Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

Nguyễn Văn Sâm: Nguyên Sa, nhà thơ tình và nhiều phương diện văn nghệ



Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt…. luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn. Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì Trần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích.

Bài về Hồ Xuân Hương, ông xác nhận rằng thì là không có nhân vật Hồ Xuân Hương, chẳng qua là người ta, bất kỳ ai thích làm bài thơ không thanh nhã thì sáng tác rồi cứ việc ký tên Hồ Xuân Hương. Thế là xong, khỏi trách nhiệm, khỏi ngại bị lời ong tiếng ve. Luận cứ nầy rất được đồng tình thời đó, lúc người làm công việc nghiên cứu văn học chưa tìm thấy được những tài liệu khả tín về tiểu sử của nữ thi sĩ quá độc đáo nầy.

Cổ Ngư: Đi

Hình minh hoạ, FreePik

Nửa đêm. Chuyến bay trễ một tiếng. Lý do: kiểm tra kỹ thuật. Hành khách xôn xao. Lo lắng bật thành lời: trễ cũng được, không sao, nhưng đừng có hỏng hóc, rớt là chết cả lũ! Muà máy bay rụng qua rồi mà, hết thu, đã bắt đầu đông, đừng có sợ! Hắn lơ mơ trên mấy mẩu tin của tờ báo cầm trên tay, tai không muốn mà vẫn bị hút vào những lời xì xào chung quanh. Giày có số, đời cũng có số, chết thì chết, làm gì mà nhặng xị ngậu lên thế không biết!

Rồi cũng đến lúc khởi hành. Hình ảnh thu trực tiếp từ caméra gắn dưới phi cơ cho hắn cũng như hành khách cùng chuyến cái cảm giác đang được ngồi trong phòng lái. Phi đạo vằn vện những vết bánh nghiến cứ tuồn tuột bị bỏ lại, mỗi lúc một nhanh, rồi, hẫng một cái, đất trời chia đôi. Ngồi sát khung cửa nhỏ, nhìn vạn ngàn ngọn đèn lung linh trong đêm, hắn thầm nói lời chia tay với thành phố. Ở đó, hắn biết, có người mong hắn quay về.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Trần Mộng Tú: Chén Nước Mắm và Bao Vải Bột Mì

LTS. Bài này của tác giả Trần Mộng Tú đã được đăng trên DĐTK ngày 17 tháng Năm, 2014. Hôm nay chúng tôi quyết định đăng lại vì vấn đề nước mắm đang lên cơn sốt tại Việt Nam. Bài viết sẽ góp thêm một mảng tình cảm của một người Việt Nam với nước mắm, là một thứ thực phẩm lâu đời mà ông bà tổ tiên chúng ta vẫn dùng, và người Việt Nam vẫn sản xuất cho tới tận ngày nay. Và “ngày nay”, với những gì đang xảy ra tại Việt Nam, nó đang có nguy cơ bị xóa sổ.


Sang Mỹ cả gần bốn mươi năm rồi, thế mà mỗi lần dọn cơm lên bàn cho chồng con tôi vẫn lúng túng với chén nước mắm. Hôm nay có cần không? Bao giờ nhìn bữa ăn dọn ra, cũng chần chừ giữa có và không một phút. Cuối cùng thế nào cũng phải rót một chút nước mắm vào cái chén nhỏ, đặt giữa bàn. Có khi suốt bữa ăn không ai chấm vào, nhưng không có nó, hình như bữa ăn chưa gọi được là hoàn tất. Dù sau này các con đã ra riêng, chỉ có hai vợ chồng, đã bỏ thói quen ăn mặn, thế mà chén nước mắm vẫn luôn luôn hiện diện trong bữa ăn.

Thập niên đầu, khi các con còn nhỏ chưa dùng nước mắm chấm trong bữa ăn thì tôi còn cha mẹ. Cha mẹ ăn cơm bao giờ cũng có chén nước mắm, chanh, ớt để bên cạnh như một thói quen, một điều ắt có như cái bát, đôi đũa vậy. Dù bất cứ hôm đó ăn món gì, có cần đến nước mắm chấm hay không?

Rót chút nước mắm ra cái chén nhỏ, mùi thơm mằn mặn bốc lên, như ngửi thấy cả quê nhà, sao mà nó gợi tình, gợi cảnh thế, nó Việt Nam quá đỗi. Không có chén nước mắm, bữa ăn không gọi là đầy đủ được và lại càng không phải bữa ăn của một gia đình Việt Nam. Đĩa thịt, đĩa cá, bát canh, đĩa xào, bầy đầy bàn. Nhìn đi, nhìn lại, vẫn như thiêu thiếu một cái gì? À, thì ra thiếu chén nước mắm. Thế là chưa ngồi xuống ghế được.

