Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Nguyễn Văn Thà: Người Thích Nghe Chuông

Khoảng tháng mười gió bấc bắt đầu thổi mang theo cái lạnh phương Bắc; thổi rền rĩ ngày đêm. Lá cỏ héo dần rồi tan nát. Gió đưa cát bụi len vào từng lỗ chân lông; người lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, bứt rứt. Được cái những ngày như thế, chuông nhà thờ vang xa.

Khi mấy ổng chưa vào tôi chẳng để ý đến gió bấc cho lắm. Mùa gió nồm mát mẻ hay mùa bấc khô khốc vẫn hai ngày cắp sách đến trường, có cơm ăn no, có áo lành mặc. Nhưng rồi từ độ hai miền hết đánh nhau, gió bấc làm tôi phải chú ý đến nó nhiều hơn, vì cờ bay mạnh, bay nhiều, và cũng là lúc khởi đầu cho những năm tháng tơi tả. Người và gió bấc, cờ xí cùng vó ngựa, văn hoá với những luồng tư tưởng bóp miệng. Những người dân miền Bắc như những người từ cõi âm, bắt đầu xuất hiện trước lẻ tẻ, sau đó ào ạt vào Nam để ráng kiếm cho mình một mảnh đất sống. Họ là những người ngàn đời đói đất; và vào cái thời cái gì cũng nhân dân làm chủ thì sự thèm khát đất đai lại càng mãnh liệt. Chẳng có gì quý hơn đất. Đất nào cũng được miễn là có đất, dù chỉ tạm thời. Đất rừng bạc màu chằng chịt cỏ tranh người trong làng tôi không ai thèm làm, cũng đã là quá tốt đối với họ. Nhưng chẳng dễ gì moi được miếng ăn từ những đám cỏ tranh lì lợm, rễ đan tầng tầng địa võng ấy. Dần dà mộng ước đất đai của họ bị cỏ tranh bóp nghẹt; thân xác héo quắt dưới nắng đỏ. 

Chúa HCM độ ấy cũng đã theo gươm giáo vào ngự trị trong mọi nhà xứ Đàng Trong. Thực ra, đối với số đông, cái mặt của chúa như một lá bùa gớm ghiếc mà những thầy pháp, bà bóng của chúa, cứ gióng phèng la, cứ hô âm binh đe dọa, nên cực bằng đả phải dán trong nhà, vì ai mà biết được lúc nào ma tha quỷ bắt.

Vậy mà có người đàn bà không thèm dán lá bùa ấy. Một người đàn bà Đàng Ngoài.

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018

Ngô Nguyên Dũng: Ngày sói tuyết trở lại

Phóng dịch từ bản Đức ngữ 
"Die Rückkehr des Schneewolfs" 
của chính tác giả.
"Quê hương không phải là một không gian địa lý,
mà là một khái niệm của tâm thức."


Đan thân ái,

lần sau cùng chúng ta gặp nhau đã lâu. Năm hay sáu năm trước? Tôi không nhớ rõ. Tôi sẽ vui lắm nếu được tái ngộ Đan. Lẽ đó, tôi mời Đan tới thăm và ở lại vào mùa Giáng Sinh sắp tới.

Tình thân 
Karl

Đan tới lâm trại của ông Karl xây trong mảnh đất trống giữa rừng, vừa khi bóng tối chập choạng buông. Ông Karl đứng đón anh ngoài mái hiên. Sau lưng ông, những ô kính hắt ánh đèn vàng ấm. Ống khói trên mái nhà tuôn lơi lả. Dự báo thời tiết tiên đoán một đêm thánh trắng tuyết, và bão tuyết trong những ngày lễ Giáng sinh. 

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Phạm Thảo Nguyên: Áo Dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay

Tòa soạn Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được cuốn sách mới xuất bản của một thân hữu, chị Phạm Thảo Nguyên, viết về một thành tựu trong các cải cách của báo Phong Hóa - Ngày Nay trong thập niên 30 của thế kỷ trước : chiếc Áo Dài Lemur. 
Chúng tôi hân hạnh đăng lại dưới đây Tựa của cuốn sách, bài Cõi Đẹp của Gs Cao Huy Thuần, như một lời giới thiệu cao nhã công trình của họa sĩ Lemur Nguyễn Cát Tường, cha đẻ của chiếc áo dài Lemur đã mở ra một thời đại mới đem lại vẻ đẹp cho y phục phụ nữ Việt Nam suốt gần một thế nay.

