Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Trần Mộng Tú: Phất Phơ Bay

Hình minh họa, FreePik

Cô được đưa vào một căn buồng nhỏ, đèn mờ, người đưa cô vào nói: 

- Cô bỏ hết quần áo ra, nằm vào trong chăn, úp mặt xuống. 

Nói xong, người đó khép cửa lại, bỏ đi ra ngoài. Cô làm theo, bỏ cái áo cuối cùng trên thân, treo lên cái móc ở trên tường, luồn mình dưới hai lớp chăn mỏng, úp mặt xuống cái gối có hình dạng như chiếc bánh donut. Cô nhích lên, nhích xuống một chút cho khuôn mặt mình vừa khít vào khuôn vòng tròn của gối, rồi nhìn xuống sàn nhà, và thở hắt ra, xuôi dọc hai tay theo thân mình. Chăn trên người cô đủ ấm, nhưng cái cảm giác nằm trong một căn phòng nhỏ, đèn mờ, cửa khép, ở một chỗ hoàn toàn xa lạ khiến tấm chăn khi chạm vào thân thể không có quần áo làm cô khẽ rùng mình, tưởng như đang sắp rơi vào một cuộc phiêu lưu thể xác rất lạ. 

Lê Minh Hà: Xôi

Hình minh họa, Internet
Nhận được cái phong bì to lồng phồng thơm mùi nước mắm, vợ chồng cười ầm ĩ khiến thằng con gần ba tuổi cũng nhảy chồm chồm reo hò góp giọng. Không thể hiểu được vì sao cái phong bì nặng thức ăn vật chất như thế lại có thể từ Mỹ tới được nơi này. Lại còn thêm nỗi ngạc nhiên và cảm động: Lá thư gửi kèm theo là lời dặn hãy nắm cơm để cho thằng cu ăn với ruốc. 'Ruốc'. Chứ không là 'thịt chà bông'. Dù người viết thư gửi ruốc chưa một lần được đặt chân lên quê nhà đất bắc. 

Trong khi chờ chồng khoẻ tay và giỏi chịu nóng nắm cơm cho thì nấu trước nồi xôi trắng cho thằng cu ăn vậy. Nhẩn nha ăn miếng xôi đáy chõ cùng vài ba sợi ruốc, lại nhớ bà, nhớ mẹ, nhớ hàng xôi đầu ngõ ngày xưa mẹ thường dặn ra ăn cho chắc dạ mà ngồi nghe giảng sau khi đã dúi cho ba hào. Nhớ đĩa xôi lần đầu tiên tập nấu để cúng mẹ. Nhớ hàng xôi nóng ăn với thịt kho trứng, hay giò kho trên Cấm Chỉ. Nhớ gói xôi hoa cau bà bọc lá chuối gửi cho cùng với đĩa chè kho. Ôi nhớ... 


Bây giờ ở nhà mọi người cũng nói 'ba hào', nhưng là để chỉ 'ba trăm' trong thời buổi đồng tiền mất giá. Đồng hào thật thì giờ chỉ còn có thể tìm mua ở một vài hàng lưu niệm trên quãng Hàng Gai. Ngày trước, lo được cho con mỗi sáng ba hào xôi nóng, thế là mẹ mát lòng mát dạ. 

Trần Văn Nam: Lả Trắng Hoa Bay


Lại đến một mùa bông rụng bay
Ngoài trời nắng gió rung hàng cây
Hoa rơi lả trắng trên đường vắng
Khu phố nằm im giấc ngủ ngày.

Cây cỏ nào đây không có tên
Bình thường bên cạnh cuộc đời quên
Nhưng trong thớ vỏ khô gầy ấy
Dòng sóng xoay theo một vận trình.

Khi những hội hè đã cách xa
Giáng sinh chấm dứt, Tết vừa qua
Đến mùa bông rụng nào ai biết
Những cách hoa rơi lượn trước nhà.

Thảo mộc cũng đang chép sử đời
Từ khi chớm nụ đến khi rơi
Âm vang vỏ nứt ngày viên mãn
Trận gió cơ duyên đến chuyển dời.

