Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2019

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, VI - Dòng họ Nguyễn Tường ở Hội An

Hội An
Hội An nay đã khác xa hơn hai mươi năm về trước, khi tôi đến lần đầu. Lúc đó, Hội An chỉ là một phố thị nhỏ, bên bờ sông Thu Bồn, với một con phố chính, lác đác nhà cổ và dăm ba cửa hàng bán đồ tơ lụa, kỷ niệm, nhưng rất thơ mộng vì những chiếc đèn lồng Nhật Bản treo trước cửa hàng, dư âm của một thời xa xưa còn đọng lại.

Hội An nay đã trở thành nơi đô hội mà khách lịch phải "đắm say", nhờ sự pha trộn khéo léo giữa cảnh quan và văn hoá: những "phố cổ mới" (mới được trùng tu hay mới xây dựng thêm) phát triển khá nghệ thuật. Hội An bây giờ chen lẫn những quán cà-phê mô-đéc vận áo tứ thân lồng trong khung cảnh tân cổ giao duyên cùng những hàng quán thơ mộng, lạc lõng giấu mình trong những ngõ quanh co bên bờ nước.

Hội An là thành phố của du khách, người Nhật đa số, về đây như đi trẩy hội. Người Nhật có văn hoá cao, họ biết rõ lịch sử, họ về đây, không chỉ để du lịch mà còn để tìm lại dĩ vãng ngày xưa, thế kỷ XVII, tổ tiên họ, một số sang đây buôn bán, một số khác là giáo dân hay giáo sĩ tránh sự thanh trừng của Mạc Phủ. Người Nhật thích đi xích lô. Đến chiều, tối, bao nhiêu xích lô của phố cổ Hội An đều chở Nhật.

Ban quản trị phố cổ Hội An tổ chức những buổi nghe nhạc cổ truyền, xem múa hát cung đình không tốn tiền cho khách du lịch. Tóm lại những hình thức quyến rũ khách du lịch ở Hội An đều ít nhiều có bề dầy văn hoá. Đêm dần xuống, Hội An rơi vào một khung cảnh khác hẳn: những đèn lồng Nhật Bản bật lên như hội hoa đăng, tạo không khí ấm cúng, thơ mộng đến gần như sensuelcủa những đêm mầu hồng, mầu tím năm xưa ở các vũ trường Sài Gòn, vang tiếng hát Thái Thanh, Thanh Thúy; lại có vẻ cao sang quyền quý của những đêm hội ở kinh kỳ thời chúa Trịnh say mê Đặng Thị Huệ được Nguyễn Huy Tưởng mô tả trong Đêm hội Long Trì và sau này các giáo sĩ Tây phương đến vẫn còn say mê khâm phục.

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2019

Trần Văn Tường: Bị băm nát, Hà Nội và TP.HCM đang trả giá rất đắt

Tình trạng đề án quy hoạch, hay điều chỉnh quy hoạch bằng “đầu cơ”, “đi đêm”, "thông đồng" gây bức xúc dư luận nhân dân, phá vỡ không gian sinh tồn và phát triển cho nhiều thế hệ.

Tôi rất đồng tình với bài “Những ai băm nát quy hoạch Thủ đô?” trên Tuần Việt Nam. Cả nước có gần 1.400 dự án điều chỉnh quy hoạch từ 1-6 lần và luôn có xu hướng tăng tối đa lợi ích cho nhà đầu tư, giảm tối đa không gian công cộng và lợi ích của người dân là một thực tế rất báo động. 

Cứ mỗi lần lập rồi điều chỉnh hàng trăm, hàng ngàn quy hoạch là gây tổn thất về mặt xã hội, thiệt hại cho người dân, làm mất hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước cho chi phí tư vấn để khảo sát, tổng hợp, lập và điều chỉnh. 

Nhưng quan trọng nhất, tình trạng đề án quy hoạch, hay điều chỉnh quy hoạch bằng “đầu cơ”, “đi đêm”, "thông đồng" gây bức xúc dư luận nhân dân, phá vỡ không gian sinh tồn và phát triển cho nhiều thế hệ. 

Hà Nội giờ tan tầm

Hà Nội chật như nêm cối 


Nhân bài viết nói đến chuyện Hà Nội, tôi xin bổ sung thêm chuyện Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gần đây yêu cầu xử lý vấn đề từ những phản ánh liên quan tới điều chỉnh quy hoạch nhiều khu đô thị ở Thủ đô. 

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

Thu Quỳnh - Hảo Linh: Chúng ta hiểu gì về Trung Quốc?

Xe tải nối nhau chở nông sản qua cửa khẩu sang Trung Quốc. Ảnh: Dân Việt.

Có lẽ là không nhiều lắm! 


Vào năm 2012, tình trạng cấm biên ở cửa khẩu quốc tế Móng Cái diễn ra từ tháng 3 đến tháng 10, chưa bao giờ lâu đến như vậy1. Hàng ngàn container, phần lớn là hàng đông lạnh bị ách lại tại đây. Các cơ quan chức năng tìm mọi cách để đưa hàng hóa sang các lối cửa khẩu khác, nhưng chỉ giải quyết được 1/30 số hàng đang lưu kho. Ngoài ra toàn bộ các dịch vụ lo giấy tờ xuất nhập khẩu ở Móng Cái – nguồn sinh kế của nhiều người dân ở thành phố này bị đình trệ. 

