Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Nguyễn Tuân: Những chiếc ấm đất

Bóng nắng gần tới đỉnh đầu. Sư cụ chùa Đồi Mai thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu lờ, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

- Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.

- Vậy chú vẫn đóng cửa chùa đó à? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: sáng sớm tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương họ kêu đấy.

Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bảy tuổi xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:

- Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.

Nhà sư già đã quen với những việc biếu và xin mượn này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.

- Thế cháu đựng nước bằng cái gì?

- Dạ có người nhà quẩy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.

- Ai di đà phật! Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

Văn Công Tuấn: Cái Lo Của Nguyễn Du

Nhân "Ngày Sách và Bản quyền Thế giới“ - 23 tháng 4

Sè sè „đống sách“ bên đường


Sáng cuối tuần trời nắng đẹp nên ăn sáng xong tôi mặc áo ấm đi dạo. Chợt thấy dọc đường cảnh lạ như vầy, xin kể cho vui.

Trên lối đi, cạnh một góc hoa viên là chỗ đông người qua lại tôi thấy có mấy thùng cạc tông nằm lênh láng. Thời nay rủi ro tràn khắp, lúc nào thấy những thùng gì lạ nằm lênh láng hay những túi xách vô chủ là nghi ngờ. Khôn hồn thì tránh xa! Vì đó có thể là mấy trái bom nổ của nhóm quá khích. Nhất là ở đây, đoạn đường bãi biển thường rất đông người qua lại trong những ngày nắng đẹp này. Cái thói quen cẩn thận lo xa, xem ra đã tích lũy từ những ngày thơ ấu trong chiến tranh. Tôi rẽ ngoặt đi lánh ra xa ngay. Nhưng tò mò thì vẫn cứ tò mò. Chả lẽ ở đây là chợ trời? Vô lý, bao lâu nay chưa hề thấy. Lại có 5, 7 người đứng ngồi cầm những vật trên tay giống như sách báo. Thôi, lo yên thân. Việc của mình là đi dạo thì cứ đi.

Nửa giờ sau. Cái việc đi dạo xem như đã xong, nhưng thay vì đi ngõ khác về nhà như mọi hôm thì lại tôi cố ý quay lại đường cũ để xem cảnh cái “chợ chồm hổm” ấy giờ ra sao.

Lúc này không còn ai, và hơn một nửa số các thùng cạc tông trống cũng đã được dẹp sạch, chỉ còn một. Những thùng sách khác còn lại thì được xếp ngay ngắn trên bệ tường, chỗ mấy đứa trẻ thường leo lên để chạy chơi. Tôi chụp ngay mấy tấm hình như dưới đây. Ít nhất quá nửa số sách lúc nãy đã được những người đi dạo biển lấy đi. Tôi đoán chừng, có thể ai đó trong những người hàng xóm của chúng tôi dọn nhà đi nơi khác (hay chết), không muốn mang số sách quý bỏ vào thùng giấy tái chế nên để ở đây để xem có thể ai đó cần dùng. Người Đức có thói quen quý là thích đọc sách báo rất nhiều, từ người già đến em bé.

Thanh Tâm Tuyền: Đêm Thơ Vũ Hoàng Chương

Đoạn văn dưới đây là phần chính bài nói chuyện của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong Đêm Thơ Vũ Hoàng Chương ngày 16-1-1975 tại phòng trà Khánh Ly, đường Tự Do, Sàigòn.

Sự hiện diện của các bạn cùng chúng tôi hôm nay là một cuộc tôn vinh cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Chẳng những cho riêng thi sĩ, người suốt đời chỉ biết làm thơ – không biết, không thể làm gì khác – mà còn cho tất cả mọi thi sĩ và qua các thi sĩ là một cuộc tôn vinh cho Thơ.

Tôn vinh Thơ? Tại sao tôn vinh Thơ? Thơ quan hệ chi đến đời sống chúng ta? Sướng ích chi mà có những người để một đời như Vũ Hoàng Chương để theo đuổi thơ?

Thi sĩ có thể không biết – thật chăng? Có lẽ cũng chỉ là một cách nói riêng của thi sĩ. Riêng chúng ta có biết, chúng ta biết tận trong thâm tâm chúng ta, biết qua động cơ thúc đẩy cuộc hội họp tối nay được chính chúng ta dấu diếm bằng những lý lẽ rất tầm thường hằng ngày. Chúng ta biết rằng chúng ta muốn gặp mặt nhau, nhìn mặt nhau đêm nay: “Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa – Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.” Chúng ta biết rằng khi mọi giá trị thiêng liêng đều chẳng còn đáng gì, đều bị liệng bỏ dần dọc theo đời người thì thơ vẫn còn lại. Phải thế chăng? Dù cho thơ có thể chẳng thay thế được các giá trị thiêng liêng. Không là giá trị thiêng liêng – có bao giờ thơ như thế? – thì nó vẫn ở cùng trong đời sống chúng ta – như lúc này, giây phút này đây – và nó đủ năng lực để cuốn đời sống chúng ta đến chân trời viễn vọng. Thơ nhắc rằng chúng ta đang sống, sống lạ lùng, sống với ta và sống với người.

