Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

Cung Tích Biền: Một Thời Nên Vắng Mặt

một

Lời âm u khói núi

Hãy rộng lòng với tôi những điều tôi đã nói.
Hãy hiểu cho tôi những điều tôi chưa nói.
CTB

Gọi rằng, tập thể những con người có-mặt-chúng-tôi, là một khu rừng. Rừng rú ấy non thế kỷ qua chỉ toàn cây trái độc. Cây này tỏa chất/khí độc làm tàn héo cây kia. Cây nọ rụng trái/giống độc xuống làm què quặt mầm non khác.

Cuộc anh em choảng nhau kịch liệt đang tới hồi cực điểm. Vừa mấy tháng qua là cuộc chơi nhãn hiệu Tết Mậu Thân. Một cuộc nhang khói quanh co, lẫn ngậm ngùi.

Quanh co, vì suy tới nghĩ lui vẫn ngần ấy nội dung tranh chấp. Có khi tới trăm năm cũng chỉ vậy. Có khi rối mù, tàn tật trí não hơn.

Ngậm ngùi qua-về, vì cái nôi mẹ ru con có giới hạn quá hẻo. Mẹ ru tuổi thơ. Tuổi lớn, tụi con chúng tự tính sổ với nhau. Bên này bên kia một lũy tre, cách một bờ mép chiến hào, qua một màn sương bờ lau sậy, vẫn ngần ấy anh em.

Cha lăn đùng rồi, có anh con cầm dao găm thay. Cha già nua, có anh con thông minh hơn nói hộ. Vẫn ngần ấy nội dung, ông cao từng nói, ông cố đã nói, ông nội từng khẳng định, cha của mình có bổ sung, tới mình thay mặt Buổi-hôm-nay, nói, phải đúng bon vậy. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Tôi ngồi rất lâu trong đêm thâu. Nghĩ về khói hương một ngày đầu năm mới. Những đóa hoa sẽ nở trong mùa xuân tới.

Người ta đồn rằng có những bà mẹ còn ôm cuốn kinh Phật trong lòng tay, và nhiều em bé còn mang theo món đồ chơi quà tết cha mẹ cho trước khi tử nạn.

Ngự Thuyết: Ra Đi (Trích từ MẸ, xuất bản 10/2021, thêm nhan đề)

Một buổi trưa mùa đông. Trời lạnh lẽo dù vẫn còn sót chút nắng vàng vọt, yếu ớt. Đã ba mươi ta, năm hết tết tới. Làng xóm vắng teo. Mọi người đều lui cui quanh quẩn trong nhà lo sửa soạn đón ngày Tết Nguyên Đán. Học trò con nít, khách hàng nghèo nàn thường xuyên của mẹ, đã nghỉ học, mẹ vẫn nách rổ khoai sắn một mình đi lang thang như người lưu lạc ngay trong làng xóm của mình. Không biết đi đâu, không mục đích.

Ở nhà thì buồn quá. Bất cứ cái chi, nơi cánh cửa, góc xó bếp, trên bàn thờ, dưới mái tranh, trong chiếc phản, ngoài sân cỏ, cũng đều nhắc nhở tới hình bóng của chồng, của con. Đi ra ngoài đường khuây khoả hơn. Thì phải đi. Hơn nữa, biết đâu lại “gặp mối”, kiếm thêm năm đồng ba trự đỡ khổ.

Đôi chân uể oải, rã rời, tuy nhiên, cũng còn đủ sức đưa mẹ tới nơi nghỉ trưa quen thuộc hàng ngày.

Mẹ đặt rổ khoai sắn ngay dưới gốc cây bàng cành lá xác xơ. Vài ba con kiến mon men bò tới ngay. Mẹ lượm một chiếc lá bàng rụng đỏ ối cầm khua khua đuổi mấy con kiến đi chỗ khác. Chúng lì lợm, bò ngay lên chiếc lá đang xua đuổi chúng. Mẹ ném chiếc lá đó về phía gốc cây bàng, lượm lá khác để đuổi kiến. Mẹ không muốn sát sanh. Mẹ luôn luôn nghĩ rằng mình tu nhân tích đức, không giết hại ai cả, dù một con kiến, thì con sẽ mau thoát được mọi hiểm nguy để về với mẹ.

Đằng sau cây bàng, một cái miếu nhỏ bỏ hoang lâu ngày. Mái ngói nhiều nơi đã vỡ; bốn tường đều rêu phong, nứt nẻ; bàn thờ không đèn, không bát nhang, vôi loang lổ lâu ngày xám, đen. Một con chim bé nhỏ từ trong vòm cây bỗng kêu lên mấy tiếng, rồi vụt bay đi, bay xa, bay qua bên kia con hói. Chim chi rứa, mẹ không biết tên. Mẹ nhìn theo cho đến khi mất dấu chim bay, rồi ngồi bệt xuống đất trong lòng chiếc nón lá rách.

Mẹ có nhớ rõ bữa ni ba mươi Tết. Không chừng con chim nó muốn nhắc mình đi qua cồn mồ thăm “ba hắng”. Mà nhắc nhở như rứa là “dư hơi” thôi, mẹ nói lên thành tiếng. Vì chiều ni ba mươi Tết làm răng mình không qua được, mà còn nhắc khéo. Tức cười, mẹ lầm bầm nói chuyện với con chim đã bay xa. Khi không có ai trước mặt, mẹ thường nói năng lẩn thẩn như người mất trí.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Trùng Dương: Nhân bộ báo Sóng Thần ‘tái xuất’ trên Mạng, duyệt qua các trang mạng sách báo Miền Nam


Bài này gồm hai phần, như nêu trong tựa bài. Phần đầu giới thiệu bộ báo Sóng Thần và một số báo khác do anh Võ Phi Hùng ở Virginia thực hiện, và được Kho Sách Xưa của ông Hùynh Chiếu Đẳng phổ biến gần đây. Và phần thứ hai nhằm duyệt lại và bổ túc một bài tôi soạn cách đây trên hai năm về các nỗ lực phục hồi sách báo xuất bản ở Miền Nam truớc 1975. Có thể còn những nỗ lực khác mà người viết không được biết tới, xin độc giả tùy nghi bổ túc.

