Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

Nguyễn Đức Tùng: Những năm hai ngàn

Thành phố Gisborne ở Tân Tây Lan, dân số hơn ba mươi ngàn, là thành phố đầu tiên trên trái đất đón chào ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ngày 1 tháng 1 năm 2000. Con người bắt đầu nghĩ tới Thiên đàng. Nhiều người nghĩ là sẽ có những chuyến bay tới đó.

Năm hai ngàn, người Nhật tin rằng phát minh ra mì gói là đóng góp lớn nhất của họ đối với nhân loại, trong thế kỷ hai mươi.

Thì không phải vậy sao? 

Thời sinh viên, nếu không có mì gói, instant noodle, trước kia ở miền Nam gọi là mì Đại hàn, tôi có sống được không? 

Không. Những năm hai ngàn không thể nào quên Margaret Atwood, The blind assassin, Kẻ sát nhân mù lòa, Kazuo Ishiguro, When we were orphans, Khi chúng ta là những đứa trẻ mồ côi, Anne Carson, Martin Amis, Stephen King, Philip Roth, Alice Munro, Kenzaburo Oe, T.C. Boyle, Salman Rushdie, Joan Didion, Lorrie Moore.

Tại sao đọc? 


Việt Dương: Họa sĩ Vị Ý với giấc mộng không thành?

Họa sĩ Vị Ý (1924-1988).
 Hình Nguyễn Tiến Thịnh, báo Người Việt.

Trên đảo Galang

Tàu Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đón những những người tị nạn cộng sản ở đảo Subi về Galang và cập bến đảo Galang khoảng 9, 10 giờ đêm. Khi điểm danh xong, chúng tôi được xe chở về barracks cách bến chừng 3 cây số.

Sáng hôm sau, tôi đang nằm nghĩ đến sự nhẹ nhàng thoát nạn với niềm vui cập bến Galang thì có một ông từ ngoài đi vào nhìn quanh, rồi đứng lại trước sạp tôi nằm. Tôi sửng sốt ngồi bật dậy:

- Vị Ý, gặp ông ở góc biển này ư?

Với nụ cười tươi và cái pipe quen thuộc, Vị Ý đưa tay kéo tôi xuống sạp:

- Chuyến tàu nào của Cao Ủy chở người tị nạn tới Galang, tôi đều đến nhìn mặt một lượt xem có ai quen biết. Cả chục chuyến chẳng gặp ai. Đến hôm nay thì trời không phụ lòng người.

Vị Ý quàng vai tôi:

- Ra quán.


Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2023

Nguyễn Công Khanh: Đầu Năm Nói Chuyện: Đi Tìm Bản Sắc (Phần 2)

Hai hôm sau, khi đi làm về, nghe tiếng điện thoại, anh chắc là của bạn. Khi anh vừa lên tiếng trả lời thì bạn anh bắt đầu ngay như một bài luận thuyết:


"Tôi muốn nói với ông điều này, trước khi đi tìm bản sắc cho con ông, cho cháu ông, cho chắt ông và cho cả ông nữa, để khỏi bị nhận lầm, để sống và có thể ngẩng mặt được ở xứ nầy, để có thể hòa hợp với những người Việt trên thế giới được, thì phải bàn đến mấy vấn đề căn bản trước."


"Nói đến bản sắc thì phải nói đến văn hóa, văn hóa và bản sắc thường đi liền với nhau, văn hóa tạo ra bản sắc và bản sắc duy trì văn hóa. Cho nên phải biết bản sắc và văn hóa là gì. Còn tài liệu Việt Nam mà tôi nghĩ ông có thể tin cậy được là của hai học giả Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh."


"Trước hết nói về văn hóa, xem Mỹ nó định nghỉa ra sao. Theo E.B. Taylor, một nhà nhân chủng học hiện đại trong cuốn Primitive Culture 1981:


"Văn hóa là một tổng hợp hỗn tạp gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật lệ, phong tục và những khả năng khác cùng tập quán đòi hỏi ở một người để thành một phần tử của xã hội đó."


