Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

Vũ Thư Hiên: kẻ vô ơn

1


Nghe tôi nói đến “Hiếu nhà băng,” ông Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:

- “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông cũng quen hắn à? 

- Quen. Nhưng chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?

- Biết chứ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có cái biệt danh khác — “Hiếu tồ”. 

- Trái đất tròn thật. Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch trên sông Nil, lâu rồi, dễ cũng đến ba hoặc bốn năm. Quen nhau kiểu ấy thì chỉ loáng thoáng thế thôi, mãi đến năm ngoái gặp lại nhau ở Genève hai đứa mới có dịp tâm sự. Ông này tính tình cởi mở, dễ chịu lắm, tuy có hơi tồ tồ một chút thật, ông gọi là Hiếu tồ cũng không ngoa. Nghe ông nói mới biết, chứ tôi cứ tưởng ông ta là dân Bắc kỳ di cư rồi vọt qua đây sau tháng tư 75. Cái vụ thuyền nhân bi thảm là thế, thế giới chửi cho mục mả, vậy mà cũng có cái mặt hay của nó — người mình giờ ở đâu cũng có, dễ chỉ thua dân Trung Quốc. Người ta bảo ở đâu có gián ở đấy có người Trung Quốc. 

- Hiếu tồ đi sang bên này khoảng 78 hay 79 chi đó.

- Thuyền nhân? 

Ông gật đầu. 

- Tức là có đi kháng chiến một đoạn, rồi dinh tê?

- Đại khái thế. Nghe nói bây giờ hắn giàu. Không phải giàu thường thường, mà giàu lắm. 

Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020

Khánh Hà: Về Một Bến Sông

Hình minh hoạ, Internet

Em giữ nhé một mình trong ký ức
Bởi không còn ai nữa để sẻ chia
Những vui buồn lâu lắm tự thời xưa
Nơi quê cũ chỉ còn trong tâm tưởng
Những chuyến bay chở người đi trăm hướng
Nhưng không về đến bến một dòng sông
Bãi bờ xa khi con nước đã ròng
Chiếc cầu nhủi dưới mé sông đã mục
Bóng dáng mẹ đã đời đời xa khuất
Bao nhiêu lần mẹ đứng đó nhìn theo
Chiếc đò khuya kẽo kẹt tiếng mái chèo
Đò đi khuất mẹ vẫn còn đứng đó
Gió chao chao ngọn đèn chong mờ tỏ
Tiếng tù-và vọng lại giữa âm u
Nẻo về xưa, xa thăm thẳm biệt mù

Trần Bang Thạch: Đầy Một Niềm Vui

Hình minh hoạ, Kevin Frayer/Getty Images

Bà Phước bóp nhẹ mấy ngón tay xương xẩu của chồng rồi cùng con trai bước ra khỏi phòng. Người nữ y tá cũng bước ra theo, sau khi chúc ông Phước ngủ ngon. Ông Phước còn lại một mình trong phòng. Hai chiếc giường kia đã bỏ trống từ hồi trưa. Một người được xuất viện, người kia trở bịnh nặng, phải đưa về khu cấp cứu; không biết có còn trở lại đây nữa không, hay được đưa thẳng xuống nhà xác, như ông Mễ nằm giường ấy cách đây hai tuần. Ba tuần trước, ông Phước từ phòng cấp cứu được chuyển vào phòng này. Coi như bịnh trạng của ông đã qua thời kỳ nguy hiểm. Bây giờ là thời gian điều trị. Ống chân trái của ông Phước bị gãy, các lóng xương bể đã được sắp xếp lại và nẹp bằng một thanh bạch kim. Bác sĩ nói tuần tới chân ông sẽ được bó bột. Nhưng việc xuất viện thì chưa biết, vì có dấu hiệu xuất huyết đường ruột nên vài thử nghiệm phải tiến hành song song với việc chữa trị vết thương chân.

Từ ngày ông rời nước, đến thành phố này vào năm 1994 đây là lần đầu tiên ông Phước vào nằm bịnh viện vì một tai nạn, có thể gọi đó là tai nạn nghề nghiệp. Số là sáng sớm hôm ấy, như thường lệ, ông Phước đẩy cái xe thùng tự chế của ông đến khu công viên gần nhà, rồi đến khu thương mại sầm uất nằm trên ngã tư trục lộ giao thông. Mười năm rồi, chỉ trừ khi mưa giông hay khi đau yếu, hiếm khi ông Phước bỏ sót một ngày đẩy xe trên các con đường này. Ông đi vừa là một cách tập thể dục, vừa là dịp để ông thu lượm những lon nhôm bên đường, tại khu công viên, hay từ các bao rác tại các cơ sở thương mại. Ông Phước rất cẩn thận mỗi khi băng qua đường. Hôm ấy nhiều sương mù, khi đến ngã tư, tuổi già mắt kém, nhìn gà hóa cuốc, ông Phước nhìn đèn xanh tưởng là đèn đỏ, liền đẩy xe tay xuống lộ qua đường bên kia. Khi thấy chiếc xe đen thui trờ tới thì mắt ông đã tối sầm. Ông Phước được đưa vào bịnh viện ngay sau đó. Bác sĩ cho biết ống chân trái của ông bị gãy, nhưng không quá trầm trọng.

