Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Song Chi: Trên Vùng Đất Lạ

 + Đây hoàn toàn là một câu chuyện hư cấu, không phải người thật việc thật. Mọi sự tương đồng nếu có, đều chỉ là do trí tưởng tượng của tác giả dựa trên một vài sự kiện trong cuộc sống… 

Mặt đất khô cứng dưới lưng cô. Trong bóng tối, cô không nhìn rõ khuôn mặt của gã. Nhưng cái mùi của gã thì nồng nặc bao trùm lấy cô- một cái mùi tổng hợp của mồ hôi, thuốc lá, gia vị món ăn…khiến cô muốn lộn mửa. Và thân hình to béo của gã đè nặng lên người cô. Cuộc tra tấn thể xác bắt đầu. Cô nhắm mắt lại, nghiến chặt hai hàm răng, thậm chí nín thở. Như thể đang tự đóng mọi giác quan lại. Và cố gắng không suy nghĩ gì hết. Như một cái xác. Cô ước gì mình là một cái xác thật sự, ước gì mình có thể chết đi ngay tức khắc. Nhưng tận sâu thẳm bên trong, cô biết mình không thể chết, không có quyền chết. Một phút, hai phút, năm phút… hay hàng thế kỷ đã trôi qua cho đến khi gã dừng lại, nằm vật qua một bên…

Cho đến tận bây giờ, dù đã kỳ cọ tắm rửa hàng bao nhiêu lần, cái mùi của gã vẫn bám chặt lấy ký ức cô, cũng như cái cảm giác cơ thể bị vấy bẩn, mãi mãi không bao giờ có thể gột sạch…

xxxx

  • Alo. 

  • Alo. Có chuyện gì vậy? Sao em không trả lời, sao lại khóc? Em làm anh lo quá.

  • Không, không có gì. Bao giờ anh qua đây? 

  • Anh nói rồi, mẹ anh đã khỏe lại, anh có thể yên tâm mà đi, tiền mọi thứ anh cũng đã gom đủ. Sang tuần tới là anh bắt đầu lên đường. Chỉ vài tháng nữa là chúng mình sẽ gặp lại nhau thôi. Hai đứa chịu khó làm ăn, chỉ vài năm là trả hết nợ cho chuyến đi, thêm vài năm nữa là có ít vốn quay trở về VN lại…Cố gắng lên em. 

xxxx

Người chủ tiệm nails, Hà, phân trần:

  • Em thấy đấy, làm ăn đâu có ai muốn phá sản hay đóng cửa. Nhưng thật sự là giữa mùa dịch này, đối với những người có nhiều vốn thì người ta gồng được, chờ qua dịch mở lại, còn chị thì không nhiều vốn mà lại vừa một cái tiệm Nails, một cái nhà hàng, chịu hết nổi, phải đóng một cái thôi. 


Hoàng Quân:

Yêu trong những cung nhạc trầm - Tranh Đặng Mậu Tựu
Thế kỷ trước, truyện Ví Dụ Ta Yêu Nhau* của một nhà văn trẻ đã làm bao nhiêu “kẹp tóc”, “húi cua” say mê một thời. Thế kỷ này, các cô, các cậu ngày xưa, giờ đây là những bà, những ông với mái tóc mặn mà, ít tiêu nhiều muối, có phút chạnh lòng chăng, khi nghe những ví dụ dưới đây?

Ví Dụ Một: Ví Dụ Họ Gặp Nhau Vài Thập Niên Trước

Văn phạm Việt ngữ chẳng thể làm nổi bật sự không tưởng của trường hợp này. Tuy nhiên, người ta có thể cho trí tưởng tượng bay bổng, để bắt gặp những hình ảnh rất dễ thương. Hai nhân vật ấy gặp nhau, cậu bé mười tuổi, cô bé tám tuổi. Cậu bé đọc sách, đọc thơ rất sớm. Cậu nắn nót chép mấy câu thơ của thi sĩ Xuân Diệu:

Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo,
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Xếp khuông giấy mang hoài trong túi áo,
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi.

Cô bé lờ mờ hiểu “thư thì mỏng” nghĩa là gì. Mà, “suốt đời mộng ảo”, cô bé đành chịu thua. Nhưng cô bé thấy những vần thơ hay quá chừng (có lẽ vì do cậu bé chép cho cô). Hình như thi sĩ viết “Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo”. Mặc kệ thi sĩ, cô bé thích vần thơ nhớ nhầm của cậu bé hơn. Cô bé tìm trong tự điển Việt Nam không có chữ “khuông”. Không sao, cô bé vẫn giấu tờ thơ trong tập vở, lâu lâu mở ra đọc, dù cô đã thuộc lòng rồi.


Cô bé kể cho cậu nghe, rằng, cô thích bài hát Kiếp Nào Có Yêu Nhau, dù cô chẳng hiểu gì cả. Cậu muốn “nghiên cứu” lời của bài hát để cắt nghĩa cho cô bé nghe. Cậu do dự, cô bé còn nhỏ xíu, bài hát lại quá buồn. Thôi, cậu chỉ thích nghe tiếng cô bé cười trong trẻo, như khi cậu hái hoa ngọc lan, hoa phượng tặng cô. Cô bé mân mê vuông giấy trắng, có cánh phượng ép hình con bươm bướm. Đôi mắt cô bé sáng rỡ, vui sướng.


Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2022

Ngự Thuyết: Thử Nhìn Lại Cung Oán Ngâm Khúc Của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều

 Cung Oán Ngâm khúc là một hiện tượng lạ trong văn học cổ điển Việt Nam. 

Trong một thời gian trên dưới nửa thế kỷ, từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, ba tác phẩm dài bằng thơ rất giá trị đã ra đời: Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm (1705-1748) [1], Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), và Đoạn Trường Tân Thanh, tức Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820). Kiệt tác Truyện Kiều là một lâu đài đồ sộ, rực rỡ nhất trong văn học Việt Nam, điều đó ai cũng đồng ý, do đó nó được đề cập đến nhiều nhất, và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Cũng có nhiều tác phẩm nghiên cứu, phê bình Chinh Phụ Ngâm. Cuốn này cũng được dịch ra tiếng Pháp, Anh, Nhật.


Nhưng với Cung Oán Ngâm Khúc, tình hình khác hẳn. Nó chịu số phận khá hẩm hiu, gần như bị quên lãng. Nó không được quảng đại quần chúng đón nhận vồn vã đã đành, trong giới nghiên cứu hàn lâm, cũng có người không mấy quan tâm đến Cung Oán Ngâm Khúc, hoặc chỉ đề cập một cách sơ lược.


Chẳng hạn Giáo Sư Phạm Văn Diêu (GS Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn) với tác phẩm Việt Nam Văn Học Giảng Bình [2]. Tác phẩm này dày trên 670 trang gồm có hai phần: Phần Thứ Nhất bình giảng Các Tác Giả, Tác Phẩm Quốc Âm Tiêu Biểu từ thời Lê Trịnh đến Nửa Đầu Thế Kỷ XX, và Phần Thứ Nhì nói về Văn Xuôi Hiện Đại, trong đó có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, vân vân ... 


Trong Phần Thứ Nhất, một số thơ của những thi gia như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Cao Bá Nhạ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình  Chiểu, Trần Tế Xương v.v. đều được nói đến, kể cả mấy bài thơ nôm của Dương Khuê. Một tác giả ít người biết là Dương Lâm, em ruột của Dương Khuê, cũng có bài được bình giảng. Nhưng tuyệt nhiên không có một dòng nào về Nguyễn Gia Thiều và Cung Oán Ngâm Khúc


Hòa Đa: Sanh Rớt

Thời gian gặp lại vợ con, sau khi học cải tạo cũng qua mau.

Ngày tháng cứ dần trôi mà tôi không biết phải làm gì hơn là cứ quanh quẩn trông chừng hai đứa nhỏ, giúp vợ rảnh tay ngược xuôi, mua đầu chợ bán cuối chợ, kiếm sống qua ngày. Cũng có lúc tôi thử bán buôn như vợ, nhưng có lẽ do bản tính thày giáo nên không thích ứng được với sinh hoạt chụp giựt, mua đấp bán đổi, lúc nào cũng phải nói láo để kiếm lời. Hồng cũng cố gắng tạo điều kiện để tôi không phải làm những việc xem chừng không mấy thích hợp với tính khí của tôi... Rồi tôi cũng được một thằng bạn giúp tìm đồ nghề vá xe đạp cạnh lề đường; những lúc đó, Hồng ở nhà trông chừng con hay gửi con hàng xóm, học trò cũ... để chạy hàng. Cuộc sống mới sao mà thê lương ảm đạm đến thế!

