Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

Trần Doãn Nho: Tôi là… người khác

Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot,” một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi,” trở thành một công dân mới.

“Trong nhà, từ bức tranh treo tường đến món ăn cất trong tủ; từ băng nhạc giải trí cho đến sách, báo, cái gì cũng Việt Nam, Việt Nam.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhóm chữ “The Melting Pot,” xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole). Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được sử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York.

Dựa trên câu chuyện tình Romeo và Juliet của William Shakespeare, vở kịch kể mối tình trắc trở của một di dân Do Thái từ Nga với một cô gái Nga theo Chính Thống Giáo Hy Lạp. Họ vượt qua những trở ngại về chủng tộc và tôn giáo để cuối cùng được sống hạnh phúc với nhau. Vì thế, theo tác giả, “Hoa Kỳ là Thử Thách của Thượng Đế, cái Nồi Nấu Tan Chảy vĩ đại, nơi mà tất cả những chủng tộc của Âu Châu tan chảy ra và kết hợp lại” (America is God’s Crucible, the great Melting-Pot where all the races of Europe are melting and re-forming).

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Ngô Nhân Dụng: Bức thư Mùa Vu Lan của Hòa thượng Tuệ Sỹ

Có hai nhà sư là bạn cùng tu ở tu viện Thũpãrãma, nằm trong thành phố Anurãdhapura, thủ đô của vương quốc mang cùng tên trên đảo Tích Lan. Một trong hai ông sư không thích đời sống đô thị, đã từ giã bạn, đi về phía Đông tới một ngôi chùa khác trong rừng, để ẩn dật. Ông thầy kia ở lại tu viện.

Sau mười năm, một bữa ông sư trên rừng nghĩ mình nên mời người bạn cũ tới chia sẻ cuộc sống thanh tịnh trên sơn cốc. Ông trở về tu viện ở Anurãdhapura thăm bạn. Hai nhà sư cùng đi khất thực, cả ngày chỉ được cúng dường một tô cháo loãng.

Vị sư từ rừng núi về bèn hỏi người bạn cũ có phải ngày nào cuộc sống cũng như vậy hay không. Ông thầy ở lại thành phố trả lời rằng thường thường chỉ có thế thôi. Vị khách tăng bèn ngỏ ý mời ông bạn lên sơn cốc, ở trong rừng với mình. Ông thầy ở thủ đô đồng ý. 

Hai người đi qua chỗ cổng thành, ông thầy ở thành phố quay đầu về hướng đi ra ngoài, ông thầy từ rừng về ngạc nhiên hỏi: 

- Thầy tính đi đâu vậy?

- Thầy mới rủ tôi đi về sơn cốc với thầy mà?

- Nhưng thầy không trở về chùa lấy đồ đạc gì sao?

- Tôi chỉ có mỗi cái bình bát này thôi. Còn cái giường, cái ghế là đồ đạc của chùa. Tôi không có gì hết.

Ông thày từ chủa trên rừng về nói:

-Tôi cần trở lại chùa. Tôi còn để ở đó cái lọ dựng dầu đốt, cái túi dép và cây gậy.

- Thầy về đây mấy ngày mà đã có nhiều thứ nhỉ!

Ông thày ở rừng trở về nhìn người bạn cũ, thú nhận: “Tu như thầy thì chỗ nào cũng là sơn cốc!”

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Nguyễn Bá Trạc: XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - Trường hợp Phần Lan

Không ít người Việt, ngay cả người Mỹ, thường bị dị ứng với 4 chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Đôi khi lại đánh đồng với 2 chữ “Cộng Sản”. 

Nên phải phân biệt giữa “Xã Hội Chủ Nghĩa" của các quốc gia Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Băng Đảo, Phần Lan) cùng nhiều nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ... và ngay cả Canada / với "Xã Hội Chủ Nghĩa" của Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn, Venezuela, Việt Nam.

Ví dụ Phần Lan, nơi chúng tôi đang định cư, chính là một chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. 

Nói cho đúng, Phần Lan là một chế độ “Dân Chủ Xã Hội”.

Nơi đây người dân có đầy đủ các quyền tự do. Nhân quyền được tôn trọng. Sinh hoạt chính trị là sinh hoạt đa đảng. Các cuộc bầu cử hoàn toàn minh bạch, không có thế lực nào chỉ định. Người dân toàn quyền sử dụng lá phiếu để chọn Tổng Thống và các dân biểu quốc hội mà thể hiện ý chí của người dân. Trong quốc hội, đảng nào nắm nhiều ghế sẽ chọn thủ tướng, lập nội các để điều hành chính phủ. Quyền lực trong nước được phân lập giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nên có thể kiềm chế lẫn nhau. Báo chí, truyền thông được tự do phát biểu. Mọi sinh hoạt và giới hạn được quy định theo luật, cai trị bằng luật, cao nhất là hiến pháp, không ai có thể đứng trên luật pháp. Đây là thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Những điều ấy không có trong "Xã Hội Chủ Nghĩa" kiểu Cộng Sản.

Kinh tế Phần Lan là kinh tế thị trường, hoạt động tự do theo luật cung cầu. Nhưng so với các chế độ tư bản cực hữu thì nhà cầm quyền can thiệp nhiều hơn, nhất là bằng thuế lợi tức. Nhờ thế tài sản trong nước được phân phối tương đối đồng đều. Tạo nên được sự bình đẳng tương đối: Không có tình trạng một thiểu số cực nhỏ nắm giữ hầu hết lợi tức trong nước, và cuối cùng thì tầng lớp trung lưu là tầng lớp phải làm việc vất vả nhất mà lại đóng thuế nhiều nhất như ở vài nước tư bản cực hữu, trong đó có nước Mỹ.