Bộ báo Sóng Thần & kho báo Miền Nam


Vào đầu tháng Chín vừa qua, Võ Phi Hùng, một cựu học sinh Petrus Ký hiện đang cư ngụ tại tiểu bang Virgnia, viết thư cho nguyên tổng thư ký Uyên Thao và tôi, nguyên chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần (Saigon, 1971-1975), thông báolà đã gần hoàn tất việc scan xong bộ báo Sóng Thần từ toàn bộ bẩy cuộn microfilm 35mm mượn của thư viện Đại học Cornell qua chương trình Interlibrary Loan. Anh Hùng cho biết “đang tiến hành công việc chụp lại từng film một tại thư viện địa phương Fairfax Regional Library ở Fairfax, VA, và sau đó về nhà ráp từng trang lại thành một số báo.” Anh hy vọng trong hai tuần nữa thì hoàn tất.

Sóng Thần là một trong những bộ báo xuất bản tại Miền Nam, từ 1971 tới 1975, mà anh Hùng “vì yêu đọc sách báo và muốn phổ biến cho việc tham khảo các báo chí Việt Nam đã phát hành ở Miền Nam trước năm 1975” nên đã bỏ công sức ra thực hiện. Những báo kia, Hùng cho biết, hoặc đã hoàn tất, gồm có Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, và An Hà Nhật Báo, đã gởi đăng trên trang mạng Kho Sách Xưa; hoặc đang thực hiện, ngoài nhật báo Sóng Thần, là Chính Luận (tồn tại lâu nhất trong làng báo Miền Nam, từ 1964 đến 1975), Đông Pháp Thời Báo, và Đuốc Nhà Nam.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Võ Phiến: Rụp Rụp

Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt và một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, ngồi im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.

Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể nhìn hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến với người Tàu Quảng Đông, người Tàu tỉnh này với người Tàu tỉnh khác.1

Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi có dăm ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt lấy làm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với các tiệm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi có thể nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với một người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Bình Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách khác, tôi có cảm tưởng mình cũng... tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!

Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, kbông vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó; tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v... Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Động tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Trên Một Dòng Sông

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.
Thương nhau xin chớ ngại ngùng,
sông sâu cũng lội
rậm rừng cũng băng.
(ca dao)

Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.

Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.

Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:

- Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.

Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.

Hồ Phú Bông: Những Viên Sỏi

Hình minh hoạ FreePik

Lam chuẩn bị đi thư viện thì nghe tiếng gõ cửa. Một thanh niên mặc rất giản dị và lịch sự hỏi nhà Liễu:

- Thưa cô, cô Liễu trước đây ở căn bên cạnh không biết đã dời về đâu? Tôi ở xa về, mất liên lạc nên không biết tin tức. Nếu cô biết xin chỉ giúp. Tôi đã hỏi chủ mới nhưng họ không biết.

- Liễu là bạn tôi. Liễu đi Úc lâu rồi. Tôi có địa chỉ Liễu nhưng không nhớ. Nếu cần, tối anh chịu khó ghé lại tôi sẽ lục tìm cho anh vì bây giờ tôi có việc phải đi ngay.

- Thành thật cám ơn cô. Tôi sẽ trở lại.

Đến thư viện thì Thành đã đợi sẵn ở đó.

- Lam đến trễ một chút vì vừa chuẩn bị đi thì gặp một ông Việt kiều hỏi nhà Liễu.

- Ông Việt kiều là bạn của Liễu? Chưa khi nào Thành nghe Liễu kể cả.

- Lam cũng hơi ngạc nhiên. Tối ổng sẽ trở lại. Thành muốn gặp ổng không?

- Chắc là không rồi.

Ngày trước Thành và Liễu rất thân nhau. Họ có thể là một cặp rất xứng đôi nhưng bạn của chị Liễu, ở Úc về, cuỗm mất Liễu. Thành không ưa Việt kiều từ đó. Thành tiếp:

- Cô nào cũng mơ Việt kiều, Lam có nghĩ vậy không?

- Thành có vẻ không vui phải không? Quên đi một kỷ niệm buồn cũng là điều tốt chứ. Sống hoài với nó có ích gì. Đời sống vẫn còn đang ở phía trước cơ mà!

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Phong Tử Khải: Thu (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán)

Thu

Phong Tử Khải

豐子愷

Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán

Vô ngôn độc thướng tây lâu, nguyệt như câu: Im lặng một mình lên lầu tây, trăng như móc câu/ Văn Trị Tiên Sinh Thôi Mã: Ông Thôi Mã, người Văn Trị/ Tranh: Tử Khải

Lễ gia quan (1) của tôi phải tới năm “ba mươi” tuổi mới cử hành được; và bây giờ thì đã qua hai năm. Tôi là kẻ không hiểu sao bén nhạy với chuyện đời, nên nhận được không phải là ít những gợi ý và chịu ảnh hưởng khá nhiều từ hai chữ “ba mươi” ấy. Tuy nhiên, tôi biết rõ là sức khoẻ thể lý cũng như tinh thần của tôi so sánh với lúc tôi hai mươi tuổi, thì chẳng khác gì nhau, ngoại trừ tôi thấy cái ý niệm “ba mươi” ấy là một chiếc dù trương ra che toàn thân tôi và làm cho tôi trở thành một cái bóng mờ mờ, và ý niệm ấy còn phảng phất như một tờ lịch có chữ lập thu (2) xé từ cuốn lịch treo tường; lập thu mà trời vẫn nóng hừng hực không giảm, nhiệt độ trên hàn thử biểu không xuống, và phải chờ cho tới khi sức nóng chỉ còn rơi rớt, tàn lụi, lúc sương rơi, lá rụng cái đã, thì lúc ấy khí hậu của trời đất mới trao thân cho thu.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

Kate Chopin: The Story Of An Hour ( Gió ViVu phỏng dịch )