Đến bây giờ, tình trạng ách tắc tại các cửa khẩu mỗi mùa nông sản vẫn là nỗi lo thường trực của người dân. Thậm chí trong dịp Tết Nguyên Đán vừa rồi, Thủ tướng đã phải đăng đàn để chỉ đạo thông quan cho các hàng hóa xuất khẩu2. Đó chỉ là một ví dụ cho thấy một động thái nhỏ từ phía Trung Quốc có thể ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nó khiến dấy lên câu hỏi, chúng ta đã hiểu gì về tư duy, hành vi và lựa chọn của quốc gia này để có thể “chung sống” với họ? Có lẽ là không nhiều lắm! 

Tương Lai: Cảm nhận “Thiên An Môn”

Đã 30 năm trôi qua, sự kiện đẫm máu Thiên An Môn từng hằn sâu vào ký ức thế kỷ XX vẫn đang là nỗi ám ảnh ghê rợn đối với con người đang sống trong thế kỷ XXI. Ghê rợn về tội ác của quyền lực thống trị khoác bộ áo “vì nhân dân”, thậm chí còn dám trương tấm biển “trung thành với lý tưởng giải phóng nhân loại, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Lời cảnh báo của J. Fucik “Hỡi con người, hãy cảnh giác!” viết tại nhà tù Pankrac ở Praha trước khi bị phát xít Đức giết, nhằm lên án tội ác của phát xít và nhân danh người cộng sản để nhắc nhở nhân loại cảnh giác trước họa phát xít. Oái oăm thay, lời cảnh báo ấy nay đang chĩa thẳng vào chính những kẻ cầm đầu Đảng Cộng sản Trung Quốc đang duy trì một chế độ phát xít kiểu mới đã tàn sát những người con ưu tú của dân tộc Trung Hoa giương cao ngọn cờ dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 4.6.1989 và những người đồng chí cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa với chúng 

Biết rõ đây là một vết nhơ khó rửa của một quốc gia đang nuôi mộng siêu cường, nhà cầm quyền Trung Quốc tìm mọi cách để cố xoá đi trong đầu óc thần dân của họ và trong đôi mắt của những người có lương tri trên thế giới sự kiện nhơ nhớp đó. Bằng mọi thủ đoạn bạo lực và dối trá, chúng quyết làm cho “một thế hệ cũ không được phép nhớ, một thế hệ mới không được phép biết” khi mà những kẻ nối bước Mao đặc biệt là Tập Cận Bình đang bằng mọi thủ đoạn để duy trì và cải tiến cái chính quyền được “đẻ ra từ họng súng” theo tuyên ngôn của Mao bằng mọi giá! Cho nên không lạ khi vừa rồi tại Singapore, viên tướng Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Nguỵ Phương Hoà trắng trợn trả lời các nhà báo về sự kiện Thiên An Môn “đó là chính sách đúng”. Y nói rằng chính “nhờ vậy mà đã có ổn định và phát triển” “30 năm đã chứng tỏ Trung Quốc đi qua các đổi thay to lớn” (BBC 2.6.2019). Xin nhắc là tên tướng Tàu này vừa được tay bắt mặt mừng ở Hà Nội hai ngày trước khi y đến Shangri La. 

Hai từ “ổn định” thật quá đỗi quen tai. Đúng là thầy nào tớ ấy. Thì chẳng phải cái luận điệu cần có “ổn định” để “phát triển” đã trở thành điệp khúc trong mọi diễn văn, những lời rao giảng của Nguyễn Phú Trọng và bộ sậu của ông ta đó sao. Đây là cái mộc được dùng để che chắn cho những hành động đàn áp tàn nhẫn những người dân, đặc biệt là những những người trẻ tuổi trong tay không một tấc sắt, đấu tranh chống lại bọn xâm lược Trung Quốc trong các cuộc biểu tình cùng những biểu hiện đòi dân chủ và quyền con người bằng biện pháp ôn hoà. 

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, V - Quy Nhơn

Vịnh Quy Nhơn, cửa vào Đầm Thị Nại ở tận cùng phía trái
Quy Nhơn có bề dầy trọng đại của lịch sử.

Đến Quy Nhơn, chúng tôi ở khách sạn M.T. trên bờ biển. M.T. là tên một chuỗi khách sạn mọc trên toàn thể đất nước, ông chủ có lẽ là người gốc dân tộc (ngày trước gọi là người thiểu số) hay ông sinh ra ở miền núi rừng M.T. Bây giờ ông trở thành triệu phú. Ở nước ngoài thì người ta ca tụng ông tay trắng làm nên sự nghiệp (như bin-ghết) còn ông ở VN, nên ông bị coi là tư bản đỏ, nhờ "đút lót" bọn "tham nhũng" mà nên. Du khách đến miền duyên hải nước ta gần như đương nhiên được ở khách sạn trên bờ biển, nhưng khách sạn M.T. thường có địa điểm tốt, thức ăn ngon và nhân viên tiếp đón lịch sự, vì thế mà thành công.

