Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học-nghệ thuật-khảo cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học-nghệ thuật-khảo cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018

SONG THAO: NHỮNG THÁNG NGÀY BUỒN


*
Sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào tháng 4/1975, toàn dân miền Nam, nếu chậm chân không leo được lên tàu di tản, đều sống trong những tháng ngày buồn. Nhưng cô nữ sinh 18 tuổi Ngọc Ánh, hơn mọi người, đã phải chịu cảnh buồn hiu. “Ngày Tháng Buồn Hiu” là tập hồi ký của Ngọc Ánh, con một cán bộ Việt cộng có vai vế, nhưng không chấp nhận được chế độ mà cha chị đã say mê tham gia tranh đấu. “Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sài Gòn, nằm trong lòng “địch” nhưng cả nhà đều là những chiến sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho tới ngày “giải phóng”. Má thì nuôi giấu cán bộ Việt cộng, các chị em thì làm giao liên. Sau ngày 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường”.

Trần Mạnh Toàn: NHẤT LINH - ĐA-MÊ


 
Người đi biết độ nào về
Nhớ người lòng suối Đa-Mê gợn buồn - Nhất Linh 
Thất-bại hay nỗi ám-ảnh về nó đã bám chặt lấy mọi cảm giác hay suy nghĩ về quá khứ trong hơn một thế hệ đã qua hay chưa qua. Hiểu theo một ý nghĩa, người ta muốn rũ sạch nó trong một chuyến đi, nhân một lựa chọn năm nào - như trong Đêm Giã Từ Hà Nội hay Bếp Lửa chẳng hạn - nhưng vô hiệu. Nỗi thất-bại đã đủ tuổi hóa thạch và con người cũng thêm khôn ngoan khi chấp nhận sống chung thay vì cự tuyệt. Tâm trạng người thất-bại là cõi lòng ảm đạm của người giữ mộ như nhân vật trong Người Đồng Chí Cũ. " Hãy cho tôi làm người canh coi cái nghĩa địa đó, làm ông từ giữ cái đền đài khói hương của đoàn thể đó." (33)
Cũng có thể hiểu điều mà thế hệ này làm là không muốn tái tục thất bại nữa. Không thể thay đổi vị trí hay hướng đi, họ không mong trông đợi ngoài cái cách ôm chặt nỗi đắng cay  như hình thức tự trừng phạt.

ĐÔNG HƯƠNG: PHÍM RỐI



Thì xem như vẫn còn người
tôi ngồi tự tạo cho tôi cuộc tình
tuyệt vời như ánh bình minh
chợt ... hoàng hôn bỗng trở mình ... oằn tim

Thế là con chữ ... lung linh
trên thềm phím rối lăng quăng ân từ
ngẩn người _ chạn trán suy tư
buồn qua cửa ải hư vô ... phủ trùm

Mở toang cánh tủ dư hương
đặt lên cổ áo chiếc hôn ngậm ngùi
vẫn người làm trở trăn tôi
xưa _ giờ cho đến ngày tôi xa trần

Không người _ tôi chỉ phù vân
một làn hương khói phù trầm huyễn như
làn hơi cô tịch vượt từ
phổi người cảm xúc _ mượn thơ ... cổi trần

đông hương



Ngô Thế Vinh: GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH VÀ ƯỚC VỌNG DUY TÂN

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012 

Tôi mơ về một nước Việt Nam hoà bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy. Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012

Hình 1: trái, đến thăm Gs Trần Ngọc Ninh, Huntington Beach ngày 21 & 29 tháng 06.2018, ở tuổi 95 mà Thầy vẫn còn rất minh mẫn và sắc bén; trên bàn là những số báoTình Thương(1963-1967) có các bài viết của Thầy; phải, Gs Trần Ngọc Ninh đang ký tặng Ngô Thế Vinh cuốn Làm Gì (1979), bên cạnh là tác phẩm Nuôi Sẹo của Thư Quán Bản Thảo do nhà văn Trần Hoài Thư tặng Gs Trần Ngọc Ninh. [tư liệu Ngô Thế Vinh]    

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

Bùi Ngọc Tấn: Đảng Ơi & Tình Ơi


Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (Ảnh: Báo Mới)

Đã có lần Cương nghĩ mình sẽ lấy vợ. Một nữ kỹ sư chuyên về ván lưới, học sau anh ba lớp. Cô Mơ, cán bộ phân xưởng lưới, sau chuyển về phòng khai thác, chuyên theo dõi ngư trường. Thư ký công đoàn, kiêm bí thư chi đoàn khối phòng ban, Mơ là một người gương mẫu về mọi mặt.
Đọc báo đầu giờ, họp chi đoàn phát động thi đua chào mừng ngày thành lập Đảng, họp sơ kết phong trào thi đua vụ cá Nam, phát động vụ cá Bắc, tổ chức biểu diễn văn nghệ trong xí nghiệp và tham gia hội diễn toàn thành, Mơ đều là người chịu trách nhiệm.
Rồi học lớp cảm tình Đảng. Rồi được kết nạp, được công nhận chính thức rất nhanh và vào chi uỷ. Cuộc họp nào Mơ cũng là người phát biểu đầu tiên, nếu không là người điều khiển. Mọi người tới họp hay nghe đọc báo đầu giờ, thường kẻ trước người sau lại còn lan man chuyện nọ chuyện kia, con cà con kê; bao giờ Mơ cũng là người lên tiếng chấm dứt tình trạng ấy: “Các đồng chí ổn định trật tự, ta bắt đầu sinh hoạt.”