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

Phan Bá Thuỵ Dương: Nói Với Thiền Khách

Hình minh hoạ, Getty Images

Gởi Đỗ Hồng Ngọc, Trần Thiện Hiệp


Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm
Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời
Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi
Xin nhẹ bước trên lối mòn tĩnh lặng

Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn
Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn
Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân
Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi

Có phải người đang quay về bến đợi
Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong
Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông
Áo nâu mỏng sao che mưa đỡ gió

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

Hồ Trường An: Một Thuở Xuân Như Ý

Hình minh hoạ, Internet

Thầy giáo Ba Biền vốn có cái mặt đỏ bừng mỗi khi xúc động. Hễ ngượng, giận, háo hức...thầy đỏ mặt đã đành, mỗi khi cười, mặt thầy cũng đỏ hừng hực mới là kỳ cho chớ. Bởi đó thầy được chòm xóm âu yếm tặng cho cái hỗn danh là thầy Ba Gà Lôi. Ông bà mình cho rằng người mà có khuôn mặt như vậy là người bộc trực, lòng dạ thẳng bon và suông đuột như ống nứa ống tre, thấy sao nói vậy.

Vào thượng tuần tháng chạp, chợt nghe gió chướng thổi lao xao trên hàng cây vông lá mướt hình trái tim, bông đơm đỏ thắm, thầy Ba Gà Lôi ngoắc chú Thường Xuyên Bạch đang neo xuồng câu tôm bên mé rạch, bảo:

- Lật bật mà Tết sắp tới rồi. Thấy vông đồng trổ bông, nghe cu kêu trên cây là mình lo phải sắm Tết.

Chú Thường Xuyên Bạch cười:

- Năm nay vùng mình trúng mùa, tui tin rằng nhà nào cũng sẽ ăn Tết lớn.

Thầy Ba Gà Lôi bảo:

- Ở xứ Nam kỳ mình, nhà nào dù nghèo mạt rệp thì trong bữa ăn vẫn có món canh, món mặn, món xào. Sông rạch miền Hậu giang mình tôm cá ê hề, đất ruộng màu mỡ nên dư lúa gạo để ăn, để sắm vàng. Dân Hậu giang mình chỉ ăn cá bự cỡ bắp tay sắp lên chớ đương thèm rớ tới thứ cá lụn vụn như cá chốt, cá rói, cá linh... Ðất tân bồi do phù sa đắp một khi xả hết chất phèn là trở nên phì nhiêu. Dân mình nếu chí thú làm ăn sẽ giàu có mấy hồi.

Ðó là vào thập niên ba mươi thời tiền chiến. Gia đình thầy Ba Gà Lôi ở trong căn nhà lợp ngói vùng Cầu Ðúc Cái Xình, gần chợ Hoả Lựu tỉnh Rạch Giá, cạnh con kinh Vàm Xáng, hễ vào mùa xuân nước trong văn vắt.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

Nguyễn Hưng Quốc: Thư Của Các Nhà Văn

Mới đây, trong lúc lục đống giấy tờ cũ để tìm tài liệu cho một bài viết mới, tôi tình cờ đọc lại mấy bức thư của nhà văn Mai Thảo (1927-1998) gửi cho tôi. Mai Thảo mất chưa tới mười năm. Vậy mà những bức thư ấy, dù được giữ gìn khá cẩn thận, giấy đã bắt đầu ố và một số nét chữ đã bắt đầu bị phai hay nhoè đi rồi.

Cầm những bức thư của Mai Thảo, quên bẵng cái đề tài mình đang định tìm tòi, tôi cứ tần ngần nghĩ ngợi mông lung. 

Về Mai Thảo.

Về một số nhà văn và nhà thơ khác mà tôi quen biết.

Và về thư như một thể loại văn học.

*

Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, được gợi hứng từ lời tuyên bố “Thượng đế đã chết” của Nietszche, nhiều nhà phê bình và lý thuyết văn học trên thế giới thường hay nói đến những cái chết trong văn học: thoạt đầu, cái chết của tiểu thuyết, sau, cái chết của thơ; và đâu đó, ở khoảng giữa, cái chết của tác giả. Cho đến nay, hình như không lời báo tang nào thành sự thực. Tiểu thuyết vẫn còn. Thơ vẫn còn. Tác giả vẫn còn là một quyền lực lớn lao đằng sau các văn bản. Chỉ có một thể loại hình như có nguy cơ chết thật, chết một cách lặng lẽ: thư.

Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, thư bị tấn công dồn dập: thoạt đầu, với sự ra đời của điện thoại, sau, của điện thoại di động, và, quan trọng nhất, của điện thư (email) và các hình thức chuyện trò qua internet. Hiện nay, dĩ nhiên vẫn còn khá nhiều người ở nhiều nơi trên thế giới tiếp tục viết thư cho nhau. Nhưng, không còn hoài nghi gì nữa, số lượng những người duy trì được thói quen viết thư như thế càng ngày càng hiếm; tuổi tác của họ cũng càng ngày càng cao: một lúc nào đó, có lẽ không lâu lắm nữa đâu, thư chỉ còn là một hoài niệm.

Ở Việt Nam, thậm chí thư không tồn tại được như một hoài niệm. Bởi nó chưa từng hiện hữu một cách công khai, đàng hoàng, chính thức; hoặc nếu hiện hữu, sự hiện hữu ấy cũng quá mờ nhạt, không hình thành hẳn một thể loại riêng. Những chiếu, biểu, tấu, sớ, hay ngay cả những Quân trung từ mệnh, những Hải ngoại huyết thư, những Thư thất điều... tuy lừng lẫy một thời, vẫn nặng tính chất chính trị. Giá trị của chúng rõ ràng là lệch về phía lịch sử hơn là phía văn học.

