Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2021

Y Chan: Tết, nam tính, và đàn ông Việt Nam

Ba quan niệm lệch lạc về cái gọi là nam tính trong văn hóa Việt Nam.

Thế nào là một người đàn ông nam tính?

Hãy thử tìm hiểu về nguồn gốc của các từ ngữ.

Chữ “nam” của tiếng Việt có gốc từ chữ Hán 男, được ghép từ chữ “điền” (田) và “lực” (力) – chỉ người có sức khỏe làm đồng. Ngay từ khởi thủy của từ, “nam” đã đại diện cho sức mạnh cơ bắp.

Từ đồng nghĩa với “nam tính” trong tiếng Anh là “masculine”, có gốc từ chữ Latin “masculus”. Không ai biết rõ nguồn gốc của từ này, nhưng nó được gắn cho ý nghĩa mang các “đặc tính phù hợp cho giống đực”. Các đặc tính đó là “manly” (nam tính), “virile” (sung sức), và “powerful” (đầy sức mạnh).

Từ “virile”, sung sức, là một trường hợp thú vị. Nó có gốc từ chữ “vir”. Chữ này bản thân lại có nghĩa là… đàn ông. Nói cách khác, lòng vòng một hồi cũng quay lại kết luận: cứ đàn ông là sung sức.

Từ Đông sang Tây, từ xưa tới nay, mặc định nam tính đều giống nhau: sức mạnh cơ bắp, ăn to nói lớn, mạnh mẽ, tham vọng, lãnh đạo, thống trị, nói chung là có quyền lực.

Đó cũng là cách hiểu về “quyền lực” trong phần lớn lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Cho tới vài trăm năm, đặc biệt là vài thập niên gần đây, mọi chuyện bắt đầu thay đổi. Khái niệm “khủng hoảng nam tính”, hay “masculinity crisis”, bỗng dưng được nhiều người bàn thảo.

Các con số thống kê thực tế vẽ nên một bức tranh khác. Ở trường, nam học kém hơn nữ. Lớn lên, tỷ lệ nam giết người, bị giết và tự sát đều cao gấp nhiều lần nữ. Và nam lại còn chết sớm hơn nữ.

Tất nhiên, “khủng hoảng” là một từ gây tranh cãi, khi xét đến thực tế hiện tại, ở khắp nơi, nam giới vẫn đang thống trị quyền lực cả về chính trị lẫn kinh tế. Kết quả Đại hội XIII vừa rồi ở Việt Nam là một minh chứng rõ rệt.

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2021

BS Phạm Nguyên Quý: Dược tính trong tâm

Tôi từng khóc thầm vì bài học mà bệnh nhân của tôi đã vô tình dạy bác sĩ.

Tôi vẫn nhớ như in lần khám với bà, bệnh nhân 70 tuổi không may mắc ung thư tụy di căn phổi. Bà có nhiều dịch tích trong ngực, còn gọi là tràn dịch màng phổi, và cần chăm sóc giảm nhẹ. Bốn tháng trước, bà còn bị thêm di căn da - thành ngực, liên quan tới thủ thuật đặt ống thông để giảm dịch ngực ở một bệnh viện khác. Vì đau ở thành ngực, bà cũng đã được xạ trị vào khối u. Cơn đau được khống chế một thời gian, khi bị đau lại, bà được giới thiệu tới bệnh viện của tôi bởi gần nhà.

Chúng tôi nói chuyện thăm hỏi ban đầu khá vui vẻ, nhưng khi tôi sờ vào cục u trên da để thăm khám, bà đột nhiên bật khóc. Tôi hơi hoảng, liền hỏi ngay tại sao.

"Bàn tay bác sĩ ấm làm tôi dễ chịu quá", bà nói. Bà thật tình kể tiếp một chuyện bất ngờ hơn. Đi khám ở các bệnh viện bốn tháng qua, bà không được ai chạm tới chỗ đau đó. Ở đâu, người ta cũng chỉ hỏi bệnh, kê đơn thuốc giảm đau, xem hình chụp CT rồi chỉ cho bà cục u trên màn hình máy tính.

Tôi vừa nghe chuyện vừa nghĩ tới cách giải thích để bênh vực cho những đồng nghiệp bận rộn của mình. Rằng khối u đã quá rõ ràng trên hình ảnh nên bác sĩ nghĩ rằng không cần phải chạm tới, hay bác sĩ bận rộn quá không thể chờ người bệnh kéo áo lên xem. Việc chạm vào cục u thường không thay đổi "chiến lược điều trị", và có thể bác sĩ cũng đã không có thời gian nghĩ tới cảm xúc của bệnh nhân.

May thay, bà không khóc vì giận bác sĩ mà vì cơn đau dai dẳng tự nhiên mất đi không ngờ. Bà không biết rằng tôi cũng đã khóc thầm sau khi gặp bà, từ bài học mà bà đã vô tình dạy cho bác sĩ. Tôi khóc vì hóa ra bàn tay vụng về của mình lại có thể ý nghĩa đến vậy với một ai đó.

Mấy tháng sau, một bệnh nhân khác nói với tôi rằng cô cũng cảm thấy dễ chịu khi được bác sĩ thăm khám. Tôi thầm cảm ơn cô vì đã giúp các bác sĩ trẻ như tôi thêm động lực. Bệnh nhân vừa là người thầy của bác sĩ, vừa làm nghề thầy thuốc trở nên ý nghĩa.

Hầu hết bệnh nhân thật ra kỳ vọng khá lớn vào việc được bác sĩ thăm khám trực tiếp. Hầu hết họ vẫn nghĩ rằng bác sĩ phải sờ - nhìn - gõ - nghe hoặc ít nhất "sờ vào người" thì mới gọi là "đi khám". Cho dù các chỉ số như huyết áp, nhịp tim đã có y tá lấy bằng máy hoặc đo tự động, nhiều bệnh nhân ở Nhật nói với tôi rằng họ vẫn muốn được bác sĩ bắt mạch "truyền thống" dù chỉ vài giây. Trong bối cảnh phòng khám bận rộn, nhu cầu "kinh điển" này có thể khó thực hiện, nhưng tôi luôn tự nhắc mình để không làm bệnh nhân buồn lòng.

Lần khác, tôi có duyên gặp một bệnh nhân bị khó thở vì ung thư phổi kèm tràn dịch màng phổi. Các bác sĩ trước đó đã nói với bà rằng khó thở vì "phổi đã ngập nước". Sau khi gõ và nghe tiếng phổi của bà, tôi cười, nói với bà rằng dịch chỉ chiếm 1/3 ngực và 2/3 còn lại "vẫn chạy tốt". Bà bớt khó thở ngay chiều hôm đó.