Với chính sách của Phần Lan, những người già yếu, người tàn phế, người thất nghiệp được săn sóc chu đáo. Giáo dục miễn phí từ nhà trẻ cho đến đại học và hậu đại học. Tiêu chuẩn giáo dục tại các trường và các khu vực hoàn toàn đồng đều chứ không có tình trạng ở khu nhà giầu thì trường tốt, khu nhà nghèo thì trường xấu, tạo mối khổ tâm cho nhiều phụ huynh như ở Mỹ.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Trịnh Khả Nguyên: Rằm tháng Bảy và giải oan

Ngày 15 của các tháng âm lịch gọi là rằm, còn tại sao gọi như thế thì người viết … không biết. Một năm âm lịch có bao nhiêu tháng thì có bấy nhiêu ngày rằm. Những người Việt Nam, Trung Quốc “thờ cúng” thường cúng rằm, cúng những vong linh, (âm hồn, cô hồn) không được ai giỗ kỵ. Lễ nầy đơn giản hơn giỗ. Ngoài cúng rằm, còn nhiều lễ cúng khác như cúng mồng một (đầu tháng âm lịch), cúng đất, cúng mừng (nhà mới, lên chức, trúng quả), cúng dâng sao giải hạn, giải oan… Cúng âm hồn, linh hồn người chết, là một cách, còn cách “cúng cô hồn sống” nữa, cách nầy không thắp hương, thắp đèn, chỉ cần cao lễ.

Cúng có nhiều mục đích, để kính các vị đã khuất và, cầu được che chở bình an, may mắn, biết đâu, mục đích sau là chính. Cúng thì khấn, dù khấn nôm na hoặc khấn theo văn sớ bằng chữ Hán - Việt, có mẫu in/bán sẵn, đều có nội dung xin được các vị chứng giám và phù hộ cho người lễ cúng. Trong cuộc sống, ai chẳng cầu được tốt hơn. Người chịu bất hạnh, nghèo khó, bị bệnh hiểm nghèo, bị oan ức, bị áp bức bất công…, cầu mong được thoát các cảnh trên là lẽ thường. Người giàu, người đang có địa vị, có quyền thế cũng cầu. Nếu đang ở vị trí tốt thì xin được cho vững hoặc tiến lên vị trí trên. Làm cấp nhỏ mong sẽ làm cấp lớn hơn, đang ngồi ghế thấp, ngấp nghé cái ghế cao hơn, đang có địa vị trong nước lại lo tạo cơ ngơi ở nước ngoài. Làm đời cha chưa đủ, phải cơ cấu đời con nối tiếp. Làm một nhiệm kỳ, chưa đạt, phải làm nhiều nhiệm kỳ, làm suốt đời.

Việc cúng kính đã có tự bao giờ, tuy nhiên nó cũng theo thời thế mà thay đổi. Có thời việc cúng kính là nghi lễ bình thường. Thời khó khăn, lo cho miếng ăn chưa đủ, “cha chết, không bằng hết ăn” lấy đâu lo việc tâm linh, phần khác vì xu thế. Đến thời đổi mới, mọi lễ nghi mỹ tục, hủ tục được khôi phục lại. Các buổi chợ vào các ngày mồng một, ngày rằm bán đầy hoa quả, vàng mã. Các dịch vụ về nghi thức cúng phát huy hết công suất. Người người cúng, nhà nhà cúng, người hiền cúng, người ác cũng cúng. Anh “duy tâm” cúng cầu đã đành, anh “duy vật” cũng cúng cầu nữa. Là thế nào? Lẽ nào hết tin vào dương nên phải tin vào âm?

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Mạc Văn Trang: Đừng lập lờ đánh lận con đen!

Có anh bạn bảo: Mấy nước Bắc Âu là mô hình XHCN đúng nghĩa Marxist, nên xin đăng lại bài này để trao đổi.

Tạp chí Lý luận Chính trị, 25 Tháng 3 năm 2019, có bài “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Bắc Âu hiện nay và những gợi mở, tham chiếu cho Việt Nam”.

Tiêu đề bài báo trên “đánh lận con đen” giữa “Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa” và “Xã hội dân chủ Bắc Âu”. Sự lập lờ đó có thể khiến nhiều người hiểu lầm, Việt Nam đang đi theo mô hình Bắc Âu?

Sự thật là Việt Nam chả có gì giống mấy nước Bắc Âu cả! Xin nói rõ mấy điều cụ thể:

1. Việt Nam là nước XHCN, do độc đảng cộng sản toàn trị, độc quyền lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng, áp đặt ý thức hệ cho toàn xã hội…

Trong khi đó các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mach, Na Uy, Phần Lan, Iceland) đều là những nước đa nguyên chính trị, đa đảng cạnh tranh nhau để dân tự do bầu cử, được thắng cử đa số thì cầm quyền (mỗi nước đều có 9 – 10 đảng chính trị và thường không có đảng nào chiếm quá bán số ghế trong quốc hội);

2. Không có nước Bắc Âu nào xưng danh là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” như Việt Nam, không lật đổ và phủ định sạch trơn truyền thống của các thể chế cũ như Việt Nam.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Nhã Duy: Mọi hình tướng, mọi tâm tưởng

Lần đầu qua Tokyo, đi bộ dọc theo vài con đường, tôi có thấy những gờ cao nằm giữa lề đường dành cho người đi bộ nhưng không chú tâm lắm. Rồi đến ngã tư, nghe tiếng "chíp-chíp" như chim kêu khi đèn tín hiệu đi bộ chuyển xanh, cũng ngỡ để báo hiệu khách bộ hành đang đợi băng ngang đường. 

Về sau có dịp trò chuyện với một người sống tại Nhật, câu chuyện đưa đẩy thế nào mà tôi nhắc lại điều này và mới học được rằng, chúng được thiết kế dành cho người mù. Ông cũng nói thêm rằng, không phải nước Nhật có quá nhiều người mù mà chính phủ làm vậy, chỉ là vấn đề nhân đạo, quan tâm đến người tàn tật. Ra vậy, có vô số điều đôi khi chúng ta nhìn mà không "thấy". Và có thấy, đôi khi cũng chưa tường tận. 

Thật ra đây không phải là điều lạ tại Mỹ, tôi chỉ chưa thấy gờ cao hay âm thanh báo hiệu như tại Tokyo mà thôi. Bởi các luật lệ về xây dựng, tiện ích công cộng đều buộc phải có tính năng cho người khuyết tật sử dụng, như bãi đậu xe, lối đi dành riêng cho người tàn tật, hệ thống điện thoại dành cho người điếc, người mù... 

