Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

Trịnh Y Thư: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào?

Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.

Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.

Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…

Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.

Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng ba gãy súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn học.

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

Thy an: Ở một nơi nào đó

Hình minh hoạ, FreePik
một góc vườn hay góc đời
gom biết bao âm thanh kỳ lạ
ngày gió đêm mưa
có tiếng kêu của tiền nhân
trong lời thì thầm của lịch sử
giọt mưa rơi trên quê người
biết bao giờ tạnh trên tay

ở khung cửa thắp mấy ngọn đèn
một nửa ở đây, một nửa ở kia
một nguyên vẹn của em và của tôi
trên mấy tầng ngôi nhà nóc xám
ngơ ngác hỏi lòng ngày tết Chuột
tro tàn rơm rạ dưới chân im lặng
giữa những lời hỏi thăm, chúc tụng, lãng quên

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Trần Mộng Tú: Dung Nhan Thời Covid

Lời Tòa Soạn.- Độc giả sẽ gặp trong bài viết này những nhận xét tinh tế và cũng rất bình thường của một nhà văn nữ, sau hai tháng sống “cách ly” vì đại dịch Covid 19. Toàn là những nhận xét nho nhỏ về bản thân : trên đầu đã lộ ra những chỗ tóc bạc (à, đã lâu không nhuộm tóc!), thỏi son đã bắt đầu khô cứng trong ngăn kéo bàn trang điểm (dễ hiểu, hai tháng rồi có dịp nào tô son điểm phấn đâu ?), tủ áo quần như trở nên xa lạ (dĩ nhiên, tối ngày ở nhà với ra vườn, ăn diện mà làm gì ?) v.v…
Thế nhưng, đó lại là những phát giác rất quan trọng trong đời sống của một phụ nữ. Gần như những thuộc tính của cả một đời người bỗng biến mất. Tác giả thảng thốt kêu lên : Liệu con người có cần tất cả những nhu cầu đó từ trước đến nay để được hạnh phúc hay không? 
Đây có thể là một câu hỏi rất lớn, mà để tìm câu trả lời, mọi người phải quay về các quan niệm rất căn bản của sự sống con người. DĐTK
*

Sáng nay, sau khi đánh răng, rửa mặt, chị nhìn mình trong gương, bỗng dưng chị thấy một phụ nữ lạ hoắc. Tóc chị, một đường ngôi trắng xóa như con đường nhỏ phủ sương muối giữa luống rau úa. Hai bên tóc đã quá dài, tóc đáng lẽ phải cắt từ cuối tháng hai, bây giờ gần cuối tháng tư, nên tóc đã chạm vai, so le, cái ngắn cái dài không như ý. Bất giác chị nhớ tới câu thơ:

Sáng hôm nay em thấy ở trong gương
Đường ngôi lệch sợi tóc buồn vừa thức
Chiếc lược mỏng vùi trong vùng tóc ấm
Những hàng răng rẽ mãi một đường ngôi (Sợi Tóc-tmt)

Tóc mai của chị bây giờ không được nhuộm, đã trắng xóa hai bên thái dương. Kệ, trắng cứ việc trắng. Chẳng có đi gặp ai nên gội đầu xong cũng chỉ sấy cho khô, chẳng chú ý đến việc cuốn, chải. Da mặt thì hình như có thêm vài vết đồi mồi xuất hiện, cặp mắt bớt tinh anh, cái nhìn như nhòe đi, vết chân chim kéo gần tới mang tai, trán rõ ràng có nhăn thêm mấy nếp gấp.

Huyền Chiêu: Người Đi trên đống tro tàn

Anh K thương mến,

Những năm trước khi nghe anh nói năm nay anh cũng chưa về VN được, em rất buồn. Hơn 20 năm rồi còn gì. Nhưng năm nay thì em lại nghĩ khác. Anh không về hóa ra lại hay. Hãy để VN biến thành tro bụi trong ký ức. Nhưng anh không về mà cứ muốn em kể chuyện VN cho anh nghe. Em sẽ kể nhưng anh đừng khóc đấy nhé.

Em sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ?

À. Huyện lỵ của mình bây giờ được gọi là thị xã. Nếu về anh sẽ không nhận ra đâu là đâu. Ngôi trường bé nhỏ dưới mấy gốc bàng nơi anh và em học lớp vỡ lòng, đã bị đập bỏ để xây một cung thiếu nhi nguy nga. Hai hàng tre bên sông Dinh đã được thay bằng bờ kè bằng đá. Đường sá cũng được mở rộng thay cho những con đường làng nhỏ mà thuở bé anh hay đạp xe chở em về thăm quê nội hay rong chơi đây đó. Xem ra thì đường xá cầu cống, dinh thự, trường học có khang trang hơn xưa nhưng đó là hàng mã. Tất cả đều chỉ đẹp đẽ trong ngày khánh thành, còn sau đó nó hư hỏng nhanh chóng là điều bình thường ở xứ sở này. Trên những con đường ở đất nước gọi là thanh bình này, mỗi năm có hàng chục ngàn người chết vì tai nạn xe cộ. Người chết vì tai nạn giao thông mấy mươi năm nay còn hơn số người chết trong cuộc chiến vừa qua. Không có ở nước nào mà người dân phải tự di chuyển bằng xe gắn máy. Không có ở đâu mà xe gắn máy chạy chung với xe tải, xe khách, xe chở container. Người mình chết nhiều đã đành. Cứ mỗi lần đọc báo có tin một chuyên viên nước ngoài đến VN làm việc bị xe tông chết thì em vừa xấu hổ vừa thương cho họ. Đáng lẽ họ không nên đến đây, một đất nước mà mạng người chỉ là cỏ rác.

