Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Cung Tích Biền: Chuyện Từ Xóm Quê (Tường trình tháng Năm)

“Đất nước tôi, điều luôn tối kỵ đối với nhà đương quyền là ‘Phải sống thành thật và phải tôn trọng sư thật’. Họ luôn đứng phía mặt trái của nó, sự dối lừa. Dụng cái vô lý để triệt tiêu cái hữu lý. Sự dối trá luôn là chiếc áo giáp che chắn sự sợ hãi”. 

1


Lão Trần đứng trên đỉnh đồi hoàng hôn. Màn đêm sắp ăn hết mặt trời. Mặt trời, lúc này trở nên hiền từ, một tròng mắt đỏ hỏn, an phận chìm dần xuống. Mõm núi đen phía trời tây cắt mất từng phần khối máu tròn vạnh. Bóng tối sẽ đầy.

Lão gắng leo lên đồi, để chờ sóng. Chỉ một ít sóng hắt hiu, chập chờn lúc có lúc không. Đồi cây trơ trụi, cháy thiêu, vì lòng trời bất nhẫn. Đã nhiều tháng liền không giọt mưa. Ai đã “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”.

Mấy tháng trước đứa cháu ngoại tặng lão một chiếc điện thoại loại rất cũ, hiện nay chẳng mấy ai xài. Thực ra lão, nơi hoang dã, lão chắng cần “cái loại trang trí tân thời” này. Nhưng cháu tặng, ông phải vui mà nhận. Cũng như những ông già lọng cọng của thế hệ ông, nội việc lưu cái số điện thoại của một ai vào máy, trả lời một tin nhắn đã rất chậm chạp, mày mò rất khó khăn. 

Hóa ra muốn hữu dụng, cục nhựa đang cầm trong lòng tay lão già phải có sóng. Một vài cán bộ ở xa đôi ba tháng về thăm nhà, bảo rằng, “Muốn bắt được sóng điện thoại, phải leo lên đỉnh đồi”. 

Một chiều, Lão Trần nhận một tin nhắn, từ đứa cháu đang ở rất xa gởi về.

“Ông Ngoại hà, cháu tin cho ông biết một tin rất buồn, đau đớn vô cùng. Có hằng nghìn “cái chết” dọc bờ biển Hà Tĩnh. Hằng trăm nghìn xác chồng lên nhau đầy ngập bờ biển mấy tỉnh miền Trung.” 

Thy An: Tôi cần

Hình minh hoạ, RONALDO SCHEMIDT/AFP/Getty Images

chưa bao giờ tôi cần thắp một nén nhang như lúc này
vào những đêm khó ngủ
nén nhang cắm vào những góc tối của tâm thức
nơi những viên sỏi đang khóc
và những tế bào ngọ nguậy đòi giao hợp
tôi nhìn thấy những hài nhi chưa sinh ra đời
mà nụ cười đã mang nét buồn từ trong bụng mẹ
thế giới kêu than về ô nhiễm, về chiến tranh
về di dân và trăm thứ khác
chưa bao giờ tôi cần nghe về thiên đường như lúc này
ông cha, ông sư không nói được
có thể em là người duy nhất nói được điều này
vì em là người chân thật
chạm vào tim tôi bằng những lời chân thật

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, IV - Phú Yên

Bãi biển Đại Lãnh

Cristoforo Borri


Từ Nha Trang chúng tôi đi dọc bờ biển Phú Yên lên Quy Nhơn, qua Vạn Giã, Đại Lãnh, Tuy Hòa... cảnh đẹp vô cùng, bao ghềnh đá, đầm, vịnh, mỏm, bãi... không bút nào tả hết được.

