Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

Bùi Bích Hà: MAI (tôi) VỀ HUẾ

Tôi xa Huế đã lâu. Lâu lắm. Lẽ ra đã quên nhiều thứ. Nhưng không. Cả BĐ. Tôi nghĩ chị cũng đã quên, hóa ra chị vẫn nhớ. Chị viết cho N. hôm qua, kể lại: “Đám cưới BH, bạn bè chỉ có một mình BĐ đến rồi BH bỏ Huế mà đi. Có người than thở: ‘Sao lấy chồng xa?’”

Người than thở ấy nay cũng đã bỏ Huế. Đã đi thật xa. Xa đến nỗi không thể nào quay về.

Bỗng dưng từ nơi mịt mùng, lặng lẽ, N. thình lình viết cho tôi: “Mình có một công việc mới. Mai về Huế. Sẽ ghé thăm BĐ.”

Một chỗ nào đó trong tôi, đã đau đớn, đã âm ỉ, đã tê dại, đã dường như chết. Đã để yên, đã chôn sâu ở một nơi thật khuất lấp những gì trôi xa tầm với. Những gì đã chia tay biết không còn lần gặp lại. Có câu hát của ai đó ghi khắc vào trí nhớ tôi,“và một loài hoa chợt hé…” Thỉnh thoảng, kỷ niệm những ngày vui xưa khẽ rung trong hồn như một hồi chuông thất lạc, một thoáng gió mơ hồ lay lắt chút dư hương. Nhưng không. Không chỉ có thế. Những củ tulip, những củ glailleul vẫn ngủ vùi trong thửa đất tưởng đã hết màu mỡ.

Sáng nay, vài chữ ngắn ngủi của N. “Mai tôi về Huế,” như đất chuồi ở một ven sông cát lở, cuốn tôi vào dòng cuồng lưu giữa mùa khô hạn. Tôi bưng mặt, nước mắt đầm đìa tuôn đổ từ hai hố mắt nhức nhối. Nỗi tuyệt vọng khốn cùng đau buốt vòm họng, lan xuống ngực, làm tôi nghẹn thở, mũi đặc cứng.

Mai tôi về Huế. Bốn chữ đơn giản ấy, từ bao giờ, đã trở thành điều mơ ước cấm kỵ nhất mà tôi muốn quên đi, muốn van xin đừng ai nhắc hay nói với tôi một lần nào nữa?

Lê Thiệp: Nhà Báo Nông Dân

Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi :

- Xếp có dính dáng đến Duy Dân không?

Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói :

- Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái.

- Xếp là nhà báo.

- Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân.

Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi nhạc hơn thằng Duy và giỏi tiếng Pháp hơn ông Khiêm.” Ông Hoàng Hải, nhạc sĩ trong ban Tam Ca AVT rất nổi tiếng của Lữ Liên, là anh ruột của chuẩn tướng Không Quân Lưu Kim Cương.

Nay nếu người xếp của tôi bảo ông là nông dân thì tôi cũng chỉ biết cười tự hỏi người cầm chịch tờ Chính Luận ngày ngày đối phó với dư luận lại phải điều khiển những ông nhà báo coi trời bằng vung như các ông Phan Nghị, Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng hay phải chạm mặt với những văn nghệ sĩ nổi danh như Hoàng Hải Thủy, Văn Quang và đối mặt với những ông như Cao Dao, Như Phong hoặc cả lô trí thức khoa bảng thì liệu ông ta có phải là một anh nhà nông không? Câu trả lời là cả một quá trình.

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

*Song Thao: Dầu Gió

Tại kênh Đôi thuộc quận 8 Sài Gòn có một cây cầu mang tên cầu Nhị Thiên Đường. Vượt qua cầu là đường đi Long An. Cầu nay đã cũ, được xây từ năm 1925 lận, nhưng có nét kiến trúc đẹp, đặc biệt là phần balcon thép và các trụ đèn rất đặc trưng chỉ có ở cầu này. Tôi chưa bao giờ vượt qua cây cầu này nhưng vẫn thắc mắc về cái tên. Đó là tên chính thức hay tên do dân gian đặt cho. Vì Nhị Thiên Đường thì ai cũng biết đó là một loại dầu. Dầu sao ra cầu? Có ba giai thoại về cái tên…lạc lõng này. Giai thoại thứ nhất : hồi đó nhà máy sản xuất dầu Nhị Thiên Đường ở bên phía đường Trần Hưng Đạo trong khi phần lớn công nhân lại ngụ tại bên kia kênh Đôi. Hàng ngày công nhân phải đi đò tới nơi làm việc. Nhận thấy sự bất tiện này, ông chủ hãng dầu Nhị Thiên Đường cùng chính phủ bỏ tiền ra mướn nhà thầu Vallois-Perret xây cầu cho dân, nhất là cho công nhân của hãng, qua lại cho tiện. Giai thoại thứ hai : chính phủ quyết định xây cầu và vận động ông chủ Nhị Thiên Đường góp một số tiền lớn. Bù lại, cây cầu sẽ được đặt tên là Nhị Thiên Đường. Giai thoại thứ ba : kinh phí xây cầu nhà nước bao trọn nhưng nhà máy của Nhị Thiên Đường to đùng nằm ngay ở chân cầu nên lấy luôn tên này cho tiện.