Khách sạn của chúng tôi nhìn chéo vào cửa đầm Thị Nại. Điều thật bất ngờ. Bởi đầm Thị Nại là nơi tôi ao ước được đến ít nhất một lần trong đời, để xem bề thế của nó, nơi đã xẩy ra bao nhiêu cuộc chiến ác liệt trong lịch sử, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX do vị trí chiến lược hiểm yếu nhất vùng Bình Định. Và Bình Định, tức Quy Nhơn hay Đồ Bàn là cột trụ của cuộc di dân mở nước từ Bắc xuống Nam của dân tộc ta.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Hồ Đắc Túc: Ký Giả Dương Hùng Cường nơi Đài Tưởng Niệm Phóng Viên ở Normandie


Ký giả Dương Hùng Cường được khắc tên trên bia đá tại Đài Tưởng Niệm Phóng Viên (Mémorial des Reporters) nơi vùng Normandie của Pháp. 

Khu vườn tưởng niệm gồm 27 bia đá khắc tên gần 2.500 phóng viên khắp thế giới đã hy sinh từ năm 1944 đến nay. Hy sinh vì sứ mạng đưa tin của họ. 

Khu tưởng niệm nằm ở thị trấn Bayeux, cách bờ biển Normandie gần 10 cây số, nơi liên quân Anh và Canada đổ bộ vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 ở đoạn bờ biển có ám danh Gold Beach. Vườn tưởng niệm do tổ chức Phóng viên Không Biên giới (Reporters sans Frontières) của Pháp thành lập. “Đây là đài tưởng niệm độc đáo nhất ở châu Âu,” trang web của RSF và của thị trấn Bayeux cho biết. Độc đáo ­­không chỉ vì nơi dành riêng để tưởng nhớ công lao của những phóng viên xông pha lửa đạn và phải chết vì nhiệm vụ đưa tin; độc đáo còn vì vườn tưởng niệm xinh đẹp này nằm lặng lẽ bên cạnh nghĩa trang quân đội chôn cất gần 5.000 người lính Anh đã hy sinh trong Thế chiến 2, và Bảo tàng Trận chiến Normandie. 

Tôi đến Normandie lần này đúng dịp kỷ niệm 75 năm đổ bộ Normandie, nhưng không biết đài tưởng niệm này cho đến khi đọc một cột thông tin nhỏ trong cuốn sách viết về các nghĩa trang ở Normandie. 

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2019

Từ Thức: Michel Serres – Triết Học Cho Mọi Người

Giáo sư Michel Serres

MICHEL SERRES vừa từ trần, đầu tháng Sáu. 

Nếu bạn sinh sống ở Pháp, dù không theo dõi các sinh hoạt văn hóa, xa lạ với triết học, cũng biết mặt và nghe tên Michel Serres, triết gia '' trẻ '' nhất, lạc quan nhất, sống với thời đại, dù đã 88 tuổi. 

Trái với những trí thức sống trong tháp ngà, Michel Serres, thuộc Hàn Lâm Viện Pháp, giáo sư triết tại Sorbonne ( Pháp ) và Stanford ( Hoa Kỳ ), chủ trương phải đem triết học, văn hoá, kiến thức đến với đại chúng. Phương châm Michel Serres : ''Philosophie pour tous'' ( triết học cho tất cả ) . "Một triết gia phải giảng dậy, không phải chỉ triết học, nhưng tất cả các kiến thức, cho mọi người"

TỪ KHOA HỌC TỚI MÔI TRƯỜNG 

Trung thành với quan điểm của mình, ông không ngần ngại nói chuyện triết học trên các đài truyền hình, và đề cập tới mọi vấn đề thời sự, trong 14 năm, trong chương trình ‘’ Le Sens de l’info ‘’ trên đài phát thanh France Info, những giờ đông người.

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, IV - Phú Yên 2

Alexandre de Rhodes


Alexandre de Rhodes sinh ngày 15/3/1591 tại Avignon, mất ngày 5/11/1660 tại Ispahan (Perse, tức Iran). 18 tuổi ông đến Roma, gia nhập dòng Tên ngày 14/4/1612, và tha thiết mong được đi Nhật Bản giảng đạo. Được Giáo Hoàng Paul V cho phép, rời Roma tháng 10/1618 để đi Lisbonne. Lúc đó Bồ Đào Nha là "con trưởng" của Giáo Hội, nên các giáo sĩ muốn đi giảng đạo ở đâu phải xin vua Bồ cho phép mới đi được. Ngày 4/4/1619, de Rhodes lên tầu đi Goa (Ấn Độ) là một trong những trung tâm công giáo lớn nhất ở Á châu. Ông đến Goa ngày 9/10/1619, nhưng Nhật đã bế quan tỏa cảng từ năm1612, đã ban hành luật cấm đạo rất nghiêm ngặt từ tháng 1/1614, không thể lọt vào. Bề trên quyết định cho ông đi Đàng Trong. Tháng 12/1624, de Rhodes đáp tầu từ Macao đến Cửa Hàn (Đà Nẵng), 19 ngày sau tới Dinh Chàm, thủ phủ Quang Nam. Đến đây ông gặp ngay linh mục de Pina người thông bác tiếng Việt một thứ tiếng hoàn toàn khác tiếng Tầu, mới nghe như chim hót líu lo.(Trích Du Hành và Truyền giáo).Và ông đã ráo riết học tiếng Việt, trong bốn tháng ông nghe được xưng tội và trong sáu tháng ông giảng đạo được bằng tiếng Việt. Có một thằng bé giúp tôi phân biệt được dấu để nói cho trúng. De Rhodes ở lại Đà Nẵng 18 tháng.