Lời người dịch.-

Nhìn những phụ nữ Hồi giáo mặc trang phục và trùm khăn Burka tôi không khỏi rùng mình lo nghĩ dù đang sống ở Bắc Mỹ - ở một xứ tự do, độc lập - và trong một xã hội được xếp hạng là "Nhất trẻ em, nhì đàn bà, thứ ba là chó". Từ bao thế kỷ trước, người đàn ông luôn được xếp hàng cao "chót vót" ngay cả ở những xứ Bắc Mỹ; đàn ông là trụ cột và được quyền khống chế, điều khiển vợ con nhất thiết phải sống theo ý mình. Thật là một bất công, vì từ đó bao cảnh đau khổ, đắng cay, nhục nhằn mà phụ nữ đã phải gánh chịu khi bước vào cuộc sống hôn nhân. Thời gian qua với bao nhiêu tranh đấu phụ nữ đã đạt được sự tự do và quyền bình đẳng. Nhưng không phải tất cả phụ nữ trên thế giới đều được may mắn như nhau. Vì ở một số nơi, người phụ nữ vẫn còn sống dưới sự áp bức và cai quản của đàn ông, và hôn nhân coi như một sự áp đặt sẵn hoặc mua bán, trao đổi vì quyền lợi chính trị, kinh tế, giai cấp,...chứ không có tình yêu lãng mạn, hẹn hò của lứa đôi.

Dù đã hai thế kỷ qua, câu chuyện "Một Khoảnh Khắc Thần Tiên" (Story Of An Hour) của Kate Chopin như vừa mới viết hôm qua - để nói lên cuộc đời, thân phận và tâm tình của những người đàn bà, những người vợ phải sống dưới chế độ thống trị, áp bức của nam giới - đã và đang còn tồn tại ở một số nơi trên thế giới ngày nay (thế kỷ 21).

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

Bà Kate Chopin - 1894
Kate Chopin (1851 - 1904)

Kate Chopin (được biết với tên Catherine O'Flaherty trước khi lập gia đình với Oscar Chopin vào năm 1870) sinh tại St. Louis, Missouri (USA) - Mẹ là người gốc French-Creole, cha là người di dân gốc Ái Nhĩ Lan. Kate Chopin lớn lên trong "Chế độ phụ hệ" chứng kiến bao thế hệ phụ nữ bị "nam giới thống trị". Từ thời bà cố ngoại, Chopin đã nghe nhiều truyền thuyết về người Pháp đặt bước chân đầu tiên đến St. Louis. Những "thần thoại" này cũng đã ảnh hưởng nhiều đến truyện ngắn của bà với đầy đủ màu sắc, hương vị và âm thanh của dân Creole và Acadian.

Những câu chuyện của Kate Chopin viết hầu hết về những người phụ nữ đã miệt mài, buồn khổ đi tìm kiếm tự do dưới chế độ cai quản của "đàn ông", và bà được mệnh danh là người tiên phong dám viết lên tiếng nói và tâm tình của những người phụ nữ bị hà hiếp, thống trị thời đó. Bà đã viết hơn một trăm truyện ngắn, rất nhiều truyện đã được xuất bản hai lần như: Bayou Folk (1894) và A Night in Acadia (1897). Hai cuốn: At Fault (1890), và The Awakening (1899), đã gây tranh cãi gay gắt về vấn đề ly dị và ngoại tình. Bị bài bác như một kẻ vô luân, vô đạo đức, The Awakening đã làm dư luận sôi nổi, phản kháng kịch liệt khiến Kate Chopin rơi vào tâm trạng buồn chán, thất chí và viết rất ít vào khoảng năm năm cuối đời.

Lê Thiệp: Tâm Kinh

Lễ phát tang bà cụ mẹ ông bạn ở chùa Giác Hoàng đường 16 đông ra phết, phần vì gia đình lớn, phần vì ông bạn là người quảng giao. Hai vợ chồng tôi trịnh trọng thắp hương vái bàn thờ xong lui ra nhường chỗ cho người khác. Căn phòng không rộng lắm và tôi từ từ bị đẩy ra ngoài hành lang lúc nào không biết. Đứng lớ ngớ thấy vợ tôi vẫn mặt nghiêm và buồn nói chuyện với những người trong tang quyến, tôi đi hẳn ra phòng ngoài ngồi. Trên giá để một lô sách, tiện tay tôi rút và vớ được cuốn Nghi Thức Tụng Niệm. Cuốn sách bìa cứng màu đỏ chữ mạ vàng còn mới tinh, bên trong chữ in khá lớn có lẽ cỡ 16 để cho Phật tử nào già nua mắt kém cũng có thể đọc được. Đây là điểm son của chùa chiền Việt Nam vì thỉnh thoảng đi lễ nhà thờ thấy thánh kinh in chữ nhỏ li ti. Đang lật qua lật lại mắt liếc mấy câu chú ... tà ha tát nị … thì có tiếng chào :

- Ông Thiệp đọc gì đó?

Tôi ngẩng đầu lên. Một ông sư mặc áo chẽn màu trắng ngà tươi cười, xà xuống ngồi trước mặt tôi.

Tôi buột mồm trả lời không nghĩ ngợi :

- Thưa tôi đang đọc kinh.

- Á! Thế ông Thiệp đọc kinh gì vậy ?

Tôi ớ người ra. Tôi có đọc kinh gì đâu, chả qua chỉ liếc đi liếc lại nhưng vốn láu cá, tôi cười.

- Thưa đọc Tâm Kinh.

- Tâm Kinh là kinh được tụng nhiều nhất hơn hẳn Pháp Hoa và Kim Cương. Nó ngắn gọn xúc tích.

Tôi nhìn ông sư, cố nhớ xem đã gặp ông ở đâu, nhưng khuôn mặt nâu rắn rỏi và chiếc đầu nhẵn bóng không gợi nhắc một quen biết nào trong quá khứ. Tại sao ông lại gọi tôi là “ông Thiệp” đầy thân tình như vậy?