Cũng giống như mình mang lấy thân
Tuân theo trời đất luật xoay vần
Dẫu rằng lịch sử không gì cả
Sớm tối có mình làm chứng nhân.

Sinh nhật mỗi năm đến hạn kỳ
Như mùa bông rụng chẳng ngày ghi
Một khi cùng gió thăm đây đó
Lăn lóc nằm quên một vỉa hè.

Diễn lại mãi thôi một vận hành
Hóa sinh hoàn tất kiếp vô danh
Nếu đời bình thản như cây cỏ
Chắc chẳng còn ai tiếc tuổi xanh.

Lê Đình Thông: Mùa Thu Trong Đường Thi

Cách đây khoảng 1300 năm, các nhà thơ Trung Quốc cũng trải qua mấy chiều tàn nắng nhạt, trong tiết thu đìu hiu, làm phai tàn lá ngô đồng. Cảnh vật tương tự như mùa thu viễn xứ vào lúc này. Thời gian tuy có chia lìa, đông tây cách biệt thăm thẳm. Nhưng mùa thu vẫn muôn thuở với bấy nhiêu tâm sự mà các thi nhân gieo vần, nói hộ. 


Bộ Toàn Đường Thi tập hợp trên hai ngàn thi nhân, với gần năm chục ngàn bài thơ, là một công trình đồ sộ. Trong số báo này, mùa thu Trung Quốc được gom lại trong vài trang giấy qua ba thi hào thời Thịnh Đường (713-766): Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Như vậy là bỏ qua được ba thời: Sơ Đường (618-713), Trung Đường (766-835) và Vãn Đường (836-905). Thời Thịnh Đường tuy ngắn hơn ba thời Sơ, Trung, Mạt, nhưng lại dài hơn bất cứ thời kỳ nào trong văn học Trung Quốc, có chiều dài “vạn trượng": vượt thời gian; vượt tới hai lần không gian. Vì ngoài không gian địa lý, thi ca Thịnh Đường lắng sâu tận cõi lòng. 

Tiếp tục công việc gạn lọc, chúng tôi giữ lại ba nhà thơ. Trong thi ca của mỗi thi nhân, xin bỏ qua hai khuynh hướng “biên tái” và “xã hội.” Chỉ còn lại khuynh hướng “điền viên.” Và trong “điền viên” xin giữ vầng trăng thu. 

I – Mùa thu trong thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị 

Hàn Dũ có câu thơ : 

Lý, Đỗ văn chương tại, 
Quang diễm vạn trượng trường. 
(Văn chương Lý Bạch, Đỗ Phủ còn, Ánh sáng dài vạn trượng.) 

Võ Thu Tịnh: Tiếng Cười Của Dân Việt

Rabelais, một văn hào Pháp, đã từng cho rằng "Cười là đặc tính của con người". (1) Loài người khác với loài vật ở chỗ loài người cười mà loài vật không biết cười. Trên thế gian nầy, không có dân nước nào là không biết cười. Nhưng ở mỗi dân tộc, cái cười lại còn tùy thuộc vào văn hóa và hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ấy. 

Nhìn chung, tiếng cười của dân ta thể hiện qua ba phương diện: Cười để biểu hiện một sắc thái tâm lý, cười để giải tỏa ẩn ức sinh lý, cười nhằm một tác dụng xã hội. 

Những tiếng cười ấy không phải chỉ được nhận thấy trong cuộc sống bình thường mà còn qua những sáng tác thơ văn, chuyện kể dân gian và bác học. 

Tiếng cười ở cuộc sống bình thường 


Các tự điển Pháp ngữ như Larousse, Le Robert định nghĩa chữ "rire" (cười) là bày tỏ niềm vui hay chê bai, bằng một cử động của miệng, kèm theo những hơi thở ra đứt đoạn, ít nhiều ồn ào." 