Trong thư anh thường nói phong cảnh ở VN là đẹp nhất. Núi đẹp, rừng đẹp, những ngôi nhà nho nhỏ giữa những thửa ruộng xinh tươi.

Chiều ơi, lúc chiều về là lúc yên vui
Trâu bò về dục mõ xa xôi … ơi chiều (*)

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

Ngự Thuyết: Xuân Nồng

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay
Nguyên Sa

Một tiếng động làm anh giật mình mở choàng mắt nhìn ngơ ngác. Thế ra anh đã ngủ trên xe một giấc ngon lành. Tiếng gì đấy? Mấy con chim hải âu vừa bay vừa há mỏ quang quác đánh thức anh dậy, hay tiếng sóng biển rì rầm đằng kia bỗng dưng gào to thảng thốt trong giấc ngủ lơ mơ, chập chờn, hay tiếng còi xe chữa lửa thét lên giật giọng quanh đâu đây, hay cái âm thanh khô cứng phát ra do một nhánh cây nhỏ rơi ngay xuống trần xe? Anh điều chỉnh lại lưng ghế ngồi trở về vị trí cũ, nhìn đồng hồ tay. Gần hai giờ chiều. Trễ giờ làm việc rồi! Đi làm việc mà trễ cả tiếng đồng hồ coi chướng quá. Anh chắc lưỡi, OK, call in sick vậy. 

A, a, không được đâu! Nói láo cũng phải có sách chứ. Mới gặp nhau đó mà đã nổi lên cơn bịnh cấp kỳ thế quái nào được. Thôi thì cứ nói đại là có việc đột ngột cần phải ở nhà nửa ngày để giải quyết cho kịp thời. Cái lý do nghe cũng buồn cười, nhưng thôi, mặc kệ.

Anh quờ tay tìm xâu chìa khóa xe. Ủa, ở đâu? Túi áo ngực, túi quần, ghế ngồi bên cạnh. Không thấy. Chẳng lẽ ... chẳng lẽ lúc mình ngủ say có kẻ đến đánh cắp chùm chìa khóa để tính chuyện cướp xe. Anh bật cười. Nơi này tương đối vắng vẻ, thì kẻ gian có thể đến, cho mình một phát súng hãm thanh như trong xi -nê, hoặc lấy dao dí vào hông, hoặc không có sẵn dao cũng có thể dùng bàn tay như cái gọng kềm siết vào chỗ nhược của mình rồi bắt mình lái xe đi đến nơi nào vắng vẻ hơn, rồi co chân đạp mình nhào xuống đất, rồi dông tuốt. Báo chí thỉnh thoảng loan tin như thế. Chứ ăn trộm xâu chìa khoá đem về nhà mà thờ hay sao. Mình chỉ được tài suy luận ngớ ngẩn, anh cười thầm.

Thường lệ anh ăn trưa tại sở. Ăn vội để nhín một chút thì giờ dành cho giấc ngủ ngắn, là vì đêm nào anh cũng thức rất khuya. Ăn giản dị dăm ba miếng. Mì gói, mì ly ăn liền cho nước sôi vào, hoặc cái hamburger whopper giá một đô la sáu xu kể cả thuế, hoặc một gói đậu phụng hột điều lẫn lộn cộng một ly nước lạnh cho đầy bụng, hoặc cùng lắm thì vài quả chuối, quả táo cũng được. Lẹ lắm, 15 phút là xong bữa. Không phải anh hà tiện không dám ăn một bữa trưa cho tươm tất, nhưng anh cần nhanh, gọn. Rồi ngồi trên ghế dựa, ngả người, đầu cúi xuống -- anh nghĩ đến người bạn cùng sở phái nữ hay nói tài nói khôn, cũng bắt chước anh chợp giấc trưa, nhưng anh này, đầu phải như tôi dựa vào thành ghế cho thoải mái, rồi cô ta ngủ quên, mồm há hốc. Cho nên anh cúi đầu xuống, hai tay vòng lại trước ngực, hai chân bắt chéo, một bàn chân gác lên cái ngăn kéo lôi ra một nửa của bàn

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Nguyễn Hưng Quốc: Văn Học Miền Nam Trong Tiến Trình Hiện Đại Hoá Của Văn Học Dân Tộc

Ở thời điểm hiện nay, 45 năm sau ngày miền Nam sụp đổ, nhìn lại nền văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, chúng ta thấy gì? 

Theo tôi, có ba điều dễ thấy và dễ được công nhận nhất:

Thứ nhất, chưa bao giờ, trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, có một nền văn học nào đối diện với nhiều bất hạnh đến như vậy. Nói theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học bắt đầu bằng một cuộc di cư (từ miền Bắc vào miền Nam) và kết thúc bằng một cuộc di tản (từ Việt Nam ra hải ngoại).[1] Đó cũng là hai mươi năm đầy chiến tranh và loạn lạc. Tuy nhiên, tính chất bất hạnh ấy được thể hiện rõ nhất ở thời điểm sau năm 1975. Bất hạnh ấy đến từ cả một hệ thống chính quyền đầy quyền lực và cũng đầy thù nghịch. 