Ba chữ Nhị Thiên Đường bằng gạch xây vẫn còn sau cả trăm năm biến đổi. Hình: Nguyễn Minh Vũ

Thấy cái cầu gần trăm năm tuổi còn nằm đó nên nói chuyện cầu. Nhưng thứ tôi khoái cái tên Nhị Thiên Đường không phải là cái cầu mà là chuyện…văn chương. Chủ nhân của dầu Nhị Thiên Đường không quảng cáo trên báo mà chỉ phát những tờ rơi. Những tờ rơi này cũng đặc biệt, không chỉ có quảng cáo mà còn có những bài chỉ dẫn vệ sinh thường thức. Ông có công thuê những trí thức viết sách “Vệ Sinh Chỉ Nam” bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Hán rồi in dần trong các tờ quảng cáo. Tiến hơn một bước, ông thành “nhà xuất bản” văn học. Đầu tiên trên các tờ quảng cáo dầu Nhị Thiên Đường có in các trích đoạn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Sau đó, vào năm 1919, là truyện “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” của Nguyễn Chánh Sắt, một tiểu thuyết ngôn tình rất ăn khách. Rồi tiểu thuyết “Hậu Chàng Lía” của Hồ Biểu Chánh. Tuy xuất hiện bên cạnh những quảng cáo sặc mùi dầu nhưng đây là cách phổ biến truyện hữu hiệu nhất thời đó. Tờ quảng cáo này được phát không tại các nhà bán thuốc, các chợ đông người tụ tập hay cho khách qua đường. Dân chúng quá hưởng ứng nên dể có thể phát hành sâu rộng hơn, nhà thuốc phải in với số lượng lớn và bán với giá chỉ vài cắc. Quảng cáo này không bán ở các nhà sách mà chí bán dạo tại các bến xe và các chợ. Độc giả là dân lao động và giới bình dân. Ngày đó chuyện in sách khá vất vả. Thường các nhà văn không đủ khả năng in sách đàng hoàng nên đây là cách phổ biến tác phẩm dễ dàng nhất. Trong cuốn “Phê Bình và Cảo Luận”, nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Đường. Tôi để

Trần Thị Diệu Tâm: Bóng Cha

Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng " Cha ơi" như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.

Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói "Con cũng có một người cha". Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi "Cha là ai hở mẹ ?" Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :" Cha đi rồi ".

Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: "Cha mi là người hay chữ".

Tôi vụt hỏi: "Cha ở đâu hở bà ?" Bà trả lời "Chắc cha mi còn sống".

Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả.

Nhưng sáng hôm sau tôi dậy sớm xuống bếp ngay, những mo cơm trắng tối hôm qua mẹ gói đã biến mất, cả nồi khoai lang luộc hết, chỉ chừa hai củ nhỏ dành cho tôi ăn buổi sáng đi học. Vừa sợ vừa tức tối, vì tưởng hôm nay mình được ăn cơm bới mo cau với muối sả mẹ làm thơm nồng cả mũi chiều qua. Lâu nay bà nội chỉ nấu cơm độn với sắn khô ăn nghẹn cả cổ, chỉ mong được nhai miếng cơm mềm dẻo, không sắn không khoai không bắp lổn nhổn trong miệng. Thế mà tối hôm qua mẹ cả gan đem cho người ta hết các mo cơm trắng, hết cả lon muối sả . Tôi nghẹt thở, nước mắt chực trào ra. Nhưng tôi nào dám mở miệng hỏi ai.

Trần Thị Nhật Hưng: Chuyện tình với anh Cu Yên

Năm tôi mười ba tuổi, vào một buổi tối mùa hè như thường lệ, trước sân nhà rộng như sân banh, tôi cùng lũ bạn trong xóm trai có, gái có cùng nhau chơi đá banh. Cuộc chơi thật hào hứng sôi nổi, tiếng reo hò vang vọng một góc phố. Nhờ khỏe, chạy nhanh, tôi luôn dành được banh về dưới chân tôi.

Tôi đang co chân đá trái banh về phía thằng Tèo, chợt có tiếng mẹ tôi đứng trong nhà gọi vói ra :

- Thơ ơi, vào đây mẹ bảo.

Tôi ngừng cuộc chơi, chạy vào:

- Dạ, mẹ gọi gì con ạ?

- Bà Bắc Hải nhờ con qua viết dùm bà bức thư.

Tôi phụng phịu:

- Mẹ nhờ chị Quỳnh đi. Con đang chơi mà!

Mẹ tôi lắc đầu:

- Không, bà Bắc Hải nhờ đích tên con. Con nên qua giúp bà.

Miễn cưỡng vâng lời mẹ, tôi vừa đi vừa vùng vằng, phụng phịu.

Nhà bà Bắc Hải bên kia đường, đối diện xéo với nhà ba má tôi. Lúc tôi bước vào nhà bà, tiệm của bà đà vắng khách. Bà bán rượu trắng, phở và cơm. Dù sống bằng hàng ăn, nhưng trông bà lúc nào cũng thong dong nhàn hạ. Bà luôn ngồi một chỗ trên tấm phản gụ bóng loáng sau kệ tủ thấp kín đáo trông ra nhà trước và chỉ huy người cháu gái gọi bà bằng cô ở nhà sau.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

Chi Hương: Hương Hồng

(Hương Hồng là một trong những truyện ngắn đầu tay của tác giả Bùi Bích Hà, đăng trên Giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay, tập 7, do Nhất Linh chủ trương năm 1958, dưới bút hiệu Chi Hương)

Huyên ngồi xuống bực cửa, chống hai tay lên cầm và lặng yên nhìn ra khu vườn nhỏ. Buổi chiều đến chầm chậm. Có cái gì bứt rứt từng chút trong không khí và ánh sáng xung quanh nàng. Trong một lúc, Huyên chợt cảm thấy hốt hoảng vì cái bứt rứt ấy hình như mỗi lúc một lan rộng ra và làm Huyên nghẹn thở.

Huyên kêu thét lên tuy nàng vẫn ngồi im trong dáng điệu đó:

-Anh Thảo! Anh Thảo!

Tiếng Huyên khô và vang dội vào tường đá. Thảo từ trong nhà chạy đến chỗ Huyên, kinh ngạc:

-Huyên vẫn ngồi thế có sao đâu!

Giọng Thảo tự nhiên có vẻ vỗ về. Huyên nghe giọng nói đó, nghĩ chắc Thảo sắp để tay lên vai nàng mà lay như mọi bận, khi Huyên sắp sửa khóc. Nhưng Thảo không làm thế và chàng ngồi xuống bậc thềm thứ hai, bên cạnh hai chân ruỗi thẳng của Huyên. Cả hai im lặng một chốc rồi Thảo nói:

-Huyên ạ, buổi chiều như có gì xôn xao...