Ai đó cất tiếng:

Chưa có nước mắm.

Hôm nay, có món nào cần chấm đâu.

Sao lại không, cứ mang nước mắm ra đây, thế nào cũng cần đến.

Ngự Thuyết: Đồi Xanh



Từ Quận Cam(Orange County) thuộc Nam California lên hướng Bắc để đến những vùng như Bakersfield, Fresno, Montery, San Jose, Milpitas, Fremont, v.v..., trước hết phải qua những ngọn đèo khá dài thuộc Quận Los Angeles (Los Angeles County) nằm ven các rặng núi chập chùng. 

Năm nay trời lạnh. Hơn nữa, khác với những năm hạn hán trước, có nhiều cơn mưa vào thời gian giao mùa giữa năm 2018 và năm 2019, cho nên tuyết đổ nhiều. Tuyết phủ kín non cao. Tuyết nằm rải rác trên những đỉnh núi, sườn đồi chạy sát hai bên xa lộ 5, nơi thì trắng xóa một màu, nơi thì chen lẫn nhiều mảng màu xanh, đen, đậm, nhạt, của cây cỏ, của đất đá. Nhiều nơi trông như da cóc sù sì, như da ểnh ương nhòe nhoẹt rong rêu.

Nhưng khi xe đổ dốc sắp qua khỏi ngọn đèo cuối cùng, một cảnh tượng hết sức lạ lùng bày ra trước mắt. 

Sau lưng ta, thế giới cũ, là màu sắc hỗn tạp như vừa nói. Trước mặt ta, dưới kia, dưới thung lũng mênh mông, một màu xanh bao la bất tận trên đó xa lộ 5 trông như sợi chỉ màu đen chạy luồn lách khi ẩn khi hiện. Ta như vừa lạc vào một cõi khác, một chốn bồng lai. Những ngọn đồi xanh uốn mình êm đềm, dịu dàng; những cánh đồng xanh nối tiếp nhau đến tận chân trời.

Phạm Phú Minh: Trương Vĩnh Ký từ chối vào quốc tịch Pháp

Những dòng cuối bức thư Trương Vĩnh Ký từ chối vào quốc tịch Pháp

Trong khi tìm kiếm tài liệu để thực hiện cuốn Kỷ Yếu cho cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký tổ chức vào ngày 8 tháng 12 năm 2018 tại Nam California, chúng tôi được Gs Phạm Lệ Hương, quản thủ thư viện của Viện Việt Học, trao cho một tài liệu rất quý vừa tìm được : đó là bản chụp bức thư 18 trang viết tay của ông Trương Vĩnh Ký, ghi ngày gửi là Tháng 10, năm 1881, người nhận là ông Blancsubé, Đại Biểu Nam Kỳ, là người đã đề nghị ông Trương Vĩnh Ký vào quốc tịch Pháp. Nội dung bức thư là từ chối đề nghị của ông Blancsubé. 

Bức thư viết bằng tiếng Pháp này, theo ý chúng tôi, là một văn kiện quan trọng giải thích cho giới chức người Pháp, và rộng hơn, giải thích chung cho tất cả mọi người hiểu tại sao mình không thể vào quốc tịch Pháp, bằng những lý luận và phân tích rất chặt chẽ dựa trên văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Ông viết (qua bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Bích Thu) :

"Cách tốt nhất để đo lường tầm quan trọng của sự cân nhắc của thành phần An Nam không theo Thiên Chúa Giáo là nhắc nhở đến những căn bản của định chế gia đình An Nam.

Tóm lại có 3 điểm chủ yếu như sau :

1 Tầm quan trọng của tổ tiên 

2 Quyền uy của người cha

3 Lòng hiếu thảo của con cái 

Ba điểm này liên quan mật thiết với nhau đến mức là việc xóa bỏ bất cứ một điểm nào cũng sẽ hủy diệt toàn bộ cấu trúc xã hội."

