Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

Đỗ Quý Toàn: Chất thơ trong văn

Chúng ta băn khoăn về sự khác biệt giữa thơ và văn kể từ khi người Việt tiếp xúc với văn chương Pháp. Trước đó các cụ thấy hai thứ hiển nhiên là khác nhau rồi. Có vần, có điệu thì gọi là thơ, nếu không thì là văn. Vào đầu thế kỷ 20 thì sự phân biệt còn khá rõ ràng. Phạm vi của thơ và của văn có biên giới, dựa vào hình thức. Đến giữa thế kỷ 20, có những thi sĩ viết “thơ bằng văn xuôi” theo lối “poème en prose” của các thi sĩ Pháp, như Rimbaud, Claudel, v.v… Từ đó nói đến thơ người ta không thể chỉ căn cứ vào vần, điệu, hay giới hạn số chữ trong một câu. Thơ tự do đẩy thơ sang mấp mé bờ văn xuôi. Tùy bút đẩy văn xuôi tràn sang biên giới của thơ.

Khi Phạm Đình Hổ viết Vũ Trung Tùy Bút thì tùy bút của ông giống như các truyện ngắn. Tới Nguyễn Tuân thì tùy bút ở giữa truyện và phiếm luận, mà bây giờ chúng ta có một chữ khác là tạp văn, một chữ rất tiện dụng (theo lối Lỗ Tấn). Tùy bút, nhờ Võ Phiến, Mai Thảo… lấn sang biên giới của thơ nhiều hơn. Và chúng ta có thể nói đến “chất thơ” trong văn Mai Thảo hay Võ Phiến hoặc Phạm Công Thiện. Từ chữ THƠ để nói về một hình thức, chúng ta nói đến Chất Thơ, trước đây gọi là Thi Vị. Khi ta tự hỏi “Thơ và văn xuôi khác nhau thế nào” chúng ta muốn nói đến Chất Thơ, chứ không nói về hình thức của thơ. Hình thức có thể là một yếu tố, không là tất cả.

Vì thơ và văn xuôi đều là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu cho nên người ta đem phân tích ngôn ngữ để dựa vào đó mà phân biệt thơ với văn xuôi. Đại để, ngôn ngữ có hai yếu tố chính: âm thanh mà chúng ta nghe thấy khi đọc hoặc nói, và các tình ý mà âm thanh gợi ra (hoặc âm thanh tưởng tượng khi nhìn chữ viết).

Dựa trên hai yếu tố này, có người đề nghị phải tìm chất thơ ở cả hai phạm vi: chất thơ do âm điệu gây ra, và chất thơ do ý tứ. Một câu có vẻ trầm bổng, vần câu sau theo vần câu trước, thì nhờ âm điệu có chất thơ. Một đoạn văn không có các yếu tố âm điệu nhưng các chữ dùng trong đó gợi ý tứ nhiều thì nó có chất thơ ở ý nghĩa. Một ý trừu tượng “rất rộng lớn” có thể được chuyên chở bằng nhiều từ ngữ, thí dụ: mênh mông, mênh mang, bạt ngàn, bao la v.v… mỗi từ gợi tình tứ khác nhau. Sự sắp xếp các tiếng trong một cụm từ cũng thay đổi tác dụng của ngôn ngữ. Chắc ai cũng có thể phân biệt ý tứ khác nhau trong hai cách nói, “trời biển mông mênh” với “mênh mông biển trời.”

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Đỗ Quý Toàn: Vẻ bình thường mới mẻ

Nhấn mạnh đến tính mới lạ của thơ có thể gây hiểu lầm rằng chỉ nói những điều kỳ lạ mới thành thơ. Không, đôi khi sự giản dị làm chúng ta kinh ngạc hơn. Ai cũng thuộc bài Mùa Thu Câu Cá của Nguyễn Khuyến; có lẽ chúng ta nên đọc lại đầy đủ:


Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần, lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Bài thơ làm cho ta kinh ngạc vì lời thơ sao mà trong veo, sao mà bình thường giản dị! Ai đã trải qua kinh nghiệm “gò” thơ Đường luật bẩy chữ tám câu thì lại càng kinh ngạc; vì lối nói đơn sơ chân chất của Nguyễn Khuyến vẫn theo đúng niêm luật.

Trời đất, cỏ cây ở đâu cũng có. Chỉ có thi sĩ là khác nhau. Cả ngàn năm thi ca Việt Nam bao nhiêu người rung động về mùa thu, viết thơ mùa thu. Các nhà Nho đời trước ai cũng thuộc biết bao nhiêu bài Thơ Đường. Trong đó biết bao nhiêu bài về mùa Thu; rất dễ chịu ảnh hưởng vì những khuôn sáo cũ, thật khó thoát ra được.

Phải đợi đến Nguyễn Khuyến mới có một bài thơ “Mùa thu câu cá” đặc biệt do người Việt Nam viết cho người Việt Nam đọc. Những sự thật trong đó ai cũng thấy, ai cũng có thể thuật lại bằng lời cho chúng ta nghe. Từ gần hai thế kỷ nay, ai nói tiếng Việt cũng phải nhận đây là một tuyệt tác. Điều tuyệt diệu trong bài thơ này là mỗi câu thơ riêng lẻ có thể rất tầm thường, hầu như ai cũng viết được. Bất cứ một thi sĩ trẻ nào đang tập dùng vần điệu đều có thể viết câu: Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo. Nếu chúng ta dịch câu thơ trên ra ngoại ngữ để khoe rằng đây là câu thơ của một thi hào Việt Nam, chắc người ngoại quốc sẽ ngạc nhiên. Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo, có thi sĩ nào tả cảnh thu mà không viết được một câu như thế?

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2020

*Song Thao: Đọc “Bãi Sậy Chân Cầu” Của Khánh Trường.

Bãi sậy nằm bên chân một chiếc cầu đang xây cất ở một tỉnh lẻ. Dân chúng thường hay ra hóng mát. Vợ chồng họa sĩ Tuấn và cô giáo Thủy dọn về ở nơi tương đối yên tĩnh nhưng buồn tẻ này. Họ đang chờ một cặp sanh đôi chào đời. Ca sanh khó đã đưa tới tình huống nguy hiểm cho mẹ hoặc con. Thủy đã chọn sự sống cho hai đứa con. Và nàng đã nhắm mắt bỏ lại Tuấn và đôi trẻ sơ sinh. Tuấn còn chưa biết xoay sở ra sao thì một cặp vợ chồng hàng xóm nhận nuôi giúp. Họ có một cô con gái tên Loan, 6 tuổi. Cả nhà say mê hai đứa trẻ mũm mĩm dễ thương: Tú Anh và Tú Em. Loan quấn quýt với cặp sinh đôi, nhất là Tú Em.

