Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021

Ngô Nhân Dụng: Người Trăm Năm Cũ

Từ trái: Trần Mộng Tú, Linh Bảo, Ngô Nhân Dụng, Doãn Quốc Sỹ.

“Người Trăm Năm Cũ” là tên một cuốn tiểu thuyết của Hoàng Khởi Phong, kể chuyện lịch sử thời Đề Thám chống Pháp. Tôi nhớ cái tựa đề này khi đến thăm nhà văn Linh Bảo, gặp cả nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã tới trước. Hai người đều gần 100 tuổi. Bà Linh Bảo thì còn trẻ, mới 95. Ông Doãn Quốc Sỹ mấy lần nói mình đã 100 tuổi. Doãn Cẩm Liên cải chính: Bố mới 98. Cụ cứ nói mình đã 100, mấy lần, cô con gái đành chịu thua!

Linh Bảo trí nhớ còn tốt nguyên. Năm 18 tuổi bà đã bỏ nhà đi sang Trung Quốc. Nhưng bây giờ nói “tiếng Huế” vẫn còn rất đúng giọng. Tôi đọc cuốn Gió Bấc của bà khi 15 tuổi, bây giờ vẫn còn nhớ mấy chuyện vui, đem kể lại cho tác giả nghe.

Doãn Quốc Sỹ bắt đầu quên từ hơn 10 năm nay. Trí nhớ cụ được xóa bớt dần dần những chuyện vụn vặt. Mươi năm trước, gặp nhau cụ còn hỏi: “Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan hay Hoàng Cầm nhỉ?” Hoặc, “Quê Toàn ở Bắc Ninh phải không? Bà mẹ cụ Nguyễn Du cũng quê Bắc Ninh.” Doãn Quốc Sỹ nhớ bút hiệu Tô Giang Khách, vì nhà ở gần sông Tô Lịch. Rồi kể sau này về thăm, con sông Tô đã biến mất. Lại đọc thơ Trần Tế Xương: “Sông kia nay đã nên đồng – Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô, khoai ...” Trong mười mấy năm, trí nhớ cứ thế nhẹ dần, nhẹ dần; giờ không nghe Doãn Quốc Sỹ hỏi đến Màu Tím Hoa Sim, đến Bắc Ninh nữa.

Linh Bảo: Người Quân Tử

Dung băn khoăn suy nghĩ, lăn lộn trên giường đã hơn một tiếng đồng hồ. Đáng lẽ nàng phải đi chợ mua đồ ăn nấu cơm chiều, nhưng hôm nay có cớ để cho nàng giận dữ, nên định đâm liều một bữa xem sao.

Dung còn nhớ rõ, dù đã nhiều năm về trước, mà hình ảnh, cảm xúc vẫn còn sống động như vừa mới xảy ra. Hôm ấy nàng đang chạy dưới làn mưa đạn thì gặp hắn. Hắn mời nàng đến nhà tạm trú trong khu vực an toàn. Vợ hắn về quê mẹ bên Pháp chưa trở lại, nên hắn rất tự do. Luôn mấy ngày, hai người bị kẹt trong cái tổ ấm đó. Thế là hắn thành ra "chính phủ bảo hộ" của Dung. Kể ra, lúc đầu suốt mấy tháng trời hắn cũng mất một ít công phu. Nào là hái hoa tặng nàng, nào là thức dậy từ ba giờ sáng pha cà phê cho nàng uống để sửa soạn đi bay. Nhưng hắn thuộc về loại đàn ông tán gái chỉ mất ba bó hoa, về sau lấy lại cả vốn lẫn lời.

Khi hãng máy bay Dung làm đóng cửa, hắn hết sức dỗ dành Dung đừng làm nơi khác. Hắn nói nghề nữ chiêu đãi viên Hàng không là một nghề rất nguy hiểm, phải thức khuya dậy sớm, nay đây mai đó, sống giang hồ lãng tử như thế không phải là cuộc sống thích hợp cho một bà mẹ hiền. Hắn hứa sẽ trả lương cho Dung gấp đôi, nếu Dung làm thơ ký cho hắn. Hắn nói:

- Tôi đã có vợ rồi, nên không thể chính thức cưới em được. Tôi chỉ là một ân nhân, một Người Quân tử, giúp em qua khỏi lúc khó khăn hoạn nạn. Em cần có một người đàn ông làm hậu thuẫn, để em dựa vào làm ăn, để tinh thần em có chỗ ký thác. Con em cần phải có cha. Cha chúng nó đã lên chiến khu mất tăm mất tích em còn trông mong gì nữa! Người ta ai cũng cần phải có gia đình như con chim cần có tổ ấm. Em không thể sống mãi cuộc sống cô độc, trống trải tâm hồn, lại còn phải một mình vừa làm cha vừa làm mẹ, phấn đấu lo miếng cơm manh áo cho con như thế mãi được.

Hắn tán ngọt hơn mía lùi. Dung nghe như ăn phải bùa mê. Nàng tin tưởng trân trọng ký thác cả thể xác lẫn tâm hồn theo lời yêu cầu đầy hứa hẹn. Mỗi năm nàng đẻ cho hắn một đứa con. Những đứa bé này đều theo họ mẹ, và gọi hắn bằng bác.

Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

Nguyễn Đức Tùng: Thư Gởi Con Trai Nhân Ngày Lễ Cha


Khi lên năm tuổi, một hôm con gọi điện cho ta nhắc rằng bảy giờ chiều hôm ấy có chương trình Jeopardy mà ta thích theo dõi, vậy ráng thu xếp về sớm. Ta cám ơn con về lời nhắc. Bất cứ cha mẹ nào khi nghĩ đến con, không phải chỉ nghĩ đến lời cám ơn của chúng dành cho mình, điều vẫn xảy ra, mà còn nghĩ đến lòng biết ơn của họ đối với con cái. Nhờ trẻ con mà chúng ta lớn lên, nhờ có chúng mà chúng ta được hạnh phúc làm người đi trước, che chở, chỉ đường. Nhờ có lời nhắc của con, hôm ấy ta về nhà sớm hơn mọi khi, mặc dù việc bận rộn, và có một buổi tối cả nhà cười phá lên trước cái ti vi vui nhộn, những câu hỏi hóc búa. Những cha mẹ đi làm việc bên ngoài thỉnh thoảng nên nhận được lời nhắc về nhà sớm như vậy, vì tuổi thơ mau chóng qua đi, khi bạn thu xếp được thì giờ thì bọn trẻ đã lớn, không cần chúng ta nữa. Ngày trước thỉnh thoảng cha của ta, tức ông nội con, vẫn dành thì giờ đạp xe chở con trai đi chơi nơi này nơi khác, hay từ nhà đến trường, từ trường về nhà. Thật là những kỷ niệm khó quên. Một lần lúc lên bảy tuổi, ngồi sau yên xe đạp mải ngắm cảnh vật bên đường ta đút bàn chân vào nan hoa xe, ngay chỗ xích xe đang quay. Bàn chân phải. Ta thét lên hãi hùng vì đau đớn. Ta ngã xuống, máu chảy đầm đìa trên da thịt, trên mặt đường. Cái xích xe đạp và những nan hoa đã nghiến qua mắt cá chân trong, kéo rách một mảng da thịt rộng. Cơn đau làm ta ngất đi.