Chúng ta còn có thể nói đến những điều ghê gớm hơn nữa về thơ nhưng rồi thơ lại còn có thể vượt ra ngoài mọi điều ghê gớm ấy. Tuy nhiên nói cho đến cùng (biết đâu là cùng?) Thơ vẫn chỉ là lẽ thường của đời người, là sự thường của kiếp sống – ngắn ngủi và vô hạn như một tiếng hát.

Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.

Hoàng Quân: Mật Ong của Ba

Cha Con- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Mới đó, Ba lìa đời đã bốn năm. Hai đứa con út của Ba, nay đã “già” hơn Ba thuở Ba đi tù cải tạo năm 1975. Giờ đây, mỗi khi bầy con quây quần kể chuyện, nhắc đến Ba thuở xưa, như nhắc một ông cụ, dẫu lúc đó, Ba chưa bước hẳn vào tuổi tri thiên mệnh.

Cùng Mạ, Ba đã cho bầy con của Ba Mạ tuổi ấu thơ tươi đẹp với biết bao kỷ niệm êm đềm. Với tấm lòng yêu thiên nhiên, Ba tập các con của Ba thích cây cảnh hoa lá. Trong vườn nhà, các con được ngắm những hoa ngọc lan, hoa trà mi, hoa trúc đào... được nghe tiếng chim sáo, chim khướu, chim chích chòe hót, được nhìn lũ cá kiểng tung tăng bơi lội. Đặc biệt nhất là những tổ ong Ba nuôi trong vườn. Ba sắm bộ đồ nghề khi “làm việc” với ong. Đó là chiếc mũ che kín đầu, có khăn lưới phủ mặt, tránh bị ong chích. Ống hun khói hơi giống phong cầm, khi kéo ra đẩy vào, làn khói sẽ tràn qua ống giống cái phễu. Hồi đó, nhà nấu chè dùng mật ong, pha nước chanh cũng mật ong. Bạn bè của các con còn nhớ được ăn mật ong còn nguyên trong tổ sáp. Sau này, gần nửa thế kỷ đã qua, mỗi khi con cái hỏi chuyện nuôi ong, Ba có thể kể rành mạch về sinh hoạt trong “xã hội” ong, về chức năng của bầy ong thợ, ong đực, ong chúa.

Nguyễn Mạnh Trinh: Nguyễn Đình Thi - Người nghệ sĩ hay kẻ cơ hội?

Nguyễn Đình Thi, thi sĩ của những câu thơ mà một thời đã được coi như là những bước đầu khai phá cho thơ tự do, thơ không vần. Những bài thơ như thế lại bị chỉ đạo của Tố Hữu với những phê bình của phản ứng gay gắt nghiệt ngã khiến thi sĩ phải chiều lòng sửa lại để thơ có thêm vần điệu. Chu Văn Sơn, một nhà phê bình văn học khoa bảng đã viết trong bài tưởng niệm một năm sau khi Nguyễn Đình Thi lìa đời Nguyễn Đình Thi Trên Sóng Thời Gian:

"... Trong phần thành công nhất, thơ Nguyễn Đình Thi đã tạo ra một điệu mới như tiếng sóng reo trong lặng lẽ, tấu lên một thứ nhạc mới - trong lặng mà rung ngân: "Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới? Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em", "Nắng soi ngõ vắng - Thềm cũ lối ra đi - lá rụng đầy", "Ôi những vạt ruộng vàng - Chiều nay rung rinh lúa ngả - Dải áo chàm bay múa - tiếng hát ai lênh đênh", tiếc rằng, trước sự phản ứng gay gắt, Nguyễn Đình Thi cũng đã phải hòa giải một cách tự nguyện là lại gia tăng vần cho thơ. Nhiều khi "thơ có vần" đã đồng hóa "thơ không vần". Giá ông cứ dám là mình, cứ dám đi cho thật hết cái lẽ phải của thơ theo quan niệm của mình thì râ't có thể ông đã có vai trò như Xuân Diệu với phong trào thơ mới. Hòa giải đôi khi là thỏa hiệp là nhượng bộ, làm mất một cơ hội tạo diện mạo cho mình, tạo diện mạo hoàn toàn mới cho thơ. Vừa muốn là mình, vừa không dám là mình, gẫm bi kịch ấy đâu chỉ diễn ra trong mỗi việc cách tân thơ, cũng đâu chỉ với riêng ông. Nó khó thế, nó cũng buồn thế!"

Phải, không phải chỉ riêng với Nguyễn Đình Thi mà hầu như phần đông văn nghệ sĩ sống trong nền văn học gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa" đều phải nhắm mắt làm những việc bất đắc dĩ. Chính người trong cuộc cũng cảm thấy thấy buồn chán nhưng không có cách nào hơn. Nếu hành xử như một nghệ sĩ, thì đâu có "quan văn nghệ" Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký hội văn nghệ từ năm 1958 tới ba nhiệm kỳ liền, và là người được Bùi Bình Thi xưng tụng là một trong "Tứ Đại lão gia" của nền văn học trong nước.

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021

Lê Thiệp: Một Thời Việt Nam Ký Sự

Ông Phạm Trần lúc nào cũng nghiêm trang, nhất là nói to, át giọng mọi người :

- Theo tao, tụi mày phải làm lại Việt Nam Ký Sự. Tụi mày bỏ viết lâu quá, chỉ lo nhập vào đời sống ở đây mà quên cái hoài bão xưa. Nhảm ! Nhảm !