CÕI ĐẸP


Cao Huy Thuần


Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật - nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Tôn Nữ Thu Nga: tình yêu



Mong một ngày em đến, nắng mênh mang đầy sân
Và một ngày em đi. Có trăng soi đường về 
Xin mỗi lần em khóc, gió mưa qua hồn anh
Và giọng cười em vui, với chim non chuyền cành

Khi bầu trời đen tối ngàn sao sáng lung linh 
Em dịu dàng nắng sớm, ấm hồn ai bình minh
Mùa xuân xanh lá non, môi mềm như lá mới 
Mùa thu lá huy hoàng, lá bay lòng chơi vơi 

Xin đi chung đường dài, dìu nhau trong đời sống 
Em ơi thôi đừng ngại, nắm tay nhau cùng đi 
Chia mặn nồng cay đắng, khi lệ ngập tràn mi
Tình yêu như suối ngọt êm ái chảy trong rừng 
Một ngày xuân nắng ấm, sẽ về... em biết không? 

11/30/2018

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Vũ Thăng Long: Đá Bóng, Tuổi Trẻ Và Lòng Yêu Nước - Về Một Thời Tuổi Trẻ Miền Nam 

Gửi từ California, 09/12/18


Ban ngày bên Mỹ vặn được YouTube xem buổi tối Saigon, ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê sữa giống như các lần ngồi ở quán Continental, nơi nổi tiếng của những lần họp mặt bạn bè xưa, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng chung quanh Nhà hát Thành phố của những người trẻ tuổi bây giờ. Họ đang diễn hành, la hét ầm ĩ, ngay cả vài cô ăn mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy đắt tiền hiệu SH hay Honda kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn bán kết lượt về thắng Phi luật Tân, để sửa soạn trận chung kết với Mã Lai tuần tới mong tái chiếm cúp vàng đã chờ từ 10 năm nay, sau lần đoạt cúp Suzuki năm 2008. 

Họ hét to sẵn “Việt nam vô địch” như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động. Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là “non trẻ” này khi tuổi trung bình của các nhóm trẻ chỉ là 24 tuổi.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những “mô tô bay” như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường “xuống đường” tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận đá bóng chung kết SEA Game hay Cúp vô địch Đông Nam Á thắng “kẻ địch truyền kiếp” thường là đội bóng Thái Lan, và tuần tới là đội Mã Lai. Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng.

Cảng Sài Gòn năm 1866. Nguồn ảnh: ASEMi - UNSA

Thy An: Lưỡi kiếm Damocles

quảy một bao nặng trịch lên đồi 
vứt bỏ xuống thung lũng đầy xấu xa phía dưới
mượn cớ mắt mờ tai điếc
chẳng muốn nghe những rỉ rả đêm ngày
chứng nhân của bất lương và trù dập
con trùng con dế cũng đau lòng, nói chi con người
con chim đứng trên song sắt
hót cho người tù thời đại,
cô đơn lãnh án mà không hiểu vì sao
lòng yêu nước trả giá quá đắt…
kẻ tình nhân níu kéo nhau giấu mặt
yêu trong vội vã
chẳng biết ngày mai ra sao
có lẽ nào
tình yêu cũng nhớp nhúa theo cơn bão của quỷ ?

bắn phát đạn vào lương tri
như bắn vào một thùng đầy rác rưới
ngụp lặn không ngoi lên được
sợi dây thòng lọng quanh cổ
sống lo âu với những dấu hỏi to lớn
khác chi lưỡi kiếm Damocles thời Hy Lạp
sớm chiều có thể mất đầu
lơ lửng,
thân phận con người quá rẻ…

thân già đi về đâu chiều mưa lất phất
nhìn đứa trẻ lớn lên từ hoang tàn
trường học, nhà thờ, chùa chiền biến dạng
cuối đường hầm chỉ còn le lói
chút ánh sáng ngục tù
nguy hiểm và đau đớn nhất vẫn là ngục tù lương tâm :
thở cùng hơi thở nhưng không cùng ý thức…
ai cũng nuôi giấc mơ đẹp cho quê hương
ngày hòa bình với những hoan hô
bị chà đạp bởi bao trí óc nhỏ
sống cuộc đời bé giữa hí trường vĩ đại
và tấm biểu ngữ nát nhầu mang hai chữ
‘Việt Nam’

thy an

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

*Song Thao: Nhớ

Ngày 5 tháng 11 năm 2018, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã gửi “Đơn Kiến Nghị Khẩn Cấp” do Hồng Y Nguyễn văn Nhơn và Giám Mục Chu văn Minh ký, yêu cầu thành phố Hà Nội đình chỉ việc ngang nhiên xây dựng trên đất của tòa Tổng Giám mục. Khu đất này chính là khu trường Dũng Lạc trước kia.

