Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

Chương Dân: Chuyện Các Bậc Tiền Bối (*)

Phần trên trang đầu của báo Nam Phong số 22, tháng 4 năm 1919

Bài “Chuyện quan Hiệp biện Phạm Phú Thứ” đăng trên báo Nam Phong số 22 tháng 4 năm 1919

TIỂU DẪN

Nước ta từ thuộc về bản triều, trong khoảng trăm năm trở lại đây, bao nhiêu là người có danh tiếng còn để lại những lời hay nết tốt, hoặc ở trong quốc sử, hoặc ở trong mấy bài bia văn hạnh trạng của các vị tiên nho, thật là đủ làm gương cho người hậu tiến.

Phong Tử Khải: Sức Sống (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán)

生機
Sức Sống
豐子愷
Phong Tử Khải
(1898-1975)


Trần Cảng Thụ,
"Thuỷ tiên & linh thạch đồ:
Tranh thuỷ tiên và đá linh thiêng” (1)

Trước giao thừa tôi đã mua một giò thuỷ tiên, chư đã hơn hai tháng, mãi cho tới hôm nay mới nở hoa.

Xuân năm nay khí hậu rất lạnh, cỏ cây hoa lá khác đâm chồi nẩy lộc chậm, mà thuỷ tiên của tôi lại càng chậm hơn. Vì từ khi hoa đến nhà tôi, hoa tình cờ gặp nhiều tai nạn, sức sống bị ngăn trở.

Tai nạn thứ nhất chính là hạn tai, tình hình như sau: Trước giao thừa, thuỷ tiên đến nhà tôi, lúc ấy, vì nơi tôi ở riêng, không có chậu cho thuỷ tiên, tôi đành chạy đến tiệm buôn đồ sành sứ mua một cái chậu trắng tinh để chư nó. Cái chậu này thì quá to, quá nặng vì đó không phải là chậu cho hoa thuỷ tiên. Căn cứ vào lời ông già tiệm sành sứ, đấy là hàng đời vua Quang Tự (2), người ta dùng trong yến tiệc nơi chốn quan trường để đựng món thịt nấu đặc biệt nào đó. Về sau không có người dùng nó nữa, và mãi tới nay không bán nó được. Tôi nghĩ rằng cái chậu cho hoa thường thường như hoa thuỷ tiên mà lại có hình chữ nhật, hình cánh quạt như trong tranh Trung Quốc xưa, thì rởm lắm, và xét theo hình thức, trông không đẹp bằng một cái chậu đựng đồ ăn. Và rồi cái gọi là đồ đựng đồ ăn này đã trở thành cái chậu cho hoa thuỷ tiên đặc biệt của riêng tôi mà tôi đã mua vì hoa thuỷ tiên của tôi ăn khớp với chậu, hình thái và sắc màu thật hài hoà. Xem chúng dưới khung cửa sổ lạnh xanh nhuộm nắng, thấy chúng chiếu vào nhau, mộc mạc, tươi đẹp làm cho lòng vui vẻ, ai mà tin được rằng một thời đó là cái chậu đựng đồ ăn nơi cửa quan? Thế rồi chúng bên nhau không quá một tháng, thì phải xa nhau. Lý do là tôi phải về quê ở vịnh Thạch Môn ăn Tết âm lịch, và tính sẽ ở ngôi nhà chính có cái tên là Duyên Duyên hơn một tháng, hi vọng sẽ mang được hoa thuỷ tiên về theo, cảm thấy rằng hoa sẽ nở đẹp vào dịp tết. Mang nó đi bằng cách nào? Phải chần chừ suy tính: Kêu anh đầy tớ A (2) Mao ôm cả chậu cùng hoa thuỷ tiên mà đi xe lửa, e rằng có người sẽ chê khéo anh đầy tớ là khách phong nhã; bỏ nó trong va li da, lại càng không thể. Vì thế A Mao đề nghị: ”Con đâu cần mang cả chậu đi. Lôi thuỷ tiên ra, rồi gói trong hộp bánh quy, cầm nó lên xe, tới nhà đâu quá ba giờ, không thể làm nó chết.” Tôi liền đồng ý. Thuỷ tiên tạm biệt chậu, nằm trong hộp bánh quy mà đi.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

Wendy Nicole NN Duong (Như Nguyện): Sáng Tác Văn Chương Việt Hiện Đại Và Chính Trị Giới Tính: Ló Rạng Bình Minh (Cái Nhìn Về Sáng Tác Văn Học Nữ Quyền Và “Văn Chương Gợi Tình” Từ Một Phụ Nữ Mỹ Gốc Việt) (Dịch giả: Hiếu Tân)

(Tác giả đã hiệu đính, sửa đổi cho rõ nghiã và bổ sung bài viết, thêm vào vài nhận định cho độc giả Việt Nam)

CHÚ THÍCH CỦA TÁC GIẢ:

Năm 2018 Nhà Trắng phải đối diện với những cáo buộc nhơ nhuốc của một nữ diễn viên ngôi sao phim khiêu dâm. Tổng thống Mỹ bị coi là đã thốt lên những lời tục tĩu về việc sờ soạng phụ nữ. Đệ nhất Phu nhân đi giày nhọn gót, quần áo bó sát đúng mốt làm nổi bật kích cỡ vòng ngực của bà, phô bày hai cánh tay trần và thân hình “đồng hồ cát” đầy khêu gợi. Nhiều phụ nữ Mỹ coi bà là “trang nhã,” và vương giả. Tất cả những tin tức ấy nổi lên trên nền của một phong trào “ME TOO” ("Tôi Cũng Thế") trong đó những ngôi sao mới lên, những nữ diễn viên Mỹ tung ra các câu chuyện họ bị đàn ông quyền lực của Holywood quấy rối và lạm dụng tình dục. Tôi nhìn lại cộng đồng sắc tộc Việt Nam của tôi ở Mỹ, và quyết định đưa đăng bài bình luận này. Khởi thảo từ năm 2008, bài viết bàn về di sản văn chương của Anais Nin, và đưa ra cái nhìn tổng quan về những sáng tác văn học có tính cách nữ quyền và văn chương tình cảm xã hội của tác giả nữ ở miền Nam Việt Nam (nền cộng hoà không-cộng sản đã quá cố) đầu thập niên 1970, cũng như các tác phẩm của phụ nữ trong cộng đồng lưu vong người Mỹ gốc Việt hình thành sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, và đồng thời vài tác phẩm của phụ nữ Việt Nam (nước cộng sản) ngày nay.