Bản tính tinh nghịch khiến tôi cười.

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2021

Dương Như Nguyện: Nói về nhạc phẩm Nguyệt Cầm của Cung Tiến - Nguyệt Cầm và trí thức lạc loài

To my parents, my one and only ever-lasting love, in their melodic native tongue; they taught me my love for the written words: she put me on a chair and told me to sing, and he led me to the piano...

Tôi viết bài này như tàn văn hay tùy bút, nhớ gì viết đó, khỏi cần...footnotes.

____________________

Nguyệt Cầm cuả Cung Tiến là một bản nhạc đặc biệt vì là nhạc Việt, nhưng ảnh hưởng nhạc cổ điển Tây Phương, nói thẳng thắn như Cung Tiến ("CT") đã nói, là lấy ý từ Beethoven, Romance en Fa, No.2, Op.50, thường được gọi là "Adagio Cantabile," viết cho violin và dàn nhạc hoà tấu/giao hưởng orchestra (đôi khi người đời sau viết lại cho tiếng phụ họa của dương cầm). (Tứ nhạc của “Romance en Fa” viết theo "tông" trưởng thì tôi thấy bàng bạc trong nhiều bài của Beethoven, và ngay cả trong bản đơn ca tuyệt vời được coi là hay nhất của nhân loại, thời Bel Canto sau phục hưng, đó là bài Casta Diva, của Bellini, thần tượng của Chopin). Vì thế nếu Cung Tiến chịu ảnh hưởng tứ nhạc này, tôi cũng không ngạc nhiên.

Nhạc sĩ Cung Tiến

(Tôi đi vào phạm vi ca hát tài tử qua nhạc Cung Tiến và Phạm Duy, hai bản Hoài Cảm và Hương Xưa, và hai bản Ngậm Ngùi – Nghìn Trùng Xa Cách, từ thuở mới 14 tuổi, ở Saigon. Khi lớn lên tôi không thích hát Nguyệt Cầm, vì lý do rằng dòng nhạc đối với tôi trừu tượng, khó giữ vững và khó thuộc lòng hơn các bài khác. Sau này đến tuổi 60 tôi mới có dịp chú tâm đến bài Nguyệt Cầm (xin cám ơn nhóm nhạc ở Houston), và lần này tôi cảm thấy rằng: ngay từ thời sáng tác Nguyệt Cầm, Cung Tiến đã bắt đầu có sự chuyển hướng đi vào ảnh hưởng nhạc cổ điển trừu tượng Tây Phương, tức là đường lối của Debussy. Bản Nguyệt Cầm rõ ràng là nhạc có "tông," không trừu tượng, nhưng tứ nhạc có phần trừu tượng vì dòng nhạc hẹp dù khoảng cách (interval) rộng và cao, và viết bằng "tông" có nhiều dấu thăng, rồi dấu bình/giảm, tức là người hát phải hát nhiều "note" nửa "tông." Bản Nguyệt cầm chuyển âm giai (nôm na người Việt gọi là “tông”) từ Mi trưởng qua Mi thứ rồi quay lại Mi trưởng (parallel keys). (Mi thứ là âm giai buổn, nhưng lại là âm giai có liên hệ trực tiếp với âm giai Sol trưởng (relative keys; submedian; superdominant) vì cùng chung các nốt và chung dấu nhạc ở đầu bài, Fa thăng, dù khác chủ âm(tonic).

Tôi viết bài này vì: ngày nay, khi Nguyệt Cầm vẫn còn đi vào thính giả VN, theo tôi, đã có nhiều ngộ nhận.

Điểm thứ nhất: lời giới thiệu của độc giả/thính giả hay người điều khiển chương trình/chương mụcthường nói rằng Cung Tiến "phổ" thơ Xuân Diệu. Theo tôi là không chính xác. Trong tập nhạc viết tay của CT được in ra, CT đề rất rõ ràng: nhạc và lời của CT. CT đã lấy ý thơ của Xuân Diệu, bài Nguyệt Cầm, để soạn "ca từ" (tôi dùng chữ này theo khán thính giả VN ngày nay), và để lấy ý bài thơ tạo nên bài hát. Đọc lời bài hát, sẽ thấy rõ ràng CT chỉ lấy ý thơ, chứ không phổ nhạc theo đúng nghĩa của nó. Nói chính xác phải là: Bài hát Nguyệt Cầm của Cung Tiến, lấy tên và dựa theo ý thơ của Xuân Diệu." "Phổ nhạc" thì phải như Phạm Duy: "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng," hay "Ngày Xưa Hoàng Thị," "Tiễn Em," "Kiếp Nào Có Yêu Nhau," "Ngậm Ngùi," “Muà Thu Chết,” etc...Phổ nhạc có nghĩa là lời thơ thế nào, lời nhạc thế ấy. Chỉ có thể thay đổi chút ít vì giai điệu mà thôi. Trong bản Nguyệt Cầm, lời bài hát không là lời bài thơ. Điều này quan trọng vì: lời bài hát Nguyệt Cầm cũng vẫn là sáng tác của CT, copyright, bản quyền của CT.

Trần Thị Nhật Hưng: Ao Nhà - Ao Người

Bà Mai đưa mắt ngắm cô dâu, chú rể. Cô dâu ba mươi sáu tuổi, chú rể hai mươi bảy tuổi. Trông cũng xứng ấy chứ, nhất là đối với người con gái Việt đứng bên cạnh một chàng trai Thuỵ Sĩ. Đã vậy, Trang, tên của cô dâu, vốn dĩ xuất thân từ một gia đình khá giả. Thân phụ nàng từng giữ chức vụ cao trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Mẹ có một cửa hàng buôn. Trong đời sống ăn sung mặc sướng không lo nghĩ tiền bạc mặc dù sau năm 1975 gia đình có sa sút, Trang vẫn giữ được nét trẻ của ngày nào. Với dáng dấp mảnh mai, Trang đứng bên Heinz cao lớn với bộ râu xồm xoàm, cái mức tuổi chênh lệch dường như không thấy nữa.