Cổng trường Dũng Lạc đã bị đổi tên
Tin xấu này làm nhiều người bất bình. Tôi là học sinh trường Dũng Lạc trong bốn niên khóa từ năm 1950 đến 1954, từ Đệ Thất đến Đệ Tứ, nên xót xa cho mái trường xưa, mái trường mà ít ngày trước đây tôi thẫn thờ nhớ khi cô cháu tôi từ Việt Nam qua chơi, đã mang qua cho tôi cuốn học bạ bốn năm tại trường Dũng Lạc. Cuốn sổ mỏng, vàng ố, chỉ có 16 trang, ghi lại thành tích học tập của tôi trong bốn năm học Trung Học Đệ Nhất Cấp này. Học bạ được in tại nhà in Tiến Long, 25 phố Nhà Chung, Hà Nội. Phố Nhà Chung, con phố ngắn nhưng rất thân thuộc với học trò Dũng Lạc. Từ cổng trường ra, quẹo phải, là đã nhập vào bóng mát của phố, nơi có một trường của các sơ, có ca sĩ Tâm Vấn theo học, con gái túa ra từng đàn trong giờ ra về trùng với giờ tan trường của chúng tôi. Chúng tôi thường dùng con đường này để tới đường Tràng Tiền, quẹo trái ra Bờ Hồ đón tàu điện về nhà. Nhưng trước khi ra tới phố Nhà Chung, chúng tôi còn phải vấn vương với vỉa hè rộng lớn trước cửa trường. Nơi đây là thiên đàng nhỏ của học sinh Dũng Lạc. Có thịt bò khô, bánh tôm, kem cây. Lại có ngôi quán nhỏ của anh chàng Đại Quấy, bán đủ thứ hầm bà lằng, thứ nào trông cũng quyến rũ. Có bánh mì thịt ngon ơi là ngon của chàng Lý Toét. Đại Quấy và Lý Toét là những xước danh chúng tôi đặt cho hai anh chàng vui tính bán hàng trước cửa trường. 

Đàm Trung Pháp: Lời Tạ Lỗi Muộn Màng

San Antonio College là trường đại học cộng đồng lớn nhất tiểu bang Texas sở hữu một campus rộng mênh mông trong trung tâm thành phố San Antonio, trên đại lộ huyết mạch San Pedro Avenue. Dân chúng ở đây gọi tắt tên trường này là SAC (phát âm như chữ “sack”). Đây là nơi đầu tiên tôi được trở lại nghề dạy học sau quốc nạn 1975. Mùa hè 1976, tôi may mắn xin được làm lecturer trong Department of English, chuyên dạy freshman English (ENGLISH 101) là lớp bắt buộc cho tất cả các sinh viên năm thứ nhất. 



Lục cá nguyệt mùa thu 1976 khai giảng cuối tháng 8. Tôi đã soạn một syllabus kỹ lưỡng cho ENGLISH 101, nắm vững nội dung cuốn textbook, và sẵn sàng “ra quân.” Buổi học đầu tiên cho tôi thấy San Antonio là một thành phố đa chủng tộc. Trong khoảng 25 sinh viên hiện diện thì hơn nửa thuộc sắc tộc Mễ tây cơ, số còn lại là người da trắng và đôi ba người da đen. Sau khi giải thích cho họ rõ mục tiêu của lớp và những trách nhiệm của họ trong khóa học, tôi chia xẻ với họ về quá trình dạy đại học của tôi tại Việt Nam. Phần thời giờ còn lại, tôi yêu cầu mọi người viết cho tôi một trang về cuộc đời của họ, để giúp tôi “làm quen” với họ. Tiện thể, đấy cũng là phương cách thực tế nhất để tôi lượng giá khả năng viết tiếng Anh của họ. Trước khi cho lớp ra về, tôi còn nhắc nhở họ chịu khó đi học đều đặn và đọc kỹ các chương trong textbook như đã ghi trong học trình. Buổi học đầu tiên thuận buồm xuôi gió. Khi đọc các trang sinh viên viết về cuộc đời họ thì tôi thấy khả năng viết tiếng Anh của họ không đồng đều chút nào. Vài ba người viết toàn hảo, đa số viết tạm được, và số còn lại viết dở lắm. Tôi biết là tôi sẽ phải để ý đến nhóm sau cùng này rất nhiều vì họ chưa nắm vững cú pháp và còn phạm nhiều lỗi chính tả. Qua những trang họ viết, tôi được biết họ làm nhiều công việc khác nhau để mưu sinh. Họ đều hy vọng khi tốt nghiệp SAC thì nghề nghiệp họ sẽ có cơ hội thăng tiến. 

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Cung Tích Biền: Đường Về Của Phùng Nguyễn

Tháp Bàng An

1


Phùng Nguyễn là bút hiệu. Tên thật Nguyễn Đức Phùng. Tôi gọi Phùng là Nguyễn.

