Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

VOA: Nhà văn Kim Thúy ‘nhìn chữ là thấy thương’

Nhà văn Kim Thúy tại Festival America, tháng 9, 2010. (Hình: Camille Gévaudan)

“Không có. Không có.” Kim Thúy cười lớn, khẳng định “không có” chuyện cô sẽ đoạt Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương (the New Prize in Literature), được mệnh danh “giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương 2018.” 

Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn. 

“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.” 

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Ngô Nguyên Dũng: Nỗi nắng niềm mưa


Năm ấy, ông cùng hai người bạn Đức đi thăm lại thành phố sinh quán. 

"Em đang bệnh nặng, muốn gặp mặt anh … có lẽ lần cuối …", giọng em gái ông nghẹn ngào qua điện thoại vài tuần trước. 

Tháng mười, cơn mưa cuối mùa rớt xuống Sài gòn. Mưa đêm lất phất trên đường đến khách sạn nằm trong hẻm phố tây Phạm Ngũ Lão. Tâm tư ông váng vất những ký ức chưa phai. Thành phố thay đổi nhiều. Ông hỏi thăm người tài xế những tên đường thuở trước. Anh còn nhớ. Trương Minh Giảng. Công Lý. Hồng Thập Tự. Lê văn Duyệt. Dòng hồi tưởng ông bật thức, quắt quay những hình bóng cũ. 

Mười chín tuổi, ông đã rời quê hương, trong thời chiến. Từ đó đến nay, ông chỉ về thăm nhà một lần duy nhất. Sáu tuần lễ hè một chín bảy ba. Sau hiệp định Paris. 

Khuya ấy, ông nằm trăn trở. Chợp sáng, phố xá đã khua thức. Tiếng rao hàng từ lòng hẻm vẳng lên. Phải chú tâm vài phút, ông mới nghe ra. "Bánh mi ì… nóng giòn… đây." "Bánh khu.. úc…, bánh gio.. ò… nóng đây." Bữa điểm tâm đầu tiên trong khách sạn, ông gọi một tô phở bò và một ly cà phê sữa đá. Phở không ngon. Mỗi ly cà phê sữa còn đậm đà hương quê quán. Lát sau, người anh tới chở ông về nhà em gái. Dọc đường, anh chở ông ghé ngang ngôi nhà cũ phố Tân Định. Những con đường ở đây vẫn còn giữ tên những danh tướng đời nhà Trần. Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quí Khoách. 

Túy Hồng: Gia vị tuổi già (Tiếp theo và hết)

Thái là chủ nhân của mấy mẫu đất rộng chim diệc lết đi không tới đích và người võ công Tai-Chi lê bước không tới chốn, một vùng phong cảnh lặng thinh gợi lại hình ảnh những vườn tiên, vườn đào, vườn ngự uyển trong sách thời thượng cổ. Trước mặt nhà Thái là một ao rau muống, loài rau có ống và nở hoa màu tím nhạt, loài rau không ăn cơm mà chỉ uống nuớc giải khát. Công ty thủy lực thành phố mấy lần gửi giấy phạt rau muống uống nước nhiều quá sẽ làm khô héo thị trấn hồng. Tự điển khoa học xã hội Việt Nam định nghĩa rau muống rỗng ruột, uống sương mai, nắng chiều và ánh trăng đêm khuya.

Thái đã vào Good will ra tay kéo về hai cái hồ bơi inground biberglass pool. Đó không phải là loại bồn tắm nhỏ bằng cao su trẻ con đập tay đạp chân tập bơi mà đúng nghĩa là cái hồ nước rộng chôn dưới đất. Thái, người đàn bà trời cho sức khỏe và sắc đẹp, đã bỏ ra hai tháng trời đào đất, đập đá, khó khăn hốc hác như Ngu Công dọn núi ngày xưa và với một thiên tài về ngành trồng tỉa đã làm chủ một ao rau muống chim diệc bơi lội mấy mùa.

