Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

Lê Hữu: Mái hiên trăng của Trần Huy Sao



Ta với Trăng cùng trọ mái hiên

“Tôi thích câu thơ ấy,” tôi nói với anh Trần Huy Sao như vậy. 

Còn phải kể thêm nữa những bài thơ, những câu thơ trăng nào của anh. 

Chân bước đi, lòng còn ngoảnh lại
Trăng mười phương chỉ nhớ phương này

Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà Trần Huy Sao, con người nghệ sĩ ấy, những đêm trăng sáng ngước nhìn trời, thấy trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào.

Tôi không rõ có thi sĩ người Việt nào yêu trăng đến độ chỉ làm thơ về trăng, thế nhưng tôi đặc biệt thích những bài thơ trăng của Trần Huy Sao. Kể ra không hết, những bài thơ nói về một quê hương kỷ niệm, về một thời tuổi trẻ, một tình yêu đầu và những ngày vui mơ hồ trong trí tưởng. Trong đó, bao giờ cũng có hình ảnh những đêm trăng lung linh của một mùa trăng cũ. 

Hiên trước trăng lên cao
Hiên sau mây trốn núi
Ta giữa trời hư ảo
Nhìn trăng xiết ngậm ngùi

Trước sân hoa cúc nở
Vàng mượt dòng trăng xa
Hỏi ai lòng không nhớ
Mùa trăng xưa, quê nhà
(Trăng Ngũ Ngôn)

Nguyễn Vạn An: Học Làm Tượng Đá : Bài Học Đầu Tiên (2/6)

Hôm đầu, dọn đồ đạc xong, chúng tôi đi dạo, theo bờ một giòng suối. Mọi người lần lượt tự giới thiệu. Không khí rất thân tình. Tôi kể cho bà Germaine là tôi đã vẽ nhiều nhưng chưa bao giờ làm tượng đá. Bà nói ai cũng có lần đầu, và khuyên tôi hãy làm thử bằng đất cho bà và các bạn xem, mọi người sẽ bàn bạc giúp ý kiến cho. Sau đó cứ bạo dạn mà làm. Cái đẹp xấu không quan trọng, vì quan niệm đẹp xấu không phải là sở hữu của một người nào cả.

(ảnh minh họa, lấy trên mạng)
Bà nói :”Ngày mai An muốn làm gì ?”. Tôi trả lời : “Không biết !”. Lúc đó, tôi thấy mấy hòn sỏi to gần bằng nắm tay, bóng nhoáng tròn trịa, thích lắm, nhặt đem về, cũng không biết để làm gì. Bà bảo : “Tại sao An không tập làm tượng một hòn sỏi ?". Tôi cười, tưởng là bà nói đùa.

Phi Vân: Tiếng Hò Trong Đêm Vắng

Tác giả tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở Cà Mau. Ông là một nhà văn kiêm nhà báo, từng cộng tác với hầu hết các nhật báo, tuần báo, tạp chí ở miền Nam từ cuối thập niên 1930. Tập phóng sự Đồng Quê của ông đã đoạt giải nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943. Bài Tiếng Hò Trong Đêm Vắng dưới đây trích từ tác phẩm này.


“Thầy ơi thầy, dậy mà nghe con nhỏ nó hò!”

Tôi giật mình giụi mắt hỏi anh chèo: “Tới đâu rồi anh?”

- Dạ, vừa qua khỏi vàm Rạch Bần!

Tôi chồm ra ngoài nhìn cảnh vắng. Bên vàm, hàng dừa nước âm u lâu lâu thấy le lói một ánh đèn; bên bờ kia thỉnh thoảng nghe tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm.

Đêm nay chỉ có vành trăng hai mươi, nhưng sao đầy trời góp ánh sáng lại làm cho cảnh vật thêm ảo huyền thơ mộng.

Một làn gió nhẹ thoảng qua, tâm hồn tôi thêm khoái sảng.

Vẳng xa, những giọng phù trầm êm ả của một điệu hò mê ly, đặc biệt chốn đồng quê, rõ lần trong lặng lẽ.

- Anh chèo ơi, lơi mái đợi họ lại gần, đi cho có bạn và nghe hò chơi anh!

- Xin lỗi thầy, nghe giọng hò của “con nhỏ”, tôi đã rụng rời, lơi mái tự nãy giờ. Thế nào tôi cũng lên tiếng.

- Anh cũng biết hò nữa sao?

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019

Thơ Ngô Nguyên Dũng

một mình trong quán cà phê
trong phố tàu ở Sài gòn
tôi uống nỗi tĩnh lặng của thời gian


Ngô Nguyên Dũng


trốn cái oi bức nhiệt đới
và tiếng giao thông nhốn nháo
trưa nắng trong một quán cà phê ở tầng ba.
trong góc phố trung hoa
ở Sài gòn. hít thở những vết tích
và uống nỗi tĩnh lặng của thời gian. vướng vất
trong những nhánh trà với hương vị rau thơm
trong tách sứ.
xưa cũ và hư hao
những ký ức.