Trần Mộng Tú: Thư Viết Cho Cha Đã Mất

Bố yêu quý của chúng con.

Bố mất cả hai mươi nhăm năm rồi, nhưng mỗi lần chúng con nhắc đến bố, vẫn tưởng ra được như bố đang đứng trước mặt chúng con. Đối với chúng con, bố không hề mất, bố luôn hiện hữu lúc chúng con cần một nơi nương dựa tinh thần. Ôi, tinh thần lúc nào mà không cần nương dựa!

Bố là một người cha hiền nhất trên thế gian này, một người cha lúc nào cũng hy sinh, nhường, nhịn cho vợ con có được phần hơn. Tình thương của bố cho chúng con như một gia tài vô tận, chúng con hoang phí cách nào cũng chẳng hề vơi.

Bố là cả một gia tài to tát mà con được hưởng trong suốt đời người, khi bố mất, là lúc con tưởng như mình bị khánh tận. Gia tài bố cho con là tình thương yêu vô bờ bến của bố, làm sao con dùng của cải mua được để thế vào. Nhưng thật sự con đâu có khánh tận, những tình thương bố tích lũy trong tâm anh, chị, em con, lúc nào cũng còn đầy ắp, dù chúng con có cho đi.

Con nhớ những ngày bé dại. Những buổi sáng mùa đông Hà Nội, con và cô út được bố lo cho chúng con đi học trước khi bố đi làm. Con nhớ chiếc chậu thau đồng đặt trên một cái đôn sứ, bố pha nước nóng vào lau mặt, rửa tay cho chị em con mỗi buổi sáng, trước khi mẹ cho ăn điểm tâm (cô út bé quá, chắc không nhớ hết được.) Bố lau nhẹ nhàng vầng trán con, hai mắt của con, vừa lau vừa nói chuyện, như đánh thức cho con tỉnh ngủ, rồi ngâm hai bàn tay con vào nước nóng cho con ấm hẳn lên. Bố mặc áo len cho con, cài khuy kỹ càng xong mới giao chúng con cho mẹ.

Con nhớ những ngày tản cư chạy về quê, bao giờ chỗ ổ rơm ấm áp, bố cũng nhường cho vợ con; thức ăn mẹ gắp vào bát bố, bố lại gắp sang bát chúng con. Bao giờ bố cũng kêu no trước vợ con, mặc dù nồi cơm chạy loạn chẳng làm sao phân chia đủ cho cả nhà. Bố hiền từ, tốt bụng, nên khi nhà mình chạy loạn về Thái Bình, trú ngụ ở gần chùa, bố hay ra chùa dậy học dân quê, mọi người gọi bố là ông thần (trong khi tên bố là Thuần) ở chùa. Có người còn gọi bố là ông bụt.

Lê Hữu: Cuộc sống vẫn lao về phía trước

Hình minh hoạ, FreePik

“Bây giờ chắc Bố đã hết giận em rồi,” Meg nói với chồng.

“Bố chưa bao giờ giận em cả,” Roy nói, lắc lắc đầu. “Em không hiểu Bố bằng anh đâu.”

Meg khẽ ngước nhìn chồng dò hỏi. Sao Roy lại có thể nói với cô như vậy?

“Không phải em từng nói là Bố thương em nhất nhà sao?” Roy mỉm cười, quàng tay ôm vai vợ. “Thế nên làm gì có chuyện Bố giận em được.”

Đã lâu hai vợ chồng mới chuyện trò với nhau về người bố của Meg. Bố cô mất đúng một năm và hôm nay là ngày giỗ Bố. Từ lâu Roy cố tránh không nhắc đến cái chết của bố vợ tuy vẫn biết Meg khó mà quên được, nhất là khó mà quên được rằng chính cô đã gây nên cái chết của bố mình.

Cử chỉ thân mật của chồng làm Meg nhớ tới tấm ảnh cô vẫn để trên bàn làm việc của mình sau ngày Bố qua đời. Ảnh chụp ông Bruce, bố cô, tươi cười choàng tay qua vai con gái ngồi bên ông nơi bàn tiệc trong ngày vui của gia đình năm rồi. Đấy là tấm ảnh sau cùng của hai bố con mà Meg còn giữ được. Chỉ vài tuần sau hôm ấy, bố cô lặng lẽ từ biệt cõi đời này.

Song Thao: Phở Dậu

Cuối năm 2001, có tang bà cụ tôi, tôi về Sài Gòn. Xong xuôi mọi việc, nơi đầu tiên tôi tìm đến là phở Dậu. Như tìm về chốn cũ. Cứ như hai chàng Lưu Nguyễn quy hồi cố hương. Nhìn quanh, phở Dậu đây sao? Tiệm lớn hơn ngày xưa vì mua thêm được căn nhà bên cạnh. Ghế nhựa đỏ chói để lan ra cả phía trước cửa. Dẻo đất trước tiệm cũng có kê thêm bàn ăn. Tên “Phở Dậu” màu đỏ nằm dài suốt bề ngang tiệm. Phía dưới có ghi hàng chữ “Quán không có chi nhánh”.

Phở Dậu !