Huyên nhìn Thảo, ngạc nhiên vì Thảo cũng có cái cảm giác của nàng. Khi Thảo thấy Huyên nhìn mình, chàng nhận ra hai mắt nàng bây giờ trở nên sâu và đựng một vùng bóng tối dưới vầng trán trắng. Thảo không nghĩ gì thêm vì màu da trắng của Huyên bỗng làm Thảo nhớ tới tà áo Ngân mặc ban sáng. Nghĩ đến Ngân, Thảo nói với Huyên:

-Ban sáng cô Ngân lại thăm anh.

Huyên cười nhẹ như chợt xúc động:

-Cô ấy khóc phải không anh?

-Em muốn nói mấy tấm ảnh cô Ái anh mới bầy trên bàn đêm à?

Bùi Bích Hà: Mùi cà phê của bố

Tôi có một tuổi thơ buồn. Rất buồn. Nhưng tôi cũng có một tuổi thơ đẹp. Rất đẹp. Không giống những đứa trẻ khác, tôi có tới bốn bà mẹ. Tất nhiên tôi cũng có một ông bố, và may mắn chỉ có một ông bố thôi. Sau này khôn lớn, bản thân trải nghiệm nhiều cảnh ngộ, tôi biết ơn mẹ ruột tôi vì sự hy sinh vô bờ bến của bà để tôi có được ơn phước này. Mẹ kể bà sinh tôi rất dễ, gần như đẻ rơi tôi bên cạnh hòn đá lớn để chặn cửa cho cửa không bị gió sập vào trong mùa đông mưa gió đầy trời ở Huế. Mẹ không đau đớn khi cho tôi ra đời nhưng mẹ đau đớn nuôi tôi từ lọt lòng cho đến khi mẹ nhắm mắt ngủ giấc sau cùng.

Tôi đã nhiều lần viết về mẹ, viết cho mẹ mỗi khi tôi nhớ bà. Những khi nhớ mà không viết, tôi ngồi khóc một mình. Những ngày cuối năm như buổi chiều sắp tàn, khiến chim nhớ tổ tìm về. Người tha hương không được như chim, đành khép đôi cánh mỏi, tạm dừng chân trên cành lạc loài chờ bình minh hôm sau và nhiều hôm sau nữa. Nói như nhạc sĩ Vũ Thành An, lâu rồi đời người cũng qua.

Xuân đến, xuân đi, xuân bất tận. Mùa Xuân trong trời đất mãi thanh tân, nguyên vẹn từng ngày, không bao giờ tàn, không bao giờ thật hết. Con người, trái lại, thu đông từng mùa rơi rụng, không được như thiên nhiên trên dòng vô tận. Chẳng có mùa Xuân nào thực sự ấm áp và trong trẻo trong lòng người tha phương. Những lời sau đây, tôi muốn viết về Cha. Nhất là trong thời tiết nước Mỹ vừa vào thu se lạnh mấy hôm nay.

Tôi không được gần cha nhiều, theo cái nghĩa là được có cơ hội gần gũi, chuyện trò, được ông hỏi han, săn sóc, dạy dỗ. Tôi chỉ thỉnh thoảng thấy ông trong những ngôi nhà rộng gia đình từng sống qua, biết ông là bố của tôi, thế thôi. Dẫu sao, thời bé dại, tôi cũng có vài khoảng thời gian, không nhiều, được thấy ông ở nhà lâu hơn. Đó là những ngày sauTết và những ngày mùa hè khi tôi lên sáu hay lên bẩy, không ở ngôi nhà số 72 Gia Hội mà ở ngôi nhà nghỉ mát bố tôi tự trông nom cho thợ xây cất trên đỉnh một ngọn đồi trong rặng núi Bạch Mã.

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2021

Đặng Phú Phong: Chuyện cái áo tơi

Tôi không viết chiếc áo tơi mà cái áo tơi là nó có lý của nó.

Nguyên ở quê tôi, một làng nhỏ của Bình Định, cách xa Qui Nhơn hơn 40 cây số, điện đóm không có mãi cho đến thập niên 60. Ánh sáng văn minh hút bóng, heo hắt, èo uột trên quê tôi. Cả làng không có được một chiếc xe “bịch- bịch” (xe gắn máy) như cái thị trấn kề bên. Dăm ba nhà có được một cái Radio là hách lắm rồi. Giao tiếp với văn minh ánh điện rất hạn hẹp nên ngôn ngữ cũng rất nghèo nàn. Chữ “cái” giới từ chỉ giống (gender) được sử dụng trong hầu hết mọi trường họp. Thiếu hẳn bóng dáng chữ “chiếc”. Ngoại trừ một vài trường hợp có vẻ đã thành thông lệ như “chiếc chiếu”…

Tôi viết cái áo tơi theo cái ý như vậy. Nghèo khổ thành thêm ra nghèo chữ.

Thời đó cái áo mưa là tiếng để chỉ chiếc áo đi mưa làm bằng nylon, dài quá gối, cổ bẻ, có kèm dây thắt lưng và có cả chiếc mũ trùm đầu, trông rất văn minh, rất nhà giàu. Nhưng vì nghèo và nhất là nó không được ấm và rất dễ rách nên cả làng chỉ có mấy đứa học trò con nhà giàu và một số rất ít khác sử dụng nó để đi chợ.

Còn lại dân trong làng đều dùng áo-tơi-lá. Áo-tơi-lá được chằm (may) bằng lá cọ.

Người ta lên rừng cắt lá cọ đem về lựa những lá tốt, lành lặn để sử dụng. Áo tơi rất dễ làm nên bất kỳ ai cũng có thể làm được sau một lần quan sát người khác làm. Họ đóng một cái khung chữ nhật, thường bề ngang hai mét bề cao một mét rưỡi. Trên chiều đứng người ta cột dây mây đã được chuốt, trau kỹ lưỡng và ngâm nước đôi ba ngày cho dai, dẻo. Mỗi đường dây cách nhau khoảng từ năm phân ở phần trên cùng, càng xuống phiá dưới càng cách thưa dần đến khoảng một tấc. Lá cọ trước khi chằm được phơi nắng rồi hứng sương cho lá mềm, dịu và chắc; xong họ gấp đôi lá theo chiều gốc, ngọn, xỏ vào đường dây mây sẵn trên khung. Ở trên là phần cổ áo nên nó được xếp nhặt lại và bện dây mây thật kỹ để tránh bị rách khi va chạm. Trên cùng người ta dùng dây mây chuốt nhỏ và mảnh. Phần lá trên cùng được xỏ xuyên suốt một sợi vải mềm để cột lại khi bận (mặc). Thường áo-tơi-lá chỉ dài đến gối để người nông dân dễ hoạt động.