Bãi sậy, 18 năm sau, trở thành nơi chốn xảy ra một biến cố làm tâm điểm của cuốn truyện. Khi đó Loan đã lên thành phố học xong sư phạm, trở về nhà nghỉ hè. Loan đã 24, cặp sanh đôi đã 18 tuổi, sắp vào Đại học. Loan và Tú Em ra bãi sậy hóng mát. Và chuyện xảy ra. “Trăng đã lên từ lúc nào, ánh sáng lạnh lẽo phủ xuống khúc sông rộng. Dưới chân cầu, những ngọn lau ngả nghiêng trong gió. Loan đạp tứ tung, gào kêu tuyệt vọng. “Đừng, đừng, không được làm bậy, Tú Em…”.Mặc, áo rồi quần, cả xì líp lần lượt bị lôi khỏi người, sức trai cộng với sự liều lĩnh mê muội đã biến Tú Em thành con thú điên, sự chống trả của Loan như chất xúc tác đẩy ham muốn trong Tú Em đến chỗ cuồng loạn… Tú Em không còn biết gì nữa, cuống cuồng tìm cách nhập vào người Loan. Không dễ, một phần vì sự chống cự tuy yếu nhưng không ngưng nghỉ, phần nữa, Loan chưa từng gần đàn ông, bình thường, với sự đồng thuận đã khó, huống gì trong tình cảnh này. Nhưng cuối cùng bằng sức lực của mãnh hổ, Tú Em vẫn đạt được mong muốn, Loan hét lớn tuyệt vọng khi Tú Em ngập sâu vào vùng cấm. “Đau!”. “Chị Loan, Tú yêu chị!”. Loan vừa khóc vừa nguyền rủa, hai tay cào nát ngực Tú Em, chân vùng vẫy đạp loạn xạ, hạ thể chuyển động mạnh mẽ, cố đẩy thỏi thịt cứng đang xâm nhập hối hả ra khỏi vùng kín của mình. Chân cầu bị che khuất giữa bãi lau sậy cao quá đầu, càng về khuya càng vi vu tiếng gió. Không ai dạo chơi ngoài bờ sông vào giờ này, cũng có nghĩa không ai phát hiện Loan đang bị thằng em cưỡng đoạt tiết trinh”.

Tú Em bỏ trốn. Loan bèo nhèo trở về nhà, nức nở khóc. Gạn hỏi Loan mới lắp bắp kể lại sự việc. Mọi người chết đứng. Tuấn ngã vật ra ghế, hai tay ôm đầu: “Trời ơi! Nó có còn là người nữa không?” Loan buồn tủi trở về thành phố sớm hơn dự tính để nhận nhiệm sở đi dậy học. Trong cô đơn, Loan nghĩ đi nghĩ lại, thấy sự thể không phải tự nhiên mà xảy

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2020

Đỗ Quý Toàn: Ngày mới ngày ngày mới

Thơ trở thành thơ vì đưa chúng ta ra khỏi lối nói thuờng ngày. Chúng ta được kích thích, tiếp xúc với thế giới chung quanh bằng một cách mới, nhờ thế thoát ra khỏi lối nói năng Thơ trở thành thơ vì đó là tiếng nói đưa chúng ta ra khỏi lối nói năng hàng nhật. Thế giới quen thuộc bỗng trở thành mới mẻ, như một thi sĩ bỗng cất lời kêu gọi:

Ta về khai mở bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi!
(Tô Thùy Yên)

Cái gì làm cho gỗ đá thức dậy, sống động, trở thành linh thiêng, huyền bí?

Phái Hình Thức Luận (Formalism) với Câu lạc bộ Ngôn ngữ học ở Maskva (từ 1905) và ở Praha (từ 1915) đã chú ý đặc biệt đến khía cạnh kỹ thuật của văn chương, đặc biệt là của thi ca – họ cho chất thơ chính là chất văn chương. Cái đã tạo ra chất thơ là cấu trúc của ngôn ngữ khác với cấu trúc câu nói thường. Vần, điệu, nhịp, láy, chia đoạn… là những “thuật” để ta nói ngoài “thủ tục thông thường.” Các kỹ thuật của thơ đề giúp chúng ta nói cách khác, nhìn cách khác, biến thế giới quen thuộc trở thành lạ lẫm (preim ostrannenja). Như Shklovsky nhấn mạnh: “Cái khéo của nghệ thuật là làm cho các sự vật mất tính quen thuộc của chúng...”

Mất vẻ quen thuộc


Phái Hình Thức Luận, từ Shklovsky đến Jakobson, đã giúp người ta lưu tâm đến khía cạnh cấu trúc ngôn ngữ của thơ, trong thời gian mà trường phái Biểu Tượng (Symbolism) còn dùng con mắt thần bí, siêu hình để nói chuyện thơ. Với lối phân tích của họ chúng ta thấy rõ hơn tiến hóa của thi ca không phải chỉ là thay đổi hình thức, kỹ thuật; thi ca tiến hóa khi làm nẩy ra các chủ điểm mới trong cách diễn đạt tâm ý qua ngôn từ.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Túy Hồng: Lòng Thành

Thưa Bà,

Lâu nay tôi vẫn theo dõi lời của bà trên mục “Giải đáp tâm tình”. Bà đã dàn xếp bao nhiêu rắc rối nội tâm. Những người nghe bà giờ đây có lẽ đã bình yên rồi. Hôm nay, tôi xin mạn phép tuần tự kể câu chuyện dài đời tôi và mong bà giúp cho đoạn kết.

Vì câu chuyện ấy có liên quan đến những điều xảy ra trong đời tôi sau này, cho nên mặc dù như thế không được khiêm tốn tôi vẫn phải thưa ngay rằng trước đây bốn năm tôi đã từng là một ca sĩ có tên tuổi ở đô thành. Trời cho tôi giọng hát ha, cái may mắn ấy giúp tôi nuôi sống gia đình.

Nhà cũng có anh, nhưng trong hoàn cảnh cần phải hy sinh này, anh tôi lại làm reo đòi cho có một gia đình riêng của anh. Đàn ông lấy vợ khi nào cũng còn kịp; nghĩ thế nên cả nhà tôi kết bè phản đối nàng dâu chưa về nhà chồng. Ai mà ưng được người chị dâu biết gần hết chuyện đời ấy, chị nói chuyện liên hồi trước mặt đàn ông. Chị quá tỉnh táo, không bao giờ để lộ cảm xúc lên mặt hay ngập ngừng im lặng trước nam phái.