Ngay sau tháng 4, 1975, trước khi đóng cửa các cơ sở kinh doanh, chính quyền mới đã ra lệnh đóng cửa tất cả các tờ báo, các nhà in, các nhà xuất bản, các nhà phát hành và các nhà sách; trước khi tịch thu tài sản của những người bị xem là tư sản mại bản, chính quyền đã ra lệnh tịch thu hoặc tiêu huỷ sách báo từng được xuất bản ở miền Nam trước đó; trong lúc vẫn thừa nhận kinh tế có 5 thành phần (nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), chính quyền mới chủ trương, trong văn học nghệ thuật, chỉ có một thành phần duy nhất, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, do họ kiểm soát chặt chẽ; và, cuối cùng, cùng lúc với việc bắt bớ các sĩ quan và công chức thuộc chế độ cũ đi học tập cải tạo, chính quyền cũng ráo riết lùng bắt các cây bút từng lên tiếng phê phán và chống đối lại họ. Trong nhà tù, các nhà văn, nhà thơ và nhà báo thường bị án lâu nhất; nhiều người (như Thảo Trường, Phan Nhật Nam, Tô Thuỳ Yên và Trần Dạ Từ) bị giam giữ trên 10 năm, lâu ngang ngửa với những người thuộc cấp tướng trong quân đội miền Nam.

Nguyễn Đức Tùng : Thơ Như Đời Sống Tinh Thần Của Dân Tộc

Sự so sánh giữa thơ miền Nam và thơ miền Bắc thời kỳ hai mươi năm chiến tranh, tương tác giữa chúng sau khi hòa bình lập lại, là một đề tài lớn, có ích cho sự phát triển của thơ Việt Nam, nhưng cần công sức của nhiều người, cần nhiều thời gian. Công việc ấy chưa bao giờ được bắt đầu chứ đừng nói là hoàn tất. Thơ là tiếng nói tâm hồn của con người trong một thời đại, là tấm gương của xã hội. Hơn thế nữa một nền thơ thành công có khả năng chinh phục những người chưa bao giờ tiếp cận nó. 

Văn học là cảm xúc và tư tưởng nhưng văn học cũng là nghệ thuật ngôn ngữ. Ảnh hưởng là ảnh hưởng trên cả hai phương diện ấy.

1. Ngay sau chiến tranh, ở Huế, khi tôi còn bé, tôi được chứng kiến một nhà thơ miền Bắc, đọc cho nghe bài thơ của anh, Viết cho em từ cửa biển, sau đó anh cũng đọc bài Cần thiết của Nguyên Sa, cả hai anh đều đọc thuộc lòng. Đó là một kỷ niệm tôi không bao giờ quên: sự xúc động, tình tự dân tộc, sự khoan hòa và bao dung, cái đẹp. Sau năm 1975, việc giao thoa này dù muốn dù không cũng đã xảy ra. 

Trong thời gian chiến tranh (1954-1975), ở miền Nam có nhiều khuynh hướng văn học, như cổ điển, lãng mạn, hiện thực, siêu thực, hiện sinh, nhưng ở miền Bắc chỉ có một khuynh hướng là hiện thực xã hội chủ nghĩa. Khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa này đồng thời cũng là "phương pháp sáng tác". Tôi chỉ xin đề cập đến một khía cạnh dựa theo câu hỏi của anh: ảnh hưởng của thơ miền Nam đối với thơ miền Bắc. Thực ra sau 1975, cả nước là một, khó có thể dùng chữ thơ miền Bắc nữa, mà nên dùng chữ thơ sau 1975.

2. Giới nghiên cứu và báo chí: Cách tiếp cận đối với thơ miền Nam của các nhà nghiên cứu văn học ở phía Bắc, cho đến hiện nay, gồm ba khuynh hướng:

- Khuynh hướng bảo thủ cực đoan: phê phán, đả kích, bôi nhọ, chính trị hóa. Ví dụ: Nguyễn Văn Lưu hay Vũ Hạnh.

Văn học miền Nam 54-75 trong cách nhìn của Vương Trí Nhàn hôm nay (Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê (RFI)


Thụy Khuê: Thưa anh Vương Trí Nhàn, xin cảm ơn anh lại một lần nữa vui lòng đóng góp tiếng nói trên đài RFI. Trước hết xin hỏi anh là hiện nay có dấu hiệu nào cho chúng ta thấy là văn học miền Nam đã bắt đầu hiện diện lại trên địa bàn văn học ở trong nước hay chưa?

Vương Trí Nhàn: Lâu nay, Văn học miền Nam như cứ tồn tại một cách lấp lửng ở Hà Nội, lúc thì xuất hiện, lúc có vấn đề nổi lên, tuy không thành vấn đề lớn, vấn đề liên tục. Thời gian gần đây vì có chuyện một số sách của Dương Nghiễm Mậu được in lại, sau đó lại bị phê phán, thành ra có người nghĩ rằng nó đang bị đẩy lùi đi. Tôi thấy không phải, mà thực chất khoảng mùa thu năm ngoái, năm 2007, báo Văn Nghệ mở ra mục giới thiệu một số tác phẩm của văn học Sàigòn trước 75 và đã in một số truyện ngắn. Và đúng kỳ 30 tháng tư năm 2008 này, báo Văn Nghệ có ra số đặc biệt, lần đầu tiên đưa vào sưu tập mười truyện ngắn in ở Sàigòn trước năm 75, đấy là một điều đáng chú ý. Theo tôi, trong xã hội đang có nhu cầu muốn nhìn lại, tiếp cận lại bộ phận văn học này, tôi thấy đây là điều cần thiết và cũng muốn góp sức vào đó.