Cung Tích Biền: Mùi của gió mùa

Nhà văn Cung Tích Biền
Bảy mươi tuổi, hãy còn khoẻ mạnh, minh mẫn; từ bao năm, Cụ Gàn tiêu biểu cho niềm vui, lòng tận tụy với xã hội. Ngồi gần cụ, bên cốc cà phê, năm ba bè bạn, thì thật thú vị, vì sự dẫn dắt câu chuyện, lý giải các sự kiện lịch sử, văn chương, triết học.

Kiến thức sâu rộng, biết nhiều ngoại ngữ nên nguồn đọc của cụ không lệ thuộc vào sách nhập nội thông qua dịch thuật. Cách nói ngắn gọn, hàm súc, nhiều ẩn dụ, đậm chất hài hước. Giọng hiền hòa, hấp dẫn; không dạy đời, không cường điệu; rất chân tình, nhưng thẳng thắn vì tôn trọng sự thật.

Cụ là nguồn tư liệu phong phú cho các ký giả trẻ muốn tìm hiểu sinh hoạt của Sàigòn cũ, từ chuyện chính trường đến chỗ ăn chơi, nhà hàng vũ trường; từ tổ chức guồng máy hành chánh đến hệ thống quân đội. Cụ là cố vấn đặc trị thiếu hụt kiến thức nhiều mặt, cho quý vị thạc sĩ tiến sĩ nội địa có ngọn mà thiếu cái gốc, đang giảng dạy ở một số đại học hiện nay.

Hoàng Thị Bích Hà: Anh tôi

Tác giả Hoàng Thị Bích Hà
Tôi có một người anh cá tính, hoang nghịch trổ trời mà lên. Từ nhỏ, thích trèo cây trong vườn. Có bữa leo phải cành ổi giòn bị gãy, thế là anh rớt xuống nghe uỵch một cái như trái mít rụng. Anh đau điếng cảm giác rêm ram cả mạng sườn. Anh sợ quá nằm im một lúc, nghĩ bụng chắc mình chết rồi! Mở mắt ra, giơ chân tay thấy còn ngọ nguậy được. Vậy là chưa chết lại phủi đất lò mò ngồi dậy (như chưa hề có cuộc chia ly). Anh chạy vô nhà thấy tôi ngồi chơi đồ hàng bên cửa sổ hỏi:

- Ê lúc nãy mi thấy tau té không?

- Anh có té à, em nghe bịch một cái, tưởng trái mít rụng chơ!

- Mít mô mà rụng tau té đó, đừng méc mạ nghe!

Trẻ con trong xóm có trò chi là anh tham gia trò nấy như thả diều, rượt nhau, bắn bi…Nghe nói bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi, vậy là anh cùng tụi bạn bắt chuồn chuồn rồi vén bụng lên cho cắn xong rồi cùng cả nhóm trong xóm ùa xuống bến sông nhưng chưa bơi được sải nào đã chìm nghỉm. Nhờ có anh bạn chụp tóc kéo vô, may không thôi chết. Sau về nhà ngồi ngẫm nghĩ chắc tại con chuồn chuồn kim cắn nên chưa hiệu nghiệm. Phải là con chuồn chuồn voi mới được. Vậy là trưa trời nắng gắt thế mà cũng lội từ vườn cây ra đến biền mà bắt cho được con chuồn chuồn voi. Cho cắn rốn sao mà nó ngoạm cho một miếng tươm máu rồi tự động viên không hề hấn chi miễn biết bơi là ok. Sau đó rủ tụi bạn xuống bến bơi nhưng vừa thả chân, thả tay ra khoát khoát vợi vợi vài cái cũng lại cũng chìm nghỉm. Nhưng lần này rút kinh nghiệm chỉ bơi chỗ nước ngang bụng nên không sao!

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Nguyễn Công Khanh: Đầu Năm Nói Chuyện - Đi Tìm Bản Sắc ( Phần 1)

Có những người bạn, lâu lắm anh không gặp, nhiều người có lẽ từ ngày rời nước ra đi.  Khi gặp nhau, anh và họ thường dùng những giây phút đầu, nhìn nhau từ đầu tới chân, rồi cả hai cùng thốt lên: "Trông vẫn thế, không thay đổi gì cả", nghĩa là Việt Nam vẫn hoàn toàn Việt Nam.

Sự thật, qua nhiều năm trời xa xứ, anh và mọi người cũng không thay đổi là bao. Tuy tóc anh có nhiều sợi bạc thêm, mặt anh có nhiều nếp nhăn hơn, và dù anh có ăn nhiều bánh mì, nhiều thịt cá Mỹ hơn, nhưng cũng chẳng giúp anh giống Mỹ thêm được chút nào.