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Xứ Đen Và Phượng Đỏ

Hình minh hoạ, ML

Chiều đi trên đoạn đường hướng về phố núi, dưới triền đồi của hải đảo Tenerife. Ngoài kia là biển và bên trong là khu phố với những dãy chung cư cao tầng và những ngôi nhà thâm thấp, màu trăng trắng, từ xa nhìn vào thấy khu phố như nằm dựa vô ba bên vách núi và mặt ngoài hướng ra biển. Tôi cắm cúi đi tới dưới tàn của một hàng cây mà tôi hổng hay, chợt thấy bông gì rụng đỏ trên đường. Ngước mặt ngó lên, thấy chen trong tàn lá lốm đốm một vài màu đỏ. Tôi dừng chân và bước thụt lùi ra khỏi hàng cây để ngước mặt lên nhìn cho rõ. Trên nền trời màn mây trắng mỏng che kéo ngang làm màu xanh của nền trời nhợt nhạt. Trong ánh sáng nhẹ nhàng của buổi chiều, trên những tàn lá xanh xanh, vàng vàng hực lên một màu đỏ lói. Lòng xôn xao, xúc động, tôi hô: 

– Oh, flamboyant! 

Quê hương tôi là một thị trấn ven biển, thuộc tỉnh Cà Mau ở cuối miền nước Việt, nơi đó chỉ có rừng mắm, rừng đước và cây cối tạp nhạp. Ngoài bông lục bình, bông súng, bông bí, bông điên điển và bông so đũa... những loại bông dân dã ấy đã đi vào thơ ca và màu sắc cũng rất đẹp, nhưng đặc biệt là ca dao, hò hát về một loại bông thường kèm theo một món ăn ngon hơn là để ngắm, nhìn cho sướng mắt. 

Nguyễn Vạn An: Học Làm Tượng Đá : Gặp Nhau (1/6)

(tên các nhân vật đã được đổi đi. Ảnh minh họa lấy trên mạng)

Ngay những năm đầu ở Pháp, tôi đã thích hội họa. Hồi đó nghèo, tôi ghi tên học bằng thư từ (cours par correspondance). Thầy trò chỉ viết cho nhau, nhưng ông thầy khen tôi lắm, nói là tôi có khiếu, nếu chăm chỉ thực tập, sau này có thể trở nên một họa sỹ. Nhưng tôi học được có hơn một năm, đến mùa thi thì bỏ.

Nhiều năm sau tôi tình cờ gặp một bà là thầy dạy điêu khắc trên đá. Cuộc gặp gỡ này đã cho tôi một cuộc phiêu lưu rất thú vị.

Bây giờ xin kể từ đầu.

Gặp nhau


Hồi đó,đã gần xong đại học, tôi bắt đầu nửa đi học, nửa đi làm, nên đã bỏ học xá, ở nhà riêng, có xe hơi, và tiền nong lẻng xẻng. Tôi có một người bạn thân, hiền như bụt. Mỗi hè nghỉ tới hai tháng, hai đứa lái xe đi lang thang miền nam xứ Pháp. Miền quê vùng nam Pháp rất đẹp, cây cối xanh tươi, vườn tược bát ngát, khí hậu ấm áp, đời sống thanh bình.

(hình minh họa, lấy trên mạng)

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Du Tử Lê, Mẹ Về Biển Đông

Tôi đọc trường khúc Mẹ Về Biển Đông của Du Tử Lê lần đầu giữa một mùa hè khô hạn, mặt đất nắng cháy nứt nẻ thoảng mùi hoa hồng dại, thứ cây mọc nhiều ở Alberta. Bài thơ của anh thời ấy, đầu những năm chín mươi thế kỷ trước, làm tôi nhớ mẹ, nhớ quê hương đã mất.Thực ra, cũng không có gì biến mất. Thế giới của Du Tử Lê đầy tiếng động vì đã có một người đàn bà hoàn toàn im lặng. Thế giới ấy đầy ắp hình ảnh, vì có một khuôn mặt mờ dần đi dưới lớp đất mà anh vừa ném xuống.

Không phải thế sao?

tôi tìm ra nhà quàn dễ hơn mình tưởng
ngôi nhà trắng. Những chiếc ghế sắt cũng mầu trắng
đường xe chạy uốn cong hình móng ngựa khoảng sân trong có nhà bán 
hoa,
mấy tháng trước còn xanh những cây phong
nay lốm đốm đỏ
vòi nước từ chiếc bồn trước cửa tòa nhà chính
phun hoài như thế chẳng biết đã bao năm

Mẹ Về Biển Đông (MVBĐ) là trường ca duy nhất của Du Tử Lê, hình như cũng là trường ca duy nhất viết về mẹ trong thơ Việt Nam cho đến nay. Thực ra giữa các nhà thơ cùng thời, anh là một trong những người nhắc đến mẹ nhiều, rải rác trong nhiều bài thơ ngắn. 

