Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Tường Việt: Trở Về Miền Quá Khứ

LTS. DĐTK hân hạnh giới thiệu bài viết đầu tay của tác giả Tường Việt, tức Nguyễn Tường Việt, con trai trưởng của nhà văn Nhất Linh. Ông viết bài này để đóng góp vào cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút hậu duệ”, được ra mắt tại Nam California vào ngày hôm nay, 15 tháng 9, 2019.


  
Chuyến bay của hãng hàng không Nhật Bản đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào lúc nửa đêm. Mục đích chuyến trở về lần này của chúng tôi (năm 2018) là muốn cháu Maya biết về quê nội của nó. Sau chuyến bay dài mệt mỏi tôi ngủ một giấc ngon lành. Sáng hôm sau, trong lúc gia đình Tường Anh, cậu con trai của tôi lấy taxi đi tham quan Sài Gòn, tôi một mình tản bộ xuống phố tìm quán cà-phê. Mới sáng sớm mà xe cộ đã chạy ngược xuôi, mọi người đi lại hối hả. Cả thành phố bừng bừng như chạy đua với thời gian. Đàn bà thì khẩu trang che kín mặt mũi chỉ chừa đôi mắt. Thật khó mà tìm được một cô gái đẹp! Thoáng một giây tôi ngỡ ngàng và ngậm ngùi: còn đâu nữa một Sài Gòn ngày xưa, còn đâu nữa “nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”?

Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương.

Nguyễn Vạn An : Một tuần sống trong im lặng : chuyện cái bút (4/4)

Ngày đầu tiên đến đảo, phải làm một chút giấy tờ như tôi đã kể với các bạn. Tôi loay hoay tìm một cái bút. Đang tìm hết túi này tới túi nọ, thì một người đàn bà bên cạnh móc ví lấy cho tôi cái bút. Tôi ngước nhìn, hơi giật mình, vì thấy cô có đôi mắt đen rất đẹp. Cô người gầy guộc, mặc toàn đồ đen rất sang trọng. Trước ngực đeo một chuỗi hạt và một cây thánh giá nhỏ. Tôi điền giấy má xong, liền bỏ cái bút vào túi tôi.



Trong bữa cơm ngày đầu, vì không theo đạo, tôi lúng túng lắm, cứ chờ người chung quanh làm gì thì làm theo. Vì thế tôi rất mừng khi thấy cô áo đen đi vào. Cô đến muộn, vẫn mặc một bộ quần áo đen tuyền, dáng đi uyển chuyển. Cô ra ngồi ở một bàn rất xa, hình như cốý quay mặt về phía tôi. Lúc vị thầy tu đọc vài câu kinh trước bữa ăn, tôi có cảm tưởng là cô đã để ý thấy tôi không đọc kinh và không biết làm dấu thánh. Và cô làm dấu muốn giúp đỡ tôi. 

Buổi tối đầu tiên, trằn trọc không ngủ được, tôi ra lan can trước cửa nhìn trời. Bỗng tôi có một cảm giác khác lạ, quay sang trái thì thấy có một bóng đen đứng ở cùng lan can phía xa xa, không biết tự bao giờ. Cô áo đen ở phòng gần đó ! Tôi thấy hàm răng của bóng đen hé ra trắng xóa. Hai người đều ngượng nghịu, cùng muốn bỏ đi ngay mà không dám. Tôi quay sang phải, ngắm trời mây. Lúc quay lại thì bóng đen đã biến mất. 