Lê Thiệp: Độc Hành Tìm Xác Bạn

Mỹ Voi trang bị đến tận răng. Ngoài chiếc máy quay phim và hai ba chiếc máy ảnh quanh người còn một băng vải dầy với những cục pin và những cuộn phim. Trong đám lính tráng đứng lố nhố chờ trực thăng, Mỹ Voi to vượt hẳn lên. An Lộc vẫn bị cô lập và phương tiện ra vào duy nhất là trực thăng. Bọn nhà báo chúng tôi nếu muốn vào, chỉ có nước cứ chờ và may lắm thì có thể quá giang các phi cơ chở binh sĩ tăng cường hoặc chở đồ tiếp liệu. Ưu tiên hạn chế đó khiến bon chen để quá giang rất khó khăn. An Lộc cần lính, cần đồ tiếp liệu và không có ai rảnh rang để chiều những tên nhà báo. Đôi khi có được một hai chỗ, chúng tôi phải bắt thăm. Khi viên phi công gật đầu thì Mỹ Voi đẩy tôi lên trước và nhanh như cắt nhảy lên theo. Từ bãi trực thăng dã chiến vào An Lộc có lẽ chỉ chưa đến nửa giờ, nhưng viên phi công đã dặn khi vào đến An Lộc máy bay chỉ xà xuống và mọi người phải nhảy ngay để trực thăng sẽ cất cánh trở ra lập tức. Phải như vậy vì đề lô cũng như pháo địch đều nhăm nhăm vào trực thăng, một mục tiêu rất hấp dẫn.

Đúng như dự trù, khi chiếc trực thăng xà xuống cách mặt đất chừng hơn một thước và tôi thấy cái biển đề Đồn Điền Xa Cát thì những người lính nhanh như chớp nhảy xuống. Tôi còn dụ dự, Mỹ Voi vừa hét “nhảy đi” vừa đẩy tôi xuống. Đúng lúc hai đứa tôi đang chúi người chạy về phía trước thì một tiếng nổ inh trời. Cho tới sau này, tôi vẫn không biết đó là hỏa tiễn 122 ly hay súng cối. Trong chớp nhoáng chỉ thấy bụi mù và Mỹ Voi lộn vòng vòng trên mặt đất như con quay, máy một nơi người một nẻo. Tôi chồm theo, thấy anh lăn lộn miệng thì lảm nhảm “Kỳ này chết thật.”

Thú thật tôi sợ thấu trời xanh, cố đè anh xuống. Chỉ một thoáng sau, anh như tỉnh, bảo “Đau quá chắc què rồi.” Tôi không có nhiều kinh nghiệm nhưng lanh trí bảo “Nằm im, để xem bị ở đâu đã.” Tôi không thấy vết thương và cũng không thấy máu chảy nên hỏi “Ông đau ở đâu?” Mỹ Voi nhăn nhó, cố quặt tay ra sau sờ vào mông. Tôi bảo “Duỗi chân ra co chân vào thử xem.” Hai đứa nằm dúi ở bên lề dưới cái mương đã khô, pháo của Bắc Việt nã thêm vài ba trái và chiếc trực thăng mất hút trên trời. Mọi sự có vẻ yên, Mỹ Voi cố ngồi dậy được nhưng vẫn nhăn nhó vì đau. Khi đi hẳn vào chỗ an toàn và thấy anh đã đi lại được, tôi mới đủ bình tĩnh để đùa “Chưa bể gáo đâu, ông ơi!” Tôi thấy phía hông chiếc quần của Mỹ Voi thủng một lỗ cỡ đồng xu nên thò tay vào túi quần sau của anh cố lôi chiếc bóp ra. Chiếc bóp khá dày và xem xét thì thấy một mảnh đạn to chỉ cỡ hột ngô xuyên qua lớp lớp đủ thứ thẻ bọc plastic, thẻ quân nhân, thẻ MACV, thẻ nhà báo, thẻ căn cước và dăm ba cái thẻ cùng một sổ dày chi chít số điện thoại. Mảnh pháo kích văng trúng Mỹ Voi nhưng nhờ có chiếc bóp dày cộm đó mà anh thoát.

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2021

Nguyễn Tường Thiết: Xóm Cầu Mới, một hoài bão lớn của Nhất Linh

Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973.

Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để diễn tả cuộc đời muôn vẻ, muôn mặt. Trải dài suốt 17 năm sau đó, với cả thẩy 5 lần viết đi viết lại, ông đã khai bút viết lại lần cuối, bên dòng suối Đa Mê vào ngày 23 tháng 10 năm 1957. Qua ống kính của nhiếp ảnh gia Lê Văn Kiểm, một người bạn thân của ông, hậu thế chúng ta ngày nay được nhìn ngắm bức ảnh Nhất Linh, trong tư thế nửa nằm nửa ngồi trên một chiếc võng, vầng trán cao, cặp kính gọng đen, chiếc pipe trễ trên miệng, cúi xuống viết trên một tập sách dầy, phía trên võng là cánh rừng thâm u của làng Fim Nôm, dưới chân võng là dòng suối róc rách chẩy. Bên dưới tấm ảnh đó Nhất Linh viết những hàng chữ sau: “Kỷ niệm ngày khai bút Xóm Cầu Mới bên giòng suối Đa Mê, ngày 23-10-57”.