Trần Mộng Tú: Hóa Thân



Buổi sáng dậy nhìn quanh
chăn gối đang cựa mình
nếp nhăn trên áo ngủ
tiếng động rất mơ hồ
giấc mơ không nhớ rõ

Ô giấc mơ đêm qua
đã từ đâu đến nhỉ
người trong mơ không già
mảnh vườn không hề lạ
trái trong mơ cứ xanh
tình trong mơ vẫn đỏ

Bước ra ngoài giấc mơ
đặt chân trần xuống đất
giẫm vào một mảnh nắng
thấy ngày trên bàn chân
thời gian trên xương thịt
tuổi đời trên móng chân

 Bước ra ngoài giấc mơ
 thấy đời sao rất cũ
 ly nước trên bàn ngủ
 sách mở úp quên trang
 lược đang nằm đợi tóc
 như tình là trăm năm

 Bước ra ngoài giấc mơ
 thấy mình như hạt bụi
 bay trong nắng bơ vơ
 hạt bụi lòng chưa đoạn
 hóa thân thành câu thơ.

Tháng 10/06



Phạm Duy: AI CŨNG CẦN MỘT NGƯỜI THẦY



Khi tôi bắt đầu bước vào nghề sọan nhạc, tôi mới 22 tuổi. Tôi đã từng đọc những vở kịch thơ của thời đó như Anh Nga, Tiếng Địch Sông Ô của Phạm Huy Thông, Trầu Cau, Lý Chiêu Hoàng, Phạm Thái của Phan Khắc Khoan, Vân Muội của Vũ Hoàng Chương... rồi đem ra so sánh với những vở kịch thơ của Hoàng Cầm như Hận Nam Quan (1944), Kiều Loan, Cô Gái Điên, Lên Đường (1945), Cô Gái Nước Tần (1946) và nhất là Kiều Loan, Cô Gái Điên.

Khi đó, tôi đã thấy ngay rằng những tác phẩm của Hoàng Cầm hay hơn những tác phẩm của người khác vì hai yếu tố kịch tính, lời thơ, nghĩa là hai mặt nội dung hình thức đều rất là xuất sắc.

Chẳng hạn vở Kiều Loan, Cô Gái Điên, có nhiều tình tiết, với những nhân vật và hoàn cảnh đặc thù như người điên, người què, người say nằm chung trong ngục tối với mưu đồ phục hồi triều Lê trong thời đại Tây Sơn…  

Trong màn đầu tiên của vở kịch thơ này, Hoàng Cầm đưa ra một nhân vật phụ nữ, “điên thật” hay “giả vờ điên”, tay cầm một cành hoa, miệng cười ha hả… cất tiếng ngâm nga, chất vấn Tần Thủy Hoàng :

Hôm nay mới gặp Tần Thủy Hoàng
Bạo chúa như ông sướng hay khổ
Trời đã sang Thu, lá đã vàng
Ông cười hay khóc trong nấm mộ ?


Có lẽ trên đời này, chỉ có một mình thi sĩ Hoàng Cầm băn khoăn về niềm vui sướng hay nỗi đau khổ của những bạo chúa thời xưa hay thời nay ! Trên thế giới, tôi chưa thấy ai viết thư cho Staline hay Hitler để hỏi hai bạo chúa này vui hay buồn trong việc giết và cầm tù hàng triệu sinh linh ?!

Tôi bèn mua vé đi coi Kịch Thơ Cô Gái Điên… và học được nhiều điều của một người trong thời bình an.

Riêng tôi coi Hoàng Cầm như ông thầy dy tôi yêu nước vậy!

*

Trước đây, tôi chỉ mới được làm quen được với hai thi nhân là Nguyễn Bính với Cô Hái Mơ và Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu … thì chẳng học được gì ngoài những tình cảm thông thường của những người trong thời bình an.

1 Những bài ca yêu nước

Bây giờ tôi nỗ lực tìm hiểu về tình yêu nước qua những bài như  Đêm Liên Hoan, Bên Kia Sông Đuống, Tâm Sự Đêm Giao Thừa mà anh ta cho tôi ngâm chung trên sân khấu nay… Trong hai năm, tôi được Hoàng Cầm hướng dẫn tôi vào tình yêu nước tức là yêu người Vệ Quốc Quân, yêu cảnh vật VN... Sau khi rời anh ra đi, tôi đã có một vốn liếng  về những bài ca yêu nước như Tình Ca, Tình Hoài Hương…

2 Những câu chuyện vui về tôi

Có một lần, ngồi nói chuyện với Hoàng Cầm về Lưu Trọng Lư, tôi được nghe anh ngâm mấy câu thơ rất lãng mạn của “thi sĩ con nai vàng” :

Tiếng hát lẳng lơ
Một đoàn gái tơ
Nằm mơ trên bờ cỏ mởn
Một đàn nai tung tăng đùa rỡn
Theo điệu hát dòn ở cạnh sườn non.

Ai có nghe tiếng hát chị đò đưa
Mà không nhớ thương người quả phụ
Nằm ấp bóng trăng thưa
Luồn qua song cửa sổ...

Những câu thơ này hấp dẫn tôi đến độ vào nằm sâu trong tiềm thức của tôi, để một ngày nào đó, bật ra thành câu hát Nhớ Người Ra Đi :

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người mẹ già
Ch con lúc đêm khuya
Người con đã ra vì nước…

Trong kỳ lưu diễn ở miền Cao-Bắc-Lạng này, tôi soạn thêm được nhiều bài dân ca khác trong đó có bài Nương Chiều :

Chiều ơi... Lúc chiều về mọc ánh trăng tơ

Cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều.
Chiều ơi... Mái nhà sàn thở khói âm u
Cô nàng về để suối tương tư, ới chiều...


Đây là một bài dân ca loại mới và có sự tiến bộ về phần nhạc thuật vì nó không còn đơn sơ như những bài tôi đã soạn ra trước đây, chẳng hạn Ru Con, Dặn Dò... Chính trong chuyến đi hát ở vùng này mà tôi thấy tôi đi đúng con đường thăng hoa dân ca. Một buổi nọ, sau khi trình diễn cho đồng bào thưởng thức những màn ca-vũ-kịch -- Văn Chung cũng đã đưa ra một màn múa, diễn tả các động tác của nhà nông gọi là nông tác vũ -- một bà mẹ quê xin ra hát tặng anh chị em trong đoàn văn nghệ một bài hát cổ truyền. Chúng tôi vỗ tay hoan nghênh. Bà mẹ đằng hắng, lấy giọng, rồi hát:
Ai có nghe tiếng hát hành quân xa

Mà không nhớ thương người mẹ già...