Đối với người Âu, Úc cũng như Mỹ Châu nói chung và người Thuỵ Sĩ nói riêng, khó mà họ định được tuổi tác của dân Việt. Hầu như cái nhìn của họ đều thấy dân Á Châu trẻ đi, có lẽ vì dáng người Á Châu nhỏ nhắn hay tại không bương chải ra đời sớm nên còn nét ngây thơ. Cũng như bà, khi tới Thuỵ Sĩ, lúc đó đã 32 tuổi, một lần mua vé xe Bus, người tài xế nghiễm nhiên bán cho bà vé nửa giá dành cho người dưới 16 tuổi. Lần khác mua vé xe lửa đi chơi xa, quày vé hỏi bà đã tới 16 tuổi chưa để bán nửa giá dành cho trẻ em. Cũng chính vì điểm này, lúc giới thiệu người phối ngẫu cho Trang, khi bí cùng bà mới tìm cho nàng một người chồng trẻ tuổi.

Bà Mai nhìn lại cô dâu, chú rể. Tuy cả hai đã xứng cặp nhưng trong thâm tâm bà vẫn chưa hài lòng. Đối với bà, một người con gái Việt lấy chồng ngoại quốc, bà cảm thấy như mất mát cái gì, bà làm như tổ quốc Việt Nam thân yêu của bà vừa mất một người con. Tự nhiên bà buồn vu vơ rồi chợt thở dài.

Trước khi làm mai cho Trang với Heinz, thật ra đâu phải bà không nhớ câu “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn”. Vốn không muốn con gái Việt lấy chồng ngoại quốc, lẽ đương nhiên bà phải nghĩ đến cái “ao nhà”. Tiếc rằng cái ao nhà của bà không những đục mà còn cạn không có một tí nước. Ao cạn thì làm sao mà tắm đây?! Người Việt vốn ở hải ngoại không mấy đông, có hơn vài triệu rải khắp trên thế giới. Thuỵ Sĩ là một nước nhỏ, diện tích khoảng 41.300 cây số vuông, nhiều đồi núi, số lượng người Việt càng ít ỏi hơn. Đôi khi bà nhìn đám dân Việt của bà ở Thuỵ Sĩ có khác nào dân thiểu số miền rừng núi. Tuy vậy, trước khi tìm cho Trang một tấm chồng, bà cũng đã suy nghĩ nát óc, lùng trong trí nhớ rồi ngồi liệt kê lập thành danh sách những chàng trai … ế vợ trong thành phố, vùng phụ cận, kể cả các nước láng giềng Áo, Đức, Pháp, Ý…

Nguyễn Hiền: Câu chuyện trong đêm ngủ đỗ

Cho đến khi gặp chiếc bảng thứ tư với hàng chữ “Stau” loé sáng thì cả bốn đứa chúng tôi đều đồng ý là không thể nào đi thêm được nữa, phải tìm chỗ ngủ lại thôi. Lời đề nghị ném ra là phải tìm một nơi nào đó, trước ăn, sau là ngả lưng, không có lời phản đối hay ưng thuận. Bên cạnh tôi, Cử vừa ngồi rột dậy sau một chuỗi những giấc ngủ ngắn. Anh ta vươn vai rồi bẻ khục tay kêu lắc cắc:

– Mẹ bà nó, đi làm chi cho khổ dữ vậy nè trời.

Vừa nói Cử vừa bực dọc quay kính xuống. Nắng chiều xiên khoai ngột ngạt hắt vào trong chiếc xe đang lê những bước con rùa. Tôi quờ tay ra sau cốp, lục trong bị, đưa mỗi người một lon bia, cố tìm một đề tài diễu:

– Nè mấy cha uống đi, giấc này mấy thày cảnh sát đâu có huởn mà tìm bắt dân nhậu.

Không tiếng trả lời. Chất bia phơi nắng đắng nghét chảy vào cổ họng. Đầu váng vất. Mồ hôi nhễ nhại. Các băng nhạc mang theo đã nghe đến lần thứ mấy không biết. Bảo lò mò tìm một chương trình nhạc nhộn, nhưng chỉ gặp những tiếng rột rẹt, rột rẹt nếu không phải là những chuyện lảm nhảm. Hắn tắt radio cái phụp, trả số hai, chiếc xe gầm lên phóng sát đít thằng đồng loại đi trước, chúi mũi hậm hực.

–Ê chạy từ từ giùm cái coi bác tài. Bộ hết chuyện giỡn hả mấy cha?

Câu pha trò xìu xuống như miếng bánh mì mắc mưa. Cả bốn đứa đều ngóng đến một chỗ quẹo nào đó vào trong làng hay một ngôi nhà cạnh trạm xăng với chữ M màu xanh, dấu hiệu của cái motel. Chỉ thấy con đường phía trước quanh co đang bò lên đồi, hai hàng xe đủ màu di động như hai con rết khổng lồ quằn quại ngược chiều nhau. Bảo 'gà tồ' cứ lầu bầu mãi trong miệng:

– Hồi sáng tôi nói mấy già đi sớm mà cứ lừng chừng lừng chừng hoài. Kia kìa quẹo đại vô cái đường kia rồi tới đâu tới.

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2021

Võ Phiến: Quanh Mình

Nàng giặt mấy món đồ. Hai con vịt xiêm loanh quanh bên cạnh, tìm bắt những con bọ màu đen, nhỏ bằng hạt cải, sinh sôi rất nhiều ở những chỗ đất ướt.

Hai con vịt nhỏ bằng hai cái hột xoài, mình cũng dẹp như hột xoài. Chúng lại ưa nằm bẹp xuống đất, vừa nằm vừa ăn: từ xa chạy tới nơi, rồi nằm xuống, mổ lia mổ lịa. Trông chúng lăng xăng, láu táu.

Sống lưng và chóp đầu màu đen, còn lại là vàng. Ở khoảng đen trên sống lưng có bốn chấm vàng, tròn. Hai bên đuôi mắt lại có hai vệt đen kéo dài ra đến tận sau cổ: hai vệt ấy như hai nét vẽ nghịch ngợm làm cho con vịt trông buồn cười, lố bịch.