Hoài bão thực hiện cuốn trường giang tiểu thuyết đó, giống như chính cuộc đời ông, bỗng dưng đứt đoạn khi ông đột ngột qua đời sáu năm sau ở tuổi 57. Cho tới khi nhắm mắt Nhất Linh hoàn toàn không hay biết Xóm Cầu Mới có mặt trên thế gian. Ông không biết là tác phẩm mang hoài bão lớn nhất của mình hiện hữu trên cõi đời. Trái lại ông ra đi trong niềm tin rằng tác phẩm của mình sẽ tan biến theo mây khói, tan biến cùng với những giấc mộng lớn không thành trong đời ông.

Thụy Khuê: Nhất Linh, từ Cẩm Giàng tới Xóm Cầu Mới

Bìa báo Văn Hóa Ngày Nay,
Tập ra mắt 17-6-1958, do Nhất Linh phác họa

Hôm nay là ngày 17-6-2021.

Tôi vẫn nhớ, một lần trò chuyện với Nguyễn Tường Thiết qua điện thoại, không rõ năm nào, anh đã nói với tôi: Văn Hóa Ngày Nay số 1 ra ngày 17-6-1958, là ông cụ tôi chọn ngày giỗ Nguyễn Thái Học đấy. Tôi rất ngạc nhiên vì chưa hề chú ý đến chi tiết này và cũng không thấy ai nhắc tới trong những bài viết mà tôi đã đọc về Nhất Linh. Hôm ấy, anh Thiết đã cho tôi biết, không chỉ một thông tin, mà còn hơn nữa: một chi tiết lịch sử liên quan đến một tổ chức văn học cách mạng. Chi tiết này làm tôi phải suy nghĩ thêm về mối liên hệ giữa Tự Lực văn đoàn và Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà từ trước đến nay, tôi chỉ coi như một kết hợp đảng phái có tính cách chiến lược trong một giai đoạn tranh đấu.

Về Tự Lực văn đoàn, khoảng năm 2000, sau khi viết xong loạt bài về Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Thạch Lam, tôi tưởng mình đã "làm tròn bổn phận", nhưng tôi đã lầm. Năm 2002, khi được nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, tặng bộ sách Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, do ông biên soạn, tôi mới biết là mình chẳng biết gì, những gì mình biết và viết về Tự Lực văn đoàn chỉ là mảng nổi của tảng băng chìm, chưa khai phá.

Nhưng bộ sách này cũng chỉ cho tôi biết Khái Hưng còn làm nhiều việc nữa sau khi Phong Hóa Ngày Nay đình bản, riêng báo Phong Hóa Ngày Nay lúc đó, cũng chưa mấy ai biết mặt mũi ra sao, thì một kẻ ở ngoài nước đã bốn mươi năm, có cách gì khảo sát được?

Lại phải đợi thêm 10 năm nữa, khi toàn bộ sưu tập Phong Hóa Ngày Nay được số hóa và công bố trên internet, ngày 12-9-2012, nhờ công lao của nhóm Phạm Phú Minh, Nguyễn Trọng Hiền, Nguyễn Tường Giang, Phạm Thảo Nguyên và Thành Tôn.

Nguyễn Đức Tùng: CÔ MÙI CÒN KHÔNG

Giữa hai nhân vật chính, Siêu và Mùi, trong tiểu thuyết Xóm Cầu Mới của Nhất Linh, có những câu chuyện lai rai tán gẫu nhỏ nhặt thế này:

Mùi hỏi:

- Quả trứng gì?

- Cô không biết à? Bây giờ cô muốn để một quả trứng đứng dựng trên đĩa, cô làm thế nào?

- Em chẳng bao giờ để nó đứng cả. Để nó nằm tiện hơn.

Siêu cười nói:

- Cô ngớ ngẩn lắm, đấy là nói thí dụ thế.

Những đoạn đối thoại như thế hơi giống nhau mà vẫn cứ riêng biệt cho mỗi trường hợp, đọc hoài không chán. Vì chúng dí dỏm, mỗi lúc phơi bày một khía cạnh. Hơn thế, những đối thoại ấy làm bộc lộ các mối quan hệ chưa rõ ràng hoặc làm động lực đẩy câu chuyện đi. Như ở một đoạn khác, hai nhân vật khác:

Bác Hiên đưa mắt nhìn Hải và thấy hai con mắt Hải nhìn mình có vẻ khác. Hải nói:

- Cổng trống, bác cài then rồi chứ?

- Bẩm cậu cài rồi, cả cửa nhà nữa ạ.

Câu trả lời vừa thực thà vừa tình tứ.

Ngày trước các nhà văn ít nói về thời tiết, mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, hai mươi, như trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn. Trong ba mươi năm chiến tranh Việt Nam, 1945- 1975, người ta ít nói về nó, con người đâm ra nổi bật hơn thiên nhiên. Thế mà ai cũng biết rằng thời tiết liên quan đến tâm trạng. Nhân vật hạnh phúc thì cảnh vui vẻ, nhân vật đau khổ thì cảnh tiêu điều. Cảnh vật của Nhất Linh không đứng ngoài nhân vật, chúng tham gia, trở thành một phần của câu chuyện. Siêu và Mùi gặp nhau ở hiên nhà, một không gian vừa mở vừa kín đáo. Cái hiên nhà là sáng tạo độc đáo của Nhất Linh, ở xứ nhiệt đới, mái hiên là nơi diễn ra những cuộc trò chuyện, nơi đọc sách, nơi tình tứ. Không gian của mối tình, của những chia tay, của hoa lài trắng và nước mắt. Cái hiên nhà chứng kiến những đổi thay thời tiết. Trong đoạn văn sau đây khi Mùi đến bên hiên đánh thức Siêu, buổi sáng hòa vào tâm hồn một cô gái nhỏ tuổi, lớn lên ở thôn quê, ít học nhưng thông minh, thực tế nhưng giàu cảm xúc.

