháp, ảnh Milós Rév
Bước vào một ngôi chùa, ở gian rộng ngoài cùng là bái đường, nơi tín đồ thập phương đến lễ bái, cũng là nơi các nhà sư ngồi tụng niệm thường nhật. Nơi gian phòng này, bài trí hai bên, bên phải và bên trái, tượng Thập Điện Diêm Vương.
           

Paul Lévy, giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ (L’Ecole Francaise d’Extrême-Orient), trong dịp Triển Lãm Cổ Tích Việt Nam ở Viện Bảo Tàng Bác Cổ Hà Nội năm 1948, dựa trên vũ trụ quan Phật giáo, đã giải thích về ý nghĩa và việc bày biện các tượng Diêm Vương như thế này: Đối với các tín đồ nhà Phật, nhục hình dưới âm ty có nhiều và phức tạp. Tuy nhiên, kẻ phạm tội không chịu nhục hình mãi mãi, vì theo đạo Phật linh hồn không phải là bất diệt, không phải là vô thuỷ, vô chung. Sau khi sinh sinh, hoá hoá, phù trầm qua bao kiếp khác nhau- là vật, là người, là thần, có khi là cây cỏ nữa- nhờ những giáo lý của Đức Phật, con người được giác ngộ, bắt đầu hiểu rõ được duyên cớ nỗi khổ của mình và căn do sự biến hoá không ngừng từ kiếp này sang kiếp khác. Lúc đó, người ta sẽ bỏ hết dục vọng, bỏ hết hành động, bỏ đời sống cũ, thế phát đi tu, sống một cuộc đời đạm bạc, khắc khổ, để hồn người trở về với hồn vũ trụ, về với Đại khí, về cõi hư vô, nơi mà người ta thực sự chỉ là một hạt bụi. Bấy giờ là lúc sắp sửa lên cõi Niết Bàn. Đối với người Việt, sống ở vùng nhiệt đới, khao khát sự nghỉ ngơi, giấc ngủ trường miên chỉ có khi hình hài đã hoàn toàn tan biến vào vũ trụ.(5) Như vậy, tượng Thập Điện Diêm Vương gợi nên cảnh âm phủ, bày ra ngay ở bên phải và bên trái nơi các thiện nam, tín nữ đến lễ bái, là một cách nhắc nhở con người tìm đường giác ngộ, vượt qua mọi nghiệp quả để đạt đến cõi niết bàn, tịnh độ, đến cực lạc thế giới.
          

Cũng ở nhà bái đường, có tượng Thổ ĐịaGiám Trai, là những vị thần được dân Trung Quốc và Việt Nam thờ phượng. Thổ Địa là vị thần coi sóc, giữ gìn đất đai, chính là vị thần làm chủ vùng đất thuộc khu vực nhà chùa, thường giữ gìn, bảo hộ điền thổ và tài sản của nhà chùa. Cạnh đấy là hai tượng Hộ Pháp đồ sộ, đắp bằng đất thó và sơn quét, tô vẽ màu sắc lên bên ngoài.(6) Tượng Hộ Pháp trong dáng vẻ uy nghi, cầm khí giới, mặc áo giáp, đội mũ trụ, hoặc đứng thẳng, hoặc cưỡi trên một con nghê (Trần Trọng Kim gọi là con sấu)(7), là những vị thần hộ trì Phật pháp.

          TƯỢNG THỜ SAU NHÀ BÁI ĐƯỜNG
          
Sau nhà bái đường, trước khi dẫn vào chánh điện, thường được bày biện tượng các vị La Hán, Tứ Bồ Tát, và Bát Bộ Kim Cương. Tứ Bồ Tát và Bát Bộ Kim Cương là những vị thần đã phát bồ đề tâm và đang vận dụng thần lực để bảo vệ, hộ trì phật pháp.


Tổ Tây Thiên Ðông Ðô Việt Nam lịch đại tổ, tượng sơn thiếp, chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, ảnh Milós Rév
La Hán (phiên âm từ Phạn ngữ Arhat, tiếng Hán-Việt là A-La-Hán, gọi tắt là La Hán) là các vị thánh đã ngộ đạo, tuy ngộ đạo nhưng chưa thành Phật. Khái niệm La Hán (Arhat) du nhập vào Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ 7, nhưng qua thế kỷ thứ 10 mới được Thiền Tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền Tông tìm thấy nơi La Hán yếu tính tự lực để đạt đạo (self-salvation), La Hán từ chối các lực phổ độ đến từ bên ngoài (universal salvation), nên khái niệm này rất phù hợp với tinh thần thiền. Các vị La Hán nhờ trí huệ siêu việt nên đạt được nhiều thần thông, như biết các tiền kiếp của mình, nhìn thấy địa ngục, chư thiên, biết rõ mình đã giải thoát, đoạn diệt mọi ố nhiễm để thắng trí xuất thế, và trước mắt là nghe được tất cả mọi âm thanh cũng như rõ được ý của người khác.
            

Trong nhiều chùa chiền của Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam, người ta có thể tìm thấy tượng của 500 La Hán, hay hình vẽ 18 thánh nhân này trên vách tường chính điện với nét mặt và cử chỉ rất đặc biệt. Tượng 500 La Hán được tạc nên là để nhớ lại lần kết tập thứ nhất có 500 vị thánh nhân hiện diện, cũng như lần kết tập thứ tư ở Kashmir cũng có 500 vị La Hán tham dự. Về hình tượng 18 La-Hán là do lời truyền tụng: Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-La-Hán; 16 vị này bất tử để giữ gìn giáo pháp cho đến thời mạt pháp hoàn toàn thì mới nhập niết bàn.Vào thế kỷ thứ 10, con số 16 A-La-Hán đã được nâng lên thành 18 vị.(8)
          