Phú Yên là vùng đất địa đầu phía Nam mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1600-1613) đã chinh phục đầu thế kỷ XVII. Biên giới phía Nam lúc bấy giờ tới Đèo Cả. Năm 1611, Nguyễn Hoàng mới đặt phủ Phú Yên, cho Văn Phong (không rõ họ) làm Lưu thủ. Năm 1629, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635), Văn Phong làm phản, bị Nguyễn Phước Vinh (con trai Mạc Cảnh Huống và con rể Chúa Sãi, vì có công nên được đổi thành họ Nguyễn Phước) dẹp tan. Chúa Sãi lập thêm Trấn Biên (Khánh Hòa ngày nay). Nhà thờ Hà Dừa ở Nha Trang, có phong cách của những nhà thờ đầu tiên trên đất Việt (theo sự mô tả của giáo sĩ CristoforoBorri) vì có những cột toàn bằng gỗ lim, thổ sản vùng này.

Gành Đá Điã ở Phú Yên là một thắng cảnh rất lạ, đó là một quần đá, có đến hàng vạn điã đá chồng chất lên nhau, với những hình thù kỳ dị ngoạn mục. 

Nhưng về di tích tôn giáo, đáng kể là nhà thờ Mằng Lăng.

Nhà thờ Mằng Lăng ở Phú Yên, không phải là nhà thờ cổ như Hà Dừa, nhưng bên cạnh nhà thờ có một cái hang là nơi thờ phụng á thánh André Phú Yên và lưu trữ một bản cuốn sách song ngữ Việt-La Cathechismus (Phép giảng tám ngày) của Alexandre de Rhodes, xuất bản tại La Mã năm 1651. Tinh Việt in lại tại Sài Gòn năm 1961. Bản lưu trữ ở đây là bản in ở Sài Gòn, những chữ quốc ngữ cổ đã bị sửa, không viết theo bản gốc, nên đối với việc nghiên cứu ngữ học, không có nhiều giá trị.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Trịnh Y Thư: Thận Nhiên - Những ghi chép trên tầng thứ 14


1.


Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí văn học The Paris Review cách đây khá lâu, nhà văn Nhật Hakuri Murakami có một phát biểu rất ý nhị, “Cái hay của việc viết văn là bạn có thể mơ trong lúc thực sự đang tỉnh táo.” Tôi thấy điều đó quá đúng, bởi nếu bạn không mơ mộng, không mơ ngày, không sống với không-thời-gian của tưởng tượng bay bổng trong cõi huyền ảo, phi thực tại thì có lẽ bạn không nên chọn nghiệp văn. Đối với những người cầm bút như Murakami, viết tức là mơ, là mộng du trong chốn phi thực. Sự khác biệt với mộng du trong lúc ngủ là ý thức vẫn hiện hữu, mơ và thực bởi thế hòa quyện nhau, trí tưởng tượng vượt ra ngoài kiểm soát của lí trí. Nhờ đó, người viết không nhất thiết quan tâm nhiều đến cái giống thật, không phải bám sát sự thật để có thể dễ dàng mạo hiểm vào những cảnh giới mới của sáng tạo. Tôi đồ khi viết cuốn tiểu thuyết Những ghi chép trên tầng thứ 14 [Văn Học Press xuất bản, 2019] nhà văn Thận Nhiên của văn học Việt Nam hải ngoại cũng ở trong một tâm cảnh tương tự. Chính vì thế, mặc dù cuốn tiểu thuyết phản ánh khá nhiều đời sống thật của tác giả ngoài đời – khiến người đọc không ngớt thắc mắc phải chăng nhân vật chính diện ở ngôi thứ nhất ấy chính là tác giả – nhưng thật sai lầm nếu chúng ta xem đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện, và càng sai lầm hơn nếu chúng ta đánh giá nó dưới góc độ hiện thực.

Ngay ở câu văn mở đầu cuốn tiểu thuyết, “Sài Gòn là một thành phố có nhiều ma nhất trên thế giới…” nhà văn đã ngầm báo hiệu cho chúng ta biết ngay những gì anh viết trong cuốn sách chẳng có gì là “chân” mà phần nhiều có khả năng là “giả.” (Nó khiến tôi liên tưởng đến câu văn mở đầu cuốn The Metamorphosis của Franz Kafka.) “Giả” ở đây không có nghĩa là fake, mặc dù chúng ta đang sống trong một thời đại mà ngay cả tình yêu cũng fake, không “thật” chút nào. “Giả,” hay hư cấu, hay dấn thêm bước nữa – siêu thực, phi lí, phi thực – trong tiểu thuyết là cái gì khiến óc tưởng tượng nổ bùng như trong giấc mơ khiến chúng ta có thể truy tìm một hay nhiều khả thể khác bên dưới cái mặt bằng hiện thực phẳng lì, nhàm chán.