Mẹ nằm thế chỗ cho con
Thịt xương cõi khác. Biển vàng sau lưng

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

Bài Diễn Văn Của Seattle (dịch từ bản tiếng Pháp* : Nguyễn vạn An)

Seattle (1786-1866) là ông trùm các bộ lạc da đỏ Duwamish và Suquamish, lúc đó sinh sống bên vùng đông nước Mỹ. Sau khi đã tạo nên Khu vực Washington năm 1853, chính phủ Wahington « đề nghị » người da đỏ ký các hiệp định để mua đất của họ.

Người da đỏ biết là không thể nào từ chối được !

Dưới đây là bài diễn văn hùng hồn và đau đớn của ông Seattle, trùm da đỏ, đọc trước thống đốc Isaac Stevens. Nhiều ý và căn dặn được nhắc đi nhắc lại, đọc lên thấy rất thấm thiết. Bài diễn văn này được coi là một bài học, một gia tài văn học thiêng liêng để đời và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Bài dưới đây tôi dịch từ bản đã dịch sang Pháp Ngữ *


BÀI DIỄN VĂN CỦA ÔNG TRÙM DA ĐỎ SEATTLE.


Làm sao các người có thể mua bán khung trời và hơi ấm của đất ?

Ý nghĩ đó đối với chúng tôi thật kỳ lạ. Thế nếu chúng tôi không sở hữu cái mát mẻ của không khí và cái lung linh của mặt nước, thì các người làm sao mà mua ?

Mỗi mẩu đất này đều thiêng liêng cho dân tộc chúng tôi.

Mỗi cái kim óng ánh của lá thông, mỗi bờ cát, mỗi mảnh sa mù trong khu rừng âm u, mỗi bờ suối, mỗi tiếng vo vo của côn trùng đều là thiêng liêng trong ký ức và từng trải của chúng tôi.

FB Vũ Thư Hiên: Tôi Có Một Niềm Vui Bất Ngờ, Muốn Chia Sẻ Cùng Các Bạn

Rất nhiều năm đã trôi qua, hôm nay tôi được trò chuyện rất lâu với một người tôi yêu quý, một quản giáo cũ ở trại Tân Lập tên là Nguyễn Văn Nhẩm, qua FB Messenger. Để hiểu tại sao những người tù năm xưa yêu con người này, tôi trích dưới đây một đoạn trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày thay lời giải thích.

GIÁN ĐIỆP QUỐC TẾ 

... Những người tù số lẻ, kẻ thù của cách mạng, xem ra cũng dễ mến. Bên trong bộ đồng phục tù họ giống hệt nhau khi thoạt nhìn. Nhưng chỉ vài ngày sau, tôi bắt đầu biết ai người thành phố, ai người nông thôn. Người thành phố phần nhiều là viên chức, sĩ quan chính quyền Bảo Đại hoặc từng phục vụ quân đội Pháp trong thời kỳ kháng chiến chín năm. Số này đông, tuy không thể phân biệt ai từng ở trong quân ngũ ai không, cho nên người ta gọi chung là "ngụy". Kế đến những tu sĩ Thiên Chúa giáo, rồi đến những chánh trương, trùm trưởng các họ đạo, những chức sắc đạo Phật, phần lớn là các đại đức và cư sĩ, tôi không gặp nhà sư nào. Họ rơi vào tù không phải do có hành vi chống lại chính quyền mà do những hoạt động tôn giáo đơn thuần nhưng lại không nằm trong khuôn khổ những tổ chức tôn giáo yêu nước do Đảng nặn ra. Ngoài ra, rất linh tinh, không thuộc về những khối rõ rệt là những người bị bắt vì có chân trong các đảng phái phản động có thật và không có thật, cùng là các thứ phần tử được gọi chung chung là “có hại cho an ninh xã hội”. Chẳng hạn như Toán Xồm và Lộc Vàng, một cây ghi-ta và một giọng nam trung nổi tiếng trong lớp thị dân thời ấy ở Hà Nội. Họ bị bắt vì tội hát những lãng mạn thời tiền chiến và những bài "nhạc vàng" lọt ra từ miền Nam. Mà lại không phải “boọp ”, có án hẳn hoi mới lạ. 