I. NHÌN LẠI THẾ KỈ 20 : VĂN CHƯƠNG GỢI TÌNH VÀ TRẬN CHIẾN GIỚI TÍNH


Trong những thập niên 1920 và 1930, nhà văn nữ Anais Nin đã làm một điều không tưởng. Bà tự xuất bản. Bà hành nghề tâm lí trị liệu tự học để trừ tà tuổi thơ của bà, và có chuyện lăng nhăng tình ái với Henry Miller (theo những lời đồn trong giới văn chương, thậm chí với cả vợ của ông – một vụ tay ba dâm dật!). Để hỗ trợ cho sáng tác văn chương của họ, Anais và các bạn của bà viết những thứ có thể gọi một cách đại khái là khiêu dâm, một đô la một trang – theo lời của chính bà, đó là con đường đưa Anais Nin vào vương quốc văn chương mà trước đây chưa có một nhà văn nữ nào bước vào – lĩnh vực ấy là của đàn ông, xưa nay vẫn thế. Đàn ông viết loại sách khiêu dâm kích thích trí tưởng tượng phong tình của đàn ông, trong đó phụ nữ trở thành những ngôi sao tình dục, không tình cảm, thậm chí không có không có chút quyền gì và không được kiểm soát thân xác của chính họ. Trong những tưởng tượng ấy, phụ nữ “rên rỉ và đòi nữa.” Phụ nữ hành động nghiêm trang, bẽn lẽn và kín đáo, nằm xuống và tôn thờ những bạn tình đàn ông của họ, hay những kẻ lạm dụng họ, như thần thánh. Sự thiếu kiểm soát đối với cơ thể phụ nữ mà giới nữ phải chịu, trong bản thân nó, là một nguồn tưởng tượng cho những đàn ông tán tỉnh, gạ tình. Sự thiếu kiểm soát của giới này trở thành nguồn quyền lực của giới kia. Quả thật, trận chiến cổ xưa nhất của loài người là trận chiến giữa hai giới. Cổ xưa hơn bất kì cuộc chiến tranh nào, cuộc chiến tranh giới tính

Phong Tử Khải: Từ từ (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán)


Từ từ

Phong Tử Khải
豐子愷
(1898-1975)

Anh nông dân Chi Lãnh và cũng là bạn/ Tranh Tử Khải

Yếu chỉ vi diệu làm cho cuộc sống của con người được diễn ra trơn tru, không gì hơn là “từ từ”; cái thủ đoạn của Con Tạo hay lừa người, thì cũng không gì hơn là “từ từ”. Đám trẻ ngây thơ, trong sáng “từ từ” biến thành bọn thanh niên bừng bừng khí thế mà không hay biết; bọn thanh niên hào kiệt, hiên ngang “từ từ” biến thành những người lớn lạnh lùng, tàn ác; những người lớn khí huyết linh hoạt “từ từ” biến thành những lão già ngoan cố vì tiến trình biến hoá của Con Tạo được tiến hành năm này qua năm khác, tháng này tới tháng khác, ngày này tới ngày khác, giờ này tới giờ khác, phút này tới phút khác, giây này tới giây khác, như một cuộc đi bộ thật chậm rãi trên một lối đi thật dài, thật xa, từ trên núi đồi mà xuống, làm cho người ta không để ý tới vết chân lần lượt dẫm xuống của mình, không thấy các giai đoạn của cảnh giới, mà hồ như thấy vị trí cứ vẫn như một và thật giống nhau, hằng cữu bất biến; các giá trị, ý vị của một cuộc sống không biến động, mỗi ngày như mọi ngày, nên cuộc sống sẽ tiến hành trơn tru, không trật vào đâu được. Giả như sự tiến hành ta không ví như núi đồi mà ví như bàn phím đàn phong cầm: bỗng nhiên chuyển từ đô tới , thì giống như đứa bé từ đêm tới sáng biến thành thiếu niên, hoặc như một giai điệu có ghi dấu biến tấu comodo: vừa phải, mà đột nhiên từ đô nhảy lên mi, thì cũng như sáng đang là thiếu niên mà tối đã thành bô lão, người ta nhất định sẽ sững sốt, than thở, buồn bã, hoặc đau xót cho cái chóng qua của kiếp người và người ta không cách chi mà vui cho được. Cho nên mới biết cuộc sống con người có được gìn giữ hay không là do “từ từ” vậy. Điều này e rằng lại rất quan trọng cho bọn đàn bà: thiếu nữ đẹp như hoa trong ca kịch, trên sân khấu, nay mai sẽ là bà già ngồi bên bếp lửa cời than, cái câu này, chợt nghe thì khó mà tin, và các cô gái trẻ không chịu thừa nhận, nhưng quả thật các bà già của bây giờ là từ thiếu nữ tươi như hoa “từ từ” mà biến thành cả.

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

Nguyễn Duy Chính: Vụ Án Đánh Roi

Lời mở đầu


Lãng Nhân trong Giai Thoại Làng Nho (1985) có chép một câu đối giữa Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường. Vế xuất của Đặng Trần Thường là:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai.

Ngô Thì Nhậm đối lại:

Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.

Vì lời lẽ ngang tàng này mà họ Ngô bị Đặng Trần Thường sai lính đánh đến chết.

Thế nhưng trước đó P.J.B. Trương-vĩnh-Ký đã chép câu chuyện tương tự như sau:

35. Ngô-thì-Sĩ với ông Tán-lý Thường

Ông Thường (tán-lý Thường) đời loạn Tây-sơn ra lấy Bắc, con nhà học-trò giỏi văn-chương chữ-nghĩa, cũng là bạn học với ông Ngô-thì-Sĩ; giận ý kẻ nịnh lại hổ vì bị nhục mà vào Gia-định ở đầu thám với vua Gia-long. Vô một năm rồi về ngoài Bắc, giả chết, biểu vợ con giả đò chôn cất để tang để chế cho, rồi mới vào lại làm tôi vua Gia-long. Khi trước ở ngoài ấy còn hàn vi đi đường gặp ông Ngô-thì-Sĩ là bạn học, mà khi ấy làm quan lớn, đi võng điều, lọng lợp binh-gia rền-rột (làm Quan cho vua Quang-trung là Nguyễn-văn-Huệ, nguỵ Tây-sơn) Mặc áo rộng, đội nón tu-lờ điệu học trò; đi né tránh bên đường, lính nó nói sao có vô phép, nó bắt nó vật xuống nó đánh cho vài chục. Quan lớn mới hỏi là ai, thì bẩm rằng mình là học-trò; thì Ngô-thì-Sĩ mới rằng: Có phải là học-trò thì ra câu đối cho nó đối. Ra rằng:

Ai công hầu? ai khanh tướng?