Từ xưa, cuộc sống của dân gian ta vốn lao lực khó nhọc suốt tháng quanh năm. Cho nên, gặp được những lúc ngừng tay, nghỉ việc, hoặc những ngày vì thời tiết mà không ra đồng canh tác được, họ thường tập họp nhau lại để kể cho nhau những chuyện vui cười gọi là "tiếu lâm" (lâm: nhiều; tiếu: cười) để xả hơi, cho quên bớt mỏi mệt, hay để giải trí cho vui cửa, vui nhà giữa thân thuộc, bạn bè. Đó là một nhu cầu như bất cứ nhu cầu nào khác, một giải trí không tốn kém gì, đồng thời còn là một niềm an ủi cho cuộc sống lam lũ mệt nhọc của dân quê nữa. 

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

Trần Doãn Nho: Tác phẩm được yêu thích nhất nước Mỹ - “To Kill a Mockingbird”

“To Kill A Mockingbird” (Giết con chim nhại tiếng), tiểu thuyếtcủa Nelle Harper Lee,đã trở thành tác phẩm được người Mỹ ưa thích nhất, America’s #1 Best-Loved Book, qua một cuộc bầu chọn do “The Great American Read” tổ chức. “The Great American Read”, một chương trình truyền hình thuộc tổ hợp truyền thanh và truyền hình Hoa Kỳ “Public Broadcasting Service” (PBS), phụ trách thăm dò và vinh danh quyền năng đọc sách, xuyên qua lăng kính của 100 tác phẩm được ưa chuộng nhất được chọn lựa qua một cuộc thăm dò trong toàn quốc. Qua chương trình, người ta tìm hiểu phương cách và lý do thúc đẩy các nhà văn tạo ra cái thế giới tưởng tượng của họ cũng như tìm hiểu lý do tại sao độc giả lại thích những câu chuyện do họ sáng tác và các tác phẩm này nói gì về Hoa Kỳ và về kinh nghiệm chung của loài người.

(Hình: hãng thông tấn AP)

Tô Thùy Yên: Đi Về

Hình minh họa, FreePik

Khuya rồi, nước đã đầy trăng,
Đi về suốt bãi sông Hằng, gặp ai ?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay ?
Đêm còn, cứ bãi sông này lại đi.
Thấy gì chăng, chẳng thấy gì
Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê...
Chầy khuya, nước ủ trăng ê,
Uổng công bãi ấy đi về một ta...
Mãi rồi trời cũng sáng ra,
Phần trăng trăng lặn, phần ta ta về.
Vẫn sông, vẫn bãi bốn bề,
Sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai ?

Trần Huy Sao: Thoáng Hương Xưa, Tưởng nhớ Phạm Huy Anh, người bạn-em-cô-cậu.

Hồi chiều, đi ngang qua nhà lớn định bụng bán mấy con dế cho chú Tơ chơi. Tình cờ thấy O Huê đang ngồi phục dưới đất, mặt mũi ràn rụa nước mắt, nói với Ôn : 

- Ôn thương tình bỏ qua cho cháu. Hắn nhỏ dại có biết chi mô. Để tui về phạt hắn, cho hắn chừa. 

Rồi hai tay O quơ quào quanh mặt, làm như có kiến đậu ruồi bu chi hung dữ lắm. O rền rĩ, giọng nghe mà não nuột : 

- Thiệt là ốt dột quá chừng. Tui mà có ngờ chuyện là rứa đâu Ôn ! 

O trợn mắt, nghiến răng đay nghiến : 

- Cái thằng ni. Tao giết mi chưa đáng... 

Tôi giật nẩy cả người, ngồi thụp xuống, mắt láo liêng. Tưởng là O bắt gặp tôi đang rình lén. Nhưng không, giọng O vẫn chì chiết : 

- Hắn trốn mô không biết. Tui tìm hắn cả trưa ni. Thiệt là tui khổ vì hắn đó Ôn ơi ! 

Thì ra O đang chì chiết thằng bạn em cô cậu của tôi, thằng Chắc đó ! Mà chuyện chi đến nỗi phải lên gặp Ôn? Gặp Ôn là chuyện lớn rồi! Chuyến ni thì có mà chết chắc. Tò mò quá, tôi thè thẹ nhón chân nhìn qua khe cửa. Thấy thương O quá, trong dáng ngồi ủ rũ, tả tơi. O đang thút thít, mặt mũi chèm nhem. Ôn tôi thì đang ngồi dáng trầm ngâm, mặt Ôn đỏ rần như trái mần-quân, mấy ngón tay cứ xoắn xít quanh nhau trong vẻ dáng bứt rứt. Phút yên lặng trải dài làm tôi cũng muốn nghẹt thở. Cuối cùng, Ôn "Xì" lên một tiếng đầy vẻ bực dọc, rồi nói với O tôi : 

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

Trần Doãn Nho: tôi là… người khác

Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot”, một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi”, trở thành một công dân mới. 