Mẹ tôi bảo anh: “E hắn nhai mày”.

Anh tôi nổi cộc. Anh đem cả số tiền tháng lương mới lãnh về chặt hai ra, làm mồi lửa. Anh đành đoạn thoát ly gia đình! Cha mẹ tôi có con trai đầu lòng mà không nhờ được. Gánh nặng trên đôi vai ngang, tôi phải hát đêm ngày. Ở tuổi hai mươi, con gái bây giờ vẫn còn rất trẻ, nhưng lòng tôi thì già đắng lại. Đau buồn trĩu nặng trên mí mắt. Già tự trong lòng già ra. Tôi không có nhan sắc để giúp đỡ cho tiếng hát, cố tránh chuyện buồn để tìm tươi non cho gương mặt.

Tôi theo học nhạc từ năm mười lăm. Trên đầu lưỡi tôi vẫn quen nhảy nhót những tiếng ca rộn rã. Ở chéo khăn tay, trên ngực áo mặc ở nhà, luôn luôn khập khễnh những nốt nhạc vui đời. Gia đình níu nhờ tiếng ca của tôi. Tôi đem hơi ca đổi lấy tiền. Các chị em ở nhà đi ra đi vào mòn guốc, ai cũng đẹp hơn tôi cả. Trổi nhất là Thanh, cốt cách chứa trong cái bằng tú tài. Có người mời Thanh đóng phim. Thanh cười. Nó đang chờ ngày làm bà lớn. Trong cuộc sống thiếu điều kiện vật chất nhưng vẫn trau chuốt bề ngoài, dĩ nhiên chúng tôi va chạm lung tung. Lục đục cãi nhau cả ngày từ khi mặt trời mọc cho đến lúc trăng lên. Gây gổ sa đà mê man, quên cả việc đóng cửa gương đề phòng hàng xóm. Bao nhiêu tật, bao nhiêu tướng trên người đều bị xoi ra hết. Thật là nhìn vào, đời ở đâu cũng đều thấy khổ. Làm con gái trong nhà này như làm tướng cướp. Thanh hét ra lửa, ngọn đón của nó bao giờ cũng độc, hạ liền độc thủ trong nháy mắt:

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

Trương Vũ: Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954

Tháng 10 năm 1956, tạp chí Sáng Tạo ra đời, đóng góp vào sự phát triển của nền văn học miền Nam vào một giai đoạn đầy biến động của đất nước. Trong suốt hơn 20 năm, từ 1954 đến 1975, có rất nhiều nỗ lực khác nhau, cá nhân hay tập thể, trong hay ngoài văn giới, đóng góp vào sự phát triển này. Thế nhưng, đóng góp của Sáng Tạo, như một tạp chí, một vận động văn học, và như một tập thể, vẫn có một tính cách đặc biệt, và giữ một vai trò quan trọng.

Những trình bày sau đây nhằm nhìn lại và đánh giá vị trí đặc biệt đó của Sáng Tạo trong sự phát triển của văn học miền Nam sau 1954.

MIỀN NAM TRƯỚC KHI SÁNG TẠO XUẤT HIỆN


Để nhận định công bình và đứng đắn về vị trí của Sáng Tạo, không thể không nhìn lại bối cảnh của miền Nam trước khi tạp chí này ra đời. Một bối cảnh chằng chịt với những biến cố dồn dập tại Việt Nam, cùng lúc với những đổi thay vùn vụt trên thế giới.

Miền Nam, một bộ phận quan trọng của Quốc Gia Việt Nam, cho đến 1954 vẫn chưa thật sự là một quốc gia độc lập. Quân đội được đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của bộ tổng tư lệnh Pháp. Các giáo phái có quân đội riêng, kiểm soát một số địa phương riêng. Lực lượng Bình Xuyên nắm công an cảnh sát, làm chủ sòng bạc Kim Chung và khu ăn chơi Đại Thế Giới. Dinh Độc Lập, biểu tượng cho uy quyền quốc gia, trực thuộc Cao ủy Pháp. Viện Đại Học cũng do người Pháp quản lý.

Cao Thanh Phương Nghi: Hoa Bèo

Trong một ngày giờ tan sở là lúc nàng cảm thấy tàn tạ và ngao ngán nhất.

Xốc cái túi lên vai, cầm lấy giỏ đựng cơm đã nhẹ hẫng nàng đi bộ đến bãi đậu xe của nhân viên, cách tòa nhà làm việc độ mười phút trong cảnh chiều bãng lãng của thành phố bắt đầu vào đêm. Có vài đồng nghiệp đi từng nhóm nhỏ hai ba người nói chuyện qua lại, có người lầm lũi đi một mình, dáng vội vã. Riêng nàng thì nàng không muốn đi với ai nhưng lại thong thả, không vội vàng. Đây là khoảng thời gian nàng muốn thư giãn và không muốn bị ai quấy rầy. Tâm trí nàng đã bị nhốt trong những lọ hóa chất, trong những ống nghiệm, trong căn phòng không cửa sổ dưới tầng hầm kia mười hai tiếng đồng hồ trước đó rồi, hơn nữa với cái cổ đã mỏi nhừ, cái bụng đói meo và hai bàn chân bị bó cứng trong đôi giày có những sợi dây đan qua lại chằng chịt nàng không còn muốn trò chuyện gì với ai nữa. Mọi thứ trong thân xác nàng đã cạn kiệt. Nàng bước đi và chỉ ngó xuống mũi giày của mình. Trí nàng lẩm bẩm: “Còn phải qua bức tường màu đỏ, qua thêm dãy hàng rào có trồng hoa dâm bụt, rồi tới lối đi bằng xi măng có một đường nứt chắn ngang.” Ráng lên nhé, vài chục bước nữa là tới... Rồi nàng ngước lên, mỉm một nụ cười chịu đựng. 