Lúc trần ai, ai dễ biết ai?

Ông Thường đối lại rằng:

Thế chiến-cuốc [sic], thế xuân-thu,

Gặp thì thế, thế nào thì thế.

nguyễn đức tùng: Xập Xòe Én Liệng

Hình minh hoạ, FreePik

Năm đó anh ngoài hai mươi tuổi. Buổi chiều tháng giêng chạy xe honda từ Xuân lộc về Sài gòn, sau khi đi thăm một người em ở đó, gặp mưa mau sấm chớp, mưa trái mùa, xuất hiện khi đã vào mùa khô là do bão xa đâu đó, mỗi cơn bão gây mưa kéo dài hai ba ngày. Đoạn đường miền Đông có nhiều khúc thật đẹp, bạn nhớ không?

- Nhưng anh nói khúc nào mới được chứ?

- Vừa ra khỏi Xuân lộc dọc theo đường quốc lộ một, mình gặp rừng đất đỏ bạt ngàn cao su, trước khi đổ vào Hố nai dọc đường hàng quán núp trong rừng cây, mà những cái quán ấy thật thú vị, bán nước trà nước dừa cà phê, hồi ấy buôn cà phê bị bắt nhưng dân bán lẻ đủ sức cung cấp nhu cầu, ai đó sáng kiến chế cà phê vợt, uống cũng được, trộn với bắp rang, cả nước đói khổ có thứ nước màu nâu sẫm bốc mùi thơm đã may lắm, đòi gì nữa? Anh chạy xe một hồi tóc bay mù bụi đỏ thì trời đổ mưa, mưa đột ngột đến nỗi không chạy kịp sẽ ướt từ đầu đến chân. Chớp loằng ngoằng. Anh tấp vội vào lề đường rú ga vọt qua khoảng sân cao, tối, bùn nhão, gần như phóng thẳng vào thềm nhà người ta.

Nhà vắng, không ra quán xá không ra nhà ở, trước hiên rêu lấm tấm nhưng bên trong coi sạch sẽ, một ngọn đèn dầu le lói trên bàn sáng âm u như đom đóm. Tiếng con tắc kè kêu ngoài cửa.

Anh đứng thế một lúc nhìn quanh, hồi hộp tò mò lên tiếng hai lần không có ai trả lời. Lạ, anh tự nhủ, cẩn thận đi ra phía sau nhác thấy ảng nước, cái chạn thức ăn cái bàn nhỏ những đồ đạc lặt vặt. Một người từ sau cánh cửa nhẹ nhàng đi đến trước mặt, một cô gái cao khuôn mặt sáng lên trong tối, rõ ràng cô ta nhìn thấy anh từ lâu nhưng kín đáo quan sát. Anh lên tiếng trước ngỏ lời muốn trú mưa. Nhìn bộ điệu, tóc ướt, chiếc xe, cô gái tỏ ra tin ngay chỉ hỏi bâng quơ vài chuyện, cô mời anh ngồi xuống bên chiếc bàn nhỏ, đi lại phía cái bếp đã tắt lửa nhưng than còn đỏ trong tro tàn, cô lấy cái que sắt cời ra một lúc thì lửa lại đỏ rực.

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2021

Tiểu- Xuyên Vị-Minh: Giao Thừa (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên bản tiếng Nhật)

Giao Thừa
春になる前夜
Tiểu- Xuyên Vị-Minh
小川未明


Seaside Village in Winter, Katsushika Hokusai , from Hokusai’s Album of Realistic Pictures (Hokusai shashin gafu). Hình MET museum


Con chim sẻ đã sống trong miền cỏ hoa này đã lâu lắm rồi, nó chưa từng đụng phải một buổi tối lạnh đến như thế này.

Khi mặt trời chìm xuống ở phía tây, trời như cháy đỏ rực, nhưng khi mặt trời tắt hẳn, màu trời lại giữ một màu xanh đen, và trời lạnh căm đến độ dường như nghe cả tiếng răng rắc vì quá lạnh.Trên ngọn cây, sương lung linh ánh bạc. Ánh trăng ớn lạnh rọi trên cánh đồng mênh mông, lặng thinh.

Có con chim sẻ đậu trên một nhánh cây, trải qua cái đêm lạnh ghê gớm này. Đúng lúc ấy, có con chó sói khịt khịt đi qua cánh đồng khô héo.

Vì, cả trên núi, nơi ao hồ, chẳng có gì mà ăn, và đói nhường ấy, sói đi sục sạo khắp vùng chung quanh. Con chim sẻ nhơn nhơn nhìn nó mỗi đêm. Con sói cũng vậy, đêm nay có vẻ lạnh, phì phò thở ra khói trắng. Thế rồi nó quay về hướng mặt trăng lớn như cái chậu bằng băng được banh rộng ra, tru lên như thể kêu cứu.

Con chim sẻ nghĩ: quả là con sói đêm nay không còn chịu đựng được nữa.

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2021

Phong Tử Khải: Tuỳ bút về Xuân (Nguyễn Văn Thực dịch)

Phong Tử Khải
(1898 – 1975)

Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên bản chữ Hán*

Đề tranh: Nghiêm sương, nhiệt nhật giai kinh quá/ Thứ đệ xuân phong đáo thảo lư: Sương buốt, ngày nóng thảy đều qua/Gió xuân đến lượt tới nhà tranh (bài Quốc nghiệp thường sinh, của Nhã Điểu) // Tranh: Tử Khải

Năm Mới


Từ vô thuỷ vô chung, thời gian di chuyển trong trời đất mênh mông, vốn không thể nói là nhanh hay chậm. Chỉ vì một khi thời gian được cắt ra từng khúc, lúc đó người ta mới cảm thấy thời gian qua nhanh, đồng thời cũng cảm thấy khoan khoái; và giống như khi di hành trong nơi mờ mịt, nếu thời gian không được chia cắt, người ta sẽ có cảm giác mình đi chậm, đồng thời cảm thấyủ dột tối tăm. Những chuyện hay ho như âm nhạc, khi trình tấu một bản nhạc vốn đầy tràn âm thanh mà không ngắt quãng, thì sự trình tấu ấy sẽ gây phiền và làm cho người nghe chán ngán và mệt mỏi. Nếu phân bản nhạc ra từng chương, từng khúc, từng câu, lại còn biến tấu nhiều thì sẽ làm cho người ta vui vẻ, dễ chịu.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2021