Những người nói trên mắc vào tội chính trị còn có một cái lý nào đó, còn lên gân lập trường mà giải thích được. Nhưng lẫn vào họ có một số ít tù số lẻ nhà quê chất phác và thực thà đến nỗi không thể tưởng tượng nổi họ có thể mắc một tội gì, đừng nói tội chính trị. Chỉ cần nhìn những gương mặt rất mực hiền lành của họ cũng biết ngay đó là những người dân quê chân lấm tay bùn, mà niềm vui nỗi buồn của họ xưa nay chỉ gắn liền với những vụ mùa được mất và sự vơi đầy của nồi cơm. Hỏi ra mới biết mỗi người trong số họ đều có một thiên ngục sử kỳ lạ, vừa bi lại vừa hài, cái nào cũng xứng đáng với một cuốn tiểu thuyết. 

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Chuyến tàu trong đêm


Tôi đi vào giấc ngủ chập chờn. Trong giấc mơ có những ánh đèn lồng dài dặc. Rồi một lúc nào đó của giấc mơ những đóm đèn lồng biến thành đàn đom đóm bay la đà chớp tắt trên những ngôi mả thuộc nghĩa trang dòng họ ở Hội An. Nói là giấc mơ thì không hẳn. Phải nói là đêm hôm đó đêm 27 tháng Tư năm 2001 trên chuyến xe lửa đi từ Sài Gòn ra Hội An là hỗn độn của rất nhiều mảnh hồi ức, của những giấc mơ ngắn và cũng là của thực tại. Chúng hòa trộn vào nhau hầu như không tách rời ra được. Bởi ngay cả trong giấc mơ hay những lúc đắm mình trong hồi tưởng tôi luôn luôn nghe rùng rình tiếng nghiến bất tận của con tàu trong đêm và cái cảm giác bay trôi như con tàu không di chuyển theo hướng của con đường sắt mà cứ tịnh tiến ngang ngang như xê dịch của loài cua. Về đêm toa tàu ướp lạnh như một ngăn đá khổng lồ. Cái lạnh khiến tôi nhiều lần thức giấc kéo cái chăn bông lên cằm và qua hành động đó tôi thấy lóe sáng ánh đèn duy nhất còn bật trong căn phòng tối. Dưới ánh đèn đó Jean-Francois Bernardet miệt mài ngồi viết trong đêm. Rồi hình ảnh Bernardet nhòe lẫn hình ảnh một đêm nào ở Ðà Lạt, lạnh lẽo và xa xôi, tôi sực thức giấc nửa đêm mơ màng kéo cái chăn bông lên cằm và qua tấm màn tuyn tôi thấy bóng mờ của bố tôi đang cặm cụi ngồi viết văn trong đêm khuya khoắt dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn chụp.

Cung Tích Biền: Đêm Muôn Màu

“Con ai đem bỏ nơi đây,
Thế gian đâu chỉ một này mà thôi” [CTB]

1


Hồ sơ về Kỷ vật: 

Thư của Manh Manh:

“Chị Mành Mành thân yêu,

Kỷ vật là con của chị? Em biết.

Chị say đắm trong một tình thương hiếm có của tình mẹ con? Em biết.

Nhưng em phải viết ra/ghi lại những dòng này, vì quanh đây còn ánh mặt trời. Kỷ vật phải được soi sáng, rõ thực là từ đâu tới. 

Ngoài thương yêu, dâng hiến cho đứa con từ tình mẹ, chị không có một quyền năng gì để thay đổi được sinh mệnh của cháu.

Kỷ vật chỉ là một Hậu quả, không là một Tương lai. Hôm nay, xã hội người đã một mực đi tới tương lai, quên những gì đã tạo, và để lại, từ quá khứ. 

Có nên xem Quá Khứ là một cái hố sâu nay đã được sang bằng, để an nhiên trồng cây hái trái? Cây trái ngọt, hoa lá tươi, vì may mắn có quá khứ bón màu?

“Chị hãy nhớ bản kê khai này:

Bốn giờ sáng, một ngày của năm 1980, em đang say ngủ thì con chó Ung đánh thức em dậy, qua vài cái cào nhẹ vào cánh tay em.

Ung dẫn em ra cái gốc cây khô. Ai đã đặt vào chỗ đó một cái bọc vải. Nghe có tiếng khóc yếu ớt của một hài nhi trong đó.

“Thời này mọi thứ thiếu thốn. Thiếu điện nước gạo cơm. Trời đất hãy còn tối đen trong một khu vườn không đèn đóm. Em hoảng sợ. Nhìn con Ung, em liếc mắt ra dấu cho nó, là, Mày hãy vào nhà gọi thêm người.