Thật khó tin, một bệnh nhân vẫn than khó thở với thuốc an thần, morphine liều tối ưu lại khỏe hơn chỉ nhờ một câu nói. Khó tin hơn, bà cũng đã là người nhận dự đoán "có lẽ chỉ còn sống tầm sáu tháng", nhưng rốt cuộc sống lâu gấp bốn lần.

"Chính bác sĩ còn chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra với họ vào ngày mai, sao có thể dự đoán chính xác thời gian sống của bà?", bệnh nhân cười phá lên gật gù khi tôi nói tiếu lâm như vậy.

Bằng việc vực dậy niềm tin, tinh thần của bà đã cải thiện rõ rệt. Với một số biện pháp khác như thay đổi tư thế nằm, ngồi cho dễ chịu hơn, dùng thêm các dụng cụ hỗ trợ để bà tập trung vào hiện thực và tiếp tục sở thích đan len, chúng tôi đã giúp bà đã sống thêm một thời gian ý nghĩa.

Nói chuyện với bệnh nhân, nhất là người mắc ung thư giai đoạn cuối, là cả một nghệ thuật. Nhiều người hỏi rằng như vậy có gọi là nói dối bệnh nhân hay không?

Khi ly nước chỉ còn 1/3, tuyên bố "mất hết 2/3 rồi" hay "vẫn còn 1/3 đấy" không thay đổi sự thật phũ phàng, nhưng có thể thay đổi nhận thức về cuộc sống của người bệnh. Bệnh nhân không chỉ đau khổ vì sự thật, mà còn đau khổ vì cách diễn giải sự thật đó. Đôi khi, đau khổ là do chính người bệnh hoặc người thân tự ám thị, tự liên tưởng mà bác sĩ phải là người nhận ra và giải quyết những khúc mắc thầm kín đó.

Một bác sĩ đàn anh nói với tôi rằng điều này đã được viết trong Kinh Dược sư từ mấy nghìn năm trước. Người thầy thuốc cần uốn lưỡi bảy lần khi nói chuyện, với tâm thanh tịnh cầu nguyện sự tốt lành cho bệnh nhân. Nghe thật mơ hồ, nhưng những điều Đức Phật dạy không phải không có lý.

Nhiều bệnh nhân ở Việt Nam nói với tôi rằng, cũng là loại thuốc đó nhưng khi gặp được bác sĩ ân cần quan tâm, giao tiếp bằng thân, khẩu, ý tốt đẹp thì họ thường tự tin hơn vào kết quả điều trị.

Đức Bồ tát Phổ Hiền từng nói với đồ đệ rằng: "hãy vào rừng, tìm những loại cỏ cây không phải là thuốc mang về đây cho ta", ngụ ý rằng cái gì cũng là thuốc mà cũng không phải là thuốc. Tất cả phụ thuộc cách dùng và hiệu quả còn phụ thuộc vào "dược tính" trong tâm mỗi người. Ai cũng có khả năng trở thành Phật được, chính là bởi dược tính trong tâm mình.

Tôi viết những dòng này khi thế giới đang hoang mang vì dịch bệnh. Trong thời buổi vật chất được ưu ái, thông tin lan tràn trên mạng, nhiều bệnh nhân dễ bị lung lạc bởi các "bài thuốc" hay "điều trị tiên tiến" qua Youtube, Facebook, Google hoặc nghĩ rằng phải chụp chiếu bằng máy móc hiện đại mới yên tâm. Lời nói của bác sĩ nhiều khi không được xem trọng. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng sẽ có lúc người ta nhận ra, không gì thay thế được giá trị của "dược tính" trong mỗi người thầy thuốc.

"Tiền bạc, danh vọng có thể là mục tiêu mà nhiều người hướng đến trong thời gian ngắn, nhưng nuôi dưỡng được dược tính mới là yếu tố giúp bình an lâu dài", thầy tôi, một người Nhật, nói với chúng tôi như vậy.

BS Phạm Nguyên Quý

Tác giả, bác sĩ Phạm Nguyên Quý từ Việt Nam du học ngành Y Khoa tại Nhật Bản. Ông đã tốt nghiệp và hiện hành nghề bác sĩ tại Nhật.

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2021

PGS.TS Nguyễn Phương Mai: Vì sao thuyết âm mưu, fake news tồn tại? (Gửi cho BBC từ ĐH Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan)

Trong bữa tiệc năm mới, tôi tình cờ nói chuyện với một người bạn tin rằng lịch sử loài người đã và đang bị những sinh vật ngoài hành tinh trông giống như thằn lằn (reptilian humanoid/ lizard people) thống trị. Những sinh vật khổng lồ này tới Trái Đất bằng UFO, hoá thân thành tầng lớp lãnh đạo với mục đích biến loài người thành nô lệ. Những con thằn lằn trá hình này là vô số các vua chúa trong quá khứ, tiếp nối bằng tầng lớp tinh hoa, tư sản, giàu có và quyền lực thời hiện đại như Nữ hoàng Anh, Obama, Madonna, Katy Perry, Justin Bieber, và cựu tổng thống Trump.

Bạn tôi không cô đơn. Chỉ trong nội vi nước Mỹ đã có tới 4% dân số, tức là khoảng 12 triệu người,tin chắc như đinh đóng cột rằng thằn lằn đội lốt người đang làm bá chủ thế giới, và 7% dân số còn lưỡng lự và tin rằng điều này hoàn toàn có thể đang xảy ra.

Thuyết âm mưu là gì và đặc điểm của nó ra sao?


