Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Cao Ðàm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Cao Ðàm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Vũ Cao Đàm/ BVN - Chấn hưng dân trí: Quan trí cũng phải được chấn hưng cùng Dân trí


Tôi thật ấn tượng với bốn câu đề tựa cho Tập thơ Cửa mở ra mắt công chúng rồi bị thu hồi và lại được tái bản từ thập niên 1960 của Việt Phương:

“Ơi vì sao sáng trên trời
Sao long lanh thế? Vì đời cần sao
Mai này ta đủ tầm cao
Sao cần ta đó, nên sao sáng ngời”

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Vũ Cao Đàm - Lại bàn về quan hệ giữa khoa học và chính trị



Vũ Cao Đàm

Vừa qua, Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đã ra một nghị quyết về khoa học và công nghệ (KH&CN).
Có thể ghi nhận, trên lời lẽ thì đó là một chỉ dấu tốt.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế mà nói, qua kinh nghiệm của tất cả các quốc gia trong hệ thống XHCN, ngoài việc sử dụng các thành tựu KH&CN để chế tạo vũ khí, chưa có một quốc gia nào có nền KH&CN phát triển theo đúng nghĩa. Ở Việt Nam, một cái kim cũng không làm được; các nguyên liệu quan trọng như thép đều phải đi nhập; và trong đời sống khoa học thì một kẻ có chút bằng gọi là “Viện sĩ nước ngoài” (cầm chắc mười mươi là dỏm) lại đứng ra cổ vũ hết lời cho một tên bịp làm cái trò “biến nước thành xăng”. Nguyên nhân nào dẫn đến bức tranh bi hài thê thảm kia?
Tác giả Vũ Cao Đàm, trong những năm làm Viện trưởng một viện nghiên cứu về chính sách KH&CN thuộc Bộ KH&CN, có nhiều cơ hội được tiếp xúc với các nhà làm chính sách KH&CN ở các nước thuộc cả khối XHCN và ngoài XHCN, đã mạnh dạn nêu lên một số ý nghĩ trong bài viết này với hy vọng góp phần gỡ những “nút cổ chai” thắt nghẹt trong bao nhiêu năm để dần dần hiện thực hóa mong muốn phát triển KH&CN vốn rất quen thuộc trên ngôn từ, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. - Bauxite Việt Nam  

Quan hệ giữa khoa học và chính trị là một chủ đề đã tiêu tốn rất nhiều giấy mực qua bao thế hệ của cả giới khoa học gia và giới chính trị gia, không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Tôi thử vào mạng, tra cụm từ “The relationship between science and politics”, thì chỉ trong 30 giây đã hiện lên 228 triệu mục từ có nội dung liên quan.

Trong các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), chủ đề này không chỉ được bàn trong giới học thuật, mà còn được thể hiện trong các văn kiện của các đảng cộng sản cầm quyền.

Các sách giáo khoa triết học marxist có cả một chương về “Hình thái ý thức xã hội” đề bàn về mối quan hệ này. Tra mục từ “Hình thái ý thức xã hội” trong Từ điển triết học Liên Xô (Bản tiếng Nga năm 1975, Bản tiếng Việt năm 1986), chúng ta suy ra được những điều thú vị. Tôi xin tóm tắt mấy ý sau:
- Thứ nhất, khoa học và ý thức hệ chính trị, là 2 trong một số hình thái ý thức xã hội.

- Thứ hai, mỗi hình thái ý thức xã hội có một chức năng xã hội và một hình thức biểu hiện riêng biệt

- Thứ ba, các hình thái ý thức xã hội thì tương tác, nhưng độc lập tương đối, chứ không lệ thuộc lẫn nhau.
Tôi không phải nhà nghiên cứu marxist, nên tôi không có ý định tra cứu xem Marx đã nói câu đó ở đâu, nhưng cứ theo như Từ điển triết học Liên Xô, thì chắc chắn điều này họ không thể nói trái với ý ông tổ ý thức hệ Karl Marx của họ.

Tuy nhiên, các chính trị gia và một số khoa học gia ở các nước XHCN, miệng thì nói là theo học thuyết của Marx, nhưng thật ra có việc họ đã không làm theo những gì mà sách triết học marxist đã viết. Một trong những việc đó là xử lý mối quan hệ giữa khoa học và chính trị không theo những gì mà triết học Marx viết ra, như tôi vừa trích dẫn từ cuốn Từ điển triết học Liên Xô.

Cái sự bi hài đáng được bàn đến có hai mặt: Một mặt, giới khoa học và giới chính trị kỳ thị nhau, bài xích lẫn nhau, trong đó, giới chính trị nắm đầy quyền lực đàn áp giới khoa học, nếu thấy những điều họ nói đụng chạm đến quyền lực của giới chính trị. Một mặt khác, giới khoa học và giới chính trị lợi dụng nhau. Hai mối quan hệ này không tách bạch ra một cách rạch ròi, mà nó xen lẫn vào nhau, khiến người đời không dễ gì nhận ra như ranh giới giữa hai màu đen và trắng.

*

Một lần tôi đọc được ở đâu đó, câu nói rất hay của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, rằng không được xem khoa học là một thứ “nàng hầu” của chính trị. Ông Trần Bạch Đằng dùng từ “nàng hầu” là một từ Việt rất cổ, với nghĩa là những cô gái nuôi trong nhà để hầu hạ và phục vụ việc chăn gối cho ông chủ.

Tôi nhớ, hồi 1978, khi được mời đến dự lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập một viện nghiên cứu về khoa học xã hội rất lớn ở Việt Nam, tôi được tặng một cuốn sổ kỷ niệm của viện này, với một câu viết rất trang trọng ở trang đầu tiên: “Khoa học xã hội Việt Nam phải có nhiệm vụ giải thích đường lối của Đảng CSVN”. Mấy vị ngồi quanh tôi thầm thì to nhỏ: “Vậy nhỡ đường lối của Đảng sai thì khoa học xã hội Việt Nam giải thích thế nào nhỉ?” Tôi nghe người kia hích ông ta: “Suỵt, chớ có nói dại. Đường lối của Đảng chỉ có từ đúng trở lên”.

Điều đó sau này được giải thích là do “chúng ta” còn ấu trĩ. Không biết cái “chúng ta” ở đây là ai? Là giới nghiên cứu lý luận Mác-Lê, hay là các nhà khoa học xã hội nói chung, hay là ai đó… ngồi ở vị trí “cao hơn” những người ấy?

Cho đến khi ông Đỗ Mười lên làm Tổng bí thư (1991), thì trong cuộc gặp gỡ các nhà khoa học tại Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đầu xuân 1992, ông nói một câu gây chấn động dư luận: “Khoa học phải có nhiệm vụ phản biện đường lối của Đảng và, hơn nữa, phải góp phần xây dựng luận cứ cho đường lối của Đảng”. Có lẽ ông là nhà lãnh đạo đầu tiên (ở cấp bậc của ông) nói đến khái niệm “phản biện”.
Tôi nghe nhiều người chê trách ông Đỗ Mười về một số việc nọ việc kia… Thôi thì đấy là việc của họ, nhưng riêng cái cách nhìn nhận vai trò khoa học như thế này của ông Đỗ Mười thì đáng đánh giá ông cao lắm. Bởi vì, ngay giờ phút này đây, có nhà khoa học nào phê phán cái gì đó nghe nghịch nhĩ một chút thì vẫn dễ dàng bị quy chụp là “mắc mưu thế lực thù địch”. Cái người viết bài để quy chụp ấy có khi còn ký tên là “Giáo sư”, “Tiến sỹ” gì gì nghe oai phong về khoa học lắm.