Một buổi chiều, Hồng về nhà trông có vẻ mệt mỏi và lo lắng:

- Sáu Thủy mới gặp em nói, nhà mình có tên trong danh sách đi kinh tế mới, danh sách chỉ gồm những hộ ngụy quân nguyền và mấy hộ có vấn đề về xã hội. Ý này do bà Sáu Xê bên Mặt Trận đưa ra, bà ấy nói là anh là sĩ quan ngụy không có việc làm, em chỉ buôn bán tạp chủ yếu làm trung gian kiếm lời, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất hay tinh thần gì, nhà lại mướn ngay trước mặt cơ quan của Thị Xã Ủy... Sáu Thủy với tư cách Phụ Nữ Phường có biện hộ cho mình: anh mới học cải tạo về, đã góp đơn với Ty Giáo Dục, hiện đang chờ cứu xét... nhưng Sáu Thủy cũng cho biết xem chừng ý kiến của chỉ không thuyết phục được ủy ban. Chị ấy nói mình nên tính trước, nếu có thể, tìm cách về nông thôn gần đây, hơn là ngồi chờ bị đưa đi kinh tế mới. Anh tính sao?

- Anh cũng không biết tính sao nữa, có lẽ như thế thì hơn. Với lý lịch của anh, với hai thằng em sĩ quan ngụy, một nhảy dù, một thủy quân lục chiến, anh chẳng mong gì đơn xin dạy lại được chấp thuận. Nhưng mà đi đâu bây giờ, mình đâu còn vốn liếng hay tiền bạc gì!

- Em vẫn còn giữ mớ nữ trang cưới, hồi đó túng mấy em cũng không dám bán, bây giờ cùng lắm mình bán lấy tiền mua đất. Chớ nếu đi kinh tế mới, lần hồi rồi cũng tiêu luôn... Hai con còn nhỏ, đi kinh tế mới, rừng sâu nước độc... rồi còn chuyện học hành, không lẽ anh định để tụi nó không đi học?

- Anh không biết gì về ruộng nương, cũng không quen biết ai có thể giúp mình, không biết phải làm sao đây...

Vài tuần sau, Hồng báo tin:

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Kinh Dương Vương: Đường Kiến

1.

Khu rừng không giấu nổi bộ mặt tàn nhẫn và thô lỗ. Nó không mang vẻ huyền hoặc quyến rũ của một thế giới chưa tỏ lộ. Màn bí mật bao trùm, che giấu những âm mưu thâm độc.

Nhưng mãnh thú và mãnh cầm không can dự đến việc gây cho chàng cái cảm giác sợ hãi và kinh tởm, mà chính do con người.

Sau một thân cây, trên chòm lá rậm, dưới lớp cỏ mục khô. Mọi nơi,

Một nhát mã tấu
Một mũi tên độc
Một hầm chông
Một viên đạn bắn sẻ,

Cùng tự che giấu và xuất hiện bất thần để làm thành vô tri những thân thể đang chứa chan sinh lực, đưa những linh hồn xanh tươi, chưa hết ngỡ ngàng, trao cho lão già cầm liềm hái, ốm đau nhưng không bao giờ biết mỏi mệt trong công việc.

“Nhưng thật bất công và ngu xuẩn khi cố tình gán cho khu rừng, hay nhìn thấy ở nó lòng giả trá bạo tàn. Như thế đã tỏ ra vô ơn biết bao đối với những giòng suối nước lành, những trái cây ngọt giọng, muôn hoa ngát hương, lời chim muôn thánh thót. Phải công bình với thiên nhiên, chàng tự nhủ. Thiên nhiên luôn vô tư, chỉ có con người, con người đã lợi dụng thiên nhiên, gây nên những tội ác và làm hoen ố nó mà thôi”.

Nhưng bóng tối thì cứ phủ vây chàng, ám ảnh chàng không ngớt cùng với nỗi chết đang rình rập. Thứ bóng tối kỳ quặc, cay sắc thăm thẳm, cắn vào da thịt như nanh vuốt tanh hôi lạnh giá của ác thú. Thứ bóng tối bám vào thân thể làm cho da thịt thối rữa, như nọc độc rắn đen. Chính vì ghê tởm sự im vắng, âm thanh man rợ, chính vì lòng khao khát ánh sáng, sự vững chãi bình an, thân tín và trung hậu, chàng đã có những ý nghĩ bất công đối với khu rừng.

Phạm Tín An Ninh: Không chỉ là một giấc chiêm bao

Mùa hè Bắc Âu khá đẹp, đầu tháng sáu trời về đêm vẫn còn se lạnh. Cái lạnh tựa như Đà Lạt ngày nào, thường gây chút xao xuyến, nhớ nhung nhưng cũng dễ đưa người ta vào giấc ngủ. Tôi có thói quen đi ngủ muộn và ngủ khá ngon giấc, ít khi mộng mị, vậy mà khuya hôm nay tôi có một giấc mơ khá dài. Không nhớ dài bao lâu, nhưng nó gói ghém gần cả đời lính của mình, với đủ những khuôn mặt đồng đội, huynh đệ suốt một thời trận mạc. Tôi cũng không giật mình tỉnh mộng như các lần chiêm bao trước. Giấc mơ kết thúc yên ả như tôi vừa xem xong một cuốn phim tình cảm với buồn vui lẫn lộn. Thức dậy, nằm trằn trọc, mơ màng giữa mộng và thực rồi miên man hồi tưởng cả một thời quá khứ, dù hiểm nguy gian khổ, nhưng lại là quãng đời đẹp đẽ nhất của riêng mình.

Người đã bất chợt bước vào giấc mơ và mang theo cho tôi cả một thời quá khứ ấy là Đặng Trung Đức. Anh đã tử trận tại khu vực Ngô Trang, phía Bắc thành phố Kontum trong trận chiến mùa Hè 1972.

Cả một đời  binh nghiệp của tôi gần như gắn liền với anh Đức,  luôn theo phía sau anh để thay thế các chức vụ của anh giao lại. Khi mãn khóa 18 Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về trình diện đơn vị thì gặp anh, và hai anh em ở cùng đại đội. Đức tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, ra trường về đơn vị trước tôi khoảng 5 tháng. Anh làm Trung đội trưởng Trung đội 1 còn tôi, Trung đội trưởng Trung đội 3. Đại đội trưởng lúc ấy là một anh trung úy, niên trưởng Khóa 16 Võ Bị của Đức, rất đa tài và yêu thương em út. Sau đó, Đức lên làm đại đội trưởng, tôi làm đại đội phó cho anh. Một thời gian sau, anh được điều động về làm Trưởng ban 3 tiểu đoàn, tôi lên thay anh, rồi sau đó lại thay anh một lần nữa, trong chức vụ Ban 3 tiểu đoàn để anh về làm Trưởng ban 3 trung đoàn. Và có một thời gian khá dài hai anh em cùng làm việc tại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, khi tôi về đảm trách một ban khác. Đầu năm 1971, khi anh ra nắm tiểu đoàn, tôi lại có thời gian thay anh ở chức vụ Ban 3 Trung Đoàn. Chúng tôi cùng một đơn vị từ lúc mới ra trường, luôn sống gần nhau cho tới khi anh hy sinh. Rất thân tình, xem nhau như anh em, mặc dù anh cũng trạc tuổi tôi.


Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Võ Phiến: Quanh Mình

Nàng giặt mấy món đồ. Hai con vịt xiêm loanh quanh bên cạnh, tìm bắt những con bọ màu đen, nhỏ bằng hạt cải, sinh sôi rất nhiều ở những chỗ đất ướt.

Hai con vịt nhỏ bằng hai cái hột xoài, mình cũng dẹp như hột xoài. Chúng lại ưa nằm bẹp xuống đất, vừa nằm vừa ăn: từ xa chạy tới nơi, rồi nằm xuống, mổ lia mổ lịa. Trông chúng lăng xăng, láu táu.

Sống lưng và chóp đầu màu đen, còn lại là vàng. Ở khoảng đen trên sống lưng có bốn chấm vàng, tròn. Hai bên đuôi mắt lại có hai vệt đen kéo dài ra đến tận sau cổ: hai vệt ấy như hai nét vẽ nghịch ngợm làm cho con vịt trông buồn cười, lố bịch.

Lộc được một người đàn bà trong xóm cho hai con vịt từ năm hôm trước. Bà ta mua sáu con, đem về nuôi, một đêm chuột cắn chết ba con, đêm sau lại cắn thêm con nữa. Nàng đến chơi nhà bà ta sáng hôm ấy, đúng lúc bà tìm thấy xác con vịt thứ tư. Người đàn bà nóng tính xách chân con vịt chết giơ lên cao la lối om sòm, rồi tức mình cho nàng luôn hai con vịt còn lại.

Lộc chưa bao giờ nuôi vịt xiêm, không biết tính chúng, nên ngạc nhiên thấy chúng mau quyến luyến mình quá sức: nàng giặt đồ, chúng theo ra giếng, nhưng lát sau nàng vào nhà, chúng sẽ bỏ ăn lúc thúc chạy vào, quanh quẩn và phóng uế đầy bếp. Mới nuôi có mấy hôm, chúng đã mến nàng, không chịu rời.

Người con gái lấy tay lật một mảnh gạch bể: đám bọ rúc dưới gạch hoảng hốt nhảy lung tung, vịt mừng rỡ đuổi bắt. Nàng trông theo vịt, và khi lũ bọ đã tẩu tán hết, nàng ngước mắt lên thì bắt gặp ngay Tín đang rình mình.