Một hôm, Nguyễn đột ngột “Về Nhà”, căn nhà của Mẹ. Anh đi vội, còn bỏ dở dang những trang sách viết nửa chừng, những con chữ còn bơ vơ chưa có dòng. 

Quỳnh Loan, vợ anh, bước ra khép cánh cửa, Nguyễn đi chưa kịp khép. Một sớm mai hãy còn đầy nắng.

Nguyễn có chỗ “Về” nhưng không về nơi cánh cửa vừa khép. Lại có một người thân yêu mong chờ. Đêm đã sâu. Cửa sổ, khép một cánh, một cánh hờ. Đèn phố thị mờ hoang bên ngoài. Tiếng chân một ai rất nhẹ, một ai về khuya. “Ôi, có khi là Anh”. Anh đang bước. Tiếng động hao hụt từ trí nhớ một ai chờ. 

**

Bùi Giáng cũng có một tạ từ, tha thiết lắm: 

Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
[Phụng Hiến]

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Kim Dung tự truyện: Nguyệt Vân (Nguyễn Vũ dịch)

“NGUYỆT VÂN”
月云


Lời giới thiệu 
Kim Dung từ khi gác bút năm 1972 đã không còn sáng tác nữa mà chỉ nhuận sắc các tác phẩm cũ của ông. Đến đầu năm 2000, trong số đầu tiên của tạp chí "Thu Hoạch", ông mới viết một tản văn đầu tiên từ khi gác bút, chính là truyện Nguyệt Vân này.  
Truyện Nguyệt Vân được Kim Dung cho biết là hồi ức về tuổi thơ của mình. Với thủ thuật mượn mây vẽ trăng, Kim Dung đã dùng câu chuyện Nguyệt Vân để vẽ lại bức tranh xã hội thời thơ ấu của mình. Vì truyện này khá mới như vậy nên độc giả của Kim Dung, vốn mê truyện kiếm hiệp của ông, ít có người biết đến. 
Kim Dung có rất nhiều sở trường trong sáng tác. Một trong những sở trường đó là phép dụng ẩn ý qua tên các nhân vật. Chẳng hạn như cô em A Tử (màu tía) ăn hiếp cô chị A Châu (chu: màu đỏ) ám thị câu Luận Ngữ "Ố tử chi đoạt chu dã! 惡紫之奪朱也!" (Ghét màu tía hung ác lấn át màu đỏ). Hay Lệnh Hồ Xung令狐沖, Nhiệm Doanh Doanh任盈盈(Tiếu Ngạo Giang Hồ): Xung, ý nói trống rỗng, Doanh, lại có nghĩa là đầy, hai cái tên nói lên sự khác biệt tính cách nhưng bổ sung cho nhau. Lão Tử老子viết: Đại doanh nhược xung, kì dụng bất cùng.大盈若沖,其用不窮 (Đầy mà như vơi, thì dùng mãi chẳng hết), ý nói cái đầy và cái vơi đi liền với nhau, thống nhất với nhau. Hay như Nhậm Ngã Hành 任我行 (làm theo ý mình), Hướng Vấn Thiên 向問天, ... và vô vàn thí dụ khác. 
Tác phẩm Nguyệt Vân 月云như chính Kim Dung nêu trong truyện rằng không phải là tên thực, cũng không phải nhân vật chính. Xin mời độc giả cùng chiêm nghiệm và thưởng thức thủ pháp dụng vân hoạ nguyệt qua đoản văn này của cố tác giả Kim Dung qua bản dịch của Vũ Nguyễn.

1.

Một ngày mùa đông trong thập niên 1930, tại một thị trấn nhỏ ở Giang Nam, gió bấc rít từng cơn, trời xám xịt u ám dường như muốn đổ tuyết. Thình lình, tiếng chuông leng keng, leng keng từ phía trường tiểu học vang lên.Một nhân viên nhà trường mặc áo dài bông màu lam cầm chuông đồng, giơ lên cao và lắc mạnh liên hồi. Hai ba chục đứa học trò nam nữ ở trong lớp ồn ào bỏ sách vở vô cặp rồi ùa ra hành lang xếp hàng. Bốn thầy giáo và một cô giáo cũng cùng bước lên bục giảng thành một hàng. Cô giáo trạc 20 tuổi, mỉm cười đưa tay khẽ hất mái tóc về phía sau rồi ngồi xuống chiếc ghế trước chiếc dương cầm kê phía phải bục giảng. Cô mở nắp đàn, nhếch môi cười nửa miệng. Tiếng đàn vang lên và lũ học trò gân cổ hát như hét:

Hoshi Shinichi: Cái gói (Quỳnh Chi dịch nguyên tác ”Tsutsumi” )

Hình minh hoạ, Internet

Có triển lãm tranh của một họa sĩ tại phòng tranh nọ. Người họa sĩ đã luống tuổi ấy có tới, vì hôm ấy là ngày đầu tiên. Trông ông có vẻ trẻ hơn tuổi nhiều.