Tôi muốn nói cần phải đánh giá ông Đỗ Mười rất cao về quan điểm này, vì ngay đến tận hôm nay, hai mươi năm sau ông Đỗ Mười nói được một câu hay như tôi vừa trích dẫn trong quan hệ giữa khoa học và chính trị, vẫn không có được mấy người trong giới chính trị nói được như ông đâu. Họ vẫn quan niệm rằng khoa học phải có nhiệm vụ minh họa đường lối chính trị, rất sợ bọn khoa học nghiên cứu những điều “trái” với đường lối của Đảng. Điều này thậm chí còn được viết trong một số văn kiện chính thức, rằng “Không được lợi dụng công việc nghiên cứu khoa học để xuyên tạc đường lối của Đảng”.


Tôi nhớ lại có hồi tôi được Vụ tổ chức của Bộ cử đi học lớp chính trị cao cấp, được nghe một vị giảng viên tên là Trần N… giảng một bài rất thú vị như sau: “Vì sao giai cấp công nhân kiên định cách mạng, còn bọn trí thức thì bấp bênh dao động và sợ địch?... ” Rồi ông giảng giải: “… Là … là tại vì bọn trí thức nó lắm ngoại ngữ, nó đọc ghê lắm, nó đọc nhiều lắm, nó đọc suốt ngày, vì thế nó biết hết bọn đế quốc sài lang, vì thế mà nó sợ”. Ông Trần N. có lẽ chỉ hơn tôi dăm ba tuổi gì đó, cho nên chắc hiện nay ông vẫn còn mạnh khỏe và chắc sẽ đọc được những điều tôi vừa viết.

Đương nhiên, giới chính trị không biết đến các chuẩn mực của khoa học: Năm 1942, nhà xã hội học (về) khoa học của Mỹ, Robert K. Merton đưa ra bốn chuẩn mực cho cộng đồng khoa học, viết tắt là CUDO, và được giải thích như sau: (1) Tính cộng đồng (Communalism); (2) Tính phổ biến (Universalism); (3) Tính không vị lợi (Disinterestedness) và (4)Tính hoài nghi (Organised Skepticism). Vào khoảng thập niên 1970, cộng đồng khoa học bổ sung thêm một chuẩn mực nữa: (5) Tính độc đáo (Originality), và cụm từ viết tắt được kéo dài thành CUDOS. Chữ O trước đây là viết tắt của “Organized Skepticism”, thì nay dùng đại diện cho “Originality”

Trong 5 chuẩn mực này, có một chuẩn mực khiến các chính trị gia rất ghét bọn khoa học. Đó là “tính hoài nghi”. Nhưng các thế hệ khoa học thì luôn nhắc nhở nhau, phải biết hoài nghi mọi kết quả nghiên cứu.

Tuy ghét giới khoa học, nhưng giới chính trị hiện đại rất sính các loại mác khoa học, chưa có bằng Cử nhân thì phải kiếm cho được cái bằng Cử nhân, chưa có bằng Tiến sỹ thì phải kiếm cho được cái bằng Tiến sỹ, có bằng Tiến sỹ rồi thì chạy cho được cái hàm Giáo sư. Theo họ, hình như cái mác khoa học này sẽ làm cho tiếng nói của họ được tin cậy hơn… Chúng ta có thể thấy nhan nhản những bài viết đủ mác nọ mác kia, nhưng sặc mùi chính trị lỗi thời.

Chưa hết, các phe phái chính trị đánh nhau cũng rất thích dùng một số “nhà” khoa học làm cái mà ngôn từ đường phố Hà Nội hiện đại gọi là “chân gỗ”, là thứ chân chắp cho những anh què. Cái loa của các “giáo sư” và “tiến sỹ” này được phát đi rất to, đánh vào cái yếu mà phe kia cần khai thác…, trong khi nói như cụ bà Lê Hiền Đức, là “Mặt ông nào cũng nhọ cả”… Cái ông ăn cơm Tàu thì đánh cái ông ăn cơm Tây hoặc ăn hớt của dân. Ăn cơm Tàu thì dân không thấy được, còn ăn hớt của dân thì dân nào cũng trông thấy… Vì thế bắc loa chửi cái thằng ăn hớt của dân dễ được lòng dân.

Trong cơn bão lốc tấn công bọn tham nhũng, tôi đọc được trên blog của nhạc sỹ Tô Hải một bài “Phấn Đấu Ký” (đã lâu tôi không tra cứu lại được, bạn nào tra cứu được xin mách giùm) rất thú vị. Cụ Tô Hải nói ý là: Cái thằng bị chửi kia (ý nói đồng chí X) chỉ là hạng ăn cắp vặt trong nhà so với cái bọn đang to mồm chửi. Cụ Tô Hải nói rõ thêm: Các vị to mồm chửi kia mới chính là những kẻ đang vác bom đặt trên nóc nhà mình”, Ý của cụ nói về những vị đang ôm bom của các đồng chí 4 tốt và 16 chữ vàng đặt trên nóc căn nhà của Tổ quốc chúng ta.

Bây giờ tôi xin bàn một chút về cái gọi là giới khoa học trong xã hội cộng sản. Có thể nói, người đầu tiên viết về khoa học trong xã hội cộng sản là một nhà vật lý chất rắn người Ireland, John Desmond Bernal (1901-1971), trong cuốn sách rất nổi tiếng “The Social Function of Science”, là cuốn sách đã khởi xướng một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ của thế giới, là “Khoa học về Khoa học” (Science of Science, ngày nay gọi là Science and Technology Studies) , trong đó ông đưa ra một cách hiểu mới về khái niệm “worker”, bao gồm các worker “cổ trắng” (giới trí thức), và worker cổ xanh (công nhân), ông cũng đưa khái niệm mới về thất nghiệp, gọi là thất nghiệp do công nghệ (technological unemployement), chứ không chỉ do tư bản bóc lột như quan niệm của Marx, và từ đó, khái niệm working class sẽ không còn chỉ được hiểu là giai cấp của giới thợ nữa, mà là của tất cả những ai là worker (cổ trắng và cổ xanh)

Ông là đảng viên cộng sản Anh, nhưng cuốn sách của ông bị giới triết học Liên Xô đả kích rất dữ dội ở Liên Xô và các nước XHCN, cho là những khái niệm mà ông đưa ra nhằm xóa nhòa ranh giới giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Điều này cho thấy, là giới chính trị Marxist luôn chống lại những gì mới mẻ trong khoa học. Công bằng nhìn lại, suốt gần trăm năm tồn tại các quốc gia XHCN, chưa có một ngành khoa học mới nào được khai sinh từ các quốc gia này. Không những vậy, tất cả cái mới trong khoa học đều bị giới chính trị Marxist đả kích, thậm chí những lĩnh vực khoa học chẳng dính gì đến chính trị như Toán Kinh tế còn bị đả kích ở Liên Xô suốt gần một thập niên.

Nhắc lại những sự kiện này, tôi muốn lắc một hồi chuông cảnh tỉnh các nhà chính trị hãy đối xử với khoa học phù hợp những chuẩn mực của nó do Merton khởi xướng và được cộng đồng khoa học thế giới thừa nhận và tuân thủ, xem như các thiết chế xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của nhà khoa học và của xã hội đối xử với khoa học.

Công bằng mà nói, tôi biết nhiều nhà lãnh đạo cộng sản thành tâm nghĩ đến việc sử dụng khoa học như một công cụ phát triển quốc gia của mình, nhưng các thiết chế chính trị cộng sản đã ngăn cản họ. Có lẽ chưa có một đảng cộng sản nào ra một nghị quyết hay của ban chấp hành trung ương đảng về khoa học như Nghị quyết về phát triển khoa học của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Hungary sau sự biến Hungary năm 1956, trong đó có đoạn viết rằng “Phải tránh các rủi ro chính trị cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội”.