Ngay cả cách sống, khi bước vào nhà, trong nhiều năm, có thể thấy ngay những bức tranh trên tường, những tấm lịch dù có thay đổi hàng năm, nhưng vẫn là những hình ảnh muôn đời của Việt Nam. Vẫn những hàng thùy dương trên cửa Thuận An, Sa Huỳnh, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu...Vẫn những đồng lúa xanh của miền Nam với sóng lúa chẩy vờn nhau tới mãi chân trời. Vẫn những con thuyền nhỏ nặng trĩu trái cây, xuôi giòng bình yên giữa hai hàng cây xanh bên bờ kinh lạch đỏ đất phù sa. Vẫn những cồn cát mênh mông, óng ả không dấu chân người. Vẫn những thắng tích: Hòn Phụ Tử Hà Tiên, Lăng Ông, Chợ Bến Thành, Thánh Thất Cao Đài, Tháp Bà, Cầu Đá, Hòn Chồng, Lăng Tự Đúc, Cột cờ Đông Ba, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly... Còn nữa, còn thêm nữa, những cảnh Tháp Rùa, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Một Cột, cánh buồm trên vịnh Hạ Long...


Nguyễn Hữu Nghĩa: Nghĩ về chiến sĩ nhân quyền Võ Văn Ái (18.10.1935—26.1.2023)

Nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền
Thi Vũ--Võ Văn Ái (Nguồn: trang Quê Mẹ
)
Tôi gặp anh Ái và Ỷ Lan khá nhiều lần, nhưng không có nhiều kỷ niệm sâu đậm. Nó giống như hai cánh quân tình cờ gặp nhau, hay cắt ngang qua nhau trên một đoạn đường chiến dịch, nhìn thấy nhau, chia nhau điếu thuốc hay bi-đông nước, rồi đường ai nấy đi, thường thì chung hướng, cũng có khi nghịch hướng, khác chiến thuật nhưng không đối đầu. Chúng tôi chỉ có một đích chung: mưu tìm nhân quyền dân tộc, theo cách riêng của mình. 

Anh Ái làm báo và nhà xuất bản Quê Mẹ ở Pháp từ 1976, tôi lập báo và nhà xuất bản Làng Văn ở Canada từ 1984. Anh làm thơ, ký tên Thi Vũ, tôi làm thơ ký tên Cung Vũ. Anh có tập “Gọi Thầm Giữa Paris”, tôi có các tập “Hồng Trần”, “Cỏ Biếc”, “Nguyệt Bạch”. Anh Ái nhận xét thơ Cung Vũ khá “màu mè”, với cách đặt tên hồng, biếc và bạch, mỗi tập một màu. Tôi đùa, bảo tác giả Thi Vũ gọi không ra tiếng (Gọi Thầm). Ỷ Lan cười thoải mái. Anh Ái soạn cuốn “Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam, 1945-1985”; tôi chỉ viết về thơ cổ, “Hồ Xuân Hương”. Anh viết “Nguyễn Trãi Sinh Thức và Hành Động”, cùng “Luận Chiến Nước Ngoài, Tới Tận Cùng Sự Hóa Giải Dân Tộc”, tôi in cuốn “Dọn Đường Về Nước”“Những Chuyển Biến Mới Trên Chiến Trường Cũ”, đều nói về tư tưởng chính trị và thời sự.


Cung Tích Biền: Tân Truyện - Một thời nên vắng mặt

“MỘT THỜI NÊN VẮNG MẶT”, 
Tân Truyện của nhà văn CUNG TÍCH BIỀN, VĂN HỌC PRESS xuất bản năm 2021.

Bạt:Nguyễn Vy Khanh – Đặng Thơ Thơ – Lê Hữu

Tranh bìa:Hoàng Thị Kim

Thiết kế bìa:Hubert Phan

Sách được bán trên BARNES & NOBLE

Diễn Đàn Thế Kỷ xin trích đăng 4 chương đầu của tác phẩm này.


MỘT THỜI  NÊN VẮNG MẶT

một

 Lời âm u khói núi


Hãy rộng lòng với tôi những điều tôi đã nói. 