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2020

Trần Mộng Tú: Đôi Đũa Cả và Con Sông Cái

Hình minh hoạ, 1946.vn

Cô cháu con ông anh tôi về Việt Nam thăm gia đình, hỏi tôi:

Cô có cần gì ở Việt Nam không?

Có, mua cho Cô một đôi đũa Cả

Cô à, bây giờ không có ai dùng đũa Cả xới cơm nữa, không biết con có tìm được không? Ai cũng thổi cơm bằng nồi cơm điện, bấm cái nút xong là xong, nên không dùng đũa Cả, và khi bới cơm ra chén thì họ dùng cái muỗng làm bằng nhựa múc cơm ra.

Cô biết rồi, nhưng cứ tìm mua cho cô, chọn đôi nào đừng dài quá và mỏng mỏng một chút.

Đã 45 năm ở Mỹ, tôi vẫn dùng đũa Cả, dùng trong bếp cho rất nhiều việc. Ngoài việc xới cơm, thỉnh thoảng tôi vẫn dùng một chiếc để khuấy bột làm bánh, khuấy nồi chè, ngay cả khuấy nước sốt nấu mì Ý. Tôi dùng đôi đũa Cả thấy nó gần gũi thân thiện với mình, thấy nó quê nhà quá đỗi! Chữ “Cả” gợi cho tôi rất nhiều hình ảnh thân thiện về thân tộc, về quê nhà. Như người con gọi “mẹ Cả” không phải là mẹ đẻ ra mình, nhưng là người vợ đến trước với cha mình, người đó cũng là người “vợ Cả” của cha. Con lớn nhất trong nhà là anh Cả, chị Cả.

Ngự Thuyết: Tuyết

Hình minh hoạ, JOSEPH EID/AFP via Getty Images

Tuyết! Đấy là cái ám ảnh dai dẳng của tôi trong một thời gian rất dài. Nước tôi không có tuyết, và lẽ dĩ nhiên cũng không có nhiều món đặc trưng khác của Tây, của Tàu, của Châu Phi chẳng hạn, thế nhưng ước mơ của tôi được thấy tuyết tận mắt là tha thiết hơn cả. Nhớ thời còn học Trung Học, gặp đâu đó một câu thơ hay câu hát I’m dreaming of a White Christmas, cái ước mơ đó càng thêm ray rứt, như mơ về một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó mà kiếp này mình không bao giờ đến được. Trong những giấc mơ đó, tôi thấy tuyết đẹp vô cùng dù tôi cũng biết có những cơn bão tuyết làm chết người. 

Liệu có kiếp trước, kiếp sau, hay không? Nếu có, chắc là kiếp trước tôi sinh trưởng tại một vùng thuộc Bắc Cực hay Nam Cực, hay Ôn Đới, rồi lìa đời, và trước khi đầu thai làm người vùng Nhiệt Đới của kiếp này, tôi không bị ăn cháo lú. Cho nên nhớ tuyết không nguôi; nỗi nhớ nằm sâu trong vô thức, hay là, xin mượn tiếng Nhà Phật, nằm trong tàng thức. Thế thì nếu kiếp sau tôi là người của Phương Tây, của xứ lạnh, tôi sẽ mơ tưởng những gì? Phải chăng tiếng ve sôi động từng hồi và hoa phượng đỏ rực sân trường muà hè, tiếng ểnh ương ệnh oạng miên man rầu rầu trên những cánh đồng hoang lụt lội mùa đông, tơ trời bay vương vấn trên cao vào mùa thu của những ngày tựu trường sau ba tháng vui chơi, mưa phùn hạt nhỏ như sương mát rười rượi “cuốn theo chiều gió”những ngày sau Tết. Và gì nữa? Còn nhiều lắm, kể sao hết. Nhưng cũng phải kể thêm một nỗi nhớ khác nữa thôi, những rặng tre thân yêu, kiên trì, đu đưa kẽo kẹt quanh năm suốt tháng trong khắp các làng gần, làng xa. 

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

Nguyễn Văn Thà: Mây Vàng Âu Yếm Giăng Ngang

Tặng Suối Ngọc

Hình minh hoạ, Andrew Redington/Getty Images

Bergen là thành phố của hoa đỗ quyên và của mưa, mưa chiếm bốn phần ba ngày của năm. Mưa giam chân người trong nhà, nên người ta sinh con nhiều hơn và cũng làm ra nhiều mê say, nhiều nghệ sĩ, và nơi đây cũng nổi tiếng có nhiều đàn bà đẹp vì trời mưa vuốt má các nường nhiều hơn những nơi khác. Đấy là lời bàn vô của bạn Nam khi Nam nói là Nam sẽ từ Oslo dời lên đó. Không lên không được, không còn có sự chọn lựa nào khác, bây giờ nhìn lại thì buồn cười, nhưng vào cái tuổi bốn mươi nhựa sống vừa căng vừa chạy loạn xạ, phi như ngựa chứng, húc như dê càn – trong đầu, thì đấy là một chân lý. Giòng nhựa sống ấy trôi âm thầm trong cuộc sống êm ả có căn nhà ấm, có một bà vợ đẹp không đủ để Nam làm thơ say mê dữ dội như thơ Đinh Hùng, nhưng đủ để cảm những bài thơ hiền lành của Nguyễn Bính, có đủ cái ăn, thậm chí ăn ngon, và vô số sách hay để đọc, có một công việc để làm, có nhà thờ để ở đó được nghe những lời răn dạy.