Trần Mộng Tú: Tiếng Nước Tôi

Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời… Phạm Duy

Hinh minh hoạ, NHAC NGUYEN/AFP via Getty Images

Ngày xửa ngày xưa ở ngay trên đất nước này, có rất nhiều người từ các nước trên thế giới tìm tới định cư. Họ mang văn hóa ngôn ngữ của nước họ tới và chia sẻ với nhau trong một vùng nào đó. Tuy nhiên để thích nghi với đời sống của con cái và chính mình, họ phải học hỏi ngôn ngữ và văn hóa của phần đất bao dung họ.

Cha mẹ của bà Emily cũng ở trong những thành phần này. Khi từ Việt Nam tới Mỹ, Emily mới lên 10 tuổi, từ tên Mỹ Lệ, đi học, Mỹ Lệ được đổi thành Emily và chắc chắn Emily nói tiếng Mỹ nhiều hơn tiếng Việt. Cha mẹ Emily cũng là thành phần có học ở Việt Nam. Mẹ là Giáo Sư Việt Văn cho một trường Trung Học Công Lập và Cha thì làm thông dịch viên trong ban Biên Tập cho Hãng Thông Tấn nhà nước. Sang Mỹ, cả hai ông bà cũng như những người khác vất vả hội nhập, kiếm việc trong một hai năm đầu, sau đó họ đều có việc làm tương đối hợp với khả năng của cả hai người, đủ để nuôi con ăn học, cho đến khi con lập gia đình.Vì có Mẹ là giáo sư Việt Văn nên Emily được Mẹ tiếp tục dạy tiếng Việt, cô nói và viết tiếng Việt khá thông thạo. Mẹ cô nói:

Trần Doãn Nho: Giữa văn và thơ

Văn xuôi và thơ, tuy cũng được tạo thành bằng chữ, nhưng hoàn toàn khác nhau. Trong lúc văn xuôi không vần, không nhịp điệu, không được tổ chức vào một cấu trúc riêng nào đó, thì thơ có vần, có nhịp điệu và được tổ chức vào trong một cấu trúc riêng biệt, một cấu trúc tự đủ với chính nó. Vị trí của mỗi chữ ở đâu là nằm ở đó. Dịch chuyển bất cứ chữ nào trong câu thơ, hay thay đổi các khoảng cách, cách viết chữ thường, chữ hoa, hay cách xuống hàng, cách ngắt câu sẽ làm thay đổi ý nghĩa của câu thơ mà tác giả muốn gửi gắm vào. Điều này không chỉ đúng với những bài thơ làm theo lối cổ điển, với sự quy định nghiêm ngặt về chữ, vần, câu kể cả vần bằng vần trắc (như trong tiếng Việt), mà ngay cả đối với loại thơ cách tân sau này.

Trong tác phẩm khảo sát về bản chất của văn chương, “Qu’est-ce que la litérature”, triết gia-nhà văn Jean-Paul Satre, cho rằng thơ cũng như âm nhạc, hội họa hay điêu khắc. Nốt nhạc hay màu sắc không phải là những ký hiệu thuần túy vì chúng không chuyển bất cứ cái gì ra ngoài chúng. Xem một bức tranh, ta không thấy màu đỏ, màu xanh, màu vàng, màu nâu…hay một màu gì pha trộn mà là xem một toàn thể, một khung cảnh. Nghe một bản nhạc cũng thế (nhất là nghe nhạc cổ điển), ta không nghe nốt này, nốt kia, nốt cao nốt thấp…mà nghe một chuỗi âm thanh kết hợp với nhau. Chính vì thế, Jean-Paul Sartre cho rằng ta không thể và không nên xem màu sắc hay âm thanh như một thứ ngôn ngữ dùng để diễn tả sự vật.

Từ khởi điểm đó, Jean-Paul Sartre đưa ra sự khác biệt giữa văn và thơ. Cả hai hoàn toàn khác nhau về nội dung, chất liệu. Trong lúc nhà văn quan tâm tới ý nghĩa của từng chữ hay từng câu và do đó, tìm cách sử dụng ý nghĩa mà mỗi chữ hay mỗi câu chuyên chở thì nhà thơ vừa sử dụng ngôn ngữ nhưng đồng thời lại vừa khước từ nó. ("Les poètes sont des hommes qui refusent d'utiliser le langage"). Văn xuôi bản chất là để sử dụng (utilitaire). Người viết văn là người sử dụng chữ như một dụng cụ của ý nghĩa. Thành thử, văn xuôi là đặc quyền của một công việc phải thực hiện. Trong lúc đó, nhà thơ không sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện của ý nghĩa. Nhà thơ không cần phải « làm rõ nghĩa » một chữ hay một câu mà mình dùng. Một câu thơ không cần phải đúng văn phạm, thậm chí, phá vỡ các quy luật văn phạm, lược bỏ hết những chữ được xem là thừa. Chính thì thế, người đọc thơ lúc nào cũng cảm thấy ý nghĩa của nó mơ mơ hồ hồ, đôi khi, bí hiểm. Như màu sắc (trong hội họa) hay âm thanh (trong nhạc), thơ xem chữ như những sự vật chứ không phải là những ký hiệu. Khi người ta nói hay viết một câu văn, người ta vượt qua bên kia con chữ, tiến gần đến sự vật mà mình diễn tả. Còn khi người ta làm thơ, người ta ở cùng với chữ, chơi đùa với chữ, thích thú với mỗi con chữ. « Đối với người đang nói, chữ là những quy ước hữu ích, những dụng cụ; đối với nhà thơ, chính đó là những sự vật mọc một cách tự nhiên như cỏ như cây, » theo ông. (Pour l'homme qui parle, les mots sont des conventions utiles, des outils; pour le poète, ce sont des choses naturelles qui croissent naturellement sur la terre comme l’herbe et les arbres.)

Nguyễn Văn Thà: Kiếp Sau Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau

Tặng MH, một thoáng hương xưa

Chiều nắng hanh hao/ Ảnh của Hung Chi Le

1.