Tượng Thập Bát La Hán thường được bài trí thành hai dãy, hai bên hành lang dẫn vào chánh điện, hoặc ở hai bên chái của chánh điện, từ đây có thể đi tiếp vào hậu điện. Cũng có nơi, tượng La Hán được bày ở hậu điện. Có một số chùa chỉ bày mười pho tượng La Hán nên gọi là Thập Điện La Hán như ghi nhận của Phan Kế Bính trên Đông Dương Tạp Chí thời khoảng 1913-1914. Cụm từ “Thập Điện La Hán” của Phan Kế Bính không thấy ở những kinh sách nghiên cứu về Phật giáo khác. Có lẽ do Phan Kế Bính quan sát và ghi nhận hình ảnh này từ một vài ngôi chùa nào đó rồi viết ra mà thôi.(9)
          

Tượng Phật Cửu Long cũng được thiết trí ngay giữa khu vực này. Phật Cửu Long là tượng Phật Thích Ca sơ sinh.(10) Theo truyền kỳ Phật giáo, mẫu thân Đức Phật nằm mộng thấy con voi trắng sáu ngà hoá thành hào quang rực rỡ chiếu vào thân mình, rồi mang thai mười tháng mà sinh ra ngài. Lúc Thích Ca đản sinh, có chín con rồng hiện đến, cuộn mình tung lượn giữa đám mây mù, phun nước tắm cho ngài. Và sau khi tắm xong, ngài đứng dậy đi bảy bước, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất mà nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.” Hình ảnh đản sinh là một tượng trưng đặc biệt của Phật giáo, vì đó là bước đầu của hành trình đi đến giác ngộ và niết bàn mà chúng ta sẽ gặp thấy ở những pho tượng Phật khác trong tư thế ngồi và nằm. Liên hệ đến chuyện truyền kỳ này, ở nhiều chùa, cứ hàng năm đến ngày lễ Phật đản, tượng Phật Cửu Long được rước ra tắm và thay áo mới. Dưới các triều đại nhà Lý, có lẽ bắt đầu từ thời Lý Thánh Tông, lễ tắm Phật bằng nước thơm được cử hành trọng thể ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) vào sáng ngày mồng tám tháng Tư, với sự có mặt hầu như đông đủ nhà vua, hoàng hậu, hoàng gia,và triều thần bá quan văn võ, dân chúng cũng tụ tập về tham dự rất đông.(11)
          

rong tất cả các chùa chiền Việt Nam, tượng các vị La Hán có lẽ là đặc sắc nhất vì đã vượt qua khỏi những kiểu mẫu có tính công thức. Mỗi pho tượng là một nét riêng, có nhiều tính sáng tạo, suy nghĩ và đóng góp riêng tư của người nghệ sĩ điêu khắc xưa. Trên khuôn mặt của từng mỗi vị La Hán hiện lên hơi thở và bóng dáng nhân sinh của người thợ chạm khắc, và qua đó đôi lúc là cả bầu khí sinh hoạt của xã hội đương thời. Những pho tượng ấy vì thế mà ít giống nhau, biểu lộ được tính cách của tác giả pho tượng, mà chính ở đó cũng là tính cách riêng của nền điêu khắc cổ truyền Việt Nam. Những pho tượng La Hán ở chùa Tây Phương (1794) ở Quốc Oai, Sơn Tây, thực hết sức đẹp và sinh động là một điển hình. Đây là một thành tựu suất sắc của nghệ thuật thời Tây Sơn, để lại những kiệt tác trong di sản nghệ thuật cổ Việt Nam. Điêu khắc gỗ nơi mười tám pho tượng La Hán này đạt được cái tài tình, lão luyện từ một nền nghệ thuật truyền thống lâu dài từ nhiều thế kỷ trước để lại, rất sâu sắc, hiện thực và sống động. Cao lớn như người thật, được sơn son thiếp vàng, mỗi pho tượng như muốn biểu lộ một chân dung tâm lý riêng, toả ra một tính cách riêng, một tâm trạng riêng, một tinh thần riêng. Qua hình tượng các vị tổ trong đạo Phật, nhà điêu khắc đã phát biểu rất tài tình một thế giới nhiều chiều sâu, đôi lúc pha chút dí dỏm, hóm hỉnh, và rất rõ ràng là chứa đựng nhiều chất con người trong bối cảnh xã hội đương thời.
               

Tượng Phật Đà Nan Đề (Buddhanandi), vị tổ thứ tám, đúng là một bậc trí giả thượng thừa, vui vẻ, nhưng nghiêm trang và đức độ dưới ánh đạo vàng Phật pháp. Mặc áo trạc ngực, bày ra cả bụng và rốn, thoải mái trong cử chỉ đang ráy tai, miệng tươi cười dí dỏm, phong thái giản dị, khinh khoái. Kinh Phật nói rằng ngài giảng kinh rất thông tuệ, không bao giờ vướng mắc điều gì.


Tổ La Hầu La Ða, tượng gỗ sơn thiếp, chùa Tây Phương, ảnh Milós Rév
Bà Tu Mật (Vasumitra), vị tổ thứ bảy của phái Đại Thừa thì trông vồn vã, tươi cười, ăn mặc chỉnh tề, hai cổ tay mang hai chiếc vòng, hai tay chắp lại đưa ra đằng trước như đang đảnh lễ hay cầu nguyện.
             

Hiếp Tôn Giả (Parcva), vị tổ thứ mười, đứng tựa vào gốc cây, tay cầm quạt, đôi mắt trông có vẻ lơ đãng nhưng nhìn thấy suốt mọi việc, ngài là người cực kỳ thông minh, rất cần mẫn, chăm chỉ, ít nói và chỉ nhìn. Nhà nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn Đỗ Cung cho rằng đây là pho tượng thành công bậc nhất trong loạt các pho tượng này, ông đề nghị chúng ta thưởng thức cái thần khí của pho tượng, tinh thần cần mẫn của Hiếp Tôn Giả nơi hai con mắt đang nhìn lơ mơ của pho tượng.(12)
            

Tổ Long Thụ (Nagarjuna), vị tổ thứ mười bốn, ngồi trên một toà sen lớn, dáng người uyên bác, thâm trầm, nghiêm túc.
           

Tổ Ca Tỳ Ma La(Kapimala), vị tổ thứ mười ba, với hai con mắt nhìn trừng trừng rất oai nghiêm, nhưng vẫn toả ra một vẻ đức độ tràn đầy.
            