Mùa xuân là mùa cưới. Cái phong tục hay hay này ông Đạo, cậu của Nam, đã nghĩ tới khi cậu ấy tổ chức đám cưới cho con trai út vừa đẹp trai lại vừa tốt nghiệp kỹ sư điện toán vào cái thời đầu của kỷ nguyên điện toán; con trai của cậu Nam lại lấy một cô gái người Bắc ăn nói có phép có tắc. Ông cậu của Nam chuộng người Bắc là chuộng chỗ đó. Ông là chủ tịch hội đồng giáo xứ Sankt Paul nên cái lối ăn nói kiểu cách, dè dặt ấy rất thích hợp khi họp một năm đôi lần ông phát biểu trước cộng đoàn giáo xứ. 

Khi ở trong một Đất Nước mà mỗi người, nói chung, đều có thể có một cái vi la hay một căn hộ đàng hoàng và một cỗ xe hơi khá tốt, thì chuyện môn đăng hộ đối về của cải không còn là chuyện quan trọng, nhưng chuyện môn đăng hộ đối về cái danh vẫn còn đó đối với kẻ có cái chức chủ chủ tịch hội đồng giáo xứ như cậu của Nam, và với những ông bà có danh giá, chức tước mang từ Việt Nam qua, trong đó có ông Bằng là cựu quận phó hành chánh, tốt nghiệm ưu hạng trường Quốc gia Hành chánh, người sẽ thay mặt cho bên nhà gái nói vài lời trong đám cưới.

Phạm Hảo: Mùng Hai Tết

Hôm 23 tháng Chạp, ngày cúng đưa ông Táo về Trời, trong bữa cơm chiều hôm ấy, U tôi đã bắt đầu giao việc cho bốn chị em tôi để làm trong những ngày đầu năm mới, đặc biệt là ngày Mùng Hai Tết, vì hôm đó U tôi đi đến nhà Bác Nên ở mãi trên Thành ăn Tết, không có nhà. U tôi bảo quen biết Bác Nên hơn 10 năm rồi, từ khi di cư ngoài Bắc vào, năm nào Tết đến là Bác cũng ân cần mời Ba U tôi đến nhà Bác ăn Tết với đại gia đình của Bác. Ba tôi thì không thể nào đi đâu được trong mấy ngày Tết vì cụ rất bận rộn hội họp với những người bạn có cùng thú chơi chim gáy với cụ. Năm nay U tôi quyết định phải lên Thành ăn Tết một lần với Bác Nên cho khỏi phụ lòng tốt của người bạn thân.

Chị Vân lớn nhất trong bốn chị em thì được giao cho ngày Mùng Hai Tết ở nhà lo tiếp bạn bè, hàng xóm và họ hàng ghé qua chúc Tết. Chị Vân vâng lời ở nhà ngay, chúng tôi biết tại sao, lý do vì tuần trước anh Hà là bạn của anh Thành, anh thứ hai của tôi, đã hẹn Mùng Hai Tết ghé qua chúc Tết Ba U tôi và lì xì cho mấy đứa chúng tôi. Chị Vân và anh Hà chưa đi đến tình trạng Tay Trong Tay đâu, nhưng tình trạng Mắt Trong Mắt thì chị Thảo và tôi rình rập, đã bắt gặp vài lần.

Chị Thảo thì khi mới ra đời đã yếu ớt, thiếu sức khỏe, mình hạc xương mai, Ba U tôi không cho động đến một tí việc gì trong nhà, đi học hàng ngày còn phải có xích lô tháng đưa đón, ăn uống ngày hai bữa cũng hơi khác với những đứa mạnh khỏe trong nhà chúng tôi, bữa cơm của chị lúc nào cũng có thịt hay khoai tây, cà rốt là những món có nhiều chất bổ. Trong khi chúng tôi thường chỉ có cá kho, cá rán, rau luộc, đậu rán, canh rau… Thế nên hôm ấy U tôi giao cho chị ở nhà giúp chị Vân những việc nhẹ nhàng không phải dùng sức nhiều như pha trà, dọn bánh mứt ra tiếp khách.

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020

Khánh Hà: Khi gió bấc về

Hình minh hoạ, Internet
Thư bạn nhắc gởi bài tờ báo Tết
Hình như xuân còn lại chút này thôi
Ta cùng nhau còn được mấy lần vui
Một, hai... lần, biết đâu rồi từ biệt

Đoạn đường cuối như khúc sông chảy siết
Tính thời gian, quả thật chẳng còn nhiều
Tiệc Tết năm này dọn cũng bấy nhiêu
Món-nhớ-quê-hương ngày xưa ngày xửa
(Mà bây giờ biết ai còn nhớ nữa)

Ai còn nhớ những gian nhà mở cửa
Có gió lùa thông thống trước ra sau
Trời lập đông, tiếng gió bấc rao rao
Ôi tiếng gió này sao mà nhớ quá

Con tu hú gọi vang như giục giã
Trong vườn nhà so đũa trổ trắng bông
Gió thổi hắt hiu trên những cánh đồng
Lúc đã gặt, chỉ còn trơ gốc rạ

Lê Hữu: Hoa anh đào nở rộ

Green Lake Park, Seattle (Photo: Selamawit Adinew)

Người đàn ông khiếm thị có bộ râu quai nón màu trắng bạc ngồi lặng lẽ trên băng ghế, dưới tàn cây rộng trong công viên Green Lake Park. Ông mặc chiếc áo plaid overshirt màu xanh đậm, cầm trên tay chiếc gậy dò đường màu trắng và đỏ. Tiết trời mát dịu, không còn se se lạnh như mấy hôm trước đây. Ông thấy dễ chịu, có cảm giác từng làn gió nhè nhẹ mơn man trên da thịt.