Tín đứng ngoài rào nhìn vào. Không biết chàng đã đứng đó từ lúc nào. Bị bắt gặp, Tín cười xòa, cười thật lớn. Người con gái đã bối rối, may nhờ tiếng cười ấy nên lấy lại được bình tĩnh.

Tín bảo “nhân đi ngang qua... tình cờ trông thấy...sẵn dịp v.v...” Chàng giải thích đại khái, qua quít. Rồi chàng ném qua rào cho nàng một quả cam lớn. Lộc đón bắt, quả cam đã rơi đúng vào tay, nhưng vì nàng không giữ kịp nó lại lăn xuống chậu nước. Tín cười lớn lần nữa, rồi vẫy chào, đi luôn.

Vợ Tín đẹp lắm, Lộc không dám tự so sánh. Thiếu phụ ấy vừa đẹp vừa sang trọng, lại khôn ngoan và có trình độ học vấn cao hơn Lộc nhiều. Vả lại trong gia đình đó, người chính là bạn của nàng là chị ấy chứ không phải là anh Tín.


Nguyễn Lê Hồng Hưng: Hải Hành Mùa Đại Dịch 5

Hồi hôm nghe tiếng tàu đề máy tôi giựt mình thức giấc, biết tàu khởi hành nhưng giờ đó không phải giờ tôi làm việc, tôi lăn người trở mình làm chiếc mền tuột rớt xuống sàn, tôi cúi xuống kéo mền lên đắp lại rồi ngủ tiếp. Không hiểu sao tôi ngủ mê man tới khi đồng hồ reo mới giựt mình thức dậy. Thường thì tôi thức sau bốn giờ sáng, pha một tách cà phê đen đậm bằng nước lọc, không đường, không sữa rồi đem lên phòng, mở laptop ra vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc, đọc xong rồi gõ bàn phím viết lưu lại những chuyện xảy ra trên tàu, cho tới khi đồng hồ reo tôi mới ngưng. Sợ mê đọc và viết quên giờ làm việc, nên tôi chỉnh đồng hồ reo đúng sáu giờ sáng, để nó nhắc nhở tôi đã tới giờ tập thể dục trước khi bắt tay làm việc. Nhưng tối hôm qua tôi ngủ say như chết, cho tới khi đồng hồ reo, tôi lật đật ngồi dậy, đi vội xuống bếp chỉ kịp lấy chai nước lọc đổ vô máy pha cà phê, rót cho mình một tách và bưng ra boong. Định uống hết tách cà phê rồi tập thể dục, nhưng thấy cảnh bên ngoài hấp dẫn quá nên tôi đứng ngắm.

Chuyến này tàu nhận chuyển hàng từ Hamburg lên Stockholm, thủ đô của nước Thuỵ Điển, nếu tàu muốn đi tới Stockholm thì phải băng ngang con kinh đào Kiel để vô biển Baltic. Tàu đã vô kinh Kiel hồi sáng sớm và chạy một đoạn cũng khá xa rồi. Bất cứ tàu lớn, tàu nhỏ gì hễ vào kinh chỉ được phép chạy bảy hải lý một giờ. Những chiếc tàu buồm du lịch màu trắng nho nhỏ xếp buồm chạy bằng động cơ dọc bên bìa kinh và ở giữa dòng những chiếc containers trên ngàn tấn nối đuôi chạy thẳng hàng trong sương pha loang loáng, mặt dù nhiều tàu xuôi ngược trong kinh nhưng rất trật tự và không gây tiếng ồn ào nên trông quang cảnh rất là thanh bình. Tôi để tách cà phê lên đầu cột trụ rồi đi vô phòng lấy chiếc điện thoại thông minh trở ra chụp dọc theo dòng kinh, chụp xong mấy bô, tôi lại đầu cột trụ bưng cà phê hớp một hớp, cà phê nguội ngắt, tôi ngước cổ ực một hơi hết sạch. Tôi bấm điện thoại xem đồng hồ, gần bảy giờ rồi, không còn đủ giờ tập thể dục nữa. Tôi đi vô phòng tắm sửa soạn đánh răng rửa mặt, nhưng khi vặn vòi nước thì thấy màu nước pha sét vàng khè, tôi nghĩ thợ máy đang thay đổi bồn nước hay đang sửa chữa gì đó. Tôi trở ra phòng ngoài lấy chai nước lọc đem vô rửa mặt

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Hoàng Quân: Cẩm Thành

 Thương tặng chị tôi

Cẩm Thành- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815... Người xưa cho rằng địa cuộc nơi đây tụ hội khí thiêng, văn mạch của miền đất núi Ấn, sông Trà, nên Cẩm Thành trở thành địa danh văn hoá của Quảng Ngãi. (Lê Hồng Khánh). Đây là những điều tôi đọc được trên trang báo Quảng Ngãi. Với tôi, Cẩm Thành không chỉ là mỹ từ cho một nơi chốn, mà hơn thế nữa, là tên gọi thân thiết của người chị thương yêu của tôi. Ba Mạ tôi sinh anh cả, chị cả ở Huế. Ba tôi là công chức hành chánh. Ba thuyên chuyển nhiệm sở vào Quảng Ngãi. Đúng nghĩa xuất giá tòng phu, Mạ dắt hai đứa con thơ, theo chồng, xa rời cha mẹ, giã từ Huế. Khi đứa con đầu tiên ra đời ở đất mới, Ba đặt tên con là Cẩm Thành, như một kỷ niệm đánh dấu nơi chốn Ba Mạ dừng chân trên đường đời. 


Học trò


Thuở nhỏ, chị Cẩm Thành là một em bé bụ bẫm, hai mắt tròn xoe, má phinh phính rất dễ thương. Theo thời gian, con bé kháu khỉnh ngày nào trở thành cô thiếu nữ môi tươi, mắt sáng, ngời ngời sức sống. Dưới mái trường Nữ Trung Học, chị Cẩm Thành có những năm tháng hoa mộng của tuổi học trò rộn ràng muôn màu, muôn vẻ. Với lòng nhiệt thành của tuổi trẻ, chị hăng hái tham gia những sinh hoạt của học đường. Chị cùng các bạn ca múa, đóng kịch vào những đêm văn nghệ của trường vào dịp tết Nguyên Đán hoặc cuối niên khóa vào lễ phát thưởng. Chị tham gia viết thư, thêu khăn tặng chiến sĩ. Chị bưng thùng đến các cửa tiệm trong phố xin tiền lạc quyên cho đồng bào bị bão lụt. Chị trở thành phó Ban Xã Hội của toàn trường, đại diện trường đến thăm ủng hộ/ủy lạo tại nhà một số thương phế binh trong tỉnh. Từ năm lớp Đệ Thất (lớp Sáu), chị luôn nhanh chân trong giờ toán chạy, được làm học trò cưng của giáo sư toán.


Nguyễn Lê Hồng Hưng: Hải Hành - Mùa Đại Dịch 4


Tàu rời bến Rotterdam từ trưa hôm kia, sáng nay đã tới vàm sông Elbe. Gần hai tháng qua tàu đậu bến chờ hàng, tuy thủy thủ đoàn sống không giống như cảnh tù tội, nhưng ở một nơi làm việc tà tà, ăn và nhậu riết rồi tinh thần mệt mỏi, nhàm chán nên sanh ra bốc đồng và thường hay cãi vã nhau. Khi tàu hải hành lại thì mọi người phấn khởi, vui mừng vì được thoát cái cảnh lẩn quẩn trên một con tàu. 

Sáng nay mấy thủy thủ người In Đô thức sớm hơn mọi hôm, xuống phòng ăn sáng xong ra boong làm việc hết, trông người nào cũng vui tươi và đầy sức sống. Buổi sáng của đầu bếp cũng đã xong, tôi rót ly cà phê định bưng lên phòng vừa nhâm nhi cà phê vừa lên mạng rà đọc một cái gì đó như thường ngày, nhưng hôm nay tàu vô sông Elbe nên tôi bưng tách cà phê ra sau boong đứng. Tôi có thói quen hễ mỗi khi tàu chạy trên một dòng sông, vào những ngày nắng ấm cũng như những ngày đông giá lạnh, tôi hay ra boong đứng nhìn bầy chim nhàn bay trên khoảng không phía sau lái. Bây giờ là mùa xuân nắng hanh, gió nhẹ, khí trời man mác và bầy chim nhàn thảnh thơi bay theo lái tàu, thỉnh thoảng một con nhàn thấy cá ngay lặp tức lao xuống sớt liền. Nước dưới dòng sông còn ròng nên màu vàng lợt và dòng sông không minh mông như những ngày nước lớn. Nhìn nước dưới lái tàu bị chân vịt quậy cuồn cuộn màu phù sa và nhìn hai bờ sông lớn rộng thênh thang làm lòng tôi bồn chồn xôn xao. Từ vàm sông Elbe vô cảng Hamburg khoảng chừng vài chục hải lý, nhưng tôi cũng thấy lòng dạ bồn chồn trông cho mau tới hải cảng. Trong tôi Hamburg còn có những thâm tình và nhiều kỷ niệm ngây ngô của thời trai trẻ. Ngoài ra tôi cũng ngưỡng mộ một hải cảng sống động nhờ những chiếc tàu buôn quốc tế ra vào với những chiếc đò chở đầy du khách bốn phương thưởng ngoạn trên sông và một thành phố đa văn hóa cũng nhờ con sông Elbe hùng vĩ, nhộn nhịp tàu bè ra, vô từ khắp nơi trên thế giới. Nếu không gì trở ngại thì chiều nay tôi sẽ hẹn vài người bạn ra hội quán nhậu lai rai, sau đó lên Reeperbahn xem trong mùa đại dịch này nó có thay đổi gì không. 


Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022

Trần Đĩnh: Chương 5 Đèn Cù

Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực (trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô).

Cải cách ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ cũng như Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Quản lý đồn điền Nguyễn Lân, nguyên vô địch võ sĩ quyền Anh trước kia nổi tiếng khắp Đông Dương cũng là đối tượng đấu tố và xử bắn. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, Việt Minh bí mật, nay là chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.

Một tình tiết thú vị: khi tướng Pháp Cogny lập tập đoàn cứ điểm đầu tiên ở Nà Sản mà ta không công phá được vì thiếu đại pháo bắn cầu vồng, đơn vị pháo 105 ly của Công đã chuẩn bị về nước tham gia chiến dịch thì Cogny rút, pháo ta bèn nán lại học tiếp. Ai ngờ việc đó đã khiến tướng Navarre kết luận Việt Minh không có đại pháo do đó hăng hái nhảy lên Điện Biên Phủ và Piroth đại tá pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã giật lựu đạn tự sát ngay khi pháo Việt Minh lên tiếng.


Trần Doãn Nho: “Đoản thi” của sinh viên Trung Quốc: - một hình thức phản kháng

 Một cuộc thi thơ dành cho sinh viên đã trở thành một cơ hội để bày tỏ nỗi thất vọng của công chúng về các vấn đề xã hội đang gây xôn xao ở Trung Quốc trong những tháng vừa qua. 

Thơ dự thi là những bài thơ ngắn - đoản thi - bằng Hoa ngữ dành cho sinh viên đại học, do trường Đại học Jiaotong [Giao thông = Media and Communication] Thượng Hải tổ chức, năm này là lần thứ năm. Danh sách người  thắng giải sẽ được công bố vào tháng 6/2022, tuy nhiên, một số bài thơ gửi đến đã được đưa lên mạng từ tháng 4/2022. Trong số những bài thơ này, ngoài những chủ đề chung chung liên hệ đến giới tính, môi trường, sự nghèo đói, vấn đề tự do ngôn luận, có nhiều tác phẩm đề cập đến cơn đại dịch và các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt của nhà cầm quyền Trung Quốc đang được áp dụng trên toàn quốc như khẩu trang, cách ly, phong tỏa; và cả chiến tranh ở Ukraine. Đặc biệt, vào thời điểm mà không gian tranh luận bị nhà cầm quyền Trung Quốc thu hẹp đến tối đa, một số bài thơ hiếm hoi mang ý thức xã hội rõ nét đã thu hút sự chú ý của người dùng Internet và được ca ngợi vì sự táo bạo của chúng.


Ảnh chụp màn hình bài thơ “Sử ký” của

Trần Vân Tĩnh (Hình: Nguyễn Ngọc Dung)


Nhật báo “The Washington Post” số ra ngày 24/4/2022 gọi đó là hiện tượng “bất đồng chính kiến” diễn ra ngay trong lòng chế độ chuyên chế, qua một bài viết của Lily Kou, thông tín viên trưởng thường trú tại Bắc Kinh, tựa đề “Student Poetry Contest in China Becomes Unexpected Outlet for Dissent”[1] (Cuộc thi thơ sinh viên ở Trung Quốc trở thành kẽ hở bất ngờ bày tỏ bất đồng chính kiến). Kou dẫn phát biểu của Chris Song, một trợ lý giáo sư chuyên về dịch tiếng Anh và tiếng Trung tại đại học Toronto Scarborough (Canada), cho biết: “Thực đáng ngạc nhiên! Tôi rất ngạc nhiên khi những bài thơ được ra đời trong một môi trường thắt chặt như vậy, nơi mà nhiều bài thơ miêu tả những mặt tối của xã hội, hoặc thách thức hệ tư tưởng chung của chính quyền thường bị kiểm duyệt.” Họ tìm thấy trong thơ một lối thoát mạnh mẽ để biểu tỏ “cảm xúc của mình trong những lúc khó khăn," cũng theo Song. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đưa lên, vào đầu tuần lễ từ 18 - 24/4/2022, chúng biến mất khỏi Weibo (微博=Vi Bác), trang mạng xã hội phổ biến ở Trung Quốc: đại học Jiaotong đã rút xuống tất cả các bài thơ “có vấn đề”, trong đó có những bài như "Tha đích nha” (Răng của bà mẹ), "Phi tất yếu ly hiệu” (Rời trường không phải là điều thiết yếu) và "Sử ký”…và đóng hẳn phần bình luận của hầu hết người dùng. Tuy nhiên, những người sử dụng Internet đã lập tức chụp ảnh màn hình (screenshots) các bài thơ, kể cả hình ảnh của các phiên bản viết tay của chúng và tiếp tục phổ biến trên mạng. Khi được những người dùng Internet thắc mắc về sự biến mất của các bài thơ, nhà


Ngự Thuyết: Tại Sao (But why does she not speak? Euripides - Alcestis (Nhưng tại sao nàng không nói?))

Anh đạp thắng gấp. Bánh xe siết lên mặt đường sỏi đá. Chiếc Jeep rùng rùng mấy cái rồi dừng hẳn để lại trên đường hai vạch dài song song. Một người đàn bà vừa chạy vụt qua trước mặt xe. Đường vắng. Anh tắt máy, nhảy nhanh xuống xe, cau có nhìn theo, miệng lẩm bẩm gắt. Không, đấy là một cô gái còn trẻ lắm, khoảng trên 20 tuổi. Cô gái đã bước lên lề đường rồi, bỗng vội vã quay lại. Cô rụt rè tiến đến gần anh, ấp úng:

“Xin lỗi ông. Tôi, tôi ...”

Anh nói như quát:

“Cô ẩu quá. Có ngày rồi đời. Cái đồ ...” Anh định mắng.

“Thưa ông nói chi?”

“Có ngày rồi đời!”

Anh nhủ thầm mình nói cái lối miền Trung này có lẽ cô ta không hiểu. Nhưng cóc cần. Không trả lời câu hỏi, anh nói tiếp:

“Có răng không. Có sao không cô?”

Cô gái bỗng nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt cô bỗng như tỏa sáng, đôi mắt dường như vừa bắt gặp một điểm khuất xa xôi nào đó, loé lên những màu sắc lạ. Đến lượt cô cũng không trả lời câu hỏi của anh, nói ngập ngừng, giọng nói cao hẳn lên, nghe như tiếng reo vui:

“Ô, ô, lạ chưa. Thưa, thưa có phải ông là bác sĩ ... bác sĩ Khoa?”

“Đúng vậy. Nhưng sao cô biết. À, hình như ...”

Anh dừng lại nửa chừng, lim dim mắt, cố nhớ. Hình như, hình như cái quái gì nhỉ. Cái bực dọc bỗng tan biến nhanh. Trước người đẹp anh dễ dàng quên mọi bực dọc. Cô bé này trông là lạ, có duyên ngầm, có sức lôi cuốn bí mật. Và nụ cười không thành tiếng đó, giọng nói ngập ngừng nghe quen quen đó, anh cố nhớ. Mà quá khứ như bị sương mù dày đặc bao phủ. Lẩn quất, trốn tránh. Kín bưng. Anh không thể nhớ gì thêm nữa.


Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

Võ Phiến: Quanh Mình

Nàng giặt mấy món đồ. Hai con vịt xiêm loanh quanh bên cạnh, tìm bắt những con bọ màu đen, nhỏ bằng hạt cải, sinh sôi rất nhiều ở những chỗ đất ướt.

Hai con vịt nhỏ bằng hai cái hột xoài, mình cũng dẹp như hột xoài. Chúng lại ưa nằm bẹp xuống đất, vừa nằm vừa ăn: từ xa chạy tới nơi, rồi nằm xuống, mổ lia mổ lịa. Trông chúng lăng xăng, láu táu.

Sống lưng và chóp đầu màu đen, còn lại là vàng. Ở khoảng đen trên sống lưng có bốn chấm vàng, tròn. Hai bên đuôi mắt lại có hai vệt đen kéo dài ra đến tận sau cổ: hai vệt ấy như hai nét vẽ nghịch ngợm làm cho con vịt trông buồn cười, lố bịch.