Hồ sơ của khu vườn được cất giữ trong ngăn kéo, chia ra mười chín khoảng đất riêng biệt. Ao rau muống đào được đặt vào vị trí một. Khu đất thứ hai trồng mười loại rau đủ để cho người Huế nấu một tô canh thập toàn. Kế đó, Thái làm giàn tre dành cho rau leo. Bên cạnh, Thái cưa hai cây thông già, chặt tre, xẻ gỗ dựng thêm bốn cái giàn nữa dành cho su le, bí ngô, bí đao, mướp ngọt, mướp đắng. Xong, Thái nung sắt, đẽo hai cái trụ đồng chặt hai cây cổ thụ dựng một pháo đài để trồng năm cây dưa Hồng tiên, người Huế gọi là dưa Tây vì do ông Tây thuộc địa đưa vào Việt Nam cùng một lượt với cây phượng vĩ. Cây dưa Hồng tiên nằm trên, bốn mươi tám cây su le nằm dưới chung một giàn gồm có hai tầng, bên cạnh mấy cái thang gỗ, lá bí ,lá bầu tuy khác giống nhưng phải mọc chen nhau và kế cận dàn dưa là loại rau có chất cay dùng làm gia vị nấu ăn: ớt mọi, ớt chìa vôi, rau sâm thương, ngò gai, húng lủi, húng quế, tía tô, kinh giới, diếp cá... Xê ra một chút là loại cây trị bệnh có chất thuốc gia truyền như cây ích mẫu, cây thuốc cứu, cây trần bì, cam thảo, quế chi...

Đàm Duy Tạo: Chương 14 - KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI

KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018

o o o O o o o

CÂU 1129 ĐẾN CÂU 1226

“Chừa lòng trinh bạch, trả nợ phong trần”

1129. Hóa nhi thật có nỡ lòng, [1]
Làm chi đày tía, đọa hồng, lắm nao! [2]
1131. Một đoàn đổ đến trước sau, [3]
Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.
1133. Tú bà tốc thẳng đến nơi, [4]
Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà. [5]
1135. Hung hăng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời.
1137. Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.
1139. Hết lời thú phục, khẩn cầu, [6]
Uốn lưng xương nổ, cất đầu máu sa. [7]
1141. Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây.
1143. Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
1145. Những tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
1147. Thân lươn bao quản lấm đầu, [8]
Trót lòng trinh bạch từ sau xin chừa!” [9]

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2018

Túy Hồng: Gia vị tuổi già (Kỳ 1)

Hình minh hoạ; https://www.goodfreephotos.com
Khi cây bạch dương sau nhà trở mình thì lá mùa thu cũng đã chuyển sang màu vàng nguyên chất. Nắng ngọt dịu của tháng mười một ấm như nắng hanh vàng ngày nào nướng chín trái bí ngô, quả cam, trái chuối. 

Tháng ba lưng lưng chim hót ngang trời thật ra không làm người di tản thấy vui như mấy tháng dài mùa thu len lén vào tim.

Trong những khu vườn Việt Miên Lào ở Oregon, mùa thu ánh lên màu vàng từ trái hồng ngâm và màu cám gạo lứt của trái lê. Hai thứ trái cây trân quý này hương vị ngọt thanh nhưng về hình thức, trái hồng đội một cái nón trên đầu trông như cái chụp đèn nên không đẹp.Thứ quả này lại chín vào cuối thu nên không đủ nắng để ngọt.

Tháng bảy ngày rầm xá tội vong nhân.
Tháng tám chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng chín chung chân buôn hồng.

Hồ Đình Nghiêm: Đi Biển

Quần dài móc trên cây đinh đóng tuỳ tiện vào vách, chỗ xét thấy thuận tiện. Áo cụt tay máng vào lưng ghế. Hào tròng chúng vào thân vội vã. Người tuôn đổ mồ hôi, nóng và nhớp nháp. Muốn dội qua một vài gáo nước cũng hết còn phút giây nào nữa. Phụng đang nhăn nhó mặt mày rên la. Ngọn lửa phát nhiệt bùng cháy. Hãy cố giữ bình tĩnh, Hào nói cho riêng mình, cùng lần với cuồng quay, ở mắt đảo quanh, ở đôi chân vụng lui, tới. Mấy hôm trước, Hào thử vẽ ra một chuỗi sự việc, sắp xếp có tính toan để thực thi, nhưng anh quên tưởng tượng tới cơn đau “quắn đít” của vợ.

Hy vọng những tờ giấy bạc còn nằm nguyên vẹn trong túi quần. Không nhớ chính xác, hình như hồi trưa có “xé” nó ra để cầm chai đi đong hai lít dầu hoả? Chiếc áo chẳng thể cài kín tới bốn hạt nút. Mấy điếu thuốc lá lẻ nằm trên bàn, thộn nó vào bọc luôn cả bao diêm Thống Nhất. Nó cần thiết, như thuốc bổ giúp Hào khỏi run chân ngoài hành lang đợi chờ tiếng khóc thét đầu đời của một hài nhi. Cái bao đựng áo quần được soạn sẵn từ hai hôm trước của Phụng đâu rồi nhỉ? Mắt mờ cả lên! Một đôi gian phu dâm phụ bị bắt tại trận ngó vậy mà khoẻ, cái thằng đàn ông vô phước (hay có phước?) kia chỉ việc vùng dậy khỏi giường và cắm đầu chạy một mạch không cần thở, vất lại đôi dép tại hiện trường, ôm đại đống áo quần bất kể của ai. Đương sự mình trần trùng trục, thí mạng cùi cho thiên hạ tha hồ nhìn ngắm, dị nghị.