Đó là bài Nhớ Người Ra Đi của tôi. Nhưng bây giờ nó không còn là của tôi nữa. Nó là của dân chúng rồi. Tôi cảm động, muốn khóc oà lên... Vào lúc này, Hoàng Cầm vẫn còn nuôi mộng xây dựng một sân khấu kịch thơ sau khi vở Kiều Loan đã không có may mắn được sống trong công chúng. Nó rất muốn dựng những vở kịch thơ trong kháng chiến nhưng với một đội văn nghệ ít người và với đối tượng chính là Vệ Quốc Quân, bây giờ nó chỉ có thể soạn những bài thơ cho một hoặc hai người ngâm trên một thứ sân khấu ngoài trời mà thôi.

3 Những cuộc vui chơi

Trong kháng chiến, đội văn công của chúng tôi luôn luôn xê dịch trong ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Kạn. Đi từ địa điểm này tới địa điểm khác, toàn đi bằng xe lô ca chân.

Cứ cách dăm ba ngày lại chuyển quân, vác ba lô, vác đàn và vác gạo, mỗi ngày đi bộ trên dưới 40 cây số đường rừng, đường núi...

Khi đi lưu diễn, chúng tôi thường đi trên đường đá, trong sương mù. Cảnh thì thật là đẹp, người miền núi thật đáng yêu, nhưng có khi đi nửa ngày mới gặp một cái bản, một cái thôn. Gặp một cái chợ thì như gặp cõi thiên đàng. Vì nhân viên trong đội toàn là văn nghệ sĩ cho nên chúng tôi bầy đặt chuyện vừa đi vừa làm thơ cho đỡ buồn và cho đỡ mệt. Nhưng phải là thơ đặc biệt, chẳng hạn như khi đang đi thì thấy đội viên nhạc sĩ Văn Chung bực mình thốt lên:
Đường đá đưa đoàn đến đếch đâu ?

Thế là chúng tôi bỗng tìm ra cái thú làm thêm những câu thơ tiếp tục, những câu thơ hợp tình, hợp cảnh và theo một vần. Một câu thơ như vậy, cần phải đi dăm bẩy cây số mới có được một câu mà toàn đội đồng ý. Tôi đã tung ra ngay câu thứ hai:
Xa xa xam xám xuống sương sầu


Câu thứ ba là của Ngọc Hiền:
Mịt mù mê mải mưa mưa mãi

Câu thứ tư chắc chắn phải là của Ngọc Bích, vì ngoài ba lô ra, anh ta còn phải đeo thêm cây đàn:
Đàn địch đem đi đến đớn đau...

Ít lâu sau, có thêm một cuộc làm thơ như thế, tôi xin kể ra đây:
… Một ngày mưa lạnh trong vùng Lạng Sơn. Chúng tôi cắm cổ ra đi từ sáng sớm cho tới gần xế chiều, bụng thì đói, chân thì mỏi, tai lạnh ngắt, cổ khô khan... mà vẫn chưa gặp một cái quán nào để dừng chân, uống một cốc cà phê, lau khô cái đầu cái cổ, nắn bóp cái tay cái chân. Mãi cho tới khi mặt trời đã khuất dần sau rặng núi, trời còn đang chạng vạng tranh tối tranh sáng thì gặp một số đồng bào người Thổ đi ngược đường cho biết là sắp tới chợ rồi. Chúng tôi reo mừng lên : ''Thế là ta có một vụ nghỉ ngơi ăn uống trả thù cái khổ rồi đây.''  Và chúng tôi bước mau...

... Nhưng niềm hi vọng đó tiêu tan ngay khi chúng tôi tiến vào mảnh đất được gọi là cái chợ. Chỉ có ba túp nhà tranh vách nứa ọp ẹp nằm cách nhau khoảng chục thước. Nhà đầu trống không. Nhà thứ hai chỉ có treo lủng lẳng vài miếng thịt ôi. Tới nhà thứ ba thì... cả đội sững sờ, đứng lại trố mắt nhìn vào rồi thét lên vì kinh ngạc : Trời Đất, Cha Mẹ, Đồng Bào, Đồng Chí ơi ! Không thể tưởng tượng được, nào là chè lam, kẹo vừng, kẹo lạc..., nào là cà phê, sữa đặc (mới kháng chiến chưa tới một năm thôi mà)...

Và quá sức tưởng tượng hơn nữa là bà chủ quán, một thiếu phụ ngoài hai mươi tuổi, người Hà Nội, rất đẹp, cùng với đứa hai con nhỏ theo chồng đi kháng chiến, chồng đi Vệ Quốc Quân ở đâu không biết, nàng mở quán cà phê ở đây, trong một cái chợ không có cả cái tên. Và cái lũ văn nghệ sĩ kháng chiến này có lẽ cũng là những lữ khách hiếm hoi của chủ quán đây.

Thật là vui hơn Tết, vui hơn cả ngày trọng đại Cách Mạng Thành Công. Trong khi bà chủ quán giết gà làm thịt, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Văn Chung ngồi nhắm rượu xuông. Tôi và Ngọc Bích thì tự pha cà phê để uống. Cả bọn bỗng nổi hứng lên, giở trò làm thơ như lúc đi trên đường đá.

Văn Chung, dù có vợ kè kè bên cạnh, cũng nhăn nhó đưa ra câu đầu:
Mệt mỏi mà mơ mộng mỹ miều...

Chẳng cần phải đợi lâu, và vì cũng đọc được ý tình trong mắt của bà chủ quán, tôi tuôn ra câu thứ hai:
Ấy ai âu yếm ỡm ờ yêu...