**

Chú thích điển tích trong bài thơ:

Theo truyền thuyết Phật giáo Trung Hoa:

Cầu Nại Hà: 奈何橋: Nại Hà Kiều: Cầu (hỏi) Phải Làm Sao Đây để khỏi té xuống sông có nhiều thuỷ quái, cua, cá to lớn và dữ tợn vì cầu trơn trượt, gập ghềnh, là cây cầu ở tầng địa ngục thứ 10, bắc qua Vong Xuyên 忘川: Sông Quên, và được xem như ranh giới cuối cùng trước khi tới Địa Ngục. Những linh hồn khi đi qua cầu Nại Hà sẽ phải lựa chọn hoặc là uống canh hay còn gọi cháo lú, chữ hán là vong thủy忘水: nước làm quên, hay vong tình thuỷ忘情水: nước làm quên tình, của bà Mạnh để quên đi mọi thứ từ kiếp trước và bắt đầu một kiếp mới, hoặc là không uống, nhưng những kẻ này sẽ phải chịu đựng nỗi dày vò nhiều năm dưới dòng Sông Quên đầy thuỷ quái, cua, cá ấy rồi mới được đầu thai. Mỗi người đều có một chén canh của chính mình được đặt sẵn tại đầu cầu; chén canh của bà Mạnh, thật ra chính là nước mắt chảy suốt một đời của mỗi con người khi còn sống trên đời: nước mắt vui, buồn, đau khổ, căm hận, và cả nước mắt yêu thương. Người không chịu uống là người còn muốn nhớ, còn muốn thương những giọt nước mắt ấy.

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2021

Duy Lam: Gia Đình Tôi

LST. Gia đình tôi là một truyện dài điểm hài hước của nhà văn Duy Lam đăng trên giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay vào khoảng cuối thập niên 1950.

Sau đây là phần đầu của truyện này trích từ tập I VHNN.


Trang mở đầu của truyện Gia Đình Tôi 
được đăng trênVăn Hóa Ngày Nay tập 1

Gia đình tôi chia làm hai phe: phe ba tôi và phe mẹ tôi với chúng tôi. Dĩ nhiên ngày xưa, khi chúng tôi còn nhỏ, ba me tôi đã ở cùng một phe để dạy dỗ và đe nẹt chúng tôi. Nhưng thời đó xa lắm rồi. Thỉnh thoảng sau những trận bàn cãi trong gia đỉnh mà kết quả là, ba tôi đuối lý, ba tôi lại nhắc tới những kỷ niệm cũ, hồi mà chúng tôi chưa lớn và bướng bỉnh như bây giờ.

Chẳng hạn :

— Tao có ngờ đâu chúng mày lại có thể biến đổi đến thế ! Hồi bé chúng mày cũng đều bình thường như những đứa trẻ khác cả. Thế mà con với cái ! Tao đọc bao nhiêu sách ngoại quốc mà chưa hề thấy một bầy con kỳ quái đến như chúng mày. Lúc nào cũng như ở trên cung trăng. Rồi mà xem ! Sẽ đến lúc chúng mày mở mắt ra !

Em Lan tôi mở to đôi mắt xếch và nheo mũi lại khiến chúng tôi ai cũng phải mỉm cười. Lan nói thầm qua làn tóc dài của Liên, tuy gọi là nói thầm, nhưng cũng đủ để me tôi ngồi ở giường cạnh đó và cả nhà nghe thấy :

— Ba lại sắp kể đến truyện lần đầu tiên ba “mở mắt ra”.

Cũng may vì câu nói của Lan nên ba tôi thôi không bắt tội chúng tôi nghe thêm một lần nữa câu truyện “mở mắt ra” của ba tôi.

Ba tôi im lặng một chút, đoạn đánh trống lảng khen một câu không ăn nhập gì đến câu truyện đang nói:

— Hôm nay món rau ngon quá nhỉ ?... Ăn rau bổ lắm đấy !

Thường hai phe đối lập trong gia đình tôi hay đối chọi nhau nhất vào lúc ăn cơm, vì lúc đó là lúc gia đình hội họp đông đủ.

Tôi không nhớ rõ từ thời kỳ nào gia đình tôi tách làm hai phe. Có lẽ từ khá lâu, nhưng sự phân chia bắt đầu thành hình rõ rệt nhất là khi tôi mới lớn lên và biết suy nghĩ một chút. Dĩ nhiên tội của tôi nặng nhất đối với ba tôi. Những đứa con khác thì tội cũng đều nặng cả, tuy nhiên độ nặng nhẹ thay đổi tùy theo mỗi cá nhân. Còn me tôi thì khác. Ba tôi sẽ mãi mãi ngạc nhiên không hiểu tại sao me tôi lại có thể đứng cùng một phía với các con để chống lại chồng. Ba tôi chỉ biết càu nhàu :

— Đàn bà chỉ chiều con ! Chiều chúng lắm, cái gì xin cũng cho rồi vào tù cả một lượt vì nợ.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

Xuân Đỗ: Ám Ảnh

“ Mea Cumpa, Mea Cumpa. Mea Maxima Cumpa”
(Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi mọi đàng)

Lân dựng chiếc xe Honda ngoài cổng, chạy vội vào nhà Thảo. Người chị từ trong nhà chạy ra, nói:

- Thảo có dặn chị, Lân đến, bảo em chạy đến bệnh viện Chợ Rẫy. Ba chị đang nằm nhà thương trong đó. Bệnh tim của ba tái phát, mẹ và Thảo đưa ba vào nhà thương ngay sáng nay. Bệnh tim của ba là vậy. Có việc gì làm ba xúc động mạnh, là có rắc rối. Lần này có vẻ nặng.

Lân ngẩn ngơ một lúc, rồi hỏi chị:

- Thảo có nói gì với chị, hoặc ba me, về việc ra đi không?

Người chị gật đầu:

- Có. Hồi tối cả nhà ngồi bên ba nói chuyện. Ba bảo tình hình nguy cấp lắm rồi, bảo Thảo nên ra đi với Lân, dẫn theo thằng Lực, vì ở lại là chết chùm. Nhưng sáng nay ba bị ngất xỉu, đưa vào bệnh viện, sống chết không biết ra sao, nên việc ra đi của em Thảo và thằng Lực theo em, chị không biết ba me, Thảo quyết định ra sao. Tốt hơn hết em chạy gấp lại nhà thương đi.