Nước Mỹ vừa kỷ niệm 30 năm Đạo Luật Người Khuyết Tật (Americans with Disability Act), một bộ luật dân sự ngăn cấm việc kỳ thị người khuyết tật, dù tâm thần hay thể lý. Trong việc làm, phương tiện di chuyển, tiện ích công cộng, dịch vụ..., người khuyết tật cũng được hưởng những cơ hội bình đẳng như bất cứ ai. Nếu không bảo một số hãng còn có chính sách ưu tiên cho người khuyết tật.

Mà không riêng Nhật, Mỹ, hầu hết các quốc gia tiến bộ đều có những chính sách, tiện ích dành riêng cho nhóm người này, thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, nhân ái với những người thua thiệt, kém may mắn. Điều mà các quốc gia đang phát triển còn ít quan tâm , thậm chí có người còn cười ngạo, coi khinh hay hiếp đáp họ.

Chỉ nhìn việc diễn hài trên sân khấu Việt hiện nay, thỉnh thoảng người xem vẫn bắt gặp những tay hài đem sự bất toàn, tật nguyền của người khác ra chế giễu, để chọc cười. Giả đi cà nhắc, giả nói ngọng, chê mập ốm, xấu đẹp, hay giả gái giả trai... Có điều gì bất nhẫn khi chứng kiến những điều như vậy. 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Nguyễn Quang Dy: Nhìn lại kinh tế ngầm ở Việt Nam

Phần 1: Giải mã hiện tượng kinh tế ngầm


Kinh tế ngầm là một chủ đề khó, không chỉ với những người ngoại đạo mà còn với các chuyên gia kinh tế và quản trị kinh doanh. Trong khi tài liệu tham khảo về kinh tế ngầm còn thiếu, quan niệm về kinh tế ngầm có nhiều bất cập. Điều đó phản ánh bản chất phức tạp và khó nắm bắt của kinh tế ngầm. Gần đây các chuyên gia tuy đề cập nhiều hơn đến quy mô và tầm quan trọng của kinh tế ngầm, nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi về động cơ và phương pháp thống kê. Bức tranh về kinh tế ngầm vẫn còn nhiều ẩn số, cần được giải mã để làm rõ hơn. 

Quan niệm về “System D” 


Trong bất kỳ nền kinh tế nước nào cũng có kinh tế ngầm, nhất là tại các nước đang phát triển có một nền kinh tế chuyển đổi, có thể chế lỗi thời và thói quen làm việc “du kích” như Việt Nam. Hiện nay, người ta thường gọi hệ thống kinh tế ngầm là “System D”. Đó là chữ cái của từ tiếng Pháp “debrouille”. Từ này có nghĩa gần giống như “manage” hay “make do” trong tiếng Anh, có nghĩa là có thể xoay sở và tồn tại được, bất chấp mọi khó khăn.

Trước đây, “System D” được biết đến chủ yếu tại các nước nói tiếng Pháp ở Châu Phi và vùng Caribbean. Ngày nay “System D” là thuật ngữ để chỉ năng lực thực dụng biết thích nghi nhanh và biến báo hiệu quả trước mọi tình huống khó khăn để đạt được mục đích. Trong kinh tế học, “System D” thường được hiểu là “kinh tế ngầm” (shadow economy) có đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế thế giới. Theo các chuyên gia, GDP của “System D” là $10 trillion. (“The Shadow Superpower”, Robert Neuwirth, Foreign Policy, 28/10/2011).

Robert Neuwirth cho rằng không phải Trung Quốc, mà “System D” mới là siêu cường kinh tế lớn thứ hai thế giới, với GDP khoảng $10 trillion (mười ngàn tỷ USD) trong khi GDP của Mỹ khoảng $14 trillion và GDP của Trung Quốc khoảng $8 trillion (năm 2011). Đến nay chắc bức tranh kinh tế ngầm toàn cầu đã khác trước rất nhiều, vì “System D” có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, thu hút một nửa tổng số nhân công trên toàn cầu.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh &Tầm Gửi

 

Họa sỹ Lê Huy Cầm cho biết: “Vừa dứt xong cái tranh cho cựu sinh viên Đại Học Dalat sẽ đấu giá kiếm tiền cho sinh viên nghèo trong ngày họp mặt 20 năm.” Bên dưới thông tin này là lời nhắn của FB Hue Chau (“Nếu dành cho cựu SV ĐH Dalat pre 75 thì trên tháp chuông nhà Nguyện Năng Tĩnh kg phải là cái... ơi Lê Huy”) và hồi đáp của tác giả: “Sinh viên ra trường năm 2000 nên vẽ như vậy.”

Tôi rời Viện Đại Học Đà Lạt đã lâu, ngay sau Mùa Hè Đỏ Lửa, vào năm 1972. Gần nửa thế kỷ đã vụt đi với không biết bao nhiêu là nước suối, nuớc sông (cùng với nước mưa/nước mắt) đã ào ạt qua cầu và qua cống. Nhìn lại hình ảnh trường xưa không khỏi có thoáng chút bồi hồi, và cũng thấy có hơi hụt hẫng. 

Tuy thế, tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích thượng dẫn của tác giả bức tranh. Thấy sao thì vẽ vậy thôi. Mà sao vàng và cờ đỏ thì được “gắn” vào tất cả những công trình kiến trúc ở VN (trường học Yersin, nhà ga Đà Lạt, bưu điện Sài Gòn, Toà Đô Chính, Dinh Gia Long, Dinh Độc Lập …) chớ có sót chỗ nào đâu.

Ngó riết rồi cũng quen mắt thôi mà!

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

*Song Thao: Hứa

Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi. Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa. Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời ‘ông có giỡn với tôi không vậy?’”. Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.

Vợ chồng ông Tom Cook (trái) và vợ chồng ông Joseph Feeney khi lãnh tiền trúng số. (Hình: Wisconsin Lottery)

Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục. Thời buổi này mà còn một ông quân tử tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.

Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Khúc Ruột Thừa

Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn
vẫn còn lênh đênh 

Tôi tình cờ nghe được một mẩu đối thoại lạ tai, ngăn ngắn của một cặp vợ chồng người quen (còn trẻ) ở quê nhà: 

- Lý do nào để anh quyết định tham gia đấu tranh?