Bãi đậu xe là một khoảng sân rộng nằm sát bên một ngôi nhà thờ, ngăn cách nhau bởi hàng cây bách có những ngọn hình chóp mỗi lúc một thẫm lại trên nền trời đang tắt mở những ánh sao yếu ớt. Lúc nào đến bãi đậu xe nàng cũng nghe tiếng đọc kinh rì rầm xô qua xô lại trên những ngọn cây im lìm ấy, tiếng con chim nào đó kêu “éc” lên một tiếng cô độc rồi lần lượt tiếng nổ máy hết xe này đến xe khác cho tới lúc trên khoảng sân rộng mênh mông chỉ còn những vết cặn dầu còn đọng lại và những cái lá khô bay là là giữa những hàng vạch trắng đều tăm tắp. Tất cả như bảo nhau: “Ngày mai, ngày mai thôi, những người đó sẽ trở lại và mọi thứ sẽ lập lại y như ngày hôm nay.” Nàng nghĩ tới ngày mai của mình, rồi ngày mốt, rồi ba chục năm nữa tất cả những cảnh vật cũng như tiếng động ấy cũng như vậy thôi. Ngày đầu tiên đến sở làm người chủ nói với nàng: “Làm mười năm thì cô được bao nhiêu đây ngày phép, làm mười lăm năm thì được thêm, làm hai mươi năm thì được thêm nữa.” Nàng hỏi: “Vậy nếu tôi làm ba mươi năm?” Ông ấy cười: “Sau ba mươi năm thì ngày nào của cô cũng là ngày phép.” Nàng ngẫm nghĩ: “Trên đời có nhiều việc làm bốn năm chục năm mà không bao giờ có một ngày phép nào cả.”

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2020

Võ Phiến: Cái Còn Lại

Năm đó chàng độ hăm lăm hăm sáu tuổi. Không chừng đến ba mươi cũng nên. Chàng không nhớ rõ: vào khoảng từ hăm sáu tới ba mươi. Một đêm đầu tháng chạp mẹ chàng trở bệnh. Hai giờ sáng, chàng lấy tờ báo chiều hôm trước ra tìm bác sĩ trực.

— Đường Võ Di Nguy, số chừng ấy, khoảng nào nhỉ? Số lẻ, phía bên nào nhỉ?

Cả nhà không ai nghĩ ra. Một danh từ, một con số, không có gì đặc sắc cả, không ai để ý đến, không ai có một ý niệm gì hết.

Khi chiếc tắc-xi ngừng, chàng nhận thấy phòng mạch này cũng có vẻ quen quen, chàng đã đi ngang qua nhiều lần.

Thủy đỡ mẹ xuống xe. Chàng bấm chuông gọi. Đây là lần đầu chàng đến phòng mạch ban đêm. Trước nhà, dưới ô-văng, có một ngọn đèn đặt trong hộp kính mờ, bên ngoài vẽ dấu chữ thập đỏ. Ánh sáng lãnh đạm, buồn hiu. Năm ba con vật li ti có cánh bay lởn vởn. Một con thằn lằn rình trên vách, gần đấy. Làm sao biết có người thức nghe tiếng gọi của chàng vừa rồi?

Chàng ngần ngại, rồi bấm chuông lần nữa. Một ngọn đèn khác, cũng bóng đục, nhỏ bằng quả bóng bàn, bật sáng ngay phía trên cửa sổ. Bên trong đã trả lời.

Lát sau người y tá mở cửa, mời vào. Lại chờ đến năm phút nữa là ít. Phía trong phòng việc của bác sĩ, người y tá đi lại, mở đèn, khua động. Bên ngoài, chàng nhìn vơ vẩn từ tấm lịch đến mấy bức tranh cũ trên vách. Vách bẩn, đã quá lâu không quét vôi lại. Căn phòng có vẻ không được săn sóc.

Viên bác sĩ lặng lẽ làm việc, hỏi rất ít, nói rất ít, dáng điệu mang nặng giấc ngủ. Ông chích cho mẹ chàng một mũi kim, pha trộn bằng hai thứ thuốc. Ông ta nói với cô y tá vắn tắt, thấp giọng một cách biếng nhác, thiếu cố gắng. Nhiều lần ông phác một dấu hiệu nhỏ thay cho lời nói. Họ hiểu với nhau. Không phải viên bác sĩ làm việc không cẩn thận. Lúc ngồi viết toa thuốc cho mẹ chàng, ông ta có lần ngừng lại để nghĩ ngợi, đắn đo. Ngón tay trỏ của bàn tay trái, một ngón tay to lớn đè lên cánh mũi, ấn xuống, buông ra, rồi ấn xuống. Mẹ chàng bận bịu với các khuy áo trong áo ngoài phải cài lại. Thủy và chàng theo dõi ngón tay băn khoăn của bác sĩ trong giây phút trở thành nghiêm trọng. Cô y tá nhìn nét mặt chàng, chia xẻ sự lo lắng.

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

Tâm Tịnh An: Thầy Tôi

Kính tặng hương hồn Thầy NVT

Chiều hôm ấy như thường lệ, sau giờ học chúng tôi ở lại để trả cho Thầy những cuốn sách đã mượn tuần trước và đổi lấy sách mới. Sau khi các bạn tôi đã về hết, Thầy tìm một lúc rồi kéo ra một cuốn sách mỏng khổ lớn giấy vàng khá cũ kỹ và nói, “Đây là quyển Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, bản in đầu tiên, Thầy quí lắm nên ít cho ai mượn, Thầy nghĩ em đọc sẽ thích”. Sách để lâu trong tủ phảng phất một mùi thơm nhẹ của gỗ. Tôi cảm động ôm quyển sách mà nghẹn ngào muốn khóc, hít mùi gỗ thơm như nén vào lòng tất cả sự ưu ái của Thầy.

Khi tôi học lớp đệ ngũ thì Thầy T. đang vừa làm giám thị vừa dạy một số lớp Anh văn và Pháp văn. Nghe nói Thầy chỉ tự học mà thông thạo nhiều thứ tiếng. Thầy nổi tiếng nghiêm khắc và học trò lớn bé đứa nào cũng sợ Thầy một phép. Nếu thấy Thầy từ đàng xa, mấy đứa học trò trai lật đật bỏ áo vô quần, đứa nào tay áo đang xăng lên thì vội bỏ xuống gài nút lại. Một lần tôi thấy một anh học trò tay áo đang xăng lên, gặp Thầy thì Thầy bắt đứng ngay ngắn lại rồi Thầy vả cho một cái. Thầy nói xăng tay áo lên nghĩa là sắp đánh lộn với Thầy, vậy thì Thầy phải đánh trước! Với nữ sinh thì Thầy không đến nỗi khó như vậy nhưng bọn tôi vẫn cố tránh mặt Thầy. Nếu thấy không thể tránh được thì vội đứng ngay ngắn lại, nón lá cầm tay lí nhí cúi đầu chào Thầy rồi thở phào nhẹ nhõm khi Thầy đi qua.