Tháng 7/1626, De Rhodes và Pedro Marques trở về Macao. Ngày12/3/1627, de Rhodes và Marques khởi hành từ Macao để đi Đàng Ngoài. Ngày 19/3/1627 họ đến Thanh Hóa. De Rhodes giảng đạo ở Đàng Ngoài đến tháng 5/1630, thì bị trục xuất. Trở về Macao, ông ở lại 10 năm bên Tầu. Sau đó ông trở lại Đàng Trong bốn lần từ 1640 đến 1644: (1/1640- 9/1640) (12/1640-7/1641) (1/1642-9/1643) (1/1644-7/1645). Lần cuối cùng, ông bị bắt, bị kết án tử hình, chúa ân xá nhưng trục xuất vĩnh viễn.

Bìa sách Du Hành và Truyền Giáo

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

Lưu Dân: Thăm lại Kuku 'nơi tuyệt lộ ươm mầm hy vọng' (Hình ảnh: Tôn Thất Vinh)

Thăm lại Kuku, 'nơi tuyệt lộ ươm mầm hy vọng' (Hình ảnh: Tôn Thất Vinh)

Thật ra, Kuku không phải là tên một đảo như nhiều người vẫn thường nghĩ. Bạn sẽ không tìm thấy nó trên Google Map hoặc bản đồ chính thức của Indonesia. Đơn giản vì Kuku là tên gọi mà dân địa phương đặt cho bãi biển của đảo Jemaya trong quần đảo Anambas, chứ không phải là một địa danh hành chánh trên giấy tờ.

Nhưng đối với hàng ngàn thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng đến đây hơn 30 năm trước, Kuku lại là một cái tên đồng nghĩa với sự sống và tự do. Nó là một vùng kỷ niệm của đời người, nơi đau khổ gặp gỡ yêu thương, nơi tuyệt lộ ươm mầm hy vọng, nơi những mảnh đời ly tán bỗng cùng chia sẻ với nhau những chén cơm Cao ủy trong những căn barracks tạm bợ mà ràn rụa nước mắt ân tình sau chuyến hải hành mười phần chết chín.

Một số đồng bào đã vĩnh viễn nằm lại ở vùng này vì nhiều lý do: bão tố, đói khát, bệnh tật... Từ vài năm qua, sau những chuyến mở đường do Văn khố Thuyền nhân Việt Nam thực hiện từ năm 2005, nhiều nhóm nhỏ từ các nước định cư trên khắp thế giới đã lần lượt tìm về con đường ký ức này. Để sống lại kỷ niệm cũ, để thắp nén nhang cho những người bạn đồng thuyền trên đường đi không đến, để nhớ ơn những tổ chức cứu trợ quốc tế và người dân địa phương chân chất từng cưu mang họ trong hoàn cảnh ngặt nghèo…

Tháng 4/2019 vừa qua, một nhóm thân hữu (đa số là từ Sydney – Australia) đã thực hiện một chuyến đi như thế. Mời các bạn cùng chia sẻ với họ những hình ảnh ghi lại trong chuyến đi.

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2019

Hà Sĩ Phu: Vài điều tóm lại cho gọn


Phần 1: Lý thuyết Mác-Lê xuất phát từ những nhầm lẫn, phản tiến hóa 


Xin không bàn về những lý thuyết thuần túy Triết học của Marx, mặc dù Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử Mác-xít cũng có những điều rất cần phải tranh luận về mặt Triết học. Điều có ý nghĩa thực tế cần thiết cho xã hội ở đây là chỉ xét những “lý sự” gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin được dùng làm kim chỉ nam chỉ đạo mọi chủ trương của Đảng Cộng sản, những điều đã thành nhận thức phổ thông, tuyên truyền phổ cập ai cũng biết. Hiện nay về lý thuyết cũng như thực tiễn Cộng sản tuy có những biến đổi để hòng thích nghi nhưng bản chất chủ thuyết căn bản vẫn không có gì thay đổi. 

Trong bài Từ Nguyễn Phú Trọng đến Lê Hiền Đức (2012, đăng trên trang mạng của nhà văn Phạm Thị Hoài) tôi đã kể qua 9 điều “nhầm lẫn nhỏ” (mà các Cụ nhà ta thường dùng chữ rất hay là “bé cái nhầm”) của Mác-Lênin khi dựng một học thuyết cao siêu và vĩ đại. Ở đây chỉ xin nhắc lại năm điều nhầm lẫn quan trọng nhất. 

1/ Mác-Lênin hiểu nhầm về thời đại mà các ông đang sống. 


Tại sao có thể nói các nhà Mác-xít kinh điển đã “đọc nhầm” thông điệp của Thời đại? 

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2019

Vladimir Aleksandrovik Zelensky : Diễn văn nhậm chức ngày 20.5.2019, tân tổng thống Ukraine (Hong Giang Nguyen dịch)

Nhân dân Ukraine quý mến! 