Trần Mộng Tú: Thế Giới Của Mợ

Gửi chị Nga và Lan Hương

Hình minh hoạ, FreePik

Chiều hôm nay con mang thức ăn đến cho Mợ, Mợ không nhận ra con. Thật ra lâu lắm rồi Mợ đâu có nhận ra bất cứ ai nữa. Mợ ngoan hơn cả một em bé. Em bé còn biết đòi cái này, vứt cái kia, còn Mợ thì không. Khi bón thức ăn thì Mợ há miệng rồi ngậm miếng ăn, không nhai, không nuốt ngay nhưng không nhè, không phun ra. Mợ không khóc, không phàn nàn, không theo ai và không vòi vĩnh điều gì. Mợ lơ mơ trong một giấc mơ dài, một thế giới riêng biệt mà con không có quyền vào. Mắt Mợ nhìn nhưng Mợ có thấy gì không? Tai Mợ nghe nhưng Mợ không đáp lại. Mợ ngồi dậy được nhưng con phải đỡ Mợ thì Mợ mới ra ghế ngồi cho con bón, còn không thì Mợ vẫn chỉ nằm nghiêng quay mặt về bên phải, nhìn vào bức tường, Mợ nằm bất động dưới cái chăn mầu tím.

Tôi nằm nhìn vào bức tường trước mặt, tôi nhầm rồi, không phải bức tường. Đó là một dòng sông mùa xuân, tôi thấy một bầy cá mầu vàng và những người đàn bà mặc áo tím, họ cùng bơi với nhau trong sông dưới những bụi cây dương sỉ. Tôi nghe thấy bầy cá cất tiếng hát, những người đàn bà hát theo, họ vừa hát vừa bắt đầu bắc chảo xào cốm, làm những chiếc bánh gói lá chuối xanh biếc. Tôi và con gái tôi cùng đến phụ làm. Chúng tôi vừa làm bánh vừa hát và bơi chung với bầy cá vàng, tiếng hát vang vang trong dòng sông mùa xuân đó. 

Tường Linh: Dấu Lặng

Hình minh hoạ, Freepik

Từ em rớt lệ trên tơ
Một dây đàn đứt, đôi bờ chia phôi
Gọi tình, tình đã lìa ngôi
Gọi đò, đò chuyển bến bồi, không qua
Từ em rắc lệ trên hoa
Vàng hiên cúc nhớ nhạt nhòa màu xưa
Tiếng mùa lạnh tiếng mưa đưa
Tiếng vườn bặt tiếng gà trưa thuở nào
Bướm nghiêng cánh mỏi bên rào
Tường vi héo hắt, trúc đào ngẩn ngơ
Từ em tắt khúc xuân mơ
Phím bâng khuân phím, trăng thờ thẫn trăng
Giọt buồn chạm giải sông băng
Còn sau dấu lặng vết hằn thanh âm.

Hòa Đa: Tình Muộn

Thầy Hoa lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời quang mây và nắng chan hòa ngoài kia. Hai con sóc đuổi nhau trên cành cây nghiêng qua khung cửa sổ. Trong lòng, thầy có cả chút ngọt ngào lẫn cay đắng. 

Có tiếng lịch kịch trong bếp, giờ này bà Hiên, vợ thầy đang lo bữa trưa. Vẳng tiếng phim bộ léo nhéo. Bà Hiên vẫn vậy, thích vừa xem phim, vừa làm gì đó. Đó cũng là niềm vui riêng của bà sau những giờ trồng cây, nhổ cỏ chăm bón ngoài vườn. Thầy Hoa ít khi tham dự vào những sinh hoạt của vợ. Thảng hoặc, thầy cũng ngồi xem phim với bà, nhưng thường bỏ cuộc nửa chừng vì không xem liên tục, chẳng hiểu đầu đuôi. Với lại, khi không có phim mới, bà lôi phim cũ ra xem đi xem lại. Bộ phim bà ưa thích nhất là phim “Bản Tình Ca Mùa Đông.” 

Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy, ít ra từ ngày hai vợ chồng cùng bốn đứa con thành công trong cuộc vượt biên do người học trò cũ tổ chức. Giai đoạn đầu, nhờ khả năng Anh ngữ, thầy sớm gầy dựng một cuộc sống tương đối thoải mái cho gia đình. Vài năm sau, bà Hiên học nail, đi làm, mở tiệm... thừa thế đang có, bà học luôn nghề tóc, mở tiệm tóc... làm nhiều, khai ít, tiền mặt không bao giờ thiếu. Ngày hai ông bà về hưu, bà sang lại cả bốn tiệm vừa nail vừa tóc, thu về gần triệu bạc, gửi ngân hàng. Các con lần lượt hoàn tất đại học, đi làm, lập gia đình ra riêng, bỏ lại hai ông bà sống trong một căn nhà bốn phòng, hai tầng trị giá gần ba trăm ngàn đã trả đứt. 

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

Trần Mộng Tú: Người khách lạ trong vườn

Sáng nay khi ra vườn sau, tôi khám phá có một người khách lạ, vào ở lại trong vườn mà chẳng hỏi han tôi câu nào. Chị thản nhiên chọn một chỗ sát tường dưới gốc mấy cây Diên Vỹ đang ngập ngừng ra nụ.

Chị giang hai tay gạt đám dăm bào (barks) chung quanh tạo cho mình một cái vòng tròn, chị nằm xuống nhẹ nhàng, rồi mang ra từ hai cánh tay áo mình từng cái trứng, đặt vào nơi cư ngụ mới. Chị nằm ôm những cái trứng vừa lăn ra từ thân thể mình, ôm rất gọn và rất kín.

Tôi không biết bao nhiêu cái. Tôi không dám đến gần sợ kinh động, chị sẽ bỏ đi thì tội nghiệp những cái trứng. Chị mặc một chiếc áo màu nâu, chỗ nhạt chỗ đậm. Chị trông giản dị, không son phấn. Trông chị đúng là điển hình cho một người mẹ. Hai mắt chị tròn xoe khi thấy tôi, trong ánh mắt có điều lo sợ. Tôi không dám lại gần chị. Tôi rón rén đi thật nhẹ vào nhà, nhờ chồng ra chụp hình chị đang nằm ấp trứng.

Cũng phải đi rất nhẹ, không dám nói to mới chụp được tấm hình Mẹ Vịt đang ấp trứng.

Chụp xong hai vợ chồng vào nhà đặt bao nhiêu câu hỏi: Liệu đêm nay có con mèo rừng nào ngửi thấy mùi vịt vào ăn cả Mẹ Vịt lẫn Trứng Vịt không? (vườn nhà tôi phía sau là đường dẫn vào một bìa rừng nên thỉnh thoảng hươu, nai, mèo rừng đi vào vườn tìm thức ăn). Bao nhiêu ngày thì trứng sẽ nở?

Gõ cửa, hỏi ông Google, thì được ông hướng dẫn đầy đủ: Trước tiên không được cho Vịt Mẹ ăn, thức ăn mình đem ra có thể dụ những con thú khác tới ăn, sẽ nguy hiểm cho mẹ con chị.