Sử Thi Odyssée Thi Hào Homère - Thiên Trường Ca Bấ́t Tử Nhân Loại (Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh chuyển ngữ thơ lục bát)

Tượng thi hào Homere, hình Internet

THI CA KHÚC I
TÌ̀NH YÊU TIÊN NỮ CALYPSO VÀ NỖI LÒNG ULYSSE


TÓM LƯỢC

Khẩn cầu Thần nữ Ly Tao (Muses) truyền thi hứng. Chuyện kể từ lúc Uy Lĩnh ( Ulysse) bị đấm thuyền trôi dạt vào đảo tiên nữ Kiều Ly Cơ (Calypso) nàng đang sống cô đơn ước mơ được một tấm chồng, Kiều Ly Cơ yêu Uy Lĩnh chìu chuộng người tình tù trong bảy năm, hứa cho chàng tuổi thanh xuân bất tử, nhưng Uy Lĩnh chiều chiều ra bờ biển ngồi khóc nhớ vợ con. Ngày chàng ra chiến trận thành Troie con ch̀àng còn bồng bế. Người vợ Pénélope vẫn chung thủy chờ chồng, có trăm người đến cầu hôn, bảo rằng Uy Lĩnh đã chết, khuyên nàng chọn lựa một người trong đám cầu hôn làm chồng, nàng ra điều kiện nàng phải dệt cho xong tấm khăn vải liệm cho cha chồng, nhưng ban ngày nàng dệt, ban đêm lại tháo ra tấm khăn dệt hoài chẳng xong, bọn cầu hôn làm áp lực đến ăn ở nơi cung đình nàng. Trong cuộc họp chốn Thiên đình Olympe, Thần nữ Quán Trí Tuệ (Athéné) Khẩn cầu Thần Vương Zeus xin cho Uy Lĩnh(Ulysse) bị Tiên nữ Kiều Ly Cơ (Calypso) giữ làm người tình tù được trở về. Thần Vương truyền lệnh cho Sứ thần Hạc Mai (Hermès) mang lệnh Thiên Đình truyền Tiên nữ Kiều Ly Cơ phải thả Uy Lĩnh. Kiều Ly Cơ vâng lệnh bảo Uy Lĩnh đốn gỗ đóng bè, nàng giúp đỡ cánh buồm, lương thực và thổi gió tiễn chàng đi. Bốn ngày Uy Lĩnh đóng bè xong, ngày thứ năm ra đi, ngày 18 đến đảo người Phan Xuyên (Phéaciens), Thần Hải Long Vương (Posséidon) trở về thấy dâng bão làm đắm thuyền nhờ có Thần nữ Y Nơ (Ino) cứu thoát cho mảnh khăn tiên lội vào bờ. Thần nữ Quán Trí làm dứt cơn bão. Uy Lĩnh bơi đến đảo, ẩn mình trong một cụm rừng bên bờ suối, chàng mệt nhoài say ngủ.

Phùng Cung: Mộ phách (Kỳ 4 - Tiếp theo và hết)

Biết bao ngôn từ viện trợ “đả thông”, “đánh thông”, “khai thông”; cùng với chân thực, dối trá xáo trộn, bị động thành chủ động; chủ động thành bị động. Nó làm cho Thuyên vướng mắc lùng nhùng; chỉ có thể thoát ra bằng những lời động viên thời thượng: 

- Bố mẹ buồn thì con vui sao được. Con biết bố mẹ vì chúng con mà phải chịu đựng, hy sinh nhiều mặt. Con mong muốn bố mẹ giũ bỏ được tất cả những cái cũ nặng nề để thanh thản đứng trong hàng ngũ nền tảng của cách mạng. Con chắc chắn rằng nay mai, bố mẹ sẽ vui hơn ngày xưa và hôm nay nhiều lắm. Con nói trước để bố mẹ mừng cho con - Thuyên ngừng lời tươi tắn nhìn bố mẹ - chắc chắn lần này con được kết nạp Ðảng. 

Vợ chồng ông Chản lại tìm thấy một đứa con; nó đang trước mặt mình, đang nói những lời mà tấm lòng cha mẹ đang chọn nhặt lấy những điều hiếu đễ; cái hiện tại đang thèm lùi về quá khứ... 

Vợ chồng ông Chản tiễn con ra tận cổng ngoài. Bà Chản tiếng to, tiếng nhỏ trong nước mắt dặn dò con không dứt lời; ông Chản nghẹn ngào rưng rưng khóe mắt vịn vai con, không nói được thành lời. 

Hai vợ chồng đứng nhìn theo con chưa khuất lối rẽ lên đường lớn, mà lòng đã thấp thỏm nghĩ đến bước rủi, bước may của con. Khi quay về, hai người lại chung một cảm giác mong đợi da diết như chưa gặp con. 

Bà Chản đi trước, ông Chản chìm bước đi sau, khi đã vào đến sân, ông Chản lại quay ra khép cổng như thường lệ vào lúc nhá nhem tối. Bà Chản lấy làm lạ, vội nhắc chồng sao laị khép cổng. Ông Chản không trả lời, hoặc không nghe tiếng vợ bởi trong lòng bất định rối bời. 