T.K.: Truớc khi đi xa hơn nữa, xin hỏi anh về tình hình trước năm 1975, ở Hà Nội thời ấy đã có ai đọc một vài tác phẩm của Văn học miền Nam hay không, và nếu có, chuyện đó đã xẩy ra như thế nào?

V.T.N.: Văn học miền Nam hồi đó về Hà Nội ít ỏi lắm, muốn đọc khó lắm, nhiều khi phải mò mẫm đi tìm, tìm thấy rồi, đọc thấy hay rồi muốn kêu lên với mọi người cũng phải tự nén lại. Song, một cách tự nhiên, một số người chúng tôi biết rằng có nó , đinh ninh tin rằng một người muốn làm văn học một cách đứng đắn phải tìm tới nó -- các nhà văn từ Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, rồi Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu... hay lớp trẻ bọn tôi như Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Trúc Thông hay một số bạn khác đã nghĩ như vậy. Không bồng bột không sôi nổi ào ạt, nhưng chúng tôi đã liên tục tìm kiếm, không bỏ qua một trường hợp nào mà không tìm kiếm. Có thể là chẳng ai hiểu văn học miền Nam cho đến đầu đến đũa, có thể sự hiểu chỉ loanh quanh ở những mảnh vụn, nhưng làm sao khác được, vừa đọc vừa đoán thêm tưởng tượng thêm cũng là quý lắm rồi. Và đã có một sự chia sẻ thậm chí như là giữa hai bên hình như vẫn có một cuộc đối thoại ngầm nữa. Vả chăng cái sự xa lạ là mãi về sau này mớí xuất hiện chứ ban đầu chính thức đâu có phải vậy. Có lần tôi đã tìm thấy một văn bản năm 56, ông Nguyễn Tuân, thay mặt cho giới văn nghệ Hà Nội, đã viết thư cho những người viết văn ở miền Nam, nói rằng chúng ta sẽ cùng lập một đoàn đại biểu để đi dự hội nghị nhà văn ở Tân Đề Ly, bên Ấn Độ và chúng ta sẽ chờ cơ hội sáng tác để góp phần vào nền văn hóa dân tộc. Đây là chuyện ít người biết cả người ở Hà Nội cũng không biết tôi cho rằng chúng ta nên tìm cách nhắc lại với nhau kẻo hiểu lầm mãi, hiểu lầm và tự mình bó buộc mình một cách phi lý.

Trần Mộng Tú: Đám Cưới

Bà mẹ cô dâu đưa thêm người khách nữa vào bàn cho đủ mười người. Trong bàn đã có bốn cặp vợ chồng và một phụ nữ đi một mình.

Bà tươi cười giới thiệu:

Đây là chị Trang, mẹ đỡ đầu của cô dâu, em xin được đưa chị Trang ngồi đây với các anh chị.

Bà Trang còn khá trẻ, so với những cặp đôi trong bàn, chỉ khoảng ngoài 40, khẽ cúi nhẹ đầu chào mọi người. Mắt bà chợt mở to hốt hoảng khi chạm vào cặp mắt của người phụ nữ ngồi đối diện với mình, người phụ nữ cũng đi một mình. Người này cũng chạc tuổi bà. Cả hai cùng như sững người lại trong một giây rất ngắn, rồi họ cũng nghiêm mặt lại, cười nhẹ như chưa hề biết nhau. Họ ngồi đối mặt nhau nên thỉnh thoảng lại nhìn nhau, rồi lại giả vờ như không nhìn thấy nhau. Người phụ nữ đó được cặp vợ chồng ngồi cạnh gọi là chị Hoa.

Hoa nói trong đầu: Đúng là Trinh rồi, sao bây giờ lại là Trang. Người đàn bà tên Trang đó cũng hơi cau mày lại: người này tên là Hoa à? Hay mình nhìn nhầm. Cũng may họ không ngồi cạnh nhau nên không phải nói chuyện với nhau, nhưng họ lại đối mặt nhau nên khó lòng tránh cặp mắt của nhau. Những người khách cùng bàn nói cười vui vẻ, tiếp thức ăn cho hai người phụ nữ độc thân, cả hai chắc chắn cùng trẻ hơn họ. 

Hai người đàn bà trẻ đó thỉnh thoảng vẫn nhìn trộm nhau, thỉnh thoảng bắt gặp ánh mắt nhau, cả hai cùng bối rối, họ như muốn nói với nhau một điều gì nhưng lại không nói được.

Bỗng một ông khách trên bàn đang nói chuyện con cái, chuyện sắp về hưu đổi đề tài, hỏi hai người đàn bà độc thân: Hai chị sang đây từ năm nào?

Bà Trang ngập ngừng: Dạ…dạ từ năm 1985, nói xong bà hạ mi mắt thật thấp xuống, tránh nhìn bà Hoa.