Lộc được một người đàn bà trong xóm cho hai con vịt từ năm hôm trước. Bà ta mua sáu con, đem về nuôi, một đêm chuột cắn chết ba con, đêm sau lại cắn thêm con nữa. Nàng đến chơi nhà bà ta sáng hôm ấy, đúng lúc bà tìm thấy xác con vịt thứ tư. Người đàn bà nóng tính xách chân con vịt chết giơ lên cao la lối om sòm, rồi tức mình cho nàng luôn hai con vịt còn lại.

Lộc chưa bao giờ nuôi vịt xiêm, không biết tính chúng, nên ngạc nhiên thấy chúng mau quyến luyến mình quá sức: nàng giặt đồ, chúng theo ra giếng, nhưng lát sau nàng vào nhà, chúng sẽ bỏ ăn lúc thúc chạy vào, quanh quẩn và phóng uế đầy bếp. Mới nuôi có mấy hôm, chúng đã mến nàng, không chịu rời.

Người con gái lấy tay lật một mảnh gạch bể: đám bọ rúc dưới gạch hoảng hốt nhảy lung tung, vịt mừng rỡ đuổi bắt. Nàng trông theo vịt, và khi lũ bọ đã tẩu tán hết, nàng ngước mắt lên thì bắt gặp ngay Tín đang rình mình.

Tín đứng ngoài rào nhìn vào. Không biết chàng đã đứng đó từ lúc nào. Bị bắt gặp, Tín cười xòa, cười thật lớn. Người con gái đã bối rối, may nhờ tiếng cười ấy nên lấy lại được bình tĩnh.

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

Nhân Rằm Tháng Bảy…

Lời Tòa soạn DĐTK.- Hôm nay nhằm ngày Rằm Tháng Bảy, lễ Vu Lan, chúng tôi mời bạn đọc xem lại Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du. Bản văn tế đăng dưới đây là bản được học giả Hoàng Xuân Hãn hiệu đính khi so sánh các bản khác nhau, và đã giao cho ông Thanh Tuệ năm 1993.

Năm 1995 nhà xuất bản An Tiêm của ông Thanh Tuệ đã ấn hành bản văn tế này với lời Tựa của chính học giả Hoàng Xuân Hãn. Xin trích một đoạn từ lời Tựa ấy :

… Nay, có ông Thanh Tuệ, ngụ tại Paris, vốn xưa tại Sài Gòn quen nghề xuất bản, lại say mê văn cổ, quí chuộng bài Văn tế THẬP LOẠI CHÚNG SINH. Ông nhận thấy bản cảo của tôi mang lại cho Ông nhiều điều sở nguyện. Ông đã yêu cầu tôi để Ông chia thú cùng các bạn hải ngoại, nhất là các bạn rất đông ở bên kia Đại-tây-dương. Tôi tự nhiên đồng ý. Tôi nghĩ đến đồng bào đứng tuổi ở hải ngoại, đã từng quen và cảm với văn hóa dân tộc nước nhà. Nay vì sinh hoạt, đành nhìn con cháu một ngày một xa văn hóa gốc. Nếu mình có thể bảo tồn một cách chính xác những cái hay của gốc, thì có lẽ mình thuyết phục con em cố giữ gốc dễ hơn.

Vậy nên, tôi đã lấy bản cảo cũ, đọc lại, bổ túc và sửa chữa một vài điểm nhỏ, rồi giao cho ông Thanh Tuệ tự tiện dụng hành. Mong có những tiếng giội của độc giả để phủ chính thêm.

PARIS tháng 10 năm Quí-dậu (1993)

Hoàng Xuân Hãn



VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

Nguyễn Du


DỰNG ĐÀN GIẢI THOÁT


Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Lọt hơi sương lạnh buốt xương khô
Não người thay bấy chiều thu,
Ngàn lau khảm bạc, giếng ngô rụng vàng

Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Ngọn đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2021

Nguyễn Mộng Giác: Văn chương của Võ Phiến đứng được với thời gian

Hồi còn bận bịu việc mưu sinh, tôi vẫn thường hẹn là khi về hưu, không còn phải lo chuyện cơm áo hàng ngày, mình phải đọc lại thật kỹ những tác phẩm văn chương mình thích để thưởng thức trọn vẹn giá trị các tuyệt tác ấy. Tôi đã về hưu từ năm 2003, đã đọc được một số sách tôi rất thích hồi còn trẻ, nhưng thú thực bây giờ tôi không có cùng một nhận định đánh giá như trước. Nhiều tác phẩm trước đây tôi say mê, bây giờ đọc lại chỉ thấy nhạt nhẽo. Những cái sang trọng kỳ vĩ trở thành giả tạo, vay mượn vội vã từ những nguồn gốc mà bây giờ tôi mới biết. Nhiều kiến trúc đồ sộ sau những cơn mưa nhẹ đã đổ xuống, vung vãi vôi vữa khắp nơi. Tôi đâm băn khoăn, không biết cái tôi hồi trẻ là đúng hay cái tôi bây giờ mới đúng. Đọc mà không đam mê như tôi hiện đọc trong tuổi hồi hưu, có đúng là “đọc” hay không? Và tôi nhận ra cái điều đã nghe nói nhiều lần: màng lọc tàn nhẫn và khủng khiếp của thời gian.

Có một vài trường hợp ngoại lệ: có những tác phẩm đọc lại, tôi vẫn cảm thấy y như những gì cảm thấy hồi trẻ, như truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến.