Nhóm chữ “The Melting Pot”, xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole). Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được sử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York. Dựa trên câu chuyện tình Romeo và Juliet của Willian Shakespeare, vở kịch kể mối tình trắc trở của một di dân Do Thái từ Nga với một cô gái Nga theo Chính Thống Giáo Hy Lạp. Họ vượt qua những trở ngại về chủng tộc và tôn giáo để cuối cùng được sống hạnh phúc với nhau. Vì thế, theo tác giả, “Hoa Kỳ là Thử Thách của Thượng Đế, cái Nồi Nấu Tan Chảy vĩ đại, nơi mà tất cả những chủng tộc của Âu Châu tan chảy ra và kết hợp lại.” (America is God's Crucible, the great Melting-Pot where all the races of Europe are melting and re-forming). Trong câu trích dẫn này, tác giả chỉ đề cập đến người đến từ Âu Châu. Sở dĩ thế là vì, tác phẩm được viết ra vào đầu thế kỷ thứ 20, thời điểm mà dân Hoa Kỳ đang có sự kỳ thị chống lại các sắc dân Phi Châu và Á Châu, hơn nữa, vốn là người Do Thái gốc Anh, nên không lạ gì, Israel Zangwill chỉ đề cập đến sự hội nhập của người Âu Châu da trắng. Tuy nhiên về sau này, khi Hoa Kỳ mở cửa tiếp nhận di dân từ khắp nơi trên thế giới, “Melting Pot” được dùng để chỉ sự hội nhập của mọi sắc dân. Zangwill kết luận vở kịch bằng cách mong muốn, “Hòa bình, hòa bình cho tất cả hàng triệu đứa trẻ sẽ được sinh ra, mà số phận của chúng là trám đầy lục địa vĩ đại này.” 

Nguyễn Thị Hậu tùy bút: Có Những Tình Yêu Sài Gòn Như Thế

Hình minh họa, Internet

Quán cà phê “Người Sài Gòn” 


Rảnh, bỗng muốn đi đâu đó, nơi nào văng vắng, với một ly cà phê, đọc sách hay đơn giản chỉ là ngồi đó thôi… Lướt qua trong đầu những quán cà phê từng đến. Quán này quán khác… nói chung là nhiều quán có thể đến đó… 

Nhưng có một nơi muốn đến mà không được, vì nó không còn ở chỗ cũ, vì chưa biết lúc nào nó sẽ hiện diện lại, mặc dù cái tên của nó thì sẽ mãi còn. NGƯỜI SÀI GÒN. 

Biết quán này đã vài năm tuy ít đến, vì không tiện đường thôi. Nó nằm trong một hẻm nhỏ. Như mọi con hẻm khác, nó vốn là hẻm của những ngôi nhà “phố” liền kề nhau chung tường chung mái chung cả hệ thống điện nước, thậm chí cả hệ thống vệ sinh… Nó được người Pháp xây khoảng hồi đầu thế kỷ XX, cho những gia đình công chức thị dân đã có chút phong cách “Tây” trong sinh hoạt. Hẻm nằm trên con đường trung tâm nhưng không quá đông đúc nhộn nhạo như những con đường lớn xung quanh mà ung dung bình thản, như một thiếu phụ biết rõ sự quyến rũ của mình ngay cả khi im lặng giữa những thiếu nữ hớn hở nói cười… 

Tn - Trần Mộng Tú: Một Nửa Người Đàn Ông

Hình minh họa, Freepik

Cô chăm chú sửa lại bản thảo của cuốn tiểu thuyết một lần chót trước khi mang sang nhà in. Làm công việc sửa đổi văn chương bản thảo cho nhà xuất bản, không lúc nào mà cô rảnh rỗi được. Trong tháng này có 5 cuốn truyện dài sẽ được in, và cả 5 cuốn đều là sách của tác giả có sách xuất bản lần đầu. 