Những thuyết âm mưu như vậy nhiều vô kể, nhưng tựu trung lại đều mang hai đặc điểm: (1) Thuyết nhắm tới các tổ chức / mạng lưới lớn, hoạt động ngầm, và (2) có dã tâm mang tính quyền lực thống trị. Ví dụ, người Do Thái cấu kết quyền lực ngầm thống trị thế giới; Hình dạng Trái Đất thật ra bẹt như cái đĩa nhưng NASA giả tạo số liệu khiến ta tưởng Trái Đất tròn để dễ bề thống trị luồng thông tin chuyển giao toàn cầu; Vaccin là chất độc gây bệnh nhưng các công ty dược phẩm che giấu để tăng trưởng lợi tức v.v…

Gần đây nhất là thuyết âm mưu về Deep State - "Nhà nước ngầm" của giới chính trị và doanh nghiệp cấu kết với nhau thống trị xã hội. Thuyết này bắt nguồn từ một chút sự thực của nền chính trị độc tài Trung Đông. Sau đó ý tưởng này lan sang Mỹ. Bất chấp một chế tài dân chủ có lịch sử lâu đời và hệ thống cân bằng quyền lực chặt chẽ, rất nhiều người tin rằng bỏ phiếu là vô nghĩa vì ai là tổng thống thì Deep State đã lựa chọn trước rồi. Deep State cộng hưởng mạnh mẽ với việc "tát cạn đầm lầy" mà ông Trump đưa ra. Nó cũng là một nguyên nhân nhiều người không chấp nhận kết quả cuộc bầu cử vừa qua.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

Nguyễn Hoài Vân: Sự xác tín vào vị thế thượng chủ của mình nơi hậu duệ người Âu Châu

Hậu duệ người Âu Châu, mang một niềm tin vững chắc vào tính thượng chủ của họ trên mọi dân tộc, vì ba lý do chủ yếu :

1) Thứ nhất : Sứ mạng Cứu Độ :


Hậu duệ của người Âu Châu là công cụ của sự cứu độ đến từ Thiên Chúa, qua đức Ky Tô và Ky Tô Giáo. Tín lý cho rằng MỌI sự giải thoát đều BẮT BUỘC phải thông qua đức Ky Tô vẫn được khẳng định trong các giáo phái tiêu biểu nhất của Ky Tô Giáo, đặc biệt là gần đây, trong Công Giáo, dưới các giáo triều Gioan Phao Lồ II và Benedicto XVI. Hậu duệ của người Âu Châu tin rằng họ có bổn phận đem "Tin Mừng" giải thoát đến mọi dân tộc, để cứu độ loài người.

2) Thứ nhì : sứ mạng Khai Hóa


Hậu duệ của người Âu Châu mang sứ mạng truyền bá Văn Minh đến phần còn lại của nhân loại. Họ xác tín rằng nếu không có họ, thì mọi dân tộc trên thế giới sẽ muôn đời chỉ biết luẩn quẩn trong những mô hình bộ lạc hay phong kiến hủ lậu. "Muôn đời luẩn quẩn" hàm ý : ngoài họ ra, các dân tộc khác không có khả năng tiến hóa, không có lịch sử theo nghĩa một tiến trình cải tiến cấu trúc xã hội ("cái gọi là lịch sử"của các dân tộc "chậm tiến" chỉ là sự ghi chép các biến cố, ngày này qua ngày khác). Gần đây TổngThống Pháp Sarkozy cho rằng : "bi kịch" của Phi Châu là đã không "bước vào được lịch sử" (diễn văn Dakar - 26/7/2007). Và trước đó, khi người Anh nghiên cứu chế độ giai cấp ở Ấn Độ, họ dựa vào sách Manumsriti viết từ cách đây ít nhất là hai ngàn năm, trong sự tưởng tượng rằng không có gì thay đổi dưới bầu trời xứ Ấn suốt hơn hai mươi thế kỷ ấy ! (đương nhiên là họ đã nhanh chóng mở mắt trước một thực tế hoàn toàn khác - xem http://chinh-tri-lich-su.blogspot.com/2020/11/binh-dang-bat-cong-an-do.html ). Ở Pháp, người ta gọi Trung Hoa là "đế quốc bất động", và cách đây ít lâu có anh bộ trưởng viết một quyểnsách "best seller" mang tựa đề "Khi Trung Hoa thức giấc", hàm ý quốc gia này vẫn ... ngủ ! (Alain Peyrefitte - 1973).

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –Trà Đá & Xe Ôm

FB Phi Long Nguyễn vừa kể lại một chuyện có thật (ở xóm Bầu) toàn văn như sau:

Thằng Tí, học lớp 4 trường làng, người đã nhỏ con lại ốm yếu xanh xao. Cha mẹ nó tuy nghèo thật, nhưng không đến nỗi bỏ bê con cái, cũng ráng chăm sóc cho nó hết mức. Ăn uống không đến nỗi tệ, nhưng thằng bé cứ ngày một gầy rộc đi, thấy bắt thảm. 

Vì đặc thù công việc, mỗi sáng mẹ nó cho hai ngàn đi học sớm mua đồ ăn. Riêng hôm nay, mẹ nó không đi làm, nên nấu cho nó một bữa sáng thật ngon. Nhưng kìa, sao nó ăn mà mắt cứ nhìn ngó đâu đâu vậy. “Không ngon hả con?”, mẹ nó hỏi. “Dạ không”, nó trả lời mà mẹ nó không biết phải hiểu thế nào, là không ngon hay không phải không ngon. Thôi kệ, ăn nhanh rồi đi học kẻo trễ.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

Lâm Vĩnh-Thế (Nguyên Giáo-sư và Quản-Thủ Thư-Viện Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức): Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức - Một Đường Lối và Phương Pháp Giáo Dục Tân Tiến của Việt Nam Cộng Hòa

Từ rất nhiều năm nay, tại hải ngoại, khi nhắc lại chuyện giáo dục tai Miền Nam trước 1975, nói đến các trường trung học lớn, đa số mọi người chỉ nói về các trường Petrus Ký, Gia Long, Chu Văn An, Trưng Vương ở Sài Gòn, hay Nguyễn Đình Chiểu, Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho, hay Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm ở Cần Thơ, hay Quốc Học, Đồng Khánh ở Huế, ít thấy ai nhắc đến tên Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (THKMTĐ), trực thuộc Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), mặc dù ngôi trường này đã có mặt từ năm 1965, nghĩa là đã hoạt động được đúng 10 năm, và đã có những cống hiến rất quan trọng cho hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Người viết bài này, đã từng phục vụ tại THKMTĐ một thời gian khá dài (1966-1971) với tư cách giáo sư môn Kiến Thức Xã Hội (tên gọi mới của môn Sử Địa tại Trường) và Quản Thủ Thư Viện, cố gắng giới thiệu những nét đặc biệt của trường THKMTĐ khiến nó trở thành biểu tượng của một đường lối và phương pháp giáo dục thật sự tân tiến của VNCH.