Khách vào xem thành dòng người mãi không dứt. Chủ phòng tranh lộ vẻ vui mừng:

-Thưa họa sĩ, cuộc triển lãm lần này cũng rất thành công. Ông hãy xem kìa. Khách vào xem ai cũng hết sức chăm chú nhìn vào các bức tranh.

Nhà bình luận mỹ thuật đến xem, tiến đến bên cạnh họa sĩ và nói với ông rằng:

-Thật là tuyệt diệu. Ông lại khai thác một lãnh vực mới đấy nhỉ.

-Xin cảm ơn ông đã có lời khen tặng.

-Chúng tôi không chỉ khen lấy lòng đâu ạ. Mà là rất ngạc nhiên khi xem các bức họa lần này. Tất cả đều có một điểm chung là sự tĩnh lặng. Bức tranh phong cảnh kia cũng thế, mà bức vẽ cảnh đường phố này cũng vậy. Đều đầy ắp tĩnh lặng. Điều thú vị chính là ở chỗ ấy.

-Thú vị à?

Phạm Công Thiện: Bướm

Hình minh hoạ, Getty Images
Bướm bay đầu miễu cô hồn
Đầu sông cá chết sóng cồn hương linh
Đèo truông mây kéo âm binh
Có ai đập cửa thình lình đêm nay

Mùi bông dạ lý hắt bay
Nửa đêm tiếng quạ vườn xoài vọng qua
Mèo hoang rầm rộ nóc nhà
Sét vừa mới đánh cây đa bên đường

Gió luồn qua kẽ vách tường
Một người nằm thở trên giường quạnh hiu
Mơ mòng tiên nữ cô liêu
Bìm leo vắng lặng tiêu điều chiêm bao

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2018

Viet Thanh Nguyen: Tôi yêu nước Mỹ. Đó là lý do tại sao tôi phải nói sự thật về nó. (Nguyễn Đức Tường dịch)

Gia đình Nguyễn, vào đầu những năm 1980 ở San Jose, California, nơi cha mẹ anh sở hữu Chợ Mini Sài Gòn Mới Photographs Courtesy Viet Thanh Nguyen
Việt Thanh Nguyễn sinh ra ở Việt Nam và lớn lên ở Mỹ. Cuốn tiểu thuyết The Sympathizer của ông đã được giải Pulitzer 2016 về Hư cấu, cùng năm giải thưởng khác.
*

Love it or leave it —Thương nó hay xéo đi. Bạn đã nghe ai nói câu này chưa? Hay chính bạn đã nói câu đó? Bất cứ ai đã từng nghe năm từ này đều hiểu ý nghĩa của nó, bởi vì chúng gần như luôn luôn chạm đến nước Mỹ. Bất cứ ai đã từng nghe câu này đều hiểu nó là khẩu súng mà đạn đã lên nòng, đang chĩa vào chính mình.

Riêng đối với những người nói câu này, các bạn có ý định nói với sự dịu dàng, đồng cảm, với sự mỉa mai, châm biếm, hay với bất kỳ tâm trạng nào không tiềm ẩn sự bực tức? Hay câu nói đó luôn luôn là một đe dọa rất rõ ràng?

Tôi hỏi vì thực sự tò mò, bởi vì bản thân tôi chưa bao giờ nói câu này, liên quan đến bất kỳ quốc gia hay nơi chốn nào. Tôi chưa bao giờ nói “Love it or leave it ” với con trai tôi, và tôi hy vọng sẽ không bao giờ phải nói câu đó, bởi vì đấy không phải là thứ tình yêu mà tôi muốn cảm nhận, cho con tôi hay cho đất nước tôi bất kỳ đất nước ấy là nơi nào đi nữa.

Trần Mộng Tú: Chênh Vênh và Cô Đơn       

Tôi đứng nhìn cả một khu chung cư thân yêu thành bình địa. Những ngôi nhà hiền lành giản dị đó trong mấy tiếng đồng hồ bỗng bị xóa sạch, nó không còn đến một miếng ván nhỏ nào có thể nhặt lên, nó thành tro than hết rồi và một cơn gió nhẹ sẽ cuốn nó vào nơi vô định.

Giống như người ta đang có một cuộc hỏa táng tập thể vậy, nhưng thân xác hỏa táng còn một số tro ở lại có thể tách lọc ra, những ngôi nhà này không còn phân biệt được từng đơn vị, những số nhà cũng không còn nữa để mà tìm về. Đám cháy rừng đã biến cả thành phố Thiên Đàng của chúng tôi thành hỏa ngục.