Cô nghe tiếng gõ cửa, rồi chiếc đầu của người tùy phái ló vào. 

- Thưa cô, có một bà muốn gặp cô 

- Ai vậy, ông có hỏi tên hộ tôi không? 

- Tôi có hỏi, bà ấy nói tên là Lan. 

Cô cố nhớ tên của các tác giả mới trong đầu. Không có ai là Lan cả, họ đều là phái nam. Cô nói với người tùy phái 

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

Nguyễn Nam An: cuối tuần ra quán cà phê

Hình minh họa, Internet
Cuối tuần ra quán ngồi chóc ngóc
Anh hùng hào kiệt thuở đi xa
Quê nhà lúc trước trông ngờ ngợ
Vài năm thêm bạc muối sương pha
Thêm vài năm sau lòng trơ đá
Sáng đường xa chiều tối đường xa
Quanh đi quẩn lại bao lâu đã
Góc quán cà phê lớn nỗi nhà
Góc quán cà phê đây thiên hạ
Buồn vui thuốc lá chuyện lao xao
Vui em áo mới theo mùa mới
Xưa ngực bình nguyên trổi dậy chào
Những con dế đá ồn ào cũ
Qua thời còn tiếng gáy nôn nao
Cuối tuần ra quán hư hao mới
Bóp nhẹ trái tim đã cũ nào
Cuối tuần ra quán không còn ghế
Đi về mang toàn chuyện tào lao

6 tháng 5, 02

Vũ Như Phong Châu: Áo Trắng Nguyễn Hoàng

Viết cho Quảng Trị trong mùa Tháng Tư Đen 

Mỗi lần Tháng Tư trở lại hay bất kỳ lúc nào trong năm, nếu cứ thấy con số 30-4 là lòng tôi lại xốn xang, ray rứt. Hồi ức về những ngày cuối cùng của Miền nam, và trước đó của Mùa Hè Đỏ Lửa, của Tết Mậu Thân, lại dồn dập trở về trong tâm tưởng, sống động như mới xẩy ra ngày hôm qua, với tất cả những nỗi lo sợ, hoang mang, hy vọng rồi tuyệt vọng, uất ức và buồn tủi. 

Tháng Ba vừa rồi, tôi được một người bạn cũ từ thời học Đệ Tứ tại trường Trung Học Nguyễn Hoàng niên khóa 1954-55 gửi cho mấy bài thơ liên quan tới một tà áo trắng của một cựu nữ sinh trường này, khiến tôi nhớ tới tỉnh địa đầu nghèo khó và tang thương này vô kể. 

Trước khi nói về mấy bài thơ đã ra đời trong trường hợp nào, tôi xin được phép viết về Quảng Trị – đặc biệt là trường Nguyễn Hoàng – thành phố đầu tiên tôi tới ở sau khi di cư vào Nam. Thời gian sống ở đây không lâu, nhưng đúng lúc tôi đang tuổi lớn và bắt đầu biết suy nghĩ, nên đã góp tạo nên tâm thức tôi, ảnh hưởng tới tôi suốt đời sau này. 

Lần cuối cùng tôi về thăm Quảng Trị cách đây đã hơn bốn mươi năm, nên những hồi ức chắc chắn có những chi tiết thiếu chính xác, và dĩ nhiên là rất chủ quan. Do đó, Quảng Trị ở đây không phải là một Quảng Trị có thật, nhưng là một Quảng Trị rất sống động và vô cùng thân thiết của tôi. 