Chúng ta thử chiêm ngắm thêm một pho tượng khác nữa rất đẹp, tượng La Hầu La Đa (Rahulabhadra), vị tổ thứ mười sáu. Là chân dung một cụ già trầm tĩnh, đĩnh đạc, y phục nghiêm chỉnh, móng tay để dài, những thớ thịt ở tay, ở cổ làm nổi bật dáng gầy gò của cơ thể, cái miệng ngậm lại với bờ môi trông thật mềm mỏng, con mắt lim dim, tay cầm chiếc gậy để tựa vào người, bên cạnh là con hươu nằm quay người nhìn về phía tổ, càng tạo nên một vẻ hoà điệu thâm trầm cho pho tượng. Thêm vào đó, một chút ấn tượng tôn giáo ở chỗ hai dái tai thả dài xuống, làm dáng dấp pho tượng càng thêm phần nghiêm trang, trầm tĩnh. Đây là một chân dung của tuổi già đã chín muồi trong đời sống, đang trầm tư mặc tưởng.
             

Ở các pho tượng khác cũng thế, như tượng Mã Minh (Acvaghosha), tổ thứ mười hai, tượng Ma Ha Ka Diếp (Kasyapa),vị tổ thứ nhất, tượng Ất Nan (Ananda), vị tổ thứ hai…, hết thảy mười tám pho tượng La Hán này đều mang lại một vẻ sinh động kỳ diệu, tuyệt vời. Tính sinh động nơi các pho tượng ấy đã được ghi nhận và mô tả một cách tài tình dưới ngọn bút của nhà thơ Huy Cận.

                    Các vị La Hán chùa Tây Phương
                    Tôi đến thăm về lòng vấn vương
                    Há chẳng phải đây là xứ Phật
                    Mà sao ai nấy mặt đau thương?

                    Đây vị xương trần chân với tay
                    Cớ chi thiêu đốt tấm thân gầy
                    Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
                    Tự bấy ngồi yên cho tới nay

                    Có vị mắt giương, mày nhíu xệch,
                    Trán như nổi sóng biển luân hồi,
                    Môi cong chua chát tâm hồn héo,
                    Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

                    Có vị chân tay co xếp lại
                    Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
                    Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
                    Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn.
            
                 Các vị ngồi đây trong lặng yên
                 Mà nghe giông bão nổ trăm miền
                 Như từ vực thẳm đời nhân loại
                 Bóng tối đùn ra trận gió đen.

                 Mỗi người một vẻ mặt con người
                 Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
                 Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
                 Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

                 Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
                 Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
                 Một câu hỏi lớn. Không lời đáp.
                 Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

                 Có thực trên đường tu đến Phật
                 Trần gian tìm cởi áo trầm luân
                 Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
                 Các vị đau theo lòng chúng sinh?

                 Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
                 Sống lại cho tôi hỏi một câu:
                 Bác tạc bao nhiêu hình khổ hạnh,
                 Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

                 Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
                 Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
                 Là ông cha đó bằng xương máu
                 Đã khổ, không yên cả dáng ngồi.
                 ….
      Vẻ đẹp trên các tượng La hán chùa Tây Phương càng trở nên bi tráng, thấm đẫm mùi vị nhân sinh mà cũng đầy hùng lực qua mắt nhìn Huy Cận, soi sáng thêm một lần nữa tính sáng tạo của nhà tạc tượng Việt Nam xưa, chúng ta có thể gọi đó là cái riêng của điêu khắc cổ Việt Nam.

      TƯỢNG THỜ Ở CHÍNH ĐIỆN

       Bước vào chính điện, chúng ta sẽ thấy tượng thờ các vị tu hành đã đắc đạo, đạt chính quả. Phía đằng trước là tượng Phật nhập niết bàn, rồi đến Phật Di Lặc, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Quan Âm. Sau cùng là Phật A-Di –Đà và tượng Tam Thế Tôn. Tam Thế Tôn là ba pho tượng có lẽ quan trọng nhất ở gian chính điện, thường bày cao lên gần sát mái nhà và kề sát vách chính điện, tức là Thường trụ tam thế diệu-pháp thân, là biểu tượng của chư Phật thường trụ qua thời gian: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. Có người cho rằng ý nghĩa của ba tượng Phật này chẳng khác gì ý nghĩa Tam-vị-nhất thể (Trinité) của đạo Ky Tô.
        

Phật A-di-đà (Amita) là giáo chủ của cõi Tây phương cực lạc. Gốc Phạn ngữ Amita nghĩa là vị Phật của ánh sáng vô lượng (Amitatàbha: The Buddha of Infinite Light) và cũng là vị Phật của vô lượng thọ (Amitàyus: The Buddha of Infinite Life.) Tượng Phật A-di-đà thường được tạc đang ngồi trên toà sen, tay bắt ấn, phía bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokites’vara), biểu hiện của lòng từ bi, và bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahasthamprata), biểu hiện của ánh sáng trí tuệ.
         

Trong các điện thờ Phật Đại Thừa, tượng Phật A-di-đà thường được tạc lớn nhất, tuỳ vào kích thước của từng ngôi chùa. Tượng A-di-đà ở chùa Phật Tích (Hà Bắc) cao 1m87, không kể bệ và toà sen, là một di tích quí giá của lịch sử văn hoá và mỹ thuật Việt Nam.(13)
         

Quan Thế Âm là vị bồ tát thần thông quảng đại, thường hiện ra để cứu khổ cứu nạn chúng sinh. Thế gian là một biển khổ mênh mông, nên ở đâu có tiếng kêu cứu khổ cứu nạn thì ngài đều đưa tay cứu vớt. Kinh Pháp Hoa nói: “Khổ não chúng sinh nhất tâm xưng danh, Bồ tát tức thị quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan-Thế-Âm.” (Chúng sinh bị khổ não mà nhất tâm gọi đến tên Bồ-Tát, tức thời Ngài sẽ xem đến âm thanh kêu xin mà độ cho được giải thoát. Bởi thế gọi tên Ngài là Quan-Thế-Âm.)
         