Hãy hiểu cho tôi những điều tôi chưa nói.

CTB


Gọi rằng, tập thể những con người có-mặt-chúng-tôi, là một khu rừng. Rừng rú ấy non thế kỷ qua chỉ toàn cây trái độc. Cây này tỏa chất/khí độc làm tàn héo cây kia. Cây nọ rụng trái/giống độc xuống làm què quặt mầm non khác.


Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2023

Trần Trung Đạo: Tình người như mùa Xuân


Một lần tôi từ Houston về lại Boston trong cơn bão tuyết. Tuyết rơi lớn đến độ phi đạo không an toàn để phi cơ hạ cánh. Phi cơ bay thấp. Tôi có thể nghe tiếng tuyết đập vào thân máy bay xào xạc như có thể làm chiếc hộp kim loại mong manh kia vỡ nát bất cứ lúc nào. Phi cơ vần vũ trên không phận Boston cho đến khi gần hết xăng phải bay ngược lại phi trường Providence, cách Boston 45 dặm. Tuyết ở Providence cũng rất dày tuy không bằng Boston.

Trạm kiểm soát không lưu không có chọn lựa nào khác nên phải cho phi cơ hạ xuống trong tình trạng vô cùng nguy hiểm. Tiếng cọ xát của đôi cánh máy bay cắt xuyên qua lớp tuyết dày như tiếng lụa xé. Tôi đoán thầm, tất cả hành khách chắc đang thề thốt sẽ không bao giờ đi máy bay lần nào nữa. Sau khi hạ xuống xong, phi cơ đậu ngay cuối phi đạo vì không đủ sức để lăn vào cửa. Hành khách phải bước xuống và lội lên 20 phân tây tuyết để vào hành lang phi trường.

Trần Mộng Tú: Yêu nguyên cả mùa Xuân

Hình minh hoạ, Haycafe

Qua rồi mùa Đông, trên những cây hoa Đào khô ran, sần sùi ngoài đường phố hay trong những khu vườn nhà mình, nhà hàng xóm. Bắt đầu nhìn thấy những chiếc lá nõn màu xanh nhàn nhạt từ từ xuất hiện và chỉ mấy hôm sau, ở cửa sổ nhìn ra những chiếc nụ lá đó đã nở tung những chùm lá nõn, rồi tiếp theo là những nụ đào đua nhau xuất hiện.

 A! Hoa Đào đã về, trời đất vào Xuân rồi. 

Trời đất vào Xuân cả con người cũng vào Xuân nữa. Tối qua đọc một đoạn thơ của Thi Sĩ người Ba Tư Khalil Gibran nói:


Do not love half lovers

Đừng yêu phân nửa người tình


Ai mà đem cắt được người tình ra làm hai dù theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. 

Cũng như không ai có thể chỉ yêu một nửa mùa Xuân. Sẽ bối rối lắm vì không biết sẽ chọn chiếc lá xanh non hay bông hoa đỏ, hoa Đào đơn, hoa Đào kép, hoa Đào hồng nhạt hay hoa Đào hồng đậm. 

Làm sao cắt được bông hoa ra làm hai để yêu một nửa mùa Xuân. 

Khi những đóa hoa Đào nở tung trên những con đường trong phố thì mùa Xuân thực sự trọn vẹn, không phải một nửa hay một góc mùa Xuân nữa.


Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Trần Mộng Tú: Năm Mới

Hình minh hoạ, Karolina Grabowska 
Chúng ta sẽ mở cuốn sách. Trang nào cũng còn không. Chúng ta sẽ tự viết những chữ xuống. Cuốn sách có tựa là Cơ Hội, và chương đầu là Năm Mới (1)


Ước gì những dòng nước trước mặt ta êm ả quanh năm, những cánh buồm trắng thỉnh thoảng xuất hiện khoe vẻ quyến rũ, tinh khiết cùng những chiếc xuồng máy khỏe mạnh, trẻ trung với tiếng cười của những người chơi trượt nước; bên dưới dòng nước cá lớn không ăn cá bé; con rùa, con ốc có chỗ riêng của nó, những đám rong nhẹ nhàng rung động, cát nằm yên ả, hàng vi lô thỉnh thoảng xào xạc gió vào mùa tuần tự: Xuân,Hạ,Thu Đông.