Trần Doãn Nho: Đi tìm…

Hình minh họa, (TIMOTHY A. CLARY/AFP/Getty Images)

Xa hơn đường lộ chính một quãng ngắn, quành, quẹo qua vài lối đi, Tống gia trang nằm khuất sau hai cây phong Nhật cao. Vườn đầy hoa cỏ, cây trái nhiều loại nhiều màu. Một bên, cạnh lối mòn, là những phlox, ivy, magnolia, hydrangea, forsythia,tulip, daffodil, iris, daylily, sedum, coralbells, Coralbells cần tây, khoai tây, củ cải đỏ, những cái tên lạ hoắc so với thời cây trái tuổi thơ. Một bên là những bồ công anh, những quỳnh trắng quỳnh đỏ, những chuối ba lùn, những tỏi, cúc, hồng, rau muống, rau diếp, thìa là, rau thơm, rau quế, hướng dương, kinh giới, bầu bí, rau mồng tơi, ớt hiểm, khoai, dưa leo, cúc vạn thọ, bát tiên,thân thuộc ngày nào. Lại hòn non bộ nằm ngay góc vườn có cầu ao, có tượng tiên ông tiên bà, có người ngồi câu cá, có mái nhà tranh, có chú tiều, vân vân và vân vân. Tất cả là một thế giới thu nhỏ, trong đó có cả nghèo nàn, thoát tục, cao cả, mơ ước, cứu chuộc, những chút “ngày xưa” đầy hương sắc và mùi vị. 

Đúng hai giờ chiều, như đã hẹn, chiếc xe truck đậu ngay trước cổng. Hai người Mễ khá lực lưỡng, xuống xe, bưng chiếc thang xếp đến cổng. Kéo ra, dựng lên. Rồi kềm, búa, dây cột, rồi kéo, cắt, xô, đẩy, chỉ trong thoáng chốc, cả chiếc cổng đổ xuống, cùng với nó là tấm bảng gỗ khắc nổi ba chữ “Tống Gia Trang” kiêu hãnh và vững chắc. Từ trong cửa sổ nhìn ra, Lan rùng mình, mắt ươn ướt, nghĩ đến sự tan biến quá đỗi nhẹ nhàng của một thành tựu. Thành tựu từ một nhóm từ hoa mỹ thấm đẫm nhọc nhằn: giấc mơ Mỹ. 

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Song Thao: Tuổi

Cụ ông người Nhật Masazo Nonka, sanh ngày 25/7/1905, người đang giữ kỷ lục Guinness về đàn ông thọ nhất thế giới còn sống. Hình: .JIJI PRESS / AFP-Getty Images

Tuổi là thứ trời cho, cứ năm mới gõ cửa là cái đầu nặng thêm một tuổi. Muốn hay không cũng chẳng được. Vậy mà ông Emile Ratelband ở Hòa Lan không chịu. Ông này làm truyền hình, năm nay 69 tuổi, lý luận: tuổi chỉ là con số. Số nào cũng vậy nên ông muốn chọn con số khiêm nhường hơn vì ông cảm thấy ông chỉ đáng 49 tuổi. Vậy là ông muốn trả lại cho trời 20 tuổi. Cũng được đi. Từ nay ai hỏi tuổi ông cứ nói “em chỉ mới 49”, chẳng chết con ma nào. Nhưng ông Emile không chịu chỉ nói khơi khơi như vậy. Ông muốn chính phủ phải chính thức đổi tuổi của ông trên giấy tờ đàng hoàng. Ông ngôn như ri với báo De Telegraaf: “Khi tôi 69 tuổi, tôi bị nhiều hạn chế. Nếu tôi 49 tuổi, tôi có thể mua nhà mới, lái chiếc xe xịn hơn”. Ông còn sừng sộ: “Tại sao người ta có thể chính thức đổi tên được. Đổi giống cũng được luôn. Tại sao tuổi không đổi được?”. Vậy là ông mang sự việc ra trước tòa. Chuyện khá lạ làm cả thế giới căng mắt coi tòa sẽ xử ra sao. Ngày 3/12 vừa qua, Tòa ra bản án như thế này: “Ông Ratelband có quyền tự do cảm thấy ông trẻ hơn tuổi thật 20 năm và hành động phù hợp với tuổi ông tự nghĩ. Nhưng sửa ngày sinh của ông sẽ gây ra việc các dữ kiện trong 20 năm về ngày sinh, ngày tử, hôn phối và những điều đã ghi vào lý lịch biến đi mất. Điều này sẽ gây ra những hậu quả phức tạp về phương diện pháp lý và đời sống xã hội”.