Một trong những sắc tướng thường được nhớ đến rất đặc biệt của Ngài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, nghĩa là một vị bồ tát đại từ đại bi, có thần thông vô lượng, pháp nhãn và pháp lực đến không cùng, không điều gì là ngài không thấy, không việc gì là ngài không làm được, nên ngài có sắc tướng của một bồ tát có nghìn tay nghìn mắt.
         

Chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh hiện rất may mắn còn bảo lưu được pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, được tạc từ năm 1656, rất tinh xảo, là một kiệt tác của nền mỹ thuật cổ Việt Nam. Nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh cho chúng ta biết: Nam tước Trương văn Thọ thời Hậu Lê đã đặt thợ tạc pho tượng này để dâng cúng vào chùa, và cũng như tất cả các tượng cổ Việt Nam khác, chúng ta không biết điêu khắc gia nào đã tạc nên pho tượng này. Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên có thể đúc kết là, trong tất cả các tượng Quan Âm cổ của Việt Nam, chắc chắn đây là pho tượng đẹp nhất.(14)
           

Hình tượng và bố cục của pho tượng, mặc dù cũng chỉ là bắt nguồn từ cái chung có từ nhiều đời trước, như tượng Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt của Trung Hoa và Ấn Độ,  nhưng vấn đề ở đây là cái tài tình của một người nghệ sĩ Việt Nam nào đó, hơn 350 năm trước, đã thực hiện nên công trình kỳ diệu này, và đã để lại cho chúng ta một niềm tự hào vô hạn về một tác phẩm mỹ thuật toàn bích.
          

Ông Nguyễn Phi Hoanh đã nhận xét về pho tượng này: “Cái đặc sắc của tượng Quan Âm chùa Bút Tháp là ở chỗ tác giả, với nghệ thuật điêu luyện đã làm cho một hình kỳ quái có nhiều đầu, nhiều tay vẫn giữ được vẻ tự nhiên không có gì chướng mắt. Ba hình mặt lớn ở dưới là mặt Phật vào loại đẹp nhất của nghệ thuật tôn giáoViệt Nam. Bốn bàn tay để phía trước rất mềm mại, tự nhiên và nghệ sĩ có cái ưu điểm là không để rơi vào chỗ mềm yếu như trong nhiều tượng khác. Bố cục chung và động tác của những bàn tay lớn rất thoải mái, chứng tỏ trình độ cao của nghệ sĩ trong việc giải quyết một hình thể khó khăn như tượng này.”(15)
        

Nhắc đến tượng Phật nơi các cổ tự, chúng ta cũng không thể quên được pho tượng Phật tạc bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, cao 1m96, bày ngay ở phòng bát giác chính của Bảo TàngViện Sài Gòn trước đây, với những quí tướng đặc biệt, nghĩa là theo qui cách tượng trưng cố hữu, nhưng vẫn toả ra một hấp lực đặc biệt đối với người quan chiêm, kính ngưỡng.
          

Đây là tượng Thích Ca Mâu Ni Phật (Sàkyamuni Buddha.) Phật A-di-đà là báo thân của Phật thì Thích Ca Mâu Ni là ứng thân của Phật, tức là hai mặt của một bản thể thường trụ không sanh không diệt. Tượng Phật này cũng gọi là tượng Đức Cồ Đàm vì Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật lịch sử, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhàrtha), thuộc dòng họ Cồ Đàm (Gautama), con trai của một tiểu vương ở gần Hi Mã Lạp Sơn, thuộc vùng Népal ngày nay.
         

Pho tượng được tạc ngồi kiết già (Vajrãnasa) trên toà sen. Hai bàn tay thanh thản xếp vào nhau, tay mặt để trên tay trái, hai ngón cái chạm đầu vào nhau. Có chữ vạn      nổi ở giữa ngực, tượng trưng của pháp lực chuyển động tới vô cùng vô tận, có cục gồ usnĩsa nổi cao trên đỉnh đầu, tóc xoắn hình khu ốc. Khuôn mặt đầy đặn, hai cánh mũi lớn, đôi mắt lim dim như đang tập trung huyền lực, hai trái tai dài xuống đến gần ngang cằm. Cổ có ngấn, góp phần tạo nên một ấn tượng mềm mại, duyên dáng. Thân mình được phủ chiếc áo cà sa rộng, có những lằn xếp đều đặn rất nghiêm trang. Người chiêm ngắm có thể nhìn thấy ở đây dáng vẻ của một bậc trí giả trầm lặng, an tĩnh, hay đúng hơn là hình ảnh của một vị Phật rực rỡ như vàng thắm, trầm tư mà oai nghiêm như sư tử.


Toàn cảnh chùa Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh, ảnh W&B Forma
Tượng Phật Cồ Đàm này có một lịch sử khá đặc biệt. Nguyên là pho tượng được vua Minh Mạng dâng cúng vào chùa Khải Tường nhân ngày khánh thành ngôi chùa này. Chùa Khải Tường ở thôn Hoạt Lộc, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, được xây dựng năm Nhâm Thìn 1832, để kỷ niệm nơi vua Minh Mạng chào đời. Khi Gia Long Nguyễn Phúc Ánh chưa thống nhất sơn hà và còn bôn tẩu ở phương Nam, Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, thứ phi của chúa Nguyễn Ánh đã sinh hoàng tử Đảm (về sau là vua Minh Mạng) ở nơi này vào năm Tân Hợi 1791. Vua Minh Mạng cho dâng cúng pho tượng để tạ ơn Phật và cũng là để kỷ niệm một nơi quí tường của hoàng gia và đất nước. Chùa được trùng tu vào năm Bính Thân 1836, đời vua Minh Mạng thứ 17.(16)
        

Trong cuộc chiến tranh Pháp-Việt, chùa từng đã là một cứ điểm kháng Pháp, được Nguyễn Tri Phương lập đồn năm 1859. Chùa Khải Tường, Pháp gọi là Pagode Barbé vì đêm 6-12-1860, kháng chiến quân đã phục kích giết chết đại uý thuỷ quân lục chiến Barbé tại đây. Chùa Khải Tường (Pagode Barbé), cùng với các ngôi chùa khác là Hiển Trung (Pagode aux Mares), Kiểng Phước (Pagode des Clochetons) ở Chợ Lớn, chùa Cây Mai ở Phú Lâm đã tạo thành một chiến tuyến mà Pháp gọi là ligne des Pagodes, để chống lại sự tiến quân của Pháp về phía Chợ Lớn. Chinh chiến tiếp diễn từ năm 1860, rồi sau đó khi Pháp đã chiếm đóng được toàn bộ Sài-Gòn, chính quyền thuộc địa đã huỷ phá một số đền chùa cũ của ta để xây dựng một thành phố mới theo kiểu Tây Phương. Chùa Khải Tường bị phá huỷ, pho tượng Phật của vua Minh Mạng may là còn nguyên vẹn, nương náu chỗ này chỗ khác cùng với Hội Cổ Học Ấn-Hoa (Société des Etudes Indochinoises), sau cùng được đưa về trưng bày ở Viện Bảo Tàng Sài-Gòn.
         