Nguyễn Văn Thà: Hoàng Lan Chiều Hoang

De la ira a la ternura: ”Từ sự giận dữ tới sự dịu dàng.”, Oswaldo Guayasamín, nước Ecuador
Tháng tư đi vào trong núi
Tìm con ngựa trận năm nào
Yên cương bây giờ mục nát
Hỏi chàng, chàng bặt âm hao

(TRẦN MỘNG TÚ, 
Ngày tháng ngậm ngùi, 1994)

Trong thành phố Sài Gòn, sau mấy năm bị đổi tên thành thành phố của người đã giết mình, nay đã bắt đầu thoang thoảng những câu hát như “Ngày rời Paris, anh đã để quên con tim.” từ hải ngoại bay về. Đương khi trong những xứ sở mà người Việt đã lại bắt đầu để quên con tim lại cho người mình thương một cách ỡm ờ dễ thương đến như vậy như những ngày Sài Gòn chưa bị bọn CS bóp họng, thì ở trong các trại tù dưới cái mỹ từ đểu cáng “trại cải tạo” có nhiều sĩ quan, viên chức của VNCH vẫn bị cộng đồng quốc tế hờ hững bỏ mặc, nhưng những bà mẹ, những bà vợ không quên con, chồng họ. Họ là lực lượng đáng kính nể nhất, đáng ghi vào sử sách nhất của xã hội miền Nam. Họ bương chải, họ ngược xuôi, họ nuôi con và chăm sóc bố mẹ già, và họ thăm nuôi. Cơ cực không thể tả xiết. Lan là một người vợ cũng như họ, nhưng nàng chỉ thăm nuôi chồng mình được mấy lần rồi đành dứt; nàng ray rứt khôn nguôi vì nàng không còn tiền để thăm chứ đừng nói chuyện nuôi. 

Cũng vào những tháng ngày này tôi từ Hàm Tân chạy vào Sài Gòn trốn vượt biên và ở trọ trong nhà của đứa em gái họ của tôi, mà chồng là một tay anh chị lại quen biết nhiều với công an khu phố ở Khánh Hội, quận Tư, nơi mà các công an khu phố người địa phương lẫn gốc Bắc Kỳ biết ngậm miệng ăn tiền hoặc an phận thủ thường, không dại gì mà sinh sự một cách không cần thiết trong một khu chuyện đâm chém xảy ra hằng ngày.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

Võ Phiến: Cá Tính Văn Học Miền Nam

Hồi năm 1949, Hoài Thanh có cho xuất bản một quyển sách ở liên khu 10, nói về Truyện Kiều [1]. Để khen Nguyễn Du tả Kiều hay, ông có đem những đoạn Đồ Chiểu tả Nguyệt Nga ra so sánh, nêu lên các chỗ dở mà cười. Chuyện đó dễ, là vì so với Truyện Kiều thì Lục Vân Tiên kém xa. Nhưng có điều Hoài Thanh lại nhân đó giảng giải luôn rằng sở dĩ Đồ Chiểu kém như thế là vì sáng tác trong chế độ phong kiến suy tàn: “sức sống phong kiến đã quá khô héo không còn đủ cho văn nghệ phong kiến tạo nên được những con người sống thực”. Lối giảng giải ấy không ổn. Bởi vì thời đại Nguyễn Du nào có hơn gì thời Đồ Chiểu? Chính Hoài Thanh, ở một đoạn về thân thế Nguyễn Du cũng nói rằng: “Nguyễn Du sinh năm 1765. Kể từ Lê Lợi đánh quân Minh dựng nước đến bấy giờ đã có hơn ba trăm năm. Sau ba trăm năm ấy chế độ phong kiến ở nước ta đã suy vi đến cực độ”. Một người ở vào thời “phong kiến quá khô héo” với một người ở vào thời “phong kiến suy vi đến cực độ” thì có ai may mắn gì hơn ai đâu? Sao lại đem chi chuyện đó để giải nghĩa cái dở cho đâm vào sự mâu thuẫn buồn cười? 

Ngoài Hoài Thanh ra, nhiều người khác cũng nghĩ ngợi về cái dở trong văn Đồ Chiểu. Phan Văn Hùm nhận rõ rằng: “Xem Ngư tiều vấn đáp, xem Dương Từ – Hà Mậu, nhất là xem tác phẩm rất dung thường của tiên sinh là quyển Lục Vân Tiên, ta sẽ thấy những chỗ bơ thờ, lạt lẽo, sống sượng, lúng túng, vụng về, không có chút gì văn vẻ cả” [2]. Cái dở trong văn chương mà cũng khiến cho người băn khoăn suy nghĩ và đi tìm nguyên nhân cắt nghĩa thì là một sự lạ. Phan Văn Hùm cắt nghĩa rằng người ta đọc văn Đồ Chiểu là bởi chuộng người có tiết tháo hơn là vì nghệ thuật, còn Đồ Chiểu cũng chỉ muốn viết sách để bày tỏ chí khí và dạy đời chứ không cốt làm văn chương. Ông Phan cho rằng giá ông Đồ mà chịu “phí thêm thì giờ, thao luyện văn thể, thì tiên sinh quyết cũng làm nên văn thanh thoát”.

Ông Hà Như Chi cũng đoán thế: “Nguyễn Đình Chiểu nếu muốn tài hoa mỹ lệ thì cũng rất có thể tài hoa mỹ lệ”3 như ai! 