Trần Mộng Tú: Mẹ Vịt Trong Vườn



Có một bà Mẹ Vịt
dọn vào vườn nhà tôi
núp dưới mái hiên sau
đào một hố ấp trứng
tôi bận việc cả ngày
vẫn thấp thỏm canh vịt
sợ con mèo đi qua
sợ con sóc men đến

Mẹ Vịt tròn xoe mắt
nghiêng tai nghe tiếng động
cánh xòe ôm mớ trứng
nằm như tranh tĩnh vật

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Y Dịch: Chờ đợi

Nếu ai hỏi vì sao tôi bối rối
(Tôi vội vàng giấu giếm chuyện riêng tư)
Ai biết rằng tôi đã có hẹn hò
Người chưa đến tôi vẫn còn chờ đợi
Người đã hẹn mà sao người chẳng tới
Tôi vẫn chờ, và mãi vẫn chờ mong
Tại làm sao? Tôi tự hỏi trong lòng
Tôi cứ phải đợi chờ người lỗi hẹn?
Không dám nhận với lòng mình e thẹn
Uổng công chờ người có đến hay không
Những sáng mây xanh, những buổi chiều hồng
Mắt chờ đợi chỉ thấy màu mây vẩn
Đứng lại ngồi, lòng bâng khuâng ngơ ngẩn
Sợ trời mưa người chẳng đến thì sao
Sợ đường quanh co người lạc lối nơi nào
Buồn, mong, nhớ và lòng xao xuyến lạ…
Người đến hay không? Người quên hay nhớ?
Người đến hôm nay? Hay đến ngày mai?
Người biết rằng tôi đang mong nhớ ai
Sao còn bắt thời gian hoài chờ đợi?

13-11-1960
Hình minh hoạ, Ian Forsyth/Getty Images


Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Cung Tích Biền: Anh Em Cùng Một Mẹ

Nhớ người Thương binh

Bá Quyền xắc mang vai, trang phục loại vải thô không ủi, áo bỏ ngoài quần, đầu nón cối, chân dép râu, dáng đi vội vã, sau cùng đã tìm được ngôi nhà đang muốn tìm. Quyền bảo người vợ đi cùng:

“Đúng mục tiêu của ta rồi. Em với hai con ngồi đợi chỗ quán nước này một lúc. Xem tình hình thế nào, anh gọi hãy vào. Tin đi, đảm bảo Ta nhất định thắng”.

Người phụ nữ và hai đứa con nhỏ lần đầu tiên vừa từ Bắc vào Sài gòn rất bỡ ngỡ. Thấy gì cũng ham. Cái gì cũng đẹp chưa từng thấy ngoài xứ Bắc.

Trong quán nước. Hai thằng nhóc từ lâu thiếu thốn mọi thứ, nhìn chai coca cola, chúng rất thèm. Người mẹbảo hai đứa con:

- Uống nước đá “nạnh” đi. Trong “Lam lày” người ta tốt bụng. Không tính tiền trà đá đâu. 

Hai đứa nhóc nhìn quanh quán nước, thấy những bao bì, loại dùng xong người ta vất đi, thứ gì cũng màu sắc xinh đẹp. 

Nhà bọn nhóc thời chống Mỹ, toàn gia bốn nhơn mạng chui rúc trong một chu vi chỉ hai mươi lăm mét vuông. Bọn trẻ thấy bố mẹ chưng hoa ni lông trong bình trên nóc tủ hằng năm vẫn nguyên màu, tuy bụi bám đầy. Lại chưng bày những hộp rỗng màu sắc trong cái tủ bé xíu, ngay chỗ phòng khách. Không có bọn rỗng ruột này, chẳng có gì trong nhà khách nhìn cho đẹp con mắt.

Đàm Duy Tạo: Chương 20 - KIm Vân Kiều Đính giải

CHƯƠNG 20
KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2019


= = = = =

CÂU 1791 ĐẾN CÂU 1938

“Thấp cao chung sợ / Đau sướng khác lòng

1791. Lâm Truy từ thuở uyên bay, [1]
Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
1793. Mày ai trăng mới in ngần, [2]
Phần thừa hương cũ bội phần xót xa. [3]
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa, [4]
Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân.
1797. Tìm đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương. [5]
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
1801. Tiểu thư đón cửa dã dề, [6]
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
1803. Nhà hương cao cuốn bức là, [7]
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
1807. Phải chăng nắng quáng đèn lòa, [8]
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
1809. Bây giờ tình mới rõ tình,
Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
1811. Chước đâu có chước lạ đời? [9]
Người đâu mà lại có người tinh ma?