(Người trích làm đậm một số câu)

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

Đàm Trung Pháp: Uy Vũ Bất Năng Khuất



Theo Mạnh Tử, chỉ dấu quan trọng nhất của một người quân tử là lòng can đảm vẫn duy trì được nguyên tắc sống cao cả của mình bất chấp những đe dọa của vũ lực bạo tàn. Chỉ dấu bất khả tư nghị của khí tiết ấy được từ vựng Hán-Việt mệnh danh là “uy vũ bất năng khuất” (威武不能屈).Thi nhân lỗi lạc Vũ Hoàng Chương (1915-1976) đã lộ rõ khí tiết này khi ông dám làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn” để châm biếm “bên thắng cuộc” nhân dịp ông nghinh xuân Bính Thìn 1976 tại quê nhà. Và như đã tiên đoán, bài thơ miệt thị chế độ mới một cách công khai ấy đã khiến Vũ Hoàng Chương bị chúng bỏ tù cho đến lúc kiệt lực, cận kề cái chết. Năm ngày sau khi được thả, ông qua đời tại nhà vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.

Mời quý độc giả thưởng lãm bài thơ đường luật viết về tết cuối đời mang tên “Vịnh Tranh Gà Lợn” của Vũ Hoàng Chương – cùng với sự hiểu biết và suy luận hạn hẹp của tôi – dưới đây:

VỊNH TRANH GÀ LỢN

1. Sáng chưa sáng hẳn tối không đành

2. Gà lợn om xòm rối bức tranh

3.  Rằng vách có tai thơ có họa

4. Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh

5. Mắt gà huynh đệ bao lần quáng

6. Lòng lợn âm dương một tấc thành

7. Cục tác nữa chi ngừng ủn ỉn

8. Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Nguyễn Văn Thà: Người Con Gái Quốc Mẫu 2



Đêm nay, đi làm khuya về, ăn qua loa, tắm nước ấm, bận áo thơm, trèo lên tầng ba sát mái, chui vào chăn êm, nhìn vầng trăng phơi phới nằm trinh trong trong bầu trời trong thật trong và tưới vàng lai láng xuống mặt đất thanh sạch sau trận tuyết sung mãn đầu hôm. Trăng tâm tư chập chờn những thoáng mây vàng kim cổ, không như những năm trước, giờ nầy người thân từ Việt Nam hay gọi qua: chuyện thương nhớ thân tình, chuyện nhọc lòng, hay tin báo tử. Chuyện thân tình thương nhớ dần phai, chuyện nhọc lòng Nam chẳng làm gì được, nên điện thoại từ Việt Nam hầu như ngưng hẳn, chỉ còn chuyện báo tử chẳng đặng đừng. Mới năm ngoái đây tin báo thằng cháu, con của em gái nghèo nhất mà Nam thương nhất, học đại học sắp ra trường bị xe tắc xi đụng cán chết. Mấy tháng sau lại có tin con của chị gái đi biển, gặp bão, mất tích. Rồi tin mẹ anh chết. Toàn tin báo tử nửa đêm. Anh đâm sợ chuông điện thoại nửa đêm; cha Nam nay cũng yếu lắm rồi. Anh chẳng những chưa đền đáp được gì, mà còn là nỗi thất vọng dài lâu cho các ngài. Nhưng đêm nay trăng khuya sáng khác thường giữa trời thủy tinh, đất tịnh tâm, làm anh quên hết cơn mệt nhọc, chuyện buồn phiền hằng ngày. Anh ngẫm nghĩ: nghĩ cho cùng phải đi làm cực nhọc, nhờ những lúc như thế nầy, anh cảm thấy đời này có chút gì đáng sống, nếu không, mình chỉ như cái máy nổ nổ, chạy chạy, nổ nổ, chạy chạy, rồi hao, rồi hư, rồi cuối cùng bị quăng vào đống phế thải, đó là chưa kể còn bị khục khà khục khặc trước khi sụm vì đủ mọi chuyện. Anh may mắn hơn vì còn có vầng trăng từ thiên cổ cho anh muôn hộc mỹ cảm đủ để trung hoà phần nào cái cuồng lưu ác độc của cuộc đời đầy dẫy những con người Thượng Đế dựng nên chẳng qua để dùng như những tay giác đấu giết nhau trong hí trường của Ngài. Đang nghĩ lan man như thế thì có chuông điện thoại. Nam giật mình, lòng trĩu nặng chờ tin báo thương, báo tử. Nhưng là thằng Nam Nhỏ, cháu gọi Nam bằng cậu, nó cười vui vẻ:

”Cậu ngủ chưa cậu?”

”Chưa, cậu đang ngắm trăng.”

”Đúng là cậu!”