Lộc được một người đàn bà trong xóm cho hai con vịt từ năm hôm trước. Bà ta mua sáu con, đem về nuôi, một đêm chuột cắn chết ba con, đêm sau lại cắn thêm con nữa. Nàng đến chơi nhà bà ta sáng hôm ấy, đúng lúc bà tìm thấy xác con vịt thứ tư. Người đàn bà nóng tính xách chân con vịt chết giơ lên cao la lối om sòm, rồi tức mình cho nàng luôn hai con vịt còn lại.

Lộc chưa bao giờ nuôi vịt xiêm, không biết tính chúng, nên ngạc nhiên thấy chúng mau quyến luyến mình quá sức: nàng giặt đồ, chúng theo ra giếng, nhưng lát sau nàng vào nhà, chúng sẽ bỏ ăn lúc thúc chạy vào, quanh quẩn và phóng uế đầy bếp. Mới nuôi có mấy hôm, chúng đã mến nàng, không chịu rời.

Người con gái lấy tay lật một mảnh gạch bể: đám bọ rúc dưới gạch hoảng hốt nhảy lung tung, vịt mừng rỡ đuổi bắt. Nàng trông theo vịt, và khi lũ bọ đã tẩu tán hết, nàng ngước mắt lên thì bắt gặp ngay Tín đang rình mình.

Tín đứng ngoài rào nhìn vào. Không biết chàng đã đứng đó từ lúc nào. Bị bắt gặp, Tín cười xòa, cười thật lớn. Người con gái đã bối rối, may nhờ tiếng cười ấy nên lấy lại được bình tĩnh.

Tín bảo “nhân đi ngang qua... tình cờ trông thấy...sẵn dịp v.v...” Chàng giải thích đại khái, qua quít. Rồi chàng ném qua rào cho nàng một quả cam lớn. Lộc đón bắt, quả cam đã rơi đúng vào tay, nhưng vì nàng không giữ kịp nó lại lăn xuống chậu nước. Tín cười lớn lần nữa, rồi vẫy chào, đi luôn.

Vợ Tín đẹp lắm, Lộc không dám tự so sánh. Thiếu phụ ấy vừa đẹp vừa sang trọng, lại khôn ngoan và có trình độ học vấn cao hơn Lộc nhiều. Vả lại trong gia đình đó, người chính là bạn của nàng là chị ấy chứ không phải là anh Tín.

Hồi nàng còn ở Plei-Piom, có một độ Tín thường lui tới địa điểm dinh điền để theo dõi việc khoan mấy cái giếng nước. Tín là kỹ sư học ở Mỹ vừa về được vài năm, dáng dấp nhanh nhẹn, trẻ trung; người ta có cảm tưởng chàng chưa vợ con gì. Một hôm, chàng trông thấy Lộc ở văn phòng địa điểm trưởng, vô ý để lộ một vẻ ngạc nhiên sững sờ. Người con gái đỏ mặt. Tín vội vàng nói chữa thẹn:

– Các cô tài thật. Ðến đây mà vẫn giữ đầu tóc uốn: mỗi bận làm tóc phải đi hàng trăm cây số. Khiếp.

Người chung quanh cùng cười với chàng. Và sự việc không hề đi xa hơn những câu chuyện trao đổi lớt phớt. Sáu tháng sau, khi gặp người vợ xinh đẹp của Tín, người con gái chợt đau nhói trong lòng, nhưng nàng tự dưng muốn làm quen cho kỳ được. Vợ Tín là một người vui vẻ, không bao lâu hai bên chị chị em em với nhau thân mật. Mối quan hệ giao du với gia đình người kỹ sư ấy thật lành mạnh. Vả lại họ không có dịp ở gần nhau lâu: trong những năm qua hai bên đã nhiều lần thuyên chuyển, mỗi bên mỗi nơi.

Nhưng cách đây bốn tháng, khi Lộc đến Bảo Lộc thì gặp gia đình Tín đã ở đấy từ ba tháng trước. Vợ Tín mở một quán cà-phê, nhạc hay, trang hoàng khéo, thu hút được giới trẻ đông đảo. Chị đề nghị với Lộc:

– Em rảnh không? Tối tối em đến giúp chị một lát đi. Ðược không?

Nàng chưa kịp trả lời, chị đã mau mắn phân trần:

– Cả ngày chị ngồi hoài ê ẩm cả người, mà không giao được công việc cho ai. Ờ, ngồi két ấy mà. Em làm việc ở sở ban ngày, chứ ban đêm... Quán chị không mở cửa khuya đâu.

Sự thực chị Tín đâu có cần thuyết phục? “Giúp” chị, Lộc quá sẵn sàng. Nàng mơ hồ lo lắng về cái tâm lý sẵn sàng của mình: chính vì vậy mà nàng chùng chình, ngại ngùng, không dám mở miệng nhận lời ngay.

Tới lui nhà Tín để làm gì? Nàng cần gì, mong đợi gì ở Tín? Nàng không biết, không có ý định nào rõ rệt cả. Tuy nhiên, một cảm tình mơ hồ, khuây khỏa, nhạt nhòa, từ nhiều năm tháng, vẫn hướng nàng về phía gia đình ấy. Làm sao nàng không nhận lời đến “giúp” chị Tín được?

Quán cà-phê ấy, ban ngày với “bà kỹ sư” ngồi két, ban đêm với Lộc, càng thu hút nhiều khách, mà một thiếu phụ một thiếu nữ, cả hai đều kín đáo đoan trang. Chính cái vẻ hững hờ, thản nhiên của họ làm họ càng xa cách và càng có sức hấp dẫn.

Ðêm đêm đến quán cà-phê của Tín, thực ra Lộc không có mấy dịp gặp chàng. Nàng gặp chàng ở sở này sở nọ hay ngoài phố nhiều hơn. Tuy vậy, cái việc ngồi két ở quán của chàng khiến Lộc có cảm tưởng gần với chàng hơn. “Gần” một cách hết sức mơ hồ.

Vào tuần lễ cuối cùng trước nghỉ Tết năm vừa qua, một buổi chiều, sau giờ làm việc, Tín đến sở của nàng trong lúc nàng sắp mãn phiên trực. Sở không còn ai, nàng thờ thẫn ra sân rồi đi lần ra đứng bên cánh cổng sắt, chờ người nhân viên trực đêm đến thay thế.

Ðúng vào lúc ấy, Tín đến. Chàng hỏi:

– Giờ này cô còn ở sở?

– Em trực, sắp về.

– Ông cụ có trong ấy chứ?

Nàng lắc đầu:

– Ðâu có. Ông ấy về từ bốn giờ rưỡi.

“Ông cụ” là trưởng ty của nàng. Tín tới tìm ông ta tại nhà, không gặp, tưởng ông ta còn bận việc ở sở. Sau câu trả lời của Lộc, hai người không thấy có gì để nói về vấn đề “ông cụ” nữa. Và cái phút lặng yên, kẻ phía trong người phía ngoài cánh cổng một tòa nhà vắng vẻ làm cho họ bất ngờ lúng túng.

Hồi sau Tín hỏi:

– Ngày mốt cô về Sài Gòn?

– Có lẽ em ở lại thêm một hôm nữa.

– Mùng mấy lại lên?

– Có lẽ đến mồng mười.

– “Có lẽ” hoài. Không cái gì nhất định hết.

Giọng hai người bất giác thấp xuống. Tiếng cười cùng hạ thấp. Lộc đang nắm mấy cái kẹo trong tay, đưa ra mời. Nàng lặng lẽ mở bàn tay, không nói gì. Tín đưa tay nhón lấy một cái. Hình như chàng toan làm một cử chỉ gì hay nói một câu gì đó thì có tiếng dép ở xa xa.

Không cần quay lại, Lộc đã biết đó là vợ người lao công. Nàng rút tay về, xô rộng cánh cổng, nói lớn:

– Mời anh vào. Chờ một tí, không chừng ông cụ lại đến.

– Thôi khỏi cô. Tôi sẽ lại đằng nhà đúng vào giờ ăn tối, thế nào cũng bắt được.

Sáng hôm sau thật sớm, Lộc đang giặt giũ ở giếng nhà trọ thì Tín “nhân đi ngang qua” gọi chào nàng, và ném vào cho nàng một trái quít, bảo vừa hái ở đồn điền ông Tâm về. Rồi một hôm khác nữa...

Những chuyện như thế, tự nó cũng chưa có hẳn một ý nghĩa gì, một hứa hẹn gì rõ rệt. Nhưng thỉnh thoảng Lộc chợt nghĩ đến, nhớ lại một vài chi tiết, và nàng nhận thấy nó có một sức “ngấm” đáng sợ. Nó ngấm dần, ngấm dần.

Cuối cùng Lộc nghĩ: nên về ở hẳn với mẹ nàng, ở Thủ Ðức. Mẹ nàng nhắn đã nhiều lần. Lương bổng chẳng bao nhiêu, trước đây đã có lúc nàng muốn xin nghỉ việc về ở với mẹ. Lần này thì không nên dần dà nữa. Về đi thì hơn.





Một mặt nàng đã chán cuộc sống lênh đênh, lẻ loi, đầy bất trắc. Mặt khác nàng về với mẹ, việc ấy có nghĩa như một sự tha thứ, sẽ đem lại cảm tưởng yên ổn để mẹ nàng vui sống trong tuổi già.