Lân chào chị, cầm cái tờ giấy địa chỉ phòng bệnh viện, nhảy lên xe Honda, chạy vù đi trong đường sá đầy người, xe cộ chen nhau. Bước vào phòng bệnh, Lân đi nhè nhẹ đến gần giường ba Thảo đang nằm, người ông như quấn đầy dây nhợ, các ống dẫn chuyền máu, ống chuyền nước biển. Bà cụ và Thảo nghe tiếng mở cửa nhìn lên. Thảo bước nhanh lại phía Lân, lắc đầu. Lân chỉ vào đồng hồ đeo tay, ra dấu, mình chỉ còn chưa tới nửa giờ, để ra đi hay không. Thảo lại lắc đầu, cắn môi để khỏi bật ra tiếng khóc, sợ ông cụ nghe. Không hiểu sao ông cụ đưa cánh tay đầy dây nhợ, huơ huơ, như muốn nói gì đó. Bà cụ kê tai sát để đoán thử ông muốn gì. Ông lại huơ huơ cánh tay, ra dấu. Bà cụ vội để cây viết và tờ giấy sát tay ông. Ông viết nguệch ngoạc:

- Thảo, Lực đi mau với anh Lân. Lân thay ba me dìu dắt hai em nên người. Đi mau đi. Các con thoát đi được, ba có chết cũng an tâm. Đi đi!

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

Hoàng Quân: Ca Dao

Nhạt Nhòa- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Nhờ vài sự kiện ngẫu nhiên, chị và nàng trở thành đôi bạn. Cả hai ở chung thành phố gần mười năm trời, mà mãi đến giờ mới chạm mặt. Có lẽ muốn bù đắp cho thời gian dài hụt nhau, chị và nàng thân thiết ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Hai đứa ngồi nói bao nhiêu là chuyện, tưởng như đã quen tự xửa, tự xưa. Rù rì chuyện trò, chị và nàng nhận ra hai đứa có nhiều mẫu số chung đó đây trong những góc nhìn cuộc đời. Nàng cũng nghĩ như chị, sự mong đợi trong quan hệ tình cảm của người nữ và người nam khác biệt rất nhiều. Chị đã đến gần, thật gần một mối tình. Sợi dây nối giữa chị và người ấy là những điện thư nhiều trang và những cuộc điện đàm hàng tiếng đồng hồ. Tình cảm hai người khắng khít thật nhanh trong giai đoạn người-tình-không-chân-dung. Nàng tưởng tượng được sự hồi hộp của chị, khi nhận được điện thư có kèm tấm hình của người ấy. Lúc trên màn ảnh hiện lên hình người ấy, chị đã tắt vội máy trong giây phút hốt hoảng, hụt hẫng. Không phải vì người ấy giống Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà hay Trương Chi. Nhưng những lá thư và những cuộc điện đàm đã vẽ trong trí chị một nhân dạng khác. Trấn tĩnh lại, chị dần dà tìm được những đại đồng, tiểu dị giữa văn và người của người ấy. Chị hân hoan trong mơ mộng của một hạnh ngộ. Với những sắp xếp mang vẻ tình cờ mà lãng mạn, người trong mộng đến với chị. Điều kiện khách quan, chủ quan hết thảy đều thuận lợi. Cuộc sống hình như sắp tròn trịa, gặp nhau đôi tâm hồn được nghỉ ngơi. Nhưng mọi việc diễn tiến khác với dự tưởng của chị, của người ấy. Cả hai cùng choáng váng, cùng mất thăng bằng. Chị xuống tinh thần dữ dội. Người ấy vẫn giữ liên lạc với chị. Nhưng những tờ giấy đầy chữ không thể gọi là thư mà là những bài báo cáo khô như ngói. “Anh đang đi làm ở tỉnh X. Anh sắp sửa đi dự hội nghị ở tỉnh Y”. Chị tiếc, chị nhớ những lá thư đầu Ngô, mình Sở, chêm vào đôi câu ca dao ngất ngơ. “Thương em chẳng dám vô nhà/ Đi ngang qua ngõ hỏi: 'gà bán không?'”. Những lá thư mở đầu với những danh từ ngọt ngào của nhiều ngôn ngữ Cưng, Schatz, Honey, Chérie...

Chị ngưng câu chuyện. Cả hai ngồi lặng yên một lúc, quan sát nhân gian rộn rịp giữa phố. Nàng quay qua chị: 

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Trịnh Cung: Sự Phát Triển Của Văn Học và Mỹ Thuật Có Phụ Thuộc Vào Mối Quan Hệ Giữa Hai Lãnh Vực Này?

Tiểu luận này được viết ở mức độ đề cương. Mặc dù sự ảnh hưởng của văn học không chỉ có đối với mỹ thuật mà cả nhiều lãnh vực của nghệ thuật như âm nhạc, kịch nghệ,… nên tác giả xin được phép giới hạn biên độ quan sát và nhận định, chỉ tập trung cho mỹ thuật. Mặt khác, khi đề cập đến thực tế của mối tương hợp giữa văn học và mỹ thuật, vì mối lương duyên giữa hai dân tộc Việt và Pháp đã sâu đậm về nhiều mặt trong quá khứ và tác giả là người đã chịuảnh hưởng trực tiếp của tình trạng lịch sử này nên chỉ dựa vào các tư liệu thuộc lịch sử văn học và mỹ thuật hiện đại Pháp để minh họa thêm cho lập luận bài viết dù vẫn có những hoàn cảnh tương tự ở các trung tâm văn hóa lớn như New York của những thập niên 30-50 của thế kỷ 20 chẳng hạn. Nếu thân hữu và đọc giả có những tư liệu khác và những kinh nghiệm xét thấy có thể sẽ giúp cho bước hoàn chỉnh tiểu luận sau này tốt hơn, tác giả rất hạnh phúc được đón nhận.
Trịnh Cung

I, Vấn Ðề.


Có một câu hỏi vẫn thường tìm đến với tôi: Nếu nền nghệ thuật hiện đại của nhân loại đã không nhận được sự tán đồng và cổ xúy trên tinh thần bằng báo chí (Revue Immoraliste, Paris năm 1905), viết sách, phổ biến tuyên ngôn (Les Peintres Cubistes 1913, Manifesto Surréalisme 1924, Les Voix du Silence 1951) của các nhà văn, nhà thơ có ảnh hưởng lớn với xã hội Pháp vào những thập niên đầu của thế kỷ 20 như Apollinaire, André Breton, André Malraux, Tristan Tzara,… thì liệu nó có tồn tại và trở nên những giá trị sáng tạo hiện đại vô giá mà thế giới đang thừa hưởng? 