Thật vậy, hồi trẻ đọc xong một tác phẩm của Võ Phiến, lòng tôi cứ bần thần, ngơ ngẩn suốt một thời gian dài. Cảm giác ấy quấy rầy tâm hồn tôi, một cảm giác phải thành thực mà nói, là rất khó chịu, buồn bã u sầu, nó làm “trệ” cả người. Tôi cho đó là dấu hiệu của giá trị văn chương. Cũng như hồi đó (trước 1975 ở Sài Gòn), một lần có người hỏi phu quân bà Bút Trà chủ nhiệm Sài Gòn Mới thế nào là một bài thơ hay. “Ông” Bút Trà trả lời: Bài thơ hay là bài thơ đọc xong mình thấy cái rún tê tê. Gần nửa thế kỷ là thời gian dằng đặc phân cách lần đọc Võ Phiến đầu tiên và cuối cùng của tôi. Thế mà cảm giác bần thần ngầy ngật ngày xưa vẫn không thay đổi. Tôi nghĩ: Văn chương của Võ Phiến “đứng” được với thời gian, ít ra là theo kinh nghiệm “đọc” của tôi. Và tôi đặt thêm câu hỏi: Vì sao vậy? để may ra có được một kinh nghiệm “viết.”

Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách trả lới câu hỏi này. Có người chú ý đến chính kiến của Võ Phiến. Có người đặt nặng phần tu từ. Người khác, kỹ thuật viết tùy bút. Phần tôi, các nhân vật trong truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến ám ảnh tôi không nguôi.

Lê Thiệp: Mày Là Thằng Hèn

Hai viên công an ập vào với một người cán bộ mặc áo bộ đội. Tất cả súng AK cầm ngang. Quán phở có khoảng ba bốn người đang ăn cùng ngẩng lên nhìn.

Hai viên công an áo vàng có lẽ quá quen với quán – có thể vẫn ra ăn phở – tiến thẳng về phía Văn Chi. Chi Lùn vừa trong bếp ra, quần áo xộc xệch mồ hôi và bộ mặt đang đỏ gay bỗng như tái đi.

- Công dân Đỗ Văn Chi đứng nghiêm nghe pháp lệnh.

Người cán bộ đọc to và rõ nhưng chẳng ai nghe. Tất cả như khựng lại trong cái quán phở bé tí ngay Ngã Ba Ông Tạ. Dăm ba bà cắp rổ đi chợ thấy lạ, đứng ở lề đường tò mò ngó vào. Văn Chi vẫn đứng đó như trời trồng, hai họng AK chĩa vào ngang ngực. Khi người cán bộ vừa dứt tiếng, hai viên công an sáp vào còng hai tay Văn Chi quặt ra sau, đẩy nạn nhân ra chiếc xe Jeep mui trần đậu bên lề đường. Mọi sự xảy ra không đến mười phút. Tôi ngồi đó chết cứng như bị dán xuống ghế không đứng dậy được cho đến lúc Nga, đứa con gái của Văn Chi, lay tôi nức nở:

- Chú… chú, Bố cháu bị bắt rồi!

Đó là lần cuối tôi nhìn thấy Văn Chi. Văn Chi có mặt trong cuộc đời tự nhiên dễ dãi đến nỗi tôi thấy cuộc đời này không thể không có Văn Chi. Tôi không nhớ gặp Chi Lùn vào lúc nào, chỉ biết khi tôi vào báo Chính Luận chưa có anh và bỗng nhiên tôi và anh la cà đầu đường xó chợ, nhậu nhẹt lu bù. Chỗ nào ồn ào có anh ta là có tôi và chỗ nào vui nhộn có tôi thì thế nào cũng có anh ta.

Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

Bùi Bích Hà: MAI (tôi) VỀ HUẾ

Tôi xa Huế đã lâu. Lâu lắm. Lẽ ra đã quên nhiều thứ. Nhưng không. Cả BĐ. Tôi nghĩ chị cũng đã quên, hóa ra chị vẫn nhớ. Chị viết cho N. hôm qua, kể lại: “Đám cưới BH, bạn bè chỉ có một mình BĐ đến rồi BH bỏ Huế mà đi. Có người than thở: ‘Sao lấy chồng xa?’”

Người than thở ấy nay cũng đã bỏ Huế. Đã đi thật xa. Xa đến nỗi không thể nào quay về.

Bỗng dưng từ nơi mịt mùng, lặng lẽ, N. thình lình viết cho tôi: “Mình có một công việc mới. Mai về Huế. Sẽ ghé thăm BĐ.”

Một chỗ nào đó trong tôi, đã đau đớn, đã âm ỉ, đã tê dại, đã dường như chết. Đã để yên, đã chôn sâu ở một nơi thật khuất lấp những gì trôi xa tầm với. Những gì đã chia tay biết không còn lần gặp lại. Có câu hát của ai đó ghi khắc vào trí nhớ tôi,“và một loài hoa chợt hé…” Thỉnh thoảng, kỷ niệm những ngày vui xưa khẽ rung trong hồn như một hồi chuông thất lạc, một thoáng gió mơ hồ lay lắt chút dư hương. Nhưng không. Không chỉ có thế. Những củ tulip, những củ glailleul vẫn ngủ vùi trong thửa đất tưởng đã hết màu mỡ.

Sáng nay, vài chữ ngắn ngủi của N. “Mai tôi về Huế,” như đất chuồi ở một ven sông cát lở, cuốn tôi vào dòng cuồng lưu giữa mùa khô hạn. Tôi bưng mặt, nước mắt đầm đìa tuôn đổ từ hai hố mắt nhức nhối. Nỗi tuyệt vọng khốn cùng đau buốt vòm họng, lan xuống ngực, làm tôi nghẹn thở, mũi đặc cứng.

Mai tôi về Huế. Bốn chữ đơn giản ấy, từ bao giờ, đã trở thành điều mơ ước cấm kỵ nhất mà tôi muốn quên đi, muốn van xin đừng ai nhắc hay nói với tôi một lần nào nữa?

Lê Thiệp: Nhà Báo Nông Dân

Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi :

- Xếp có dính dáng đến Duy Dân không?

Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói :

- Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái.

- Xếp là nhà báo.

- Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân.

Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi nhạc hơn thằng Duy và giỏi tiếng Pháp hơn ông Khiêm.” Ông Hoàng Hải, nhạc sĩ trong ban Tam Ca AVT rất nổi tiếng của Lữ Liên, là anh ruột của chuẩn tướng Không Quân Lưu Kim Cương.