Ông nghe lào xào đủ mọi âm thanh lớn nhỏ, xa gần ở quanh mình. Hôm nay là Chủ Nhật đây, hẳn là đông vui hơn mọi ngày. Thỉnh thoảng ông quay đầu sang phải, sang trái, nghe ngóng.

Tiếng động gần nhất ông nghe được là tiếng chân ai đó bước lần về phía mình. Im lặng. Ông nghe rõ những tiếng hít vào, thở ra chầm chậm, đều đặn ngay bên cạnh mình. Người này chắc đang vận động tay chân cho bài tập thể dục nào. Tiếng thở ra một hơi dài sảng khoái, rồi tiếng băng ghế động đậy, tiếng áo quần sột soạt của ai đó vừa ngồi xuống chỗ trống bên cạnh ông. Một cánh tay hay bàn tay nào chạm nhẹ vào vai ông. 

“Ô… xin lỗi,” giọng một thanh niên.

“Không hề chi. Xin chào.” Ông dịch người sang bên, chừa rộng chỗ cho người mới đến. 

“Chào chú.” Chàng thanh niên quay sang ông, “Cháu tên Dan.”

Nguyễn Tường Thiết: Mùa xuân trên phố 

Hình minh hoạ, KENA BETANCUR/AFP via Getty Images

Tình cờ tôi có mặt ở University District. Khu phố bao bọc trường đại học Washington nằm ở phía đông một thành phố miền tây bắc, thành phố quê hương của những quán cà-phê Starbucks trên thế giới. Tôi đứng ở sau lưng Cathy. Mùi cà-phê thơm tỏa từ quầy hàng che lấp mùi phở chắc còn quyện vào áo quần hai người. Tôi không quen biết Cathy. Tôi chỉ biết cái tên. Cathy và tôi tình cờ vừa từ trong một tiệm phở đầu phố bước ra và cùng vào quán cà-phê này.

Cathy gọi hai cốc “latté”. Cô nàng nói thêm: “Tall, non fat latté”, nhấn mạnh vào hai tiếng non fat (không chất béo). Tôi mỉm cười nhớ tới tô phở béo ngậy mà cô nàng vừa ăn trước đó không lâu. Tôi kêu cà-phê đen. Ly cỡ vừa. “Tall size”, tôi nói. Cô gái tóc vàng hỏi tôi có cần chừa chỗ để bỏ thêm đường và sữa? Tôi nói “Yes” rồi đưa cô ta tấm thẻ nhựa trong suốt “Starbuckscard” do con gái tôi gửi làm quà dịp Giáng Sinh rồi. Lúc cầm cốc cà-phê bằng giấy cứng có in cái vòng tròn màu lá cây còn nóng hổi đi ra phía cửa tôi thấy Cathy ngồi ở một cái bàn nhỏ trong quán sát cửa kính, xoay lưng phía tôi và đang nói chuyện với một người bạn gái. Một cái lưng đẫy đà. Ðó là hình ảnh sau cùng của nàng, một người qua đường tôi tình cờ gặp, như vô số những hình nhân không tên tình cờ va tiếp trong thành phố.

Bên ngoài dưới mái hiên rộng của quán bầy một dẫy bàn ghế nhựa thấp sơn trắng. Ở một góc, cạnh một cái bàn tròn nhỏ là hai cái ghế bành rộng màu nâu xậm. Tôi đặt ly cà-phê lên bàn rồi ngồi xuống thọt lỏn trong chiếc ghế bành rộng có nệm nhún rất êm. Mở mấy cái nút khuy áo sơ-mi trước ngực tôi móc ra một cái phong bì lớn màu vàng, quẳng lên bàn. Ở góc phong bì có đóng hàng chữ Thế Kỷ 21 Magazine. Trong phong bì là một số báo. Số báo này đặc biệt vì có bài viết của tôi. Một truyện ngắn đầu tay. Nhận được báo từ hai hôm nay nhưng tôi không mở ra đọc ngay như lệ thường. Tôi chọn một thời khắc nào thật thảnh thơi để có thể nhẩn nha với tác phẩm của mình. Bài viết của tôi, tuy chưa đọc, nhưng tôi đã thuộc nằm lòng, việc chi phải vội vã.

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2020

Thy An: Trên tay kinh rụng

Hình minh hoạ, MOHD RASFAN/AFP via Getty Images

ta về ray rứt thiên thu
chân đi xiêu vẹo bến mù cõi xưa
mở ra mấy cửa đại thừa
trên tay kinh rụng lọc lừa phù sinh
vườn em hoa nở một mình
mấy cành sương đọng an bình tâm can
leo thuyền bát nhã lên ngàn
nghe đâu chuyển tiếp muộn màng pháp luân
ta về ấm lại mùa xuân
mưa rơi ướt đẫm nỗi truân chuyên đời
chân như gieo tiếng gọi mời
lần theo bóng hạc mấy lời từ tâm

thy an

Ngọc Ánh: Núm ruột nghĩa tình

Mỗi nhà mỗi cảnh, thời trẻ tôi có tới 2 Ba, 2 Má, 2 bà Ngoại... Chuyện là cô Sáu em của ba tôi sanh được anh con trai thì bệnh sao đó không sanh được nữa, trong khi Má tôi mần một hơi 2 đứa con gái và đang mang bầu tôi. Thời chiến tranh giặc giã ở quê ai cũng nghèo, nhưng cô Sáu ham con quá bèn dặn Ba tôi “Nếu kỳ này chị Năm đẻ con gái nữa, anh cho tui nuôi nhe”. Tưởng ai xa lạ chớ em ruột của mình, cho cổ có mất đi đâu, chắc Ba nghĩ vậy nên gật đầu liền, Má tôi vì nể chồng nên hổng dám cãi, chớ bà cũng xót ruột xót gan.