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019

Nguyễn Đức Tường: 1954, ngày ấy...

Tầu Ville de Haiphong hú còi một lần cuối cùng rồi từ từ chuyển bến. Đây là lần đầu tiên trong đời Tuấn được đi trên một con tầu xuyên đại dương. Đứng trên boong tầu Tuấn rất xúc động, tâm hồn xáo trộn bởi những gì chưa đến, đầy thử thách và bất trắc, và những gì thân thương, quen thuộc đã bỏ lại đằng sau. Anh nhìn bến tầu đang lùi xa dần, bến tầu mà ở đây chiều chiều anh cùng bạn thường ra hóng mát, nói chuyện gẫu. 

Anh đưa mắt tìm chỗ đứng thường ngày của mấy xe bán đồ giải khát hay xe bán thịt bò khô của anh Năm. Nghĩ đến anh Năm và nước ớt cay thịt bò khô của anh, Tuấn thấy mồ hôi chảy râm rấp trên trán. Những bộ mặt phong sương, chất phác này không còn ở đây nữa; ngày hôm nay, chỗ đứng của họ đầy rác rưởi, người vội vã đi lại tấp nập. Tuấn bất giác đưa tay lên lau mắt, kín đáo chùi mấy giọt nước mắt đang chực trào ra. Vĩnh biệt tất cả! 

Vĩnh biệt những buổi chiều chủ nhật đi xe đạp dọc đường Quán Thánh, mải nói chuyện bánh xe lọt vào đường xe điện ngã nổ đom đóm mắt, hay Gò Đống Đa, hay Nghi Tàm, hay Cổ Ngư. Vĩnh biệt phố Cầu Đất, đường Cát Dài, vườn hoa Con Cóc, những bãi đá bóng của thành phố hải cảng này. Vĩnh biệt những bạn bè còn ở lại. Vĩnh biệt những mối tình đầu, vĩnh biệt Hiền Đen, Minh Trắng, rồi Hồng, rồi Phụng, rồi Phi...

Cái số đào hoa vỏ này đã bao đêm làm Tuấn mất ngủ. Học trên các cô này hai lớp mà quen được với các cô là một thành công lớn, "succès fou" như bạn bè thường nói. Nhưng có lẽ những thành công này hoặc quá lớn hoặc chưa đủ lớn, liên hệ giữa các cô và anh quá "bình đẳng", Tuấn chưa bao giờ "anh anh, em em" với một cô gái nào hết. "Giá mà mình học trên các cô thêm một lớp nữa..." Tuấn nghĩ thầm tiếc rẻ, rồi cười tự chế nhạo cái "giá mà" trẻ con rất khiêm tốn của mình. "Giá mà cái mũi của Cleopatra dài ra hay ngắn đi một chút nữa..."

Thy An: Em về

Hình minh hoạ, Linh Pham/Getty Images

em về
trải nỗi buồn trên cánh đồng thiếu nước
như trái tim người nông dân tuyệt vọng
mỏi mòn hạt gạo lép trên tay
trái xoài tiêm thuốc độc nhăn nhó

em về
con chim non trên cành ủ rũ
hót không ra tiếng
lời nói quá rẻ rúng
mua đi bán lại
như đất của cha ông

em về
mùa xuân sắp bước sang hạ
những vết chân trên đường không tìm ra hướng
bản thảo nói về Phật, chữ nặn không ra
khuôn mặt bạn bè cạn kiệt

Phùng Cung: Mộ phách (Kỳ 3)

Lần này thì cả bà Chản cùng chồng đưa chân Ðáng ra mãi bên ngoài cổng quay về, hai người cứ cằn nhằn lẫn nhau, tại nọ, tại kia. Vào trong nhà mà ông Chản vẫn còn hai tay thu bọc, mặt xần gai gà, rõ nhất phía dưới hai mang tai. Bà Chản, thỉnh thoảng đưa hai bàn tay rửa mặt khen. Biết bố mẹ quá lo lắng lòng Thuyên bỗng thắt lại - mềm yếu -Thuyên nhớ những ngày tấm bé: mỗi lần tắm, rửa, gội đầu cho mình, bố mẹ nắc nỏm cười với nhau khen mình có da, có thịt. Lại những lần nghe tiếng bố mẹ bàn nhau may áo mới cho mình, từng ngày, mong mình khôn lớn. Mỗi lần mình trái nắng giở trời hết bố đến mẹ luôn ngồi kề bên giường xoa nắn, canh tuần... 