Sau khi chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống, cậu con trai 6 tuổi của tôi bảo: Bố ơi, trên TV nói rằng Zelensky là tổng thống... Vậy con cũng là tổng thống hay sao?!”. Khi đó nghe như một chuyện đùa, nhưng sau đó tôi chợt hiểu, đó thực sự là một chân lý. Bởi vì mỗi chúng ta đều là một tổng thống. Không chỉ còn là 73% nhân dân đã bầu chọn cho tôi mà là tất cả 100% nhân dân Ukraine. Đây không phải là chiến thắng của tôi mà là chiến thắng của chúng ta. Và đó cũng là cơ hội chung của chúng ta nữa. Cơ hội mà chúng ta cũng cùng chung gánh vác trách nhiệm. Hôm nay không phải chỉ có mình tôi tuyên thệ mà mỗi người chúng ta đều đã đặt tay lên Hiến pháp và thề trung thành với đất nước Ukraine. 

Hãy thử tưởng tượng những tiêu đề khủng khiếp trên báo chí: “Tổng thống trốn thuế”, “Tổng thống say rượu lái xe vượt đèn đỏ” hay “Tổng thống đang trộm cắp vì ai cũng làm như thế cả”!. Các bạn có cho rằng đó là điều nhục nhã không? Đấy chính là điều mà tôi ngụ ý - Mỗi người trong chúng ta là một tổng thống! Kể từ hôm nay, mỗi chúng ta đều gánh vác trách nhiệm với đất nước mình, đất nước mà chúng ta sẽ để lại cho con cháu. Mỗi chúng ta trên cương vị của mình đều có thể gắng sức làm tất cả cho sự phồn vinh của Ukraine! Đất nước (mô hình) châu Âu bắt đầu từ mỗi chúng ta. Chúng ta chọn cho mình con đường hội nhập châu Âu, nhưng châu Âu không phải đâu xa, châu Âu ở trong trí não chúng ta. Đó là ước mơ chung của chúng ta. Khi nó đã xuất hiện trong trí não thì nó sẽ xuất hiện trong hiện thực, trên toàn Ukraine! 

Nhưng chúng ta cũng có một nỗi đau chung. Đó là khi mỗi người chúng ta ngã xuống ở Donbas, khi hàng ngày chúng ta mất mát thương vong. Mỗi người chúng ta đều trở thành kẻ lưu lạc khi có những người mất nhà mất cửa, số còn lại mở cửa nhà mình và chia sẻ cùng họ nỗi đau. Rồi mỗi chúng ta lại là những công dân đi làm thuê, tìm kiếm công việc ở xứ người. Và cả những người để thoát khỏi đói nghèo mà đành đánh mất nhân phẩm của mình. Nhưng chúng ta sẽ vượt qua những điều này. Bởi mỗi chúng ta là một người Ukraine. Tất cả chúng ta đều là người Ukraine, không phân biệt ai đúng, ai sai, thiểu số hay đa số. Từ Uzgorod đến Lugansk. Từ Chernigov đến Simferopol. Dù ở Lvov, Kharcov, Donesk, Dnepr hay ở Odessa thì chúng ta đều là người Ukraine. Chúng ta phải là một khối thống nhất, vi chỉ khi đó chúng ta mới vững mạnh! 

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

Nguyễn Lân Thắng: Cho Bé Những Ước Mơ


Xin chào quý anh chị, các thầy cô giáo, và đặc biệt là các vị phụ huynh. Tôi rất vui mừng là trong bài viết trước, "Quỳ xuống với con" tôi đã nhận được sự tán thưởng rất lớn của đông đảo bạn đọc gần xa. Lần theo từng dòng bình luận, từng cái chia sẻ của mọi người, tôi đã đọc hầu hết cảm nghĩ của tất cả các vị. Tuy nhiên, rất nhiều người đã copy bài viết của tôi đi đâu đó, hoặc chia sẻ bài viết vào các nhóm kín, nên tôi cũng không thể đọc tất cả các ý kiến. Nhưng tôi chắc rằng mọi người ở đây hầu hết đều đồng ý với tôi rằng, công cuộc nuôi dạy con cái là điều trọng đại nhất, quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta. Cuộc đời này thì lại phức tạp, không ai giống ai. Mỗi người sinh ra đều có hoàn cảnh riêng, thế nên dù ai cũng yêu con cái mình, nhưng không phải ai cũng lo được cho chúng theo cách tốt nhất. Chính vì thế tôi muốn tiếp tục bàn sâu về câu chuyện này cùng quý vị gần xa, để mong chia sẻ những suy nghĩ của mình, cũng như được nghe những trao đổi, để rồi chúng ta ai cũng có bài học cho riêng mình, nhằm giúp những đứa con rồi sẽ có một cuộc đời thành đạt và hạnh phúc trong tương lai.

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

Mạnh Kim (VOA Blog): Hoa Sen lấm ‘bùn đỏ’

Thượng tọa Thích Thanh Quyết, cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam, giới thiệu bức tranh "Đạo pháp và dân tộc" tại một buổi lễ mừng ngày sinh của Đức Phật tại Học viện Phật giáo ở Sóc Sơn, Hà Nội, hôm 10/5. (Ảnh chụp màn hình VietNamNet)
Những gì đang diễn ra khiến diện mạo Phật giáo ngày càng bi thảm là kết quả của chính sách “nhuộm đỏ” Phật giáo, trong lớp áo “Đạo pháp và Dân tộc” ra đời từ đầu thập niên 1980… 