Ấy vậy mà một hôm trong bữa cơm chiều, ba tôi thủng thỉnh nói, “Ba nghe nói Thầy T. dạy Anh văn hay lắm và Thầy có mở lớp dạy tư ở nhà, hôm nào rảnh ba sẽ dắt con tới xin học với Thầy.” Trời ơi!

Tôi nghe bỗng rụng rời.

Nhìn ba luống nghẹn lời…

Chén cơm đang ăn tôi nuốt không vô nữa. Những ngày sau đó tôi buồn bã và lo lắng không yên, mỗi lần nghĩ tới phải đi học Thầy là lòng tôi chùng xuống, đang vui cũng mất vui, cứ vái trời cho ba tôi quên luôn vụ đó. Vậy mà ba tôi không quên và ngày tôi lo sợ đã đến. Hôm ấy sau khi ăn cơm chiều xong, ba tôi lấy xe đạp chở tôi đến nhà Thầy. Ngồi sau lưng ba, tôi lâm râm khấn vái Quan Thế Âm Bồ Tát cho Thầy không có ở nhà. Khi Thầy bước ra mở cửa tôi tiếp tục vái cho Thầy đừng nhận tôi.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

Hoàng Quân: Khoảng Cách Vô Hình


Khung Cửa Hẹp - Tranh Hoàng Thanh Tâm
“Cơ cấu tổ chức” trong bếp gia đình anh chị có vài thay đổi từ khi chính phủ ban hành những biện pháp phòng ngừa bệnh dịch. Trước đây, chị thường đi làm về trễ. Bởi thế, anh đảm trách khâu nấu nướng. Chị lo bày bàn và dọn dẹp. Bây giờ, cả hai vợ chồng cùng đóng đô ở nhà. Cho nên, chị chuyển sang bầu bạn với ông Táo. 

Chiều nay, trong khi chị bận rộn bên bếp, anh bày chén đũa ra bàn. Chị đặt dĩa rau xào xuống. Liếc qua hai cái chén anh dọn sẵn, một trắng, một xanh. Chị nghĩ, con cái đã ra riêng, nhà giờ chỉ còn chóc ngóc hai vợ chồng. Làm gì, cũng cố gắng giống nhau, cho ra vẻ... sắt cầm hảo hợp. Chị đổi chén, để cặp chén... đẹp đôi. Anh hỏi trổng: 

-Sao vậy? 

Chị cười nhẹ: 

-À, thì đào nào, kép nấy đó mà anh. 

Anh dường như không để ý đến nụ cười cầu hòa của chị, giọng gay gắt: 

-Chớ không phải anh làm gì, em cũng muốn sửa lưng. 

Chị cố cứu vãn tình thế: 

-Đâu có anh. Chén đũa giống nhau cho có partner look. 

Anh khô khốc:

-Bày đặt màu mè.

Chị tưởng như mặt mình nặng nề giống cái bánh bao chiều. Sao lạ vậy! Những khi đứa con về thăm, ngắm mâm cơm chung, nó xuýt xoa khen: “Mẹ bày biện khéo léo, trông ngon lành ghê.” Anh vui vẻ tán thưởng: “Chứ sao, mẹ con là nhất, mẹ con chứ đâu phải ai!” 

Anh không nói, không rằng, gắp gắp, lùa lùa. Anh buông đũa, trong khi chị chưa hết nửa chén cơm. Anh đứng dậy, mở tủ lạnh lấy chai Cola, đưa lên miệng. Chị lật đật:

-Anh, anh! Nhớ rót vào ly. Uống như vậy... 

Anh cắt ngang, cáu kỉnh: 

-Biết rồi, theo như internet, uống thẳng từ chai có nhiều vi trùng bla bla bla... 

Anh dứt khoát đưa chai Cola lên tu một hơi dài, xong lẩm bẩm: 

-Riết rồi chẳng được tự do làm cái gì cả. 

Nguyễn Đức Tường: Truyện Liêu Trai Mới - Cây gạo đầu nhà

(Nhân dịp Gs Đàm Quang Hưng xuất bản cuốn 8, trọn bộ tập Liêu Trai Chí Dị)

Hình minh hoạ, BIJU BORO/AFP via Getty Images

Huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, có người học trò họ Vũ, tên Tứ, bạn bè thường gọi là Tiểu Tứ, tính tình hiền lành nhưng rất cục. Nguyên khi còn học ở lớp sơ cấp, Tứ có biệt danh là Tứ "con" vì cùng lớp có một Tứ "lớn". Ở gần nhà có một con bé đen như củ tam thất nhưng có cái răng khểnh rất có duyên, Tứ thích lắm. Một hôm, Tứ "con" đang đứng ở đầu phố chơi với mấy đứa bạn thì con bé đi qua; một đứa quen miệng gọi Tứ là Tứ "con", nó xấu hổ, giận quá, đuổi đánh rất hung dữ, bạn bè phải can mãi, cho nó cái tên kiếm hiệp, nó mới thôi. Từ đó, Tứ "con" thành Tiểu Tứ.

Tiểu Tứ lúc nhỏ thông minh, mọi người đều nói thằng bé sau này tất làm nên nghiệp lớn. Nhưng có lẽ thày địa lý đặt đất sai lệch sao đó, khi Tứ đầy tuổi tôi, bố nó bày cung tên nghiên bút xem Tứ chọn thứ nào, chẳng may cái nắp bút rơi ra, Tứ nhặt được bèn giữ chặt lấy rồi đưa lên miệng thổi toe toe như cái còi, lấy làm thích thú lắm. 

Năm Tứ sáu tuổi, chí lớn của nó xuất phát như thế này: một hôm, Tứ rủ em đi trồng cây. Thằng bé em chí khí là là mặt đất, mang mấy hạt ngô ra trồng. Còn Tứ, nhớ đến cây gạo ở đầu nhà cao ngất trời cùng hình ảnh cô đầm xinh đẹp ở trang bìa một cuốn tự điển, xòe bàn tay thổi tơ phấn bay phất phơ, Tứ bèn lấy mấy hạt gạo ra trồng, những mong chiều hè gió lộng thổi để bông gạo bay ra khắp bốn phương. Cây ngô lớn đâm bắp, còn cây gạo thì dù tưới mãi vẫn chẳng thấy hạt gạo nẩy mầm; nhưng cây gạo thổi bông bay khắp bốn phương trời đã trở thành một ám ảnh của đời Tứ.