Tiệm không còn mang dấu vết chi của phở Dậu thời trước và ít năm sau 1975. Chỉ có địa điểm vẫn ở chỗ cũ khiến tôi nhắm mắt cũng chạy thẳng vào trước cửa tiệm được. Không biết những bệt xi măng trên đường có còn nhớ bánh xe của tôi không. Tôi nghĩ là không. Vật đổi sao dời hầu như đã xóa đi hết phở Dậu thời của chúng tôi. Thời đó, bàn ghế trong tiệm lỏng chỏng không đồng đều. Hình như chúng được gom dần trong nhiều thời gian khác nhau. Trông chúng cũ kỹ, đơn giản. Có lẽ chủ nhân chẳng cần để ý tới chúng. Cứ có chỗ ngồi và chỗ để tô phở là được. Khách cũng chẳng cần câu nệ. Miễn ăn được bát phở. Nếu những tiệm phở khác thời đó dùng cái có thể gọi là “tô” thì phở Dậu chỉ có “bát”. “Bát là tiếng Bắc, “tô” là tiếng Nam, chẳng phân biệt lớn nhỏ. Nhưng bát phở Dậu nhỏ hơn hẳn những tô phở của các tiệm phở khác. Người ăn khỏe, một bát vẫn thòm thèm. Phải hai bát. Cỡ tôi thì hai bát thì quá bụng nhưng một bát vẫn thiêu thiếu. Thường tôi gọi thêm một bát tái nước có tiết. Tiết là thứ chỉ có ở phở Dậu. Tiết tươi chan vào nước phở nóng tạo thành những màng màu nâu đục là thứ ngọt ơi là ngọt.

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

Lê Thiệp: Ngã Tư Xoài Đôi

Năm nay chắc được mùa xoài. Xoài tuy còn xanh nhưng đã nhỉnh, có trái lớn hơn nắm tay. Giống xoài cát chín thon thả nhưng ở độ này trông lại tròn trĩnh. Những cây xoài thấp trĩu chi chít trái như muốn nằm rạp xuống. Những trái xoài lung lay nhẹ, lắc lư ở cuối cuống dài, có trái gần như chạm đất.

Trưa hè chói chang oi nồng không một chút gió. Những vườn xoài thửa này tiếp thửa kia ngút ngàn xanh um. Vĩnh Long vẫn nổi tiếng nhiều xoài ngon, đủ thứ xoài tượng, xoài doi, xoài cát, xoài thanh ca …

Giống xoài lúc gần đậu cần nắng khô, càng nắng xoài càng giòn, càng nhiều thịt và càng ngọt. Giữa vùng xanh um đó là ngã tư nơi hai con lộ đất đỏ giao nhau. Cái ngã tư không vuông thước thợ nhưng cắt xéo. Tắt máy chiếc Honda Dame 50, người đàn ông bước vào quán. Quán khá rộng, một bên là hai chiếc bàn tròn lớn, kiểu bàn dọn tiệc cưới ở các cao lâu Tàu. Bên kia là những chiếc bàn gỗ vuông vức. Tất cả đều cũ kỹ xô lệch. Ghế cũng là ghế gỗ nặng nề, cục mịch, có chiếc đã long, chân được cột chằng chịt bằng dây kẽm.

Người đàn ông nhắm mắt lại như muốn quên cái nắng chói chang bên ngoài, rồi định thần :

- Allô. Có ai không?

Một người đàn bà từ phía trong lách ra. Đó là một thiếu phụ trung niên, mặt đỏ gay lấm tấm mồ hôi có lẽ vì đang đun nấu gì đó. Người đàn ông lên tiếng:

- Nắng quá. Sao vắng vậy, bà?

Người thiếu phụ nheo mắt nhìn. Rõ là người lạ, ở xa tới. Vùng này không ai ăn mặc như vậy. Áo bốn túi màu xám nhạt còn đeo một cái túi da cồng kềnh.

- Thày ở đâu tới vậy. Thày ăn hủ tíu không?

Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2021

Phạm Xuân Hy: Các dịch giả Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa

Tôi không nhớ rõ tôi đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung lần đầu tiên vào năm nào và do ai dịch.

Nhưng gần đây có độc giả đề xuất câu hỏi:

Ai là người đầu tiên dịch tiểu thuyết Tam Quốc Chi Diễn Nghĩa của La Quán Trung sang tiếng Việt ?

Câu hỏi này cũng gợi trí tò mò hiếu kỳ của tôi, nên tôi muốn tìm hiểu cho rõ thêm.


1-Thời Tam Quốc .


Tam Quốc (220CN-280CN) là một giai đoạn lịch sử của Trung Quốc , khoảng cuối thời nhà Hán, và đầu triều nhà Tấn. Trong đoạn thời gian này từng xuất hiện ba nước là

Tào Nguỵ , Thục Hán và Đông Ngô.

Trần Hữu Thục: Tác giả / Cuộc thăng trầm (Tiếp theo và hết)

Cái chết của tác giả


Tác giả không những mất vai trò chính mà có lúc, còn bị giết chết. Người đầu tiên đưa tác giả lên đoạn đầu đài là Roland Barthes qua một bài viết đầy ấn tượng: “La mort de l’auteur” (1). Người ta gọi đó là một “biến cố văn chương”, xảy ra đúng vào lúc có cuộc nổi loạn của sinh viên và người lao động năm 1968 ở tại Paris. Sự giết chết tác giả, đánh dấu sự chuyển dịch từ lý thuyết Cấu Trúc Luận đến lý thuyết Hậu Cấu Trúc (Poststructuralism) hòa cùng với phong trào chống độc đoán (anti-autoritaire), chống lại nhà cầm quyền thời bấy giờ là chính phủ De Gaulle.

Theo nhà phê bình thuộc khuynh hướng cấu trúc học này thì, tác phẩm (work) và văn bản (text) là khác hẳn nhau (2). Tác phẩm là một thành phần của sản phẩm văn chương, chiếm một khoảng không gian nào đó (như xếp nằm trên giá sách của thư viện), tức là một cuốn sách, trong lúc đó, văn bản thuộc về lãnh vực phương pháp. Barthes lấy cách Lacan phân biệt giữa “la realité” (hiện thực) và “le réel” (cái có thực) - theo đó, hiện thực thì được trưng bày còn cái có thực thì được giải thích -, để phân biệt giữa “tác phẩm” là cái để trưng bày còn “văn bản” là một tiến trình giải thích theo một số quy luật nào đó; tác phẩm có thể giữ trong tay, còn văn bản thì được giữ trong ngôn ngữ hay nói cách khác thì văn bản chỉ hiện hữu trong chuyển động của diễn ngôn. Nói cho rõ ràng hơn thì chính văn bản mới là tác phẩm thực sự, còn cái gọi là tác phẩm chỉ là hình thức vật chất bên ngoài của nó, tức là cuốn sách.