Phùng Minh Tiến: Mùa Xuân và Bồ Tát

Hình minh hoạ,  Ulet Ifansasti/Getty Images

Mùa Xuân giữa phố đông người
Tay mang bình bát, niệm lời vô ngôn
Tạ lòng chút nghĩa tri âm
Chân quan phố chợ, cát lầm biển dâu
Tiền thân chết buổi trăng sầu
Trăm năm gió bụi, biết đâu tương phùng
Người đi, bóng ngả chập chùng
Núi non cản bước, đò sông ngăn bờ
Người đi, tâm lặng như tờ
Bước chân khổ hạnh phai mờ tử sinh.

Nguyễn Viện: Tại sao Vũ Lập Nhật?

Hôm rồi, an ninh gặp tôi hỏi: “Vũ Lập Nhật là ai?”, nhân khi “chàng” nhận giải thưởng thơ của Văn Việt lần thứ 4. 

Không chỉ an ninh mà cả Ban Giám khảo của Văn Việt cũng không biết Vũ Lập Nhật là ai.

Tôi “thành thật khai báo” nè. 

Cách đây khoảng 10 năm, một bạn thơ trẻ dẫn theo một cô gái đến quán café Bông Giấy, nơi đám “giang hồ” văn nghệ vẫn ngồi với nhau, mỗi ngày. Cô được giới thiệu là A Dĩ. (Thấy “gái” là sáng mắt ra). Một cô gái cực kỳ e lệ. Lúc ấy cô mới chỉ mới viết được hai truyện ngắn. Tôi bảo gởi cho tôi xem. 

Hơi lạ. Đấy là ấn tượng đầu tiên của tôi về tác phẩm của cô. Dân Nam kỳ, nhưng viết chính tả cực kỳ chuẩn xác. Câu cú tuyệt đối hoàn chỉnh. Cô vừa tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội Tp. HCM. 

Tôi gởi truyện của cô cho Hoàng Ngọc-Tuấn bên tienve.org. Tuấn đăng ngay. 

Thêm mấy truyện nữa. Tuấn đều đăng hết. 

Tôi nói với bạn bè, một phát hiện mới. Nhưng mọi người ra vẻ dè bỉu. Cũng giống như trường hợp của Lưu Mêlan, trước đó. 

Phạm Phú Minh: Âm Thanh Trong Tình Quê

Hình minh hoạ, Internet

Có những loại âm thanh xem ra rất quen thuộc nhưng người ta chưa bao giờ nghe, mà chỉ đọc thấy trong văn chương. Tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng tù và chẳng hạn, không phải ai, nhất là những người sinh ra từ khoảng giữa thế kỷ này (1) và lớn lên ở thành phố, đều đã có dịp nghe, mặc dù vẫn hát hoặc nghe hát:

Chiêng trống cồng mừng anh lên rẫy xuống đồi xuống nương đi cày...

Hoặc đọc trong thơ bà Huyện Thanh Quan:

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.

Dám chắc hầu hết học sinh nếu không được thầy giảng cho thì cả đờicũng không hiểu được “tiếng ốc” là gì, chứ đừng nói đã nghe nó. Nhiều người có thể còn hỏi: con ốc mà kêu được sao?

Có những loại âm thanh không bao giờ phổ biến, chỉ có tại một vùng nào đó thôi, người nơi khác đọc thấy tha hồ tưởng tượng, nhưng mỗi người tưởng tượng một khác, thậm chí có trường hợp lại hiểu sai đi. Hồi ở trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, tôi khá thân với anh Sĩ, một sĩ quan cảnh sát người Nam rất giỏi nhạc lý, trước kia có chân trong ban nhạc của Cảnh sát ở Sài Gòn. Một buổi chiều đi làm về, cảnh trí hai bên đường êm đềm bát ngát, một bên là nương sắn và đồi núi, một bên là dòng sông Mã trong xanh, chúng tôi nghe trên đồi vẳng xuống hàng loạt tiếng “lốc cốc... lốccốc...” không đều nhau, lúc thưa thớt, lúc rộn rã dồn dập, tôi nói với anh Sĩ:

“Anh có bao giờ sống đúng với cái cảnh ông Phạm Duy đã tả trong bài Nương Chiều như hôm nay chưa:

Chiều ơi, lúc chiều về rợp những nương khoai
Trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Trần Mộng Tú: Ngày Tháng Ngậm Ngùi (Nguyễn Văn Thực dịch sang tiếng Nauy)