Nguyễn Thị Vinh: Nhà văn Nhất Linh & Xóm Cầu Mới

"Trang bìa tập bản thảo Xóm Cầu Mới".
Lẽ ra, tôi nghĩ phải viết cái tựa trên, như thế này mới đúng: "Nhớ Về Anh Tam & Xóm Cầu Mới". Có nghĩa là tôi nhớ lại tác phẩm XCM đã được nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bắt đầu viết lại toàn bộ ở Hương Cảng trong hai năm 1948 và 1949, rồi sau đó lại viết lại và viết tiếp ở Sài Gòn, Ðà Lạt cho tới 1957. Ðồng thời, tôi cũng xin nhấn mạnh: Nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam và nhà văn Nhất Linh là một. Văn học và chính trị, nơi ông, không hề tách biệt hay đối nghịch: Văn học hướng đến một nền chính trị Ðộc lập, Dân chủ; và chính trị nhắm tới một nền văn học Tự do, Nhân bản và Khai phóng. Ðặc biệt: Nhất Linh, người mà lúc sinh thời vẫn thích bằng hữu và các "đàn em", trong đó có tôi, gọi là "anh Tam", đã vui buồn ra sao khi viết tiểu thuyết XCM?

Kể từ dòng này trở xuống, tôi xin dùng chữ "anh Tam, chị Tam", với tất cả tấm lòng tưởng niệm đầy tôn kính.

Nỗi nhớ thường có điều quên và "nhớ lại" cũng không thể đồng nghĩa với "lại nhớ" được hết mọi chuyện. Nên hy vọng rằng ở "Nhà Văn Nhất Linh & Xóm Cầu Mới", nếu có gì thiếu sót, xin quý anh và quý bạn chiến đấu thời lưu lạc ở Hương Cảng niệm tình mà thứ lỗi cho tôi. Trong không khí "văn nghệ" của bài viết, tôi tự giới hạn nhiều chi tiết liên quan đến một số nhà cách mạng, hoạt động chính trị, cùng các quan điểm đa dạng của quý vị ấy, bao gồm thân thế, sự nghiệp, đi đúng đường hay lạc hướng. Tôi chỉ viết dưới dạng Tâm Cảm, coi như một bài "bạt" gửi nhà xuất bản Văn Mới, nhân dịp gia đình họ Nguyễn Tường tái bản lần thứ nhất cuốn Xóm Cầu Mới:

Võ Phiến: Đọc bản thảo của Nhất Linh

Tên bài như trên chẳng qua là đặt cho gọn thôi. Nó mơ hồ, thiếu sót, có thể gây ngộ nhận. Tôi không từng “nghiên cứu”, cũng chưa đọc được bao nhiêu bản thảo của Nhất Linh, để phát giác ra điều nào đáng kể trong sự nghiệp trước tác của ông.

Lan Thanh Ngọc, Nhất Linh vẽ.
Sự thực Nhất Linh đã viết nhiều sách, bản thảo những tác phẩm xuất bản trước 1954 không nghe nói có lưu giữ được không? nhiều hay ít? hiện tàng trữ ở đâu? Còn lại là cái phần được in ở Sài Gòn sau đó. Trong phần bản thảo ấy tôi cũng chỉ có dịp đọc qua một số ít - rất ít - mà thôi.

Dù vậy sự tiếp xúc với những trang chữ của bậc tiền bối lỗi lạc từng sống một đời đầy dông bão và kết thúc đau thương, sự tiếp xúc ấy gây xúc động và nghĩ ngợi. Ở đây chỉ là dăm ba ý nghĩ căn cứ vào một số trang bản thảo may mắn được xem qua thôi.

Niềm vui


Thoạt tiên người đọc để ý đến điều này: là Nhất Linh thường ghi thời điểm bắt đầu viết mỗi tác phẩm, thậm chí có khi mỗi phần trong tác phẩm:

- Ở trang đầu bản thảo Giòng sông Thanh Thủy, có dòng chữ: “Khai bút ngày 26 tháng 11 năm 1960”. Dưới đó, bằng nét chữ nhỏ hơn, màu mực khác hẳn, lại có câu: “Bắt đầu viết 28-11-60. Viết xong 28-1-61”.

- Ở bản thảo cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, nơi trang ghi phác sơ lược thứ tự dàn dựng toàn tác phẩm - từ “mấy lời nói đầu” đến “kết luận” - ông đề ngày 21-4-52. Nơi trang 1 (Mấy lời nói đầu) ông đề ngày 10-5-52 (1). Nơi trang 21 (nói về Các nhân vật) đề ngày 26-6 v.v...

Ghi ngày ghi tháng: Chưa đủ. Có những trường hợp Nhất Linh còn ghi kỹ cả giờ, cả phút nữa!

- Ở trang đầu cuốn Xóm Cầu Mới (Bèo giạt) có hàng chữ: “Trên Núi, ngày 16 tháng 10 năm 1949, 1 g 30 trưa”.

Nhất Linh: Cho đến lúc hai tay buông xuôi

U già lội qua vườn, lên đập cửa đánh thức cả nhà dậy. Một giờ đêm u thức giấc; thấy có tiếng nước chẩy và xa xa vẳng lên tiếng người gọi nhau, u lấy làm lạ mở cửa nhìn ra thì thấy nước sông đã vào đầy khắp vườn. Nước sông mấy hôm nay tuy lên to, nhưng u không ngờ chỉ từ tối đến giờ mà nước đã vào tới vườn, lụt to hơn cả năm bà Lang mất và nguy nhất là sao nước lên chóng thế.

Ông Lang nghe tiếng đập cửa, giật mình hỏi:

"Cái gì thế?"

"Bẩm, nước vào tới vườn rồi. Dậy mau không chết cả bây giờ".

Mạch lúc đó đương thức, ngồi thẳng dậy, véo vào sườn Triết một cái:

"Đâu mau lên, anh. Nước lụt vào nhà. Chị Mùi ơi, nước lụt".

Mùi choàng dậy, cho chân xuống tìm guốc nhưng không dám hạ chân thấp quá. Nàng đánh diêm và mỉm cười; không, nước chưa vào đến nhà. Bỗng nàng ngừng mỉm cười và chau mày, lẩm bẩm:

"Chết chửa, cái vườn rau của tôi".

Nghe tiếng u già, nàng vội chạy ra mở cửa.

"Cô ơi, thế này thì chết cả bây giờ. Thật là chết cả. Bà Cai đâu?"

"Gì mà cuống quít lên thế".