Tuy nhiên cái mà một mình Đảng Cộng sản của Hungary hay một đảng cộng sản nào đó muốn tránh, thì cái gậy chỉ huy từ Moscow cũng không buông tha. Những tư tưởng khoa học về cải cách kinh tế theo hướng chủ nghĩa xã hội tự quản ở Nam Tư, hoặc chủ nghĩa xã hội thị trường ở Tiệp Khắc đã bị Liên Xô dẹp tan từ trong trứng nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra một nghị quyết trung ương về KH&CN. Xã hội Việt Nam ngày nay có những mặt cởi mở hơn nhiều so với Hungary và Tiệp Khắc trước đây. Đó là một chỉ dấu tích cực. Tuy nhiên, không phải là thừa khi chúng ta nhắc lại tiếng chuông cảnh báo rằng: các thiết chế xã hội của chủ nghĩa cộng sản vẫn là một yếu tố cản trở khoa học phát triển. Thiết chế ấy là cái mũ kim cô ý thức hệ luôn có xu hướng chống lại cái mới từ trong trứng nước, và ngày nay được trang bị thêm một cái mũ kim cô mới hơn nữa, gọi tên là “thế lực thù địch”, mà anh bạn “4 tốt”và “16 chữ vàng” đã lên tiếng cảnh báo “các đồng chí trong cộng đồng ý thức hệ” với họ [sự mách nước của bè lũ khốn này vô cùng thâm hiểm và kéo dài từ 1952 đến tận hôm nay đã khiến nhiều lúc người cầm chịch đất nước rơi vào những cái bẫy chết người, gây ra bao cảnh người Việt tàn sát người Việt không nương tay, nhưng khốn nỗi đó là lời phỉnh đường mật nên bao giờ ruồi cũng bâu lấy – Chú thêm của BVN].

Để kết thúc bài này, tôi muốn một lần nữa nhắc lại những ý quan trọng mà tôi ghi nhận được trong lời phát biểu của ông cựu Tổng bí thư Đỗ Mười: “Hãy sử dụng khoa học làm công cụ phản biện đường lối chính trị và xây dựng luận cứ cho việc hoạch định đường lối chính trị của Đảng”.

V.C.Đ.
Nguồn: Bauxite Việt Nam


Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Vũ Cao Đàm - Nhân dân ta cũng cần cảm ơn Trung Cộng với lời nguyền này của họ:“杀越寇为南沙之战祭旗”“Giết bọn giặc Việt để làm lễ tế cờ Nam Sa”

Vũ Cao Đàm


Bài dịch Giết bọn giặc Việt để làm lễ tế cờ Nam Sa (Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ – Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam) vốn do GS. Vũ Cao Đàm dịch và do tôi trực tiếp biên tập, được đăng trên trang Bauxite Việt Nam ngày 14-5-2010 (http://www.boxitvn.net/bai/3979). Sau đó, bản dịch đã được tiếp tục loan tải trên rất nhiều trang mạng khác của cộng đồng người Việt trong nước và nhiều nơi trên thế giới. Đó là điều thật sự đáng vui mừng, một chỉ dấu cho thấy tinh thần yêu nước vẫn là đặc điểm nổi bật, là nhân tố gắn kết quan trọng nhất giữa mọi con người Việt Nam hiện nay dù chính kiến có khác nhau.
Tuy nhiên, trong quá trình lan truyền, một điều không đáng có–và ở góc độ cá nhân, cũng ít ai muốn nêu lên – là tên người dịch dần dần bị bỏ quên cùng với xuất xứ trang mạng đầu tiên công bố bản dịch. Chúng tôi nghĩ, đây lại cũng là một nhược điểm có lẽ phần nào vẫn thuộc căn tính của người Việt, ở chỗ dấu ấn cá nhân trong các sản phẩm tinh thần hãy còn chưa được coi trọng. Cũng vì thế mà cái quyền lợi không hề mang tính vật chất nhưng lại gắn bó thiêng liêng với các sản phẩm tinh thần như bài viết, bản dịch…thường bị nhiều người vô ý bỏ qua, thậm chí đôi khi có người còn tùy tiện “lấy của người làm của mình” một cách tự nhiên.Chúng tôi nêu vấn đề này không ngoài mục đích để chúng ta cùng rút kinh nghiệm, dần dần đi đến hình thành những nguyên tắc ứng xử tuy là bất thành văn nhưng cần được tuyệt đối tôn trọng giữa các trang mạng với nhau, những nguyên tắc nó tạo nên một mối quan hệ trong sáng bất vụ lợi trong sinh hoạt của cộng đồng internet đang ngày một lớn mạnh phi thường – chính sự lớn lên như thiên thần Phù Đổng này mới hứa hẹn những biến đổi to lớn bất ngờ mà mọi thế lực tồi tệ nhất trên đời này dù có muốn chống lại cũng không sao chống nổi. - Nguyễn Huệ Chi
Hồi năm 2010 tôi đọc được một bài báo sặc mùi hiếu chiến được đăng trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn” là một trang mạng của Đảng Trung Cộng. Tôi đã dịch và gửi đăng trên trang Bauxite Việt Nam (BVN). Ngay sau khi BVN đăng tải, tôi rất vui mừng vì bản dịch rất nhanh chóng được lan truyền trên các trang mạng và blog của cộng đồng Việt, và nhận được những lời bình luận sôi sục tình cảm yêu nước thương nòi, căm thù bọn cộng sản xâm lược khát máu Đại Hán và thức tỉnh lương tri của những ai đang còn mê muội ảo tưởng vào giọng lưỡi xảo trá “đồng chí quốc tế vô sản”, “anh em môi hở răng lạnh”, “Bốn tốt” và “Mười sáu chữ vàng”. Bài báo kết thúc bằng lời nguyền: “Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ” (tiếng Hán là 杀越寇为南沙之战祭旗).Mấy hôm nay, bỗng dưng dân tình lại được nghe một số phương tiện truyền thông ồn ào những bản hợp ca… “biết ơn Đảng Cộng sản Trung Quốc anh em”, tôi sực nhớ đến bài báo “thắm tình anh em”, “đồng chí”, “môi hở răng lạnh” của cái “Đảng bạn” đểu cáng mà tôi đã dịch và gửi anh Nguyễn Huệ Chi cho đăng trên BVN, tôi bèn tìm lại bài báo gợi ý BVN đăng lại để toàn dân ta thêm một dịp nhìn nhận lại kẻ thù ngàn đời của dân tộc.Tôi cũng sục lại các trang mạng của Trung Cộng, thì ra bài báo này vẫn nhan nhản lan truyền trên khắp đất nước Trung Cộng, và đi kèm những ý kiến bình luận sặc mùi hiếu chiến của bọn thảo khấu trong cái Đảng Cộng sản Đại Hán đang phát xít hóa còn hung hãn khát máu hơn cả Hitler và Mussolini. Chúng ta cần biết rằng bài viết này đưa lên mạng Trung Cộng hồi 5g45p ngày 9 tháng 1 năm 2010, nghĩa là nó đã lan truyền trên mạng hơn hai năm nay.Thế rồi tôi đặt câu hỏi: Vì sao cái mà một số kẻ được gọi là “đảng anh em” lại đi rao giảng cái bài “Giết giặc Việt”? Vì sao chúng gọi nhân dân “anh em” là “Giặc”? Nhưng đau hơn, là vì sao mà một số người vẫn tâng bốc chúng là “ân nhân”, lại vuốt ve chúng là “anh em đồng chí”? Họ “khôn khéo”, hay họ “mơ ngủ”. Họ có biết rằng nhân dân sẽ hiểu là họ cố tình nhắc nhở nhân dân ta phải biết ơn, tệ hơn nữa phải cúi đầu thần phục cái bọn sơn lâm thảo khấu đó? Và hậu quả là nhân dân sẽ nghĩ gì về họ, nhất là khi họ không chỉ dừng lại ở những lời biết ơn các “đồng chí” thảo khấu sơn lâm, thẳng tay đàn áp những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, gọi những người yêu nước là “thế lực thù địch”, thậm chí đánh đập, hành hạ, và thẳng chân đạp vào mặt những người yêu nước… Họ có nghĩ sẽ đến một ngày nào đó tái xuất hiện một pho sách “Đại Nam thực lục chính biên hiện đại” – mà chắc chắn là thế –, ghi chép hay nói đúng hơn là đóng đinh những sự kiện này vào trong sử sách? Họ sẽ giải thích thế nào với các thế hệ con cháu mai sau?Tôi cũng có bài viết đăng trên BVN: “Đã đến lúc phải xóa món nợ ân oán giang hồ” với bọn sơn lâm thảo khấu Trung Cộng. Trong bài viết đó tôi đã thể hiện tâm nguyện phải khắc cốt ghi xương cái điều rằng: Đất nước Việt Nam đã đổ máu xương để thực hiện vai trò tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cho Trung Cộng sống trong hòa bình để xây dựng đất nước Trung Cộng lớn mạnh hôm nay. Chúng ta hãy đọc kỹ lời nói sau đây của ông Lê Duẩn: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy vì bom đạn của chúng, mà chính chúng ta là những con người, những con người thực sự, những con người Việt Nam, với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại.” Ông Lê Duẩn nói đến “trách nhiệm trước thời đại” chính là nói đến lý tưởng bảo vệ phe XHCN, được xem là “ý thức hệ tiến bộ nhất” của thời đại. Câu này được in trang trọng bằng chữ vàng trên nền son và được treo ở nhiều vị trí trong khu Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.
Để một lần ôn lại tội ác của bọn đế quốc Đại Hán, tôi đã đề nghị anh Nguyễn Huệ Chi cho đăng lại bài này, nhằm thêm một lần nữa khắc cốt ghi xương kẻ thù của dân tộc, và một lần nữa, tôi muốn khẳng định rằng: Chúng ta không cần phải biết ơn bọn Trung Cộng. Trung Cộng không xứng đáng để chúng ta biết ơn. Trung Cộng không đủ tư cách để người Việt Nam biết ơn. Chính Trung Cộng phải biết ơn nhân dân Việt Nam, vì đã có hàng triệu người con của cả hai phía Việt Nam ngã xuống để tạo một vành đai chắn cho Trung Cộng và phe XHCN được yên hàn xây dựng cuộc sống hòa bình. Cái phe XHCN được bảo vệ đó ngày nay đã sụp đổ, Trung Cộng đang trên đường phát xít hóa. Cái “trách nhiệm trước thời đại” thuở xưa cũng đã đi vào quá vãng.Với việc đăng lại bài này, tôi xin khẳng định, Trung Cộng đang là mối họa lớn nhất của thời đại, mối họa lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Cuộc chiến đấu chống Trung Cộng ngày nay mới đích thực là “trách nhiệm trước thời đại” như lời nói của ông Lê Duẩn.Với việc đăng lại bài này, tôi xin được xen một tiếng nói vào bản hợp xướng “Biết ơn Trung Cộng”: Nhân dân Việt Nam cần biết ơn Trung Cộng với bài viết này. Nó đã giúp nhân dân Việt Nam nhận rõ lời khẳng định nhất quán của chủ nghĩa đế quốc cộng sản Đại Hán quyết giết dân Việt Nam, quyết hủy diệt dân tộc Việt NamSau đây là bản dịch và nguyên bản tiếng Hán của bài viết đăng trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”: http://www.cnweapon.com/html/news/2010-01/news14304.html - Vũ Cao Đàm


Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi.Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.


Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.


Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.


Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.


Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.


Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:
Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.


Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.


Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.


Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philippines thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.


Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.


Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.


Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.


Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.


Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.


10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.


Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.


Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.


Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.


Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu


Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philippines, Malaysia, Brunei… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.


Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ[1]. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.


Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.


V.C.Đ. dịch
H.T. Mạng Bauxite Việt Nam biên tập


Nguồn: bauxite Việt Nam
[1] Quần đảo Falklands (tiếng Tây ban nha là Islas Malvinas), vốn được xem là là lãnh thổ hải ngoại tự trị củaVương quốc Anh, nhưng vẫn là đối tượng tuyên bố chủ quyền của Argentina từ sau cuộc xâm nhập của Anh vào quần đảo này vào năm 1833. Năm 1982, Argentina tấn công chiếm quần đảo này, dẫn tới cuộc Chiến tranh Falklands kéo dài hai tháng giữa Argentina và Vương quốc Anh, kết quả là Argentina thất bại, Vương Quốc Anh xác lập lại chủ quyền trên quần đảo này (Ghi chú của người dịch).
Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”:
越南—收复南沙之战的祭品
2010年1月09日 05:49 热度1票浏览5次已有评论(0)
南沙群岛本是中华母亲胸前璀璨的珍珠项链,却被诸多宵小或偷或抢、你争我夺,只闹的珠光散乱、岛礁蒙尘,其中气焰最为嚣张、抢占数量最多的便是狂妄自大、忘恩负义之辈——越南。
想那越南原为我国藩属,1885年中法安南之役清廷将其割让给法国,遂成为法属殖民地,二战后是中国助其战败法国、赶走美帝,南北得以统一。不料此獠非但不思感恩,反而以怨报德,竟然以世界第三军事大国自居,频频向中国寻衅,虽经中越边境反击战和赤瓜礁海战两次教训,依旧不服不忿,变本加厉地抢占了更多岛礁。因其下手较早,所盘踞之地往往居住条件较好,且有淡水水源,越南便在上面修建机场,建造移动通讯设施,还向岛礁移民,组织国际旅游,并设置县级行政区划,妄图将霸占的地域永久化、实事化、国际化、合法化。另有菲、马、印尼、文莱等国也纷纷效仿,在我国南沙海域或建设军事基地,或钻井开采石油,全然不把中国放在眼里。
周边各国抢占南沙岛礁之时,正值我国实行改革开放方针、和平崛起战略之际,出于对内集中精力抓经济建设、对外维持和平发展环境的需要,基于都是发展中国家、理应和平解决纠纷的美好愿望,我国提出了“搁置争议,共同开发”的倡议。然而,三十多年来相关国家置我们的善意于不顾,不断加快侵蚀我国海疆的脚步,公然将我国领土领海据为己有。可见,好心未必就有好报,国家尊严和领土领海完整仅靠和平交涉难以维护。联合国大陆礁层委员会规定,2009年5月12日为有关国家对其大陆架和专属经济区的主权要求提出科学依据、完成申请的最后期限。事态的发展将使问题越来越复杂化,时间的推移将对我们愈加不利,拖延下去别人将会把我们的容忍误读为默许。因此,采取有效的手段——武力收复南沙已该摆上议事日程。
鉴于涉案国家对我国利益的侵害程度不同,其所处环境和国际地位不同,对我方的军事行动可能做出的反应不同,因此应区别对待,全力处理好主要矛盾,带动次要矛盾的解决。毫无疑问,我们的主要打击目标就是越南,我们有足够的理由打击越南,越南也有充分的条件成为收复南沙之战的祭品。
1.越南侵占的岛礁最多,危害最大,且态度蛮横,影响恶劣。率先收复越南盘踞的岛礁,就能收复被占岛礁的绝大部分,便可基本掌控全局,以成功驱逐越军的实例威慑其它国家,迫其自行撤走。
2.过去越南一直承认中国拥有西沙、南沙主权,其官员讲话、军用地图、地理教材都是佐证,直到实现统一后才一反常态,对西沙和南沙提出领土要求。其背信弃义、前后矛盾的行径丧失了基本道义,使我军师出有名,据理收复失地。
3.越南拥有东南亚最强军力,而且正在加速发展海空军,企图与我对抗。我军如能借南沙之战摧毁其已具雏形的海空军力,既能使其他国家望风披靡、不战而退,又能解除使越南日益坐大、养虎遗患的隐忧。
4.中越反目已久,曾发生过陆战海战,再次爆发军事冲突已在世界意料之中,各国早已习以为常,反应也会相对较轻。反之,如先打击菲律宾等国则会平添一个交战国,国际反应肯定较为强烈。
5.相关各国虽同属东盟,但越南与其他国家社会制度、意识形态不同,他国又曾在越战中支持美国,其间自有感情隔阂。我国收复南沙必遭东盟反对,但集中打击越南的副作用就会较小,因为越南曾经企图建立地区性霸权的往事仍使其邻国怀有戒心,消弱越南军力对东盟各国也有好处。