Thành Lập Trường THKMTĐ


Hệ thống giáo dục của nước Việt Nam độc lập đã được đặt nền móng vững chắc từ năm 1945 dưới thời Chính phủ Trần Trọng Kim với Bộ Trưởng Giáo Dục đầu tiên là Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Tuy tiếng Việt đã được sử dụng để giảng dạy nhưng toàn bộ hệ thống giáo dục, từ “hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử, và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của chương trình Pháp.” [1] Trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có một hội nghị giáo dục được tổ chức vào năm 1958 mang tên là “Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc.” [2] Chính cuộc hội thảo giáo dục này, lần đầu tiên, đã tạo ra triết lý giáo dục cho VNCH với ba nguyên tắc chỉ đạo là Dân tộc, Nhân bản, và Khai phóng. Đại hội giáo dục toàn quốc lần thứ hai được tổ chức vào năm 1964 khẳng định lại một lần nữa ba nguyên tắc chỉ đạo vừa nêu trên, với một điều chỉnh nhỏ: nguyên tắc chỉ đạo thứ ba được đổi từ Khai phóng sang Khoa học [3] Chính trong thời gian này đã xuất hiện một số bài viết thảo luận chung quanh đề tài “một nền giáo dục mới” cho VNCH. Trường ĐHSPSG đi một bước xa hơn, không phải chỉ tham gia vào việc thảo luận suông về chuyện giáo dục mới này, mà bằng việc thực hiện một dự án giáo dục cụ thể: thiết lập THKMTĐ. Trong Dự Án Đại Cương cho ngôi trường mới này, đệ trình cho Hội Đồng Khoa của ĐHSPSG vào tháng 3-1965, người thảo dự án, Giáo sư Dương Thiệu Tống, vị Hiệu Trưởng đầu tiên của trường, đã khẳng định:

“Chương trình ấy chỉ có thể thực hiện không phải bằng những cuộc bàn cãi về lý thuyết mà phải là kết quả của các cuộc nghiên cứu và thí nghiệm.” [4]

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lenin & Cuộc Cách Mạng Tháng Mười



Duyên nợ của Lenin với đất nước Việt Nam, xem ra, mặn mà hơn ở bất cứ một nơi nào khác. Ngay tại chính quê hương của mình, có lẽ, ông cũng không bao giờ được nhi đồng Liên Xô dành cho những câu thơ ưu ái đến như thế này đâu:

Ông Lê Nin ở nước Nga
Mà em lại thấy rất là Việt Nam

Tượng đài Lenin được dựng tại nhiều nơi, tên của ông được đặt cho không ít những đường phố trên thế giới nhưng (chắc chắn) chỉ ở Việt Nam nó mới trở thành địa danh của sông/suối mà thôi: 

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà

(2/1941 -Thơ Hồ Chí Minh, NXB Nghệ An, 2005)

Thiệt là quá đã (và quá đáng) nhưng chưa hết!

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020

*Song Thao: Cà Cuống

Tôi phải cám ơn ông bạn đã chuyển cho tôi bài viết về cà cuống của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung. Vừa đọc được hai chữ “cà cuống” là đầu óc tôi cuống cả lên. Cả một thời nhỏ dại ùn ùn trở về. Nhưng đọc bài “Cà Cuống” của Vũ Thị Tuyết Nhung trước đã. “Tôi còn nhớ, mẹ tôi thuở sinh thời, cứ vào cữ tháng Bảy mùa thutrở ra đến tháng Mười chớm đông, lúc Người đi chợ Hàng Bè, thi thoảng lại được mấy bà hàng tôm hàng cá quen gọi vào, thầm thì giúi riêng cho mấy con cà cuống mà các bà thường chỉ để dành cho khách ruột sành ăn”. Tác giả Vũ Tuyết Nhung còn nhớ “mùa” cà cuống, tôi thì chịu. Ngày nhỏ ý niệm thời gian chưa vướng vào đầu óc, tôi chỉ nhớ bất chợt vào những buổi tối liên tiếp, cà cuống bay bổ vào những ngọn đèn đường là lúcchúng tôi chạy đuổi theo bắt cà cuống. Cà cuống là con gián cồ, lớn gấp nhiều lần. Vậy mà gián thì chúng tôi sợ mà cà cuống thì chúng tôi…thương, thi nhau chạy theo chộp bằng tay không. Chộp xong, kiếm mấy cành cây khô, nổi lửa, nướng ăn ngay tại chỗ, thơm cách chi!

Cà cuống nướng là thứ ăn lấy được của bọn trẻ chúng tôi. Người lớn ăn khác, trân trọng hơn nhiều. Họ phânbiệt cà cuống đực và cà cuống cái. Chuyện tưởng chỉ có chính con cà cuống mới quan tâm đến, nhưng đực cái cũng là thứ mà các người lớn săm soi đầu tiên khi nắm được chú cà cuống. Bởi vì cà cuống đực mới có bọng nước thơm, thứ quý giá nhất của cà cuống. Mỗi con đực có hai bọng, nhỏ bằng đầu tăm, chứa thứ nước thơm tho. Với cà cuống đực thì thứ nước có mùi thơm này là để dụ con cái. Với con người thì thứ nước thơm này để khoái khẩu. Bởi vì món chi có tí tinh chất này cũng biến thành món ngon được. Từ chén nước mắm chấm rau muống luộc dân dã cho tới những món cao cấp hơn như bún thang, bánh cuốn, chả cá. Người Tràng An chỉ lấy đầu chiếc tăm, chấm vào chiếc lọ nhỏ chứa tinh chất cà cuống một hai chấm là món ăn dậy mùi, thơm ngát. Mỗi người Hà Nội đều có những kỷ niệm với cà cuống. Với tôi là chén bún thang ngày tết. Lòng phơi phới trước giờ khắc tinh khôi của ngày đầu năm, gắp miếng bún thang nhè nhẹ hương cà cuống, thấy tất cả cái tết trong người. Với tác giả Vũ Tuyết Nhung là một thứ cũng rất tết: bánh chưng. “Bao năm nay, từ ngày đi lấy chồng, tôi đã nhiều lần đặt bánh chưng ở các cửa hàng nổi tiếng trong thành phố, hay là tự gói lấy bằng các thứ gạo đỗ, thịt thà thơm ngon nhất, mà sao ăn cứ không được như hương vị bánh chưng mẹ gói lúc

Giang Tử: Hồi ức, hồi ký và sám hối cho kịp bước đi thời đại

Thế hệ cao tuổi đã lỡ trớn, nay viết hồi ký hồi ức để chuyển giao cho hậu thế lớp đàn em. Nếu không kịp thì họ sẽ phải ân hận đến giờ phút chót không nhắm được mắt.