Người chủ thân yêu của tôi đâu, tôi nhớ bà quá!

Ai đó đang thống kê bao nhiêu căn nhà cháy thành tro, bao nhiêu người chết tìm thấy xác và bao nhiêu cái tên bị xóa sổ chưa tìm ra.

Tôi đứng đây, chênh vênh và cô độc. Người chủ, người bạn thân thiết của tôi đâu? Tôi nhớ hai bàn tay bà gầy guộc nhưng ấm áp luôn đặt trên vai tôi.

Tôi giúp bà đi những bước chậm nhưng vững chãi. Chúng tôi đi từ phòng ngủ sang phòng khách, xuống bếp, vào phòng tắm cùng với nhau. Bà không bao giờ dám đi đâu một mình, lúc nào cũng có tôi bên cạnh. Thật ra trước kia tôi là bạn của ông, tôi đi với ông, đưa vai cho ông vịn, bà lúc đó chỉ đi bên cạnh chúng tôi. Cả ba chúng tôi luôn luôn có nhau. Sau khi ông mất rồi, các con cháu muốn mang tôi cho người khác, nhưng bà biết là đã đến lúc bà cần có tôi, bà giữ tôi lại, tôi trở thành một người bạn thân của bà.

Tình bạn chúng tôi mỗi ngày một thắm thiết. Đôi khi bà vỗ vỗ lên vai tôi nói: “Nếu không có em thì ta chẳng đi tới đâu được nữa. Con cháu của ta đâu có lúc nào cũng cho ta hai bờ vai để ta nương tựa như em.”

Trong những buổi sáng ấm áp, chúng tôi đi ra khỏi nhà và chỉ dạo những đoạn đường ngắn trong khu nhà tiền chế này. Chúng tôi cùng đứng lại ngắm trời xanh, mây trắng, chào hỏi những người qua lại, hay cả những người chỉ ngồi trong cửa sổ nhìn ra, và thấy rằng chúng tôi còn may mắn hơn họ. Cả hai chúng tôi đều thuộc lòng từng góc rẽ, nhà nào sơn mầu gì, nhà nào có hoa đẹp. Những con vật be bé bằng sành hay bằng đá trước cửa của nhà ai, chúng tôi đều nhớ rõ vì bà hay đặt tên cho chúng.

Bây giờ tôi đứng đây, mất hết tất cả, tôi chênh vênh và đau lòng, cất tiếng gọi tên bà. Bà ở đâu, có ai cứu bà ra khỏi đám cháy chưa? Nếu bà còn tồn tại trong cơn bão lửa này, tôi chắc chắn bà sẽ nói con cháu đi tìm tôi.

Chiếc Walker sót lại sau đám cháy rừng trong khu nhà tiền chế - Pine Spring Mobile Homes Park- ở Paradise.

Nguyễn Hồng Nhung: Chào nhé, Đông này !

Thôi tạm biệt, những niềm vui tìm kiếm,
những niềm mơ, phác họa bấy nhiêu thôi,
trả lại bạn một mùa Đông dang dở,
lá bàng xanh, hoa huệ trắng, cúc tươi vàng

Thôi tạm biệt những sớm trưa quấn quýt
mơ ngày dài cứ thế hồn nhiên trôi,
trời Đông tẻ nhạt, bỗng một hôm ấm áp,
như chúng mình, bất chợt nhận ra nhau,

Thôi tạm biệt những niềm đau ta xé nhỏ,
tặng lẫn nhau, như quà sớm Giáng sinh,
để một mai, mình cười, buồn nhớ lại,
những sớm Đông nào, tìm nắng ấm trên môi nhau.

Thôi tạm biệt, em xin anh đừng hoài niệm,
những ngày Đông vui, rong ruổi, chỉ bấy nhiêu,
hẹn những ban mai kiếm niềm thương vĩnh cửu,
từ rặng phong buồn, từ một góc chân mây.

Thôi tạm biệt, người ơi, em sẽ nhớ 
những ngày vui ngắn ngủi, chơi vơi
giá buốt tim anh, những giấc mơ không chợp mắt
gọi em trở về,
thao thức nốt những ngày Đông...

(Hà nội.2008.11.28)

Nguồn : AMVC

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Báo Nam Kỳ Nhựt Trình, Số 46, Ngày 8-9-1898: Tường Thuật Tang Lễ Học Giả Trương Vĩnh Ký; Trương Sĩ Tải Tiên Du*

Petrus Trương Vĩnh Ký (6/12/1837 - 1/9/1898)
Hình vẽ tưởng niệm Trương Vĩnh Ký trên báo Nam Kỳ Nhựt Trình, số 46, ngày 8-9-1898
(trích Nguyễn Văn Trung. Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa. 1997)

Ông Trương Vĩnh Ký, tự Sĩ Tải, đã tạ thế ngày mồng 1 tháng septempre 1898 hồi 4 giờ chiều.