- Vì 3 cô gái điếm người Việt ở Campuchia… Vì chứng kiến những phận đời vỡ nát ấy mà anh muốn góp phần nhỏ bé vào cuộc đổi thay đất nước. Hy vọng đất nước mình khá hơn, có dân chủ, có tự do để không còn những cô gái VN phải sang xứ người làm điếm. Không còn cảnh người Việt phải sống tha hương, chịu mọi khổ sở, thiệt thòi, hoặc chết thảm nơi xứ người nữa. Đơn giản thế thôi.” (Phạm Thanh Nghiên. “Chuyện Kể Của Chồng”).

Mấy năm qua, tôi ngủ trong những cái khách sạn tồi tàn ở Phnom Penh nhiều hơn ở nhà mình nên biết rằng Cambodia không chỉ có ba (hay ba ngàn) “cô gái Việt Nam phải sang xứ người làm điếm.” Nơi đây cũng không chỉ có ba chục ngàn (hay ba trăm ngàn) người Việt đang “phải sống tha hương, chịu mọi khổ sở, thiệt thòi.” 

Theo tường trình của MIROR (Minority Rights Organization) hiện có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt, đang sinh sống ở đất Miên. Đây là nhóm dân thiểu số đông đảo nhất nơi xứ sở này. Hầu hết họ đều là dân ngụ cư, không khai sinh, không căn cước, không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào, và (tất nhiên) không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo. Do thế, phần lớn kiều bào ở Miên (theo như cách gọi rất lịch sự của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Phnom Penh) đều sống lênh bênh – rầy đây, mai đó – trên những túp lều nổi xung quanh Biển Hồ, hoặc dọc theo những nhánh sông phụ thuộc.

Họ sống ra sao?

Từ Chong Khneas, ký giả Thiên Ân tường thuật:

“Những Việt Kiều Campuchia này nghèo khó cả về điều kiện sinh sống lẫn chính sách mà chính quyền đưa ra để hỗ trợ. Trên vùng nước mênh mông dơ bẩn, các gia đình người Việt sống ngoài vòng pháp luật với nhau, trẻ em không có giấy tờ nên cũng chẳng thể học lên cao được mà chỉ ngừng lại ở hết bậc tiểu học.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2020

Nguyễn Hùng (VOA Blog): Lê Văn Tám của Hoa Kỳ và thế giới hậu sự thật

Hồi còn làm cho BBC tôi từng viết về những tranh cãi ở Việt Nam sau khi nhà sử học Phan Huy Lê tiết lộ rằng nhân vật Lê Văn Tám không hề có thật. Ông Lê nói Bộ trưởng tuyên truyền Trần Huy Liệu đã dựng lên nhân vật đó trong những năm đầu cách mạng và muốn ông Lê vềsau nói cho hậu thế biết sự thật. Nhiều người đã phản bác lại nhà sử học và kiên quyết khẳng định Lê Văn Tám là có thật. Có người còn nói không phải Lê Văn Tám tẩm xăng vào người mà chỉ là bị “dính xăng”. Thế rồi vẫn khẳng định dù chỉ dính xăng thôi nhưng vẫn cháy như đuốc. Họ có vẻ vẫn chưa học được bài học từ câu chuyện ban đầu trong đó Lê Văn Tám cháy nhưđuốc mà vẫn chạy được thêm 50 mét nữa.

Mười năm sau khi tôi viết về cuộc tranh cãi đó, một nhà báo khác của BBC, Lucy Worsely, đã tìm hiểu về cuộc nổi dậy chống lại thực dân Anh của Hoa Kỳ hồi thập niên 1770. Chương trình truyền hình công phu được thực hiện hồi năm 2019 nhưng đang được chiếu lại trên các kênh truyền hình của BBC và qua mạng internet. Hoá ra Hoa Kỳ cũng lại có những khoảnh khắc Lê Văn Tám của riêng mình.

Nhân vật hư cấu thứ nhất là bà Molly Pitcher, người anh hùng của Trận Monmouth hồi năm 1778. Bà Molly có nhiệm vụ tiếp nước cho chồng và đồng đội đang chiến đấu chống quân Anh. Nhưng rồi chồng bà trúng đạn, gục ngã. Ngay lập tức bà lao vào thay chồng nã đạn vào quân thù. Chuyện kể sau trận đánh bà đã được đích danh Tướng George Washington khen tặng. Thậm chí có những phiên bản nói bà được ông Washington phong làm trung sỹ. Chỉ có điều không hề có nguồn trực tiếp nào cả về nhân vật này mà chỉ có nguồn gián tiếp. Các nhà nghiên cứu về sau nói rằng đó là nhân vật gộp từ nhiều nữ anh hùng khác nhau. Nhưng không có bà Molly Pitcher nào trong lịch sử cả.

Phóng viên Lucy Worseley cũng tìm hiểu về một nhân vật anh hùng khác của thời đó, Paul Revere, người được cho là đơn thương độc mã phi ngựa vào một đêm hồi năm 1774 để báo cho các dân quân tập trung tại hai nơi chứa vũ khí ở Lexington và Concord tại Massachusetts biết quân Anh đang kéo tới. Kết cục là 75 lính Anh bỏ mạng ở hai bãi chiến trường trong khi chỉ có 50 quân Mỹ thiệt mạng do họ đã được cảnh báo và trực chiến khi quân Anh tới với số lượng thua xa dân quân Hoa Kỳ.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

Hạ Long Lưu Văn Vịnh: Trước Khi Bàn Luận Tình Thế Hoa Kỳ - Những Dữ Liệu Xã Hội Kinh Tế Nhân Chủng Không Thể Bỏ Qua.

SỰ RỘNG LỚN CỦA HỢP CHÚNG QUỐC HOA KỲ


Khoảng cách từ Đông sang Tây, từ San Francisco tới New York là -------- 4130km

Từ San Francisco tới Chicago là----------------------------------------------------3426km

Từ Paris sang Moscow chỉ có -------------------------------------------------------2831.8km

Từ Sài Gòn sang Bắc Kinh ----------------------------------------------------------3372km 

Nước Mỹ diện tích 9.372.6012 km2, Tầu 9.706.961 km2

Cả Bắc Mỹ Châu, Mỹ và Canada cộng lại thì hơn 19 tr km2, rộng hơn Nga 17 tr km2.