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

Cao Thanh Phương Nghi: Phía Sau Trang Chữ

Có một dạo Tuấn làm chủ bút cho một tờ báo lá cải ở vùng Hồ Muối bang Utah. Loại báo này thường được chất đống trong chợ. Các chị các bác đi chợ thuận tay thì vói lấy một tờ, thích thì đọc, không thích thì lấy gói đồ, lót nồi niêu cũng được. Công việc nhẹ, tiền cũng nhẹ nhưng Tuấn yêu văn chương nên coi đó như một thú vui hiền lành. Mỗi ngày đi làm về thay vì ngồi vào bàn nhậu thì Tuấn ngồi vào máy vi tính gõ lóc cóc. Nhờ làm việc này mà Tuấn quen được nhiều người. Họ gởi bài vở đến cho Tuấn, thỉnh thoảng nói chuyện tào lao, lâu ngày thành thân, đem chuyện gia đình ra kể lể. Một điều buồn cười là Tuấn chưa hề gặp gỡ những người cộng sự với mình bao giờ, mọi sự liên lạc chỉ qua màn hình vi tính. Mặt mũi của họ là những trang chữ, bài viết, bài thơ, ngay cả tên cũng chưa chắc là tên thật. Họ buồn vui hay giận dữ, cau có hay mềm mỏng gì thì lộ ra trong giọng văn của họ, Tuấn tuỳ theo đó mà đoán thôi. Anh A, anh B văn chương mộc mạc chắc là người hiền lành, chị C coi bộ đanh đá và chắc bị tình phụ nên oán hận bọn đàn ông quá cỡ, có bao nhiêu nỗi niềm trút hết lên mặt chữ. Làm việc lâu biết tính nết nhau chớ mặt mày thì mường tượng trong trí thôi, mà như thế cũng có sự thú vị riêng của nó. 

Một hôm Tuấn nhận được một bài thơ ngắn bốn câu của tác giả ký tên là Tuyết Trang. Bài thơ như thế này

"Tháng sáu trôi nghiêng thuyền độc mộc
Vụng về ngọn cỏ níu bờ lau
Tháng chín hoa thu viền nỗi đợi
Tháng chạp chìm sâu giấc mộng đầu"

Bài thơ ngộ ngộ, lơ mơ, huyền ảo, Tuấn không hiểu lắm nhưng vẫn cho lên trang. Báo phát hành. Tuyết Trang thấy bài được đăng thì gửi mấy hàng cho Tuấn trong email: "Cám ơn anh Tuấn nhé. Trang rất vui." Tuấn đáp: "Không có chi. Hân hạnh chào đón tác giả mới."

Nguyễn Vạn An : Một tuần sống trong im lặng : các em nhỏ đến thăm (3/4)

(Tiếp theo loạt bài “Một tuần sống trong im lặng” đã đăng ngày 1 tháng 9, 2019)

Ngày thứ tư, có một đám học trò theo một cô giáo đến thăm đảo, nhưng tất cả chỉ ở ngoài biển và trong vườn. Các em được dặn trước, nên chỉ rón rén rù rì nói chuyện với nhau. 

Một em mạnh dạn tới hỏi tôi : "Ông cả ngày không nói thì ông làm gì ? Ông có buồn không ?"
Tôi trả lời: "Khi mình muốn yên lặng, thì mình không nói. Khi muốn nói thì ra đây !".
Em cãi: “Nhưng mà con thấy ai cũng im cả. Có ai nói gì đâu ?“
Thấy các em rất dễ thương, tôi cảm hứng xin phép cô giáo, gọi các em lại, và trả lời: "Tôi im lặng để nghe! Các em hãy thử im lặng trong năm phút, để nghe, và kể cho tôi đã nghe thấy những gì”. 

Thế là mở ra một cuộc thi đua. Có em nói : "Con nghe thấy tiếng chim“, có em nói : "Con nghe thấy tiếng lá“, có em nói nghe thấy tiếng gió thổi, có em nói nghe thấy tiếng gà rừng quác quác ở xa xa. Một em quả quyết có nghe tiếng dế kêu. Tôi hỏi: “Các em có thể vừa nói vừa nghe không ?". Tất nhiên ai cũng trả lời: “Không được!“


Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Thư Gởi Con Trai Nhân Ngày Khai Trường 2019

1. NGÀY KHAI TRƯỜNG


Trong ngày khai giảng năm học mới, Tony bảo: con không muốn đi học. 