Năm Tiểu Tứ đi thi lấy bằng thành chung, có bài toán muốn thay đổi phân lượng vàng bạc trong một hợp kim mà đáp số là hoặc lấy bớt ra từ hợp kim hai chỉ vàng hoặc cho thêm vào hợp kim ba chỉ bạc. Cả hai cách đều đúng. Bài toán hỏi thêm một câu phụ: cách nào tiện hơn? Tứ trả lời: lấy bớt ra hai chỉ vàng lợi hơn. Quan trường bàn nhau: trò này bộp chộp, tham lam, nếu cho đỗ thủ khoa, sau này chỉ tổ làm hỏng việc lớn, bèn đánh trượt với ý định cho nó chờ năm sau để tính khí thêm thuần. Nhưng năm sau chẳng bao giờ đến, việc trường ốc của Tứ từ từ xuống dốc. Ông bố thấy vậy, bèn cho Tứ đi học nghề sửa máy vi tính để kiếm sống. 

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Trần Doãn Nho: donotenter

Quãng mê lối sống tự nhiên, nhất định là vì chịu ảnh hưởng của ông nội. Ông từng sống một cuộc đời viên mãn, năm 86 tuổi, giã từ trần gian êm thắm, không quằn quại vì bệnh nan y, cũng không nằm liệt giường liệt chiếu hành hạ người thân năm này qua tháng khác. Trước giờ ra đi về một nơi vô danh nào đó, ông còn gọi con cháu đến, nhắn nhủ: tao sống lâu, sống khỏe là vì tao luôn luôn nương theo cái tự nhiên mà cư xử với cuộc đời. 

Những năm đầu thập niên 1980, Quãng theo một phong trào không có bàn tay nhà nước sờ vào:“niệu liệu pháp”. Cái tập sách nhỏ, in ấn lem nhem vài ba chục trang đuợc chuyền tay nhau như một cứu tinh của thời hậu-30-tháng-tư. Trước hết, nó hợp thời: phòng bệnh và trị bệnh không cần thuốc. Nó hơi hướm triết lý: dùng chính mình để chữa bệnh cho mình. Nó giản tiện: có sẵn ngay trong người, không cần toa. Nó thích hợp với cái túi không tiền của mọi người, không sợ chạy vạy chợ đen chợ đỏ: miễn phí. Và còn đặc biệt hơn nữa: nó khoa học. Người ta bảo nước tiểu là chất thải độc hại. Sai! Này nhé, sách niệu liệu pháp dạy: nước tiểu bao gồm 95% nước, 2,5% là hỗn hợp các khoáng chất, muối, hormon và enzim, còn chất gây độc hại là urê chỉ chiếm có 2,5%, không đáng kể. Đã thế, cái lượng nhỏ xíu này, khi uống vào, thay vì hại, nó lại có lợi vì giúp thanh lọc và làm sạch các chất nhầy dư thừa trong cơ thể. Kết luận: nước tiểu hoàn toàn vô trùng sau khi bài tiết và lại có tác dụng khử trùng, có thể dùng nước tiểu để uống, súc miệng, rửa ráy bộ phận sinh dục, nhỏ mắt, nhỏ tai, xao bóp da, tóc….Nó trị nhiều thứ bệnh, kể cả ung thư. Thực đa dụng và đa hiệu hết biết. Một liệu pháp tuyệt vời dựa trên nguyên tắc “chu trình tự nhiên” xuất hiện trong thời buổi tiến lên xã hội chủ nghĩa khi người người không có tiền mua thuốc mà có tiền cũng không có thuốc để mua. 

Quãng uống nước tiểu của mình rất chăm chỉ. Riết, đâm nghiện cái mùi vị khai khai của thứ chất lỏng vàng nhờ nhờ hứng từ cơ thể mình đựng trong chiếc chén nhỏ; ngày nào quên uống, nhớ. Thế mà bỗng dưng có ngày Quãng phát ngán, vả, cũng chả thấy bệnh hoạn gì, bèn âm thầm nghỉ. Tưởng thôi chuyện đã qua thì cho qua bỗng nhận được một tin lạ làm Quãng sửng sốt và bối rối. Số là người cô ruột của Quãng bị đủ thứ bệnh lặt vặt của một phụ nữ hơn mười lần sinh nở, có lần ngất xỉu giữa đường, bác sĩ tìm không ra nguyên nhân, bèn nghe lời Quãng, uống nước tiểu đều đặn, cho đến một hôm, bỗng nhiên, bà tìm thấy trong cái ly đựng nước tiểu của mình hàng ngày kiến ở đâu chen chúc bu vào tùm lum. Giật mình, bà đi bác sĩ làm xét nghiệm thì hóa ra, bà bị bệnh đái tháo đường. Tin buồn thành vui. Niệu liệu pháp đã giúp người cô phát hiện một thứ bệnh mà hồi đó ở Việt Nam không mấy người biết. 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

Đỗ Quý Toàn: Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (Tiệp ký. Bản mới 2020 - Kỳ 3)

Mắt nhìn và tiếng nói hồn nhiên


Tiếng mẹ đẻ là một phần của con người chúng ta. Được dùng tiếng mẹ đẻ là được sống đầy đủ hơn, dù chúng ta dùng để làm thơ, để viết thư, để nói điện thoại viễn liên, tâm sự lòng thòng, ngôi lê đôi mách.

Một trong những nỗi hận của Cao Tần, năm 1975 chạy qua Mỹ phải sống xa quê hương, là:

Chiều đi bát phố gặp toàn Tây
Bỗng tiếc xưa không làm quen cả xóm
…………………………………………..
Ngày ngày phất phơ giữa rừng mũi lõ
Tìm người tình Việt chưa biết tìm đâu.

Khi xưa Nguyễn Du sang sứ bên Tàu, biết sẽ trở về trong một thời gian ngắn chừng dưới một năm, mà đã than: Xa quê hương cả năm lòng đau như chết – Ra đường chỉ thấy toàn mặt lạ!

Kinh niên khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh

Nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ rất tự nhiên, và tiếng nói hồn nhiên, đột khởi nhất là thơ. Vì vậy có các tác giả trước giờ không từng in thơ cho ai coi, giờ đã ấn hành cả tập thơ chau chuốt, như Mai Thảo. Võ Phiến còn giữ kín những bài lục bát rất đẹp và xúc tích. Và trong Cao Tần, thơ bỗng thảng thốt cất lên không thể kiềm lại được. Có lẽ cuộc sống xa quê hương, phải nói và nghe thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ, đã tạo nên nhu cầu trở về với tiếng mẹ, thứ tiếng mà người ta hay thốt lên khi yêu đương, khi văng tục, chửi thề, hoặc kêu lên khi xúc động, đau đớn, mê man.