Hôm nay, mình đã lớn, đã cầm súng trong tay vẫn được bố mẹ coi còn thơ ấu!... Thuyên càng nhớ lại, càng không bằng lòng với mình. Bố mẹ phải sợ hãi, phải cúi đầu khổ lụy thì dẫu trước mắt, trong tay là lợi, là chức quyền, là gì gì đi nữa thì cũng là không người: Một kẻ nhẫn tâm, một tên lừa dối, một tên bất hiếu. Thuyên vật vã, mệt mỏi rồi thiếp đi lúc nào không biết. 

Tiếng chó sủa xô xát làm Thuyên bừng tỉnh - chắc bên nhà thím Vượng có khách lạ. Nhanh nhớ lại nhanh quên, những điều Thuyên nghĩ về cha, mẹ còn vương vãi ít nhiều trong đầu khiến Thuyên ngơ ngác. Thuyên nhổm hẳn dậy với chiếc gương có khung gỗ trên mặt tẩu cạnh bàn thờ soi đi, ngắm lại một mình; gương cũ mờ, ố, nhưng vẫn rõ từng nét lớn trên mặt: lông mày đen to, dưới gò má bên trái, hai nốt ruồi gần nhau, một to, một nhỏ, thấy còn đù đờ ngái ngủ. Thuyên nhìn kỹ mặt mình trong gương, Thuyên lắc đầu: chưa sắc sảo, chưa tỉnh; phải tỉnh cả trong khi ngủ; “Chưa đáng mặt Cộng Sản!” Tự mình “ốp đồng” lấy lại khí thế; trong điều kiện đang sống; trong môi trường đang sống; kẻ cầm súng, đeo đạn đặt cho mình những lời hỏi, đáp nhanh gọn: “Hiếu với ai? - với dân! Trung với ai? - Với Ðảng!” Lời vàng ngọc của bác Hồ, quên sao được, trừ khi cái đầu đã rơi. 

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

Trần Mộng Tú: Như Mưa Thấm Đất


Mùa hè năm 1954 tôi mới được 10 tuổi. Tôi chưa học hết tiểu học. (Vì gia đình tôi hồi cư về Hà Nội trễ.) Hai bàn chân bé của tôi được tham dự vào “Cuộc bỏ phiếu bằng chân” của một triệu người miền Bắc di cư vào Nam.

Lúc đó ba tôi đang làm việc cho Sở Địa Chánh, Hải Phòng. (Ba tôi từ Hà Nội thuyên chuyển xuống làm việc ở đây đã được gần 4 năm).

Sau những năm loạn lạc từ Hà Nội về Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định rồi hồi cư muộn màng về Hà Nội (vì sợ Pháp bắt lại dọc đường). Cha mẹ tôi chắc chắn không còn chọn lựa nào khác ngoài việc vào Nam để tránh Cộng Sản. Phải bỏ nhà mà đi thôi.

Gia đình tôi bắt đầu bán dần đồ đạc trong nhà. Từ cái to lớn như cái giường ngủ Hồng Kông của ba mẹ, cao lêu khêu có bốn cái cột đồng để giăng màn, cái sập gụ, tủ chè, cái bàn tròn gỗ mun mặt bằng đá, đôn sứ cho đến những cái nhỏ bé như chậu rửa mặt bằng đồng, bát đĩa, nồi xoong. Người đến mua, là những người ở lại, không tính vào Nam, nhân cơ hội này họ kiếm được chút tiền. Mua xong họ mang ra chợ trời bày la liệt ngoài đó bán lại, nên lúc nào cũng có người lạ ra vào nhà tôi tấp nập.

Nhà tôi ở ngay trước Vườn Hoa Con Cóc, nơi người ta mang những thứ mua đi, bán lại bày ra ở đó, nên buổi trưa, tôi có thể theo anh chị lớn ra xem chợ trời.