Khi tôi vừa sanh ra còn đỏ hỏn là Cô Sáu lật đật ôm về làm khai sanh, lấy họ Dượng tính đặt tên là Trần Ngọc Nuôi , nghe đâu thời đó có cô đào cải lương cũng tên là Ngọc Nuôi tài sắc vẹn toàn, chắc ông bà cũng muốn tôi giống như vậy nhưng nghĩ bụng phân vân “Rủi sau này nó biết nó là con nuôi thì sao? không được đâu, phải giấu biệt vụ này để lớn lên nó không mặc cảm mà mình dạy dỗ nó cũng dễ” và họ đặt tôi cái tên khác nghe cũng sáng láng và quyết chí dọn nhà lên chợ Sóc Trăng ở để bà con dưới quê khỏi xầm xì này nọ, họ hàng ai mà nói động tới con nuôi con ruột là Má tôi chửi tắt bếp!

Vậy đó, tôi đương nhiên là con gái cưng của Cô dượng Sáu, hàng xóm biết Ba Má có hai đứa con thôi, anh Tùng đi lính quanh năm, lâu lâu mới về phép, Ba tôi có cái quán hớt tóc ở đầu hẻm, gọi là quán vì nó được che tạm bợ vừa đủ kê hai cái ghế đẩu và tấm kiếng đặt dựa vách, cạnh bên treo tòn teng sợi dây nịch bằng da cũ dùng để liếc dao cạo, một cái khăn choàng ngã màu cháo lòng nhưng luôn được giặt sạch sẽ, cái kệ đóng sơ sài để dao kéo tông đơ… Đồ nghề của ba chỉ có vậy ! Nghe nói cả đời Ba ôm mỗi cái nghề hớt tóc này thôi. “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nếu câu này ứng vô ba tôi là sai bét, hớt tóc mấy chục năm vẫn nghèo!

Má tôi thì giỏi giang hơn, bà bán buôn đủ thứ, nhớ hồi tôi 9-10 tuổi gì đó, Má tôi dạy thêu, dạy móc… bà vô sạp vải mua vải khúc đầu thừa đuôi thẹo về, miếng lớn thì cắt áo đầm trẻ con, miếng nhỏ thì cắt áo túi, khúc xanh nối với khúc đỏ may đồ con nít, tôi thêu vài cái bông cài hoa vô cho nổi hơn, ngày Tết đổ ra chợ bán đâu phải quần áo không mà còn kèm cả chục hũ củ kiệu, cả thúng bánh ít bánh tét… Nói chung Má làm quần quật nhưng trông thảnh thơi vì “quen tay quen việc” Má không cho tôi đụng vô bếp núc, chê tôi vụng về, đụng đâu hư đó. Chỉ lo học hành tử tế là được rồi, mọi việc có Má lo, thậm chí đi học về Má dọn cơm sẵn đậy lồng bàn, tôi chỉ ăn và rửa mấy cái chén! Con cưng là con hư, sau này ra đời đi làm ăn cơm tập thể, lấy chồng cũng chưa nấu được bữa cơm tươm tất, may mà không làm dâu làm con ai, chứ Má chồng còn sống chắc tôi ra sau hè…

Ngô Nguyên Dũng: Đêm Tuyết Gọi

Hình minh hoạ, FreePik

Cuộc rượu về khuya chỉ còn lại bốn người: tôi, Bính, Phụng và Thạo. Bính với tôi thân nhau đã lâu, còn Thạo chỉ mới qua đây. Anh là bạn của Bính như thế nào, tôi không rõ, cũng chưa hỏi. Vào tiệc, anh ít nói. Sau một đỗi cụng ly qua lại, khẩu khí chừng như ngấm men, anh trở nên hoạt náo. Bàn chúng tôi, một lứa trung niên, chỉ mỗi Hứa Phụng là nữ phái. Nàng gốc người Hoa, nhân tình nhân ngãi với Bính đã nhiều năm.

Có lần, cạn chuyện, tôi hỏi Bính:

- Bạn và Phụng không nghĩ chuyện làm khế ước trăm năm với nhau sao? Sống vậy, người ta nói.

Anh hùng hổ:

- Đứa nào nói gì? Đấm hộc máu nó ra!

Tôi lúng búng:

- Làm gì dữ vậy, bạn?

Bính dịu giọng:

- Tụi mình đang sống ở đâu, thời nào vậy? Trời, nơi này là đất Âu châu tiến bộ, chứ phải đâu Trung đông vào thế kỷ 18.