Ở bên trên, chúng ta vừa vẽ phác về cách bày biện những pho tượng thờ trong những ngôi cổ tự, cũng nhân đó mà chiêm ngắm một số danh tác của nền điêu khắc cổ Việt Nam.
         

Đối với kho tàng mỹ thuật Phật giáo vô cùng phong phú, đây chỉ là vài nét đan thanh, chúng ta sẽ có dịp trở lại với đề tài này vào một dịp khác, công phu, tỉ mỉ, và toàn diện hơn.
                                                                               
 
Tết Nhâm Thìn 2012

HUỲNH HỮU U
CHÚ THÍCH
(1) CF. - Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,”Chương I, Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu”, Lá Bối, Sài-Gòn,1974, trang 13-22.
             - Nhất Hạnh, Thiền Sư Tăng Hội, Sơ Tổ của Thiền Tông Việt Nam, Nxb An Tiêm, Paris, 1998.
(2) Lời trích từ bài minh của Lê Quát trên bia chùa Thiệu Phúc ở Bái Thôn, Lộ Bắc Giang. Dẫn lại trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1967, trang 161.
(3) Nguyễn Quân, ”Chùa làng hay các bảo tàng điêu khắc”, Đất Mới, Montréal, số 2, tháng 2.1990.
(4) Những ngôi chùa lớn thường dựng theo kiểu nội công ngoại quốc (trong hình chữ công, ngoài hình chữ quốc), được gọi như thế vì khu nhà chính giữa có hình chữ công và ở chung quanh có những dãy nhà bao quanh lại theo hình vuông.
(5) “Triển lãm cổ tích Việt Nam”, phần tượng Phật do Paul Lévy ghi chú. Dân Việt Nam (Le Peuple Vietnamien), Viện Đông Phương Bác Cổ xb, số 2 tháng 12.1948.
(6) Hầu hết các tượng Hộ Pháp ở hai gian bên cạnh nhà bái đường được đắp bằng đất sét, hoặc vôi vữa, nhưng các pho tượng Phật thì lại được tạc bằng gỗ, đôi lúc được đúc bằng đồng hoặc chạm khắc bằng đá. G.Dumoutier trong Lược Khảo về người Bắc Bộ (Essais sur les Tonkinois) cũng đã từng cho chúng ta biết về kỹ thuật thực hiện các pho tượng gỗ này. Gỗ làm tượng thường là gỗ mít, màu vàng, thớ nhỏ và se, dễ đục đẽo và không bị cong. Tượng đã tạc xong, các phần của tượng được ghép lại với nhau đâu vào đấy, người thợ lấy đất sét trắng trộn với sơn sống để bịt những chỗ nứt, chỗ nối, rồi trát lên toàn pho tượng một lượt và mài nhẵn chỗ lồi lõm. Thực hiện nhiều lượt như thế cho đến lúc vừa ý thì sẽ để cho khô, rồi quét sơn và thếp vàng. (Dẫn lại trong Dân Việt Nam, Le Peuple Vietnamien, bài đã dẫn.)
(7) CF. Trần Trọng Kim, Phật lục, Nxb Tôn Giáo tái bản, Hà Nội, 2002, trang 117.
(8) Theo Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách, Từ Điển Phật Học, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1999, trang 222-223.
(9) Xem Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, Phong Trào Văn Hoá xb, Sài-Gòn, 1974, trang 122.
(10) Theo ông Trần Nho Thìn, sau nhiều cuộc thăm viếng, khảo sát các chùa chiền cho biết: ở một vài ngôi chùa, có đến năm hay bảy tượng Phật Thích Ca sơ sinh, sở dĩ như vậy vì các Phật tử vào dịp này dịp khác đã thành tâm cúng vào chùa các pho tượng ấy, cứ mỗi lần như thế, nhà chùa lại bày biện thêm chứ không quan tâm đến chuyện các pho tượng chỉ mang một nội dung, hình thức cũng là mẫu hình tương tự. Các pho tượng được cúng vào chùa thường là vào các dịp trùng tu, tôn tạo chùa. Và cứ như thế, số lượng tượng Phật cứ tăng mãi, ví dụ như ở chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) ở Sơn Tây có đến 287 pho tượng các loại, ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm Tự) có 153 pho tượng các loại. (CF. Trần Nho Thìn, Vào Chùa Thăm Phật, sự tích- ý nghĩa- cách bài trí, Hà Nội, 1991.)
(11) Xem Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II, trang 37-38, Nxb Lá Bối, Paris,1978.
(12) Nguyễn Đỗ Cung, “ Mỹ Thuật Thời Tây Sơn “, Mỹ Thuật số 5, 1969, Viện Mỹ Thuật- Mỹ Nghệ Hà Nội, trang 84-93.
(13) Xem thêm: Huỳnh Hữu Uỷ,” Chùa Phật Tích và mấy di tích mỹ thuật thời Lý ”, Thế kỷ 21, California, số 76, tháng 8.1995.
(14) Nguyễn Phi Hoanh, Lược Sử Mỹ Thuật Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1970, trang 95.
(15) Nguyễn Phi Hoanh, sđd, trang 96.
(16) CF. – Thái Văn Kiểm,” Từ Trần-Tộc-Từ đến Khải-Tường-Tự “, Đất Việt Trời Nam, Nxb Nguồn sống, Sài-Gòn,1960, trang 466-473.
               - Trương Bá Phát, “Lịch sử những vị Phật gỗ trong Viện Bảo Tàng Quốc- Gia Việt-Nam”, Văn Hoá Tập San, Sài-Gòn, bộ XX(1971), số 1, trang 118-147.
       Ở đây, có một điểm cần lưu ý: Hai ông Thái văn Kiểm và Trương Bá Phát chỉ nói rằng chùa Khải Tường được xây dựng năm 1832 để kỷ niệm nơi vua Minh Mạng chào đời. Ông Vương Hồng Sển lại nói rõ ràng hơn, là hoàng tử Đảm, tức vua Minh Mạng đã được sinh ra tại hậu liêu của ngôi chùa này. Như vậy, trước năm 1791 (năm sinh của vua Minh Mạng), đã có chùa Khải Tường, và có lẽ chỉ là một ngôi chùa nhỏ ở địa phương, ít người biết đến, về sau vua Minh Mạng đã cho xây cất khang trang, lại cho gửi pho tượng Phật từ Huế vào để thờ phượng, nên Khải-Tường-Tự đã trở thành một quốc tự và là một vết tích khá đặc biệt. (Xem Vương Hồng Sển, Sài Gòn Năm Xưa, Nxb T.ph. Hồ Chí Minh tái bản, Sài Gòn, 1997, trang 216.)