Nay nếu người xếp của tôi bảo ông là nông dân thì tôi cũng chỉ biết cười tự hỏi người cầm chịch tờ Chính Luận ngày ngày đối phó với dư luận lại phải điều khiển những ông nhà báo coi trời bằng vung như các ông Phan Nghị, Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng hay phải chạm mặt với những văn nghệ sĩ nổi danh như Hoàng Hải Thủy, Văn Quang và đối mặt với những ông như Cao Dao, Như Phong hoặc cả lô trí thức khoa bảng thì liệu ông ta có phải là một anh nhà nông không? Câu trả lời là cả một quá trình.

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

*Song Thao: Dầu Gió

Tại kênh Đôi thuộc quận 8 Sài Gòn có một cây cầu mang tên cầu Nhị Thiên Đường. Vượt qua cầu là đường đi Long An. Cầu nay đã cũ, được xây từ năm 1925 lận, nhưng có nét kiến trúc đẹp, đặc biệt là phần balcon thép và các trụ đèn rất đặc trưng chỉ có ở cầu này. Tôi chưa bao giờ vượt qua cây cầu này nhưng vẫn thắc mắc về cái tên. Đó là tên chính thức hay tên do dân gian đặt cho. Vì Nhị Thiên Đường thì ai cũng biết đó là một loại dầu. Dầu sao ra cầu? Có ba giai thoại về cái tên…lạc lõng này. Giai thoại thứ nhất : hồi đó nhà máy sản xuất dầu Nhị Thiên Đường ở bên phía đường Trần Hưng Đạo trong khi phần lớn công nhân lại ngụ tại bên kia kênh Đôi. Hàng ngày công nhân phải đi đò tới nơi làm việc. Nhận thấy sự bất tiện này, ông chủ hãng dầu Nhị Thiên Đường cùng chính phủ bỏ tiền ra mướn nhà thầu Vallois-Perret xây cầu cho dân, nhất là cho công nhân của hãng, qua lại cho tiện. Giai thoại thứ hai : chính phủ quyết định xây cầu và vận động ông chủ Nhị Thiên Đường góp một số tiền lớn. Bù lại, cây cầu sẽ được đặt tên là Nhị Thiên Đường. Giai thoại thứ ba : kinh phí xây cầu nhà nước bao trọn nhưng nhà máy của Nhị Thiên Đường to đùng nằm ngay ở chân cầu nên lấy luôn tên này cho tiện.

Ba chữ Nhị Thiên Đường bằng gạch xây vẫn còn sau cả trăm năm biến đổi. Hình: Nguyễn Minh Vũ

Thấy cái cầu gần trăm năm tuổi còn nằm đó nên nói chuyện cầu. Nhưng thứ tôi khoái cái tên Nhị Thiên Đường không phải là cái cầu mà là chuyện…văn chương. Chủ nhân của dầu Nhị Thiên Đường không quảng cáo trên báo mà chỉ phát những tờ rơi. Những tờ rơi này cũng đặc biệt, không chỉ có quảng cáo mà còn có những bài chỉ dẫn vệ sinh thường thức. Ông có công thuê những trí thức viết sách “Vệ Sinh Chỉ Nam” bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Hán rồi in dần trong các tờ quảng cáo. Tiến hơn một bước, ông thành “nhà xuất bản” văn học. Đầu tiên trên các tờ quảng cáo dầu Nhị Thiên Đường có in các trích đoạn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Sau đó, vào năm 1919, là truyện “Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên” của Nguyễn Chánh Sắt, một tiểu thuyết ngôn tình rất ăn khách. Rồi tiểu thuyết “Hậu Chàng Lía” của Hồ Biểu Chánh. Tuy xuất hiện bên cạnh những quảng cáo sặc mùi dầu nhưng đây là cách phổ biến truyện hữu hiệu nhất thời đó. Tờ quảng cáo này được phát không tại các nhà bán thuốc, các chợ đông người tụ tập hay cho khách qua đường. Dân chúng quá hưởng ứng nên dể có thể phát hành sâu rộng hơn, nhà thuốc phải in với số lượng lớn và bán với giá chỉ vài cắc. Quảng cáo này không bán ở các nhà sách mà chí bán dạo tại các bến xe và các chợ. Độc giả là dân lao động và giới bình dân. Ngày đó chuyện in sách khá vất vả. Thường các nhà văn không đủ khả năng in sách đàng hoàng nên đây là cách phổ biến tác phẩm dễ dàng nhất. Trong cuốn “Phê Bình và Cảo Luận”, nhà phê bình Thiếu Sơn đã viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Đường. Tôi để

Trần Thị Diệu Tâm: Bóng Cha

Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng " Cha ơi" như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.

Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói "Con cũng có một người cha". Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi "Cha là ai hở mẹ ?" Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :" Cha đi rồi ".

Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: "Cha mi là người hay chữ".

Tôi vụt hỏi: "Cha ở đâu hở bà ?" Bà trả lời "Chắc cha mi còn sống".

Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả.

Nhưng sáng hôm sau tôi dậy sớm xuống bếp ngay, những mo cơm trắng tối hôm qua mẹ gói đã biến mất, cả nồi khoai lang luộc hết, chỉ chừa hai củ nhỏ dành cho tôi ăn buổi sáng đi học. Vừa sợ vừa tức tối, vì tưởng hôm nay mình được ăn cơm bới mo cau với muối sả mẹ làm thơm nồng cả mũi chiều qua. Lâu nay bà nội chỉ nấu cơm độn với sắn khô ăn nghẹn cả cổ, chỉ mong được nhai miếng cơm mềm dẻo, không sắn không khoai không bắp lổn nhổn trong miệng. Thế mà tối hôm qua mẹ cả gan đem cho người ta hết các mo cơm trắng, hết cả lon muối sả . Tôi nghẹt thở, nước mắt chực trào ra. Nhưng tôi nào dám mở miệng hỏi ai.