Văn bản, theo Barthes, không phải là những hàng chữ phóng ra một ý nghĩa “thần bí” nào đó nhưng là một không gian đa chiều trong đó, có vô số bản văn trộn lẫn và đụng độ lẫn nhau. Văn bản bao gồm những con chữ xếp vào nhau thành một cấu trúc nào đó mà ta có thể nhìn thấy ngay, nếu cần tìm cần hiểu thì căn cứ vào đó chứ khỏi phải mất công đi tìm đâu xa. Nói một cách khác, văn bản là văn bản, chẳng có cái gì bí ẩn chứa đựng đâu đó bên dưới những con chữ. Đó là một chuỗi những trích dẫn rút ra từ vô số trung tâm văn hóa khác nhau qua một quá trình gọi là viết. Như thế, viết đơn giản chỉ là một hành động “trích dẫn”, chứ không phải là sáng tạo, vì những gì tồn tại qua văn bản, thực ra, chẳng có cái nào gọi là mới cả. Ngôn ngữ là những gì có sẵn đâu đó trong sách vở hay trong việc giao tiếp hàng ngày rồi. Như thế, một văn bản được tạo thành bởi nhiều bản viết khác nhau, rút ra từ nhiều nền văn hóa khác nhau và đi vào những tương quan hỗ tương về đối thoại, nhại văn, tranh cãi. Vậy thì xem xét một văn bản không phải là giải đoán (deciphered) mà là tháo gỡ (disentangled). Ở điểm này, Barthes loại bỏ hẳn tất cả những yếu tố nào không thuộc về ngôn ngữ. Ông nói rõ: Viết, là đạt đến điểm, nơi mà chỉ có ngôn ngữ tác động, trình diễn.

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2021

Trần Hữu Thục: tác giả/cuộc thăng trầm

Lang bang …


Có lần, tôi gửi cho tờ tạp chí nọ một bài viết không có tựa đề. Người chủ biên không chịu cho đi với một bài viết “cụt đầu” như thế. “Trông kỳ lắm. Để trống phía trên một bài viết vừa trông kỳ quặc vừa không cân đối, không đẹp”, anh ta nói. Lần sau, tôi gửi một bài khác. Lần này, bài có tựa đề, nhưng không để tên tác giả. Người chủ biên lại càng không chịu. “Không thể tưởng tượng một bài viết lại không có tên tác giả. Độc giả nhất định sẽ thắc mắc”, anh nói. Tôi bảo thì cứ xem như tác giả là vô danh - Vô danh thị - như những bài thơ khuyết danh ngày xưa vậy. Anh bảo: chẳng thà anh để “vô danh thị”. Có chữ “vô danh thị” trông nó dễ chịu hơn; không có gì thì trông như người ta ra đường mà không mặc quần vậy. Tôi nói: để chữ “vô danh” thì cũng xem như có danh rồi. Tôi muốn vô danh thật, nghĩa là hoàn toàn không có gì hết. Không được đâu, anh cương quyết.

Một lần khác, tôi gửi anh bài nữa. Lần này, không tựa đề, không tên tác giả. Anh giãy nãy lên, bảo tôi chơi trò lập dị. “Không giống con giáp nào cả”. Tôi bảo tôi không lập dị. Tôi muốn cách tân thôi. Anh bảo: OK, nếu anh muốn cách tân thì anh phải giải thích đàng hoàng. Người ta cách tân, người ta có luận điểm, có lý thuyết, anh muốn cách tân, anh cũng phải giải thích rõ ràng. Tôi bảo: đồng ý là phải có luận điểm, nhưng còn tùy. Lối cách tân này không cần luận điểm, vì nếu phải giải thích thì tính cách cách tân trở nên vô nghĩa. Anh không chịu. Tôi giữ vững lập trường, cố thuyết phục anh cho tôi thử nghiệm, nhưng vô ích. Thế là tôi đành phải đề tên mình vào …như thường lệ.

Đó là chuyện một cái tên. Hãy thử đẩy trí tưởng tượng xa hơn: một tờ tạp chí không có tên gọi, không ghi địa chỉ tòa soạn, không có tên người đứng làm chủ bút, chủ nhiệm, không có danh sách cộng tác viên, chỉ gồm toàn các bài viết. Nghĩa là chỉ còn là những văn bản thuần túy, y như một bản cổ văn đào xới lên từ đâu đó. Nghe thật phi lý y như một người sinh ra không khai sinh, không lý lịch, không quá khứ. Chắc chắn là không ai chấp nhận.

Thông Cáo Kết Qủa Giải Văn Học Phan Thanh Giản

 http://www.gio-o.com/images/GiaiVanHocPTG.png

Theo thẩm định của Ban Giám Khảo Giải Văn Học Phan Thanh Giản: không có tác phẩm nào đoạt được giải nhất và giải nhì, Ban Tổ Chức quyết định sẽ trao giải khuyến khích cho hai tác phẩm được coi là khá nhất trong các tác phẩm dự giải; có hội ý với Ban Giám Khảo. Đó là tác phẩm Đi Về Phía Tây của ông Vũ Phan ở Việt Nam và Tình Đời Tinh Người của ông Nguyễn Văn Hưởng ở California. Mỗi vị sẽ nhận $ 2,500.00.

Ban Giám Khảo gồm năm nhà văn, nhà báo, không phải là thành viên của Hội Phan Thanh Giản đã hoạt động văn hóa trước và sau 75, từ trong nước tới hải ngoai: Trương Anh Thụy, Lê thị Huệ, Trần Doãn Nho, Nguyễn văn Sâm và Từ Thức.

Chủ đề của giải: MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU 1975


GIẢI NHẤT :$15.000 US; GIẢI NHÌ : 5000 US

Ban Giám Khảo làm việc theo thể thức độc lập, không có trao đổi, thương lượng hay ảnh hưởng lẫn nhau. Không ai biết kết qủa bầu chọn của ai; tùy theo nhận định, quan niệm, thẩm thức của từng giám khảo. Cuộc bầu chọn đã tiến hành qua ba giai đoạn. Hai giai đoạn đầu loại bớt để chỉ còn hai tác phẩm. Giai đoạn cuối xem tác phẩm nào nhất và tác phẩm nào nhì. Giai đoạn này nhà văn Lê Thị Huệ “muốn rút tên ra khỏi ban giám khảo”; không tham dự.