Người ta có cảm tưởng rằng ông Phan và ông Hà lại cũng quá mến trọng tiết tháo của cụ Đồ Chiểu, nên không ngừng lại ở một nhận xét khách quan, mà còn tìm cách biện bạch che chở khuyết điểm của cụ Đồ. Luận điệu hai ông thoạt nghe thật kỳ cục. Phàm người ta xét văn thường chỉ nhận cho là hay hay dở, chứ gặp văn dở mà dám đoán thêm rằng đó là tại tác giả không muốn viết hay thì người phê bình đi có quá xa! Vả lại viết văn để răn đời, tỏ chí, giải bày tâm sự, thì xưa nay biết bao nhiêu người đã làm như thế, có phải đó là lý do để viết ra văn dở đâu? Nói ngay về Nguyễn Du, người ta cũng cho rằng người viết Truyện Kiều chẳng qua là muốn ký thác một tâm sự, chứ đâu phải cốt hăm hở “phí thì giờ, thao luyện văn thể”, chăm chỉ làm ra tác phẩm văn chương để đời, vậy mà cứ thành văn hay.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

Trần Mộng Tú: Nấu ăn Trong Đêm

Hình minh hoạ, FreePik
Chị ở trong bếp, một mình. Mới 3 giờ sáng, chị đã xuống bếp nấu nướng. Chị mở tủ lạnh tìm thịt, tìm rau, tìm bất cứ cái gì chị có thể đem ra cắt, thái, chặt, để nấu. Nấu món gì chưa biết, cứ mang hết cả ra đã, rồi tính. Cả tháng nay chị như người ghiền nấu ăn, có khi nửa đêm dậy, đọc sách mãi, mỏi mắt vẫn không ngủ lại được, chị xuống lầu, vào bếp và bắt đầu kiếm cái gì để nấu. Có thật chị ghiền nấu ăn đến thế hay không? Hay đây chỉ là một hành động để chị thoát ra khỏi cái trống rỗng giữa đêm.

Chị bắt đầu thái rau, đập những quả trứng ra tô.

Tính đến hôm nay Tiểu Bang Washington có 600 người chết, con số này thay đổi mỗi ngày, tăng lên từng ngày.

Chị tìm hành, tìm cà chua, rau. Cứ thái hết đã, rồi tính sau.

Bệnh Viện ở New York không đủ ống trợ thở.
Xác người mang ra ngoài xếp vào những chiếc xe đông lạnh đậu sẵn trước cửa bệnh viện.

Chai nước mắm đâu rồi? Có cần hạt tiêu không nhỉ. Chị cúi tìm hoài sao không thấy, chiều qua mới nấu mà.

Cả nước Mỹ đã có hơn 40 Bang nhiễm vi khuẩn.
Tiểu bang Washington có hơn 11,790 người nhiễm vi khuẩn- 643 người tử vong.
Tổng Thống nói sẽ mở cửa để vực kinh tế. Nhà nước cho dân tiền để vực kinh tế.
Thống Đốc New York nhất định vẫn muốn cách ly, con số tử vong đã làm ông sợ hãi cho dân chúng trong thành phố của mình.

Chị lục tung cái bếp lên, kéo ngăn tủ bếp, tìm cái muỗng gỗ, không thấy, ập cái ngăn lại, ập vào ngón tay, có đau không? Không biết.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Gabriel García Márquez: Chết lần thứ ba (Trịnh Y Thư dịch)

Gabriel García Márquez [1927-2014], Nobel Văn chương 1972
Dịch COVID-19, tôi thường xuyên nghĩ đến cái chết, lý do dễ hiểu, có quá nhiều người chết xung quanh. Nhìn bức ảnh chụp những chiếc quan tài màu trắng nằm xếp lớp, chen chúc trong một mồ chôn tập thể, có các nhân viên mặc áo bảo hộ trắng từ đầu đến chân, lấp đất, chắc bạn cũng như tôi, chẳng thể nào che giấu được sự mất mát to lớn trong lòng, sự hoang mang về tương lai loài người, sự mong manh của kiếp người, sự khiếp hãi của đời sống… Tin tức dồn dập từng giờ, từng ngày, bao nhiêu người bị dương tính, bao nhiêu người chết, tất cả như trong ác mộng, không thể nào tin được cái gì đang thật sự xảy ra trên thế giới, đang diễn ra trước mắt mình.

Cái chết sao dễ dàng thế, chết như mơ, chết như đang làm một chuyến du hành. (Thực sự là một chuyến du hành về bên kia thế giới.) Chứng kiến những cái chết như thế, để trấn át nỗi hoang mang ghê rợn, bạn có thể tìm đến đức tin tôn giáo. Tốt thôi. Tôi hiểu sức mạnh tâm linh có thể giúp người ta bước qua cơn hoạn nạn. Hoặc bạn có thể vào phòng làm tình với vợ, hoặc người yêu. Cũng tốt thôi. Tôi hiểu khi bất an, người ta cần đi sâu vào nhau tìm sự vỗ về, an ủi, để khơi dòng nước tắc nghẽn nơi sông cạn cho nó chảy chan hòa ra biển cả mênh mông. Hoặc bạn có thể nốc hết chai Macallan rồi gục xuống sô pha mà ngủ. Vẫn tốt thôi. Tôi biết những biến động kinh hoàng xung quanh tác động sâu sắc lên tâm hồn mẫn cảm, dễ bi lụy của bạn, và bạn đành tìm quên trong men rượu. Bạn có thể làm bất cứ điều gì khả dĩ giúp bạn vượt qua cơn khó này. Riêng tôi, tôi tìm đến văn chương.

Lại kệ sách tôi cầm xuống tập truyện ngắn của Gabriel García Márquez. Đọc đã lâu, nhưng tôi nhớ trong đó có vài ba truyện ngắn Márquez viết về cái chết.