Dẫn luận


Trong vòng hai ba chục năm qua, văn học đương đại có một sự cố gắng thay đổi. Về mặt phản ánh hiện thực đương đại, có lẽ nhà văn nhường sân cho báo chí và thu mình lại.

Xuất hiện hồi ức, hồi ký là thể loại văn học không hư cấu (theo nghĩa rộng là được viết thành văn bản đa dạng) độc đáo mang tính lịch sử.

Hồi ký Trần Quang Cơ về chính trị ngoại giao quan hệ Việt Nam-Trung Quốc-Campuchia.

Hồi ký Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên về nhà tù và số phận nhà văn trong vụ án “xét lại chống Đảng 1967”.

Hồi ký Lê Vân -yêu và sống của diễn viên Lê Vân, kể những chuyện câu chuyện bi hài của đời sống nghệ sĩ, thăng trầm trong chiến tranh và xây dựng CNXH ở miền Bắc.

Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh của vị giáo sư hàng đầu làng đại học Việt Nam, kể lại bộ mặt thật của những người quan chức văn nghệ chóp bu, tới Tố Hữu, đôi khi cũng chua chát dành ít dòng về “nỗi khổ đàn ông” của vị chủ tịch Đảng huyền thoại.

Hồi ký Chiều chiều, Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài, về cuộc sống nhà văn, nhà báo trước và sau cột mốc 1945.

Hồi ký Lời ai điếu của nhà báo lão thành Lê Phú Khải về thân phận nhà báo cách mạng.

Hồi ký Nguyên Ngọc của nhà văn lão thành đã từng mang bút danh Nguyễn Trung Thành kể chuyện bi-hài của làng văn miền Bắc miền Nam trước và sau cột mốc bi thảm 1975.

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

Bs Nguyễn Đan Quế: Nền văn minh không ổn

Cách mạng kỹ thuật số khoét sâu thêm hố giầu - nghèo toàn cầu. Ngay tại Mỹ, những gã khổng lồ như Google, Facebook, Microsoft, Amazon… giầu sụ, còn phần đông dân thường chỉ khoác cái ‘mác’ văn-minh khi chúi đầu sử dụng internet, facebook, twitter, i-phone, e-game, youtube, video…

Từ đầu năm 2020 Covid-19 lan nhanh, gây chết chóc nhiều, vẫn chưa có hồi kết. Cuối năm thêm vụ tranh cử TT Mỹ, ‘chia rẽ, hạ nhau, tung tin giả, phóng thuyết âm mưu’…

Đối phó đại dịch lúng túng không hiệu quả, cộng thêm những chiêu trò vận động kiểu giang hồ dao búa ở một nước có nền văn minh Tây phương hàng đầu, khiến nhiều người chưng hửng, khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng, hoài nghi những giá trị tự do - dân chủ. Trong lễ khai mạc Đại hội đồng LHQ tháng 9- 2020 Tổng thư ký cảnh báo thế giới đang đi vào “hướng đi nguy hiểm”, và ông nói tới sự đổ vỡ do “hai nền kinh tế lớn nhất” tạo ra và rằng Covid-19 không chỉ là lời kêu gọi làm ta thức tỉnh mà nó còn là một cuộc tập dượt để thế giới đối diện với các thách thức sắp diễn ra”. Hình như văn minh Tây phương đang có gì không ổn?

ĐẦU ĐUÔI LÀ: Sự ra đời của Cơ học lượng tử (1927) dẫn đến Cách mạng Số như www, smartphone, AI, robot… (https://vnqvn.blogspot.com/2018/08/co-hoc-luong-tu-ua-nhan-loai-vao-nen_20.html).

Cuối thế kỷ XX khám phá hình thành đại vũ trụ là do vụ nổ Big Bang mà ra. Cái toàn thể là Vũ trụ năng. Phần tạo ra con người là Sinh năng. Cơ học lượng tử chỉ ra Tinh thần & Vật chất là 2 mặt của Sinh năng. Sinh năng là 1 phần của Vũ trụ năng và Vũ trụ năng trực tiếp ảnh hưởng trên Sinh năng. Tinh thần và Vật chất hỗ tương tác động và có thể hoán chuyển qua Sinh năng. Chứ không phải cái nọ có trước & ‘đẻ’ ra cái kia theo duy vật hay duy tâm. Khi ý thức con người trong xã hội đổi, cả xã hội trong đó có chính trị và tôn giáo phải đổi, tỷ lệ thuận với thức tỉnh quần chúng. Khi Covid-19 truyền vào Mỹ, sinh hoạt cộng đồng mới chỉ trì trệ cục bộ, mà tuyên truyền ‘tự bốc thơm’ đã hết ‘linh’. Quay ra đổ lỗi cho nhau! Nội bộ chia rẽ! Lý do: Đỉnh cao nền văn minh hoàn toàn ‘đuối sức’.

Đại dịch Covid-19 còn kéo dài dài, ở qui mô toàn cầu, làm tê liệt sự vận hành của xã hội loài người, từ kinh tế, y tế, giáo dục, du lịch, buôn bán, đầu tư đến cách ly tại nhà, học online, họp - làm việc online, giãn cách xã hội, đeo khẩu trang… Chưa từng có!

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

Trần Doãn Nho: Tôi là… người khác

Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot,” một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi,” trở thành một công dân mới.

“Trong nhà, từ bức tranh treo tường đến món ăn cất trong tủ; từ băng nhạc giải trí cho đến sách, báo, cái gì cũng Việt Nam, Việt Nam.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhóm chữ “The Melting Pot,” xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole). Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được sử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York.

Dựa trên câu chuyện tình Romeo và Juliet của William Shakespeare, vở kịch kể mối tình trắc trở của một di dân Do Thái từ Nga với một cô gái Nga theo Chính Thống Giáo Hy Lạp. Họ vượt qua những trở ngại về chủng tộc và tôn giáo để cuối cùng được sống hạnh phúc với nhau. Vì thế, theo tác giả, “Hoa Kỳ là Thử Thách của Thượng Đế, cái Nồi Nấu Tan Chảy vĩ đại, nơi mà tất cả những chủng tộc của Âu Châu tan chảy ra và kết hợp lại” (America is God’s Crucible, the great Melting-Pot where all the races of Europe are melting and re-forming).