Chỉ có bốn giám khảo quyết định chung cuộc về giải văn học Phan Thanh Giản: Trương Anh Thụy, Trần Doãn Nho, Nguyễn văn Sâm và Từ Thức. Cả bốn vị đều đi đến kết quả là chẳng tác phẩm nào được giải. Ban Tổ Chức tuyệt đối không can dự vào công việc của Ban Giám Khảo.

Tổng cộng có 32 người hứa sẽ gởi bài nhưng giờ chót chỉ có 29 bài gởi dự giải. Các tác giả gởi bài dự giải hầu hết ở Hoa Kỳ, Việt Nam và Úc Châu. Không có ai ở Âu Châu. Trong số đó có cả cựu học sinh trường Trung Học Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm trước đây. Cô Phan Khanh, một thành viên cốt cán trong Ban Tổ Chức đã loại bỏ 20 bài trước vì phần hình thức không theo đúng tiêu chuẩn thể lệ đề ra. Chỉ còn chín (9) tác phẩm được chuyển qua Ban Giám Khảo để thẩm định.

Kết quả về giải Văn Học Phan Thanh Giản “có thể nói là lớn nhất từ trước đến nay đối với Việt Nam, cả Bắc cũng như Nam, không những là về trị giá, mà về tầm vóc vì sẽ được phổ biến rộng rãi, trong cũng như ngoài nước” sẽ được chính thức công bố vào ngày 15/08/2021 nhân có buổi Triển Lãm và Hội Thảo Phan Thanh Giản do gia đình cựu hoc sinh trung học Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm tại Cần Thơ ở Houston tổ chức tại:
Trung Tâm Sinh hoạt Mai Vàng

9525 WILCREST Dr -HOUSTON ,TX 77099- ĐT(346)312-5728 .

Nhằm không để lịch sử chỉ được viết bởi kẻ thắng cuộc nên Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản năm 2018 tổ chức cuộc tuyển chọn Giải Văn Học PhanThanh Giản này; những mong có tác phẩm phản ảnh được đời sống của những người trong cuộc. Chính họ đã phải bắt đầu những tháng ngày “vo gạo bằng nước mắt”, kể từ 30/4/75 xe tăng Cọng quân tiến vô Saigon ủi sập cổng sắt dinh Độc Lập.

Số tiền $15,000.00 còn lại sẽ chuyển giao cho Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành: Bác Sĩ Thái Ngọc Ẩn để xử dụng vào các công tác giáo dục. Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản thành lập năm 2014 tại Arizona. Trụ sở hội tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ ngày 25 tháng 6 năm 2018.

Ngày 6 tháng 6 năm 2021

T. M Ban Tổ Chức
Phan Thanh Tâm

Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Nguyễn Đức Tùng: Vô Cùng Dịu Dàng Hoàn Toàn Nguy Hiểm

Hình minh hoạ, FreePik

Có người nhìn thấy cô ta leo qua thành cầu, bước theo tay vịn đi lần ra xa. Đây là cây cầu bắc qua khe núi, rất xa mặt nước, có sáu tuyến đường, hai bên có đường dành cho người đi bộ, xe đạp, thành cầu khá cao, ở giữa những nhịp cầu chỗ dây cáp treo có thêm những ô nhỏ nhô ra ngoài, có lẽ để cho nhân viên tu sửa làm việc. Bốn giờ chiều ngày thứ sáu, giờ tấp nập nhất của thành phố. Người đàn bà mặc áo len màu xanh dương, quần jean xám trắng, đi giày thể thao, tóc quấn cao. Cô ta đang chập chờn leo tới sát mép cái ô nhỏ, chồm người ra cúi xuống, hai tay đeo chặt dây cáp, một chân gác lên chuẩn bị leo qua tay vịn cuối cùng. Đoạn này sông vừa ra khỏi núi, chảy như thác trút nước xuống réo ầm ầm, rồi khi qua khỏi cầu gặp vực sâu đột ngột trở nên im lặng. Xe cộ chớp đèn ra hiệu cho nhau, những người đi bộ dừng lại mỗi lúc một đông nhưng không ai dám đi thêm bước nữa. Cô ta xua tay ra dấu cho mọi người không được bước qua thành cầu, những người lái xe chạy chậm lại, tò mò, kinh ngạc. Một người đàn ông tìm cách trò chuyện với cô trong khi chờ cảnh sát tới. Một người nào khác đã kịp gọi cảnh sát. Họ đang trên đường chạy tới, nhưng di chuyển chậm chạp vì chiều thứ sáu xe cộ quá đông. Trong những phút ngắn ngủi này, trước cái chết, đây là cuộc đối thoại giữa người đàn ông và người phụ nữ đứng trên cầu.

- Xin lỗi, nhưng bạn có thể quay lại đây được không?

Người đàn ông mở đầu, la to trong gió, ông ta mặc quần khaki đen, mũ lưỡi trai cũ, vạt áo khoác màu tro gió giật từng hồi phồng lên như cái dù. Cô ta không trả lời câu hỏi, tiếp tục cúi xuống dòng nước. Người đàn ông nhích từng bước rất nhanh nhưng cô lập tức quay lại.

- Đứng lại. Cô ta hét lên, giận dữ, giọng lạc đi.

Võ Phiến: Mai Sau

Quê tôi có cái hát bộ là nổi tiếng. Cụ Tản Đà từng bảo: “Tuồng Bình Định, rạp Phú Phong.” Tuồng là tác phẩm viết ra, rạp là chỗ diễn tuồng. Viết tuồng hay, diễn tuồng cũng giỏi nữa; thế là xuất sắc mọi bề? Tôi nghe vậy, biết vậy.

Rồi có lần gặp bài Lỗ Tấn về chuyện xem hát ở xứ ông. Chuyện thật ngộ. Xem qua nhớ hoài. Lỗ tiên sinh viết bài ấy năm 1922, tức năm ông vào khoảng tứ tuần. Bảo rằng trong vòng hai mươi năm qua ông chỉ xem hát Tàu ở Bắc Kinh có hai lần. Lần đầu vào năm 1912, tức năm ông 31 tuổi. Ông nghe bạn nói hát tuồng ở Bắc Kinh là nhất, thế nào cũng phải xem cho biết.