Nguyễn Văn Thực; Lời người dịch: Trần Mộng Tú làm rất nhiều thơ, có nhiều bài hay, nhưng bài Ngày ThángNgậm Ngùi là một bài đạt tới mức thượng thừa. Tôi chuyển ngữ bài này ra tiếng Na Uy với chút ít hiệu đính bởi Lill Eilertsa. Hy vọng độc giả Na Uy một ngày nào đó sẽ biết đến tài thơ của nữ sĩ không thua gì các thi sĩ nổi tiếng Na Uy mà tôi đã đọc, có khi còn hơn.– Nguyễn Văn Thực
Hình minh hoạ, FreePik

SØRGMODIGE DAGER 

Trần Mộng Tú
Gjendiktet av Nguyễn Văn Thực og Lill Eilertsa

I januar kjøpte jeg blomster, stearinlys.
Tente røkelsespinner for å invitere forfedrene tilbake.
Røykduft i svevende skyer. 
Hvilken tråd bandt en landlig sjel

Februar kom til hagen, lyttende til vinden
Vekket hver tynn blomsterbusk
Spurte fuglen dypt i reiret
Hva den ønsker på vingene

Nguyễn Văn Thà: Người Con Gái Của Quốc-Mẫu



Văn đã hứa với Nga một hôn lễ, Nga bảo, không cần lắm, Văn hứa với Nga một đám cưới, Nga bảo, cũng không cần lắm, chỉ cần hai đứa được sống chung với nhau. Sao lại không, khi hai người yêu nhau đến mức ấy?

Văn ra tù. Về tới nhà, mấy đứa cháu reo lên: Cậu về, cậu về bà ngoại ơi! Những đôi mắt hàng xóm từ trong nhà họ nhìn ra ái ngại, và anh cũng không thấy mẹ ra đón đầu ngõ, líu ríu cầm tay dẫn anh vào mái ấm nhà xưa như trong những tháng ngày tù tội anh vẫn hình dung. Anh hơi ngạc nhiên vì hồi ở tù, ngoài gia đình thăm nuôi đã đành, Văn còn nhận được những lời hỏi thăm của bà con chòm xóm và những món quà nho nhỏ kèm theo: bình dầu tràm, hủ ruốc sả, túi khoai deo..., có anh hàng xóm còn gởi tặng cuốn từ điển Nga - Việt, tuy nhiên từ hồi mấy người cùng làng được thả, cô em gái, như những lần trước vẫn thay gia đình lên thăm, nhưng qua vẻ mặt buồn buồn của nó, anh biết có cái gì đó không ổn, nhưng Văn không dám hỏi, và cũng không muốn hỏi. 

Văn vừa vào nhà đã thấy mẹ mình ngồi trên sập gụ, nghiêm trang khác thường, và bà đanh mặt lại:”Mi không được lấy cái con đầu trộm đuôi cướp đó. Mi mà lấy, tau cắn lưỡi tau chết!”

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

Trần Mộng Tú: Cánh Chim Mùa Đông

Hình minh họa, Chris Jackson/Getty Images

Anita đứng rửa đĩa chén, cô vừa rửa vừa nhìn ra bên ngoài cửa sổ ngắm nghía con chim đang đậu xuống, bay lên, ở cái máng đựng thức ăn treo trên cành tùng. Sau trận tuyết tuần qua, hai hôm nay trời có nắng ấm hai đứa con gái nhỏ của cô đòi mẹ treo cái máng thức ăn gọi chim trở về. Con chim mới đẹp làm sao! Cả mình nó mầu nâu nhạt nhưng phía dưới ngực nó lại có mầu đỏ, trên cái đầu như một hòn bi lông nó lại có mầu xám tro, cái mỏ nó cũng có mầu đỏ, mình nó tròn như một quả trứng gà nhỏ. Nó mổ những hạt kê tung cả lên, rồi đập cánh tới tấp. Anita nghĩ nếu nó đứng yên thì nó giống như một món đồ chơi, một con chim bằng nhựa cho trẻ con chơi mà thôi. Cô chỉ vừa cúi xuống tráng nước mấy cái đĩa, ngửng lên thấy nó bay vụt vào đám lá trên cao rồi biến mất, cô cố dõi mắt vào những tán lá rậm nhất tìm nó mà không thấy, nó mất tiêu đâu rồi. Bất giác cô so sánh với chồng mình. Anh Jose, anh cũng lại mất tiêu rồi. Đây không phải là lần đầu tiên anh biến mất mà là lần thứ hai . Năm năm trước anh cũng bị gửi về nước khi bị bắt vì đập phá đánh nhau với bạn trong một quán rượu. Ba năm sau ngày đó, một tối anh lại xuất hiện trước cửa nhà. Cô không biết bằng cách nào mà anh chui qua được hàng rào biên giới vào Mỹ một lần nữa. Lần này khó có hy vọng anh trở lại được. 