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Ngô Nhân Dụng: Bức thư Mùa Vu Lan của Hòa thượng Tuệ Sỹ

Có hai nhà sư là bạn cùng tu ở tu viện Thũpãrãma, nằm trong thành phố Anurãdhapura, thủ đô của vương quốc mang cùng tên trên đảo Tích Lan. Một trong hai ông sư không thích đời sống đô thị, đã từ giã bạn, đi về phía Đông tới một ngôi chùa khác trong rừng, để ẩn dật. Ông thầy kia ở lại tu viện.

Sau mười năm, một bữa ông sư trên rừng nghĩ mình nên mời người bạn cũ tới chia sẻ cuộc sống thanh tịnh trên sơn cốc. Ông trở về tu viện ở Anurãdhapura thăm bạn. Hai nhà sư cùng đi khất thực, cả ngày chỉ được cúng dường một tô cháo loãng.

Vị sư từ rừng núi về bèn hỏi người bạn cũ có phải ngày nào cuộc sống cũng như vậy hay không. Ông thầy ở lại thành phố trả lời rằng thường thường chỉ có thế thôi. Vị khách tăng bèn ngỏ ý mời ông bạn lên sơn cốc, ở trong rừng với mình. Ông thầy ở thủ đô đồng ý. 

Hai người đi qua chỗ cổng thành, ông thầy ở thành phố quay đầu về hướng đi ra ngoài, ông thầy từ rừng về ngạc nhiên hỏi: 

- Thầy tính đi đâu vậy?

- Thầy mới rủ tôi đi về sơn cốc với thầy mà?

- Nhưng thầy không trở về chùa lấy đồ đạc gì sao?

- Tôi chỉ có mỗi cái bình bát này thôi. Còn cái giường, cái ghế là đồ đạc của chùa. Tôi không có gì hết.

Ông thày từ chủa trên rừng về nói:

-Tôi cần trở lại chùa. Tôi còn để ở đó cái lọ dựng dầu đốt, cái túi dép và cây gậy.

- Thầy về đây mấy ngày mà đã có nhiều thứ nhỉ!

Ông thày ở rừng trở về nhìn người bạn cũ, thú nhận: “Tu như thầy thì chỗ nào cũng là sơn cốc!”

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Nguyễn Bá Trạc: XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - Trường hợp Phần Lan

Không ít người Việt, ngay cả người Mỹ, thường bị dị ứng với 4 chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Đôi khi lại đánh đồng với 2 chữ “Cộng Sản”. 

Nên phải phân biệt giữa “Xã Hội Chủ Nghĩa" của các quốc gia Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Băng Đảo, Phần Lan) cùng nhiều nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ... và ngay cả Canada / với "Xã Hội Chủ Nghĩa" của Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn, Venezuela, Việt Nam.

Ví dụ Phần Lan, nơi chúng tôi đang định cư, chính là một chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. 

Nói cho đúng, Phần Lan là một chế độ “Dân Chủ Xã Hội”.

Nơi đây người dân có đầy đủ các quyền tự do. Nhân quyền được tôn trọng. Sinh hoạt chính trị là sinh hoạt đa đảng. Các cuộc bầu cử hoàn toàn minh bạch, không có thế lực nào chỉ định. Người dân toàn quyền sử dụng lá phiếu để chọn Tổng Thống và các dân biểu quốc hội mà thể hiện ý chí của người dân. Trong quốc hội, đảng nào nắm nhiều ghế sẽ chọn thủ tướng, lập nội các để điều hành chính phủ. Quyền lực trong nước được phân lập giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nên có thể kiềm chế lẫn nhau. Báo chí, truyền thông được tự do phát biểu. Mọi sinh hoạt và giới hạn được quy định theo luật, cai trị bằng luật, cao nhất là hiến pháp, không ai có thể đứng trên luật pháp. Đây là thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Những điều ấy không có trong "Xã Hội Chủ Nghĩa" kiểu Cộng Sản.

Kinh tế Phần Lan là kinh tế thị trường, hoạt động tự do theo luật cung cầu. Nhưng so với các chế độ tư bản cực hữu thì nhà cầm quyền can thiệp nhiều hơn, nhất là bằng thuế lợi tức. Nhờ thế tài sản trong nước được phân phối tương đối đồng đều. Tạo nên được sự bình đẳng tương đối: Không có tình trạng một thiểu số cực nhỏ nắm giữ hầu hết lợi tức trong nước, và cuối cùng thì tầng lớp trung lưu là tầng lớp phải làm việc vất vả nhất mà lại đóng thuế nhiều nhất như ở vài nước tư bản cực hữu, trong đó có nước Mỹ.

Với chính sách của Phần Lan, những người già yếu, người tàn phế, người thất nghiệp được săn sóc chu đáo. Giáo dục miễn phí từ nhà trẻ cho đến đại học và hậu đại học. Tiêu chuẩn giáo dục tại các trường và các khu vực hoàn toàn đồng đều chứ không có tình trạng ở khu nhà giầu thì trường tốt, khu nhà nghèo thì trường xấu, tạo mối khổ tâm cho nhiều phụ huynh như ở Mỹ.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Trịnh Khả Nguyên: Rằm tháng Bảy và giải oan

Ngày 15 của các tháng âm lịch gọi là rằm, còn tại sao gọi như thế thì người viết … không biết. Một năm âm lịch có bao nhiêu tháng thì có bấy nhiêu ngày rằm. Những người Việt Nam, Trung Quốc “thờ cúng” thường cúng rằm, cúng những vong linh, (âm hồn, cô hồn) không được ai giỗ kỵ. Lễ nầy đơn giản hơn giỗ. Ngoài cúng rằm, còn nhiều lễ cúng khác như cúng mồng một (đầu tháng âm lịch), cúng đất, cúng mừng (nhà mới, lên chức, trúng quả), cúng dâng sao giải hạn, giải oan… Cúng âm hồn, linh hồn người chết, là một cách, còn cách “cúng cô hồn sống” nữa, cách nầy không thắp hương, thắp đèn, chỉ cần cao lễ.

Cúng có nhiều mục đích, để kính các vị đã khuất và, cầu được che chở bình an, may mắn, biết đâu, mục đích sau là chính. Cúng thì khấn, dù khấn nôm na hoặc khấn theo văn sớ bằng chữ Hán - Việt, có mẫu in/bán sẵn, đều có nội dung xin được các vị chứng giám và phù hộ cho người lễ cúng. Trong cuộc sống, ai chẳng cầu được tốt hơn. Người chịu bất hạnh, nghèo khó, bị bệnh hiểm nghèo, bị oan ức, bị áp bức bất công…, cầu mong được thoát các cảnh trên là lẽ thường. Người giàu, người đang có địa vị, có quyền thế cũng cầu. Nếu đang ở vị trí tốt thì xin được cho vững hoặc tiến lên vị trí trên. Làm cấp nhỏ mong sẽ làm cấp lớn hơn, đang ngồi ghế thấp, ngấp nghé cái ghế cao hơn, đang có địa vị trong nước lại lo tạo cơ ngơi ở nước ngoài. Làm đời cha chưa đủ, phải cơ cấu đời con nối tiếp. Làm một nhiệm kỳ, chưa đạt, phải làm nhiều nhiệm kỳ, làm suốt đời.