Cách đây nhiều năm, bằng tuổi con bây giờ, ta đã nói đúng câu ấy. Ngồi trong lớp, nhớ mẹ, chỉ mong về nhà. Ta nhớ cái bếp của mẹ ta, tưởng tượng giờ này đỏ lửa, mẹ ta đứng trong vườn khom người hái rau, trên sân bầy gà con nhảy khỏi chuồng kêu chiêm chiếp, tiếng gàu nước ai thả rơi bên giếng. Nhớ cả cánh đồng sau mùa gặt khói đốt cỏ bay lên, hang dế mèn đêm trăng sáng, nhớ mấy thằng bạn may mắn khỏi phải đi học. Ngày đầu tiên thật khốn khổ. Trong lớp khi thầy giáo trò chuyện với cha ta, thì ta đứng im ở đó, nửa sợ hãi, nửa tức giận. Ta nhìn ra cửa sổ thấy vài đứa trẻ chơi trong vườn ổi, hồ nước trên sân trường hoa súng hồng phấp phới, người bán kẹo kéo đẩy xe qua rặng liễu. Tất cả có một vẻ trang nghiêm, hùng vĩ, tươi mới, làm ta vừa tò mò vừa lo ngại. Nhưng cảm giác nhớ nhà, nhớ mẹ vẫn mạnh mẽ hơn. Trong khi mẹ ta dịu dàng bao nhiêu thì thầy cô giáo coi bộ nghiêm khắc bấy nhiêu. Bắt chước một đứa khác, ta xin phép ra ngoài đi vệ sinh nhiều lần, khiến thầy giáo nghi ngờ bị bệnh thận bẩm sinh. Nhưng ta chẳng có bệnh gì cả, chỉ không thích ngồi im một chỗ, bắp chân đau mỏi, thì ra chạy nhảy làm cho chúng bớt đau, lại ngồi giữa hai đứa con trai mặt mũi tèm nhem, coi bộ buồn rầu và bực tức như ta. Nhưng nhớ nhất là cây súng cao su mới lắp hai sợi dây màu hồng, cứng mà đàn hồi, đeo lủng lẳng trước ngực sướng mê. Vậy ta tới đó trong buổi sáng khai trường, ngơ ngác, như có ai kéo phắt mình ra khỏi tuổi thơ, khỏi tháng ngày êm ả. Khỏi trò chơi trốn tìm, cái miếu hoang đêm tối om, ta ngồi im như thóc trong đó, nín thở, trong khi mấy đứa đi tìm kia bắc tay làm loa kêu gọi, ta thấy mi rồi ra đi, nhưng mặc kệ ai nói gì ta cũng không, vì biết chúng giả vờ. Thế là ta ngồi đó, vừa sợ vừa thích nhìn mọi người đi qua lại, đắc chí vì giữ lâu một bí mật. 

Trần Mộng Tú: Truyện ngắn - Ðánh Dấu Dòng Sông

Cái bãi rau xanh, một mầu xanh ngằn ngặt trong không gian cứ loang xa loang xa cho đến cuối bãi rồi mất hút ở nơi nào Tân không định được. Tân thấy giống như khi nằm mơ mình đang thấy cái cảnh tượng trước mắt rất rõ, rồi lại tan ngay đi, chỉ khác là ở trong mơ nó không có cái khỏe mạnh của mầu sắc, cái thật để chạm tay vào được. Mầu xanh ngọc bạt ngàn đó chạy song song với hai giải nước hồng hai bên trông giống như một vạt áo lụa xanh dài vắt hờ lên đôi chân của thiếu nữ mới lớn. 

Người dẫn đường, chỉ cho Tân một túp lều trong một ruộng rau nào đó trên bãi nổi nói. 

“Nhà cô Hạnh ở trong đó” 

Nói xong, ông ta mở bàn tay ra để nhận một số tiền của chàng và quay lưng.Vừa đi vừa ngửa cổ lên trời hát: “Anh cho em 100 con cá, í , a. Anh cho em 100 nỗi buồn í, a. Em thả nỗi buồn xuống sông, em thả cá ra biển Ðông, em còn bàn tay không. Í, a, í, à...” 

Tân thấy ngất ngư với tiếng hát của ông ta, từ khi gặp ông ta đến nay lúc nào trước khi bỏ đi ông ta cũng ngửa cổ lên trời hát. Bắt đầu Tân còn ngạc nhiên, sau Tân nghĩ chắc ông ta là một người sung sướng, có sung sướng thì lúc nào mới cũng hát được như thế. Còn lại một mình, Tân thấy anh cứ nên thong thả mà ngắm cảnh vật trước khi gặp Hạnh. Anh đang đứng ở bên này sông Hồng với những nhà hàng, biệt thự, khách sạn sang trọng. Giữa bờ sông là bãi nổi hiện lên nó vừa mong manh mơ hồ như không có thật, vừa như một thách thức xanh ngắt sức sống. Những con đò đưa khách từ bờ bên này ra bãi nổi chính là hơi thở của đời sống. Hơi thở rộn ràng theo từng khúc xanh thẫm, xanh nhạt, dài ngắn, cao thấp khác nhau chạy dài cả mấy chục cây số giữa sông nước mênh mông. 