Chuyện Rồng năm Nhâm Thìn

Đặng Tiến


Rồng là một linh vật tưởng tượng, chỉ có trong huyền thoại hay truyền thuyết, nhưng lại là một hình ảnh quen thuộc trong tâm thức Việt Nam.

Từ thuở xa xưa, truyền thuyết vẫn cho rằng dân tộc Việt Nam là con Rồng cháu Tiên. Dù ngày nay nhiều người không tin vào nguồn gốc ấy, thậm chí còn phản bác một truyền thuyết về chủng tộc mang tính cách tự tôn, kỳ thị, thì hình ảnh rồng trên vẫn ăn sâu vào trí tưởng và lời ăn tiếng nói. Rồng vẫn thường xuyên xuất hiện trên sách vở, trong trang trí, mềm mại trên vải thêu, uyển chuyển trên tranh tượng, uy nghi trong kiến trúc. Thậm chí, ngày nay hình tượng rồng còn xuất hiện tràn lan hơn trước, từ biểu tượng kinh tế phát triển nhảy vọt, đến tín ngưỡng vào “long mạch” trong thuật phong thủy, cho tới các trò chơi điện tử của thanh thiếu niên...

Vậy nhân ngày Tết Nhâm Thìn, chúng ta tìm hiểu xem : rồng là con gì, xuất phát từ đâu, ý nghĩa ra sao, biến chuyển thế nào qua các địa phương và thời đại.

Trước hết cần nói ngay điều cơ bản : rồng hiện diện trong truyền thuyết nhiều dân tộc trên thế giới, thường được Tây phương gọi là Dragon., âm vang gần với tên Rồng trong tiếng Việt, nhưng hai từ này không họ hàng gì với nhau. Nhà bác học Nga, V. Propp, trong tác phẩm kinh điển Cội Rễ của Truyện Cổ Truyền Kỳ, sau hằng trăm trang thâm cứu truyền thuyết rồng trong các nền văn hoá thế giới, đã đi đến kết luận :  « con rồng thuỷ tộc là một huyền thoại quốc tế » [1], dĩ nhiên là dưới những hình dạng khác nhau, trong những chức năng, biểu tượng khác nhau : rồng Tây phương nhiều đầu, bắt cóc, ăn thịt phụ nữ, rồng Á đông một đầu, cứu nhân độ thế. Nhưng rồng nọ rồng kia đều sản sinh từ một tư duy huyền thoại.

Rồng - Cá Sấu

Đầu tiên, chúng ta thử tìm hiểu nguồn cội gần nhất của con rồng Việt Nam. Theo sử gia Lê Thành Khôi, con rồng Việt Nam và Trung Quốc thoát thai từ cá sấu, hiện nay còn là vật tổ của nhiều dân tộc Đại Dương Châu [2]. Nhiều tác giả Việt Nam hiện nay cũng đồng ý với một lối giải thích có từ lâu, như trên một bài báo 1901, ký E. Chavannes, một học giả uy tín:

 « Rồng có chân và vảy, nó nhắc đến loài cá sấu thời xưa trên sông nước Trung Hoa, hiện còn sống rải rác trên sông Dương Tử. Cá sấu nòi thuỷ tộc, tự nhiên được liên hệ với nước; mùa đông nó ẩn mình, nhưng mùa  xuân và đầu hạ, vào những trận mưa lớn, nó xuất hiện để tha hồ trững giỡn. Người Tầu nhầm hiệu quả với nguyên nhân và cho rằng mây mưa theo về với rồng. Từ đó con cá sấu đã trở thành linh vật,  thu góp mây mưa,  rồi óc sáng tạo của nghệ nhân đã tạo ra con vật truyền kỳ. Và chức năng của rồng giữa mưa giông được ghi lại  bằng hình cầu (minh châu) tượng trưng cho sấm chớp giữa những tầng mây lớp lớp.  Và khái niệm phồn thực nhờ ơn mưa móc đã biến con rồng thành biểu tượng tốt đẹp » [3]. Một lối giải thích cụ thể, duy lý và duy vật như vậy, nghe qua thấy có tình có lý, được nhiều người chấp nhận, nhưng chưa chắc đã đúng. Vì một huyền thoại có tầm phổ biến sâu và rộng trên thế giới như Rồng, không dễ gì nảy sinh từ cảnh mây mưa của cá sấu. Lối giải thích ấy, nếu đúng, thì  chỉ đến sau, nằm chồng lên nhiều lý do thâm trầm khác.