Tha thứ tội lỗi gì? Lộc cũng không rõ lắm. Cái biến cố kinh khủng ấy trong quá khứ của mẹ nàng, nàng chưa gặp một người nào chịu trình bày đầy đủ cặn kẽ cho nàng biết. Những người thân thì vì cảm tình đối với mẹ nàng mà không nỡ nói đến chuyện ấy, nhất là nói với đứa con gái của bà. Nhưng cũng có lẽ là thực ra chẳng mấy ai hiểu biết tường tận câu chuyện xảy ra làm sao.

Mẹ nàng mà lấy một lượt hai người chồng? Không tưởng tượng được. Bà đâu phải con người lẳng lơ. Từ ngày khôn lớn tới giờ Lộc càng ngày càng ngạc nhiên về mẹ mình. Nàng đâu có ngây ngô gì? Nàng biết phán đoán chứ, nàng đi đây đi đó nhiều, giao thiệp nhiều hạng người, nàng biết nhận xét chứ: mẹ nàng không những không phải một người đàn bà lẳng lơ, bà lại còn quá bảo thủ, cố chấp. Mẹ nàng cũng kín đáo như nàng, ngoài ra bà lại là con người nề nếp thuộc lớp trước.

Người đàn bà như thế lấy hai chồng cách nào? đã ăn ở, chung sống một lượt với hai người đàn ông nọ ra sao? Trời ơi, mẹ nàng! Không tưởng tượng được.

Mà chính bà mẹ của Lộc, chính bà, bây giờ có lẽ cũng không nhớ, không nghĩ ra thái độ của mình hồi đó. Biến cố nọ như một chuyện dị thường, từ đâu xảy đến, rồi mất đi, không cắt nghĩa nổi. Trong số những người ngạc nhiên có cả chính bà.

Ðại khái những điều Lộc được biết là sau khi cha mẹ nàng sống với nhau êm đềm được ba năm, nàng đã được một tuổi rưỡi, thì trong số bạn bè của cha nàng có một kẻ bỗng tới lui thân mật. Hình như là một người làm thầu khoán gì đó. Người ấy đau một trận thập tử nhất sinh tại nhà gia đình nàng, mẹ nàng săn sóc. Lành bệnh, người đàn ông nhất định không đi đâu nữa: Chết sống chỉ biết có một người đàn bà là mẹ nàng, ông ta nói vậy. Nói thành khẩn, chí tình.

Tất cả gia đình, họ hàng, xóm giềng v.v... đều lấy làm một sự kinh hoàng. Nhưng còn biết làm gì được nữa?

Cuộc sống của bộ ba kéo dài ba năm. Có nhiều sóng gió dữ dội xảy ra trong thời gian ấy, đưa tới hai kết quả: thứ nhất, Lộc được bà nội đem về nuôi, không cho ở chung với mẹ (từ đó nàng sẽ lênh đênh từ nhà nội đến nhà bà cô này bà dì kia cho tới lớn); thứ nhì, cha nàng bỏ nhà đi biệt tích.

Nghe nói ông đi vào dịp mẹ nàng hạ sinh một đứa con trai. Con của ai? Mẹ nàng không trả lời được cái thắc mắc ấy. Cha nàng và cả người đàn ông kia, cả hai không thể không băn khoăn. Rồi lồng lộn lên. Cho nên một người phải ra đi.

Còn người chồng sau của mẹ nàng thì ông ta không thể đi đâu, không thể rời được mẹ nàng. “Sống chết” với mẹ nàng, “ông Trời bắt tôi...”, ông ta phân trần với mọi người như thế. Ðó là một người đam mê liều lĩnh đến bất thường. Mẹ nàng vốn điềm đạm bình tĩnh như vậy mà rồi cũng lao vào cuộc tình này, ấy có lẽ là do sức lôi cuốn khốc hại của người đàn ông nọ. Sức đam mê của ông ta lôi cuốn như cuồng phong, như lốc bão. Mẹ nàng bấy giờ còn trẻ, không đủ sức tự chủ, lại vì tính tình chậm chạp cho nên bà đã bị hút vào trận lốc mà vẫn chưa kịp hiểu tình thế.

Ðứa em trai duy nhất của nàng sinh ra chẳng bao lâu rồi mất. Mà người chồng sau của mẹ nàng cũng chết trong một tai nạn lao động: ông ta bị ngã từ trên trần nhà xuống, đập đầu vào một đống gạch, ngắc ngoải năm tuần lễ, rồi đi luôn.

Sau khi chôn cất người đàn ông ấy, mẹ nàng như tỉnh một giấc mơ. Bà bước ra khỏi một thời kỳ cuồng loạn, và như thể không bao giờ dám ngoảnh mặt ngó lại. Không ai nghe mẹ nàng nhắc một lời nào tới quá khứ. Mẹ nàng dứt khoát: bà không có quá khứ nữa.

Cái việc mẹ nàng trôi giạt vào tận Thủ Ðức, lập nghiệp ở đây, một phần là do sự run rủi của công việc làm ăn, nhưng một phần khác chắc chắn cũng là do ý bà muốn rời xa quê hương, thân thuộc. Trong nhà, Lộc đã để ý tìm kiếm mà không hề thấy một vết tích gì của đời vợ chồng hay tình ái của mẹ nàng xưa kia: không một món đồ nào của đàn ông còn sót lại, không một tấm hình của người nào trong hai người.

Mẹ nàng mất hẳn quá khứ, tưởng như cũng không còn tình cảm nữa. Từ ngày khôn lớn, Lộc tuyệt nhiên không biết đến một mối tình nào của mẹ. Thậm chí nàng cũng không hề có lúc nào bắt gặp ở mẹ nàng một lời nói, một cử chỉ, một ánh mắt biểu lộ sự xúc động đối với nam phái. Bà như tắt ngấm đi. Nguội lạnh, uể oải.

Càng lớn Lộc càng thương mẹ. Những bất trắc tình cảm ở đời, ai cho khỏi? Chẳng qua là tai họa, có gì đáng trách đâu. Bấy lâu nàng không về ở được với mẹ không phải là vì thành kiến gì đối với chuyện cũ của bà, thực ra chỉ vì tính nàng dùng dằng bất quyết. Bây giờ nàng về, chắc bà mừng lắm.

Nàng về chứ. Lúc này nàng đang cần một chỗ để về, để trốn nấp. Nàng đang bối rối vì sự đe dọa của một thứ tình cảm không lành.





Hôm qua, hai con vịt đã biểu diễn một màn thân ái làm nàng ngạc nhiên. Nàng ngồi lặt mớ rau muống ngoài sân, chúng chạy loanh quanh, vung vung cái đuôi, rồi nằm bẹp xuống bên cạnh. Một lát, nàng bưng rổ rau đã lặt xong vào bếp. Nàng vừa ngồi xuống trước cái hỏa lò, nghe có tiếng líu ríu sau lưng, quay lại thì đã thấy đủ hai con vịt xiêm con. Chúng nằm bẹp từ lúc nào sát chân nàng, nghểnh cao cổ, mở những con mắt đen lay láy, vung vung cái đuôi... Buồn cười, chúng bám theo nàng như trẻ con theo mẹ. Trông ngây ngô, tội nghiệp.

Vài ngày nữa Lộc về với mẹ, và sẽ bỏ lại hai con vịt xiêm con với sự quyến luyến của chúng. Nàng đã bỏ sau lưng những “tình cảm” quấn quít như thế ở nhiều nơi. Một con chó quắn ở Gia Nghĩa mỗi lần trông thấy nàng bế một đứa bé trên tay hay ôm một con gà ra vẻ tưng tiu là nó khốn khổ chạy quýnh lên, rên ư ử. Nó ganh tị. Nàng đi đâu vắng vài ngày, lúc về tới nhà, nó lăng quăng, sủa ăng ẳng, mừng vãi cả nước tiểu ra, lúc được bồng lên nó ngậm lấy tay nàng giữ trong miệng thật lâu.

Còn những con mèo của các nhà trọ ở đây đó chúng đều tinh khôn và mến nàng kín đáo. Có con ngày đêm quanh quẩn bên gối giường nàng, nó quen hơi hướng của nàng và nàng quen nó. Có con mỗi bữa ăn lặng lẽ nép bên mình nàng, và thỉnh thoảng lấy chân trước khều thật nhẹ để nhắc nhở, để xin món ăn. Nó khều nàng mà như biết tránh sự chú ý của mọi người khác.

Hồi ở trên Pleiku, công việc bàn giấy tại địa điểm dinh điền chẳng có bao nhiêu; nàng vẫn lãnh phần đi chợ hàng ngày cho mấy anh chị em cán bộ ở chung với nhau. Lần nào đi chợ Lộc cũng xin một ít đầu tôm đuôi cá đem về cho mấy con gà. Gà ăn quen, riết rồi mỗi lần nàng đi chợ về, nghe tiếng nói hay tiếng chân của nàng từ ngoài sân hay trước ngõ, chúng nó đã mừng rỡ rối rít, đập cánh, nhảy nhót, la lên quang quác trong chuồng. Người đàn bà ở căn nhà sát vách bật cười, kêu: “Má về, tụi bay ơi. Má về rồi đó”. Ít khi lũ gà lầm lẫn: chúng phân biệt tiếng chân và bóng dáng của nàng từ xa thật đúng.