Và đối với Việt Nam, giai đoạn vừa thoát ra khỏi văn hóa Hán Nôm, liệu nếu không có sự ra đời của báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Ðoàn vào năm 1932 bởi những nhà văn như Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Ðạo, Khái Hưng,… thì liệu có sự tỏa sáng của bộ mặt hội họa hiện đại Việt Nam non trẻ lúc bấy giờ hay không, trong khi mấy ai biết đến và thưởng thức được tranh của những Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ,… giữa một công chúng Việt Nam còn khốn khó và lạc hậu, con chữ còn mù mờ huống gì là tác phẩm nghệ thuật?

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2021

Trần Mộng Tú: Sài Gòn và Tuổi Thơ của Tôi

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc Cộng năm 1968 thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười, rồi chia ly với Sài Gòn.

Bên hông nhà thờ Đức Bà Saigon

Chế Lan Viên: Vàng sao

Hình minh hoạ, MARIANA SUAREZ/AFP via Getty Images

Trong cuộc hành trình vạn dặm, lại thêm một đêm muôn sao dừng sáng ngang trời. Luôn luôn họ đến kịp trước cái Ga Sầu vĩ đại của đêm đen, sao – những người “quá khách” ở trong “bách đại” – tất cả đều có mặt, tới đây cái nghìn đời làm bằng những phút, sự thường nhật vẫn hệ trọng như hội hè: này Hỏa tinh, này Kim tinh, này Ngân hà – Người xách sữa đi qua trời –, này Thất tinh – Bảy kẻ lạc đường – rủ nhau đi tìm Vô Tận.

Phải bỏ Mặt trăng ra: sự nhớ tiếc ban ngày thật không phải chỗ. Mặt trời làm tin ở ta (vì ta là một mặt trời), muôn sao làm tin những cái ngoài ta (câu móc về xa xôi, ở đó cái ức triệu của chúng đã treo nên huyền bí) chứ Mặt trăng, con người không tự cháy ấy phỏng gây ra được một tín ngưỡng gì? Vô đạo, xin mời cô em ra khỏi nơi thần tự. Trong bóng đêm như trong thánh thất cố bảo vệ sự linh thiêng của ngọc, của vàng.

Ta lại lên lầu, thành tâm hơn một nhà giáo sĩ. Mở chiếc áo để tìm vú mẹ, ta băn khoăn mở đôi cánh cửa, tìm trời. Chỉ một cử chỉ đó thôi mà ta tưởng đã lìa bỏ một cái gì để đưa mình vào một cái gì khác lạ. Thật thế, cách đây ba bước ấy là phiền hà sâu bọ của cuộc đời: bữa cơm không ngon, đôi giày sắp thủng, bức thư nhạt nhẽo của cô nhân tình, tánh hạnh ngỗ nghịch của mấy ông học trò khó dạy. Nhưng bây giờ ta đã có một cõi khinh thanh. Lên xuống lầu luôn, loài người nào đâu biết rõ: sự cách ngăn vốn làm bằng ý tưởng, tinh thần. Cảm giác của ta là đứng trong một tháp đài vô ảnh, và tuy không tàng thuật, ta vẫn ung dung như một kẻ vô hình. Làm nghĩ những gì, ngoài kia, nhìn vào, loài người vẫn như đui, như điếc.

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2021

Mai Thảo: Chân Trời Mới Của Trùng Dương

Từ mấy năm nay làm lại tờ Văn ở Hoa Kỳ, đời sống lữ thứ hàng ngày thấy đỡ thất lạc, bởi lại được thả trôi trở lại với một không khí tòa soạn không khí trị sự tuy đã khác biệt, nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó, trên một góc bàn viết, dưới một ánh đèn sáng, cái không khí đã bao năm sống ở quê nhà, tâm trí tôi thường có nhiều hơn những hồi tưởng về báo quán cũ, là 38 Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, ngày trước.

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Nhớ lại. Cái chỗ ngồi trên căn gác xép, ngó chéo sang tấp nập Ciné Quốc tế. Cái ngọn điện trước bàn viết tôi, mỗi buổi chiều, lách mình qua những cỗ máy Minerve im lìm, từ báo quán đi ra. Nhớ lại. Từng khuôn mặt anh em thợ chữ. Những thân trần, những mồ hôi, những ca đêm, những bữa ăn bên máy của họ. Nhớ lại. Những bản mo-rát trễ muộn, ướt nhèm, phải đính lên tường cho khô, ngày mai mới sửa. Nhớ lại. Hết thảy. Mùi mực in. Tiếng máy chạy. 

Về trước lẫn về sau anh Nguyễn Đình Vượng mất, từ Trần Phong Giao đi tới Nguyễn Xuân Hoàng đến, cho tới cái ngày 30 Tháng Tư bàng hoàng, tạp chí và nhà xuất bản cũng phải hạ bảng, báo quán ngưng đọng, tối thẳm trước tử hình của ngôn ngữ và khai tử của văn chương.

Nhớ lại, Duyên Anh ngồi viết ở bàn bên, chữ nhỏ như con kiến, Bùi Giáng vào đòi uống rượu, Bình Nguyên Lộc, Vũ Hoàng Chương chỉ cần một tách trà, cái quán cóc của bà Năm bên hông tòa soạn, thân hữu Văn tới ngồi đông kín, cái quán nhậu bên chợ Thái Bình, văn nghệ có tiền là ơi ới gọi nhau sang.


Và trong cái khối nhớ toàn thể này, về tiền thân của Motor Avenue bây giờ, còn là một phiến nhớ riêng, óng ả và khả ái hơn, là nhớ về cái đội ngũ những nhà văn nữ có với Văn một hợp tác từ đầu, tới với Văn bằng một lui tới thường hằng khiến mười lăm năm Văn không số báo nào là không có góp phần của văn chương nữ phái.