 Kịch sĩ Trúc Lâm, người chuyên đóng vai hài hước trong đội, nhìn thấy trên cái giường nứa độc nhất trong quán, nơi ăn ngủ của bà chủ và hai đứa con, nay có mấy anh văn nghệ sĩ ngồi dựa vào các loại ba lô đủ kiểu, ngất ngưởng uống rượu chờ gà... anh ta bèn đưa câu thơ thứ ba:
Chung chăn chung chiếu chung chè chén...

Cả bọn khoái chí, vỗ tay, hò la, tán thưởng câu thơ vui nhộn đó. Nhưng chúng tôi bỗng ý thức ngay được sự thô lỗ của mình và tất cả đồng ý là phải chữa lại cái lỗi này bằng một câu kết cho thật hay. Trò chơi ồn ào bỗng trở nên trầm lặng. Mặt anh nào cũng nghệt ra vì phải suy nghĩ. Lâu lâu lại có một anh đưa ra một câu bị mọi người chê ngay. Gà đã làm xong, bà chủ bưng ra, hơi nóng bốc lên cùng với hơi gà làm miệng người nào cũng có nước dãi, nhưng không anh nào dám đụng vào đĩa thịt gà khi câu thơ chưa làm xong...

... Tới lúc Hoàng Cầm, sau khi rung đùi một lúc, đứng lên đưa ra câu thơ thứ tư thì ta mới thấy con người của ông hiện ra, thật là bình dị nhưng sâu sắc, thật là thơ mộng nhưng cũng rất tình người.

Người bạn thơ của tôi có đôi mắt sắc long lanh, có cái mũi dọc dừa và cái miệng lúc nào cũng như đang ngâm nga một câu thơ hay... bây giờ ông trịnh trọng đứng lên đọc câu thơ kết thúc cho bài thơ đặc biệt này. Đó là câu:
Cháu trẻ chờ cha chốn chợ chiều.

Lúc đó, trời đã về khuya, trăng đã lên khỏi đầu núi, cả bọn xúm nhau lại, lấy giấy bút ra ghi bốn câu thơ đó rồi dán ngay lên trên vách nứa với sự chứng kiến rất thân mật của bà chủ và hai đứa con nhỏ. Tôi không kịp tìm hiểu xem bà chủ quán vui hay buồn sau khi chúng làm xong bốn câu thơ đó, bởi vì tôi còn mải lấy đàn ra để phổ nhạc và hát ầm ỹ lên.



Phạm Xuân Ðài: TỪ TRUYỆN CỔ TÍCH ĐẾN KỊCH TRUYỀN THANH


Nhà văn Phạm Xuân Ðài (Phạm Phú Minh)

Những câu hát ru là hình thái nghệ thuật sớm nhất đã len lỏi vào đời sống của một con người khi hãy còn non nớt. Dù chưa có ý thức, đứa bé đã biết đón nhận tiếng ru như một cảm giác mơn trớn êm đềm để đi dần vào giấc ngủ. Và từ đó, tiếng ru thành một nhân tố xây dựng nên khía cạnh tình cảm lãng mạn trong đời sống tinh thần của đứa bé đó sau này lớn lên. Cùng với bú mớm, ẵm bồng, con người lúc còn non nớt còn được nuôi nấng bằng âm thanh, ngoài tiếng ru còn bao nhiêu tiếng nựng nu âu yếm vỗ về khác.

Bắt đầu từ năm, sáu tuổi, những câu truyện cổ tích là một nguồn thích thú vô tận để bắt đầu đời sống văn hóa cho các cô cậu bé. Ngày xưa chưa có ti vi, điện ảnh hay sách tranh ảnh, tất cả kho tàng văn hóa cũ dưới dạng cổ tích đều được trao truyền cho lớp con cháu qua đưng lỗ tai, trực tiếp từ ông bà cha mẹ. Truyện mở ra những thế giới thần tiên huyền ảo hoặc gay cấn ly kỳ với bao nhắn nhủ thầm kín mà nhiều khi mãi hàng chục năm sau các cô các cậu mới dần dần nhận ra. Nhưng dù nhận ra hay không nhận ra, một ý tưởng, một thắc mắc siêu hình, một quan niệm đạo đức cũng đã được gieo vào lòng còn như t giy trắng của các cô các cậu rồi. Đã gieo tất có mọc, cách này hay cách khác, dạng này hay dạng khác. Như vậy, chúng ta thấy khả năng của tiếng nói thật là to lớn. Khi bà tôi rủ rỉ bên tai tôi: “Ngày xửa ngày xưa có một ông vua sống trong một cung điện to thật là to, đẹp thật là đẹp” là lập tức đầu óc tôi làm việc, xây ngay một cung điện to theo ý tôi, đẹp theo ý tôi, và tha hồ rực rỡ lung linh kiểu nào, cỡ nào cũng được. Lời kể cổ tích có một tác dụng vô cùng tận, không hề hạn chế trí tưởng tượng của tôi như khi sau này tôi được xem truyện bằng tranh hay phim hoạt họa trên màn ảnh. Khi xem, nội dung được xác đnh ngay, nhưng khi nghe ta tha hồ đi vào một cõi mông lung. Thậm chí khi lớn lên nhiều khi tôi lấy làm bt mãn với những cổ tích đã được hình ảnh hóa, vì nó không giống chút nào với chính truyện đó của riêng tôi do tôi xây dựng nên thuở bé. Kể ra xem phim Cô Bé Lọ Lem của Walt Disney thì phải nhận là các tác giả đã quá tài tình khi cụ thể hóa thế giới cổ tích như thế, lãng mạn, tươi đẹp, huyền ảo đến chỗ tuyệt diệu, nhưng tôi thưởng thức phim đó như một tác phẩm hoàn toàn khác chứ không phải là một với thế giới Cô Bé Lọ Lem mà tôi là tác giả duy nhất sáng tác ngay trong đầu óc tôi cách đây hơn năm mươi năm! Phim của tôi “đã” hơn nhiều, thần bí hơn nhiều! Vâng, đã nói đến cái thần bí trong đầu óc một đứa trẻ thì tôi dám chắc không một nhà làm phim nào dù tài giỏi tới đâu có thể thể hiện ra một cách cụ thể được.