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2019

Trần Vấn Lệ: Lạnh chẳng lẽ từ mưa cố hương

Hình minh hoạ, VALERY HACHE/AFP/Getty Images

Chúa nhật trời mưa, đâu đã mưa !
Không gian ảm đạm nắng mơ hồ…
Một cành hoa nở như chưa nở
Con bướm vờn qua con bướm xa…

Đài loan tin để người ta đợi
Lòng muốn đi mà ngại mất vui !
Phố xá nối dài, xe tắt máy
Con mèo nằm ngủ vẫn ngoan thôi !

Nhấc phone gọi bạn, bạn cười khan :
“Thôi nhé hôm nay rượu khỏi tràn
Chẳng đứa nào bơi dòng thế sự
Tha hồ mỗi đứa nhớ Quê Hương !”

Trần Mộng Tú: Ngọn Nến Muộn Màng Cho Người Yêu Nước Nghiêm Sỹ Tuấn

Trần Mộng Tú, sinh năm 1943 tại Hà Đông, Bắc phần. Lớn lên ở Hà Nội, Hải Phòng, di cưvào Nam 1954, trung học Nguyễn Bá Tòng, trung học Trường Sơn Sài Gòn. Nhân viên Hãng Thông Tấn The Associated Press, (1968- 1975). Sang Mỹ tháng Tư năm 1975, hiện sống (với gia đình) tại Seattle,Washington, làm thơ viết văn từ sau 1975. Đã xuất bản 4 Tập Thơ, 4 Tập Tản Văn và Truyện Ngắn. Cộng tác với các trang mạng và tạp chí văn học ở Mỹ và các nước khác.

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh chia xẻ với tôi một cuốn sách anhvà các bạn anh đang soạn thảo. Cuốn sách về một cuộc đời rất ngắn của người bạn đồng nghiệp: Nghiêm Sỹ Tuấn, một Bác Sĩ Quân Y, một Thi Văn Sĩ , tử trận ở tuổi 31 tại Khe Sanh năm 1968 khi anh đang là Y Sĩ Trung Úy Tiểu Đoàn 6, Nhẩy Dù.

Nghiêm Sỹ Tuấn chết ở cái tuổi đẹp nhất của đời người: đời của một Y Sĩ, một Thi Sĩ và đời người Lính. Với ba cái đó cộng lại, Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người sống lý tưởng và ôm đầy hoài bão tốt đẹp.