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, X - Về quê Bắc

Tôi là người Bắc thì miền Bắc nhật định là quê hương tôi rồi, nhưng tại sao, ngoài tên làng Hành Thiện nơi mẹ tôi sinh ra và làng Doanh Châu quê thầy tôi, là hai cái tên tôi thân lắm, như có thể mày tao với chúng được, tôi còn chơi thân cả với nhiều tên khác, như Gia Bình, Bất Bạt, Bạch Hạc, Tiêu Sơn, Long Giáng, Châu Mộc, Vụ Bản... chúng cũng làm tôi "rung động" không phải rung động kiểu tuyết thuyết diễm tình, mà khi nghe những tên này, tôi cảm thấy như ai gọi tên mình, một tý tên mình thôi, không phải tất cả, vì nào có phải tên mình. Tôi tìm hiểu mãi vụ này mà không ra manh mối. Chỉ biết đích xác rằng tôi ở Pháp đã hơn nửa thế kỷ, mà ai gọi tên Lyon, Marseille, ngay cả Versailles huy hoàng như thế, tôi cũng tỉnh bơ như không dính dáng gì đến mình. Nhưng chưa về đến Phú Thọ, tôi đã nghe bụng dạ báo động: sắp tới Đoan Hùng rồi đấy! Hơn hai mươi năm trước, khi cả nước còn luỹ tre xanh, xe còn đi đường quốc lộ, thường ghé Đoan Hùng. Bây giờ nước đã thành thị hoá, xe đi xa lộ cao tốc, tôi mất cả tre xanh, mất cả Đoan Hùng, mất cả đồi chè Phú Thọ vì chè đã dọn sang Thái Nguyên, nhưng tim tôi vẫn nhớ những địa chỉ cũ, dù có nơi tôi chưa đến bao giờ, bởi chúng là địa chỉ của những Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Cầm, Quang Dũng... truyền lại cho tôi. Như Đoan Hùng là nơi Mai Hương và Lê Phong đặt phòng thám tử, hồi nhỏ đọc sách trinh thám Thế Lữ thích lắm, bây giờ đọc lại thấy hết hay, nhưng vẫn cứ nhớ. Như Long Giáng của Khái Hưng trong tưởng tượng. Như Vụ Bản nơi giam cầm Gia Trí, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Như Châu Mộc, nơi đoàn quân không mọc tóc của Quang Dũng đã đi qua... những điạ chỉ ấy nó dính vào mình, nó nhỏ vào tim những vệt son một lần, là không tẩy đi được.

Rạp hát Chuông Vàng

Phùng Cung: Mộ Phách (Kỳ 2)

Nắng chiều đã lùi khỏi hàng giọt tranh, hai vợ chồng Tư Chản lại nón lá xùm xụp trên đầu, quai căng thẳng dây diều dưới cằm; lại khoác tuổi chiều xéo lên bóng nhau lúi húi vườn rau; lại ngóng tin con gái, đợi thư con trai; lại nghe gió lào xào trên cây lá - hết ngày...

Ra Tết, đang mùa của ngày xưa hội hè lễ bái, du xuân - gió chạy quanh trời, mây trắng lững thững đi, về muôn ngả. Không gian đang dọa một cái rét nàng Bân.

Ðáng ta mới tí tuổi đời, từ bữa được vào đảng ủy xã - cờ đến tay thằng nào cũng phất - lời đầu lưỡi vụng trộm của xóm làng - nay xem ra cũng tạo vẻ mặt chững chạc, cũng nghiêm nghị, cũng xuề xòa, cũng cười khẩy, đầu khi lắc, khi gật có trọng lượng, đủ tư cách một tín đồ có hạng của đạo mới, đủ khả năng chăn dắt đàn dân... Bà con hàng xóm đến nhà cán bộ sớm tối, hỏi chuyện nọ bọ chuyện kia; có người gọi là bác Ðáng, người thì gọi ông Ðáng, để tỏ lòng tôn trọng đảng ủy, tôn trọng chính quyền, tôn trọng cán bộ. Mẹ Ðáng - bà Thước - tất nhiên lấy làm hãnh diện, còn luôn miệng phàn nàn trước mọi người, về con trai mình trên trao nhiều việc, cơm chẳng kịp ăn, ngủ không ngon giấc. Bà thường một mình ngán ngẩm tiếc chồng bà không sống đến ngày nay!

Từ chiều hôm qua, bà Chản lúc lúc lại máy mắt. Hai vợ chồng đồ đoán: hoặc con Nhiễu bế con về chơi, hoặc thằng Thuyên về phép. Bà Chản nghĩ thương con Nhiễu neo đơn, vất vả chắc chắn chả về được dịp này; có chăng chỉ là Thằng Thuyên. Trong năm Thuyên có gửi thư về báo tin được nghỉ phép vào dịp Tết; không biết lại bận công tác gì mà mãi đến ngày nay chưa thấy về, cũng không thư từ gì. Nỗi băn khoăn thông thường nhưng cứ lẽo đẽo trong mong đợi của vợ chồng ông bà Tư Chản. Một lúc sau có tiếng chân người từ ngõ vào. Cả hai vợ chồng Tư Chản đều nghển phía cổng. Bà Chản mau miệng thốt lên: 

- Ôi! Thằng Thuyên đã về.

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019

Trần Mộng Tú: Cái Bếp Của Tôi

Hình minh hoạ, FreePik

Cái Bếp của tôi là một thế giới thu nhỏ
nó chứa trong đó tất cả buồn vui
tiếng cười vỡ toang
hạnh phúc
ngậm ngùi

Giọt nước mắm tròn như giọt lệ
nên bao giờ cũng nghe mằn mặn trên môi
những hạt đường là những tiếng cười
tiếng cười khẽ giúp quên đời quá mặn

Những hạt muối nêm vào khi đời bỗng dưng quá nhạt
để không quên muối mặn gừng cay
một muỗng dầu làm nên sự đổi thay
giúp chiên dòn phi thơm những điều khó chịu