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Vũ Thư Hiên: lời xưng tội

Hình minh hoạ, FreePik

Khi linh mục già dò dẫm từng bước qua được những bậc thềm khấp khểnh của nhà kẻ liệt thì trời đã khuya lắm. Mấy vệt sáng vàng vọt của đèn dầu lọt qua khe cửa làm cho nó chìm thêm trong bóng tối mịt mùng. Trong đêm tối ông chỉ có thể cảm chứ không thấy được rằng nơi ông tới là một thôn nhỏ đìu hiu với những mái tranh thấp thoáng dưới tán lá rừng rậm rạp.

Linh mục vươn người vặn mình cho đỡ mỏi, mấy đốt sống kêu lục cục. Chủ nhà dựng chiếc Honda dưới thềm, bước vội lên đỡ ông :

- Trình cha, xin cha cẩn thận chỗ bậu cửa.

Linh mục ừ hữ gật đầu. Ông mệt lử sau hai chục cây số ngồi ôm eo vượt con đường hết đèo lại suối lổn nhổn đá và rễ cây. Không hiểu sao người ta lại cứ phải tìm ông, trong khi cách đây vài thôn có một xứ đạo khác, tuy không lớn, với một linh mục trẻ? 

Linh mục có quyền khước từ cuộc viếng kẻ liệt mà không bị ai trách cứ. Ông đã quá già. “Cha lẫn rồi”, cả xứ đạo ồn lên sau một lần ông đứng trên toà giảng lẩm bẩm hồi lâu những câu không ai hiểu, mặc cho đàn chiên ngẩn ngơ phía dưới. Cha bận thông công với Đức Chúa Giê Su, bõ già giải thích, nhưng chẳng ai tin. Bõ cũng già, có dễ còn già hơn cả cha. Bề trên vội cử một linh mục khác về thay chân ông. Cha trẻ này mới được truyền chức. Mọi việc bây giờ cha phó làm hết. Nói theo cách thế tục, Toà giám cho cha xứ về hưu. 

Sau tiếng mở then hấp tấp, một người đàn bà rũ rượi, cây tọa đăng giơ cao trên đầu, hiện ra trong khung cửa.

- Con xin phép lạy cha.

Nguyễn Đức Tường: Cỗi rễ bậc hai

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua…

Mỗi lần Tết đến, tôi thường có dịp đọc lại bài thơ Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên in trong một tạp chí nào đó. Mùa xuân và hoa đào. Tác giả đã mượn hình ảnh hoa đào trong một bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ, nhưng, oái oăm thay, đáng lẽ thiếu nữ, ông lại cho hoa cặp kè với một ông đồ già. Người thiếu nữ trong mấy câu thơ đài các của Thôi Hộ đến rồi đi, như con thoi; ta không biết cô đẹp xấu bao nhiêu nhưng qua nét chấm phá của nhà thơ đời Đường, ta tưởng tượng là cô phải đẹp… ghê lắm. Còn Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên? Qua năm khổ thơ bình dị, mộc mạc, ta hình dung một nhà nho cũ kỹ, khăn đóng, áo the, thoáng thấy lại một thời thanh bình với mẫu người mẫu mực, một đời sống vật chất eo sèo, đạm bạc nhưng an nhàn, lương thiện. Đem so sánh với thiếu nữ của Thôi Hộ, tất nhiên ông đồ bị lỗ vốn quá rồi tuy không đến nỗi là một “kẻ thân tàn ma dại” đang “đi về cõi chết” như Hoài Thanh đã viết. Riêng đối với tôi, Ông Đồ Già bao giờ cũng mới, luôn luôn cho tôi một cảm giác bùi ngùi, man mác khó tả. Nó cũng khiến tôi nghĩ đến thày giáo Công.