Nhưng nét mặt và cách nói anh vẫn không dứt bực bội. Tôi đổi đề tài, gợi ý bàn bạc về cuộc triển lãm một số danh hoạ ấn tượng vừa khai trương. Chúng tôi hợp nhau ở lãnh vực này, yêu nghệ thuật, nên tình thân không gặp nhiều trở ngại. Trăm lần như một, khi đồng hương chúng tôi tổ chức lễ lạt hay họp mặt hội luận nọ kia, Bính đều lái xe tới nhà chở tôi đi. Cho tới bây giờ, nhiều thập niên phẳng lặng trôi qua, tôi vẫn chưa hề nghĩ tới chuyện sắm một chiếc xe. Vì nhiều lẽ. Tài chính là một. Và không hiểu sao, tôi thích quang cảnh những sân ga, những bến đợi, những dải đường sắt phơi lưng dưới thời tiết bốn mùa. Khoảnh khắc thơ thẩn đó gợi nhắc trong tâm tư tôi vằng vặc nhiều ý tưởng, khiến tôi hình dung ra ảnh sắc của gặp gỡ và ly biệt, tất bật và thảnh thơi, nôn nao và nhẫn nại chờ đón những hành trình ngắn dài xuyên đất liền. Tôi thích ngắm lề lối kiến trúc những nhà ga trung tâm. Nó bóc trần tâm tính dân bản xứ, lắm khi còn gắn liền mật thiết với vận mệnh thăng trầm của lịch sử. Cả những quán xá hai bên lối đi lúc nào cũng tấp nập hành khách vào ra, lên xuống. Không biết những phiến gạch lót có bao giờ mong mỏi đôi phút ngơi nghỉ? Những ý tưởng này, tôi nghĩ khó có ai chia sẻ. Cứ vậy, tôi cất chúng kỹ lưỡng trong nhiều ngăn kéo tâm tư mình.

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2020

Tâm Thanh: Mai sau kiếp khác (*)

* Tựa đề mượn từ một bài thơ của Trần Vấn Lệ, không cùng nội dung.

Tôi đeo găng tay, nhón từng cái quần, cái áo của Khâm, bỏ vào máy giặt. Mặc dù rất ghê tởm quần áo của chồng, tôi không dám đeo khẩu trang khi làm công việc này. Dù sao, tôi cũng còn sợ làm chồng đau lòng. Nhưng tôi nín thở để dồn cho nhanh mẻ giặt, vặn nhiệt độ 90, và bấm nút cho máy chạy. Tôi gỡ găng tay bỏ vào thùng rác, rửa tay bằng xà-bông và cồn khử trùng trước khi làm gói ăn trưa cho các con. Hai đứa con gái đang uể oải xúc cốm trộn sữa nhưng mắt vẫn theo dõi cử động của mẹ.

“Tại sao má phải đeo găng?” Phịu, con em năm tuổi hỏi.

“Má sợ vi trùng của ba,” con chị bảy tuổi rưỡi, trả lời thay.

“Đừng nói bậy, Phụng!” tôi nói nhỏ. Đúng lúc đó, có tiếng ho của ba chúng trong phòng. Tôi nói to “Tụi con uống dầu cá chưa, Phụng Phịu?”

“Dạ rồi!” chị em Phụng, Phịu mau mắn trả lời. 

Thấy hai tô sữa cốm đã vơi hơn phân nửa, tôi cho là hai con đã ăn sáng tạm đủ, tôi tuồn hết phần còn lại vào bụng mình, rồi giơ hai cái tô nhẵn lên.

“Dễ ẹc mà tụi con nhơi nửa giờ chưa xong!” tôi nói.

“Má giỏi!” con Phịu nói.

“Má chưa uống dầu cá!” con Phụng nhắc.

Tôi viết trên miếng giấy con màu vàng ‘Anh phơi quần áo trong tủ sấy.’ Tôi uống thìa dầu cá, hớp một ngụm nước cam trước con mắt thanh tra của hai đứa trẻ. Xong, tôi mở sẵn cửa nhà, nói:

“Chúng ta đi!” 

“Thưa ba con đi vườn trẻ,” Phịu nói.

“Thưa ba con đi học,” Phụng nói.

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2020

Phương Nghi: Tiếng Tích Tắc Đồng Hồ

Hình minh hoạ, FreePik

Đã lâu tôi muốn viết về tiếng tích tắc đồng hồ bạn ạ vì tôi đã ở trong một căn nhà có rất nhiều đồng hồ. Bạn không tưởng tượng được đâu… Có đến hơn 300 cái đồng hồ. Bọn đồng hồ thi nhau chí chóe cả ngày làm tôi gần phát điên. Nhưng thôi, chuyện dài và xảy ra đã lâu, tôi sẽ thong thả kể. Còn bây giờ thì tôi đang ở trong một phòng trọ bạn ạ. Phòng này thì chỉ có một cái đồng hồ treo trên vách mà thôi. 

Tôi và bà xã tôi ghé lại Boulder như một trạm dừng rồi mai tiếp tục cuộc hành trình. Vì vậy chúng tôi không mướn phòng ở khách sạn mà chọn một phòng trọ trung bình trong hệ thống B&B. Chủ phòng trọ là một người đàn ông Á Châu, có lẽ là người Phi Luật Tân, dáng người thấp bé nhưng nhanh nhẹn, nói năng lịch sự. Ông mở cửa phòng trọ đưa chúng tôi vào và quay đi sau khi dặn dò:

-Tôi là Ray. Ông bà có cần gì thì gọi tôi nhé. Gọi lúc nào cũng được.