Cũng một phương pháp cụ thể, nhưng ngược lại, có người đi từ sách Lĩnh Nam Chích Quái (1492) dựa vào truyền thuyết thời Hùng Vương :  « Lúc ấy dân sống ở ven rừng xuống nước đánh cá, thường bị giống giao long làm hại (...) lấy mực xăm mình theo dạng thuỷ quái. Từ đó dân không bị tai hoạ giao long nữa ». Theo văn cảnh và hoàn cảnh lúc đó, giao long là cá sấu, hoa văn theo  dạng « thuỷ quái » là rồng. Nhiều học giả như Đinh Gia Khánh [4] Nguyễn Lang [5] cho rằng từ phong tục vẽ giao long, người Việt đã tự xem mình là dòng dõi của rồng. Những ức thuyết như vậy, dù đúng dù sai, vẫn có tác dụng cụ thể là tạo tương quan  giữa cá sấu, giao long, thuồng luồng và con rồng từ truyền thuyết đến trang trí.

Tương quan Rồng-Sấu còn có thể minh hoạ bằng hình tượng cá sấu trên nhiều di chỉ thời Đông Sơn : đôi cá sấu đối diện trên một thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái, thiên niên kỷ trước TL) hay qua đồng Núi Voi (Ba Vì), lưỡi rìu Đông Sơn, vv ...
Nguyễn Phúc Long đã có bài rất kỹ về chủ đề này trên báo Đoàn Kết, Paris, số Xuân, cách đây hai giáp (1988) [6].
Giáp sau, trên báo Hợp Lưu,  California, số Xuân 2000, Huỳnh Hữu Uỷ cũng có bài nghiên cứu tường tận và cập nhật nhấn mạnh vào tương quan Rồng-Sấu trong tiếng Mường và văn học dân gian Mường [7].

*

*           *

Rồng : hình tượng tổng hợp

Nhưng vấn đề đặt ra là : con rồng ta thấy hiện nay - rõ nét từ thời Lý, thế kỷ XI - có thật sự thoát thai từ con sấu-giao long chạm khắc thời Trống Đồng Đông Sơn ? Lịch sử mỹ thuật có liên tục và đơn tuyến ? Hay là bị đứt đoạn trong một ngàn năm Bắc thuộc ? Con Rồng-Sấu giao long nếu quả thật đã xuất hiện thời Đông Sơn, chắc cũng thay hình đổi dạng nhiều dưới ảnh hưởng ngoại lai, từ phía nam hay phía bắc.

Từ đó, lại nảy sinh một câu hỏi khác : Nếu hình dạng rồng hiện nay không thoát thân từ hình sấu-giao long thời Đông Sơn, thì huyền thoại Rồng Lạc Long có phản ánh thực tại sấu-giao long của vùng châu thổ sông Hồng thời Hùng Vương ? Nói khác đi, con rồng trong huyền thoại và con rồng trong tranh tượng, tuy hai mà một, hay ngược lại, tuy một mà hai?

Ngoài ra,  rồng  còn là một huyền thoại có tầm biểu tượng sâu và rộng trên thế giới và ở mỗi địa phương mang một chức năng riêng. Vậy có nên giới hạn nó trong chuyện cá sấu ở sông Hồng hay Dương Tử?

Trong công trình nghiên cứu của V. Propp đã nói trên, tác giả đã đi đến định nghĩa khái quát :
 “Rồng là con vật huyền thoại tổng hợp nhiều động vật khác, chủ yếu là chim và rắn” thêm vào cá sấu, cừu dê, ngựa, lạc đà, hùm beo, sư tử... Con vật có hình dung chính xác, thì không gọi là rồng, ví dụ con mãng xà vĩ đại, trang trí quái đản ở Châu Úc, là Thanh Xà, Bạch Xà gì đó chứ không phải là rồng (tr. 324).

Vậy nguồn gốc rồng ở đâu ra ?  Trước hết, nó không phải là kỷ niệm của loài khủng long thời tiền sử xa xưa, vì khi loài người xuất hiện thì loại động vật này đã bị diệt chủng từ lâu. Hài cốt khủng long cũng khó gợi ý gì cho nhân loại (tr.293). Theo Propp con rồng sản sinh từ tư duy hoang mang của con người cổ sơ trước cái chết, mà họ không hiểu. Con người, hay động vật, đang sống, sao lại chết ? Phải chăng là hồn lìa khỏi xác ? Vậy hồn đi đâu ? Xác sao lại biến dạng, tan rã? Cõi chết ở phía nào ? Phía trời cao của chim, xứ biển xa của cá sấu, hay dưới đất sâu của hang rắn ? Phải chăng hồn sẽ nhập vào một thân xác khác, tổng hợp chim-rắn-sấu, gọi là rồng ? Vì vậy mà rồng, có cánh hay không có cánh, vẫn bay được như chim, luồn vào hang hốc như rắn và ngự trị thuỷ cung như ... Lạc Long Quân ? (tr. 326).



Rồng - Chim - Rắn Việt Nam

Các nhà nghiên cứu về dân tộc học và cổ sử Việt Nam, cũng có những suy đoán tương tự, được phát biểu rải rác trong những công trình in lại trong bộ Hùng Vương dựng nước (bốn cuốn) [8] như Lê văn Lan và Trần Minh Hiên :
 « Trong ngôn ngữ và khái niệm người Khmu, có một con vật gọi là prư dồng ». Đó là một con vật hình rắn, có mào như mào gà, có vây và có chân. Trong ngôn ngữ và ý niệm Thái « prư dồng » tương đương với « tu luông » là một con vật mình rắn có vảy và có bờm như ngựa . Những con vật quái đản này không có quan hệ gì về dòng họ với những người đang sống, nhưng lại có vai trò như một thứ thần chịu trách nhiệm về nắng mưa như một thứ ma nước và những con vật quái đản này cũng thường được hiểu như khái niệm thuồng luồng của người Việt ... Từ Quỳnh Nhai, đến Mường La, trên sông Đà, có khoảng 20 cái thác thì có 20 nơi thờ thuồng luồng chư thế, thường cúng bằng gà lợn »  ... (H.V.D.N. III, tr. 241-242).