Phạm Xuân Nguyên: CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ


Tràng Thiên, một bút hiệu của nhà văn Võ Phiến

Tôi nhớ mãi một bài báo đọc được trên tạp chí Bách Khoa trong quá trình tìm hiểu về văn học miền Nam trước 1975. Bài báo nói chuyện những địa danh ở miền Nam Bộ lại luôn mang tên người, những thôn ấp kênh rạch được gọi là xóm Ông Đồ, ấp Trùm Thuật, sông Ông Đốc, ngọn Ông Trang, rạch Biện Nhan, núi Bà Đen... Núi sông được gọi theo tên con người, mà lại là những người dân chân chất, bình thường, những con người chân lấm tay bùn, không phải những vĩ nhân, nhân vật lịch sử. Thật lạ lùng. Ở miền Bắc thì con người phải mượn tên sông núi để ghi danh mình như Tam Nguyên Yên Đổ, ông Tú Vị Xuyên, cụ Nguyễn Tiên Điền, còn trong Nam con người cho núi sông mượn tên mình trước bạ. Mới đọc đến đó tôi đã khoái quá. Nhưng tác giả chưa dừng ở đó. Trong Nam tên núi tên sông là tên người, nhưng người Nam lại rất lắm tín ngưỡng, thờ lắm thần, lập lắm đạo. Cớ sao vậy? Câu trả lời của tác giả chốt lại trong một từ: đất mới. Nam Bộ là miền đất mới, người Việt vào đó khai khẩn phải tự tạo ra tất cả mọi thứ cho cuộc sống của mình, từ tên gọi núi sông đến thần linh đạo giáo. Kết luận lại, tác giả gọi đó là “đất của con người”. Và đó cũng là tên của bài báo tôi đọc được. Toàn bài toát lên một sự ngợi ca con người Việt Nam đi mở đất, nối dài bờ cõi. Toàn bài chan chứa lòng yêu con người Việt Nam tràn trề sức sống và biết sống trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Giọng văn như kể chuyện, một lối văn nói, khiến người đọc thấy gần gũi, chan hòa. Tôi đọc xong bài ngó tên tác giả thấy hai chữ Tràng Thiên. Ngày tháng ghi dưới bài viết là vào năm 1972.

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

Trần Mộng Tú: Cây Lê, Cây Thông và những Cây Sậy


Cây Lê Mỹ

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, một cuộc tấn công tồi tệ nhất vào nước Mỹ đã xẩy ra vào buổi sáng, đã phá hủy tòa tháp đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới và làm hàng ngàn người thiệt mạng.

Trong hoang tàn đổ nát, một thân cây cháy đen trong đống gạch vụn, nó chết cháy hoàn toàn, chỉ còn sót lại một cành nhỏ mong manh. Đó là cây lê Callery. Cây lê cháy đen đó được mang gửi đến công viên Van Cortlandt (Khu công viên giải trí của thành phố New York). Sau 9 năm cây lê đó đã sống lại mạnh mẽ và tươi đẹp, được đem trở lại trồng trước Bảo tàng và Đài Tưởng Niệm 9/11. Mỗi cành nó vươn lên là một thông điệp cho cả thế giới biết rằng. Sức bật và sự sinh tồn của người Mỹ không hề lùi bước trước bất cứ một thảm họa nào do con người đem tới.

Joe Daniels – Giám đốc Bảo tàng và Đài tưởng niệm 11/9 – đã công nhận Cây lê sống sót đó trở thành biểu tượng về sức chịu đựng và sự bền bỉ của nước Mỹ.

Cây lê Báu Vật của Nước Mỹ

Phạm Phú Minh: Viết nhân ngày giỗ Nhất Linh năm nay (7-7-2012)



Đăng lại nhân ngày giỗ Nhất Linh 7-7-2018
Từ ít nhất bốn năm năm trở lại đây, “vấn đề Nhất Linh” cứ được hâm nóng bởi một số cây bút. Đúng ra chỉ có một người “chấp bút” viết về nhân vật này với một chủ đề nhất định, là Nhất Linh chết vì bệnh tâm thần, cùng lúc bác bỏ tất cả những chứng cứ lịch sử rất rõ rệt cho biết Nhất Linh chết vì những lý do khác. Có một điều rất ngộ nghĩnh, là khi “người chấp bút” ra một bài thì lại có người viết bài phản biện, người đó đọc rất kỹ các phản biện ấy để sửa đổi bài của mình cho hoàn chỉnh hơn, và đến một lúc nghĩ rằng bài của mình đã rất hoàn chỉnh rồi, không thể cãi đằng nào được nữa thì in thành sách. Nhưng khi sách phát hành thì đến phiên người con út của chính Nhất Linh là ông Nguyễn Tường Thiết vào cuộc, viết một bài dài bẻ gãy từng điểm không trung thực về thân phụ của mình, để đính chính trước dư luận về những điều mà ông cho rằng cố tình bóp méo những sự thật nay đã trở thành lịch sử (được đăng lại trong số này). Hầu như ngay lập tức sau khi bài này được phổ biến trên một tờ báo lớn tại Nam California vào đầu năm 2012, tác giả “chuyên đề về Nhất Linh bị bệnh tâm thần” phổ biến bản tóm lược một luận án y khoa của trường Y Sài Gòn đề cập đến bệnh hoạn của một số nhà văn Việt Nam trong đó có Nhất Linh, rồi tiếp theo là một bài chỉ trích tờ Phong Hóa và Ngày Nay xuất bản từ thập niên 1930 của thế kỷ trước. Chưa hết, tác giả này còn viết bài đánh giá một cách tệ hại những đảng phái quốc gia đã từng chống đối chế độ Ngô Đình Diệm, mặc dù những đảng phái này có một bề dày lịch sử lớn hơn chế độ cụ Ngô nhiều, đã hy sinh nhiều xương máu chống thực dân Pháp lẫn cộng sản ngay trên quê hương Việt Nam. Một thái độ rất là “ăn thua đủ”, có vẻ được hướng dẫn bởi một niềm tin sắt đá, rằng mình có sứ mệnh thiêng liêng và cao cả phải “hạ” Nhất Linh và những ai chống đối chính quyền Đệ nhất Cộng hòa với bất cứ giá nào.