Nguyễn Văn Thùy: Nói Thơ Trong Văn Học Miền Nam

LTS. Bài này được trích từ cuốn sách “Phong Tục Tập Quán Miền Nam” của Nguyễn Văn Thùy, do Sự-thật Thật xuất bản tháng 5-2020. Đề bài do tòa soạn DĐTK đặt. 

Địa chỉ liên lạc mua sách :
1740 Sunningdale Road, #16-j
Seal Beach, CA 90740
E-mail: suthatthat.2013@gmail.com
 
DĐTK

Nói thơ là một loại diễn đạt dân gian dựa vào các truyện thơ mà người trình diễn thêm vào đó giai điệu, cách ngân nga, đưa hơi, tiếng đệm biểu thị đặc biệt của Miền Nam thành điệu nói thơ riêng. Các truyện thơđược người bình dân thay đổi tiết điệu để thố lộ theo kiểu "nghĩ sao nói vậy", lấy cảm hứng từ cuộc sống thường ngày.

Điệu nói thơ

Điệu nói thơ phổ biến nhứt là nói thơ quốc ngữ Lục Vân Tiên. Sau đó, nhiều điệu nói thơ khác ra đời như nói thơ Sáu Trọng, nói thơ Hai Miêng, nói thơ Thày Thông Chánh, hoặc mấy truyện thơ Nôm như Lâm Sanh-Xuân Nương, Phạm Công-Cúc Hoa. Sau hết phải kể đến điệu nói thơ Bạc Liêu do Thái Đắc Hàng sáng tác năm 1948.

Hình thức nói thơ Miền Nam có lẽ do di dân từ miền Trung du nhập trong quá trình Nam tiến, được xác định qua câu ca dao:

Kẻ cò người hén độc huyền,
Nói thơ Sáu Trọng kiếm tiền cho xong.

Nhưng phải công nhận, khơi nguồn nói thơ là truyện thơ Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu.

Người Miền Nam thưởng thức không phải bằng cách đọc, ngâm, cũng không phải hát. Mà là nói! Đấy là cách đặt tâm trí vào những vần thơ đặng thưởng thức thơ ca. Nói thơ là nói tiếng lòng của mình. Phần lớn các điệu nói thơ thường theo thể lục bát, có làn điệu u buồn, sinh ra nhiều suy tư.

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2020

Thảo Trường: Trong Hẻm

Tôi không thể ngờ rằng ở nước Mỹ lại có một con đường hẻm như con đường hẻm gia đình tôi đang cư ngụ. Chúng tôi là một gia đình tị nạn cộng sản vì mất nước và bị tù đày nên phải lưu vong sang đây. Trên danh nghĩa là di cư đoàn tụ nhưng lại chính thức khởi đầu của một thời ly tán. Tôi và anh con trai út còn độc thân dọn đến cái xóm Mỹ lạ lùng này, ở trong một phòng thuê lại của một gia đình đồng hương nghèo tốt bụng. Nếu không tình cờ gặp người đồng hương cắt cỏ thì chúng tôi đã không biết tới cái xóm nhỏ này và đã không trở thành cư dân ở đây. Gia đình tôi xuất cảnh sang Mỹ vì tôi là sĩ quan QLVNCH bị cầm tù trong các nhà giam của cộng sản sau khi chế độ cộng hòa bị bàn giao cho chế độ cộng sản. Đáng lẽ tôi thuộc diện tị nạn chính trị có trợ cấp và bảo hiểm y tế, nhưng sau khi phỏng vấn, chính phủ Mỹ đã “hạch toán kinh tế” rất thực dụng, “bàn giao” tôi cho con gái và con rể tôi là những người đã bảo lãnh. Và tôi trở thành diện đoàn tụ trong tinh thần nhân đạo. Bao nhiêu phí tổn di chuyển từ Việt Nam qua và tái định cư tại Mỹ trong tinh thần nhân đạo ấy cho gia đình tôi, đều do con gái và con rể tôi đài thọ. Trong chiến tranh Việt Nam, để chống lại làn sóng bành trướng của cộng sản chỉ có các quân nhân QLVNCH chiến đấu và hình như đồng minh Mỹ tham dự, con gái và con rể tôi hồi đó còn bé tí, bây giờ, họ chịu trách nhiệm cho các lệnh hành quân ấy vì chúng tôi là những tù binh vô thừa nhận. Có người nói rằng hậu quả di hại của cuộc chiến là lâu dài, có lẽ, ít ra, cũng đúng trong những trường hợp như thế này. Hồi tôi nằm trong trại tù cộng sản, ở nhà vợ tôi đã tìm cách cho đàn con vượt biên, nhưng thất bại thì nhiều, chỉ may mắn có được một người con gái lớn đi thoát trong một chuyến cùng với một gia đình bà con trong họ. Con gái tôi nay đã có gia đình ba đứa con, vợ chồng nó đều có việc làm. Chúng đang hòa hợp với nhau để xây dựng một mái ấm gia đình với những đứa con đầy triển vọng. Khi đón bố mẹ và thằng em út sang để ở tạm trong nhà, tôi thấy đó đã là một sự hy sinh lớn của vợ chồng nó. Rồi thì phải giúp cho bố mẹ làm thủ tục giấy tờ, giúp cho đứa em trai đi học và đi làm giờ, giúp cho cả nhà làm quen với xã hội Mỹ... rồi thỉnh thoảng còn phải gửi về Việt Nam chút ít tiền giúp bốn đứa em còn ở lại vì chúng đã có gia đình và trên hai mươi tuổi. Bà vợ già của tôi coi sóc mấy đứa cháu ngoại cũng được vợ chồng nó trả cho mỗi tháng mấy trăm. Có lần đứa cháu ngoại ba tuổi ngô ngọng nói: 

– Ngoại ơi, tháng này Mom đã trả lương cho ngoại chưa? 

Nghe con trẻ ngây thơ hỏi, ngoại suýt bật khóc. Hồi còn ở Việt Nam có lần bà đi thăm ông trong tù cũng dắt theo một đứa cháu nội, lần đầu tiên ông cháu gặp nhau, ông bồng cháu cho ngồi trên đùi mà rung, nói chuyện với bà, thằng cu vểnh tai nghe ông bà nó rù rì bèn thắc mắc: 

– Nội ơi, sao ông nội lại gọi bà nội là... em? 