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Thơ Trần Văn Nam: Biết Rồi, Điều Trừu Tượng

Cuốn Thơ Tuyển nhân giỗ đầu của Trần Văn Nam

Trời không mây, xanh thẳm
Có hai con ó đen
Bay vòng rồi đảo lại
Cảnh này, dường thấy quen.

Nhớ rồi, mùa xuân ấy
Quận huyện, lửa chiến tranh
Người chết bờ kinh vắng
Trên trời, ó quẩn quanh.

Bóng ó thời tao loạn
Là hình ảnh tóc tang
Bây giờ chúng bay đẹp
Một đường bay thênh thang.

Biết rồi, điều trừu tượng
Vượt ngoại diện, sắc màu
Thấy gì trong tương phản
Con ó thời trước, sau

Ở trên xấu và đẹp
Là nguyên lý tồn sinh
Loài tìm ăn xác chết
Thuần khiết lúc thanh bình.

Mùa đông đã sắp hết
Đường xác lá, sương mù
Cũng thấy rồi, trừu tượng
Xoay vần là thiên thu.

Walnut, California, tháng 11,2010

Viên Linh: Để đưa tiễn Trần Văn Nam

Nhà văn, nhà nhận định văn học Trần Văn Nam (1939 - 10 Tháng Giêng, 2018). (Hình: Trần Yên Hòa)

Thật là nhanh quá. Còn nhớ mơ hồ hồi trước 1975 một hôm tòa soạn tờ báo tôi chủ trương nhận được bài của nhà giáo Trần Văn Nam từ Vĩnh Long gửi lên, một trong những bài có nội dung “thơ và triết học” mà những năm về sau anh viết thêm nhiều, tôi bỗng có phản ứng đáng kể là bốc đồng.

Ngắm nhìn cái xe Lambretta bụi bặm của mình, tôi nghĩ thầm, xe này Sài Gòn-Vĩnh Long kể gì. Nổ máy, chẳng nói với ai, tôi xuống Vĩnh Long tìm Trần Văn Nam, tôi cần bàn với chàng này. Quyết định đó đã mở đầu một tình bạn gần nửa thế kỷ.

Số là làm báo, nhất là làm một tạp chí văn nghệ, tôi rất quen thuộc với những trang bài chỉ có chữ là chữ, nhất là khi nhận được một truyện ngắn hay một bài tham luận dài cỡ 20 trang viết tay – với tôi, đó là 10 trang chữ in dày đặc nếu in hết bài đó mà không xen vào hình ảnh hay một bài thơ, hay những khung chữ hoặc in nghiêng, hoặc in đậm, hoặc bằng một kiểu chữ khác, in xen vào với bài chính.

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Trịnh Y Thư: Duềnh quyên

Duềnh quyên? What the heck do you mean by “duềnh quyên?”

Có anh bạn sau khi đọc Chùm lục bát Lập Đông của tôi, nêu thắc mắc “duềnh quyên” là “cái quái gì vậy?” Bạn nói tiếp, “Tôi chưa bao giờ nghe hay đọc cái chữ mà khi đọc muốn trẹo quai hàm đó, cậu có bịa chữ thì cũng bịa vừa vừa thôi chứ, làm quá cậu ‘ngộ chữ’ thì khốn, bởi vì từ ‘ngộ chữ’ đến tâm thần chỉ là khoảng cách cận kề… Cậu biết chửa?”

Anh bạn tôi còn nói nhiều nữa, nhưng tôi từ tốn ngắt lời anh bảo anh đừng nóng nẩy, có mắng mỏ lên án thì chí ít cho tôi biện bạch vài lời đã, và tôi nhỏ nhẹ bảo anh:

Bạn ạ, “duềnh” theo từ điển Việt Nam của cụ Lê Ngọc Trụ nguyên nghĩa là vụng nước. “Duềnh quyên” là vụng nước có mặt trăng soi vào lấp lánh. Cụ Nguyễn Du thích nhóm từ này lắm vì nó giàu hình ảnh. Tả cảnh Kiều ngồi buồn bã trước lầu Ngưng Bích, cụ viết:

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Và cụ Trần Trọng Kim chú giải “duềnh” là vụng bể, vực sâu, bởi lầu Ngưng Bích trông ra cửa bể.