BÀN : chuyện xẩy ra ở New York, ở Cali vẫn không hề hấn gì, vụ 911 xẩy ra ở NY xa quá ! Bạo loạn ở vài khu Chicago, Minnesota, Seattle, Portland…chỉ là muối bỏ bể, media nói hàng giờ, nhưng ở Orange County, ở San Jose cũng chỉ biết qua TV. Cho rằng bạo loạn vài bang bờ Đông Bắc hay bờ Tây, thì cả 40 tiểu bang khác chắc không cuốn theo chiều gió độc.

Nhiều so sánh, như Y tế Canada (dân số bằng 1/10 dân số Hoa Kỳ) với Mỹ là chuyện không khách quan, so sánh với nước nhỏ, dân thuần chủng như Đức, Pháp… với đa chủng Mỹ cũng không ổn, nước Mỹ có những điểm độc đáo, không giống nước nào khác.

DÂN SỐ và CHỦNG TỘC

Từ 2010 tới 2019 dân số Hoa Kỳ tăng từ 308 tr lên 328 tr, năm nay 2020 là 331 tr.

Sinh xuất gần 12/1000, ước lượng hơn 400 tr dân vào năm 2067.

Thành phần da trắng 76.3% (nếu không kể trắng Hispanics hay Latino, thì chỉ còn 60%)

Đen 13.4 %, Hispanics 18.5%, Á Đông 5.9%

2045 theo Brookings : Da trắng sẽ là thiểu số 49.7%, Hispanics tăng 24.6%, Đen 13.1%, Á Đông 7.9%

Nguyễn Đình Cống: Một sự thật không được nói tới

Kỷ niệm Ngày Thương binh liệt sĩ (TBLS), tôi được mời dự lễ và nhận quà. Chẳng là gia đình tôi có 5 liệt sĩ là cha tôi và các con cháu của ông, còn gia đình tôi là gia đình có công với CM.

Trong tất cả các buổi lễ từ Trung ương đến thôn xóm, mọi người đều ca ngợi sự hy sinh to lớn của TBLS cho độc lập và thống nhất đất nước. Mọi diễn văn, mọi phát biểu đều cho rằng tinh thần yêu nước của các TBLS là sáng ngời và bất diệt để cho đất nước có được như ngày nay.

Nghe tất cả các lời ca ngợi, tri ân và kể công như vừa rồi tôi bỗng khẳng định một thủ đoạn ngụy biện nguy hiểm của tuyên truyền cộng sản, đó là cố tình tô vẽ những phần phụ mà không nói tới bản chất của sự hy sinh. Bản chất sự hy sinh của TBLS có mục đích chủ yếu là nhằm thiết lập và củng cố sự toàn trị của Đảng Cộng sản (ĐCS). Chắc rằng không phải tôi mà rất nhiều người cũng đã phát hiện ra điều này từ lâu, đã trình bày ở đâu đó, nhưng tôi chưa tiếp cận được. Thủ đoạn ngụy biện này tôi cũng đã phát hiện trước đây, nhưng chưa khẳng định. Chỉ đến ngày 27 tháng 7- 2020, nghe nhiều về TBLS tôi mới khẳng định sự ngụy biện đó.

Không nói tới bản chất là vô tình hay cố ý che giấu. Nếu cố tình che giấu thì vì mục đích gì?

Các TBLS hy sinh xương máu là để phục vụ ĐCS làm cách mạng, làm chiến tranh. Họ nghe theo lời tuyên truyền của Đảng nói rằng để giành độc lập và thống nhất đất nước. Đúng là có việc đó thật, nhưng mục đích chính của ĐCS không phải vì việc đó. Độc lập và thống nhất chỉ là bước trung gian, chỉ là phương tiện. Mục đích chính của ĐCS là chiếm chính quyền để áp đặt sự thống trị khắp toàn quốc, lên toàn dân.

Người ta nói nhờ có ĐCS nên Việt Nam mới có ngày nay.

Vậy có ngày nay là có gì?. Đó là một đất nước do ĐCS độc quyền toàn trị. Đó là điểm khác rất cơ bản so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự hy sinh xương máu của nhiều triệu người Việt chính là để thiết lập nên sự thống trị độc quyền của ĐCS. Đó là sự thật đang tồn tại mà người ta cố tình nói dối rằng họ sáng suốt lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Phải chăng đó là những thắng lợi của đảng, còn với dân tộc thì lợi ít hại nhiều.

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc


Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
"Kiến tạo địa đàng - hạnh phúc"
Khốn nạn thay!

Tôi có chút giao tình (không đậm đà gì mấy) với nhà văn Vũ Thư Hiên. Chúng tôi không sinh cùng nơi, cũng chả sống cùng thời, tính tình lại hoàn toàn khác biệt nên chuyện trò giữa ông và tôi đôi lúc (nghe) hơi trệu trạo.

Gặp bất cứ ai tôi cũng chỉ thích nói về mình, và “văn mình” thôi. Văn mình vợ người là chuyện thường tình nhưng riêng Vũ Thư Hiên thì bất bình thường thấy rõ. Lúc nào ông cũng say sưa bàn về tác phẩm, hay nhân vật, của... một người cầm bút khác:

-Dứt khoát là phải làm một cuốn phim về cuộc đời của Già Đô thôi.

- Dạ vâng!

- Không làm thì tiếc lắm đấy.

- Dạ đúng!

Tôi cứ “vâng/dạ” đều đều (và nhẹ hều) như vậy vì chả hào hứng chút nào về chuyện của thiên hạ, và cũng vì đã nghe về cái dự tính điện ảnh này gần chục lần rồi. 

Già Đô là ai?