Mọi người im lặng như chìm vào dĩ vãng, như cố nhìn lại mình thuở thanh xuân. Phan Thanh Tâm giống như thuở ở La Pagode ngày xưa, cầm cái ly xoay nhẹ nhẹ, lim dim gõ xuống bàn. Lê Phú Nhuận bảo :

- Tụi nó tứ tán hết, làm sao gom lại?

- Email, Internet ...

Mọi sự giống y như ở quán Bà Tí, ở cái quán chúng tôi ăn ghi sổ và cả ngày chỉ nói chuyện báo chí, lòng lúc nào cũng hăm hở cải tổ làng báo, những mong như cụ Cao Bá Quát, cụ Nguyễn Công Trứ xoay bạch ốc lại lâu đài. Nhìn ly rượu vang đỏ long lanh, tôi nhớ hôm ấy chúng tôi uống rượu chát kiểu Sài Gòn, được gọi là Sangria, tức là trái cây cắt thành hạt lựu bỏ vào cái thẩu lớn rồi đổ rượu chát vào. Rượu chát loại vò, hình như của Bồ Đào Nha, nếu so với tiêu chuẩn bây giờ ở Tây ở Mỹ là rượu nhà quê, rượu rẻ tiền nhưng sao hôm đó ở quán Tài Nam, Chợ Cũ nó ngon thế.

Hôm đó, cách đây gần bốn chục năm, chúng tôi bắt tay nhau để làm Việt Nam Ký Sự, một sự kiện mà Phan Thanh Tâm đại ngôn bằng tiếng Tây “C’est un fait historique.”

*

Cái ước mơ Việt Nam Ký Sự bắt đầu từ sau khi tờ Đất Mới chết. Nguyên là chị Song Thi có giấy phép của bộ Thông Tin ra báo nhưng loay hoay hoài vẫn không thành. Bà Thanh Phương ngồi ở quán Bà Tí VTX thỉnh thoảng nghe lũ chúng tôi tụm năm tụm ba chê thiên hạ không làm báo, chê thiên hạ làm báo chưa đúng mức bèn giới thiệu. Chị Song Thi đồng ý cho mượn Manchette. Dê con ngứa sừng, chúng tôi lao vào làm Đất Mới. Anh em chia ra làm ba nhóm, mỗi nhóm phụ trách một kỳ, luân phiên làm tuần báo Đất Mới. Trần Công Sung, Phan Thanh Tâm và Lê Thiệp xung phong. Nhưng thực tế phũ phàng khác xa với mơ mộng của tuổi trẻ. Báo in xong làm sao phát hành? Tôi lò mò xuống nhà phát hành Nam Cường điều đình thì ông chủ phát hành bảo cứ đem báo đến cho ông ta, tiền nong tính sau. Số đầu bỏ cho Nam Cường 2000 tờ, nhưng không hề thấy ở các sạp.

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

Tuấn Khanh: “Sự trở lại của văn học đô thị miền Nam” - Đi đâu mà trở lại?

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng

Hơn một năm trước, thật may mắn được chứng kiến buổi ngỏ ý của một nhà xuất bản, muốn tái bản lại cuốn Vòng tay học trò của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, một cây viết quen thuộc của độc giả miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Với Nguyễn Thị Hoàng, thì đó rõ là điểm sáng đáng quý trên bầu trời lấp lánh của văn chương tự do miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Rồi mới đây, thoáng thấy trên Facebook, báo điện tử… những lời chia sẻ với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng với cuốn Vòng tay học trò vừa được tái bản, cùng sự hào hứng quen gọi tên là tác phẩm thuộc “dòng văn học đô thị miền Nam”.

Nghe mà đột nhiên thấy chạnh lòng. Nghe “đô thị“, có vẻ như co cụm và không thuộc về nhân dân. Nói như nhà văn Nguyễn Hưng Quốc, nói văn chương “đô thị” miền Nam, thì không sai nhưng thừa. Bởi sự nhấn nhá riêng “đô thị” của miệng lưỡi tuyên truyền là thừa ác ý. Có nơi còn gọi là sự “trở lại”!

Thế nhưng văn chương miền Nam đi đâu trở lại?

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Hải Hành-Mùa Đại Dịch 3

Hình: Tác giả
Mặt trời ẩn sau tầng mây xám, mây vén lên chừa một đường vàng nhạt phía trời tây. Những cánh tua bin gió đã ngừng quay, mặt nước dưới dòng sông êm ả và vài chiếc tàu vô ra thưa thớt. Trời chiều, đường vắng và nghe rõ tiếng chim kêu. Chúng tôi đi trên con đê dài hướng xuống con đường đi bộ dọc bờ sông. Ama hỏi tôi:

– Đi đâu chú?

Tôi quơ tay một vòng và chỉ ngón tay ra cột đèn bẹo ở bờ sông nói:

– Mình đi dạo một lát rồi trở xuống đó.

Tôi day ngang hỏi Ama:

– Con thấy bến chờ có khác hơn bến cảng không?

– Khác nhiều chú, ở đây không có cần trơi, những chiếc xe tải containers và cũng hổng có người làm việc nên không ồn ào như bến cảng.

– Còn thiếu một thứ nữa.

– Thứ gì chú?