Từ “duềnh” còn được dùng để tả khúc sông Tiền Đường nơi Kiều, trong tuyệt vọng, gieo mình tìm cái chết sau khi Từ Hải nghe lời Kiều về hàng triều đình để rồi mắc lừa Hồ Tôn Hiến mà uất khí chết đứng giữa trận tiền.

Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.

Tạp Ghi Của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh: Tôi Đã Về Phát Diệm



Tôi rời bỏ Phát Diệm từ 1950. Vào năm đó, Đức Giáo Hoàng Piô thứ XII vẫn còn tại vị, tổng thống Hoa Kỳ là Harry Truman, Đại Thế Chiến thứ II chấm dứt chưa được năm năm, nữ-hoàng Elizabeth Đệ Nhị vẫn còn là một cô công chúa trẻ vừa mới lấy chồng, cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo dài đã gần bốn năm, cộng sản Bắc Hàn áp dụng chiến-thuật biển người tràn xuống xâm lăng Nam Hàn: chiến-tranh Cao Ly bắt đầu. Tại vùng Việt Nam tự do, ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng chính phủ trong khi quốc trưởng Bảo Đại vẫn ở bên Tây, ông Nguyễn Hữu Trí làm thủ-hiến Bắc Việt. Cũng trong năm này, trường Đại Học Văn khoa được thành lập tại Hà Nội. Tôi là một trong số những sinh-viên đầu tiên ghi danh vào phân khoa mới này như Lê Ngọc Huỳnh, Lê Hữu Mục, Pham Việt Tuyền, Trần Ngọc Huyến, Nguyễn Văn Loan, Lý Quốc Sỉnh, Doãn Quôc Sĩ, Lê Xuân Khoa v.v.

Mọi chuyện thấp-thoáng mới ngày nào mà nay đã trên nửa thế-kỷ rồi. Vì nhớ nhung nhiều, đêm đêm tôi thường mơ trở về quê cũ. Rốt cuộc, cầm lòng chẳng được, nên tháng Năm vừa qua, tức là sau 51 năm xa cách, vợ chồng tôi đã đưa cháu trai đầu lòng về nhận mồ mả ông bà tại Phát Diệm. Vì chẳng còn bà con thân thuộc nào, nên việc đầu tiên khi về tới Phát Diệm là vào thẳng nhà Thờ Lớn thăm Đức Giám Mục, tức Đức Cha Nguyễn Văn Yến, người Phát Diệm độc nhất mà tôi may mắn được quen biết gần đây qua thư từ và điện thoại với tư cách là chủ-tịch hội Truyền Thống Phát Diệm. Vì trở về trong một hoàn cảnh khá đặc-biệt, và nhất là không quen biết một ai nơi mà xưa kia quá nửa là thân thuộc của mình, nên khi gặp Đức Cha chúng tôi mừng mừng, tủi tủi như được gặp lại một người bạn thân cũ hoặc bà con thân thiết đã xa cách lâu ngày. Riêng Đức Cha, mặc dầu vồn vã, nhưng chắc Ngài cũng chỉ coi chúng tôi như những người hành hương thông thường, hay cùng lắm là như mấy người khách quý từ phương xa tới thăm mà thôi.

Thảo Chi: Mưa Đêm Và Những Âm Thanh

Hình minh hoạ, Freepik

Ngoài kia là tiếng mưa rơi
Hay là tiếng dế hát chơi bên thềm?
Hay là tiếng bước chân êm 
Của chàng kỵ sĩ nửa đêm quay về?

Không! Không! Làn gió sơn khê,
Luồn qua vách đá tỉ tê trên ngàn!
Ngó xuống đường, ánh đèn vàng
Hắt hiu, ẩm ướt chảy ngang mặt đường...
Hỡi con dế trốn trong tường,
Ngưng đi những khúc đoạn trường!

Ngưng đi.

Mưa đêm làm mắt tôi cay,
Hay là giọt nhớ lăn dài, chảy xuôi?