Hào phóng người ra cửa, nhớ như in ở đầu ngả tư đường luôn có một chiếc xích-lô chực sẵn. Cái cột điện bằng xi-măng có gắn bảng tên đường rỉ sét như ngầm cầu chứng một bến đậu và mong rằng cậu thanh niên ngồi vắt chân chữ ngũ trên xe ưa xuống sáu câu vọng cổ vẫn còn đấy, để có ngày nghe Hào gióng gọi một phen, cực kỳ gấp gáp: Qua bệnh viện, lấy mấy đồng?

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2018

Phạm Xuân Hy: Điêu Thuyền - Nghi án và truyền thuyết

Điêu Thuyền trên màn ảnh của thời hiện đại.
Vương Chiêu Quân,Tây Thi, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền là tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc, đều xếp vào hàng những thiên cổ giai nhân. Nhưng cuộc đời của những người đàn bà này vì đẹp nên có lắm hoạn nạn truân chuyên, và người ta thường đổ lỗi cho đó là “hồng nhan bạc mệnh”.

Riêng Điêu Thuyền, chẳng những được truyền tụng trong dân gian là người đàn bà có nhan sắc làm cho "mây mờ trăng lặn", mà còn được coi là một kỳ nữ thông minh, mưu lược làm điên đảo các anh hùng hào kiệt thời Tam Quốc, cả về sắc lẫn tài, như lời bình luận gia văn học Mao Tôn Cương, người thời Minh mạt Thanh sơ từng nhận xét, nguyên văn :

Thập bát lộ chư hầu bất năng sát Đổng Trác, nhi nhất Điêu Thuyền túc dĩ sát chi, Lưu Quan Trương tam nhân bất năng thắng Lã Bố, nhi Điêu Thuyền nhất nữ tử năng thắng chi, dĩ nhâm tịch vi chiến trường, dĩ chỉ phấn vi giáp trụ, dĩ phán lãi vi qua mâu, dĩ tần tiếu vi cung thỉ, dĩ cam ngôn ti từ vi vận kỳ thiết phục, nữ tướng quân chân khả uý tai!

- Dịch nghĩa : Mười tám lộ chư hầu, khhông giết nối Đổng Trác. Chỉmột mình Điêu Thuyền giết nối. Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, không thắng nối Lã Bố. Chỉ một mình Điêu Thuyền thắng nối Lã Bố. Dùng chiếu giường làm chiến trường, dùng son phấn làm giáp trụ, dùng khoé mắt làm đao kiếm, lấy cái chau mày và nụ cười làm cung tiễn, dùng lời ngon ngọt nhỏ nhẹ mà bố trận, bầy binh, tướng quân thị mẹt quả đáng sợ thật!
(từ ngữ “Tướng quân thị mẹt” này là chữ của học giả Phan Kế Bính dịch từ chữ Hán “nữ tướng quân” mà ra.)

Hồ Phổ Lại: Một Thuở Học Trò

Hình minh hoạ, Getty Images
Tôi gặp thầy lúc tôi vừa đặt chân lên lớp một, cấp trung học. Thầy tên Ưng Biền, một cái tên thuộc dòng vua chúa triều Nguyễn. Nghe đâu, ở lứa tuổi thanh niên đã có một thời tầy vô bưng theo kháng chiến. Về sau trở ra hồi chánh, thầy lập gia đình và đi dạy học. Lúc dạy tôi thầy trạc 45, còn tôi thì ở tuổi 11, 12. Xét chung chung thầy thuộc loại người đẹp trai, dáng dấp cao ráo, khuôn mặt đều đặn, thái độ khoan thai, nói năng từ tốn. Ngày thường thầy tới trường trong bộ âu-phục hợp thời trang. Những ngày lễ lạc, thầy thắng bộ quốc phục: áo the đen, quần vải trắng, đầu đội khăn đóng, chân mang giày hạ. Nghĩa là thoạt nhìn bên ngoài, thầy Ưng Biền là hiện thân của một nhà mô phạm gương mẫu muôn đời. 