Đàn áp tàn bạo 


Một trong những hành động đầu tiên của chính quyền đối với Phật giáo miền Nam ngay sau tháng 4-1975 là tổ chức các chiến dịch đàn áp và khủng bố tinh thần. Tượng Phật nhiều nơi bị đập phá. Các cơ sở từ thiện Phật giáo, chẳng hạn Cô nhi viện Quách Thị Trang (Sài Gòn) và nhiều phòng phát thuốc miễn phí tại nhiều địa phương, bị tịch thu. Các nhà ấn loát thuộc quản lý Phật giáo bị đóng cửa. Viện Đại Học Vạn Hạnh bị dẹp. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị ngưng hoạt động. Ủy ban Tái thiết và Phát triển Phật giáo bị giải tán, ngân quỹ bị tịch thu. Tu sĩ bị ép lên khu “kinh tế mới”. Thậm chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn ký một quyết định yêu cầu nam tu sĩ (18-25 tuổi) phải đi “nghĩa vụ quân sự” (Quyết định số 310/TTG ngày 22-7-1976). Nhiều chùa được yêu cầu treo hình ông Hồ Chí Minh. Trong một số trường hợp, tu sĩ bị triệt luôn đường sống. “Thí dụ tại Long Thành một số tăng sĩ năm 1975 đã trồng tiêu và họ đã bán mùa tiêu trong năm đó được 2 triệu đồng. Chính phủ đánh thuế 1 triệu 9 trăm ngàn đồng. Một số các tu sĩ khác làm mía năm 1976. Họ bán vụ mía được 300.000 đồng, và bị đánh thuế là 300.000 đồng” – theo “Lời kêu gọi bảo vệ nhân quyền” của Viện Hóa đạo, ngày 9-6-1977 (Nguồn: “Phật Giáo Việt Nam, Biến Cố và Tư Liệu: Hai Mươi Năm Trong Chế Ðộ Cộng Sản, 1975-1995”, Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, Hoa Kỳ, 1996). 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đoạn Kết Của Cuộc Cách Mạng Bung Đồng


Cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại. 

Tôi vừa tình cờ đọc được một bài báo cũ (“Hành trình 60 năm của một chiếc bung hay câu chuyện hòa giải giữa địa chủ và bần cố nông”) nhưng nội dung vẫn còn nguyên tính thời sự, của nhà báo Huy Đức,trên trang Dân Luận. Xin được ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh: 

Cách đây hơn 4 tháng, trên Facebook này, tôi viết: Trong đám giỗ lần thứ 51 của chồng - ngày 28-11 năm Giáp Ngọ (18-1-2015) - cụ bà Đậu Thị Mực, sinh năm 1916 - thường gọi là bà Dương - dặn con cháu: "Trong hai vật dụng mẹ đưa từ Thanh Chương, Nghệ An, vào Bình Dương lập nghiệp năm 1990 chỉ có một là của nhà ta, cái bình vôi. Khi mẹ về làm dâu (cuối thập niên 1930s), bà nội đã dùng cái bình vôi (ăn trầu) này; còn cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại". 

Cũng qua FB, bạn bè của anh Diễn Nguyễn Văn - con trai cụ Dương - đặc biệt là những cán bộ "Đội Cải cách" thời bấy giờ đã giúp truy tìm, cuối cùng, chiếc bung đồng được xác định là của gia đình "địa chủ" Trần Đống. Hôm nay, nhân ngày con cháu làm lễ mừng cụ Dương thọ tròn 100 tuổi, cháu nội cụ Trần Đống là anh Trần Văn Lê chủ công ty Phương Linh, sản xuất và kinh doanh hàng điện máy, đã bay từ Hà Nội vào mừng thọ cụ Dương (với bức tranh khắc gỗ có chữ Tâm) và nhận lại chiếc bung đồng. 

FB Nguyên Chương: “Ăn cháo đái bát” mà rêu rao bảo tồn di sản, nghe ngứa gan!

Thường khi chúng ta, những người thiện lương, nói với nhau "bảo tồn di sản" tức cùng nhau có ý thức về trân quý quá khứ (sử học, văn hóa, kiến trúc, tín ngưỡng...). NHƯNG, nếu quý bạn chứng kiến những kẻ "ăn cháo đái bát" đối với lịch sử, hoặc nhẹ hơn là "quên béng" công lao tiền nhân, những kẻ đó mở miệng nói tới "bảo tồn di sản" thì quý bạn có tin vô miệng lưỡi của họ hay không? 

Câu trả lời, tôi nghĩ, là KHÔNG. 

Chớ dại mà tin những lời đầu môi chót lưỡi.

Tượng đài nhà bác học Petrus Ký gần Nhà thờ Đức Bà đã bị "bức tử", dẹp bỏ.
Đây nói chuyện tượng đài, bởi cách nào đó, tượng đài là cách minh thị giữa trời đất về dòng chảy lịch sử, cho thấy tâm tình nhớ ơn bao đời tiền nhân. 

Nếu nhìn tượng đài để phần nào hình dung những đường nét chính trong dòng chảy lịch sử, ắt phải ngỡ ngàng: không lẽ TP. HCM (đổi tên từ Sài Gòn từ năm 1976) ... "từ trên trời rơi xuống" hay sao? 

Sao không trân trọng dựng nên tượng đài Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), người khởi lập Đàng Trong - mà từ việc định cõi này mới mở rộng gồm cả vùng đất phương Nam về sau? 

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

Thụy Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, III - Nha Trang

Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua.

Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một "phóng viên tại chỗ" chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị "phóng viên" này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những thông tin giật gân này lại còn có bài báo (vẫn trên mạng) mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm.

Chúng tôi đến Nha Trang không phải để kiểm tra những "sự kiện" này, vì khi về Sài Gòn và xuống miền Tây đã tìm chả ra mống Tầu nào, muốn ăn cơm Tầu, cũng khó kiếm, còn chuyện cô tốp mô đen mắt bồ câu bị cắt ra xào nấu, thì tôi chắc vị nào có cao kiến đem vụ việc lên internet phải là người trí thức có đọc Thủy Hử và Lỗ Tấn, mới biết chuyện "người Trung Hoa ăn thịt người" mà minh chứng bằng hình ảnh. Nhưng ông (hay bà) này lại không coi chừng tụi nhà văn, họ nói vậy mà không phải vậy. Cụ Thị Nại Am kể chuyện hồi đó (tức là hồi 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc phất cờ khởi nghiã, nước Trung Hoa loạn lạc, cướp bóc, tham ô, giặc giã nổi lên khắp nơi, đi tới chỗ hẻo lánh nào cũng có quán rượu thịt người. Là cụ ấy cường điệu, muốn nói nước Tầu hồi ấy đầy dẫy trộm cướp giết người. Còn ông Lỗ Tấn nói đồng bào của ông ta ăn thịt người thì được, chứ kẻ nào không phải người Tầu dám nói như thế, vô phúc ông ấy biết được là ông ấy hiện về bóp cổ lè lưỡi ngay. Bởi ông Lỗ Tấn cũng dùng hình ảnh người Tầu ăn thịt người để chỉ một xã hội Trung Hoa hiện đại xuống dốc, người xâu xé người, chỉ muốn "ăn thịt" lẫn nhau; chuyện này áp dụng vào dân tộc Việt Nam hiện nay cũng không sai mấy đâu, tôi sẽ nói thêm ở dưới.

Hình 1. Cửa Đông Diên Khánh, Wikipédia, có bia.

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Thuỵ Khuê: Quê hương ngày trở lại, II - Côn Đảo

Từ Sài Gòn, chúng tôi lấy máy bay ra Côn Đảo.

Chiếc máy bay nhỏ chở đầy hành khách, không một chỗ hở. Mọi người cười nói ồn ào, dường như quen nhau cả. Tôi để ý: hầu như không có người Nam, máy bay chở toàn người Bắc. Có lẽ đây là một đoàn du lịch có tổ chức, mà chúng tôi là hai người lạ duy nhất lạc vào, lại ăn mặc lôi thôi, không giống ai. Tôi đã chú ý đến đám này ngay từ lúc đứng xếp hàng ở Tân Sơn Nhất, vì ông già nhà tôi (kẻ hay than phiền nhất thế giới) lầu bầu rằng mình đến trước mà bị người đến sau lấn chỗ, lời qua tiếng lại với một người đàn ông cao lớn như Tây, áng chừng là trưởng đoàn; thế là ông Tây ta tay dứ nắm đấm định đánh: "Thằng già điên, liệu hồn, muốn chết hử?". Tôi vội vàng líu ríu xin lỗi, vì sợ ông lỡ tay đánh thật thì ông già nhà tôi ra ma ngay.

Từ lúc ấy tôi mới quan sát phái đoàn kỹ hơn: Các ông bà đều mặc quần áo đắt tiền, cười nói oang oang như chỗ không người (y hệt bọn Tây đi du lịch các nước nhược tiểu cách đây mấy năm về trước) giọng en-nờ, e-lờ lẫn lộn. Các bà vận áo đầm đúng mốt, phấn son sặc sỡ, ví vuy-tonloại mới, tôi chắc ví thật. Thứ ví đầm này chúng tôi ở bên Pháp đã ba đời, không đời nào dám mua, vì giá nó đắt bằng một tháng lương người trung lưu, nhưng hai con cháu ngoại tôi lại chê xấu, chúng bảo chỉ tuyền một mầu nâu xỉn và in toàn chữ LV viết móc vào nhau, không có gì sáng tạo. Bây giờ nhà vuy-toncũng thấy nhược điểm ấy rồi, họ tân trang mầu sắc rực rỡ chẳng kém gì các mác khác. Điểm lạ ở đây là các phu nhân ăn mặc sang trọng như vậy nhưng tay họ lại vác đầy đồ: Các bà cầm những bó hoa thượng hạng, hoặc lệ khệ ôm đồ lễ, vàng mã, đèn nhang. Hoa cũng sang, thứ huệ trắng như tranh Tô Ngọc Vân.Hoa này bên Tây gọi là lys, mỗi bông cũng phải gần chục Euros, tôi chẳng dám mua bao giờ, trừ khi con cháu cho. Tôi không hiểu họ đi Côn Đảo làm gì mà lễ mễ mang theo những thứ lỉnh kỉnh này, chẳng lẽ tất cả mọi người đều có thân nhân chết trong tù, nhưng không dám hỏi, một phần vì vẫn còn sợ ông Tây ta, một phần vì thấy các bà cũng không có vẻ bình dân lắm. Ra khỏi sân bay, hai chúng tôi đi cùng xe ca lớn với họ về khách sạn, trên con đường duy nhất, dọc bờ biển, quanh co đồi núi, phong cảnh tuyệt vời. Xe vừa ra khỏi phi trường chừng cây số, đã thấy một bức tường cổ, tôi đoán chừng là tường thành Catchpoole.