Những thứ tình cảm như vậy đều có đi có lại. Ðối với những con gà, con vịt, con chó, con mèo ấy Lộc cũng có một thái độ âu yếm theo cách riêng. Nàng có cảm tưởng mình sống ở đâu xung quanh cũng có một bầu không khí tình cảm ấm áp bao bọc. “Bao bọc những người con gái muộn chồng”, có lúc nàng chua chát.

Lần này tại sở của nàng làm, vợ chồng người lao công có một đứa con trai vào khoảng tám, chín tuổi gì đó. Gia đình người lao công ở một căn nhà phụ ngay trong sở, cho nên nàng vẫn trông thấy đứa bé hàng ngày. Hai tháng gần đây, Lộc nhiều lần bắt gặp nó hoặc quanh quẩn bên chiếc xe gắn máy của nàng, hoặc đứng từ xa nhìn nàng làm việc, hoặc lảng vảng đón đợi nàng lúc đi lúc về.

Cái rung động mông lung, ngây thơ trong lòng một đứa trẻ ấy, có mấy người khác trong sở cùng để ý. “Nó yêu đấy”. Nàng cười: “Nếu tôi có chồng sớm con tôi cũng bằng nó.”

Nàng nói để đuổi câu chuyện đi. Nhưng thực sự, nàng không thể xua đuổi được khỏi tâm trí “mối tình” nọ. Quanh nàng bầu không khí tình cảm bao bọc càng ấm càng nồng.

Lộc lúc nào cũng được yêu mến. Nhưng yêu mến vậy vậy thôi, chẳng đi tới đâu, mà tuổi trẻ của nàng thì... tuổi trẻ bất cứ của ai cũng thế, nó không chịu chờ đợi. Chờ đợi mỏi mòn trong những tình yêu gà yêu vịt.

Lộc không ở hẳn với cha, không ở với mẹ. Từ bao nhiêu lâu nàng không có hẳn một quê hương, dù là quê cha hay quê mẹ. Dần dần, lớn lên, nàng thấy mình sắp mất đi một thứ quê hương nữa: là tuổi trẻ. Xa tuổi trẻ nàng mất tự tín, nàng bơ vơ, hoang mang.

Tự nhiên Lộc thấy mình cần về ở với mẹ, về hẳn.




Khi cha nàng bỏ nhà ra đi, ông bặt tin luôn bốn năm. Rồi vẫn không thư từ tin tức gì, một hôm thình lình ông về thăm nhà thì bấy giờ ông đã thành một quân nhân rồi. Cũng như nhiều người khác từ ngoài Trung ra đi, ông cũng vào trong Nam tìm sinh kế, nhưng không hiểu làm sao ông lại vào lính. Bây giờ cha Lộc là một đại úy ở dưới Cần Thơ.

Hình như mẹ nàng có biết về những điều đó: cha nàng lấy vợ ở Vĩnh Long, có thêm hai con trai ba con gái, cha nàng thỉnh thoảng về thăm nhà ngoài Trung, vẫn gặp Lộc, cha con vẫn liên lạc với nhau, lâu lâu cha nàng gửi cho nàng một món tiền, một món quà v.v... Mẹ nàng không biết gì rõ rệt lắm, bà cũng không trực tiếp hỏi nàng lần nào. Tuy nhiên mỗi khi có cái áo dài, cái ví của cha nàng mới cho, Lộc vẫn khéo léo cho mẹ biết.

Thái độ của người đàn ông làm cho nàng ngạc nhiên. Cha nàng không giấu được sự thù hận. Thật lạ lùng: Ông không phải không biết đại khái mẹ nàng bây giờ sống ra sao, nhưng càng ngày ông càng thâm thù. Sau cuộc đổ vỡ, giữa hai người ông được nhiều “thành công” hơn chứ, ông vẫn lập lại một gia đình, ông đang sống sum vầy. Còn người đàn bà thì cuộc đời tan hoang rồi, còn gì đâu. Vậy mà ông không tha thứ được. Ông vẫn như còn ngượng ngùng, dằn dỗi: không bao giờ về quê mà ông chịu đem theo người vợ sau hay những đứa con của người vợ sau. Lộc chưa gặp bà dì Vĩnh Long và mấy đứa em. Bà nội nàng thì có một lần vào Cần Thơ nửa tháng, nhưng Lộc và bao nhiêu người khác ở phía nội đều chưa được ghé mắt nhòm vào cuộc đời sau của cha nàng.

Quả là khi cần về, nàng chỉ có thể về ở với mẹ mà thôi, dù bà có ra sao đi nữa.



Phơi xong các món đồ vừa giặt lên dây, Lộc xách cái thau nhựa và nhặt trái cam lên. Nàng vừa bước vào nhà vừa nghĩ: “Anh ấy mà biết những trái cam trái quít này tống xuất mình ra khỏi Bảo Lộc?”

Người con gái nghĩ đến những giây phút xúc động, những cái nhìn những câu nói trao đổi với Tín... Nàng nghĩ đến những cái nhìn những câu nói đêm đêm trong quán cà-phê của những người con trai, trong số đó có mấy khuôn mặt mà chắc chắn nàng sẽ không quên được, dù không quen biết... Trong cái quán cà-phê mà nàng sẽ rời bỏ mãi mãi.

Nàng nghĩ... quanh nàng không phải chỉ có những cặp mắt đen láy của vịt xiêm con, của thằng bé nhà bác lao công, không phải chỉ có tình gà tình vịt. Quanh nàng không phải chỉ là một bầu không khí ấm áp, mà có cả một bầu không khí chất chứa những luồng điện nguy hiểm, luôn luôn sẵn sàng phát nổ vì một tia lửa, một bầu không khí đầy bất trắc...

Nàng mà ngại sự bất trắc? Vâng, chán cảnh lênh đênh thì có, chứ còn đối với sự bất trắc...

... Một người con gái chỉ thực sự “sống” trong sự bất trắc. Ðến lúc quyết định về với mẹ, với cảnh an toàn, Lộc mới cảm thấy mình đang thu xếp cho một cái gì như là một cảnh hạ màn. Thu xếp rời bỏ cuộc sống thực sự. Không còn đe dọa bất trắc nào nữa, đời nàng còn gì sống động? Ðối với một người con gái, như vậy có còn là sống nữa chăng?

Những ánh mắt lén lút, những câu nói lập lờ...: tới phút chót người con gái đoan trang bỗng thấy mình vẫn yêu thích sự bất trắc.

Khi bất trắc bùng nổ như bom trong đời mẹ nàng thì suốt một đời bà không lấy lại được thăng bằng. Trái lại ở một cuộc sống như của nàng thì nàng gần như không ngớt chờ đợi sự bất trắc, những bất trắc làm run rẩy cuộc sống. Chờ đợi âm thầm, vô ý thức, nhưng mà thiết tha, như thể mong mỏi cái ý nghĩa của cả cuộc đời, ít ra là ý nghĩa của tuổi xuân mình vậy. – Ô hay!


1974

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

Nguyễn Lệ Uyên: Gia tài của Võ Hồng

Lời giới thiệu: Vào ngày 24/4/2022 vừa qua một cuộc hội thảo khoa học quốc gia mang tên “Hoài cố nhân - Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Võ Hồng”, được trường đại học Phú Yên, phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, Viện Khoa học Giáo dục - Văn hóa - Thể thao - Du lịch Đà Lạt, Trường Đại học Thái Bình Dương, đứng ra tổ chức tại thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. Cuộc hội thảo này đáng lẽ đã diễn ra vào tháng 5/2021, nhưng vì dịch bệnh nên được dời lại đến năm nay. Theo tin tức của báo chí trong nước, có hơn 60 bài tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, người thân, và học trò của Võ Hồng gửi đến buổi hội thảo.

Trong số những người được mời tham gia hội thảo, có nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, một cây bút đã từng cộng tác với các tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi Hành…trước tháng 4/1975.  Anh đã lấy vé  đi Tuy Hòa vào chiều thứ Sáu 22/4 để dự hội thảo. Nhưng đến trưa hôm đó (22/4/2022), hai ngày trước ngày hội thảo, hiệu trưởng trường đại học Phú Yên, ông Trần Lăng, gọi điện báo cho anh biết là bài tham luận của anh đã bị rút ra, không cho vào kỷ yếu và bản thân anh cũng không được tham dự hội thảo. Ngoài Nguyễn Lệ Uyên, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và một nhân vật khác ở Hà Nội mà Ban tổ chức giấu tên, cũng cùng chung số phận. Phạm Xuân Nguyên, trong một bài đi trên trang mạng “Văn Việt” ngày 26/4/2022, cho biết “công an tỉnh Phú Yên yêu cầu họ [Ban tổ chức] không được để tôi và hai người nữa (trong đó có nhà văn miền Nam cũ Nguyễn Lệ Uyên tức Đoàn Việt Hùng) tham dự hội thảo, bài của cả ba không được đưa vào kỷ yếu. Lý do bên an ninh đưa ra, theo người của ban tổ chức cho biết, là do tôi tham gia “Văn Đoàn Độc Lập.”