Thì xem. Đêm ấy, ông hớn hở vào một rạp hát. Tuồng đang diễn, kèn trống inh ỏi, sắc màu rực rỡ, khách xem đông đảo... Ông len lách vào chỗ có mấy chiếc ghế trống, toan ngồi, thì nghe có tiếng la: “Ấy! Ghế đã có người giữ trước cả rồi đấy.” Loanh quanh tìm mãi không có chỗ ngồi, ông tháo lui, bỏ cuộc.

Lần thứ hai — ông không nhớ năm nào — có đêm hát gây quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Hồ Bắc. Ông mua tấm vé hai đồng bạc để được vào Đệ Nhất Hí Viện xem một bổn tuồng do nhiều đào kép ưu tú và có cả diễn viên thượng thặng là Tan Xinpei đích thân trình diễn. Ai nấy nhấn mạnh vào chỗ đặc biệt quan trọng ấy. Đến giờ, ông vào thì rạp đã chật cứng, không chỗ chen chân. Trên sân khấu đang có anh kép đóng vai một bà lão hát ê a. Kép nào vậy? Ông lên tiếng hỏi, bị người khán giả bên cạnh đáp vắn tắt, tỏ vẻ khó chịu. Từ đó ông không dám hỏi han quấy rầy ai nữa. Ông lặng lẽ xem một nữ nhân vật cùng hát với con nữ tì bên cạnh một cụ già, rồi một đám đánh nhau toán loạn, rồi hai người đánh nhau, rồi ba kẻ đánh nhau v.v... Ông không biết ai là ai. Ông cứ thế xem miết giờ này qua giờ khác. Tới mười hai giờ khuya vẫn chưa thấy bóng dáng kép thượng thặng Tan Xinpei đâu. Cuối cùng ông đành len lách thoát ra khỏi Đệ Nhất Hí Viện. Bên ngoài vắng vẻ: lơ thơ mấy chiếc xe kéo chờ khách, lơ thơ mấy người có lẽ chờ đón đám đàn bà ra về khi vãn hát. Tuyệt không thấy tăm hơi Tan Xinpei.

Sau lần ấy, Lỗ Tấn nghĩ rằng giữa ông với tuồng hát Trung quốc thế là dứt tình.

Lê Thiệp: Mưa Ở Mộc Hóa

Năm nay nước muộn nên lên nhanh, chỉ vài ngày mà nhìn đâu cũng thấy nước. Những thửa lúa mênh mông bên kia sông như có phép lạ, nước dâng tới đâu, ngọn lúa ngoi tới đó. Từ cửa sổ lầu hai nhìn ra cả một vùng bát ngát như chìm trong màu mưa mờ đục. Thiếu tá Soạn thầm nhớ ruộng chiêm ở Sơn Tây. Đến mùa tháng Mười những thửa ruộng chiêm cũng ngập mưa nhưng không thênh thang như ở Mộc Hóa này. Nơi đây trên là trời, dưới là ruộng nhìn ngút con mắt. Bà cụ mẹ vợ có lần xuống chơi, thấy cảnh cày cấy ở đây chép miệng than “Đúng là làm bỡn ăn thật, chả bù với quê miền Bắc nhà mình.” Có tiếng lịch kịch ở sau, ông quay lại. Người hạ sĩ nhất bước vào từ hồi nào đang dọn dẹp, ngẩng lên hỏi:

- Thiếu tá về nhà ăn sáng hay ra phố? Đêm qua thiếu tá thức khuya quá.

- Tôi đã nói cứ đi ngủ trước, tôi còn phải đọc mớ hồ sơ mới đến. Anh thức làm gì cho mệt. Chắc không về nhà được, anh chạy ra phố mua cái gì về cùng ăn.

- Em ăn rồi, mì gói. Thiếu tá ăn gì để bảo tụi nó ra mua.

- Thôi mất công, có mì làm cho tôi hai gói cho gọn. Đói rồi. Tám giờ tôi phải họp ở Trung Tâm Hành Quân rồi phải sang gặp ông Tỉnh nữa. À, hễ thấy ông trung úy Tiến về thì bảo gặp tôi ngay.

- Trung úy Tiến còn hành quân ở dưới mấy ấp, hồi sớm em qua Tiểu Khu chưa thấy ai.

Chức tham mưu trưởng Tiểu Khu đúng là thứ đầu sai, cái gì bên Tỉnh đẩy sang được là đẩy. Lại còn kiêm thêm phòng nhì an ninh tình báo vì ông đại tá đã thân mật bảo “Thiếu tá coi luôn ban Hai, tôi không tin mấy ông kia. Nó tế nhị lắm, biết ông bận nhưng không dám giao cho ai.”

Tế nhị là chữ của ông tỉnh trưởng để ám chỉ đến những vụ bê bối lem nhem đã xảy ra. Dọa một ông Ba Tàu trốn lính khéo léo thì có một khoản. Vặt vãnh như chặn ghe chở lúa, khám xét nhà máy xay gạo đều có thể moi được chút đỉnh, chưa kể những vụ lớn hơn như bắt giam về đủ tội dấm dớ. Dính đến an ninh quân đội, ai mà không sợ?

Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2021

Hoàng Quân: Món Quà Cho Con

Mẹ Con- Tranh Nguyễn Đức Tuấn Đạt
Lúc chị sanh con đầu lòng, cha mẹ chị còn ở Việt Nam. Mấy anh chị em của chị sống tứ tán khắp nơi trên nước Đức. Đứa bé là cháu nội, ngoại đầu tiên. Bởi thế, hai họ xúm lại nâng niu cháu. Các dì, các cậu, vài tuần đáp xe lửa về thăm cháu. Bên nội ở gần xịt, chạy xe 10 phút là đến. Chị luôn nghĩ, trẻ con sẽ có tuổi thơ đẹp hơn, nếu may mắn được lớn lên có ông bà nội ngoại. Ông bà ngoại chưa được gần để nựng nịu cháu, thì hiện tại, chị tận dụng cơ hội để cháu được gần gia đình nội.

Cuối tuần, anh chị đưa con qua gia đình nội chơi. Cô Năm đã đến tuổi cập kê, nhưng còn độc thân vui tính, ở chung nhà với bà nội. Thông thường, thứ Sáu, rời hãng làm việc, cô Năm rong ruổi đó đây đến Chủ Nhật mới về nhà. Vậy mà, từ ngày có đứa cháu, cô lơ là với những màn tụ tập bạn bè vào cuối tuần. Sáng thứ Bảy, cô Năm gọi điện thoại, giục giã:

-Anh chị mau đem cháu qua cho bà nội thăm.