Tường thành Cachpool?


Nguyễn Văn Trung: Một dân tộc không văn khố, bảo tàng dân gian

Bất cứ ai làm nghiên cứu lịch sử Việt Nam, đều than phiền, đau xót về tình trạng thiếu, mất tài liệu, và đều muốn phục hồi. Cadière và Pelliot nhận xét : Sách sử đã rất hiếm ở nước Nam, khí hậu và chiến tranh còn góp phần tàn phá thêm nữa... Không có ở đâu người ta thấy tài sản văn hoá của một dân tộc lại tiêu tan nhanh chóng đến thế *.

Thực ra không phải chỉ do khí hậu hoặc chiến tranh, mà chính là do con người. Nếu có ý thức sưu tầm, bảo quản thì vẫn cứu vãn được phần nào; và trầm trọng hơn nếu không có chủ tâm hay vô tâm phá hủy tiêu diệt thì cũng không đến nỗi nào. Nhưng tiếc thay triều đại thay đổi thì triều đại mới xóa bỏ tàn tích văn hóa, văn khố của triều đại cũ. Gia Long ra lịnh làm sổ địa bạ mới, xong rồi ra lịnh hủy tất cả văn tự cũ do các triều đại trước đã làm. Người Pháp sang đã sưu tầm, bảo quản được đôi chút tài liệu sử cũ, nhưng khi họ ra đi, thì công trình sưu tầm đó cũng bị tiêu hao dần. Hồi năm 1968, cô Đặng Phương Nghi, tốt nghiệp Bác cổ học ở Paris về Sài Gòn nhận chức Giám đốc Nha Văn khố và Thư viện, đã làm một điều trần về "Hiện trạng Nha Văn khố và Thư viện quốc gia" (tháng 3-1968, bản ronéo). Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, đã lên tiếng phụ họa trên báo chí : nhóm "Nghiên cứu văn học" của Thanh Lãng ra một số đặc biệt về "Những đống rác thân yêu", vì tài liệu văn khố bị di chuyển nhiều lần, nơi chứa càng ngày càng bị thu hẹp đến nỗi phải vứt ngoài hành lang (số tháng 7-8.I968). Số báo đăng ba bức ảnh nói lên tình trạng bảo quản văn khố qua ba thời kỳ: dưới gông cùm Pháp thuộc, ảnh một trong những tầng hầm khang trang rộng rãi lưu trữ văn khố ở trụ sở lưu trữ công văn Hà Nội; "dưới áp bức Ngô triều", ảnh phòng lưu trữ văn khố tại trụ sở lưu trữ công văn số 72 Nguyễn Du Sài Gòn, tuy chật hẹp hơn đôi chút, vẫn còn ngăn nắp. Chế độ sau Ngô : 4 tấm ảnh chụp sách báo, tài liệu văn khố xếp đống cả ở hành lang cạnh nhà chứa xe. Một người có trách nhiệm thẩm quyền về văn hóa đã trả lời những ý kiến yêu cầu bảo vệ tài liệu văn khố : Các ông phải tập sống cho quen không có văn khố đi chứ" (Bản điều trần, trang 3).

Nhưng nếu muốn tìm bằng cớ chứng từ chủ quyền quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thì tìm đâu nếu không có văn khố lưu giữ những địa đồ của các triều đại xưa để lại?

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Lâm Vĩnh Thế: Nhớ Lại Chuyện Coi Xi Nê ở Sài Gòn Trước 1975

Rạp Casino Đakao - Nguồn: Internet

Từ lúc còn học tiểu học tôi đã khoái coi xi nê rồi. Lên Trung Học, Đại Học tôi còn mê hơn nữa, gần như tuần nào cũng có đi coi xi nê. Sau này, khi đã ra đi làm, lập gia đình rồi, đi xem xi nê với bà xã tôi vẫn tiếp tục là một trong những phần giải trí quan trọng hàng tuần của tôi. Trong khoảng thời gian một phần tư thế kỷ, 1950-1975, tôi đã được coi rất nhiều phim xi-nê đủ thể loại. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những gì tôi còn nhớ được về các rạp xi-nê ở Sài Gòn và một số phim thật hay mà tôi đã xem và thích trong khoảng thời gian đó. 

Nhớ Về Các Rạp Xi Nê 


Trước năm 1975, Sài Gòn có rất nhiều rạp xi nê, lớn nhỏ đủ cả.1 Đi xem xi nê là một trong những thú giải trí quan trọng nhứt của người Sài Gòn, từ người bình dân lao động ít học cho đến giới trí thức, từ người trẻ học sinh sinh viên còn đi học cho đến người lớn tuổi đã ra đi làm. Chính vì vậy, Sài Gòn có đủ các loại rạp xi nê thich hợp với túi tiền của các loại khán giả và các rạp này trình chiếu đủ tất cả các loại phim thích hợp với ý thích thưởng ngoạn của mọi người.Chúng ta hảy cùng nhau đi một vòng Sài Gòn, để nhớ lại các rạp xi nê của ngày xưa, của những năm trước 1975. 

Phạm Tín An Ninh: đằng sau cuộc chiến



Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác. 

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.