Tân bước xuống đò, cái thư của người bạn bên Mỹ giới thiệu cho anh đến gặp Hạnh, cái điạ chỉ có bốn chữ “ Bãi nổi sông Hồng” nằm trong túi aó anh, anh không thể hình dung ra người con gái anh sẽ gặp như thế nào. Một người con gái có giống như người con gái anh thường mơ mộng ra không? Người bạn giới thiệu nói cũng không rõ rệt điều gì chỉ cho anh biết đó là một cô gái còn rất trẻ và có nhan sắc. 

Nguyễn Tường Thiết: Ðội mưa mà đi


Vua Lý Thái Tổ nhìn xuống Hồ Gươm. Từ trên tầm cao 10 mét mắt ngài chiếu thẳng Tháp Rùa. Trước mặt ngài không phải cố đô Thăng Long mà là thủ đô Hà Nội một nghìn năm sau. 

Ngài uy nghiêm đứng giữa vườn hoa Chí Linh. Trước mặt ngài là phố Đinh Tiên Hoàng, tả hữu có hai phố Lê Thạch, Lê Lai, sau lưng có con phố mang tên ngài, Lý Thái Tổ. Nhà vua đảo mắt nhìn phía dưới chân. Ngài khó chịu thấy mình đang bị quan sát. Một thanh niên bận chiếc áo khoác có nhiều túi cúi xuống lôi trong bọc một vật gì màu đen rồi giơ vật ấy về phía ngài. 

Quang nhìn lên ngắm nghía pho tượng đồng cao. Anh tự hỏi lần về Hà Nội mấy năm trước không thấy bức tượng này đặt ở đây. Nếu có chắc chắn là phải hiện trong bộ phim ảnh của anh vì lần nào về Hà Nội anh cũng chụp mấy bức ảnh Hồ Gươm và Tháp Rùa đứng từ phía vườn hoa Chí Linh. Quang giơ chiếc máy ảnh về phía tượng và điều chỉnh ống kính. Anh đi tới đi lui. Rồi anh quỳ xuống ngước máy lên để chụp toàn bộ bức tượng có hàng chữ ở dưới bệ: Vua Lý Thái Tổ (974-1028). 

Nhà vua không nhìn thanh niên, ngó sang một thiếu nữ đứng cách đó chục thước mặc chiếc áo đỏ đội chiếc mũ trắng tay cầm một vật gì giống hệt như vật trong tay thanh niên và hướng nó về phía hai nguời đứng trước, hai người ấy trông như hai mẹ con. 

– Chị muốn chụp phông nào? Lấy vua hay lấy hồ. 

Vi hỏi người đàn bà. Người ấy nhìn chung quanh nói: 

Trùng Dương: Ngôi Nhà Trên Rừng

Viết cho các con & các cháu nội/ngoại


Vào năm 1979, vợ chồng tôi quyết định dọn nhà lên rừng. Mục đích chính là để nuôi các con xa nơi thị tứ và đời sống tiêu thụ. Miếng đất nằm trong khu người ta gọi là vùng chân đồi của rặng núi Sierra chạy dọc theo phía đông của Tiểu bang California, ngó xuống thung lũng Coloma bên giòng sông American River. Coloma là nơi, vào ngày 24 tháng 1, 1848 ông James Marshall tìm thấy vàng trong khi đào móng xây xưởng cưa cây, từ đó đưa tới phong trào Gold Rush khi người từ khắp nơi trên thế giới đổ về vùng này đi đào vàng. 