Nguyễn Đức Tùng: rồi mùa toóc rạ rơm khô

Hình minh hoạ, TAUSEEF MUSTAFA/AFP/Getty Images

Tháng tư về quê, gặp dịp đi cùng phái đoàn phát quà từ thiện, tôi vào thăm một bệnh viện, khoa ung bướu. Đi len lỏi giữa những người nằm ngồi la liệt, người thân bệnh nhân từ các vùng nông thôn, chồng đi thăm vợ, vợ đi thăm chồng, phụ nữ vạch ngực cho con bú, người già nuôi em bé, em bé nuôi người già, chúng tôi đến khu vực những người bệnh nặng. Không phải là thành viên chính thức của đoàn, tôi giữ im lặng, quan sát. Đang mải đứng suy nghĩ, giật mình nhận ra có người nhìn, tôi quay lại. Từ trên chiếc giường cuối phòng, hơi tối, một người đàn ông nằm đó trông già lắm, gầy còm, giương mắt nhìn. Tôi tiến lại. Chị y tá đứng bên cạnh nói nhỏ cho biết ông bị ung thư thời kỳ cuối, hình như đã di căn lên não. Hai mắt nhìn tôi không chớp bỗng hơi sáng lên. Ông nằm nghiêng, tấm chăn dày đắp ngang bụng mặc dù lúc ấy ngoài trời rất nóng, phòng không có máy lạnh, chiếc quạt trần làm việc uể oải, chạy chậm đến nỗi một con ruồi đậu trên cánh quạt không thèm bay. Tôi lờ mờ nhận ra khuôn mặt gặp đâu đó, không quen lắm nhưng chắc đã gặp, chỉ không nhớ. Thấy ông nhỏm dậy, tôi ngồi xuống giường. Trên gương mặt khô, da vàng, phảng phất nụ cười, ông ra dấu cho tôi xích lại, nói một điều gì thì thào không rõ. Tôi cúi xuống. Cả hai chúng tôi nhìn nhau một lát, im lặng, ngỡ ngàng, trước khi cùng nhận ra nhau, hay đúng hơn tôi nhận ra ông, vì ông đã nhận ra tôi trước đó mấy phút. Qua bao năm tháng, khuôn mặt đó đúng là của người bạn học cũ, thằng Mười, trong lớp học hè ở làng. Chỉ học chung với nhau một mùa hè gần ba tháng, rồi sau đó không gặp nữa. Thực ra có gặp lại đôi lần, nhưng trong hoàn cảnh khác. Thế rồi chiến tranh, bom đạn, giặc giã, chạy giặc, hồi cư, chạy giặc tiếp, ly hương, biết bao nhiêu lần những người bạn cũ xa nhau những người thân mất liên lạc. Lớp học hè ở làng quê vừa học vừa chơi, phụ huynh học sinh gửi con đến học để chúng khỏi phá phách, một hình thức nửa học nửa giữ trẻ, dành cho tụi con nít lớp nhỏ. Suốt

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Bài Thơ Tháng Tư

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng

Tháng Tư anh về Sài Gòn
Đi tìm em trên đường Tự do
Đồng khởi
Chùm me chín vội trong tay em ngày ấy
Mái ngói rêu xanh còn đây
Bầy sẻ nâu bằng đất
Cửa sổ đèn khuya hiu hắt người về

Dân tộc đi qua cơn mê
Người lính trận mạc miền quê
Bên kia núi, lạc đường thành phố
Kẻ ngây thơ khốn khổ hoặc trở thành lưu manh
Hay bị gạt ra ngoài
Trả về quê cũ
Kiếp ăn mày
Người lính thất trận cởi áo giáp
Cởi nón sắt
Ngơ ngác
Quần cọc ra về
Đi từng hàng trước lưỡi lê họng súng AK
Về làng, qua lũy tre xanh
Ngày ấy chúng ta tưởng rằng chiến tranh đã qua
Nhưng chiến tranh không hề đi qua
Trái ổi xanh bên tường nhà em ngày một chín
Nàng Tô thị đi lấy chồng

Phạm Tín An Ninh: đằng sau cuộc chiến



Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác. 

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất. 

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Thụy Khuê: Quê hương ngày trở lại

Về Sài Gòn tôi bị lạc. Tình trạng lạc hướng kéo dài trên taxi, xe ôm, đi một mình hay cùng gia đình, bè bạn, tôi thường lẩm nhẩm trong đầu: đường này Gia Long, Tự Do đây, chắc là Lê Văn Duyệt...Nhưng khi ra đến Hà Nội, lại tịnh không có sự lẩm nhẩm nào.

Hôm tới Lê Văn Hưu ăn phở, dù phố này nay đã hoàn toàn khác với trí nhớ, tôi vẫn nhận ra: đây là Lê Văn Hưu, đi tới chút nữa rẽ ngang là phố Huế. Đèn phố Huế bẩy mươi năm qua chưa bao giờ tắt trong tôi. Những tối gần Noël, một đứa nhỏ năm, sáu tuổi dí sát mũi vào cửa kính hàng bán đồ chơi, thèm thuồng nhìn mấy con búp bê Pháp, tóc vàng, mắt xanh mà mơ đến ngày nó sẽ được ôm một con búp bê như thế, nó sẽ chải tóc, thắt nơ cho nó như thế nào, nó chưa từng dám mơ đến một ngày sang Pháp.