– Bông! Mùa xuân ở Hoà Lan thường thì nơi nào cùng thấy trồng bông, ở những bến cảng người ta cũng có làm nhiều bồn trồng đủ thứ bông được thường xuyên chăm sóc. Còn ở đây chỉ có bãi cỏ, chòm cây và bông dại, trông rừng rú và còn có vẻ thiên nhiên.

Ama ỡm ờ chưa nói gì thì chợt có tiếng điện thoại reo, nó đứng lại móc túi lấy điện thoại ra nghe. Ama trả lời bằng tiếng In Đô nên tôi không hiểu gì hết, nói xong cúp điện thoại, day qua tôi, nó nói:

– Chú ra bến sông trước đi, con xuống tàu có chuyện, lát nữa xong con lên liền.

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

Trần Mộng Tú: Chuyện Kể

(Gửi anh Thái Hà Chung, để nhớ lại 40 năm Cung đã mất)

Chuyện hôm nay chỉ còn là chuyện kể
Quãng đời qua hay là quãng chiêm bao
Tình yêu đó ta thắp bằng tim nến
Sao ai châm đuốc lửa đốt hai đầu.(tmt)

- Khi anh tìm được về nhà cũ, em và cả gia đình hai bên đã đi rồi. Anh đau đớn quá, nhưng anh không muốn để sự thất vọng giết nốt hồn mình, anh loanh quanh trong thành phố, hy vọng em chưa đi hẳn, em còn tạm trốn ở một nơi nào đó, đợi anh về, nên mấy chục năm nay anh vẫn ở lại trong xóm cũ, dù biết, nhà của cha mẹ em đã có người khác dọn vào lâu rồi.

Người đàn bà vóc vạc mảnh dẻ, đi như dựa hẳn vào lòng người đàn ông, ông không cao lớn lắm, nhưng vững chãi như một bức tường nhỏ, ấm áp. Tóc của bà đã hoa râm, dấu thời gian đã vẽ những vết nhăn đậm nhạt trên vừng trán, trên khóe miệng, trên đuôi mắt; nhưng ở người đàn ông, da vẫn căng và nâu xậm khỏe mạnh, tóc không hề có một sợi bạc, mái tóc xanh, cắt ngắn, của một người lính.

- Em lúc đó hoang mang, bối rối vô cùng, ông chánh văn phòng ở chỗ em làm, bảo sao thì em làm vậy. Bên gia đình anh cũng bỏ đi rồi, em đến nhà thì nhà hoang cửa trống, chỉ có con bé giúp việc đang ngồi khóc. Em đi chung quanh những căn buồng nhỏ, nhớ lại những kỷ niệm từ hồi còn anh, những kỷ niệm như những cánh hoa ứa máu nhưng vẫn còn thơm ngát. Biết là mình rồi cũng sẽ phải bỏ đi thôi. Em xếp kỷ niệm chôn vào bóng nắng trong một góc vườn.

Vì em có một mình nên Sở cho em mang bố mẹ đi với em. Thế là nhà của bố mẹ cũng mất với người.

Lê Hữu: Tháng Tư, đọc lại “Các con tôi đã về” của Trùng Dương

Hai mươi năm đàn con đi lính
đi rồi không về
Đứa con da vàng của Mẹ…
Ôi, tấm thân này ngày xưa bé bỏng
Mẹ mang đầy bụng, mẹ bồng trên tay (*)

Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư.

Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây.

Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975.

“Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch.

Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con trai lớn, chân bước tới, đôi cánh tay dang rộng chào đón đứa con yêu vừa trở về sau hơn hai mươi năm biền biệt xa nhà.

Nhân vật tên Hai, “đứa con yêu” của Mẹ, vẫn đứng yên một chỗ, không lộ chút cảm xúc nào. Hai bây giờ là sĩ quan bộ đội cộng sản Bắc Việt trong cánh quân tiến về Sài Gòn, “giải phóng” miền Nam.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Trần Mộng Tú: Những Bức Tường

Hình minh hoạ, FreePik

Chúng ta ở trước mặt, ở sau lưng những bức tường, ở trong những bức tường mỗi ngày. Có bao giờ chúng ta nhìn vào những bức tường nghĩ đến sự liên hệ giữa ta và tấm vách vô tri đó? Bức tường, bức vách, bức mành, hàng rào, bờ giậu, chấn song v.v... Là những rào cản, ngăn cách, hay che chở giữa người với người, người với vật. Những tiếng đó, tưởng như khi đọc lên chẳng để lại một âm thanh nào, nhưng thật sự những “bức tường” đã giữ biết bao nhiêu dấu tích của kỷ niệm vui, buồn, thăng trầm của lịch sử, lãng mạn của văn thơ .

Trong một bài thơ viết về chiến tranh, một nhà thơ Ý, có nhắc đến những bức tường:

“Không còn gì cả
trong những ngôi nhà
những bức tường bị bào nát ra, ở lại.”(1)

Tưởng tượng hình ảnh một ngôi làng sau chiến tranh, đồng hoang, nhà trống, tất cả tan tác xụp đổ, không có tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, tiếng chân trẻ em và tiếng ho của người già. Một ngôi làng bỏ trống chỉ còn lại những bức tường đã sụp đổ tơi tả, rơi ra từng mảnh.