6.近期国际形势对解决南沙问题有利。中美、中俄关系均处于最好时期,不致因此引起大国之间的军事对抗。美军深陷阿富汗、伊拉克战场,还要准备应付可能与伊朗发生的战争,无暇顾及南沙战事。而且日韩岛屿纠纷、柬泰寺庙争端都会分散国际社会视线。
7.南沙群岛对中国具有不可或缺的战略地位。在中东到远东的石油动脉上,马六甲海峡固然扼守咽喉要道,南沙群岛何尝不是位居战略要冲,据有南沙便可威慑马六甲,掩护石油通道。南沙是中国必有之地,为此应不惜一战。
8.以战代练,以实战来检验并提高我军实力。台海形势发展可确保两岸近期不会发生战事,正宜借此空隙彻底解决南海问题,在实战中考察我海空军的缺陷和差距,及时抓紧弥补提高,使我海空军尽快发展成为具有现代战争实战经验的新型军事力量,以备战台海战事或其他可能出现的挑战。越南海空军不算强也不算弱,正适合我军实战练兵。
9.借机建立起两岸军队的协同合作。台海两岸分歧多多,唯独在南沙问题上立场一致,虽然不大可能邀到台军一起参战,但在战前战后进行些物资补给、装备维修、人员救治、飞机舰船因战事需要紧急降落停靠等等活动,无疑会对将来的国家统一、军队统一起到推动作用。
10.越南贪得无厌、见利忘义,态度又极其蛮横无礼,绝无通过谈判放弃其抢占岛屿的可能,不打不足以收复国土海疆。既然南沙之战不可避免,晚打就不如早打,被动应付就不如主动出击。
还有很多理由,不再一一列举。
虽说我军收拾越南不在话下,但是收复南沙毕竟不是小事,越南海空军也正在逐步现代化,并非易与之辈,所以决不可轻敌盲动,必须做好充分准备,不打则已,打则速胜。收复南沙不是看能否成功,而要看胜得是否彻底,付出的代价是否必要,遭受的损失是否最小,最终结果是否最佳。因此有必要政治、军事、经济、外交四箭齐发,打出一套漂亮的组合拳。
军事方面,可借越南侵占新岛礁、扣押我国渔船渔民等事件为导火索,做出强烈反应,宣布我国领土领海不容侵犯,勒令越方限期退出所有侵占岛礁,迅速在南海完成军事部署,如越军置之不理就强行驱逐,敢于反抗者坚决消灭,凡来增援的越舰越机予以击沉击落。越军已装备一定数量的俄制先进战机、舰艇和导弹,我军应以海空潜全面封锁其海空军基地,二炮部队应做好覆盖其所有战略要点的准备,空军和海航应做好在预警机、加油机支援下长途奔袭其南部基地的预案,地面部队要随时应对越军在边境地区的偷袭骚扰,必要时实施反击摧毁其北部海空军基地。总之,要由陆海空潜导编织成立体战场,把打击越南当作解放台湾的预演,一旦事态扩大就彻底摧毁越南海空军力量。
政治方面,彻底揭露越南等国强占我国领土领海的事实,重申我国坚持和平崛起的既定方针,但是和平决不意味着可以容忍对我国国家利益的侵害。尽管发生了我们不愿看到的军事冲突,中国依然希望有关各方坐下来进行和平谈判,及早结束战争。假如越南等国在我强大的军事压力下被迫屈服,则我国实现不战而屈人之兵,必将大大扩大我国的国际发言权。
外交方面,一旦战事发生,世界上必然批评、抗议声四起,我们要尽力获得美、俄、欧盟的理解,争取使其置身事外。最重要的外交活动应针对东盟各国,尽量平息他们的愤怒和恐惧,使他们相信中国非常重视与东盟的关系,绝不会损害除越南之外的东盟国家的切身利益,将他们的反应程度降到最低。
经济方面,为了和平生存,以色列可以“用土地换和平”;为了和平发展,我们也可以“用金钱换土地”。对南沙群岛,应实行“主权归我,共同开发,和平协商,利益均沾”的方针,在南沙群岛靠近东盟各国的边缘地带划出若干共同开发区,以我国为主,分别与菲、马、印尼、文莱组成合资开发企业,让对方拥有分享利润的权利。这些国家强占岛礁的目的就是获取石油利润,让他们得到他们想要的钱,就更易于同意我国拥有主权。如果越南愿意接受这种模式,不妨也分他一杯羹。
企图以和平方式解决南沙争议,最终结果必然是南沙群岛被人瓜分。众多岛礁被强占是由于当初我军实力不足,能力具备了就不要再犹豫不决。动用武力肯定会引来反对声浪,当年英国力夺马岛也曾谴责声一片,但是马岛在手别人又能奈何英国?越南愿当出头鸟就打他个措手不及,杀越寇为南沙之战祭旗!


[中华兵器大全 CNWEAPON.COM]
Nguồn: http://www.cnweapon.com/html/news/2010-01/news14304.html


Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Vũ Cao Đàm - Bây giờ thì chúng ta lại cần cảm ơn thương nhân Trung Quốc

Vũ Cao Đàm

Ngày 4/8/2011 tôi có bài viết gửi đăng trên Bauxite Vietnam “Vài lời với GS Võ Tòng Xuân” nhân bài trả lời phỏng vấn của phóng viên Vietnamnet với ông: “Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc”, trong đó tôi đã cảnh báo những thủ đoạn thâm độc của bọn đế quốc Trung Cộng, như đã từng diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam, kể từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước.
Sự thật mà tôi cảnh báo trong bài viết đó đã đến.

Ngày 24/2/2012 trên trang web của báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh có bài viết về tình cảnh nông dân Vĩnh Long đang khó khăn vì giá khoai các thương nhân Trung Cộng mua bị đánh tụt xuống còn một nửa giá ban đầu. Bài báo viết [1]: “Thời điểm này những năm trước, giá khoai ở mức 300.000đ – 400.000đ/tạ, sau đó đến mùa thu hoạch (khoảng tháng Ba âm lịch) giá sẽ tăng lên, nhưng hiện giá khoai lại có chiều hướng giảm khi sắp đến thời điểm thu hoạch. Nhiều người trồng khoai đang lo lắng sẽ tái diễn tình trạng hai năm trước, khi giá khoai xuống chỉ còn 160.000đ/tạ”. Thật ra, cũng chính bài báo này cho biết, ban đầu các thương lại Trung Cộng đã mua có lúc tới 1,1-1,2 triệu đồng/tạ!
Cũng chính ngày 24/2/2012, một số chuyên viên của Bộ Khoa học và Công nghệ đến làm việc ở Vĩnh Long trở về đã cho chúng tôi biết, họ được chứng kiến một sự thực đau lòng là sau khi phía nông dân Việt nam đã thực hiện cam kết trồng khoai theo đúng hợp đồng, thì phía Trung Cộng đã cố tình chậm trễ trong việc thu mua. Kết quả là khoai bị hà (sùng) rất nhiều. Đương nhiên, họ sẽ không mua khoai hà (sùng), và số khoai còn lại bị chúng đánh giá là kém phẩm chất và thu mua với giá rẻ mạt.