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

Wendy N. Dương Như Nguyện : Từ Thế Kỷ 20 Qua Thế Kỷ 21: Hình Ảnh Phụ Nữ Mỹ Gốc Á – Chúng Ta Phải Làm Gì Từ Bây Giờ? ( Dịch giả: Thường Đức Ái Chân -hiệu đính bởi tác giả) (Tiếp theo và hết)

II- Định kiến về cánh bướm hay mặc cảm tự kỷ


Ý nghĩa triết học, tinh thần, và nữ tính của hình ảnh “Cánh Bướm” trong văn chương phương Đông, tuy nhiên, lại ít được biết đến ở phương Tây. Qua âm nhạc của Puccini, phương Tây làm quen với việc xem hình ảnh Hồ Điệp Tử tiêu biểu cho nữ tính Á Đông, tôi gọi đó là “Định kiến Cánh Bướm” hay “mặc cảm Cánh Bướm” (một loại ám ảnh tự kỷ). Bài viết này là một cố gắng khám phá mô thức này, nhìn lại và xử dụng các ví dụ từ văn chương và nghệ thuật biểu diễn cuả nước Mỹ trong thế kỷ 20:

-khi có sự kết hợp trao đổi giưã hai khối văn hoá Á và Mỹ sau thế chiến thứ hai, khi Nhật đã đầu hàng vì sự tàn phá cuả bom nguyên tử từ Mỹ;

-khi vấn đề căng thẳng chủng tộc và sự bình đẳng về quyền làm người trở nên tiên quyết ở cường quốc như Mỹ và Âu Châu; 

-và khi cuộc chiến tranh lạnh giưã hai khối tư bản – cộng sản đem đến những rối rắm phức tạp giưã Âu Mỹ và Á, cùng với những cuộc chiến tranh “đại diện” đẫm máu xẩy ra ở Á Châu (tôi tạm dịch chữ “proxy war,” thí dụ như chiến trường Triều Tiên và Việt Nam), lại qua chiến trận Trung Đông và thảm kịch 9/11 tái mở màn cho chiến tranh tôn giáo; 

-và sau cùng là việc tạo dựng một thế giới mới về tin học trước thềm ngưỡng cửa thế kỷ 21.

Tất cả những dữ kiện lịch sử xuyên thiên kỷ ấy bắt buộc tạo nên sự thay đổi về cách xử dụng nhân tố toàn cầu, đem lại những điều kiện mới “ắt có mà vẫn chưa đủ” về cách nhìn phụ nữ và Châu Á. 

Trước những bối cảnh khá nhiễu nhương đó, tôi quay lại ý nghĩa triết học, tinh thần, và nữ tính của hình ảnh “Cánh Bướm” trong văn chương phương Đông; tuy nhiên, “cánh bướm triết lý vô giới tính,” rất truyền thống ấy ở phương Đông lại ít được biết đến ở phương Tây. Hãy so sánh những “motifs” này với thực trạng cuả thế kỷ 20, thế kỷ cuả cấu xé, tranh thủ, đọ sức, thử lưả, nhưng lại là bước sưả soạn cho thế kỷ 21 – chúng ta ngày nay, những khuôn mặt phụ nữ cuả cội nguồn Châu Á ở Tây Phương, đang tiến hay lùi? 

I- Phụ nữ Á Đông trong nghệ thuật trình diễn


Hãy lấy màn bạc làm ví dụ đầu tiên. Theo thông lệ truyền thống, chúng ta luôn luôn thấy phụ nữ Á Đông như là những cô gái bán hoa, người hầu, hay nông dân chân lấm tay bùn. Năm phút trên màn hình, họ bị làm tình, cưỡng hiếp, đánh đập hay bắn chết. Nếu không bị cưỡng hiếp hay bắn chết, thì họ là những “đàn bà mê hoặc”: nhiều âm mưu, ưa đồng lõa, nham hiểm nhằm mục đích giết chết hay đứng về phía kẻ thù, có khi là cướp lấy...đồng đô la(!!!): hình ảnh của những con rồng cái hay cọp cái!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Wendy N. Dương Như Nguyện : Từ Thế Kỷ 20 Qua Thế Kỷ 21: Hình Ảnh Phụ Nữ Mỹ Gốc Á – Chúng Ta Phải Làm Gì Từ Bây Giờ? ( Dịch giả: Thường Đức Ái Chân -hiệu đính bởi tác giả)


Tác giả Wendi N. Dương Như Nguyện

LỜI GIỚI THIỆU:

Wendy Nicole NN Duong (Dương Như Nguyện) sinh ở Hội An, Việt Nam,đến Hoa Kỳ năm 1975 khi cô khoảng 16 tuổi, một tháng sau khi cô nhận giải Danh Dự Văn Chương Phụ Nữ Toàn Quốc Lễ Hai Bà Trưng cuả Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1992, cô trở thành luật sư đầu tiên gốc Việt được bổ nhiệm vào ghế quan tòa tại thành phố Houston, được Luật Sư Đoàn Hoa Kỳ vinh danh là một trong những phụ nữ da màu tiên phong cuả ngành tư pháp Mỹ. Cô từ bỏ vị trí ứng viên chung kết đại diện các bang vùng Tây Nam tranh học bổng Tòa Bạch Ốc(White House Fellowship) năm 1991, từ chức thẩm phán Texas để làm việc ở châu Á và châu Âu (Who’s Who in the World 1996), đồng thời cô theo đuổi nghệ thuật trình diễn và viết văn ngoài việc hành nghề luật sư thương mại quốc tế. Năm 2000, cô chọn nghề dạy luật toàn thời gian, cống hiến gần 12 năm đời sống vào địa hạt giáo dục. Năm 2011, bộ ba tiểu thuyết cuả cô về lịch sử người tỵ nạn Việt Nam ở Mỹ qua tiếng nói của nhân vật nữ, chưa hề được gửi đi tham dự bất cứ giải thưởng văn chương nào trong dònh chính nước Mỹ, lại được nhà xuất bản cuả cô, AmzonEncore, gửi đi và nhận giải văn học quốc tế bộ môn tiểu thuyết đa văn hoá, do một cơ quan ở Mỹ tổ chức cho tác phẩm tiếng Anh từ phía ngoài nước Mỹ. Sau khi phục vụ chương trình Fulbright cuả Mỹ, cô quyết định quay trở về săn sóc và cận kề song thân trong tuổi già ở Texas. 