Thày giáo Công là bạn sơ giao của ông nội tôi. Khi tôi biết ông vào mùa hè năm 1943, ông đã về hưu dù tuổi chưa lớn lắm. Khác với ông đồ già của Vũ Đình Liên, một hình thái trừu tượng, tượng trưng một cái gì đã qua, thày giáo Công là một người rất thực, có đầy đủ phong cách chắt lọc của một nhà Nho, bao gồm chữ nghĩa, nhân cách cùng nếp sống. Sung túc hơn, ông không phải viết chữ kiếm ăn. Ông là một trong những người cuối cùng còn sót lại từ trường thi Nam Định; ở trường thi này, tôi nghe nói, ngoài thi phú, thí sinh còn phải thi cả toán pháp. Có lẽ vì vậy, trong trí hiểu biết bé nhỏ của tôi, ông là một người rất giỏi toán, đã chỉ bảo tôi nhiều điều mới lạ. Tất nhiên ông là một ông đồ vì ông cũng dạy chữ Nho, nhưng là một ông đồ “tân thời” vì ngoài chữ Nho, thượng vàng hạ cám, ông còn dạy nhiều thứ khác, kể cả tiếng Anh, cho vài đứa nhỏ nữa.

Hoàng Xuân Sơn: tơ chỉ rối

Hình minh hoạ, FreePik
đừng xôn xao chữ nghĩa
lúc về sáng, nửa đêm
bạn sẽ là con rối
giữa mộng thực triền miên

chữ mù trong tự điển
héo lánh lên thượng nguồn
không còn ai muốn giở
một chương hồng sách thơm

bạn nhắc cái ấm đất
làm nhớ ông đồ bể
ôi thời xuân non tơ
run run từng áng lệ

giờ chỉ nùi ngủ tạng
trong mê cung lần đường
vẫn một ngày như thể
chết rộn ràng tai ương

Phạm Xuân Đài: Đọc “Bên Giòng Sông Hằng” của Endo Shusaku (Viễn Đằng Chu Tác)

Về chủ đề đạo Công giáo trong xã hội Nhật Bản hay một Tâm-Thức-Mới cho thời đại

Nguyên tác cuốn sách này trong Nhật ngữ là “Thâm Hà” (Sông Sâu). Trong ngôn ngữ Hán Việt, và chắc trong Nhật ngữ cũng thế, hai chữthâm hàgợi một cảm tưởng mênh mông và sâu thẳm. Nguyễn Văn Thực dịch là “Bên Giòng Sông Hằng” cũng đã rất khéo để nói lên nội dung câu chuyện một nhóm du khách Nhật Bản đến thăm sông Hằng bên Ấn Độ, nhưng chính người dịch cũng nhận thấy chữ “thâm hà” mới diễn tả được cái chủ đề đích thực về tâm linh rất lớn của tác giả trong cuốn tiểu thuyết này.

Viễn Đằng Chu Tác (1923-1996) là một trong những nhà văn Nhật Bản được độc giả Nhật và Tây phương biết đến và yêu mến còn hơn cả Kenzaburo Oe, nhà văn Nhật đoạt giả Nobel văn chương năm 1994. Là một người theo đạo Chúa, đề tài lớn theo đuổi suốt sự nghiệp sáng tác của ông là sự khó khăn của Kitô giáo trong tiến trình hội nhập vào tâm thức Nhật Bản. Đề tài này manh nha từ những cuốn Người Da Trắng - Shiroi Hito Người Da Vàng - Kìroi Hito (viết trong thập niên 50); nhưng phải đến cuốn Sao Chúa Mãi Im (Trầm Mặc) - Chin Muku, viết năm 1966, đề tài này mới được khai thác một cách mãnh liệt và được xem là khá “bạo.” Chúng ta hãy lược qua tác phẩm này, trước khi đề cập đến hậu thân lớn lao và sâu sắc của nó là cuốn Bên Giòng Sông Hằng.

Viễn Đằng Chu Tác đã nghiên cứu nhiều sử liệu truyền giáo của giáo hội La Mã vào thế kỷ 16 và 17 trên đất Nhật để viết nên cuốn tiểu thuyết Sao Chúa Mãi Im(cũng đã được Nguyễn Văn Thực dịch sang Việt ngữ, Anh Em ở Na Uy xuất bản năm 1998), cuốn sách mà Graham Green đã phát biểu sau khi đọc xong: “Theo tôi tác phẩm này là một trong những tác phẩm hay nhất thời đại chúng ta.”