Quả thật, đến bây giờ thì chúng ta mới thấy được là một số người đã quá ngây thơ và vội vã để cảm ơn thương nhân Trung Cộng.

Thật ra, bọn thương nhân Trung Cộng chưa thực hiện những âm mưu quá sâu như tôi đã dự đoán trong bài viết. Họ hơi “ăn non”, đánh ngay vào lợi ích quá khiêm nhường của những người nông dân nghèo ở tỉnh Vĩnh Long. Họ đã đánh ngay vào những lợi ích trước mắt của nông dân nghèo. Có lẽ họ đang chạy đua với thời gian hòng làm suy yếu kinh tế Việt Nam, được chừng nào hay chừng đó, và nhất là nhanh chừng nào tốt chừng đó. Chúng ta đừng quên rằng, trong bài nói về mười bước để đánh Việt Nam, mà tôi đã dịch đăng trên mạng, bọn đế quốc Trung Cộng đã công khai tuyên bố, chúng sẽ đánh Việt Nam toàn diện, về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Về kinh tế, chúng ta cần nhận rõ những sự kiện sau đây.

-     Chúng sử dụng mọi biện pháp để triệt phá cơ sở kinh tế của nông dân nghèo: mua móng trâu và đuôi trâu để tiêu diệt sức kéo; thu mua “chè bẩn” và dụng cụ chế biến chè thủ công để triệt phá cơ sở kinh tế của nông dân các vùng trồng chè; thu mua râu ngô non để triệt phá những cánh nương ngô đến kỳ trổ bắp; thu mua mèo và bán thuốc kích dục chuột để kích thích phát triển các đàn chuột, bán ốc bươu vàng để triệt phá sản xuất lúa.

-     Chúng tìm cách thắng thầu các công trình công nghiệp, rồi trì hoãn thực hiện để kéo chậm quá trình công nghiệp hóa.

-     Chúng thu mua dây đồng để phá hoại mạng lưới điện, đồng thời tìm cách để thắng thầu xây dựng các nhà máy điện, rồi cũng trì hoãn thực hiện để đánh vào nguồn năng lượng cho công nghiệp hóa.

-     Chúng thu mua cáp quang để phá hoại mạng lưới thông tin viễn thông.

-     Vân vân và vân vân.

Chắp nối các sự kiện trên, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, với sự kiện thuê đất trồng khoai, chính là chúng muốn tàn phá vựa lúa Miền Nam, để Việt Nam mất hoàn toàn vị trí của một đất nước đang được xếp hạng cao về xuất khẩu gạo.

Và chính vì vậy, bây giờ chúng ta mới nên cảm ơn các thương nhân Trung Cộng, là họ đã giúp cho các đồng chí ngây thơ của Việt Nam “sáng mắt sáng lòng” [2], tỉnh ngộ về cái tình “Anh em”, “Đồng chí”, “Bốn tốt”, “Mười sáu chữ vàng”.

Từ quan hệ mua bán mang tính lừa đảo nhỏ nhất với dân lành đến những cam kết bất bình đẳng lớn nhất giữa các nhà lãnh đạo, cùng với việc tàu chiến của bọn đế quốc hiếu chiến Trung Cộng liên tục uy hiếp, cướp bóc tàu cá của ngư dân Việt Nam ngay sau chuyến viếng thăm “hữu nghị” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhà lãnh đạo chóp bu của cộng sản Trung Hoa Tập Cận Bình, liệu đã đủ liều lượng để những người Viêt Nam yêu nước thương nòi “ly dị” cuộc hôn nhân đầy oan trái với cái ý thức hệ “anh em”, “đồng chí” với bọn tráo trở Trung Cộng, vừa leo lẻo nam mô “Bốn tốt”, “Mười sáu chữ vàng”, vừa giấu sau lưng cả bồ dao găm để sẵn sàng xỉa vào hông cái người mà chúng vuốt ve ru ngủ bằng những giọng điệu mỹ miều “anh em”, “đồng chí”.

Một lần nữa, chúng ta thấy không thừa khi nói lên một điều rằng, cái sự vuốt ve “anh em”, “đồng chí” của bọn Trung Cộng chính là để tạo lòng tin ngây thơ của các “đồng chí” Việt Nam, để các “đồng chí” Việt Nam lơ là cảnh giác, để chúng thả phanh phá hoại kinh tế Việt Nam.

Nhân sự kiện này, tôi mong muốn ngành an ninh kinh tế cần sớm vào cuộc, để ngăn chặn bàn tay phá hoại của một kẻ địch vô cùng nham hiểm, luôn đội lốt anh em đồng chí quốc tế vô sản để phá hoại Việt Nam. Tôi xin lưu ý thêm, cũng chính trong bài trên trang mạng của Báo Phụ nữ mà tôi đã trích dẫn còn cung cấp một sự kiện khác, đó là bọn thương lái Trung Cộng còn sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi, là mượn tay nông dân Việt Nam và các đại gia Việt Nam thuê đất trồng khoai cho chúng. Tôi đề nghị ngành an ninh kinh tế cũng cần lưu ý tình huống này.

Để thấy hết hậu quả của các thủ đoạn phá hoại kinh tế của bọn đế quốc Trung Cộng, chúng ta cần nhớ rằng, vào đầu những năm 1980, hai nước Trung Quốc và Việt Nam có trình độ phát triển tương đồng, thậm chí Trung Quốc còn kém Việt Nam nhiều mặt sau cuộc tàn phá vĩ đại của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thì chỉ không đầy hai thập niên, vào cuối những năm 1990, chính các bạn Trung Quốc đến từ Hoa Lục đã tự hào đưa số liệu để nói với tôi, rằng Trung Quốc đã vượt xa Việt Nam chí ít là 30 năm.

V. C. Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

[1] Báo Phụ nữ Việt Nam TP Hồ Chí Minh, http://www.phunuonline.com.vn/2012/Pages/thap-thom-mua-khoai-lang.aspx
[2] Lấy từ lời bài hát “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” do Phạm Tuyên phổ nhạc lời dịch của Tố Hữu bài thơ của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon.


Phụ lục:

04/08/2011
Vài lời với Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân
Vũ Cao Đàm
Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 29/7/2011, Trang Vietnamnet có bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân “Chúng ta cần cảm ơn thương nhân Trung Quốc” về việc các thương lái Trung Quốc ký hợp đồng với nông dân Nam Bộ trồng khoai.

Một số bạn đọc rất phân vân về những quan điểm được trình bày trong bài phỏng vấn. Đại diện cho nhóm bạn đọc đó của Vietnamnet, Nhà giáo Vũ Cao Đàm đã có bài viết gửi Vietnamnet với tiêu đề “Vài lời với Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân” nhằm cảnh báo những nguy cơ của việc thực hiện phá lúa trồng khoai cho người Trung Quốc.

Sau một vài ngày bài viết được gửi đi, Vietnamnet đã trả lời Nhà giáo Vũ Cao Đàm, cho biết, trong tình hình hiện nay (?), bài viết chưa sử dụng được. Chính vì vậy mà ông Vũ Cao Đàm đã gửi bài viết cho Bauxite Việt Nam.

Sau khi nhận được bài viết, chúng tôi nhận thấy, những ý kiến cảnh báo đó thực sự cần thiết để các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam suy nghĩ.