***

LỜI NÓI ĐẦU CỦA TÁC GIẢ: 


Năm 1989, tôi dự thi cuộc tuyển lựa diễn viên cho vở nhạc kịch “Miss Saigon” ra mắt lần đầu ở thành phố New York. Trong cuộc thi tuyển bán kết cattle call ở Broadway, không có ai là Việt Nam thực sự, ngoài tôi. Trong cuộc tuyển lựa, Cameron Mackintosh, lúc đó còn rất trẻ, hỏi tôi tại sao một luật sư lại muốn...đi hát kiểu này. Tôi trả lời, đó là vì ...Giọt Mưa Trên Lá!!! [1]
Footnote 1: Tôi đi dự thi Miss Saigon trong khi chưa có sự đào luyện đúng nghĩa về sân khấu thanh nhạc, bằng cách hát bài Gịot Mưa Trên Lá cuả Phạm Duy, pha trộn lời Việt với lời Anh, theo lời đề nghị cuả bác Nguyễn Túc ở Virginia và giáo sư âm nhạc Elizabeth Verenios cuả đại học American và Catholic, vùng Hoa Thịnh Đốn. Tôi phảỉ xin nghỉ làm ngày thứ sáu để lên Nữu Ước dự thi. Ngày thi thì tôi lại mất giọng vì bị cảm, chắc là vì quá mệt. Trước khi hát, tôi giới thiệu bản nhạc như sau: Mưa là nước mắt cuả Trời, mà Lá là từ trái tim cuả Đất, Khi Mưa gặp Lá, th̀i đó mới là tiếng lòng cuả cô em bé nhỏ, Miss Saigon. Nếu quý vị đem cô em bé nhỏ cuả Saigon lên sân khấu Hoa Kỳ, thì xin nghĩ đến nước mắt cuả Trời và trái tim cuả Đất. Rain is the tears from Heaven, and Leaves are part of the heart of Earth. When Rain meets Leaves, there lies the voice of Miss Saigon. If you put on a stage production for the little woman from Saigon, please think of the tears from Heaven and the heart of Earth. 

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Lê Mạnh Hùng: Nước Mỹ bị chia đôi

Quyền sống, quyền tự do và quyền không đeo khẩu trang: một con siêu vi giữa lòng nước Mỹ bị chia đôi.

Nếu một quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học kỹ thuật không thuyết phục nổi công dân của mình đeo khẩu trang trong một trận đại dịch thì đúng là quốc gia đó có vấn đề.

Và đó là sự thật mà nước Mỹ phải đối mặt vào lúc mà một loài siêu vi siêu truyền nhiễm hoành hành vào đúng lúc mà dân Mỹ kỷ niệm ngày Lễ Độc Lập, ngày lễ mà thông thường người ta tụ họp nhau để ăn mừng.

Với số người nhiễm bệnh mới càng ngày càng nhiều, các chuyên gia về y tế công cộng e ngại rằng không có đủ số người Mỹ thấy rõ nguy cơ – hoặc tệ hơn nhìn cuộc khủng hoảng này qua lăng kính ý thức hệ chính trị trong một năm bầu cử.

“Thật là một tình trạng quái đản mà chúng ta rơi vào khi mà đeo khẩu trang trở thành môt tuyên ngôn chính trị. Chúng ta cần phải thức tỉnh mà nhận rằng bệnh dịch này không có tự nó biến mất đâu.”

Đó là lời than thở của ông Cameron Wolfe, giáo sư về bệnh truyền nhiễm tại trường đại học y khoa, Viện Đại Học Duke.

Một quốc gia mà có nhiều người được giải thưởng Nobel nhất thế giới, phát triển thuốc chủng đầu tiên chống bệnh tê liệt, đưa con người đầu tiên lên mặt trăng, nay trở thành nước chống siêu vi virus Corona tệ hại nhất. Mỹ có con số bị nhiễm bệnh cao nhất – trên 2.8 triệu người và còn đang tăng nhanh thêm – cũng như số người chết vì bệnh cao nhất – trên 130,000 người.

Phản ứng trống đánh xuôi kèn thổi ngược tại Mỹ đã tạo ra một làn sóng chỉ trích chống lại chính quyền Donald Trump. Thế nhưng dịch bệnh này cũng rọi một tia sáng vào căn bệnh chính của xã hội Mỹ: chính trị hóa khoa học, tán loạn thông tin và bất bình đẳng kinh tế xã hội. Những căn bệnh này đã ngấm ngầm lan tràn bên trong nước Mỹ từ nhiều chục năm nay và nay làm cho nước Mỹ trở thành đặc biệt nhạy cảm với dịch bệnh như COVID-19.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

Từ Thức: Nhân Phẩm, Một Xa Xỉ Phẩm?


Một hình ảnh điển hình của xã hội VN ngày nay. Những thiếu nữ bị còng tay, gục đầu tìm miếng ăn.

Doanh nghiệp tổ chức cuộc làm nhục tập thể này nói đó là phương pháp huấn luyện nhân viên vượt qua mọi thử thách, để ‘’đạt mục tiêu trong đời, để có cuộc sống tốt đẹp hơn’’.

‘’Khi các bạn đang nỗ lực thì những người ngoài kia nỗ lực hơn các bạn rất nhiều. Thử thách này, nếu các bạn không vượt qua thì quá tầm thường’’, nghĩa là không xứng đáng trở thành…nhân viên bán hàng đa cấp !

Tóm lại, muốn có một chỗ đứng bán hàng kiếm tiền đong gạo, phải tự làm nhục, phải đặt mình ngang hàng với súc vật, phải quẳng vào thùng rác nhân phẩm con người.


Người ta hiểu hơn những thái độ, những hành động còn vô liêm sỉ hơn nữa, khi mục tiêu lớn hơn, hàng tỷ dollars. 

Angela Merkel nói: về nhân phẩm con người, chúng ta không thể nhân nhượng.

Ý thức về nhân phẩm, liêm sỉ là thành trì cuối cùng để ngăn chặn con người trở thành con vật, nhất là trong hoàn cảnh thiếu thốn, đói khát, trong một xã hội bất công, bệ rạc, tất cả có thể, và phải mua bằng tiền.