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Cô Dâu

Hình minh hoạ, FreePik

Khi cô vừa ngồi yên vị trên ghế máy bay, hãng hàng không Korea Airline, sau một hồi chật vật đẩy cái túi xách bằng da lớn quá khổ mà mẹ cô tìm hết cách nhét các thứ vào, bắt cô mang rất nặng, sau khi đã phải năn nỉ nhân viên soát vé, lấy bớt đồ lỉnh kỉnh ra cho nhẹ, để được mang nó vào máy bay thay vì gởi ở khu vực hành lý, sau khi thắt dây lưng an toàn, đưa mắt lo lắng nhìn qua cửa sổ máy bay, mây lờ lững, ngay vào lúc ấy thôi thì mọi người, những bà dì, bà cô, chị em họ, nói chung là tất cả, đều đã có cảm giác rằng cô đã xuống đến phi trường Seattle, đã bước đi trên đường phố tráng lệ, đã lái một chiếc xe hơi bóng nhoáng sơn màu đỏ chói, đã nói tiếng Anh như gió, đã mua được một căn nhà sáu phòng ngủ trên đồi, và dĩ nhiên một người như thế thừa khả năng để bắt đầu gửi tiền về Việt Nam cho mẹ cô, cho mọi người. 

Sau khi cô đã đi rồi, mọi người còn đứng tụ lại trên khoảng sân nhỏ, có người ngồi ở bậc cửa, vì căn nhà quá nhỏ không đủ chỗ để ngồi, những bà mẹ trẻ vừa vạch áo cho con bú, vừa lấy tay đập muỗi trên má đứa trẻ, trở nên bớt cằn nhằn, cười nói vui vẻ và dễ dãi với những đứa bé lớn hơn, nghịch ngợm, vì nghĩ đến một tương lai mơ hồ chờ đợi họ. Có người tưởng tượng những cái bóp da nho nhỏ xinh xinh, có người mơ màng những đôi giày cao gót, cô đã hứa với họ. Cha cô bảo ông chỉ thích một cái ra dô để nghe tin tức, ông nói thế nhưng cô biết là ông cần nhiều thứ hơn nữa. Mẹ cô không nói gì cả, nhưng đó là sự kín đáo của một người lãnh đạo, tổ chức từ đầu đến cuối một công việc với mục đích rõ ràng. 

Tâm Thanh: Chân dung một cô gái Việt Nam

Hình minh hoạ, FreePik

Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao. Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách.

Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.

“Nguyễn Thị Vân.”

“Ngày sanh?”

“25.12.1988.”

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Đàm Trung Pháp: Hội Chứng Xung Khắc Văn Hóa Trong Một Bài Thơ Xuân

THANH NAM tên thật là Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định và mất năm 1985 tại Seattle.Ông là một trong những người viết văn và làm thơ được yêu chuộng nhất tại Saigon trước 1975. Là tác giả của hơn 20 tiểu thuyết được nhiều người đọc, Thanh Nam còn sáng tác những bài thơ mượt mà thắm thiết tình người. Người ta quý mến ông vì tính trung thực trí thức với ngòi bút – Thanh Nam viết về cuộc đời mà ông đã thực sự sống, không giả tạo không cường điệu. Có thể nói văn và thơ của Thanh Nam phản ánh cuộc đời thực sự. Nhà văn Bình Nguyên Lộc nhận xét là linh hồn Thanh Nam đã “thấm sâu” vào văn thơ của mình (theo Tuần báo nghệ thuật số 36 năm 1966), và nhà văn Mai Thảo từng xác nhận câu “văn là người” áp dụng đúng nhất trong trường hợp Thanh Nam (theo cuốn Chân dung xuất bản năm 1985). 

Trong số những tác phẩm văn chương nhiều người đọc của Thanh Nam, ta có thể kể Bầy ngựa hoang (1965), Những phố không đèn (1965), Mấy mùa thương đau (1968), và Đất khách (1983). Nếu ta cần đọc một tác phẩm để giới thiệu Thanh Nam, tác phẩm đó là thi tập Đất khách xuất bản năm 1983; và nếu ta cần đọc một bài tiêu biểu nhất của thơ Thanh Nam, bài đó là Thơ xuân đất khách mà tôi đề cập đến trong bài viết này.

Thanh Nam sáng tác Thơ xuân đất khách tại Seattle ngày 18 tháng 2 năm 1977, tức là ngày mồng một Tết Đinh Tỵ. Trong văn hóa Việt, ba ngày Tết là thời gian long trọng nhất trong năm mới để dân chúng thờ cúng tổ tiên, viếng thăm bà con và bạn hữu, mặc quần áo đẹp nhất, và vui chơi. Nội dung của bài thơ này lột tả đích thực hội chứng của sự xung khắc văn hóa nơi quê người, cũng như lòng nhung nhớ biếng khuây cho quê mình.