Nguyễn Tường Giang: Biển Trầm



Vào buổi sáng bãi cát có một hình vuông rất đều đặn. Từ trên đường vòng quanh núi nhìn xuống, bãi phía trái được giới hạn bởi thân một con tầu lớn đã cũ và rỉ sét cả đến những móc xích nối với mỏ neo. Bên tay phải, một mũi đất nhô ra biển, đầy cỏ lau và những bông hoa tím lấm tấm. Cạnh còn lại của hình vuông được vẽ bởi mặt biển, những làn sóng chạy từ ngoài khơi vào bãi, tung lên và sả vào lòng cát, vẽ một đường thẳng rất linh động trên bãi. Bấy giờ vào khoảng một giờ trưa, sóng đã bắt đầu lớn và nước biển lên rất cao. Bãi cát dần dần dài ra trở thành một hình chữ nhật, đôi khi dẹp đến độ người ta không nghĩ là có một bãi cát ở phía dưới làn nước ào ạt. Những chiếc dù đủ mầu dựng đầy trên bãi, gió thổi lướt qua nghe sào sạc, trông xa và ở cao như những mũ nấm dại lung lay theo làn gió. Đó là một ngày thường trong tuần, một ngày thứ hai thứ ba hoặc một ngày tương tự. Từ trên các bực thang bằng đá dẫn xuống bãi, một người đàn ông đang chậm chạp bước xuống. Ông ta có một dáng người rất thanh và cao, cử chỉ uể oải buồn nản. Một điếu thuốc lá cháy trên môi, không nhìn thấy khói vì ánh nắng chói chang quá. Tay trái mang một túi sách mầu xanh nước biển, loại sắc tay của các hãng hàng không tặng cho hành khách. Tay phải người đàn ông để trong túi quần, cánh tay lẫn với mầu áo. Sau người đàn ông hai ba bực đá là một cô gái. Khoảng cách giữa hai người vừa làm như họ đi chung với nhau, vừa làm như tình cờ họ gặp nhau vì cô gái có vẻ bước nhanh. Cô gái còn rất trẻ, ánh nắng lấp lánh trên cặp mắt kính lớn mầu hồng, loại kính rất được ưa chuộng. Chiếc mũi nhỏ xinh xắn hỉnh lên, tóc cắt ngắn đến cổ mịn và nâu. Cô ta mặc một chiếc áo thung dài tay mầu mỡ gà, phía trước ngực có vẽ một con thỏ với hai cái tai lớn. Chiếc váy ngắn trên đầu gối một khoảng dài, mầu nâu đỏ hòa lẫn với mầu da. Gần đến dẫy nhà để thay quần áo, hai người bị chặn lại bởi những đứa trẻ cho thuê dù. Người đàn ông chỉ tay vào chiếc dù ở ngoài cùng, dù có những ô xanh đỏ thật đẹp mắt. Một đứa nhỏ chạy lại, tiếng nói bay trong gió:
-    Dù đó của cháu, để cháu dẫn ông bà xuống

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản



Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản tổ chức một cuộc tuyển chọn Giải Văn Học Phan Thanh Giản với chủ đề Miền Nam Việt Nam Trước Và  Sau Năm 1975.

Ngày lịch sử 30 tháng Tư năm 1975 là một ngày có nhiều tên gọi. Đối với Cọng Sản Việt Nam là Ngày  Giải Phóng Miền Nam, ngày Thống Nhất Đất Nước. Nhưng đối với người miền Nam đây là Ngày Quốc hận và tháng Tư thành Tháng Tư Đen. Ba mươi tháng Tư năm 75 ghi dấu thời khắc dân miền bị trị trở thành công dân hạng hai.

Sau đó, hàng triệu gia đình lâm vào cảnh nghiệt ngã vì các chính sách của bên thắng cuộc: tập trung “cải tạo” quân, cán, chính  phục vụ cho chế độ VNCH và nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ; đồng thời đổi tiền, đốt sách, đánh tư sản, đưa đi vùng kinh tế mới …. Con đường sống lúc bấy giờ là vượt biên, vượt biển.

Nhằm có được tác phẩm của thế hệ đã trải nghiệm qua các biến động lịch sử cận đại -  vài mươi năm nữa họ không còn; cùng với chủ định xoá mờ hình ảnh thời VNCH của Cọng Sản Việt Nam - Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản tổ chức cuộc tuyển chọn cho Giải Văn Học Phan Thanh Giản các sáng tác bằng văn xuôi của mọi người Việt đương thời ở trong và ngoài nước.

Giải thưởng: Giải nhất: $15,000 US -  Giải nhì : $5,000 US.

Thể loại: Hồi ký, bút ký, truyện dài, tuyển tập truyện ngắn, chưa phổ biến dưới mọi hình thức, viết bằng tiếng Việt có dấu, dài từ 200 trang tới 300 trang, gởi cho ban tuyển chọn qua địa chỉ điện thơ: khanhp1988@yahoo.com. Xin quý vị gởi qua dạng PDF nếu có thể được và theo dạng đính kèm. Không nên “copy” rồi “paste” trực tiếp trên mặt trang điện thơ (email).

Trước khi đính kèm “file”, xin quí vị ghi vài dòng về tiểu sử và số phone, nếu có thể, để tiện liên lạc. Thông tin về giải xin vào trang http://phanthanhgianfoundation.com/. Thời gian nhận bài từ ngày ra thông cáo đến cuối tháng 5  năm 2020. Kết quả sẽ công bố vào đầu tháng 5 năm 2021.