Đứa nhỏ đến, ngồi trong lòng bà nội một chút, cô Năm giành ẵm cháu. Cô lăng xăng, cho thằng bé uống nước, đưa nó miếng bánh quy, cù vào người thằng bé, hai cô cháu cười rặt rặt. Thấy cô mến cháu, chị vui lắm. Lần nọ, bác hàng xóm ghé thăm, bác tấm tắc:

-Hai cô cháu giỡn với nhau dễ thương quá.

Mẹ chồng chị đáp ngay:

-Dạ, phải chị. Thằng Tí mê cô nó hơn mẹ nó nữa.

Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2021

Hà Đạo Hàm: Khoảng Tối

Thức đang mơ màng du hồn về dĩ vãng thì phải trở về hiện tại bởi tiếng nói từ loa phát ra, yêu cầu hành khách sửa lại lưng ghế và thắt dây an toàn vì phi cơ đang giảm cao độ để chuẩn bị hạ cánh. Nhìn qua khung cửa nhỏ, thành phố Los Angeles ban đêm như một tấm thảm đen trải dài vô tận. Đúng mười năm rồi Thức mới trở lại Cali. Lần truớc cũng xuống phi trường Los Angeles, cũng khoảng giờ này tháng này. Lần trước đến đây vì tình yêu cũ, lần này vì tình bạn cũ. Và mối tình xa xưa kia đã làm Thức suy tư suốt mấy tiếng đồng hồ trên chuyến bay. Khoảng cách mười năm so với một đời người không quá ngắn, nhưng chuyện mười năm trước, Thức tưởng chừng như vừa mới đâu đây thôi, xúc giác như còn cảm nhận và hương vị như vẫn còn vương vất đâu đây.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trung lưu, nề nếp và nghiêm khắc, Thức chỉ biết lo học hành cho thành đạt, đến nơi đến chốn. Thân phụ chàng thường nói câu ‘’Phi thương bất phú‘’ để chỉ những người giàu có, nhưng ông lại không khuyến khích con cái trong việc kinh doanh, chỉ khuyên bảo lo học hành để mai sau ra làm công chức hay thầy giáo... Nghĩa là những nghề nào ổn định về công việc cũng như lương hướng. Mấy anh em Thức cứ tăm tắp như vậy mà theo, chẳng ai dám đi ra ngoài khuôn khổ đó cả. Khi đã trưởng thành, phần vì sợ cha mẹ, phần do nhút nhát nên thấy bạn bè có bồ bịch này nọ, Thức cũng chẳng dám làm quen cô nào. Ra trường, đi làm được vài ba năm vẫn không kết thân được với một người bạn khác phái nào, mãi cho đến khi gặp Nga trong tiệc sinh nhật của một người bạn cũ cùng trường. Buổi dạ tiệc được tổ chức tại nhà riêng là một biệt thự sang trọng vì Trực là con nhà giàu có và quyền thế. Khi đưa thiệp mời, Trực còn dặn dò là có cả khiêu vũ. Thức không biết nhảy đầm nhưng cũng nhận lời vì muốn xem khung cảnh và sinh hoạt của giới thượng lưu như thế nào. Sau phần ẩm thực, đến phần khiêu vũ thì Thức lẩn vào một góc tối, ngồi nhìn thiên hạ từng cặp du dương theo điệu nhạc. Ngồi như thế không được bao lâu, bất chợt có tiếng người hỏi:

- Sao anh không ra nhảy với mọi người?

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2021

Nguyễn Chí Kham: Phố mưa

Bên ngoài, trời đã rạng sáng và đang có mưa. Tôi vẫn còn lắng sâu theo cảm giác êm ái, vừa ngây ngất với từng nụ hôn trong giấc mơ. Nàng ở bên tôi trong vòng tay ôm ấp, từ cặp môi, đôi mắt, và khuôn mặt nữa cùng tỏa ra một nguồn sáng hiền dịu, yêu thương đến nghẹn lời. Và, trước khi nàng rời xa tôi, tôi nhớ chiếc áo dài màu xám tro nàng mặc, và nàng nói rõ, từ nơi chốn tận bên quê nhà nàng qua đây tìm tôi.

Có tiếng gõ cửa, mơ hồ như tôi cứ nghĩ đó là là tiếng động, nhưng rồi ít giây sau tôi rời giường khi vừa mới tỉnh thức. Mưa bắt đầu nặng hạt. Tôi bước chậm ra phòng ngoài tiện bật đèn sáng. Vừa mở cửa, trước mắt tôi là một cô gái , thật gọn gàng với chiếc mũ và áo mưa trắng.

-Cô là ai ?

-Thưa, phải ông K.

-Vâng, tôi đây.

Cô gái gỡ chiếc nón mưa ra khỏi đầu, hiện ra một khuôn mặt dễ thương.

-Cô vào đi.

Bên tay cô gái cầm một gói giấy báo , ngoài có bọc nylong để khỏi bị ướt mưa. Tôi chỉ ghế cô ngồi, và đối diện với cô. Gói đồ cô mang theo đặt trên bàn. Một giọng thân tình, cô nói:

-Má em có biết ông ?

-Vậy hả.

-Dạ.

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2021

Hoàng Xuân Sơn: b A o l A*

[viết trong ngày mất Thuỳ thi]

em không may cùng ta tai ương
như vì sao vục mặt bên tường
khoảng trắng của đêm. ngày. của đá
đời bỗng chốc buồn như màu sương

ta biết rồi cũng chẳng còn gì
đời sinh động đời cuốn hút đi
chiếc vỏ ốc chiều tà âm lượng
biển phóng sinh và hát rù rì

thời gian đọng lại bên kia núi
những giọt đêm cội nguồn ban mai
có phải hương đi từ khởi thuỷ
đến bao la cùng tiếng thở dài

mùa xuân mang hoa về mật nắng
ta mang nhau vào khúc tự tình
áo thơ âm chữ nằm trong đất
rồi thoát thai đi bóng một mình

sẽ không có gì là vạn đại
bao la. tình rụng cuống bao la
trái cây thơm ngọt đời môi miếng
đã lạc trong nhau nguyện kỹ hà


h o à n g x u â n s ơ n
9:00 am, 21 May 21

*mặt bơ phờ dính gió bao la - Tô Thuỳ Yên

Ngự Thuyết: Mưa Nào Bay

Hắn trở lại thành phố đó vào giữa tháng 10 dương lịch. Đến cái quán cà phê nhỏ, quán cũ ngày xưa hắn thường đến, hắn ngồi tại một chiếc bàn đặt ở ngoài trời bên dưới một cây thông khá cao, cành lá xanh tươi, rậm rạp. Ngày hắn đi, cây thông chỉ cao xấp xỉ cái mái hiên trước của cái quán thấp này. Nay cây đã lớn, hắn cũng đã trên 40 tuổi. Cây cối và con người rốt cục cũng rủ nhau cùng đi về một nơi nào đấy nhỉ, hắn tự hỏi. Nếu không đi trong không gian thì cũng trong thời gian.