Việc cúng kính đã có tự bao giờ, tuy nhiên nó cũng theo thời thế mà thay đổi. Có thời việc cúng kính là nghi lễ bình thường. Thời khó khăn, lo cho miếng ăn chưa đủ, “cha chết, không bằng hết ăn” lấy đâu lo việc tâm linh, phần khác vì xu thế. Đến thời đổi mới, mọi lễ nghi mỹ tục, hủ tục được khôi phục lại. Các buổi chợ vào các ngày mồng một, ngày rằm bán đầy hoa quả, vàng mã. Các dịch vụ về nghi thức cúng phát huy hết công suất. Người người cúng, nhà nhà cúng, người hiền cúng, người ác cũng cúng. Anh “duy tâm” cúng cầu đã đành, anh “duy vật” cũng cúng cầu nữa. Là thế nào? Lẽ nào hết tin vào dương nên phải tin vào âm?

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Mạc Văn Trang: Đừng lập lờ đánh lận con đen!

Có anh bạn bảo: Mấy nước Bắc Âu là mô hình XHCN đúng nghĩa Marxist, nên xin đăng lại bài này để trao đổi.

Tạp chí Lý luận Chính trị, 25 Tháng 3 năm 2019, có bài “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Bắc Âu hiện nay và những gợi mở, tham chiếu cho Việt Nam”.

Tiêu đề bài báo trên “đánh lận con đen” giữa “Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa” và “Xã hội dân chủ Bắc Âu”. Sự lập lờ đó có thể khiến nhiều người hiểu lầm, Việt Nam đang đi theo mô hình Bắc Âu?

Sự thật là Việt Nam chả có gì giống mấy nước Bắc Âu cả! Xin nói rõ mấy điều cụ thể:

1. Việt Nam là nước XHCN, do độc đảng cộng sản toàn trị, độc quyền lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, áp đặt ý thức hệ cho toàn xã hội…

Trong khi đó các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mach, Na Uy, Phần Lan, Iceland) đều là những nước đa nguyên chính trị, đa đảng cạnh tranh nhau để dân tự do bầu cử, được thắng cử đa số thì cầm quyền (mỗi nước đều có 9 – 10 đảng chính trị và thường không có đảng nào chiếm quá bán số ghế trong quốc hội);

2. Không có nước Bắc Âu nào xưng danh là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” như Việt Nam, không lật đổ và phủ định sạch trơn truyền thống của các thể chế cũ như Việt Nam.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Nhã Duy: Mọi hình tướng, mọi tâm tưởng

Lần đầu qua Tokyo, đi bộ dọc theo vài con đường, tôi có thấy những gờ cao nằm giữa lề đường dành cho người đi bộ nhưng không chú tâm lắm. Rồi đến ngã tư, nghe tiếng "chíp-chíp" như chim kêu khi đèn tín hiệu đi bộ chuyển xanh, cũng ngỡ để báo hiệu khách bộ hành đang đợi băng ngang đường. 

Về sau có dịp trò chuyện với một người sống tại Nhật, câu chuyện đưa đẩy thế nào mà tôi nhắc lại điều này và mới học được rằng, chúng được thiết kế dành cho người mù. Ông cũng nói thêm rằng, không phải nước Nhật có quá nhiều người mù mà chính phủ làm vậy, chỉ là vấn đề nhân đạo, quan tâm đến người tàn tật. Ra vậy, có vô số điều đôi khi chúng ta nhìn mà không "thấy". Và có thấy, đôi khi cũng chưa tường tận. 

Thật ra đây không phải là điều lạ tại Mỹ, tôi chỉ chưa thấy gờ cao hay âm thanh báo hiệu như tại Tokyo mà thôi. Bởi các luật lệ về xây dựng, tiện ích công cộng đều buộc phải có tính năng cho người khuyết tật sử dụng, như bãi đậu xe, lối đi dành riêng cho người tàn tật, hệ thống điện thoại dành cho người điếc, người mù... 

Nước Mỹ vừa kỷ niệm 30 năm Đạo Luật Người Khuyết Tật (Americans with Disability Act), một bộ luật dân sự ngăn cấm việc kỳ thị người khuyết tật, dù tâm thần hay thể lý. Trong việc làm, phương tiện di chuyển, tiện ích công cộng, dịch vụ..., người khuyết tật cũng được hưởng những cơ hội bình đẳng như bất cứ ai. Nếu không bảo một số hãng còn có chính sách ưu tiên cho người khuyết tật.

Mà không riêng Nhật, Mỹ, hầu hết các quốc gia tiến bộ đều có những chính sách, tiện ích dành riêng cho nhóm người này, thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, nhân ái với những người thua thiệt, kém may mắn. Điều mà các quốc gia đang phát triển còn ít quan tâm , thậm chí có người còn cười ngạo, coi khinh hay hiếp đáp họ.

Chỉ nhìn việc diễn hài trên sân khấu Việt hiện nay, thỉnh thoảng người xem vẫn bắt gặp những tay hài đem sự bất toàn, tật nguyền của người khác ra chế giễu, để chọc cười. Giả đi cà nhắc, giả nói ngọng, chê mập ốm, xấu đẹp, hay giả gái giả trai... Có điều gì bất nhẫn khi chứng kiến những điều như vậy. 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Nguyễn Quang Dy: Nhìn lại kinh tế ngầm ở Việt Nam

Phần 1: Giải mã hiện tượng kinh tế ngầm


Kinh tế ngầm là một chủ đề khó, không chỉ với những người ngoại đạo mà còn với các chuyên gia kinh tế và quản trị kinh doanh. Trong khi tài liệu tham khảo về kinh tế ngầm còn thiếu, quan niệm về kinh tế ngầm có nhiều bất cập. Điều đó phản ánh bản chất phức tạp và khó nắm bắt của kinh tế ngầm. Gần đây các chuyên gia tuy đề cập nhiều hơn đến quy mô và tầm quan trọng của kinh tế ngầm, nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi về động cơ và phương pháp thống kê. Bức tranh về kinh tế ngầm vẫn còn nhiều ẩn số, cần được giải mã để làm rõ hơn. 