Theo Nguyễn Lệ Uyên, bài tham luận của anh, “Gia tài của Võ Hồng”, bị Công an và ban Tuyên giáo tỉnh Phú Yên yêu cầu Ban tổ chức hội thảo loại bỏ vì  đã sử dụng tài liệu của các nhà văn lấy từ các trang mạng ở nước ngoài, trong đó đáng chú ý là đoạn trích dẫn cho biết nhà văn Nguyễn Mộng Giác mượn 150 trang viết về chiến tranh của hai  sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Hoàng Khởi Phong với “Ngày N+”  và Cao Xuân Huy với “Tháng Ba gãy súng” để đưa vào bộ trường thiên tiểu thuyết “Mùa biển động” của ông. 

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài tham luận không-được-thừa-nhận này của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên. (Thế Quân)

 

1. Võ Hồng mất đi, không chỉ để lại một gia tài khá lớn, góp phần tô thắm cho dòng văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, mà hơn thế, ông còn được các thế hệ lớn nhỏ tôn kính, từ những học trò học trực tiếp với ông, các nhà văn cùng thế hệ, các nhà văn trẻ viết sau ông và cả những độc giả từng đọc các tác phẩm của ông tạo thành một vòng đai ấm áp mà không phải nhà văn nào cũng nhận được.

Võ Hồng: Xuất Hành Năm Mới

Lời giới thiệu.- Nhà văn Võ Hồng sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921 tại làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Từ năm 1956 ông sống tại Nha Trang cho đến lúc qua đời vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.

Là nhà văn, đồng thời ông cũng là nhà giáo. Tác phẩm của ông ghi lại khá chân thực và tinh tế cuộc sống, sinh hoạt của người dân vùng Nam Trung Bộ. Nhiều tác phẩm của Võ Hồng đã được trích giảng trong sách giáo khoa văn cho chương trình trung học trước năm 1975. Sau năm 1975, văn nghiệp của ông là đề tài cho nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ văn chương.

Võ Hồng lập gia đình, đến năm 1957 thì vợ ông qua đời, để lại ba con nhỏ: lớn nhất 9 tuổi và nhỏ nhất 3 tuổi. Từ ngày vợ mất, ông không lấy người khác, vì ông sợ lấy vợ lần nữa sẽ làm khổ các con.

Truyện ngắn Xuất Hành Năm Mới dưới đây gần như là một tự truyện về cảnh gia đình ông đi thăm mộ vợ ông.
***

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng.

Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia.


Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2022

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Chuyện Tháng Tư

 Cái ấn tượng cuối cùng trước ngày tôi rời khỏi quê hương là vào tháng Ba âm lịch, nhằm tháng Tư dương lịch, năm một ngàn chín trăm bảy mươi sáu. Tháng Ba ở quê hương tôi là mùa gió chướng, cũng là mùa tôm, cá, nhưng nổi tiếng nhứt là mùa tôm bạc rại và mùa cá đường hội. Sau một năm sống dưới chánh quyền mới, dân chúng quê tôi khổ cực vô cùng, một phần vì thiếu dầu máy, một phần vì thanh niên ngư phủ trong xóm bị bắt đi làm thủy lợi hết, cho nên ghe cào, ghe te và các loại ghe lưới ở Sông Đốc Vàm cũng hạn chế ra bãi và ra khơi đánh bắt. 

Tôi cũng như bao thanh niên trong xóm đi đào đất đắp nghĩa trang ở Bạc Liêu. Khi tôi về tới Sông Đốc thì mùa tôm, cá đã qua rồi, theo ghe ra biển chỉ vớt vát được tôm, cá lặt vặt cuối mùa. Những năm đầu miền Nam rơi vào tay cộng sản, sông Đốc vàm bị thất mùa thê thảm, nhiều gia đình thiếu gạo ăn, phải vô rừng bắt vọp, bắt cua, chặt cây làm củi bán mua gạo sống cầm chừng. Đã vậy mà báo chí của nhà nước lại viết, tôi chỉ nhớ đại khái rằng, là nhờ cách mạng giải phóng, dân ngư được yên ổn mần ăn, cho nên ngày mùa ở Sông Đốc vàm xôn xao mùa cá đường hội và được trúng mùa tôm bạc rại. Dân chúng vùng ven hồ hởi, phấn khởi lắm. Trong những năm thiếu thời, tôi hay tò mò nhiều chuyện, cho nên mỗi khi đọc những bài báo như vậy, trong lòng tôi ray rứt và canh cánh buồn cho cái thời đại, mới bắt đầu mà đã dối trá rồi. Nên tôi hay chú ý tới thế sự đổi thay qua những chiếc loa công cộng với những câu, những chữ mới lạ tôi còn nhớ những khẩu hiệu, những từ như: “hồ hởi, phấn khởi, khắp nơi reo mừng, nhờ ơn bác đảng, áo ấm cơm no... Nhứt là một đoạn văn mở đầu của ban thông tin mỗi khi đọc: “Nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân thị tứ, lúc đó Sông Đốc còn là thị tứ, nói riêng đời đời nhớ ơn chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vâng lời bác Hồ dạy không có gì quý hơn độc lập tự do. Hình như ban thông tin văn hoá thấy lời bác dạy còn thiếu nên họ thêm hai câu nữa cho nó hợp với thời đại: “Quê hương nay giải phóng rồi, người dân làm chủ cuộc đời từ đây.”. Chắc họ đắc ý với đoạn văn mở đầu này lắm, cho nên ngày nào cũng nghe mấy cái loa bự tổ chảng, treo theo mấy cái cột cắm từ khu một tới khu ba, sáng nào cũng cứ ra rả đọc đi đọc lại cho tới ngày tôi vượt biển vẫn còn đọc. Có lẽ cũng vì sáng bảnh mắt đã nghe cho tới tối, trước khi ngủ vẫn còn nghe nên nó ăn sâu vào lòng tôi cái đoạn mở đầu “hay quá xá” ấy cho tới ngày hôm nay tôi vẫn nhớ. 


Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022

Hoàng Quân: Một Trăm Chỗ Lệch

Đôi Bóng- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Thỉnh thoảng nổi hứng, ông bảo, để ông nấu nướng, bà dọn dẹp rửa chén. Ông nấu nhanh, mắm muối mạnh tay. Khi nghe ông thông báo trổ tài món thịt heo kho trứng, bà tưởng như lượng Cholesterol phóng vút lên trần nhà. Ông khuân về tảng thịt hai rọi, chứ không phải ba rọi. Rọi mỡ lấn lướt rọi thịt một cách sỗ sàng. Ông luộc trọn chục trứng gà. Ông theo nguyên tắc “cho gọn”, mua bao nhiêu, nấu bấy nhiêu. Cũng may, chợ gần nhà ông bà không bán vĩ trứng 24 cái. Nhìn nồi thịt kho, ông tấm tắc: “Ngon bá cháy”. Bà nhăn nhó, với đà dinh dưỡng như vầy, chẳng chóng thì chầy ông bà trở thành võ sĩ Sumo

Đến phiên bà lo việc bếp núc, ông rối cả mắt. Vài rẻo thịt mỏng dính nằm khép nép trên thớt. Mấy rổ rau dàn hàng nghênh ngang, nào cần tây, cà rốt, bắp cải. Bà giảng giải, ăn uống phải đầy đủ sinh tố từ A đến Z. Nồi canh mồng tơi (Spinach) to tướng được bà ban cho vài con tép riu. Ông chẳng biết mấy con, vì bà đã băm nhuyễn rồi. Đã vậy, sợ lên đường, lên muối, bà nêm lạt lạt. Bà nhắc chừng ông, cao máu, cao mỡ, thì phải để ý thế này, thế nọ. Thằng em rể mắng vốn với ông: “Anh ơi, em gái anh coi chồng như thỏ, như bò. Vợ em cho em ăn toàn là rau với cỏ”. Ông thở dài sườn sượt: “Chú mầy vậy là còn hên! Anh đây, không chỉ ăn, mà còn phải uống rau cỏ nữa. Chú mầy thấy mắt anh lúc nào cũng trố trố không? Bả ép su hào, ớt chuông, dưa leo, rồi bả ép anh uống, mà phải uống trước mặt bả, chứ đâu lén đổ đi đâu được. Uống riết, trợn trắng”. 

Bà dọn mì xào, ông trút cả tô nước mắm vào dĩa mì, hỏi giỡn: 

-Bữa nay em quên nêm hay sao mà lạt nhách, lạt nhơ. Ăn hổng biết là món gì. 

Bà nghiêm giọng:

-Lạt thì anh cứ việc thêm chút nước mắm. Chỉ sợ quá mặn mới hết thuốc chữa.