Hiếm có nhà văn nào viết về cái chết như Márquez. Khí hậu “Hiện thực Huyền ảo” đã khiến ông có thể viết những điều mà một ngòi bút “Hiện thực Tả chân” không thể nào làm nổi: Đi vào phần sâu thẳm nhất của bản ngã và kiếp người để trực diện với cái kinh khiếp nhất. Cái chết. Trực diện để thấy rằng đời sống vẫn đáng sống, để thấy tôi và bạn là những kẻ may mắn vì chúng ta vẫn còn trông thấy mặt nhau. Và nhất là để sống sao cho xứng đáng, một điều cực kỳ khó khăn cho con người chúng ta.

Tôi mất ba hôm để dịch thiên truyện này, xin chia sẻ với bạn, mong bạn an lành trong mùa đại dịch. – Trịnh Y Thư.

***

Lại cái âm thanh ấy. Âm thanh nhức óc, lạnh lẽo hắn đã nghe rất nhiều lần; nhưng không hiểu vì sao lần này hắn thấy có cái gì chói lói và đau đớn, như thể chỉ qua đêm hắn không còn nhớ gì cái âm thanh ấy nữa.

Trần Mộng Tú: Hoa nở Mùa Covid.19

Hoa Easter Lily, Hình Maxwells/Irish Government - Pool/Getty Images
Hoa Trà - Camelia
Cho  Angie
Đi ngang vườn nhà con gái
Hái được một nhánh hoa trà
Mẹ, con nhìn nhau qua cửa
Hoa gần mà con thật xa.

Hoa Kim Hương- Tulip
Cho Mẹ

Con hái trong vườn nhà con
Một chùm kim hương màu đỏ
Mở cửa nhà mẹ lén vào
Đặt hoa, chạy ra theo gió.


Hoa Đào – Cherry Blossom
 Cho Tiến – Chi

Chiếc xe mui trần màu đỏ
Người ngồi bên cạnh nay đâu
Tháng Tư hoa đào vẫn nở
trên vai rụng cánh hoa sầu.


Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Trần Mộng Tú: Cùng PHỤC SINH với Chúa

Hình minh hoạ, Lễ Easter tại nhà thờ Palma De Mallorca, Tây Ban Nha, 04/12/2020. Clara Margais/Getty Images

Giữa Cung Thánh mênh mông
Vị Chủ Tế cô đơn
nhìn những hàng ghế trống
những bông huệ vô tình
giỏ những giọt nước mắt
trên khăn thánh trắng tinh

Giọt nước mắt của hoa
tỏa hương thơm dịu dàng
ướt trên bàn tay Chúa
Chúa nghiêng mình cúi xuống
mão gai người hình tròn
như vương miện tủa gai
Chúa chia cùng nhân loại
vương miện của khổ đau
vương miện của cái chết

Từ khổ đau chết chóc
hãy cầu nguyện và tin
trong sự Chúa sống lại
Chúa sẽ vực ta lên

Trần Mộng Tú: Người Tù Và Người Vô Gia Cư

Hình minh hoạ, FreePik
Ở góc ngã ba con phố có một người vô gia cư, loay hoay hoài với cái bị quần áo không biết để chỗ nào dưới cái gốc cây anh đang ngồi. Cái cây này to lắm tuy ở ngã ba nhưng nó lại thụt vào gần sát một bức tường nên anh nghĩ mình có thể ngủ lại đây mà không làm phiền ai.

Cả thế giới đang ẩn trốn trong nhà vì nạn dịch Virus, chắc chẳng ai nỡ tới đây mà đuổi anh. Anh đặt cái bị sát tường rồi ngồi ngay lên trên cho chắc ăn, khoanh tay lại, ngả đầu vào tường, nhắm mắt lim dim tìm giấc ngủ.

Trời cũng bắt đầu vào tối, anh cũng vừa bắt đầu ngủ thì thấy như có ai dựa và người mình, làm anh tỉnh hẳn. Đúng là một người đàn ông khác cũng có một cái bị nhỏ đang ngồi dựa lưng vào tường nhưng quá gần vào anh.

Anh xích ra một chút thì cái thân hình đó lại ngã thêm lên mình anh một chút. Anh tỉnh hẳn ngủ nhìn vào cái người đang ngã vào mình. Trong nhá nhem tranh tối tranh sáng, ánh đèn từ cây cột đèn bên kia đường chiếu sang, anh cũng nhận ra đó là một người đàn ông trẻ, trẻ hơn anh nhiều. Anh ta khoảng dưới 30 tuổi thôi. Anh lay lay người khách lạ gọi.

Này anh, sao anh dựa vào tôi thế này?

Người khách tỉnh dậy, ngỡ ngàng nhưng lễ phép

Xin lỗi ông tôi mệt quá, thấy có chỗ ngả mình được nên ghé vào.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Nguyễn Tường Giang: Ở Thủ Đô Nhớ Về Tháng Tư

Hình minh hoạ, Spencer Platt/Getty Images

không có tiếng súng nổ
không nghe tiếng đạn bay
không có bom rơi trên đường trên phố
không nhà cháy tan hoang gạch ngói
B52 dải bom dọc xương sống Trường Sơn
chỉ thấy mây mù bay thấp
trên khắp nẻo quê hương
ngày nào
tôi đứng một mình trong một thành phố chết
không người
ngó ngọn cờ hoa bay phập phồng
trong gió
lạnh người

quanh hồ Thủy Triều hoa vẫn nở
anh lính vệ binh đứng gác bên cầu
hình bóng cũ
đôi mắt em đen láy bên hoa
giọt máu loang trên má
bây giờ em đã ở đâu