Ước gì con đường luân lưu trong thành phố, những quốc lộ xuyên bang, xe cộ qua lại nhường nhịn nhau, mùa Hạ khô ráo cũng như ngày Đông, tháng gió, mùa Xuân cũng như mùa Thu, bánh xe lãng tử lăn đều trong thái bình, nhường nhịn, tránh né nhau, không có tai nạn nào đáng gọi là trầm trọng.

Đinh Quang Anh Thái: Chiều cuối năm thăm tác giả “Áo Mơ Phai”

“Tình ca, những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó: một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau. Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta. Em đâu ngờ, anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của những ngày sung sướng đó. Tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ, tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố, ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thửa thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa Hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về. Gió cuốn từng cơn nhớ, anh bỗng nhận ra, anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố.”

Hình 1: Tác giả Áo Mơ Phai (xoay lưng) và nhà báo Đinh Quang Anh Thái.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn mở đầu như thế, trong chương trình “Nhạc Chủ Đề Tình Ca Quê Hương” do anh phụ trách hàng tuần vào mỗi tối Thứ Năm trên làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn trước năm 1975.

Lafcadio Hearn: Những con mèo trong hình vẽ ("The Boy Who Drew Cats", Nguyễn Văn Sâm dịch)

Lafcadio Hearn
(27 June 1850 – 26 September 1904)

Nghệ thuật khi đi tới tuyệt đỉnh thì ảnh hưởng của nó vô cùng, khó lường, khó tưởng tượng được. Câu chuyện cổ tích Nhật Bản nầy được Lafcadio Hearn, nhà văn Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, sống cuối đời ở Nhật, viết bằng một văn phong giản dị nhưng đã có công giới thiệu cái bản sắc đặc thù của văn hóa Nhật với Tây phương (NVS).

Lâu, lâu lắm rồi, trong một ngôi làng bé nhỏ ở Nhật, có một đôi vợ chồng nông dân nghèo khổ. Họ là người tốt nhưng vì quá nhiều con nên không thể nuôi hết được. Đứa lớn nhất khi vừa lên mười bốn đã phải làm việc nặng nhọc giúp cha rồi. Hầu hết mấy đứa con gái ngay từ khi mới biết đi đã phải lo đỡ đần cho mẹ.

Nhưng mà đứa nhỏ nhất,đẹt con, không thể thích hợp với công việc nặng nề. Nó thông tuệ hơn các anh chị, nhưng lại yếu ớt và quá nhỏ bé. Thiên hạ nói nó không thể lớn được. Cha mẹ nó nghĩ rằng lo cho con về sau thành thầy sãi tốt hơn là thành nông dân. Rồi họ dẫn con đến ngôi chùa trong làng, khẩn khoản vị sư trụ trì cho con vào chùa học tập như một chú tiểu.

Hoài Mỹ: Năm Mão lai rai chuyện Mèo

DĐTK nhận được bài viết này của cố Nhà giáo, nhà văn Đào Quang Mỹ, bút hiệu Hoài Mỹ (chủ nhiệm bán nguyệt san Ngàn Thông, đã mất tại California từ năm 2018) từ nhà văn, dịch giả Nguyễn Văn Thực ở Oslo, Na Uy.

Vì không thể liên hệ trực tiếp nên qua đây DĐTK xin gửi lời xin phép gia đình cố nhà văn Hoài Mỹ về việc đăng bài “Năm Mão lai rai chuyện Mèo” này nhân dịp Xuân Quý Mão 2023 và xin cảm ơn nhà văn, dịch giả Nguyễn Văn Thực đã giới thiệu một bài phiếm về mèo rất hay của cố nhà văn Hoài Mỹ.
***

Mèo vờn cá vàng - Cat Pawing at Goldfish
Isoda Koryusai - 1770s
Nói về nguồn gốc tên gọi của 12 con Giáp, chỉ có Mèo là người ta thấy ngay được sự liên hệ giữa “chủ” và “danh”. Chẳng cần dài dòng văn tự hay vòng vo tam quốc hoặc phải tra cứu sách vở Đông Tây, ai cũng có thể giải thích đúng boong tại sao con Giáp thứ tư này lại gọi là Mèo hay Miêu – Thưa, chỉ tại tiếng kêu của nó: “Meo... mi-ao”. Thế thôi! Tuy nhiên, ấy là nói về tiếng Việt mới có sự đồng thuận ngon lành như thế, chứ trong ngôn ngữ khác thì... đành chịu tình trạng tranh cãi. Vả lại, mỗi dân tộc lại đặt một tên khác cho “loài động vật có vú nhỏ và ăn thịt” này, trừ danh pháp khoa học của Mèo – Felis silvestris catus – thì xài chung.