Chúng tôi mỉm cười cám ơn ông và bước vào trong. Mưa lúc ấy bắt đầu rơi.

Tôi không có gì phàn nàn về phòng trọ của mình cả. Mọi thứ đều sạch sẽ, tươm tất. Trên bàn có bình hoa và tấm giấy ghi hàng chữ:” Chúng tôi có phục vụ điểm tâm, trưa và tối nếu quí khách cần. Xin vui lòng cho biết trước.” Tôi và bà xã tôi đều đồng ý ăn tối tại đây vì mưa càng lúc càng lớn nên chúng tôi quyết định không đi đâu ra ngoài cả. Lúc ấy là đã 7 giờ tối và chúng tôi đã đói meo.

Tôi bước ra quầy nơi phòng khách, gọi Ray và bảo là muốn dùng cơm tối tại đây. Ông đưa ra thực đơn và bảo:

- Chắc ông bà là người Việt Nam? Chúng tôi có các món ăn Việt Nam. Chắc ông bà sẽ thích đấy.

Vũ Ngọc Ánh: Chiều thánh đường


Tà dương nhuộm úa hàng cau
Nhớ nhà khơi dậy những chiều tuổi thơ
Cổng đá câm lặng bơ vơ
Nắng xuyên song trúc ngẩn ngơ hồn chiều
Đèn chầu hiu hắt cô liêu
Vòm cao vời vợi nguyện cầu dâng lên
Gần xa đâu tiếng phong cầm
Thiệt êm xoa dịu những niềm thương đau
Gió lên hàng nhãn xôn xao
Chuông trầm trầm gọi mây cao chuyển lời
Núi Đức Mẹ bóng chạy dài
Có cô thiếu nữ chắp tay thì thầm
Mơ hồ mùi huệ thoáng lan
Đồng trinh ý nhiệm Cao Xanh gửi về
Phương đình cánh vạc bay qua
Bay qua Cầu Ngói xuôi về Cồn Thoi
Sông Ân mây, nước, bèo trôi
Núi xa mờ tím chiều vơi buồn buồn
Thuyền ai cập bến cô đơn
Trăng lên lấp lánh ngọn bàng Phố Trong
Mây cao xém chút bụi hồng.

(Phát Diệm, ngày xưa)

Thế Uyên: Người Đứng Lại

Trong những nhà văn Việt Nam, có lẽ tôi và nhà văn nữ Nhã Ca thì phải, là những người đầu tiên dùng máy chữ để viết văn. Ở Tây phương, việc sử dụng máy chữ để viết, là việc quá thường. Ở nơi tôi, việc sử dụng máy chữ phát xuất từ luật lệ Sở kiểm duyệt (mang nhiều tên khác nhau, tên chót rất hoa mỹ: Sở Phối hợp Nghệ thuật) thường đòi hỏi nhà xuất bản nhà văn phải đánh máy bản thảo làm ba bản, một bản sẽ được trả lại để in. Lợi tức như tôi hồi trẻ, máy chữ kể như ngoài tầm tay, do đó máy chữ đầu tiên sỡ hữu do một kỹ sư Pháp về, tin chắc tôi sẽ trở thành một nhà văn khá, mua tặng để khuyến khích. Máy này không trụ lâu: mẹ tôi đem bán lấy tiền đi chợ cho các em, trong một thời gian tôi vắng nhà khá lâu. Máy chữ thứ hai do một dược sĩ thích tiểu luận “Nghĩ trong một xã hội tan rã” của tôi, mua tặng. Kể từ máy chữ thứ ba trở đi, lợi tức tôi đã cao đủ để mua lấy máy chữ mỗi khi cần, và lúc đó tuổi đã lớn, không ai thấy cần phải giúp đỡ như hồi trẻ nữa.

Tôi thường đánh máy lấy những bản thảo của mình (ở Việt Nam cũng như ở Mỹ sau này, tiền thuê đánh máy là một khoản khá tốn), và cũng nhân dịp này sửa bản thảo lần chót. Một ngày kia tôi chợt khám phá ra bản đánh máy giống y chang bản thảo, không cần sửa, vậy tại sao không viết văn thẳng bằng máy chữ? Tôi thí nghiệm vài lần và thành công, từ đó viết thẳng bằng máy chữ, trừ thư từ cho bạn bè họ hàng. Thư viết tay thân mật hơn và cũng là dịp cho mười ngón tay nghĩ ngơi đỡ nhức vì đánh máy quá nhiều. Viết tay, như mọi thứ trò truyện với người ở xa... Và dĩ nhiên có những loại thư không thể đánh máy được, như thư tán gái hay tỏ tình với nữ nhân.

Chính vì quen sử dụng máy chữ như thế, sau này làm tạp san Thái Độ không đưa Bộ Thông tin kiểm duyệt, gọi là “báo chui,” tôi mới có khả năng đánh stencil để quay ronéo tất cả, mỗi số trung bình 120 trang (trước sau ấn hành được sáu số Thái Độ và hai tập thơ), trước khi chuyển sang công khai. Nghĩa là nạp sở kiểm duyệt Bộ Thông tin như mọi đặc san khác, in typo, nhưng đang in Thái Độ công khai số 2, bộ Thông tin đã ra lệnh tịch thu tất cả. Do đó trong 21 năm tuổi thọ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam, sự nghiệp tự mình làm báo của tôi chỉ có vậy. Chưa một chính phủ nào chịu cấp cho tôi và bằng hữu một giấp phép ra báo bình thường.