 « Hình tượng chim và rồng thể hiện sự phát triển tư duy con người trong quá trình xây dựng nên hình tượng « khổng lồ » (... ) chim và rồng dần dần đã không còn là những động vật khoác áo thần linh nữa, mà đã được biến thành những nhân vật truyền thuyết, nhân vật lịch sử.  Đó là cặp Âu Cơ (tiên-chim-núi-đất) và Lạc Long Quân (rồng-nước-sông-biển) : Rồi thu hút vào đó những hình tượng Sơn Tinh, Gióng, đặc biệt là Hùng Vương » (H.V.D.N. III, tr. 244). Phần đông các nhà nghiên cứu Việt Nam đều suy nghĩ theo chiều hướng đó, như Cao Huy Đỉnh, Đặng Nghiêm Vạn, Trần Quốc Vượng.[9]

Rồng : Điềm lành

Tại các xã hội trồng lúa nước, rồng là điềm lành, là biểu tượng cho mưa móc, phồn thịnh, tốt lúa xanh dâu. Từ đó vua chúa chiếm đoạt hình tượng rồng để tiêu biểu cho mình, cho chức năng trị dân trị nước, ban ơn  « vũ lộ » cho dân chúng. Vua chúa, bắt đầu là Thần Nông trong truyền thuyết Trung quốc, có tên là Viêm Đế, bao gồm quyền uy chế ngự mặt trời, sinh ra Kinh Dương Vương cũng là biểu hiệu mặt trời, Kinh Dương  lấy Rồng, con gái Long Vương sinh ra Lạc Long Quân, làm vua đất Lĩnh Nam, «dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng cấp quân thần, các đạo cha con vợ chồng, đôi khi trở về thuỷ phủ mà trăm họ vẫn yên vui ». (Lĩnh Nam Chích Quái).
(Ngoài đề: ông ấy dạy dân giỏi như thế, nhưng bản thân không mấy tôn trọng đạo cha con, vợ chồng, khiến bà Âu Cơ đã phải than trời, và phê phán là người “vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình”, vẫn theo LNCQ)

Như vậy, con Rồng từ tư duy về cõi chết đã chuyển mình thành huyền thoại kết hợp hai hiện tượng Nắng-Mưa, cần thiết cho nông nghiệp, rồi đi vào truyền thuyết và dần dần mang chức năng xã hội, lịch sử. Có lẽ vào thời kỳ dân tộc ta định canh định cư vùng sông Hồng, thời Đông Sơn-Hùng Vương. Theo Propp, rồng là huyền thoại xuất hiện muộn màng trong lịch sử nhân loại.

Như vậy,  con rồng biểu tượng cho nền đế chế quân chủ, phong kiến có lẽ chỉ định hình rõ nét về sau, từ thời Hán Cao Tổ  tự xưng là thiên tử, chọn Rồng làm biểu tượng đế chế; nó du nhập vào nước ta vào cuối thời Hùng Vương, nhất là trong thời kỳ Bắc thuộc. Cho dù hình tượng con rồng đế vương xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc, từ nhà Hạ, hơn hai ngàn năm trước Tây Lịch : rồng đã sinh ra thuỷ tổ nhà Hạ, các vua Hạ ăn thịt rồng, nuôi rồng...   Nhà bác học Marcel Granet nói rõ điều này và giải thích bằng những cuộc hội hè, có múa rồng,  « đấu rồng » (joutes entre dragons) để cầu mưa. « Hình thể pha tạp của rồng là sản phẩm của trí tưởng tượng, bắt đầu từ nghệ thuật điêu khắc phù hiệu, mà tục múa hát dân gian là khởi điểm... Trước khi là biểu tượng của đế vương, rồng là hình tượng múa nhảy dân gian » [10]. Tại nước ta, trên trống đồng, những hoa văn hình dung người nhảy múa, xử dụng nhạc khí, giã gạo quanh mặt trời... bên cạnh thuyền rồng, có thể cùng một nguồn gốc sáng tạo.
Và ngày nay, trò chơi rồng rắn, hay múa rồng có thể là tàn dư.

Nói chuyện rồng ba đồng bảy đỗi cho tròn câu chuyện ngày Tết, là mong nới rộng hiểu biết ra khỏi cương vực con Rồng cháu Tiên, đưa một truyền thuyết bộ tộc hội nhập vào quỹ đạo huyền thoại loài người.
Nhưng điều chính yếu và tâm niệm, vẫn là ý nghĩa Rồng trong tâm thức dân Việt chúng ta, lúc nào cũng thương  nguồn nhớ gốc, thiết tha với lịch sử trên dải đất hình rồng.
Đồng thời hướng về tương lai hưng thịnh, mà Rồng là biểu tượng từ Chiếu dời đô.
Và năm Nhâm Thìn 2012 này, nhất định Rồng Đại Việt sẽ tung mây...
Nhất định thế.
                                                                                                             
Đặng Tiến,
Orleans, Tết Nhâm Thìn 2012

[1]     V.Propp. Les Racines historiques du conte merveilleux. Leningrad, 1946; Gallimard, Paris 1983.
2 Lê Thành Khôi, Histoire du VietNam, Sudestasie, Paris 1981, tr. 78.
3 E. Chavannes.Báo Journal Asiatique, số tháng 9-10, tr 193, Paris 1901. Xem thêm Huệ Thiên: “ con rồng chẳng qua là con cá sấu lên đời”, ký An Chi, báo Kiến Thức Ngày Nay, số Xuân Tân Tỵ 2001, in lại trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, tr 291, nxb Trẻ, 2004,TP HCM
4 Văn Học Dân Gian II, Hà Nội , NXB Đại Học và Trung học chuyên nghiệp, 1973, tr . 67
5 Việt Nam Phật Giáo sử Luận I,  Văn Học tái bản 1994, Hà Nội.
6 Nguyễn Phúc Long, Đoàn Kết, Paris, Xuân Mậu Thìn, tháng 2.1988
7 Huỳnh Hữu Uỷ, báo Hợp Lưu, Xuân Canh Thìn 2000, California
8  Hùng Vương Dựng Nước, nhiều tác giả, Hà Nội, Cuốn I. 1970, II .1972, III.1973, IV. 1974. Tổng cộng khoảng 1500 trang khổ lớn.
9 H.V.D.N. IV, tr. 347 và 89
10 Marcel Granet, La Civilisation Chinoise, Albin Michel, Paris 1929, tr.204