Nhưng, phải chăng ngoài cái vỏ bên ngoài và ngoài cái phần bên trong, trong con người còn cái cốt lõi giấu kín tận đáy sâu thăm thẳm của mỗi cõi lòng. Đặc biệt trong con người của thầy Biền ba khía cạnh riêng biệt đó không những chỉ khác người mà còn khác nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau như nước với lửa. 

Vũ Thư Hiên: kẻ vô ơn

1

Nghe tôi nói đến “Hiếu nhà băng,” ông Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:

- “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông cũng quen hắn à? 

- Quen. Nhưng chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?

- Biết chứ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có cái biệt danh khác — “Hiếu tồ”. 

- Trái đất tròn thật. Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch trên sông Nil, lâu rồi, dễ cũng đến ba hoặc bốn năm. Quen nhau kiểu ấy thì chỉ loáng thoáng thế thôi, mãi đến năm ngoái gặp lại nhau ở Genève hai đứa mới có dịp tâm sự. Ông này tính tình cởi mở, dễ chịu lắm, tuy có hơi tồ tồ một chút thật, ông gọi là Hiếu tồ cũng không ngoa. Nghe ông nói mới biết, chứ tôi cứ tưởng ông ta là dân Bắc kỳ di cư rồi vọt qua đây sau tháng tư 75. Cái vụ thuyền nhân bi thảm là thế, thế giới chửi cho mục mả, vậy mà cũng có cái mặt hay của nó — người mình giờ ở đâu cũng có, dễ chỉ thua dân Trung Quốc. Người ta bảo ở đâu có gián ở đấy có người Trung Quốc. 

- Hiếu tồ đi sang bên này khoảng 78 hay 79 chi đó.

- Thuyền nhân? 

Ông gật đầu. 

- Tức là có đi kháng chiến một đoạn, rồi dinh tê?

- Đại khái thế. Nghe nói bây giờ hắn giàu. Không phải giàu thường thường, mà giàu lắm. 

Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.

Nguyên Thao: Hồi ức của một nhân chứng

Cải cách ruộng đất 1946-1957. Hình www.rfa.org
Sau chiến thắng trận Điện Biên Phủ năm 1954, Cộng sản Việt Nam đã ký hiệp định Genève, thôn tính và cai trị được một nửa nước Việt Nam. Giặc ngoài coi như đã dập tắt, chúng quay lại nghĩ đến chuyện quét sạch giặc trong, đó là giai cấp phong kiến. Bởi vậy qua năm 1955, 1956, chúng phát động phong trào cải cách ruộng đất, một cuộc cách mạng mà chúng gọi là long trời lở đất, tầm vóc ngang hàng với chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực chất và cốt lõi của phong trào là đập nát hệ thống phong kiến mà tiêu biểu là tầng lớp “trí, phú, địa, hào” còn sót lại trong xã hội để thực thi chuyên chính vô sản không bị vướng mắc.

Gia đình tôi là một nạn nhân của phong trào đó và bản thân tôi đã buộc phải đi tham dự những buổi đấu tố người thân ruột thịt của mình theo lệnh của chúng, nên tôi viết ra đây những sự thật diễn tiến của phong trào chỉ có phần thiếu chứ không có phần thêm, ghi lại những ngày tháng đầy máu và nước mắt, dã man và ghê tởm, một trang sử ô uế, dơ dáy nhất trong lịch sử của dân tộc.

Tôi chỉ ghi lại một cách tổng quát sự việc chứ không muốn đi sâu vào chi tiết vì đi sâu vào chi tiết thì có lẽ phải viết thành một cuốn sách, vả lại tôi muốn bôi xóa đi trong não bộ của tôi những hình ảnh man rợ của thời thượng cổ mà ở thế kỷ 20, cộng sản Bắc Việt còn áp dụng trên đất nước của mình.

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Không! Không!... Cái Đó Hổng Phải Của Tui

Hình minh hoạ, Getty Images
Hơn tuần qua chiều nào tôi cũng lên hội quán, ngồi trước chiếc bàn trong góc phòng, day mặt vô vách, lướt mạng, chỗ đó yên tĩnh và không ai chú ý. Chiều nay có một thủy thủ chiếm góc đó rồi, giống y chang tôi mấy hôm trước, anh ta ngồi day lưng ra ngoài, mặt chăm chú vào màn ảnh của laptop. 