Lô đất rộng năm mẫu -- vùng này phải năm mẫu mới được quyền xây một ngôi nhà -- nhiều đồi dốc và khe rãnh hơn là bằng phẳng. Bù lại, có rất nhiều cây thông và sồi, đặc biệt ở lô đất chúng tôi mua, khá rẻ với thời giá dạo ấy, có $25,000 Mỹ kim (so với $99,000 vào cuối thập niên 1990), có nhiều hai loài cây này hơn cả so với những lô xung quanh. Tôi cũng nhờ vậy học được chút ít về sồi và thông. Tuy vạm vỡ vậy, có cây gốc cỡ ba, bốn người ôm, nhưng sồi lại dễ bị đổ khi mưa bão to, hơn là thông mỏng manh cao vút song vững vàng. Thực ra thì tại California hồi ấy, và có lẽ cả bây giờ, loài sồi đang bị một căn bệnh, gọi là oak wilt gây ra bởi một loại nấm, hoành hành khiến nhiều cây lớn bị đục rỗng bên trong và dễ đổ, trong khi ít có cây nhỏ mọc được. Bệnh này được tìm ra vào năm 1955 và đã giết hại cả trăm ngàn cây sồi đủ loại ở California và miền nam của Oregon. Cũng nhờ sống trên rừng mà tôi học phân biệt được cây nào là cây sồi độc, poison oak, và rắn đầu giống như hình hạt kim cương đã mài, tức là mõm dẹt và đầu bành ra hai bên má rồi thu hẹp lại ở cổ, là rắn độc, phải né xa. Còn những loại rắn khác thì mặc kệ chúng. 

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

Bùi Giáng: Ly Tao

Hình minh họa, FreePik

Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ 
Và yêu thương như lá ở bên hoa 
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả 
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà 

Em đã lại với đời về nắng ấm 
Thắm không gian thương nhớ bóng hình em 
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm 
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm 

Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng 
Quên não nùng sa mạc của yêu thương 
Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động 
Em là em anh đợi khắp nẻo đường 

Trần Mộng Tú: Bước Như Thế, Như Thế

Hình minh họa, FreePik
Bước từng bước, từng bước
mặt đất ôm bàn chân
bàn chân nghe đất thở
đất nghe chân thì thầm
bông hoa se sẽ nở
ngón chân cười với hoa
gió gọi cỏ thức dậy
báo tin chân đến nhà 

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

Uyên Vũ/Người Việt: Đông đảo người gốc Việt đến Little Saigon tưởng niệm Trương Vĩnh Ký

Những diễn giả và người có đóng góp công sức cho “Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký.” (Hình: Uyên Vũ/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) – Người tham dự ngồi chật kín hội trường tại buổi ra mắt quyển “Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký” được tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 1 Tháng Chín, 2019, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster. 

Không những vậy, những người đến trễ đã tự lấy ghế tìm chỗ ngồi. Và khi buổi ra mắt sách chấm dứt vẫn còn rất đông người nán lại trò chuyện, hỏi thăm đồng thời đứng chờ mua sách, chờ ban chủ biên ký tên lên sách. Nhiều người mua không chỉ một quyển mà là một chồng sách. 

Có được sự quan tâm của cộng đồng như vậy là do đề tài quyển sách đã khơi mở nhiều khía cạnh về một nhân vật vốn được người Việt Nam yêu mến, cảm phục từ lâu. 

Mở đầu buổi ra mắt sách, nhà báo Đỗ Quý Toàn, một trong ba giáo sư chủ biên cuốn sách, trình bày nhận định của ông. Theo ông, trong cuộc “Triển Lãm và Hội Thảo Trương Vĩnh Ký” tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt ngày 8 Tháng Mười Hai, 2018, có một số đề tài chưa được đề cập hoặc khai triển.

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

Trần Mộng Tú: Tôi Xin Tạ Lỗi

(Viết sau khi đọc Có Lẽ Chúng Ta Cần Quỳ Xuống của Tuấn Khanh- DĐTK- 8/29/2019)

Hình minh hoạ, FreePik

Tôi đứng trên ngọn đồi Tây Bắc
trong một buổi sáng mùa Hè
sương muối phủ kín hồ
không nhìn thấy dẫy núi bên kia
ở ngã ba con nước
không nhìn rõ lối về quê

Tôi cúi đầu thật thấp
nhân danh là người Việt Nam
tôi xin thả xuống dòng nước này
những lời tạ lỗi
Như thả những chiếc hoa đăng
trong ngày rằm tháng bẩy
Lời tạ lỗi với những đồng bào tôi
những người còn đang sống trên đất nước Việt Nam
một đất nước đang rêu rao

Tự Do Hạnh Phúc Hòa Bình Thịnh Vượng Văn Minh
Tôi xin tạ lỗi
Những mẹ già nhặt rác
mẹ chết thản nhiên như một cọng rác cong queo
gió cuốn đi
mất hút trong chiều