Ban tuyển chọn gồm năm vị, không phải là thành viên của Hội Phan Thanh Giản, từng hoạt động văn hóa từ trong nước cho đến hải ngoại: nhà văn, nhà giáo Lê Thị Huệ, nhà văn, nhà giáo Trương Anh Thụy, nhà văn Trần Doãn Nho, nhà văn, nhà biên khảo Nguyễn Văn Sâm, nhà báo, nhà văn Từ Thức.

Sáng tác của nhiều tác giả sẽ được xem là của một người đứng tên. Sáng tác của một tác giả qua sự giới thiệu của độc giả phải có sự đồng ý của tác giả đó.

Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản thành lập năm 2014 tại Arizona. Trụ sở hội tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Chủ tịch Hội Đồng Đại Diện: ký giả Phan Thanh Tâm; Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành: Bác Sĩ Thái Ngọc Ẩn.

Ngày 25 tháng 6 năm 2018.

TM Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản

Phan Thanh Tâm



Trần Mộng Tú: MỒ CÔI CON


Tháng chạp âm lịch, Hà Nội trở rét. Rét đậm, rét ngọt, rét thấm qua áo mỏng, áo dầy, áo len khoác ngoài, “rét đến tận xương” như người Hà Nội thường kêu lên thảng thốt. Năm giờ sáng vợ chồng tôi thức dậy ở khách sạn Hồng Ngọc phố Hàng Mành, sửa soạn thật nhanh, cho kịp cái hẹn sáu giờ với anh Sơn tôi ở khách sạn Hà Nội Tower, phố Hai Bà Trưng. Chúng tôi cùng nhau đi Nam Định trước khi mặt trời lên.

Từ Hà Nội đến Nam Định gần một trăm cây số, chúng tôi sẽ mất khoảng hai tiếng xe để đến tu viện Đa Minh thuộc Trung Lao, huyện Trực Ninh, Nam Định.

Anh Sơn tôi, thời gian gần đây đã đi đi, về về giữa thành phố Vienna, tiểu bang Virginia đến Trung Lao, Nam Định, phụ giúp các Sơ dòng Đa Minh giúp nuôi các cụ già mồ côi con, và các trẻ em mồ côi cha mẹ.

Ngự Thuyết: OREGON (Phần 2)



Gởi NTH, LVT 
Tôi muốn một chuyến đi gọn gàng, nhẹ nhàng, kéo dài trong vòng 3 hay 4 ngày thăm lại Oregon. Lần thăm trước chỉ để lại trong trí nhớ của tôi một vài hình ảnh nay đã quá mờ nhạt: con sông khá lớn, sông Columbia, trôi qua thủ phủ Portland, những chiếc cầu đồ sộ, thông xanh mọc khắp nơi, loại thông thân thẳng đứng, cành ngắn chỉa ra quanh thân cây từ gốc lên đến ngọn làm thành một hình chóp thon, và những dãy phố khá chật hẹp nếu so với phố phường ở New York, Los Angeles, Chicago.
Trong chuyến đi lần này, tôi quyết đi thăm nhiều nơi hơn lần trước. Nhưng chắc chắn không thể thăm viếng được mọi thắng cảnh cần thăm dù Oregon không phải là một tiểu bang lớn. Mỗi tiểu bang của Mỹ đều có nhiều đặc trưng của nó, và mang tầm vóc của một quốc gia về nhiều phương diện.
Người da trắng chiếm đại đa số. Thỉnh thoảng gặp người da đen. Người Mỹ La tinh ít hơn. Da vàng càng ít. Và rất hiếm khi thấy người Việt Nam.

CHƯƠNG 10: KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI


Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018
CÂU 569 ĐẾN CÂU 692

                                                 “Sai nha quen thói, hiếu nữ bán mình”
569. Nàng còn đứng tựa hiên tây,
 Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.
[1]
571. Trông chừng khói ngất song thưa,
[2]
Hoa trôi trớt thắm, liễu xơ xác vàng.
[3]
573. Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,
[4]

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

Nguyễn Phúc: Một Tiếng Nói Và Vài Giọng Nói


Lời Tòa Soạn DĐTK.- Chương trình tiếng Việt của đài BBC bắt đầu phát thanh từ Luân Đôn nước Anh từ đầu năm 1952, và từ đó đã trở thành thân thuộc với thính giả Việt Nam suốt nhiều thập niên.
Trong năm 2018 này hai trong số những người đầu tiên làm việc trong ban Việt ngữ BBC là Xuân Kỳ và Trần Minh đã qua đời tại nước Anh. Mời quý độc giả theo dõi bài sau đây của tác giả Nguyễn Phúc, viết về hai người bạn vừa ra đi và những kỷ niệm trong thời gian ông làm việc tại đài phát thanh nổi tiếng này. - DĐTK 

tưởng nim hai anh Xuân Kỳ 
và Trn Minh, va qua đi ti Anh quc) 



"Đây là đài BBC Luân Đôn. Kính chào quí v thính gi..."

Câu nói này đã được loan đi ln đu tiên vào lúc 11g30 (19g30 gi Sài Gòn) ngày 06 tháng 01 năm 1952. Người đc câu nói ấy là anh Xuân Kỳ và người ngi đi din anh Xuân Kỳ  cũng trong buổi phát thanh đầu tiên ấy là anh Hữu Đại, trên bàn là một cái micro có ghi ba chữ  BBC (xin xem hình).

Ngồi, từ trái : Hữu Đại, Xuân Kỳ. Đứng : Trần Minh

Từ  ngày tạm cho là lịch sử ấy, tiếng nói của Anh quốc hướng về Việt Nam tức là chương trình Việt Ngữ của đài BBC, đã trở thành  một món ăn thường nhật không thể thiếu đối với những ai - tôi muốn nói người Việt cả dân sự lẫn quân nhân mọi cấp -  hằng quan tâm đến tình hình chính trị và quân sự ở Việt Nam, Cam-Pu-Chia và Lào trước tháng 4 năm 1975.