Khi vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam Bắc nước Việt, một “Bức Màn Tre” được dựng lên, đã thấm bao nhiêu máu và nước mắt của người Việt cả hai miền. Bức màn tre đã hạ xuống nhưng trong lòng người Việt cho đến bây giờ một bức tường vô hình vẫn rơi ra từng mảnh.

Trần Doãn Nho: Tính “văn học” trong văn học miền Nam

Nhà văn Trần Doãn Nho

(LTG: Đây là bản chính bài thuyết trình trong buổi hội thảo về VHMN tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt vào ngày 6/12/2014. Do giới hạn về thời gian, nhiều chi tiết trong bài viết đã không được trình bày tại buổi hội thảo; và ngược lại, một số chi tiết được triển khai khi phát biểu vốn không có trong bài viết.)

Đề tài tôi trình bày trong buổi hội thảo hôm này là “Tính văn học trong văn học miền Nam”.

Chắc có người cho rằng chữ dùng nghe có vẻ không mấy thích hợp. Và thừa. Đã nói về một nền văn học, sao còn đặt vấn đề “tính văn học”?

Xin thưa ngay: lý do khiến tôi sử dụng nhóm từ “tính văn học” là vì văn học miền Nam trước đây được nhà cầm quyền nhìn với một nhãn quan chật hẹp và độc đoán. Họ gọi văn học miền Nam là “văn học thực dân mới”, “văn học đồi trụy”, “văn học phản động” hay sau này, gọi một cách nghe lịch sự hơn nhưng có vẻ xách mé, là “văn học đô thị”.[1] Toàn là những nhóm từ tiêu cực. Văn học thực dân mới là gì? Là thứ văn học chỉ dành để phục vụ chế độ thực dân. Văn học phản động là gì? Là chống lại đất nước, chống lại dân tộc. Văn học đồi trụy là gì? Là hư hỏng, xấu xa. Vì thế, văn học miền Nam được xem là “nọc độc”. Và những người viết lách được gọi là “những tên biệt kích văn nghệ.” Nghĩa là gì? Nghĩa là phi-văn học. Là một nghịch đảo với văn học xã hội chủ nghĩa, văn học yêu nước và văn học tiến bộ. Do cách hiểu hạn chế đó, nhà nước Cộng Sản đã tìm cách tiêu diệt văn học nền văn học này sau chiến thắng tháng 4/1975.

Lê Thiệp: Phi Kiếm Hiệp Bất Thành Báo

Ngoảnh đi ngoảnh lại, ngôn ngữ kiếm hiệp tràn lan mọi ngõ ngách của đời sống miền Nam Việt Nam lúc nào không rõ. Không ai không nhớ bài hát của trẻ thơ “Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua, lắc một cái ra ba con gà mái...” Với người lớn thì những từ ngữ như “vô chiêu thắng hữu chiêu, nội lực thâm hậu, ngụy quân tử, cấy sinh tử phù” trở thành từ ngữ mang nhiều nghĩa rất hiện đại của thực tế chính trị. Nhân vật kiếm hiệp được các nhà văn nhà báo tên tuổi dùng làm bút hiệu như ông Lê Tất Điều, ông Dương Hùng Cường viết film — một ký mục với ngôn ngữ trào phúng, châm biếm — ký là Kiều Phong, Du Thản Chi. Ông Trần Việt Sơn, một bỉnh bút lão thành đã so sánh thế Quốc - Cộng, các thế lực đối đầu trên bàn cờ thế giới, với các môn phái võ công trong Tiếu Ngạo Giang Hồ để đi đến kết luận phái Hằng Sơn của Ngũ Nhạc Kiếm Phái là phái yếu nhất nhưng duy nhất tồn tại trong năm phái võ vì môn hộ nghiêm nhặt, đệ tử đoàn kết trên dưới một lòng. Ông Trần Việt Sơn đã đi đến dự đoán rất nghiêm chỉnh rằng miền Nam dù thân cô thế bạc nhưng nếu quân dân, lãnh đạo đoàn kết một lòng, cư xử đúng với tư cách và thân phận của mỗi người giống môn phái Hằng Sơn như các sư thái Định Nhàn, Định Dật hay các tiểu đệ tử Định Quán, Nghi Lâm thì miền Nam sẽ tồn tại.

Dự đoán của vị ký giả lão thành đã không xảy ra. Trong một buổi hội luận dành cho sinh viên báo chí, ông Từ Chung nêu câu hỏi rất giản dị “Tại sao báo Việt Nam nào cũng phải đăng truyện kiếm hiệp?” Những ý kiến phát biểu rất đa dạng. Kiếm hiệp là hình thức xả xú bắp cho một xã hội chiến tranh. Kiếm hiệp phản ảnh cái ước muốn người hùng. Kiếm hiệp bao giờ cũng có những kết thúc viên mãn kiểu Lục Vân Tiên, cái kết có hậu mà mọi người chờ đợi. Kiếm hiệp lúc nào cũng nêu cao các giá trị truyền thống như Trung - Hiếu - Tiết - Nghĩa. Kiếm hiệp là nơi trú ẩn tinh thần, giải tỏa những căng thẳng của thực tại.