Quan niệm về “System D” 


Trong bất kỳ nền kinh tế nước nào cũng có kinh tế ngầm, nhất là tại các nước đang phát triển có một nền kinh tế chuyển đổi, có thể chế lỗi thời và thói quen làm việc “du kích” như Việt Nam. Hiện nay, người ta thường gọi hệ thống kinh tế ngầm là “System D”. Đó là chữ cái của từ tiếng Pháp “debrouille”. Từ này có nghĩa gần giống như “manage” hay “make do” trong tiếng Anh, có nghĩa là có thể xoay sở và tồn tại được, bất chấp mọi khó khăn.

Trước đây, “System D” được biết đến chủ yếu tại các nước nói tiếng Pháp ở Châu Phi và vùng Caribbean. Ngày nay “System D” là thuật ngữ để chỉ năng lực thực dụng biết thích nghi nhanh và biến báo hiệu quả trước mọi tình huống khó khăn để đạt được mục đích. Trong kinh tế học, “System D” thường được hiểu là “kinh tế ngầm” (shadow economy) có đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế thế giới. Theo các chuyên gia, GDP của “System D” là $10 trillion. (“The Shadow Superpower”, Robert Neuwirth, Foreign Policy, 28/10/2011).

Robert Neuwirth cho rằng không phải Trung Quốc, mà “System D” mới là siêu cường kinh tế lớn thứ hai thế giới, với GDP khoảng $10 trillion (mười ngàn tỷ USD) trong khi GDP của Mỹ khoảng $14 trillion và GDP của Trung Quốc khoảng $8 trillion (năm 2011). Đến nay chắc bức tranh kinh tế ngầm toàn cầu đã khác trước rất nhiều, vì “System D” có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, thu hút một nửa tổng số nhân công trên toàn cầu.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh &Tầm Gửi

 

Họa sỹ Lê Huy Cầm cho biết: “Vừa dứt xong cái tranh cho cựu sinh viên Đại Học Dalat sẽ đấu giá kiếm tiền cho sinh viên nghèo trong ngày họp mặt 20 năm.” Bên dưới thông tin này là lời nhắn của FB Hue Chau (“Nếu dành cho cựu SV ĐH Dalat pre 75 thì trên tháp chuông nhà Nguyện Năng Tĩnh kg phải là cái... ơi Lê Huy”) và hồi đáp của tác giả: “Sinh viên ra trường năm 2000 nên vẽ như vậy.”

Tôi rời Viện Đại Học Đà Lạt đã lâu, ngay sau Mùa Hè Đỏ Lửa, vào năm 1972. Gần nửa thế kỷ đã vụt đi với không biết bao nhiêu là nước suối, nuớc sông (cùng với nước mưa/nước mắt) đã ào ạt qua cầu và qua cống. Nhìn lại hình ảnh trường xưa không khỏi có thoáng chút bồi hồi, và cũng thấy có hơi hụt hẫng. 

Tuy thế, tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích thượng dẫn của tác giả bức tranh. Thấy sao thì vẽ vậy thôi. Mà sao vàng và cờ đỏ thì được “gắn” vào tất cả những công trình kiến trúc ở VN (trường học Yersin, nhà ga Đà Lạt, bưu điện Sài Gòn, Toà Đô Chính, Dinh Gia Long, Dinh Độc Lập …) chớ có sót chỗ nào đâu.

Ngó riết rồi cũng quen mắt thôi mà!

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

*Song Thao: Hứa

Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi. Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa. Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời ‘ông có giỡn với tôi không vậy?’”. Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.

Vợ chồng ông Tom Cook (trái) và vợ chồng ông Joseph Feeney khi lãnh tiền trúng số. (Hình: Wisconsin Lottery)

Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục. Thời buổi này mà còn một ông quân tử tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.

Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Khúc Ruột Thừa

Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn
vẫn còn lênh đênh 

Tôi tình cờ nghe được một mẩu đối thoại lạ tai, ngăn ngắn của một cặp vợ chồng người quen (còn trẻ) ở quê nhà: 

- Lý do nào để anh quyết định tham gia đấu tranh?

- Vì 3 cô gái điếm người Việt ở Campuchia… Vì chứng kiến những phận đời vỡ nát ấy mà anh muốn góp phần nhỏ bé vào cuộc đổi thay đất nước. Hy vọng đất nước mình khá hơn, có dân chủ, có tự do để không còn những cô gái VN phải sang xứ người làm điếm. Không còn cảnh người Việt phải sống tha hương, chịu mọi khổ sở, thiệt thòi, hoặc chết thảm nơi xứ người nữa. Đơn giản thế thôi.” (Phạm Thanh Nghiên. “Chuyện Kể Của Chồng”).

Mấy năm qua, tôi ngủ trong những cái khách sạn tồi tàn ở Phnom Penh nhiều hơn ở nhà mình nên biết rằng Cambodia không chỉ có ba (hay ba ngàn) “cô gái Việt Nam phải sang xứ người làm điếm.” Nơi đây cũng không chỉ có ba chục ngàn (hay ba trăm ngàn) người Việt đang “phải sống tha hương, chịu mọi khổ sở, thiệt thòi.” 

Theo tường trình của MIROR (Minority Rights Organization) hiện có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt, đang sinh sống ở đất Miên. Đây là nhóm dân thiểu số đông đảo nhất nơi xứ sở này. Hầu hết họ đều là dân ngụ cư, không khai sinh, không căn cước, không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào, và (tất nhiên) không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo. Do thế, phần lớn kiều bào ở Miên (theo như cách gọi rất lịch sự của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Phnom Penh) đều sống lênh bênh – rầy đây, mai đó – trên những túp lều nổi xung quanh Biển Hồ, hoặc dọc theo những nhánh sông phụ thuộc.

Họ sống ra sao?

Từ Chong Khneas, ký giả Thiên Ân tường thuật:

“Những Việt Kiều Campuchia này nghèo khó cả về điều kiện sinh sống lẫn chính sách mà chính quyền đưa ra để hỗ trợ. Trên vùng nước mênh mông dơ bẩn, các gia đình người Việt sống ngoài vòng pháp luật với nhau, trẻ em không có giấy tờ nên cũng chẳng thể học lên cao được mà chỉ ngừng lại ở hết bậc tiểu học.