Nàng giơ đèn soi ra vườn. Nước đã ngập hết vườn, mấp mé nền nhà bếp nhưng nhà ở thì nền cao, khó lòng ngập tới.

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2021

Trần Mộng Tú: Bảo vật để lại

Hình minh hoạ, FreePik

Mùa hè, giữa những chùm hoa nắng lung linh, giữa những trái táo chín đỏ, trái cam ngọt lừ, giữa tiếng ong vo ve, tiếng chim ríu rít, tiếng lao xao rất nhẹ của cánh bướm muôn màu, có người kể tôi nghe một câu chuyện:

Một tai nạn giao thông xảy ra, người đàn ông qua đời ở tuổi bốn mươi. Lục phủ, ngũ tạng anh không hề tổn thương, nhưng bộ não bị chấn thương mạnh đã đưa anh tới cái chết.

Người mẹ già, ôm thân thể bất động của người con trai duy nhất, không khóc được nữa. Bà như đang chết cùng với con, con bà tách khỏi đời sống bà từng mảnh, từng mảnh.

Anh đã hiến tặng tất cả nội tạng của anh cho những người đang cần để nối tiếp cuộc sống của họ.

Bà biết hai lá phổi của con đã đặt vào một lồng ngực con của người khác. Bà nghe thêm: trái tim cũng đã mang đi, đập thổn thức trong một khung ngực lạ. Rồi hai quả thận, nhiều người đang xếp hàng, nó sẽ làm công việc thật tốt đẹp cho một người phải ra vào bệnh viện thường xuyên trong cả mấy năm nay để lọc máu. Nó rất hữu ích và hiền lành. Lá gan của con bà có hai thùy, thì một thùy đã được mang thay thế cho người có một bên gan hư hại. Bây giờ còn lại một thùy gan, chắc chỉ nay mai sẽ có người tới nhận.

Đôi mắt là phần cuối cùng cũng sẽ được cho đi. Chao ôi! Đôi mắt của con bà, đôi mắt biết cười, đôi mắt cười trước khi môi nhếch lên. Bà yêu đôi mắt đó vô cùng.

Lê Thiệp: Tù Binh

Đại úy Đại Đội Trưởng trải tấm bản đồ hành quân trên chiếc bàn gỗ xộc xệch ở sân ngôi chùa đã xập một mái, đưa cây bút mỡ khoanh tròn nói :

- Tụi tôi đang ở đây. Chỗ này là Cổ Thành Quảng Trị, cách đây hơn mười cây số. Ông thấy đây là quốc lộ 1 chứ gì. Thủy Quân Lục Chiến đánh dọc bờ biển phía bên Hải Lăng. Tụi tôi thì ở phía Tây quốc lộ, men theo dãy Trường Sơn.

Tôi gật đầu nhìn tấm bản đồ bọc ni lông đầy vạch xanh vạch đỏ ngang dọc bằng bút mỡ. Viên đại úy hỏi :

- Ông là nhà báo đầu tiên đi xuống tận đại dội tôi và đã lặn lội với tụi tôi mấy ngày rồi, may là chưa đụng lớn chỉ ăn pháo lai rai. Nhưng ông là dân chơi thì cứ ráng chờ vài ngày khi đến gần Cổ Thành là biết nhau ngay. Tôi thấy mấy ông nhà báo khôn thấy mẹ không chịu đi sát xuống mặt trận, chỉ toàn ở bộ tư lệnh hay ngon lắm là xuống đến tiểu đoàn.

Tôi mỉm cười trước lời phát biểu. Thật ra đi xuống các đơn vị xung kích cỡ cấp đại đội để hành quân thường chỉ để thỏa mãn tính tò mò hoặc nói theo ngôn ngữ báo bổ thì chỉ để thỏa mãn “thú tính” vì chỉ ở bộ tư lệnh mới nhìn được toàn bộ tình hình chiến trường và nhất là có nhiều nguồn tin để khai thác. Xuống sâu hơn chỉ thích hợp với các ông phóng viên săn hình về bán cho báo Mỹ. Tôi gặp ông đại úy này ở bộ tư lệnh và nhận bà con vì cùng học Nguyễn Trãi với nhau, chỉ có điều ông học sau tôi ba bốn lớp gì đó. Ông rủ và tôi cũng muốn thử nên đã lặn lội với đại đội bốn hôm, hi vọng có gì để viết chăng. Đúng lúc đó một trung sĩ tới cho hay vừa bắt được một tù binh. Vừa nghe báo cáo, người đại úy văng tục:

- Đù mẹ, lại một thằng nhóc nữa phải không? A, dẫn nó tới cho ông nhà báo phỏng vấn đi. Ông viết một bài phỏng vấn tù binh tại mặt trận thì hết xẩy, bõ công đi với tụi tôi nhá.

Tôi cười và ngay sau đó đã thấy tù binh. Người lính chính qui Bắc Việt quần áo bèo nhèo ướt sũng, nhiều vệt bùn bết trên hai ống quần. Anh ta đi chân không, dáng thiểu não giữa hai người lính giày saut áo ngụy trang, một cảnh tượng tương phản đến khó chịu. Đại úy chỉ chiếc ghế đẩu bảo:

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

Tạ Thanh Minh Khánh (Gia ĐìnhTiểuThuyết): ĐẦU TÓC-MƯỢN của LÊ-Hoằng-Mưu 1879-1941

Bởi một cơ duyên hãn-hữu, tôi đọc được tác phẩm Đầu Tóc-Mượn của ông Lê-Hoằng-Mưu, rồi cũng ngẫu nhiên không tìm mà thấy thiên điều tra Nợ Văn của ông Lãng Tử kể về hoàn cảnh thống khổ của một số người đam mê nghiệp viết văn, làm báo thuở ban sơ đầy thử thách, trong đó có bài Con Voi Già nhắc tới tình huống ông Lê Hoằng Mưu khi thất cơ lỡ vận.

Ảnh tư liệu của Tạ Thanh Minh Khánh

Lê Hoằng Mưu là ai ?


Không có khả năng và điều kiện truy tầm sâu rộng, tôi chỉ tóm lược dựa vào tài liệu đọc được trên mạng.