Các sinh viên đã nhìn kiếm hiệp dưới đủ mọi khía cạnh từ tâm lý xã hội đến nhu cầu giải trí. Ông Từ Chung sau khi khuyến khích mọi người phát biểu và tranh luận đã đồng ý về tất cả các phát biểu. Ông nói “Điều mà các bạn đưa ra đều đúng, nhưng quan trọng hơn cả, không có kiếm hiệp thì báo bán không chạy. Báo bán không chạy thì báo chết. Nó giản dị vậy thôi.”

Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2021

*Song Thao: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa

Trong cuốn thơ “Đất Khách” xuất bản năm 1983, Thanh Nam có hai câu thơ: Một năm người có mười hai tháng / Ta trọn năm dài một Tháng Tư. Cái tháng tư day dứt đó là một khổ nạn. Cho cả người lẫn sách. Mùa thương khó của sách khởi đầu với những chiếc xe ba bánh của những “hồng vệ binh” khăn đỏ đi thu “văn hóa phẩm đồi trụy” về hỏa thiêu. “Đồi trụy” là một từ hàm hồ chỉ mọi sách in của miền Nam.

Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước tính với con số 357 ngàn loại.

Nếu lấy con số đáng tin nhất của Ủy Hội Unesco Việt Nam, 180 triệu sách nội địa và 200 ngàn sách ngoại ngữ nhập cảng, liệu nhà cầm quyền cộng sản đã đốt đi được bao nhiêu sách của miền Nam qua các chiến dịch đốt sách.

Không ai tính được con số này vì lòng dân miền Nam đã quyết sống còn với kho tàng văn hóa của dân tộc. Phải sống trong một chế độ độc tài, dân miền Nam biết những hiểm nguy rình rập khi trái lệnh nhà nước cất giấu sách vở bị coi là phản động. Nhưng ít có nhà nào không cất giấu lại một số sách mà họ yêu thích.

Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt

Có thể có người không đồng ý, nhưng theo tôi, Nguyễn Ngọc Tư là hiện tượng tiểu biểu, nổi bật nhất của sinh hoạt văn xuôi Việt, 40 năm qua, kể từ 1975 tới 2015 trong số những người viết trẻ.

Nguyễn không cần phải mượn lớp màn che, trướng phủ của lịch sử đã lùi xa hàng trăm năm. Nguyễn cũng không cần lớp sơn son thếp vàng của dã sử, huyền sử, để chuyển thông điệp tới người đọc. Thậm chí, Nguyễn cũng không cần phải khai thác thân thể người nữ với những bản năng thú tính, để tự “P.R” với độc giả!!!

“Cánh đồng bất tận”, của Nguyễn Ngọc Tư, với tôi, là “bạch văn”. Nó không cần phải che đậy, mặc khoác cho nó, bộ quần áo vàng mã, lòe loẹt. Nó cũng không là những ẩn dụ phải cần đến sự giải mã của những nhà phê bình, hay chiêng trống như những tùy tinh chung quanh nhà xuất bản hoặc, nhà phát hành… Nó trực tiếp ghi nhận những hiện thực xã hội ngồn ngộn sần sượng; cùng lúc với những thơ mộng nhiều thi tính của sông nước miền Tây – đặc biệt, Đất Mũi, nơi Nguyễn sinh ra và lớn lên.

Ngay tự những dòng chữ đầu tiên, mở vào “Cánh đồng bất tận”, chỉ với một đoạn văn ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã cho thấy tài năng sớm chín muồi của một nhà văn, khi viết:

“Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn…”

Một đoạn văn ngắn thôi, mà đã có tới hai nhân cách hóa… “dẫn đường” vào không khí truyện khô hạn, hung hãn, gom hết lửa…và, những cây lúa chết non, cong như tàn nhang chưa rụng…

Nguyễn Ngọc Tư: Thư gửi ông Sơn Nam (Tạp văn)

Nhà Quê nhiều lần làm con giận lắm, ông à. Con mua táo về, táo Mỹ nghen, mắc tiền lắm, Nhà Quê cắn xong một miếng, nhấm nhẳn, ăn thua... mộng dừa, con ức không chịu nổi vì đã bị phụ lòng còn bị giũa một trận te tua, tội phí tiền mua mấy thứ không ngon lành gì. Con bị sốc đâu cũng năm ba lần như vậy, tặng măng cụt Nhà Quê nói ăn cũng không hơn... mãng cầu gai, còn sầu riêng thì bị quăng ngay ra cửa, vì cái mùi... thúi chịu hổng nổi.

Con thấy tổn thương ghê gớm. Nhà Quê mà ông và con yêu mến cũng có điều đáng phàn nàn, không chịu tiếp nhận cái mới gì cả, đôi lúc còn cực đoan nữa. Nhà Quê ít chịu mở ti vi coi thời sự, đã qua thời dùng bình ắc quy nhưng Nhà Quê đợi tới cải lương (hay phim) mới chịu bật ti vi. Nên hiểu biết của Nhà Quê không vượt ra khỏi cái xóm đó, con kinh đó, bờ chuối, bờ dừa đó. Sách báo thì chỉ được mấy lão nông đảng viên về hưu để mắt tới, tầm 30- 40 rảnh thì nhậu thôi, cầm tờ báo lên than buồn ngủ quá trời. Những kiến thức, những thông tin của thế giới bao la này nhiều khi bị cắt xén ra từng mẩu bằng... bàn tay, lúc ngồi soi bóng nước trong cầu cá tra, buồn tình mới săm soi vài chữ.