Lê Minh Hà: Chữ nặng

Người khuân RỪNG XƯA XANH LÁ từ Hải Phòng về cho bạn tôi gửi sang đây là Dương Tường. Ông không biết tôi. Dĩ nhiên. Còn tôi với ông, biết chứ. Chiều se sẽ hương - Vườn se sẽ sương - Đường se sẽ quạnh - Trời se sẽ lạnh - Người se sẽ buồn... Đấy, Dương Tường. Một thoáng rợn tên là heo may - Một hương cây tên là kỉ niệm - Một góc phố tên là hò hẹn - Một nỗi nhớ tên là không tên... Dương Tường. Mea Culpa - Dương Tường. Một cái danh, gắn với bao nhiêu tên sách, gắn với dịch thuật, hội họa, với tôi, trước hết là thơ. Dương Tường thơ. 

Không có bạn ông, Bùi Ngọc Tấn, thế hệ chúng tôi sẽ không biết thơ ông sống bằng gì. Sự không biết ấy, vô tình, đến một lúc nào đó phải coi là tội lỗi. 

Tôi không chuộng giai thoại văn học và rất ác cảm cái lối ăn đong theo đời nghệ sĩ của một vài cây bút mãi chẳng thể nào nhớ nổi tên. Nhưng RỪNG XƯA XANH LÁ không phải là giai thoại, VIẾT VỀ BÈ BẠN không phải là giai thoại. Cũng không phải là cuốn sách về chuyện đời chuyện nghề chứa ẩn những khái quát phát hiện về tác giả, tác phẩm, thi pháp, và. Bùi Ngọc Tấn không hì hục với kĩ thuật, vật vã với trào lưu. Với một số tác giả, việc đặt được thêm một bước trên tiến trình hiện đại hóa văn chương là toàn bộ ý nghĩa của sáng tác khiến bạn đọc vui mừng. Với Bùi Ngọc Tấn, ý nghĩa của sự trở lại với chữ là nghĩa đời.

Nặng lắm. Bởi vì ông là nghệ sĩ, là người chịu cái kiếp phải bấm chân xuống đáy đời này mà bước. Nặng, vì ông là nghệ sĩ Việt Nam. 

Trong nghĩa đó, viết với Bùi Ngọc Tấn là chuyện viết lại, sống lại. VIẾT VỀ BÈ BẠN là chuyện sống, và viết, một thời. 

Nhem nhuốc. Nhọc nhằn. Thì phận viết thuê ở xứ nào, miền khí hậu nào, thể chế khỉ gió nào mà chẳng nhọc nhằn, nhem nhuốc. Không thế, khối kẻ tin là chữ sẽ khô, sẽ rỗng, lâm tử. 

Hòa Đa: Một Mảnh Đời

1.


Ông Tùng ngồi bó gối trên chiếc ghế cạnh phích nước lọc, bên mâm cơm dọn riêng cho ông, nhìn đám sinh viên lao nhao chạy từ lầu hai xuống sau tiếng hô lớn “cơm nghen!”của cô hai An, vợ ông. Hai bàn ăn tròn, mỗi bàn tám chỗ ngồi, đã đầy thức ăn, đũa muỗng... hai chồng dĩa đặt cạnh hai nồi cơm lớn. Mỗi người tự xới phần cơm của mình vào dĩa và ngồi vào bàn, họ vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ. Cảnh này gần như quen thuộc vì ngày hai bữa được lập đi lập lại như thế từ hơn mười năm nay.

Cơ ngơi của ông là một phố lầu ngay tại mặt tiền, hơn sáu mét bề ngang, sâu gần hai mươi mét trên đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn. Tầng dưới, phía trước là một tiệm may y phục phụ nữ nhỏ, phía trong là giang sơn của ông Tùng với ngổn ngang máy móc của một cửa hàng chuyên sửa radio, như bảng hiệu trước mặt tiền: “Nova Radio, chuyên sửa radio”; phần trong cùng, rộng nhất, là của cô hai An, cũng là nhà bếp, nhà tắm và trăm thứ linh tinh khác của một căn nhà.

2.