Cuối tuần, hội quán đông người. Thủy thủ đến từ khắp nơi, kẻ đánh bi da, người chơi bóng bàn, người tụ tập nhậu nhẹt. Tôi loay hoay chưa biết ngồi chỗ nào cho tiện, chợt từ phía sau lưng có bàn tay để nhẹ lên vai và kèm theo tiếng chào: 

– Chào chú! 

Tôi day lại, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ ôm chầm người bạn trẻ: 

– Hi, Ahmad, khoẻ không?

– Dạ, con khoẻ, cám ơn chú. 

– Tàu con cũng ở đây hả? 

– Không, tàu con đậu ngoài Europort. 

– Vậy con vô đây bằng xe gì? 

– Xe điện. Nghe nói chiếc Confort còn đậu lại cả tuần nữa và biết chú chiều nay lên đây con mới vô thăm chú. 

– Oh! Sao con biết chú lên đây? 

Ahmad đưa điện thoại cầm tay ra trước mặt, nói:

– Riko nhắn cho con. 

– Hèn chi cả ngày nay Riko nhắc đi nhắc lại hoài, kêu chú phải lên hội quán. 

Ahmad chỉ tay xuống chiếc bàn trước mặt nói:

– Chú ngồi đi, con mua rượu. 

Tôi để laptop lên bàn và ngồi xuống. Ahmad theo đạo Hồi, dân In Đô phần đông theo đạo Hồi. Nhớ lại thời gian đầu nó theo tôi tập sự làm bếp, nó giữ giới luật rất kỹ, không uống bia, rượu và thấy thịt heo nó ghê sợ như thấy đồ dơ. Mỗi lần kêu nó xắt thịt heo thì nó lấy bao tay mang vô rồi miễn cưỡng xắt ra miếng thịt bầy nhầy trông thấy hết muốn ăn. 

Phạm Tăng: Trút lại hành trang

Họa sĩ Phạm Tăng
Có gì tê buốt ở trong tôi
Thấm tận vào tim, giá lạnh người
Những lúc canh tàn, khi tỉnh giấc
Ngược dòng quá khứ, nhớ xa xôi...

Vừa mới hôm nao còn trẻ thơ
Si mê vô hạn, ước không bờ
Bình minh lồng lộng, tình như biển
Một sớm... đời tôi đã xế trưa !...

Thời gian trôi chảy tự trong tôi
Xô đẩy tôi theo nhịp ĐẤT TRỜI
Như gió, như mây, như sóng cuộn
Lôi thuyền không lái, cuốn ra khơi !

Mỗi bước chân đi, một bước già,
Con đường còn lại, có bao xa ?
Bao nhiêu tan tác, bao tàn rụng
Tơi tả rơi từng bước đã qua...

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Ý Nhi: Quán Chữ Cái

Hình minh hoạ, Internet
Ông trở dậy vào rạng sáng, sau một đêm mất ngủ hầu như không nguyên cớ, tự nhiên có cảm giác không khí trong căn nhà quá ngột ngạt khó chịu. Ông khoác áo rồi bước ra phố, cứ nhằm phía trước mà đi. Qua bốn, năm ngã tư thì ông nhìn thấy ngay trước mặt mình một tấm bảng hiệu kỳ lạ. Trên nền trắng, hiển hiện rất nhiều những chữ cái viết hoa, đủ màu sắc, nằm xen kẽ, không theo một trật tự nào. Ông dừng lại vừa khi người chủ quán mở rộng cánh cửa sơn màu xanh lá cây. Chủ quán mỉm cười nhìn ông như thể gặp một người quen cũ, hay ít ra cũng như hai người vẫn gặp nhau hàng ngày tại một công sở hoặc trên cầu thang, trong thang máy một chung cư nào đó. Nụ cười của chủ quán khiến ông tò mò, bước vào quán.