Chúng ta không mất nhiều thời gian cũng có thể dễ dàng tìm được rất nhiều thông tin trên các mạng chính thống của Nhà nước, như Tiền phong điện tử,Giáo dục Việt Nam điện tử, Vietnamnet, VnExpress,… về những thủ đoạn nham hiểm của Trung Quốc trong việc phá hoại kinh tế và an ninh, quốc phòng của Việt Nam: Với thủ đoạn thu mua rễ hồi, họ đã kích thích nông dân triệt phá rừng hồi, một nguồn dược liệu quý; với thủ đoạn thu mua móng trâu, họ xúi giục nông dân tự tay tàn phá sức kéo của mình; với thủ đoạn thu mua râu ngô non, họ lôi kéo nông dân phá hoại những nương ngô đang đợi đến kỳ thu hoạch; với thủ đoạn thu mua mèo, họ đã triệt phá một loài thiên địch với chuột, tung ra những bầy chuột bạt ngàn phá hoại mùa màng; với thủ đoạn thu mua dây đồng, họ kích thích bọn “đồng tặc” phá hoại mạng điện phục vụ công nghiệp hóa; với thủ đoạn thu mua cáp quang phế liệu, họ đã lôi kéo cả một công ty Việt Nam tổ chức phá hoại mạng cáp quang viễn thông, đánh vào huyết mạch thông tin của đất nước chúng ta. Những thủ đoạn thâm hiểm ấy, không thể nào kể ra cho xiết.

Nay đến việc họ lôi kéo nông dân Nam Bộ bỏ lúa trồng khoai cho họ. Không cần nghĩ gì sâu xa lắm, chúng ta cũng có thể đọc được một âm mưu vô cùng hiểm độc như đã chỉ trong bài viết của Nhà giáo Vũ Cao Đàm:
1. Họ sẽ mở ra những vùng khoai rộng lớn ở Nam Bộ, triệt phá nguồn gạo xuất khẩu;
2. Việt Nam muốn giữ được vị trí xuất khẩu gạo, sẽ phải nâng giá thu mua đủ sức cạnh tranh với giá mua khoai của thương nhân Trung Quốc. Kết quả là giá xuất khẩu gạo của Việt Nam không chịu đựng nổi với mặt bằng giá gạo xuất khẩu của thế giới, Việt Nam sẽ chết trên thị trường gạo xuất khẩu.
3. Đến thời điểm đó, Trung Quốc sẽ dừng thu mua khoai, làm nông dân Việt Nam điêu đứng, như đã từng điêu đứng vì dưa hấu, chè vàng và các hàng nông sản khác.

Chúng tôi không thể hiểu, vì sao một bài viết quá ư mềm mỏng so với khẩu khí mạnh mẽ của tác giả Vũ Cao Đàm khi viết lên án những tội ác của Trung Quốc, như bạn đọc thường gặp trên mạng, mà Vietnamnet vẫn sợ mất lòng người “đồng chí tốt”, không đưa lên mặt báo để rộng đường dư luận. Phải chăng, Vietnamnet muốn mượn uy tín của Giáo sư Võ Tòng Xuân để nói lời tri ân với các “đồng chí tốt” Trung Quốc, mà không thấy rõ được âm mưu nham hiểm của các “đồng chí tốt” này với dân tộc Việt Nam?

Với ý nghĩ đưa ra những thông tin đa chiều, Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết đã không được đăng trên Vietnamnet để bạn đọc rộng đường phán xét.
Bauxite Vietnam

Nhiều bạn đọc đã cùng tôi đọc bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân trên Vietnamnet do biên tập viên Quốc Quang thực hiện ngày 29/7/2011 với tiêu đề “Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc” (Xem:Vietnamnet.vn).

Trước hết, chúng tôi rất hiểu tấm lòng của Giáo sư Võ Tòng Xuân với nông dân, những người suốt đời một nắng hai sương lam lũ mà vẫn đói nghèo. Bây giờ là cơ hội để đổi đời vì có “đầu ra”. Vả lại, theo Giáo sư, thì khoai là loại cây trồng bền vững.

Tuy nhiên, có điều chúng tôi mong muốn được lưu ý Giáo sư và bà con nông dân, những người sẽ đọc và lưu truyền bài phỏng vấn này. Đó là: cần cảnh giác trước những mưu ma chước quỷ của thương nhân Trung Quốc, mà chúng ta còn rất dễ dàng tìm lại trên mạng. Chẳng hạn:
– Nông dân điêu đứng vì ùn tắc dưa hấu tại Lạng Sơn (17/5/2011):
dailymotion.com
– Nông dân mất trắng vì thương nhân Trung Quốc mua chè vàng (16/6/2007):
vietbao.vn
– Nông dân ngậm trái đắng khi đổ xô đi trồng sưa (31/10/2010):
xaluan.com
– Một bài tổng kết về 10 “ngón đòn hiểm ác” của thương lái Trung Quốc khiến dân Việt Nam điêu đứng(29/7/2011):
giaoduc.net.vn

Chúng tôi muốn lưu ý Giáo sư và bà con nông dân mấy điều sau đây:
Từ 15 năm nay, Việt Nam và Trung Quốc chưa hề ký được một dự án hợp tác kinh tế nào theo đường nghị định thư, mà chủ yếu Trung Quốc chỉ thao túng để các cá nhân thương lái vào “hợp tác” theo con đường mậu biên. Các cá nhân thương lái đã luôn luôn tùy tiện hủy bỏ các hợp đồng đã “cam kết” để nông dân ta điêu đứng. Đây là con đường mà nước láng giềng Trung Quốc đã lựa chọn để triệt phá kinh tế Việt Nam.

Chúng tôi dự báo, nếu để thương nhân Trung Quốc tùy tiện ký các hợp đồng phá lúa trồng khoai với nông dân chúng ta, có thể xuất hiện các tình huống sau đây:
Thứ nhất, thương lái Trung Quốc sẽ thu mua khoai với giá rất hời cho nông dân, lôi kéo thêm nhiều vùng khác của Việt Nam, trước hết là vùng vựa lúa Nam Bộ, bỏ lúa trồng khoai. Nông dân Việt Nam sẽ dốc hết sức sản xuất khoai, nguồn gạo xuất khẩu sẽ bị triệt hạ, vị trí đang cao của Việt Nam về xuất khẩu gạo sẽ biến mất trên thị trường gạo thế giới.

Thứ hai, để duy trì nguồn gạo xuất khẩu, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam phải nâng giá thu mua đến mức có thể cạnh tranh với giá thu mua khoai của Trung Quốc. Như vậy giá cạnh tranh để thu mua gạo sẽ tăng đến mức dẫn tới thua thiệt trong xuất khẩu gạo, và Việt Nam sẽ phải chết trên thị trường xuất khẩu gạo của thế giới.

Thứ ba, sau khi đã đánh gục Việt Nam trên thị trường xuất khẩu gạo thế giới, thì Trung Quốc sẽ đột ngột hủy hợp đồng mua khoai với nông dân Việt nam, như đã từng làm với dưa hấu, chè vàng và nhiều mặt hàng khác mà người dân Việt Nam đã từng lãnh đủ. Và chắc chắn là nông dân sẽ điêu đứng, không cách nào gượng dậy được, như những nông dân sản xuất dưa hấu cho thương nhân Trung Quốc.

Chúng tôi nghĩ rằng, ý kiến Giáo sư Võ Tòng Xuân chỉ có thể đúng, nếu như việc phá lúa trồng khoai được thực hiện trong điều kiện hợp tác trồng khoai trong khuôn khổ một nghị định thư giữa hai chính phủ.