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Phạm Tín An Ninh: Tình Người 
(Ở cuối hai con đường)

Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lam chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

Sau đó, tôi được chuyển về trại 6 Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn. Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.

Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thõng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : – Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.

Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu. Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình : Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” một số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.

Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:

– Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?

Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:

– Thưa cán bộ, có tôi ạ.

– Anh ở trung đoàn mấy ?

– Trung Đoàn 44

– Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972 ?

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

Trịnh Y Thư: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào?

Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.

Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.

Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…

Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.

Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng ba gãy súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn học.

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

Thy an: Ở một nơi nào đó

Hình minh hoạ, FreePik
một góc vườn hay góc đời
gom biết bao âm thanh kỳ lạ
ngày gió đêm mưa
có tiếng kêu của tiền nhân
trong lời thì thầm của lịch sử
giọt mưa rơi trên quê người
biết bao giờ tạnh trên tay

ở khung cửa thắp mấy ngọn đèn
một nửa ở đây, một nửa ở kia
một nguyên vẹn của em và của tôi
trên mấy tầng ngôi nhà nóc xám
ngơ ngác hỏi lòng ngày tết Chuột
tro tàn rơm rạ dưới chân im lặng
giữa những lời hỏi thăm, chúc tụng, lãng quên

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Trần Mộng Tú: Dung Nhan Thời Covid

Lời Tòa Soạn.- Độc giả sẽ gặp trong bài viết này những nhận xét tinh tế và cũng rất bình thường của một nhà văn nữ, sau hai tháng sống “cách ly” vì đại dịch Covid 19. Toàn là những nhận xét nho nhỏ về bản thân : trên đầu đã lộ ra những chỗ tóc bạc (à, đã lâu không nhuộm tóc!), thỏi son đã bắt đầu khô cứng trong ngăn kéo bàn trang điểm (dễ hiểu, hai tháng rồi có dịp nào tô son điểm phấn đâu ?), tủ áo quần như trở nên xa lạ (dĩ nhiên, tối ngày ở nhà với ra vườn, ăn diện mà làm gì ?) v.v…
Thế nhưng, đó lại là những phát giác rất quan trọng trong đời sống của một phụ nữ. Gần như những thuộc tính của cả một đời người bỗng biến mất. Tác giả thảng thốt kêu lên : Liệu con người có cần tất cả những nhu cầu đó từ trước đến nay để được hạnh phúc hay không? 
Đây có thể là một câu hỏi rất lớn, mà để tìm câu trả lời, mọi người phải quay về các quan niệm rất căn bản của sự sống con người. DĐTK
*

Sáng nay, sau khi đánh răng, rửa mặt, chị nhìn mình trong gương, bỗng dưng chị thấy một phụ nữ lạ hoắc. Tóc chị, một đường ngôi trắng xóa như con đường nhỏ phủ sương muối giữa luống rau úa. Hai bên tóc đã quá dài, tóc đáng lẽ phải cắt từ cuối tháng hai, bây giờ gần cuối tháng tư, nên tóc đã chạm vai, so le, cái ngắn cái dài không như ý. Bất giác chị nhớ tới câu thơ:

Sáng hôm nay em thấy ở trong gương
Đường ngôi lệch sợi tóc buồn vừa thức
Chiếc lược mỏng vùi trong vùng tóc ấm
Những hàng răng rẽ mãi một đường ngôi (Sợi Tóc-tmt)

Tóc mai của chị bây giờ không được nhuộm, đã trắng xóa hai bên thái dương. Kệ, trắng cứ việc trắng. Chẳng có đi gặp ai nên gội đầu xong cũng chỉ sấy cho khô, chẳng chú ý đến việc cuốn, chải. Da mặt thì hình như có thêm vài vết đồi mồi xuất hiện, cặp mắt bớt tinh anh, cái nhìn như nhòe đi, vết chân chim kéo gần tới mang tai, trán rõ ràng có nhăn thêm mấy nếp gấp.

Huyền Chiêu: Người Đi trên đống tro tàn

Anh K thương mến,

Những năm trước khi nghe anh nói năm nay anh cũng chưa về VN được, em rất buồn. Hơn 20 năm rồi còn gì. Nhưng năm nay thì em lại nghĩ khác. Anh không về hóa ra lại hay. Hãy để VN biến thành tro bụi trong ký ức. Nhưng anh không về mà cứ muốn em kể chuyện VN cho anh nghe. Em sẽ kể nhưng anh đừng khóc đấy nhé.

Em sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ?

À. Huyện lỵ của mình bây giờ được gọi là thị xã. Nếu về anh sẽ không nhận ra đâu là đâu. Ngôi trường bé nhỏ dưới mấy gốc bàng nơi anh và em học lớp vỡ lòng, đã bị đập bỏ để xây một cung thiếu nhi nguy nga. Hai hàng tre bên sông Dinh đã được thay bằng bờ kè bằng đá. Đường sá cũng được mở rộng thay cho những con đường làng nhỏ mà thuở bé anh hay đạp xe chở em về thăm quê nội hay rong chơi đây đó. Xem ra thì đường xá cầu cống, dinh thự, trường học có khang trang hơn xưa nhưng đó là hàng mã. Tất cả đều chỉ đẹp đẽ trong ngày khánh thành, còn sau đó nó hư hỏng nhanh chóng là điều bình thường ở xứ sở này. Trên những con đường ở đất nước gọi là thanh bình này, mỗi năm có hàng chục ngàn người chết vì tai nạn xe cộ. Người chết vì tai nạn giao thông mấy mươi năm nay còn hơn số người chết trong cuộc chiến vừa qua. Không có ở nước nào mà người dân phải tự di chuyển bằng xe gắn máy. Không có ở đâu mà xe gắn máy chạy chung với xe tải, xe khách, xe chở container. Người mình chết nhiều đã đành. Cứ mỗi lần đọc báo có tin một chuyên viên nước ngoài đến VN làm việc bị xe tông chết thì em vừa xấu hổ vừa thương cho họ. Đáng lẽ họ không nên đến đây, một đất nước mà mạng người chỉ là cỏ rác.

Trong thư anh thường nói phong cảnh ở VN là đẹp nhất. Núi đẹp, rừng đẹp, những ngôi nhà nho nhỏ giữa những thửa ruộng xinh tươi.

Chiều ơi, lúc chiều về là lúc yên vui
Trâu bò về dục mõ xa xôi … ơi chiều (*)