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đi Sing

Mỗi năm có khoảng 3.000 người bị đưa sang Malaysia và 2.000 người sang Singapore lao động trái phép, thực sự là hoạt động mại dâm.
Đại Tá Lê Văn Chương, Cục Phó (C42) Bộ Công An


Trước 1975, ở bùng binh ngã Sáu (kế góc đường Gia Long và Lê Văn Duyệt) có cái biển nhỏ xíu xiu: Sài Gòn – Nam Vang 280 KM. Mỗi lần đi ngang qua đây, tôi đều nhớ đến cái câu ca dao mà mình được nghe từ thưở ấu thơ: Nam Vang đi dễ khó về…

Bây giờ thì đi hay về từ Cambodia đều dễ ợt nhưng gần như không còn ma nào muốn hẻo lánh tới cái Xứ Chùa Tháp nghèo nàn này nữa. Cũng nhếch nhác ngột ngạt thấy bà luôn, ai mà tới đó làm chi… cho má nó khi. Thời buổi này phải đi Sing mới đã, dù qua đây rất khó và về thì cũng vậy – cũng chả dễ dàng gì.

Blogger Trương Châu Hữu Danh than phiền: “Có lần tôi đi du lịch cùng vợ, vợ tôi bị tách ra để họ phỏng vấn. Vì phụ nữ Việt Nam trẻ đẹp là họ nghĩ... sang Sin bán dâm.”

Nhà báo Huy Phương trách móc: “Báo chí lại loan tin, những người Việt Nam, đồng bào của chúng ta, từ Sài Gòn đến phi trường Changi, Singapore, bị từ chối nhập cảnh, nói rõ ra là bị đuổi về.

Singapore là một trong 48 quốc gia mà người mang thông hành Việt Nam vào không cần thị thực, nhưng lần này mặc dù có đầy đủ giấy tờ tùy thân, nhiều hành khách Việt Nam, phần lớn là phụ nữ, vẫn bị nhà chức trách Singapore từ chối cho vào xứ của họ...

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể ‘khúc ruột ngàn dặm’ trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng.”

Phúc Tiến: Tên đường, tên phố - bao giờ mới hết truân chuyên?

Tại TP.HCM, Ban quý tế Lăng Ông đang kiến nghị “đặt lại” tên Lê Văn Duyệt cho con đường mang tên Đinh Tiên Hoàng chạy ngang di tích thiêng liêng này. Nói “đặt lại” vì trước tháng 4.1975, con đường vốn dĩ mang tên vị Tổng trấn Thành Gia Định lừng danh. Cũng chính trên con đường này từng có một trường nữ trung học mang tên Lê Văn Duyệt, sau giải phóng đổi thành Võ Thị Sáu.

Câu chuyện thay đổi tên đường, tên đất ở Việt Nam sau các biến động lịch sử nhiều năm nay vẫn là “chuyện dài nhiều tập” bởi chưa giải tỏa được nhiều hệ lụy sau mỗi lần đổi hay đặt tên. Thêm nữa, các nguyên tắc đặt tên chỉ mới được đưa vào văn bản pháp quy thống nhất cả nước gần đây, song chính việc thực hiện từng lúc từng nơi cũng không giống nhau.

Truân chuyên sau các biến cố


Lê Văn Duyệt là một điển hình cho câu chuyện nhìn nhận khác nhau một nhân vật lịch sử tùy thuộc vào các chính quyền khác nhau, thời điểm khác nhau. Thời Gia Long, ông là “khai quốc công thần” song sang thời Minh Mạng ông bị nhà vua ghét bỏ, coi là “nghịch thần”. Thậm chí, sau khi ông qua đời, Minh Mạng còn cho tước bỏ chức vụ và san bằng mộ phần. Sang đời Thiệu Trị và Tự Đức, ông lại được minh oan, phục hồi thanh danh và lăng mộ. Thời Pháp, tên ông được đặt cho một con đường nhỏ bên hông chợ Tân Định (về sau đổi thành Mã Lộ).

Trong khi đó, người dân vẫn truyền miệng một cách thành kính tên đất Lăng Ông và Vườn Ông Thượng (tên chính thức là công viên Maurice Long, sau đổi thành Tao Đàn). Sau 1955, hầu hết các con đường mang tên Pháp tại Sài Gòn và miền Nam đều được chính quyền Ngô Đình Diệm đổi sang tên Việt. Trong đó, con đường lớn Verdun ở Sài Gòn, nguyên là con lộ duy nhất từ thế kỷ XVIII nối Gia Định thành với biên giới Chân Lạp (Campuchia) được đổi sang tên Lê Văn Duyệt. Đặt tên ông cho con đường này là rất phù hợp, bởi Lê Văn Duyệt chính là người có công xây đắp con lộ ấy và lãnh đạo công cuộc phòng thủ phía Tây, ngăn chận Xiêm La (Thái Lan) xâm chiếm đất Việt. Tên Lê Văn Duyệt còn được đặt rất hợp lý cho con đường băng qua lăng mộ của ông. Cũng tại khu vực Lăng Ông, ngoài đường Lê Văn Duyệt, còn có các con đường mang tên các danh tướng và công thần cùng thời với ông như Lê Quang Định, Nguyễn Văn Học, Trịnh Hoài Đức, Đỗ Thành Nhân, Nguyễn Văn Thành…

Đã từng có hai đại lộ Lê Văn Duyệt tại Sài Gòn từ 1955-1975 (vị trí mũi tên). Bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1956 cho thấy đại lộ Lê Văn Duyệt trên địa bàn Đô thành Sài Gòn, bắt đầu từ Ngã sáu Sài Gòn (nơi đặt tượng Phù Đổng Thiên Vương sau này) kéo dài lên Ngã tư Bảy Hiền hướng đi Tây Ninh và Campuchia (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Còn đại lộ Lê Văn Duyệt thứ hai, nằm trên địa bàn tỉnh Gia Định (sau tháng 4.1975, Sài Gòn và Gia Định hợp nhất), bắt đầu từ Cầu Bông qua Lăng Ông hướng đi Thủ Dầu Một và Biên Hòa, nối tiếp đường Đinh Tiên Hoàng của quận Một (tư liệu của tác giả). Sau tháng 4.1975, đường Lê Văn Duyệt bị nhập vào đường Đinh Tiên Hoàng. Nếu trở lại tên hai con đường riêng biệt thì vẫn đảm bảo giá trị lịch sử đồng thời không ảnh hưởng đến việc phân biệt số nhà và địa giới! Ảnh: TLTG