Vậy nên những chuyện đồng cốt thầy bà thì miễn bàn, Nhà Quê mê vô kể. Ai đó cắt lưỡi lấy máu để gỡ bùa, ai đó chữa bệnh ung thư bằng nước lạnh, ai đó lấy ếm trên nóc nhà tóe lửa, ai đó được bà cậu (tại sao bà mà là cậu được ta?!) nhập vào, bứt cọng tóc của thân chủ mà biết được quá khứ vị lai, sáng mai đi hướng nào mới tốt; ai đó một bữa đi nhậu về té sông, lội lên không biết bị người cõi nào nhập mà ho một cái, kẻ thù lăn ra chết. Sợ thiệt! Nhà Quê chịu khó chèo lắm, mỗi khi nghe đồn đãi có đồng cốt nào đó mới lập bàn thờ, tưng bừng như đi hội. Lúc đi tìm giống lúa mới, hay tham quan các mô hình canh tác cũng không hào hứng, đông đủ vậy.

Nguyễn Ngọc Tư: Tắm sông

Vậy là má không cho tôi tắm sông nữa. Má nói, má coi truyền hình, người ta biểu, nước sông bây giờ ô nhiễm lắm, trẻ nít tắm hư mắt. Tôi hỏi ô nhiễm là gì, má tôi nói dơ. "Một chút thôi mà - tôi cố nài nỉ - có chút xíu thôi". Má tôi dứt khoát, không là không.

Tôi chê lý do của má đưa ra lãng xẹt, chỉ vậy mà bắt hỏng cho tắm sông nữa. Buồn muốn chết. Những chiều ra đồng chạy rong chạy ruổi thả diều về, nực thôi là nực, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, xách cái gàu ra ngoài cầu ao xối sàn sạt mà không thấy mát tí nào, thèm nhảy ùm cái xuống sông, sải tay sải chân vẫy vùng cho sướng người.

Tôi biết lội hồi sáu tuổi. Hôm đầu tiên xuống nước, tôi ở truồng ngủng ngẳng cái cu bằng trái ớt. Ba ôm tôi xuống bến, ông đặt bàn tay to bè lên cái bụng tròn ủm của tôi sướng quá, tay chân luýnh quýnh đạp lia lịa làm nước văng sáng tran mặt ba tôi (nước mát thì thôi dị chớ). Má tôi ngồi trên bờ hái đọt choại vừa ngó xuống, kêu:

- Anh khéo, ngộp con nó...

Ba cười to:

- Em đừng lo. Mai mốt thằng nầy lặn ngụp phải biết.

Chỉ năm hôm sau, khi ba tôi lặng lẽ bỏ bàn tay ra, tôi đã lủm bủm lội được một tí đường. Cái đầu tôi ngoi lên còn cái mông chìm lỉm, ba cười, chê: "Cái thằng bơi y hệt con chó phèn". Nhưng đám bạn cùng lứa của tôi đang ngồi so bì, "Sao tao ôm dừa khô tập hoài mà hông biết lội". Tôi tài khôn, "Mầy bắt chuồn chuồn cho nó cắn rún á, biết lội liền hà". Nó tưởng thiệt, đi bắt chuồn chuồn về cho cắn muốn tiêu cái rúng luôn. Vậy mà tôi cố đổ thừa, "Tại mầy hỏng bắt chuồn chuồn đỏ, chuồn chuồn đỏ cắn rún mới biết lội được". Sau nầy nhớ lại, tôi nghĩ nhất định mình bơi giỏi là nhờ bàn tay ấm nóng của ba đã truyền cho tôi lòng dũng cảm và sức mạnh. Ba nói, con nít ở vùng sông nước mà không biết bơi thì tội nghiệp, xuống bến trợt chân, qua cầu gãy ván... Bất trắc không biết chừng.

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Lê Thiệp: Hoa Báo Xuân

Hình minh hoạ, FreePik
Trời bắt đầu âm ấm, đôi khi ánh sáng ùa vào cửa sổ làm tôi chợt thức rất sớm, sớm hẳn hơn mọi khi. Cái lạnh của mùa đông đang lùi dần vào dĩ vãng và mọi người như quên cách đây chưa đầy một tháng, tuyết vẫn lất phất bay. Cùng với vạn vật xung quanh vặn mình chuyển mùa, tôi cứ thấp thỏm chờ nó dù biết rằng thế nào rồi nó cũng đến.

Tôi thấy nó lần đầu hơn ba chục năm trước. Khi từ trại tị nạn bước xuống đất Mỹ — chính xác là phi trường Hartford, Connecticut vùng New England — trời vẫn còn khá lạnh. Như bất cứ người tị nạn nào, tôi đầu óc lơ mơ trước mọi sự, đi bước thấp bước cao,l òng phấp phỏng trước một tương lai đầy bất trắc. Ông Nguyễn Tuyển đón tôi, cười ha hả “Mẹ, sang đây làm đếch gì, sao mày không ở cha bên đó có phải khỏe không?” Câu chào kiểu đó như đẩy tôi trở lại cái tình bạn đầy ắp xa xưa và bỗng thấy đổi dời đâu thì đổi, tụi tôi vẫn thế. Tôi bật cười “Mẹ, sang đây ăn báo cô mày, được không?”