Buổi chiều âm u. Lạnh. Mùa thu đến nơi đây có lẽ đã lâu rồi, hắn nghĩ. Và cái quán cũ này khiến hắn nhớ Thảo, cô gái xinh đẹp, dịu dàng, giọng nói thủ thỉ vuốt ve. Và cặp mắt. Quá khứ hiện về rõ dần. Thảo, cô gái đó, đã có lần theo hắn tới cái quán này, ngồi với hắn trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi đứng dậy bỏ đi vì một câu hỏi mà sau đó hắn lấy làm tiếc đã hỏi. Cô ta đi về nhà một mình, không nói gì thêm nữa, nhưng hắn biết cô không muốn hắn đi theo dù một bước. Hồi đó hắn rất buồn và giận cái cô nàng ưa trở chứng đó. Bây giờ nghĩ lại, hắn thấy tự giận mình hơn. Và hắn cũng tự thấy mình ưa kèn cựa. Lại thường phân vân, lừng khừng. Suy nghĩ thì lôi thôi, rối rắm. Cũng vì vậy bạn bè hắn bảo hắn là thằng khó chơi.

Sau những biến động của thời cuộc cũng như trong lòng người, sau một thời gian khá dài sống ở nước ngoài, lần đầu tiên hắn trở về nước. Từ Sài Gòn hắn lấy ngay vé xe hành khách chuyến sớm nhất để trở lại thành phố cũ này. Thành phố cũ? Hắn liên tưởng đến một câu hát trong một ca khúc, con sông xưa, thành phố cũ. Trong bài hát nào đấy nhỉ, có lẽ là bài Về Miền Trung của Phạm Duy. Lòng bỗng bồi hồi. Ô, mà, cái thành phố hắn sắp trở lại làm gì có sông. Chỉ có hồ thôi, cái hồ sương mù vẫn thường đi về trong trí nhớ của hắn.

Ngồi trên xe, hắn lẩm nhẩm hát nhiều lần câu hát đó trong khi nhìn lại cảnh vật hai bên đường. Có nơi còn thấy quen thuộc, lòng lại nao nao, có nơi trông lạ hoắc đến ngỡ ngàng. Hắn lại nghĩ đến một nhân vật trong chuyện huyền thoại của phương Tây mà hắn đọc từ hồi còn đi học. Chàng đã trải qua 10 năm chinh chiến, và thêm 10 năm lưu lạc, nhớ nhà quá, bằng mọi cách tìm đường trở về quê hương thân yêu cũ. Xa nhà lâu ngày, nay chàng trở về, không còn một ai nhận ra chàng kể cả người vợ sắt son chờ đợi. Có người còn muốn trừ khử chàng cho rảnh. Trừ con chó đã già và đánh hơi giỏi.

Lê Thiệp: Chuyện Cổ Tích Typo

Ông Như Phong Lê Văn Tiến hồi sinh tiền luôn luôn đưa ra những nhận xét dí dỏm, bất ngờ. Ông là đàn anh trong làng,được anh em coi là “nhà báo của các nhà báo”vì quá trình báo chí của ông và hơn nữa là những dây mơ rễ má của ông. Khởi đi, ông là một người đấu tranh cho dân tộc, nhưng có lẽ vì ông có liên hệ mật thiết với Tự Lực Văn Đoàn nên nhiễm cái chất báo bổ của Nhất Linh, của Thạch Lam...để cuối cùng ông chọn báo chí như một phương tiện làm việc.

Sở dĩ gọi ông là“nhà báo của các nhà báo”vì sự hiểu biết chính tình, mối liên hệ của ông đối với các nhân vật đầu não của miền Nam và hơn cả, ông đã là người đằng sau rất nhiều biến cố tại miền Nam. Cần hỏi bất cứ điều gì, ông cũng có câu trả lời,và nếu không,ông cũng chỉ cho anh em phải tìm ở đâu.

Ông bị tù đày liên miên và khi đến Mỹ,trong một buổi hàn huyên về báo bổ, ông nói “Làm báo ở hải ngoại sạch quá, chẳng bù với bọn mình ngày xưa.” Cách nói của ông Như Phong không hề có nghĩa bóng, bởi quả thật kỹ thuật in ấn bây giờ so với thời trước 1975 đúng là một trời một vực. Ngày xưa lem luốc hơn nhiều vì chúng tôi vẫn phải xử dụng typo.

Typo là cái gì vậy?

*

Theo lịch sử, người Tàu đã chế ra giấy từ trên hai ngàn năm trước và người Đại Hàn đã nghĩ ra cách khắc bản vỗ để in từ thế kỷ thứ tám. Nhưng chữ Tàu và Đại Hàn là những khối không thể hệ thống hóa, ráp chữ được nên mỗi bài văn, mỗi tác phẩm đều được khắc riêng, cá biệt, bản khắc không thể tháo gỡ ra để xử dụng in một bài văn khác, một tác phẩm khác. Ngôn ngữ Tây Phương được ghi lại bằng những chữ cái, những mẫu tự ABC. Một người thợ bạc Đức ở hạt Mainz tên là Johannes Gutenburg (1398-1468) đã nghĩ ra cách đúc các mẫu tự để in. Bản in đầu tiên theo kỹ thuật do người thợ bạc này là bản Thánh Kinh. Theo sử sách thì tổng cộng có 200 bản được in nhưng nay chỉ còn 48 bản, trong đó 20 bản còn giữ được nguyên vẹn.