Phương Nghi: MỘT NGƯỜI CÓ TÊN LÀ THUỶ hay CÂU CHUYỆN PHÍA SAU CHÙA TỪ VÂN



Câu chuyện phía sau chùa Từ Vân là một câu chuyện lạ lùng nhiều bí ẩn kéo dài một thời gian mà tôi không tìm được lời giải thích.  Đêm qua tôi tình cờ đọc được một bài báo trên mạng (không hiểu cơ duyên nào đưa đẩy tôi tới bài báo ấy) thì những uẩn khúc ngày đó mới được hé lộ từ từ.  Thú thật tôi vừa đọc vừa run bắn cả người, run y như cái hồi tôi cúi nhìn xuống cái lu nước phía sau chùa vậy... Cái lu ấy - tạm gọi là lu - thật sự là cái thùng nhựa cao, to chùa mua về để chứa nước thay vì lu đất như loại thường dùng ở quê nhà. Cái lu có màu nâu đỏ như đất sét mà nước thì sóng sánh như sắp trào ra ngoài, gợn thành từng vòng, từng vòng... Chao ôi, tôi có thể nào quên được đâu... Mà, trời ơi, xin lỗi bà con, tôi vội vã quá mất rồi, chưa chi đã đâm sầm vô chuyện lu nọ lu kia mà chưa ai biết tôi là ai, đến chùa Từ Vân để làm gì, can dự thế nào đến những sự việc xảy ra ở đó... 
Dạ, tên tôi là Ánh, một phụ nữ bình thường, vô danh, chìm lỉm như hằng hà sa số những phụ nữ khác trên thế gian này.  Phải nói là tính tình tôi rất khép kín. Tôi sợ đám đông, sợ bàn tiệc, sợ những không gian ồn ào huyên náo bởi nó làm cho tôi ngộp thở và tức ngực. Tôi hay tìm tới những nơi xa xôi, vắng vẻ, ít tiếng động, càng ẩn khuất chừng nào càng tốt chừng đó.  Bởi cái tính tình như vậy mà tôi tìm đến chùa Từ Vân. Tôi xin vào làm công quả cho chùa, mỗi thứ năm hàng tuần.  Có hai người cũng đến làm công quả như tôi. Một bác đứng tuổi là bà Mười, một chị còn trẻ là cô Hoa. Lát nữa tôi sẽ nói thêm về hai người này. 

Ngự Thuyết: Oregon (Phần 1)



Gởi NTH, LVT
Lại có dịp thăm Oregon. Đúng ra, thăm Portland, thủ phủ của Oregon và một số vùng phụ cận. Hay đúng hơn nữa, có hai người bạn ở đó, Nguyễn Trung Hối và Lưu Văn Thăng, thì hãy thăm người trước, rồi thăm chốn cũ sau. Oregon! Oregon! Nước Mỹ mênh mông. Trở lại một tiểu bang rất xa nơi mình sinh sống, mà mình đã từng đến, cũng thấy dậy lên trong lòng ít nhiều nôn nao, háo hức. Như sắp gặp lại người bạn thuở thiếu thời. Như sắp được nghe lại tiếng rao “Phở, Phở” trong đêm khuya.  
Thế là đã gần 20 năm mới trở lại nơi này. Oregon có già đi hay không hay là vẫn thế, khó biết quá, nhưng hai người bạn của tôi, cũng như tôi, đã “sa sút” nhiều lắm. Nguyễn Trung Hối từng chủ trương Tập San Chủ Đề trước 1975 tại Sài Gòn, qua Mỹ tỵ nạn vẫn nỗ lực cho tái tục Chủ Đề được trên mười mấy số, nay đã tỏ ra mệt mỏi, không còn muốn theo đuổi giấc mơ vá trời, lấp biển bằng văn chương, chữ nghĩa. Lưu Văn Thăng, tốt nghiệp trường đào tạo Sỹ Quan Không Quân tại Salon, Pháp, chàng thanh niên hào hoa ấy hẳn đã từng “tung cánh” bay đến nhiều chân trời xa lạ, nay bằng lòng làm một ông già cùng vợ ngày qua tháng lại chăm sóc khu vườn nhà xanh mướt trồng nhiều loại hoa quả của quê xưa. Các thứ rau xanh, bầu, bí, mồng tơi, nhiếp cá, húng quế, húng lủi, ớt ... Tôi hỏi đùa, Tươi tốt như thế kia chắc bán được giá lắm đó. Trả lời, Sức mấy, cho mà người ta còn bắt phải mang đến tận nhà.

Vũ Viết Tuân: Khoảng trống lịch sử



Sáng nay, khi bài viết này lên trang, hàng trăm nghìn thí sinh chuẩn bị bước vào bài thi Khoa học Xã hội của kỳ thi THPT quốc gia.
Sau bài thi ngắn năm mươi phút và bốn mươi câu hỏi trắc nghiệm, phần lớn họ, nếu không chọn ngành khoa học xã hội ở đại học, sẽ tạm dừng “mối duyên” với lịch sử trong nhiều năm về sau này.
Khi hàng trăm nghìn cái đầu trẻ chăm chú cúi xuống một bài thi lịch sử, tôi nhớ tới giáo sư Phan Huy Lê, người rời cõi tạm ngày 23/6. Đại thụ của nền sử học ra đi, để lại cho cuộc đời một câu hỏi: bao giờ những khoảng trống lịch sử được lấp đầy?
Trong bốn mươi câu trắc nghiệm lịch sử sáng nay, sẽ còn thiếu rất nhiều sự kiện và sự thật lịch sử quan trọng của Việt Nam, mà ngành giáo dục vẫn còn chưa thống nhất được với ngành lịch sử, với những nhà nghiên cứu trăn trở như Phan Huy Lê, rằng chúng có nên được đưa vào và sẽ được đưa vào sách giáo khoa như thế nào.