Hôm nay, từ phố Huế, đứa nhỏ bẩy mươi ba, bước trở lại Lê Văn Hưu, đi thêm chút nữa sẽ tới phố nhà nó: Thi Sách, số bẩy. Chợ Hôm mặc dù chỉ nuôi nó có 5 năm, từ 5 đến 10 tuổi, đã trở thành người vú chưa từng rời nó bao giờ. Sài Gòn, hồi ấy tôi sống ở đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) từ 10 đến 18 tuổi, đã lớn, ngoài giờ học, đạp xe đi chơi suốt, thuộc lòng hầu hết các con đường, thế mà sao bây giờ lại lạc? Từ khi rời nước năm 1962, tôi về lại cả thảy bốn lần: 74, 84, 93 và 97. Trừ lần 74 không lạc, còn ba lần sau, lần nào cũng lạc. Điều nhỏ nhặt này cứ luẩn quẩn trong đầu bao nhiêu năm, bây giờ ra Hà Nội tôi mới hiểu: tại việc đổi tên đường. Hà Nội và Sài Gòn đều của tôi, chúng đã tham dự vào mảnh đời thời thơ ấu và niên thiếu, vậy mà tôi không lạc Hà Nội thời bé, lại lạc Sài Gòn thời lớn, bởi vì đường phố Hà Nội không hề bị đổi tên: phố Huế vẫn là phố Huế, Hàng Bài, Trần Hưng Đạo vẫn là Hàng Bài, Trần Hưng Đạo. Những nhân vật có công với cách mạng, không có chỗ đứng trong quận Hoàn Kiếm, trung tâm Hà Nội, mà nhã nhặn trụ vòng ngoài, trên những đường phố mới xây sau này, họ biết lịch sự sắp hàng theo đúng trật tự thời gian của lịch sử. Nhờ vậy, những ai trở lại Hà Nội, dù bẩy, tám mươi năm sau, vẫn nhận diện được ba

Trịnh Cung: Tôi đã vẽ như thế nào sau ngày 30 tháng Tư 1975?

Tự họa 1989, sơn dầu trên canvas, 25 x45cm. Sưu tập của Phan Nguyên.

1. Vẽ Trong Trại Tù


Ngày đó, không chỉ mình tôi hoang mang, lơ láo mà hầu hết các bạn cùng thời ở trong hệ thống chính quyền Sài Gòn đều có chung tâm trạng.

Làm gì đây, sẽ ra sao? Trong lúc đó những người ủng hộ cách mạng đang ăn mừng, “ anh em ta về mừng như bão tố/ cờ bay trăm ngọn cờ bay”.

Rồi cái gì đến cũng phải đến, tôi cùng cả trăm ngàn sĩ quan và chức sắc hành chánh khăn gói đi tập trung cải tạo. Thế là giã từ nghiệp vẽ.

Nhưng số tôi, việc vẽ đã bị cột vào đời mình, chạy trời không khỏi. Tinh thần của một hàng bình như tôi là vừa sợ vừa chấp nhận, mất khả năng chiến đấu nên dễ tuân theo chủ trương của trại tù, bảo gì làm đó miễn không quá sức và không hại anh em.

Thy An: Tháng tư xứ người

Hình minh hoạ, JACK GUEZ/AFP/Getty Images

giữa phố chợ tôi bỗng có ý nghĩ mình đang chạy trên đồng cỏ
băng qua những vùng thảo nguyên hoang vắng không người
như con thú trốn văn minh
thứ văn minh đã nuôi và dạy tôi từ năm thập niên
tôi không muốn mang nhãn hiệu người vong ơn
đối với những người da trắng
cũng chẳng muốn mang mặc cảm tội lỗi
đối với những người da vàng
bởi vì máu tôi cũng đỏ như máu kẻ khác
và tim tôi cũng đập như bao kẻ khác
tôi không muốn mang nỗi buồn vong quốc suốt cuộc đời
mỗi buổi chiều
khi đi trên quê hương kẻ khác

khi hoàng hôn bãng lãng dậy lên những bài hát không tên
dạy tôi yêu tổ tiên và giống nòi
nhắc nhở tôi lời anh hùng khắc ghi trên đá
đang mòn và cạn kiệt cùng núi sông