Hoa Mùa Thu: Gà mất mẹ thì lâu khôn

Thần thức tôi bay mông lung, đi tìm một điểm tựa. Trong lúc đang ngơ ngác, bất ngờ tôi thấy một xưởng nuôi gà, có một cái trứng sắp bể vỏ để một chú gà con chui ra chào đời. Một niệm dấy lên, nhanh như ánh chớp, tự nhiên chung quanh tôi tối đen như mực, tôi thấy tức ngực, ngột ngạt, nặng nề. Tôi vùng vẫy, cựa quậy dữ dội, miệng kêu thất thanh, nhưng âm thanh tôi phát ra là những tiếng kêu chíp chíp yếu ớt. Tôi đã trở thành một chú gà con, đang cố gắng chui ra khỏi vỏ. Do nghiệp lực nào dẫn dắt không biết mà thêm một kiếp nữa tôi vẫn là kiếp gà. Thần thức tôi trôi lăn không dứt, đọa đầy từ kiếp này sang kiếp khác, đễ chừng đã tới đã mấy trăm nạn kiếp trôi qua.

Như chú bé con vừa lọt lòng mẹ, bị vị bác sĩ đỡ đẻ cầm ngược hai chân, vỗ vào đít thật đau cho đứa bé bật tiếng khóc oa, chính thức chào đời. Tôi cũng vậy, tiếng kêu chíp chíp đã đem thần thức tôi từ nơi mông lung mù mịt, vào cõi đời chan hòa ánh sáng, dưới thân xác loài gà. Bây giờ đây tâm linh tôi còn sáng suốt, cái tâm linh mẫn cảm nối liền hai cuộc sống, còn bén nhậy trong tôi, nhưng tôi biết rồi đây thần thức tôi sẽ mê mờ đi, sinh hoạt ăn ngủ hành động như loài gà, thúc đẩy bởi bản năng sinh tồn của loài gia cầm thấp kém, và cứ tiếp tục như thế mãi, biết đến bao giờ mới trở lại được kiếp người sáng suốt.

Tương tự bất cứ trẻ em của các loài khác, tôi ao ước nhiều thứ lắm, muốn được mẹ tôi ôm ấp, chiều chuộng, săn sóc, cho ăn. Nhưng sự thật quá phũ phàng, mới sinh ra đời đã mồ côi. Mẹ tôi đâu? Tôi nhìn quanh ngơ ngác. Chung quanh tôi không biết cơ man nào là gà, dễ đến cả chục ngàn con, tất cả cũng vừa chui ra khỏi vỏ trứng như tôi, tiếng kêu chíp chíp rộn ràng. Chẳng lẽ tôi có nhiều anh chị em đến thế sao? Trong đám đông lẫn lộn kia, đứa nào thật sự là anh em cùng một mẹ với tôi. Ước mơ độc nhất của tôi là được thấy mẹ tôi, được mẹ tôi dẫn đi kiếm ăn cùng các anh chị em trong gia đình, lớn lên trong tình yêu thương đùm bọc. Tôi không có cái diễm phúc đó vì người ta đã ngăn cách mẹ con tôi. Mẹ của tôi chắc bây giờ đang ở cái chuồng chật hẹp nào đó, chuồng này chồng chất trên chuồng kia, nhiều tầng tiếp nối nhau. Trong một diện tích chật hẹp chỉ vừa đủ chỗ cho mẹ tôi xoay trở, ánh đèn sáng suốt ngày đêm để mẹ tôi chỉ biết ăn và đẻ trứng. Trứng vừa lọt lòng, mẹ tôi mới nhóm người lên để nhìn vào công trình mang nặng đẻ đau của mình, thì trứng đã lăn theo sàn dốc ra ngoài. Hốt hoảng mẹ tôi cố dùng mỏ giữ lại nhưng không được, trứng tiếp tục lăn xuống máng và được máng mang đi biệt tích. Trứng nào có mầm sống thì người ta cho vào máy ấp, trứng nào không, thì được phân loại đóng hộp bán cho người tiêu thụ. 

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

Hà Kỳ Lam: Mưa Gió Xa Muôn Trùng

Qua truyện nầy, tác giả xin thắp một nén hương lòng cho nhạc sĩ Văn Cao. 


Mới hơn tám giờ tối mà mọi nhà trong khu quận lỵ nhỏ bé này đều cửa đóng then gài. Chỉ có ánh đèn le lói qua các khe hở của vách ván hay qua các song cửa là dấu hiệu người ta còn thức. Mưa vẫn nặng hạt và đều đều với từng cơn gió thỉnh thoảng đẩy làn mưa thành những đường chỉ buông xiêng xiêng trước ánh đèn xe. Có lẽ một phần vì tình hình chiến sự có vẻ bất ổn sau một loạt đột biến như các vụ di tản chiến thuật ở miền Trung, rồi ở Cao Nguyên, và một phần vì trời mưa nên người dân ở đây đi nghỉ sớm. Chiếc xe jeep nhà binh dừng trước một căn nhà mái tôn với ánh đèn bên trong hắt qua các khe cửa sổ lá sách đã đóng lại. Rạng nhảy ra khỏi xe, và tài xế cho xe lao đi. Chàng dò dẫm mấy bực thềm trước khi có thể chạm tay vào cánh cửa. Chàng đứng im nghe ngóng mấy giây. Im phăng phắc – không có lấy một tiếng xầm xì bên trong. Dán mắt vào một khe hở của vách ván, Rạng vừa thoáng thấy bóng dáng Trâm đang ngồi chấm bài bên ngọn đèn dầu hỏa. Trâm là một cô giáo mấy năm nay.

Rạng đưa tay định gõ cửa, nhưng dừng lại. Tiếng gõ cửa ban đêm thường làm người ta sợ. Chàng nói lớn nhưng ôn tồn:

“Trâm mở cửa cho anh. Rạng đây!”

Một cánh cửa sổ hé mở và một mái tóc xõa in hình trong khung cửa, rồi một giọng con gái reo vui:

“Anh Rạng!”

Cửa mở. Rạng bước vào nhà với bộ quần áo trận phong trần lấm tấm những hạt mưa, và Trâm đứng nép một bên nhường lối. Nàng nhìn Rạng từ đầu đến chân rồi hỏi:

“Thật là lâu anh mới đến. Đi công tác một mình hay cả đơn vị?”

“Bọn anh lại sắp được ném vào một lò lửa nào đây. Lâu quá nay mới có dịp qua vùng này nên ghé thăm hai bác và Trâm.”

“Ba má em lên Sài Gòn lo đám hỏi cho anh Trực, mai mới về. Tối nay anh ở lại đây nhé. Một năm rồi anh mới ghé. Đi đâu mà biệt tích lâu dữ vậy?”