Tuy vậy, thiết tưởng cũng cần nhắc, ngày xửa ngày xưa Mèo còn có tên là Mãn, nhưng chẳng được mấy ai gọi. Nguồn gốc của từ Mãn là Mãnh đấy. Truy tầm lý lịch Mèo, người ta được biết Mèo có họ hàng ruột thịt với Hổ như sẽ kể ở phần dưới đây – mà Hổ, ngoài tên cúng cơm Cọp, còn có nhiều biệt danh, như Hùm, Ông Ba Mươi và ông Mãnh – nhưng vì có vấn đề xích mích bất khả hòa giải hòa hợp nên cuối cùng Mèo và Hổ chẳng những không có thể tiếp tục sống chung với nhau nữa mà còn tự biến hình đổi dạng cho đoạt tuyệt vể thể lý cũng như đoạn tình đoạn nghĩa luôn. Từ đó Hổ tự ông Mãnh vẫn to lớn còn mèo thì tự nguyện bé lại. Loài người vốn sợ oai Hổ nên cũng tự động tránh húy bằng cách gọi trại Mãnh thành Mãn – khi viết thì chặt bỏ mẫu tự “h” – nhưng vẫn giữ âm na ná nhau để ngầm chỉ về mối liên hệ máu mủ cố hữu của hai giống thú này. 


Lê Hữu: Lời chúc, câu chào ngày Tết

(Ảnh: Thiepmung.com)

“Câu chúc Tết nào là hay nhất của người Việt mình?” một anh bạn hỏi tôi.

Câu hỏi bất ngờ, tôi chưa kịp nghĩ ra để trả lời.

Từ lâu, người Việt không còn thói quen gửi cho nhau những “cánh thiệp đầu Xuân”. Thay vào đó, người ta gửi lời chúc Xuân qua email, text, facebook… Thường, mỗi khi gửi đi hay trả lời một câu chúc tôi phải nghĩ ngợi, thay đổi một vài chữ, để không lặp lại rập khuôn câu chúc từ những năm trước. Một anh bạn tôi trả lời email chúc Tết bằng câu ngắn gọn “Tôi cũng vậy”, hay “Anh chị cũng vậy nhé” (phỏng theo cách nói “Me too”, “You too” của người Mỹ) và đề nghị các bạn mình cũng làm theo như vậy cho… gọn. Sáng kiến hay ho ấy được nhiều người hưởng ứng. Một chị bạn nói không làm như vậy được vì máy móc quá và thấy “ngượng tay” khi gõ bàn phím.

Lê Chiều Giang: Nghề nghiệp

Sơn dầu. Tranh Nghiêu Đề

" ...Phận bèo bao quản nước sa

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh..."

KIỀU, Nguyễn Du

Khi nghe mưa rạt rào, tôi để yên cửa sổ, dù biết mưa hắt sẽ làm ướt hết ghế bàn, chăn gối.

Mưa Cali hiếm hoi, tôi thèm bước ra đường dầm mưa cho ướt hết tóc và áo, nhưng nhìn đồng hồ đã là một giờ sáng, đêm tối làm tôi phải ngại ngùng.

Tắt hết đèn đóm, mưa như tiếng ru, nhưng tôi biết mình sẽ chẳng thể nào thiếp ngủ. Tôi thức trắng chỉ vì thèm nghe tiếng mưa rơi. Mưa, như đang tỉ tê nói những lời trầm trầm, lời nho nhỏ với tôi cùng đêm tối.

Mưa đưa trí nhớ tôi trở về với ánh đèn tù mù của bến xe tỉnh nhỏ, nơi 30 năm trước tôi theo thiên hạ, lần mò cho một lần xuống ghe thuyền, ra tàu lớn. Tôi ra đi, tôi chạy trốn, tôi thèm được xa lìa khỏi quê hương.