Ông Tùng là một người trung niên có dáng của một người đàn ông thô kệch: chân khập khiểng, lưng khòm và mắt hơi lé; những lệch lạc về cơ thể trên người ông là do việc làm trong nghề sửa radio của ông, trừ đôi chân cao thấp không bằng nhau là do dị tật bẩm sinh. Thời đó chưa có transitor, còn chạy bằng đèn điện tử, radio cái nào cũng to đùng, bề ngang năm bảy tấc, cao bốn năm tấc; và nặng trịch. Loại này mỗi lần mở lên, máy phải nóng, mắt thần xanh lè ở trước chập lại rồi mới có thể rà đài. Ông và một người thợ học việc, cũng là em vợ ông, làm ở đó, với một quạt trần và một quạt để bàn mở hết tốc lực cũng không xua hết được cái nóng do mấy bóng đèn điện tử tỏa ra trong căn phòng không thông gió. 

Nguyễn Vạn An : Một tuần sống trong im lặng - tiếng cầu kinh ban đêm (2/4)

Ban ngày, tuy không nói chuyện, nhưng cũng gặp người này người kia, ăn uống, vào lễ trong nhà thờ, đọc sách, ra biển, đi xem hoa cỏ, cây cối, không thấy thời gian đi qua. Mỗi tối, về phòng ngủ, mới thấy cái ghê gớm của sự lẻ loi, cái đi chậm chạp của thời gian và cái im lặng âm u của hòn đảo.


Nhớ nhất là đêm đầu tiên, vì có vài kỷ niệm. Tôi kể cho các bạn.

Khi về buồng phải theo một hành lang dài, vào một căn phòng nhỏ. Hai bức tuờng trái phải mong manh, tôi có cảm tưởng là làm tiếng động gì người bên cạnh cũng nghe thấy. Đêm đầu, tôi nằm im nghe ngóng mông lung không ngủ được. Thao thức mãi, rồi chồm dậy, hé cửa ra trước ban công ngắm cảnh rừng trước mặt. Trời hôm đó ghê lạnh, gió thoang thoảng từ biển thổi vào. Đảo chìm vào đêm, trăng khuya kỳ ảo trong mây, cây cối xa gần mơ hồ rờn rợn. Ở đây họ sống tiết kiệm, nhìn khắp gần xa không thấy một ngọn đèn.

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2019

Nguyễn Vạn An : Một tuần sống trong im lặng - đảo Lérins (1/4)

Các bạn hãy nhìn bức ảnh thuyền đậu chi chít :


(ảnh minh họa, lấy trên mạng)
Đó là bến tầu thành phố Cannes, ở miền nam nước Pháp. Cannes là một thành phố tráng lệ, khách du lịch ngoại quốc và người Pháp có nhiều tiền đến đó để nghỉ mát. Mỗi hè, Cannes đầy chặt nguời, ngoài bãi biển có khi không còn chỗ ngồi. Xe cộ tấp nập, thành phố suốt đêm thắp đèn sáng trưng. Chắc các bạn đã đọc nhiều về những Festivals de cinéma de Cannes! 

Ít người có thể tưởng tượng là từ Cannes chỉ cần lấy tầu thuỷ đi vài chục phút là đên một hòn đảo có phong cảnh hoang dại trong bức hình dưới đây :





Bức hình đó chụp tại một hòn đảo Lérins, trong mấy đảo nhỏ ngoài biển cách thành phố Cannes chưa tới một cây số. 

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Thơ Nguyễn Tường Giang

Hình minh hoạ, Christopher Furlong/Getty Images

THU


bạn bè ngồi uống rượu
nóng mùa hè đã tan
một người bâng quơ nói
vườn sau chiếc lá vàng

ở nhà N.M.H
08/23/2019
Nguyễn Tường Giang


MỘT MÌNH…


Bỗng nhiên tôi nhớ về Hà Nội
bỗng nhiên tôi nhớ phố Hàng Than
bỗng nhiên lòng tôi sầu vô hạn
và một mình, tôi khóc trong đêm

Có những nỗi buồn không nói được
những thì thầm không biết tỏ cùng ai
như buổi sáng nay tôi nhớ về Hà Nội
vì ngoài trời có mưa bụi bay

Nguyễn vạn An: Học Làm Tượng Đá: Bà Germaine (6/6) 

(ảnh tượng để minh họa lấy trên mạng. Dĩ nhiên không có sự so sánh với các tác phẩm vĩ đại này)

Bà Germaine rất đẹp. Cao chừng 1m75. Gần 60 tuổi rồi, thân hình hơi mập. Đã có chút bụng, nhưng đôi chân dài còn lỏng khỏng, thon và đẹp. Hôm đầu bà đi dọc bờ suối, kéo quần lên. Tôi mới đến, dám khen : “Bà có đôi chân thật đẹp !”. Bà cười, không chối :” Đẹp chỉ thêm khổ, An ạ !”