Phương Nghi: Mảnh Vải Hoa Lốm Đốm

Hình minh hoạ, ALAIN JULIEN/AFP via Getty Images
Khi Vũ giao số thuốc cho người bệnh nhân cuối cùng trong phần việc của anh thì ngày đã sắp tàn. Trời chiều bắt đầu ửng lên cái màu vàng muôn thuở của nó sau dãy núi chập chùng phía Tây. Từ nơi đậu xe Vũ nhìn bao quát không gian xung quanh mình. Đây là lần đầu tiên Vũ đặt chân đến cái thị trấn hoang vu rừng rú này. Bạt ngàn là cây, bạt ngàn là rừng. Những khoảng trời lấp ló rung rinh trong tàn lá, tiếng một quả thông khô vừa rụng, tiếng một con chim nào vừa chao chát bay lên đều khiến một người rất yêu thiên nhiên như Vũ cảm thấy vô cùng xao xuyến. Anh đứng tựa vào một thân cây to bên đường lặng người nhìn mặt hồ dưới thung lũng đang căng ra như muốn ôm choàng cả mây núi bên trên vào lòng. Vũ nghĩ: “Hồ đẹp quá. Nếu xuống được mép nước dưới kia thì tuyệt. Chắc không về kịp để đến lớp thể dục, nhưng thôi, mặc kệ…” 

Thế là đi. Đi theo tiếng gọi nơi hoang dã. Vũ lái xe đi mà hoàn toàn không để tâm xem mình đang lái trên con đường gì, ở đâu, chỉ nhắm vào cái hồ thoắt ẩn thoắt hiện sau những thân cây mà lái. Anh chạy trong trạng thái ngây ngất, bàng hoàng. Thiên nhiên quá phi thường đã làm Vũ không còn tự chủ nữa. Thỉnh thoảng có một cái xe bấm còi. Vũ nép vào vệ đường cho nó qua mặt rồi đi tiếp. Đường núi quanh co, ngoằn nghoèo, một bên là vách đá, một bên là vực thẳm, càng đi càng thăm thẳm, ngút ngàn. Mặt hồ vẫn chập chờn trước mắt anh, nửa hư, nửa thực, vừa mời gọi, vừa khuyến khích. Chạy một quãng khá xa vẫn chưa thấy đường xuống hồ anh nghĩ bụng: “Coi chừng lạc thì khổ. Có ai đâu mà hỏi đường.” Thế nhưng Vũ lập tức gạt ý nghĩ ấy ngay: “Kệ. Lỡ tới đây rồi. Bỏ về tiếc quá.” Vũ lại cắm đầu chạy tiếp. Nhác thấy có một con đường nhỏ đổ dốc về bên trái, Vũ mừng quá lái xe về hướng đó và đậu lại. Vừa mở cửa xe anh đã có ngay cảm giác khoan khoái khi gió rừng mơn man làn da và len vào từng sợi tóc trên đầu. Hình như anh cảm thấy được hơi nước mát lạnh đang phả vào mặt mình. Anh nhìn quanh quất nghĩ chắc con đường đó sẽ dẫn đến hồ.


Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

Nguyễn Tường Thiết: Sứ mệnh của cô Aki Tanaka

Cô Aki Tanaka
Tháng 3 năm 2020 thành phố nơi tôi ở trải qua một biến cố chưa từng xẩy ra trong lịch sử của thành phố này: Seattle là tâm điểm của đại dịch Coronavirus đang lan tràn khắp nước Mỹ.

Tất cả những người lớn tuổi đều đuợc khuyến cáo nên tự cách ly bằng cách không nên ra khỏi nhà ngoại trừ trường hợp thật cần thiết. Giam mình ở nhà mãi không có việc gì làm, cũng như tất cả các bạn bè của tôi lúc này, tôi có rất nhiều thì giờ mò mẫm trên máy vi tính. Và thật tình cờ tôi tìm lại được bức thư sau đây, bức thư mang tên “Sứ Mệnh” do cô Aki Tanaka gửi tôi năm năm về trước.

From: Aki Tanaka
To: Thiet Tuong Nguyen
Sent: Saturday, May 9, 2015, 05:19:15 PM PDT
Subject: “Sứ Mệnh”

“Bác Thiết thân mến,

“Cháu cám ơn bác Thiết đã gửi cho cháu “Nho Phong” và tài liệu “Nhân Văn Giai Phẩm”. Ở Nhật, cô Mori Erisa (Người Nhật gốc Việt, đang dậy tiếng Việt ở trường cháu) là người chuyên nghiên cứu về “Nhân văn Giai phẩm” ạ.”

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

Phạm Công Thiện: Anh Sẽ Hiện

Hình minh hoạ, Freepik
Anh sẽ hiện ồ anh sẽ hiện
Cả rừng cây không ai lên tiếng
Bóng tối tràn vũ trụ tan hoang
Tiếng thơ kêu trên đầu con kiến

Kiến lửa ngày xưa đốt mộng mơ
Nằm nghe con ngựa nhảy qua bờ
Em về bên ấy quên đi nhé
Anh chẳng bao giờ biết đến thơ

Một hàng áo trắng phất trong sương
Vũ trụ chiều nay sao quá buồn
Tôi đắp kín mền trong gác lạnh
Nghe mùa xuân dậy ở Đông phương