Quán nhỏ. Những chiếc bàn vuông màu nâu được xếp ngay ngắn, bên phải 2 dãy, bên trái 2 dãy, mỗi dãy 3 chiếc, vị chi có 12 chiếc, mỗi bàn 4 ghế, vị chi có 48 chỗ ngồi. Ông nhâm nhẩm tính, không biết để làm gì rồi bất chợt nhớ mình có nằm mơ, có lẽ trong một lúc chợp mắt nào đó vào đầu đêm hoặc trước khi trở dậy. Ông thấy mình đi đến một vùng núi, muốn leo lên nhưng tìm mãi mà không có lối mòn nào, toàn những cây rậm rịt, chằng chéo. Ông đi loanh quanh, tha thẩn, định quay về thì nhìn thấy một bóng người. Ông vội vã bước theo nhưng càng cố bước nhanh thì cái bóng càng xa rồi mất hút đâu đó trong khoảng không. Hình như ông có kêu lên câu gì đó, có lẽ là một tiếng hú thì đúng hơn… Phải rồi, một tiếng hú gọi. Ông như còn nghe thấy âm thanh kéo dài, vang vọng của tiếng hú, khi ông đứng giữa những dãy bàn ghế sạch bong, xếp đặt ngay ngắn, phân vân không biết tại sao mình lạc bước vào nơi này. Rồi ông nghe thấy đau ran ran nơi ngực khi nhớ ra đây chính là giấc mơ ông từng gặp vào đêm mẹ ông ra đi…Ông nhìn khắp gian quán, tìm một chỗ ngồi. Ông cần một chỗ ngồi.

Thành Tôn: Thâm tạ...

Hình minh hoạ, Internet
Nước rút, cát bồi, nhà trôi, ruộng lũng 
Kẻ mất con, người mất cháu, ông bà . . . 
Kể sao hết, ơi nỗi sầu đọng vũng 
Được sống còn bằng tình nghĩa phương xa 
Bát gạo, áo quần . . . tấm lòng thăm hỏi 
Nuôi mến yêu nhen tình ý đậm đà 
Chúng tôi thắp sáng hồn nâng tiếng nói 
Niềm tri ân lên nét chữ thật thà 
Trên điêu tàn mùa xuân dừng bước lạ 
Với vạn tình người tìm đến nuôi nhau 
Thiếu tất cả nhưng đủ đầy tất cả 
Vì thương yêu vừa tới đã xanh màu 
Xin gởi vào đây vô vàn chân thật 
Gói mến thương bọc yêu dấu trao về 
Thắp sáng lên nghìn linh hồn đã mất 
Niềm tri ân xanh mát lá tình quê 

Ơi những tấm lòng bao dung gửi đến 
Ơi những yêu thương gói chặt hồn nhau 
Chúng tôi cúi hôn lên từng nỗi hẹn 
Điệu nghẹn ngào len lén xuống môi đau 
Hồn cảm động nâng niu nghìn nghĩa cử 
Nghe mến thương len vào mỗi món quà 
Chúng tôi mớm chân thành qua nét chữ 
Gởi vô vàn cảm tạ theo tình xa.

(Trích thi phẩm Thắp Tình)

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

Trần Mộng Tú: Cây lê, Cây thông, và những Cây sậy

Cây Lê Mỹ

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, một cuộc tấn công tồi tệ nhất vào nước Mỹ đã xảy ra vào buổi sáng, phá hủy tòa tháp đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới và làm hàng ngàn người thiệt mạng.

Trong hoang tàn đổ nát, một thân cây cháy đen trong đống gạch vụn, nó chết cháy hoàn toàn, chỉ còn sót lại một cành nhỏ mong manh. Đó là cây lê Callery. Cây lê cháy đen đó được mang gửi đến công viên Van Cortlandt (Khu công viên giải trí của thành phố New York). Sau 9 năm cây lê đó đã sống lại mạnh mẽ và tươi đẹp, được đem trở lại trồng trước Bảo tàng và Đài Tưởng niệm 9/11. Mỗi cành nó vươn lên là một thông điệp cho cả thế giới biết rằng sức bật và sự sinh tồn của người Mỹ không hề lùi bước trước bất cứ một thảm họa nào do con người đem tới.

Joe Daniels – Giám đốc Bảo tàng và Đài Tưởng niệm 11/9 – đã công nhận cây lê sống sót đó trở thành biểu tượng về sức chịu đựng và sự bền bỉ của nước Mỹ.

Cây Lê Báu Vật của nước Mỹ

Thy An: Tháng tám em về

Hình minh hoạ, Getty Images
tháng tám em về đi trong mưa hạ
thoáng chút xôn xao hoa lá màu xanh
nhìn trời, đất lòng nghe như xa lạ
giữa phố đông người tơi tả dòng thơ 

đi và đến mấy bến bờ hờ hững
đợi và chờ bao nhiêu nỗi truân chuyên
nghe tiếng khóc than bên cạnh nỗi niềm
buồn vọng lại từ những miền quê mẹ