Hôm đó đã khá khuya, con đường từ phi trường về chỗ ông bạn ở xa lắc xa lơ, hai bên đường tối om chỉ toàn là cây trơ lá, vệ đường đôi chỗ còn loáng thoáng những mảng tuyết chưa tan hết.

Khi bước qua cửa căn chúng cư, tôi thấy nó.

Ông Nguyễn Tuyển cười bảo :

- Hoa mai Mỹ. Đẹp không?

Tôi biết chắc không phải hoa mai vì nó rực rỡ hơn nhiều, không có cành chĩa ngang chĩa dọc, nhất là không thấy chiếc lá nào. Tôi hỏi :

- Mày chôm ở đâu mà cả một bó to thế?

Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

Nguyễn Hiền: Gặp lại làm gì!

Tôi rời tay Liên lúc chúng tôi bước ra vùng ánh sáng thành phố. Dãy đèn đêm nghiêng ngả chiếu ánh vàng vọt xuống chúng tôi thành những hình thù quái dị trên đường lồi lõm, lúc thu ngắn, lúc dãn ra dài dặc. Tôi hôn lên chùm tóc Liên xõa xuống vai, mùi đất ẩm lẫn hương cỏ nhàu nát còn vương vấn. Liên rùng mình nắm tay tôi. Những cái run nhè nhẹ của bàn tay nhỏ bé, với những ngón gầy guộc truyền qua. Tôi mân mê những ngón tay có móng dài mười lăm phút trước vừa bíu vào vai tôi đau rát. Tôi lần tìm ngón trỏ, rà lên chiếc móng bị gãy cụt lúc sáng Liên rê bao than từ cửa hàng chất đốt về nhà. Liên rụt tay lại, cô bé có vẻ ngượng với một cái bất toàn của thân thể, dù chỉ là một cái bất toàn tạm thời. Giọng Liên ngập ngừng:

– Anh chắc đi lọt không?

– Chắc chớ. Tụi công an bãi bật đèn xanh rồi. Tôi trả lời không suy nghĩ.

Liên thở dài:

– Anh đi ráng coi chừng...

– Thì em nhớ cầu nguyện cho anh.

– Em nhớ mà. Nhưng em lo sức em không đủ mạnh. Liên hạ giọng nói nhỏ vào tai tôi: sau này em hư quá, lỗi em đối với má quá lớn. Chỉ tại anh...

Tôi cười trấn an:

– Em đâu có lỗi gì, mình thương nhau mà.

– Em không biết nữa...

Tôi đổi chiếc xe đạp sang tay kia:

– Em ngồi lên đi anh chở về..

– Thôi, để em về một mình cũng được mà. Anh đi kẻo tối rồi.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Hòa Đa: Nếu Sách Biết Nói

Anh tôi là người mê sách, ngay thời còn đi học, tháng nào anh cũng dành tiền mua một cuốn sách, dù thư viện trường và thư viện quốc gia là nơi anh mất nhiều thời gian nhất trong ngày. Hai tiệm sách quen thuộc của anh là nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi và nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do. Ngày Chúa Nhật, bạn bè muốn tìm anh cứ quanh quẩn ở các tiệm sách, thế nào cũng gặp.

Sau này, khi ra đi làm, ở tỉnh không có tiệm sách lớn, anh đặt mua hai tạp chí Paris Match của Pháp và Life của Mỹ. Trong nhà, số sách báo chất đầy các kệ sách lớn nhỏ, thứ nào theo thứ ấy, như một thư viện nho nhỏ, từ các sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Việt, đến các bộ truyện lừng danh của Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Đông Châu Liệt Quốc, Sử Ký Tư Mã Thiên... Sách tiếng Pháp và tiếng Anh cũng không ít, tiểu thuyết của A. Camus, F. Sagan, E. Hemingway; loại viết về chiến tranh Việt Nam của B. Fall và D. Pike cũng nhiều... Nói chung, thứ nào cũng có, từ triết học Á Đông như bộ Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh... đến các loại sách tham khảo kiểu Bách Khoa Toàn Thư Britanica...

Năm Mậu Thân, nhà nào cũng có một hầm trú ẩn trong nhà, phòng khi giữa lúc tên bay đạn lạc có nơi trú. Ở nhà, Ba tôi cũng dựng một hầm nổi mà một mặt là những giá sách và trên nóc hầm, ông xếp những bao sách thay cho những bao cát. Trong trận tấn công thứ hai vào thị xã, phía trước nhà có cả lô cốt phòng thủ của quân đội; trước khi khu vực nhà tôi lọt vào giữa trận chiến, cả gia đình phải di tản, gần một tuần sau, khi tình hình lắng dịu, tôi mới có dịp quay về thăm chừng nhà; nóc nhà mất một góc, phần mặt tiền coi như tiêu, nhưng kiểm điểm mọi vật trong nhà, tất cả còn nguyên vẹn, kể cả nồi cá kho còn trên bếp và thùng gạo dự trữ trong góc nhà, nhưng tủ sách bị lục tung, hai bộ Tam Quốc Chí và Đông Châu Liệt Quốc được đóng bìa da biến mất, chắc cũng lọt vào tay nào mê sách như anh tôi.