Nguyễn Công Khanh: Đi Lễ Giao Thừa

Seattle_-_Viet_Nam_Buddhist_Temple_01
Chùa Việt Nam ở Seattle, Hoa Kỳ

Bao nhiêu năm ở Seattle và dù không phải là Phật tử thuần thành, nhưng lễ Giao Thừa nào vợ chồng con cái chúng tôi cũng có mặt tại chùa Việt Nam, ngôi chùa đầu tiên của thành phố.

Chiều cuối năm chúng tôi dọn dẹp nhà cửa đón Tết, bầy bàn thờ, sắp mâm cơm cúng, thắp hương mời tổ tiên về cùng ăn Tết với con cháu. Vợ chồng chúng tôi theo ảnh hưởng của các cụ xưa, nên không quên cúng cả vàng bạc tiền giấy, mặc dầu không biết các cụ ở bên kia thế giới có dùng được hay không. Dần dần thành thông lệ. Các con tôi khi còn nhỏ rất thích thú được tham gia việc đốt vàng như một trò chơi. Nay đã trưởng thành, làm việc trong các ngành khoa học, giáo dục, ngoại giao mà khi đi tảo mộ, các con tôi cũng đốt vàng tiền, chắc là để làm yên lòng chúng tôi? 


Nguyễn Văn Thà: Ngày Xuân nhớ Song Thân


*Hai hình trên là hình mạ và bọ tôi chụp với các cháu.

Theo lời mạ tôi kể: 


Từ làng Mỹ Hoà, Quảng Bình bọ mạ tôi chèo một ghe mắm ngược lên mạn ngược sông Gianh bán và sau đó mua một thuyền cam chở về bán tết. 


Trên chiếc thuyền đầy cam vòng về, mẹ tôi sinh ra tôi vào lúc gà gáy canh hai, đêm 16, Tháng Chạp, Năm Giáp Ngọ, tức 2 giờ sáng, đêm 9.01.1955. Khi trốn Cộng sản mà vào Nam, thì cán bộ tiếp cư ghi đại là 02.10.1954.  Đêm đó là đêm 16, trăng rất sáng và đêm trăng thì rất lạnh. Mạ tôi tự sinh. Sinh được tôi là con trai đầu, sau 3 chị gái, bọ mạ tôi mừng quá sức. Khi về tới bến, bà nội nghe kêu, lấy mền chạy ra trùm cho cháu mới lọt lòng mẹ và bồng vào nhà. Cả nhà đều mừng.


Jean Giono: Người trồng cây (L’homme qui plantait des arbres, Nguyễn Văn Thực dịch)

Jean Giono 


Jean Giono, sinh nhằm 30.3.1985, ở thành phố Manosque, vùng Provence-Alpes-Côté d’Azur, và mất 8.10.1970, cũng tại thành phố này, là văn sĩ Pháp. 

    Đa số tác phẩm của ông dựa trên bối cảnh miền quê Provence. Được truyền cảm hứng bởi trí tưởng tượng của ông và linh kiến của ông về nền văn minh Hy Lạp cổ và Tiểu Á, các tác phẩm mang tính truyền kỳ của ông diễn tả thân phận con người trong thế giới này, khi con người đối diện với những vấn đề đạo đức và siêu hình, và chúng mang tầm vóc phổ quát. 

    Tiểu phẩm sau đây là một tác phẩm rất nổi tiếng và mang tính đạo đức rất cao. 


Lời nói đầu


Mahatma/Ngài Gandhi có câu nói nổi tiếng "Bạn hãy trở thành sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên trái đất này." Câu nói này có vẻ trừu tượng, thậm chí đầy lý tưởng hoặc không tưởng. Năm 1953, Jean Giono đã biến danh ngôn này thành một cuốn cẩm nang thực hành với tác phẩm Người trồng cây. 


Cao Vị Khanh: Tháng Giêng và những muộn phiền

Hình minh hoạ,Tuan Hoang,Pixabay
Hình minh hoạ, Ivars

Rồi tết qua đi, sầu ở lại
Quê nhà xa huốt một đường bay
Rượu xuân ai ướp mùi quan ải
Mà thấm xa thêm những dặm dài!


Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăn- tết ở xứ người.

Một năm trước đó, ngay bữa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về.