(Rita Hayworth, ảnh lấy trên mạng)

Elise nói: Tôi quen Germaine từ hồi còn đi học: nó đẹp như Rita Hayworth.

Bà Germaine có đôi mắt đen và to. Mũi cao, miệng nhỏ, đôi môi thanh khiết, nhưng có chút xạm đen vì hút thuốc lá quá nhiều. Tóc bà rất giầy, còn đen ngòm, quăn và phùng lên, đem cho bà một sắc đẹp rất quyến rũ. Bà theo học trường Quốc Gia Mỹ thuật. Ra trường dậy vẽ, làm người mẫu, sống một cuộc đời lãng mạn với một ông họa sỹ lớn hơn bà trên 20 tuổi. Sau ông mất, bà gặp một kỹ nghệ gia rất giầu. Ông mê bà như mê một thần tượng. Bà nhận lời lấy ông, với điều kiện là bà được sống hoàn toàn tự do, muốn làm gì thì làm. Ông đồng ý. Suốt tháng tôi ở đó, ông thỉnh thoảng tới thăm. Mỗi lần mang một lô quà, mười bao thuốc lá, hai chai whisky hảo hạng, hỏi bà có thiếu gì không, ngủ với bà một đêm. Rồi đi.

Bà nói : “Tôi hồi trẻ có một giấc mộng : lấy 5 người chồng ở năm châu, và có một đứa con với mỗi người, một đứa trắng, một đứa đen, một đứa đỏ, một đứa vàng, một đứa nâu. Chỉ có thể mà mộng không thành ! “

Nguyễn vạn An: Học Làm Tượng Đá : Marie (5/6)

Sáng hôm sau, ông viện trưởng từ giã đi về, nhưng Marie xin ở lại một hôm nữa, để vào rừng xem tụi tôi làm tượng. Nàng đi thăm hết người này đến người kia. Hình như ai cũng chờ nàng tới thăm, để cắt nghĩa về tác phẩm của mình, và luyến tiếc khi nàng phải đi tiếp để thăm người khác.

(ảnh minh họa, tượng của Jean ARP)

Gặp ai, Marie cũng hỏi han, bàn tán, vui đùa, nhưng khi đến thăm tôi, thì nàng chỉ tựa lưng vào một hòn đá bên cạnh, yên lặng nhìn tôi gọt đá, không nói một câu gì cả. Nàng ngồi nhìn rất lâu. Tôi chăm chú đục gõ, không dám nhìn lại. Có lẽ đó là những giây phút đẹp nhất trong suốt tháng trời tôi sống trong rừng đá.

Buổi trưa, sau bữa ăn, tôi đứng giậy đi bách bộ, thì Marie đứng lên đi theo. Vừa thoát tầm mắt mọi người, chúng tôi đã nắm tay nhau chạy tuốt vào rừng. Và tìm một góc kín ôm nhau hôn như điên dại. Rồi dắt tay nhau đi lang thang trong cánh đồng hoa lavande bát ngát. Trời nắng rừng rực. Mùi hoa thơm lừng. Hai đứa lắng tai nghe tiếng động chung quanh. Chỉ có tiếng lá cành xào xạc và gió thổi vi vu.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2019

Trần Mộng Tú: Người Đàn Bà Ở Biển

Gửi Trùng Dương và biển Bandon.OR 

Hình minh hoạ, FreePik

Ngôi nhà đó nằm song song với biển
có người đàn bà thích đuổi theo mây
buổi sáng nàng nghe sóng ngoài biển gọi
khép cửa sau lưng buộc vội dây giầy

Người đàn bà băng mình trên cát
vết chân in sóng xóa vội đi
nàng ném trái tim mình trên mặt biển
sóng cuốn thật xa
chẳng để lại gì