Người hiền-ngỏ từ trần ai ai đều thương tiếc. Vậy Bổn quán báo tin cho chư Quý-hữu đặng hay.

Cổ nhơn điếu nhơn dỉ ngôn. Vậy ta cũng phải chịu cạn chút lòng thành, quê kệch đôi lời đưa người tri-kỷ.

Petrus Trương Vĩnh Ký sinh năm Đinh Dậu, Minh-Mạng thập bát, nhằm năm 1837, tại phủ Hoàng-Trị xứ Cái-Mơn, tỉnh Vĩnh-Long, bây giờ thuộc hạt Bến-Tre.

Thuở còn xung-linh ở với Nhà-thầy rèn chí tu-trì phụng sự Thiên-chúa. Sau lên Cao-Man học trường Pinhalu, rồi qua học sách đoán tại cù-lao Pinang. Từ ấy về sau mở trí càng ngày càng thông đạt xuất chúng. Ấy vậy khi trở về Vĩnh-Long đi ngã Cần- Vọt, nhơn Nhà nước Đại-Pháp qua chiếm Nam-Kỳ, quan Nguyên-Soái thủy Rigault de Genouilly xin đức Giám-mục cho giúp làm thông sự. Nhơn đó ra luôn theo việc thế gian.

Nguyễn Trọng Tạo: Ba Biến Khúc Văn Cao

Thiên Thai - tranh Đinh Cường

1.


Người gọi ông là “ba đỉnh núi sương mù”. Người gọi ông là “Dòng sông ba nhánh”. Người gọi ông là “Nghệ sĩ đa tài”. Người gọi ông là “Bậc tài danh thế kỷ”… Khi tôi gặp ông thì ông đã 57 tuổi, chòm râu dài phất phơ ngả bạc như tiên lão bảy mươi. Ông ngồi một mình trên đi-văng đệm vải cũ càng, mắt nhìn vào chén rượu gạo bình dân như chẳng chờ đợi một điều gì. Có lẽ ông đã ngồi như vậy mấy chục năm liền. Những chai rượu đầy vơi vơi đầy không nhớ đã bao lần.

Cũng không nhớ đã bao lần trên đất nước này và cả những nước khác, người ta đã hát vang bài ca của ông, bài Quốc ca Việt Nam mang hồn thiêng sông núi: Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc. Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa.

Khi nghe Phan Lạc Hoa giới thiệu tôi, mắt và miệng ông ánh lên nụ cười gần gũi, bình dị: “À, cái anh Nghệ nhận Quan Họ làm quê đây!”. Ông với tay kệ tủ lấy thêm ly, và Nguyễn Thụy Kha rót rượu. Ông đối với bọn trẻ chúng tôi như với bạn. Khi thân mật rồi, hầu như chẳng còn khoảng cách tuổi tác. Có lẽ vì thế mà ông luôn luôn mới. Chúng tôi rủ ông đến quán lòng lợn tiết canh đầu chợ Đuổi, ông đồng ý ngay, nhưng nhắc là nên mua rượu ở quán cạnh bến xe Kim Liên, loại rượu gạo ông thường uống. Quán đông quá, chúng tôi mượn một cái chiếu trải vào túp lều tranh bỏ trống bên cạnh. Cứ ngồi xếp bằng mà uống rượu và hút thuốc lào như ở làng ở xã. Người ra vào chợ đông đúc, ồn ào, hình như cũng không ai biết ông già ngồi quán bình dân này là tác giả Quốc ca. Còn chúng tôi, lần đầu tiên được biết những bài thơ ông làm để rồi cất lại trong lòng, không đưa in đâu cả, mà dù có đưa in thì người ta cũng chẳng in cho. Mấy chục năm nay, ông chỉ làm bìa sách, vẽ hình minh họa cho báo và làm nhạc… không lời. Những bài thơ của ông khiến chúng tôi nổi cả da gà, kinh ngạc vì thán phục. Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ của ông thật đến siêu thực. Thơ của ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.

Nguyễn Tuân: Bá Nhỡ đi gặp Cô Tơ (Trích từ tiểu thuyết Chùa Đàn. Nhan đề trích đoạn do Tòa soạn đặt)


Một tháng ròng, Bá Nhỡ cho đón một người kép nghiện về ấp để luyện lại ngón đàn đáy, cung đốn thầy đàn quá là phụng dưỡng cha già, chỉ đinh ninh hễ thành thuộc hết cái bí mật của nhà nghề khi đã ghim được rồi, là sẽ hạ sơn đón Cô Tơ mà xóng tơ mình với trúc người, – ít ra là một lần này – để Cậu Lãnh có dịp đầu thai lại vào đời sống. 