đứng ở đây chân vẫn mềm vẫn nhẹ
se sắt lòng biển đảo gọi từ xa
vọng mù khơi nghe tiếng khóc sơn hà 
biển Đông nọ vẫn âm thầm sóng vỗ

rừng núi đó ngàn năm mồ tiên tổ
máu tiền nhân đổ xuống giữ giang sơn
đất linh hiển còn khắc ghi hào kiệt
thấm vào sâu từng chi tiết tâm hồn

tháng tám em về đi trong mưa hạ
Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong
mắt lệ từ xa mờ mờ bóng giặc 
đứng dưới rừng cờ bè bạn đau lòng

tháng tám em về trái tim như khóc 
gió từ xa thắp lửa báo hiệu mùa 
hờn vong quốc nghe ngàn năm văng vẳng 
tiếng kêu buồn vọng lại mấy trời xa

tháng tám em về đi qua phố lạ
từng bước chân đau theo tiếng kêu than
đừng im lặng, em ơi, đừng vô cảm
mai sau này, non nước sẽ điêu tàn …


thy an
Liège – Place Saint-Lambert 25.08.2018

Hoàng Quân: Nhớ Một Vầng Trăng

Hình minh hoạ, Getty Images
Bữa cơm trưa văn phòng, nàng kể cho mấy người bạn đồng nghiệp rằng, chiều qua, xe lửa trục trặc, nàng mất gần ba tiếng đồng hồ mới về đến nhà. 

Người bạn đồng nghiệp lắc đầu ngao ngán: 

- Trời ơi, em mà phải cực khổ như chị, chắc em bỏ việc luôn. 

Nàng cười cười: 

- Mình chẳng cảm thấy gì bất tiện cả. 

Nàng nghĩ, tiện, không tiện, cũng phải đi làm. Chứ không, chốn này, đất đai đâu, để nói, cạp đất mà ăn. Nàng tự an ủi mình, cũng là một cái thú, đâu phải ai cũng được. Mỗi ngày thêm vài tiếng đồng hồ thoải mái, muốn đọc sách, nghe nhạc, ngủ gật hay đơn giản ngó quanh, quan sát thiên hạ, ngái ngủ sớm mai trên đường đến hãng, hoặc xật xừ, đờ đẫn sau ngày dài làm việc. 

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

Lê Công Tư: Bay đi nụ cười

Hình minh hoạ, Internet
Trong số những người quen biết đang sống tha hương đây đó, có lẽ Trịnh là một Việt kiều nghèo nhất mà anh biết. Hắn hội đủ những yếu tố để được đứng trong hàng ngũ những con người này: một tính khí thất thường nằm ẩn sau cái nhìn trong sáng; lòng tự trọng của một kẻ có học với thói ăn chơi bạt mạng; và cái mà những người Mỹ có đầy đủ nhất xem ra lại thiếu thốn trầm trọng ở con người này: tính thực dụng, đủ để xã hội Mỹ dành hẳn cho hắn một chỗ đứng ở bên lề. 

Trịnh sống lêu bêu đó đây bên Mỹ như một cọng lá, ăn bờ ngủ bụi như một tên du thủ du thực. Trịnh lại chăm chỉ, siêng năng về Việt Nam. Điều này cũng giúp cho hắn nghèo thêm chút nữa. Trông Trịnh khá giống một thiên thần đội lốt bụi đời, một ông hoàng thường xuyên sống bấp bênh giữa nghèo nàn và túng thiếu. 

Một chuỗi dài thời gian mấy chục năm sống ở xứ Mỹ xa xôi kia rút cuộc chỉ là một chuỗi dài những thất bại. Thất bại trong cách kiếm tiền lẫn cách xài tiền. Thất bại trong tình yêu lẫn hôn nhân. Và nếu cuộc sống đó có một chút cơ may thành công, có lẽ đó là một ít hoa trái phù du hái lượm lặt đâu đó giữa cõi đời này. 

Để giải thích cho cái tình trạng Việt Kiều nghèo nàn của mình, Trịnh nói: “Tao sinh ra là để làm việc rồi rong chơi. Nếu làm giàu cũng là một thứ mục đích của cuộc sống, thì cái mục đích này là của mấy thằng khác chứ không phải của tao”. 

Anh Vũ: Người con gái Huế

Bài thơ này ra đời mùa hè cuối năm học 1955-56, lúc tác giả rời trường Quốc Học, mang theo nhiều hình ảnh đẹp của tuổi đôi mươi. Năm 1958, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã chọn bài thơ để khai mạc mục “Thơ và Thi Nhân” trên báo Tự Do do ông Phạm Việt Tuyền chủ trương, và Chu Tử sau đó có in lại trong một số báo “Sống” đặc biệt về Huế. Với thời gian, và qua các biến cố lịch sử, Huế và người Huế đã đổi thay, và chắc không còn cứ mãi “xuôi bên cạnh cuộc đời” nữa, nhưng chắc nét kín đáo “phong trong một dãy thành” và giấc mơ êm đềm của Ngự Bình “gối đầu trên bến lặng” thì vẫn còn; và đó mới chính là cái đẹp của “Người Con Gái Huế”.