Lê Hoằng Mưu là một trong các tiểu thuyết gia đầu tiên của Nam Kỳ Lục Tỉnh. Ông sinh ở Bến Tre, miền Nam Việt Nam năm 1879, lớn lên đi học ở Sài Gòn, làm thư ký rồi viết văn lúc 33 tuổi, qua đời năm 1941 thọ 62 tuổi.

Ông viết nhiều, sáng tác mạnh. Ngoài tên Lê Hoằng Mưu, ông còn ký bút hiệu Mộng Huê Lầu (do đảo ngược các vần chữ của tên Lê Hoằng Mưu), Le Fantaisiste Hoằng Mưu…

Về báo : làm chủ bút tờ Nông Cổ Mín Đàm, giữ nhiệm vụ Tổng lý điều hành Công Luận Báo, cùng với Võ Thành Út sáng lập tờ Long Giang Độc Lập, khai sinh báo Điện Tín, viết bài cho Thần Chung, Đuốc Nhà Nam.

Lục Tỉnh Tân Văn là nơi ông làm chủ bút lâu nhứt, 16 năm (1919-1935). Ngoài tiểu thuyết đăng từng kỳ, ông còn viết các bài xã luận, góp ý, trả lời thư độc giả, giữ mục ‘‘petite causerie’’…

Có lẽ do ông thẳng thắn bày tỏ ý kiến, chẳng hạn như cổ võ người Việt ủng hộ người Việt trên thương trường trước thực trạng người Tàu nắm quyền kinh tế, tán đồng việc các nhân sĩ kêu gọi người Việt gia nhập đoàn thể ngành nghề, Hội Cần Kiệm… để mưu cầu phúc lợi chung ; nên ông Lãng Tử nhận định Lê Hoằng Mưu là một ngòi bút ‘‘kỳ cựu dấn thân’’.

Về Văn : ông dịch kịch thơ Pháp Rocambole, Les Drames de Paris, tome V (1912), cùng ông Hồ Văn Lang hợp soạn Phi Công Phú (1913), Hoạn Thơ Bắt Túy Kiều (1915), phỏng tác truyện Le Comte de Mont-Cristo của văn hào Pháp Alexandre Dumas thành ‘‘Tiền Căn Báo Hậu’’ (1916), Kịch thơ Đỗ Triệu Kỳ Duyên (1928).

Ông để lại 17 tiểu thuyết :

Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2021

Trần Thị Nhật Hưng: Đùa Giỡn Với Ái Tình

(Riêng tặng anh Phạm Xuân Dương, bạn cùng tàu để nhớ một vài kỷ niệm tại đảo Pulau Bidong, Malaysia năm 1981)

Từ văn phòng ghi danh học tiếng Anh về nhà, thay vì đi vòng con đường nhỏ bên cạnh nhà Dương, Hạ cùng các cô bạn cùng tàu xuyên qua nhà Dương để về cho gần và tiện hơn.

Nhà tị nạn tại đảo Bidong, Malaysia, ngoài những căn nhà tiền chế làm văn phòng hay làm nhà cho Cao ủy, hầu hết nhà của người tị nạn tự làm lấy, tạo dựng tạm bợ từ những khúc cây chặt trên rừng, chắp vá tạm thời bằng những tấm bạt che mưa nắng. Nhà cửa gần như toác hoác, trước sau tênh hênh, có nhà chỉ dùng tấm ni lon làm cửa, ban ngày vắt lên, về đêm thả xuống để chắn bớt gió biển. Nhà tập thể không phải của riêng ai, tất cả đều tạm bợ qua ngày trước khi định cư, khi đi rồi thì người đến sau vào ở.

Thường những người cùng tàu, Cao ủy luôn tìm cách sắp xếp ở gần nhau qui tụ về một chỗ, lại thêm chung nhau những ngày gian khổ, sống chết thập tử nhất sinh trên đường vượt biển, dù không ai bảo ai, cảm thấy như người thân trong một gia đình, do vậy, Hạ và các cô bên nhà Hạ mới tự nhiên với Dương như thế.

Vừa ngang qua mặt Dương, Hạ nghe tiếng Dương gọi giật ngược:

- Bà Hạ!

Hạ quay lại:

- Gì đó?

Dương nheo mắt cười:

- Tôi...tôi...tôi yêu bà quá! Bà có muốn làm...người yêu của tôi không?

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021

Trần Mộng Tú: Gõ Lên Cánh Cửa Thời Gian

Từ miền Tây Bắc Washington tôi vừa đi xuống miền Nam California thăm người chị dâu ở tuổi 80 đang bị bệnh. Nhân dịp này, anh Phạm Phú Minh thu xếp với anh Đỗ Quý Toàn cho tôi cùng đi thăm những người bạn văn cao niên: Nhà văn Doãn Quốc Sĩ ,98 tuổi và nhà văn Linh Bảo 95 tuổi.

Anh Minh liên lạc với con gái của anh Doãn Quốc Sĩ là cháu Cẩm Liên đưa Bố tới nhà chị Linh Bảo. Chúng tôi cùng gặp nhau ở nhà chị ngày 17 tháng 6, 2021.

Phạm Xuân Đài, Trần Mộng Tú và Linh Bảo đang nâng niu cuốn Gió Bấc xuất bản năm 1954.

Đến thăm người già là Gõ Lên Cánh Cửa Thời Gian, cánh cửa mở ra ta ghé đầu nhìn vào, ta nhìn được những gì trong căn nhà đó. Mỗi một con người chính là một ngôi nhà riêng tư, khi mở cánh cửa ta nhìn thấy cách trưng bày đồ đạc, khác nhau. Nhưng khi căn nhà đã nhiều năm thì tất cả các đồ đạc trong đó nhìn rất giống nhau vì cùng phủ một lớp bụi bên ngoài,

Trong căn nhà đó chúng ta đôi khi, tìm được một món gì đó rất quý. Một cái hộp gỗ chẳng hạn, ta cầm lên, thổi lớp bụi đi,mở ra.Ta nhìn thấy một vật lấp lánh, lấp lánh như viên ngọc. Bỗng lòng rưng rưng.