Mà tập đàn đáy đến như Bá Nhỡ thì tức là cướp cả nghề của kép nghiện đấy. Bá Nhỡ không thèm buông một tiếng tơ nào. Đã bấm đến tiếng đàn nào thì tiếng đàn ấy cứ chín nục đi. Không một chữ nào sượng. Tưởng có đi đàn thờ ở một cửa đình nào, thì ông thần làng lấy giải cũng không bắt được Bá Nhỡ đàn lỗi ở bất cứ khổ nào. Trông Bá Nhỡ thắt cổ chó mỗi lúc nối dây, xinh đáo để. Mà người tỉ mỉ đến thế là cùng. Không một bộ phận cỏn con nào của nhạc khí lôi thôi kềnh càng ấy mà Bá Nhỡ không thuộc. Không nói gì đến cái quá giang cái thú của đàn, đến như cái mõ phím đàn, cái vú đàn, Bá Nhỡ cũng tò mò đến. Thế rồi những ngón đàn như vê, lẩy, chụp, vuốt, nhấn, những tiếng thoảng, những chỗ xoè, Bá Nhỡ đều nhập tâm cả coi cũng như là công việc sổ sách hàng ngày trong ấp tằm.

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Võ Phiến: Thẫn Thờ

Mình viết lách từ hồi nào? được bao lâu rồi nhỉ? Mằn mò nghĩ ngợi cho ra, e khó. Tí toáy tập tành, viết lèm nhèm, thì làm sao nhớ được từ năm tháng nào. Viết được ra trò, được cái đáng kể, thì biết cái nào là cái đáng kể mà ấn định lúc bắt đầu?

Vậy hãy phỏng chừng từ độ tuổi đôi mươi đến giờ: Sáu mươi năm. Trong chừng ấy thời gian, được gì nào?

Hai tiếng “được gì” hàm ý chọn lựa. Thế nào là “được.” Thế nào là chưa “được.” Khó thay. Tự nó, cái viết có giá trị gì, có tầm quan trọng nào chăng? Cũng khó nói quyết.

Viết, đại khái có cái sáng tác, cái suy tưởng. Sáng tác, như thơ, truyện, tùy bút thuộc về một phía. Còn suy tưởng, tra cứu, biên khảo, thuộc phía khác. Một bên là nghệ thuật, một bên là học thuật; nên tách riêng mà nói.

Đồ dùng và đồ chơi


Chuyện sáng tác có gì đáng nói? Hồi nhỏ, tự dưng náo nức viết; rồi theo đà cứ viết hoài. Đó không phải là lý do chính đáng làm cho cái viết thành quan trọng.

Phàm đồ làm ra, xét về mục đích sản xuất, có một thứ là đồ dùng, một thứ là đồ chơi. Cái có công dụng gọi là đồ dùng; dù nhỏ bé như cái kim, sợi chỉ, như cái tăm xỉa răng, cái que ráy tai v.v... đều là đồ dùng. Còn những cái làm ra không có sở dụng thực tế, chẳng hạn con diều giấy, thì dẫu có to lớn bằng cái nong cũng gọi là đồ chơi. Đồ dùng thô sơ như cái búa, cái gối, cái đòn ngồi, vẫn là đồ dùng. Đồ chơi thì tinh xảo như chiếc phi cơ, gắn cục pin vào có thể bay tít lên cao cũng gọi đồ chơi thôi. Đồ dùng thì một viên thuốc nhỏ bằng hạt tiêu, đen sì, nằm lăn lóc, vẫn là để dùng một cách thận trọng. Còn đồ chơi thì dù cái pháo đốt kêu ầm ĩ, cây pháo bông tỏa sáng huy hoàng cả một góc trời, cũng đồ chơi thôi.

Ngô Nguyên Dũng: mơ thành giọt mực tím



sẽ là mực cho mặn mà lưu bút 
tô đậm đà sắc tím những dòng thư 
đừng lấm nhé màu áo trắng vô tư 
khi mắt dạo bên ngoài khung cửa lớp 

sẽ là phấn bạn cùng con số một 
trên bảng đen ta có cặp có đôi 
sẽ nằm ngoan giữa hai ngón tay lười 
đang bối rối vì làm sai con toán 

sẽ là thước cho thẳng đường giới hạn 
thêm yêu kiều điểm uốn với đạo hàm 
đo tình yêu vội vã cấp số nhân 
cho bút kẻ đường song song không lệch 

cho anh chợt nghe hồn mình trổ tết 
lì xì nhau bằng mấy nụ hôn đầu 
sẽ làm vai em tựa lúc buồn đau 
làm chéo áo lau lệ ai khi khóc