Chúng ta nhớ lại năm 1945 hơn hai triệu người Việt Nam chết đói vì phát xít Nhật ra lệnh phá lúa trồng đay, nay lại đến Trung Quốc dụ dỗ nông dân Việt Nam phá lúa trồng khoai. Việc Nhật bắt nông dân Việt Nam phá lúa trồng đay còn dễ hiểu, vì người Nhật dùng đay làm nguyên liệu sản xuất nitroglycerin để chế tạo thuốc nổ phục vụ chiến tranh. Ngày nay, Trung Quốc đến Việt Nam ký hợp đồng với nông dân phá lúa trồng khoai, thì quả thật chúng ta không hiểu được họ lấy khoai để làm gì (vì đồng đất bao la của Trung Quốc đâu có thiếu khoai?), nếu không ngoài mục tiêu phá hoại kinh tế Việt Nam.

Rất mong Giáo sư Võ Tòng Xuân và bà con nông dân hết sức tỉnh táo cảnh giác với âm mưu của Trung Quốc, như đã diễn ra trên đất nước ta những năm vừa qua.

V.C.Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/vai-loi-voi-giao-su-vo-tong-xuan-va-ba.html


Bài phỏng vấn của Vietnamnet với Giáo sư Võ Tòng Xuân:

‘Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc’

Quốc Quang

- Giáo sư Võ Tòng Xuân bác bỏ nguy cơ thao túng vùng nguyên liệu mà một số phương tiện truyền thông đưa ra gần đây có ý cảnh báo dư luận.

Thời gian vừa qua, hàng loạt phương tiện truyền thông đăng tải các ý kiến có ý cảnh báo dư luận về việc thương nhân Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư vào vùng chuyên canh khoai lang tại Vĩnh Long.
Việc thuê đất dài hạn, bao tiêu sản phẩm và đầu ra cũng dấy lên lo ngại về nguy dẫn đến tình trạng thao túng vùng nguyên liệu nông sản. Để rộng đường dư luận, VietnamNet đã phỏng vấn Giáo sư nông nghiệp Võ Tòng Xuân – người từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của các tổ chức, dự án quốc tế và quốc gia về lĩnh vực nông sản.


Giáo sư Võ Tòng Xuân trong một lần giao lưu trực tuyến tại tòa soạn VietNamNet

- Thưa Giáo sư, ông có biết tình hình thương nhân Trung Quốc đang đầu tư mạnh vào vùng chuyên canh khoai ở Vĩnh Long (thuê đất, thu gom, xuất khẩu…)?

- Việc này có thể dẫn đến nguy cơ thao túng vùng nguyên liệu nông sản như nhiều ý kiến cảnh báo không thưa giáo sư?Bây giờ có thương nhân Trung Quốc sang khoanh vùng ở Bình Minh và Bình Tân thuộc tỉnh Vĩnh Long – hai huyện nổi tiếng trồng khoai lang truyền thống để hợp đồng với nông dân trồng khoai lang, thậm chí có doanh nghiệp Trung Quốc mướn đất và mướn dân trồng khoai lang và họ bao tiêu đầu ra.

Đây là một thời cơ rất tốt cho nông dân Vĩnh Long của chúng ta được có thêm công ăn việc làm, có nơi tiêu thụ sản phẩm. Không thể nói là thương nhân Trung Quốc “thao túng vùng nguyên liệu”, vì thương nhân Việt Nam đâu cần mua khoai lang mà quan tâm và chịu chăm sóc nông dân Vĩnh Long như thương nhân Trung Quốc?

- Như vậy, đã có một thời kỳ quá dài nông dân Vĩnh Long “chịu thiệt”?

Khó khăn lớn nhất của nông dân ở Vĩnh Long và nhiều tỉnh thành nước ta hiện nay là thị trường đầu ra. Bà con nông dân có thể sản xuất nông thủy sản hàng hóa theo mọi tiêu chuẩn, nhưng khi thu hoạch thì chỉ có thương lái với giá ép buộc, thường là bất lợi cho bên bán. Nông dân phần lớn chỉ lo trồng lúa, măc dù biết là trồng lúa không có lãi nhiều. Họ cũng muốn đa dạng hóa nông nghiệp, chuyển sang trồng cây khác hoặc nuôi con khác, nhưng không biết bán cho ai, ở đâu và giá bao nhiêu!

- Nhiều ý kiến cho rằng khoai lang tại Vĩnh Long vào mùa thu hoạch có thể bị ép giá vì phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Theo Giáo sư, chúng ta nên bắt đầu hóa giải sức ép này ra sao?

Đây là vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương, phải lo bảo vệ nông dân. Ủy ban nhân dân huyện phải quản lý các thương lái và thương nhân trên địa bàn của mình, nắm được lai lịch của họ, phải hướng dẫn nông dân đòi thương nhân phải hợp đồng trách nhiệm, kể cả giá cả phải được thỏa thuận từ đầu. Không thể vô trách nhiệm, làm lơ, để ai muốn làm gì thì làm.

- Ở góc độ chuyên môn, Giáo sư đánh giá thế nào việc chuyển hóa chuyên canh nông sản từ trồng lúa sang trồng khoai?

Trồng khoai lang trên đất lúa là một hệ thống canh tác rất bền vững, một hướng đa dạng hóa nông nghiệp độc canh cây lúa. Kinh nghiệm tại các vùng khoai – lúa tại Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long cho thấy lúa trồng sau khi thu hoạch khoai lang có năng suất cao hơn trồng lúa độc canh.

- Ngoài tỉnh Vĩnh Long, một số địa phương tại nước ta hiện nay cũng xảy ra tình trạng thương nhân Trung Quốc chiếm vị trí độc tôn về một loại nông sản. Điều này có ảnh hưởng thế nào với cán cân điều tiết thị trường nông sản?

Chúng ta nên cám ơn thương nhân Trung Quốc đã tiêu thụ nông sản cho nông dân ta trong khi các thương nhân và doanh nghiệp Việt Nam quá thụ động, không giúp đỡ gì nhiều cho nông dân của mình. Đáng lẽ doanh nghiệp ta phải thật năng động, tung ra thế giới, nhất là sang Trung Quốc để nắm bắt được nhu cầu của họ rồi về hợp đồng cho nông dân ta sản xuất hàng hóa đúng nhu cầu ấy rồi đưa sang Trung Quốc bán cho họ.

- Giáo sư có thể đánh giá cụ thể hơn về cách làm của các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh nông sản hiện nay?

Cho đến ngay nay chúng ta rất hiếm thấy nhiều doanh nghiệp xuống đến tận nông thôn cùng tính toán với nông dân để tổ chức sản xuất nông sản nguyên liệu. Các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ dùng đội quân thương lái thu gom hàng hóa nguyên liệu theo cơ hội, nhất là mặt hàng gạo, cho nên thành phẩm được chế biến không thể có thương hiệu mạnh.

Cả người nông dân, doanh nghiệp và đất nước đều chịu thiệt vì cách làm cơ hội này. Có thể nói, nông dân Việt Nam còn nghèo vì đất nước ta không có những doanh nghiệp biết kinh doanh.
Xin cảm ơn giáo sư!

GS-TS Võ Tòng Xuân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Nhà giáo Nhân dân. Ông cũng là người đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác như: Ủy viên Hội đồng quốc gia giáo dục; Ủy viên Hội đồng Khoa học công nghệ quốc gia; Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư liên ngành nông lâm học; Ủy viên Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước; Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học kỹ thuật Australia; Ủy viên Hội đồng quản trị Viện Quản lý châu Á; Ủy viên Hội đồng quản trị Tổ chức Dịch vụ quốc tế về tiếp thu và ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp; Ủy viên Hội đồng Cố vấn Diễn đàn Nghiên cứu các vấn đề phát triển châu Á; Ủy viên Hội đồng quản trị Quỹ Rockefeller; Ủy viên Hội đồng quản trị Trung tâm phát triển bền vững vùng lưu vực sông Mê kông; Chủ trì Chương trình “An toàn lương thực Tây Phi châu – Sierra Leone”…

Nguồn: Vietnamnet.vnQ. Q.