Cầu Trường Tiền. Hình: Internet
Năm xưa có một người... xưa lắm
Sách vở chưa tròn mộng thủy chung,
Bóng lẻ kinh thành men lối học,
Trăng mùa cổ độ sáng mông lung.

Tháng chín vàng trên vạn ngả đường,
Ngạt ngào suối tóc chảy thành hương;
Một đàn chim trắng nghiêng đôi cánh
Chở bút hoa về tự bốn phương.

Âm thanh mùa ấy nghẹn lưng trời,
Ngói mới nằm ôm gạch đỏ tươi;
Tâm sự chưa nhòa trang giấy trắng,
Chuyện đời chưa ố tuổi hai mươi.

Đã gặp Người trên một chuyến đò,
Nắng chiều xuyên nửa nón bài thơ,
Nửa vòng quai trắng cài môi phượng,
Nửa nụ cười hoa... thuyền cập bờ.

Lòng kín phong trong một dãy thành
Lạnh lùng che khuất ngọn cau xanh;
Ánh vàng còn đọng trên tà áo
Đã cánh mây Tần vội khép nhanh.

Sông Hương mấy độ vàng hanh nắng
Gió chẳng se lòng lụa Trữ La,
Núi vẫn gối đầu trên bến lặng
Trọn đời mơ mãi giấc hoàng hoa.

Nhớ lần khăn gói đưa theo gió,
Cửa lớp đìu hiu phượng cuối mùa,
Một nẻo Trường An sương kín ngõ
Tâm tình còn nặng chuyến đò xưa.

Nghìn sau vẫn một thuyền muôn trước,
Người vẫn xuôi bên cạnh cuộc đời
Ngắm mãi bóng mình trên sóng nước
Quyện vành môi thắm lững lờ trôi?


Anh Vũ, 1956

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Phạm Xuân Đài: Người Việt Nam tự nhìn lại mình*


Cách đây mấy năm, khi cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương được Nguyễn Hồi Thủ dịch sang tiếng Việt và xuất bản thì một số người Việt Nam tự hỏi với nhau rằng: Những dân tộc lớn như Mỹ, Pháp, Trung Hoa đều có người viết sách tự nhìn lại những khuyết điểm của dân tộc họ; dân Việt Nam chắc cũng giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, có điểm hay và cũng lắm điểm dở, vậy mà chờ mãi chẳng thấy tác giả nào viết về các yếu kém của dân tộc mình. Người Việt tự bằng lòng mình đến thế ư?

Nhưng “có mong có gặp,” khoảng ba năm sau thôi, chúng ta có hai tác phẩm ra đời hầu như cùng một thời gian, làm công việc mà nhiều người chờ đợi là phê phán chính dân tộc mình, mà làm một cách tận tụy, hết mình, đến độ so với tác phẩm của Bá Dương thì người Trung Quốc cũng chưa đến nỗi xấu xí cho lắm. Đó là cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng (tác giả xuất bản, tại Pháp) và Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21 của Lê Thị Huệ (Văn Mới xuất bản, tại Hoa Kỳ), cả hai đều được xuất bản vào đầu năm 2001.

Đây có thể nói là lần đầu tiên chúng ta có những người cầm bút chịu khó nhìn lại con người và đất nước Việt Nam một cách khá toàn diện và cũng khá khắt khe, để vạch ra cho mọi người thấy những “khuyết điểm Việt Nam” là như thế nào. Trước đây lác đác cũng đã có một số người viết về một vài thói hư tật xấu của người mình. Như Nguyễn Văn Vĩnh từ thập niên 10 của thế kỷ 20 đã nói rằng người mình thì “gì cũng cười,”

“xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cách láo xược khinh người; có câu chưởi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà đã gièm trước ý tưởng người ta, không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.”
(Xét tật mình - Đông Dương tạp chí)

Hoặc như Trần Trọng Kim thì cho người mình

“có tính tinh vặt, có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ... Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàn bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỷ, sùng sự lễ bái... Kiêu ngạo và hay nói khoác...”
(Việt Nam Sử Lược)