Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Kim Dung: Họa Chữ Nghĩa

(Trích đoạn mở đầu của tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Ký - tựa đề do Tòa soạn đặt)

Bản dịch của Nguyễn Duy Chính



Ở phía tây Chiết Giang là ba phủ Hàng Châu, Gia Châu, Hồ Châu nằm bên bờ Thái Hồ, địa thế bằng phẳng, đất đai màu mỡ, sản xuất nhiều thóc gạo tơ tằm. Huyện đứng đầu ở Hồ Châu là Ngô Hưng, đời Thanh chia làm hai huyện Ô Trình, Qui An. Nơi đó vốn là chốn văn chương chữ nghĩa, xưa nay lắm danh sĩ xuất thân, đời nhà Lương có Thẩm Ước chia tiếng Trung Quốc ra làm bốn thanh bình thượng khứ nhập, đời Nguyên thì có Triệu Mạnh Phủ cả thư lẫn họa đều đứng đầu, hai người đều từ Hồ Châu mà ra. Ðương địa lại sản xuất bút nổi tiếng, bút Hồ Châu, mực Huy Châu, giấy Tuyên Thành, nghiên Ðoan Khê Triệu Khánh là những món thiên hạ trì danh trong văn phòng tứ bảo.[1]

Phủ Hồ Châu có trấn Nam Tầm, tuy tiếng chỉ là một trấn nhưng so với những châu huyện tầm thường còn lớn hơn nhiều. Trong trấn phú hộ rất đông, trong đó có một gia tộc nổi tiếng họ Trang. Phú hộ họ Trang là Trang Duẫn Thành, sinh được mấy người con, trưởng tử tên là Ðình Long, thích đọc thi thư từ nhỏ, kết giao rất đông đảo danh sĩ Giang Nam. Ðến đời Thuận Trị, Trang Ðình Long vì đọc sách quá nhiều nên đột nhiên bị lòa, đã tìm đủ loại danh y nhưng không sao chữa khỏi, trong lòng uất ức không vui.

Trần Yên Hòa: Lãng mạn thu

Hình minh hoạ, Internet
Em, mùa thu, mùa vàng rưng hoa cúc.
ngẩn ngơ anh tìm kiếm suốt đời riêng
trong lòng anh mưa vẫn nhòa ký ức
về một người làm ấm giấc mơ em

Anh đốt đuốc huơ cho đời tỏ rạng
mùa thu, xa, tận mãi xứ trầm hương
xa ngái lòng ơi riêng mình với bóng
một cành hoa ngâu nở vội bên đường

Anh một mình ngẩn ngơ soi bóng lẻ
cành sầu đâu rụng hết lá về đêm
có cơn gió heo may, ngày quê cũ
chợt biết thu về mang dáng áo len

Guốc cao gót em nhẩn nha từng bước
mang chút thu quen chớm lạnh sang mùa
mưa cũng lạ lùng như là hơi thở
của em, ta, xưa, trở dậy cùng mơ

Mở toang cửa chào mùa thu đến
ghé môi hôn thắm thiết ân cần
trong nhịp đập trái tim, sự sống
một mùa thu, òa vỡ bâng khuâng

Mở toang cửa cho lòng hối hả
ôm thu về cùng gió heo may
ta chợt nhớ một mùa thu cũ
của sài gòn, hà nội, xưa sau

Thu, em, Cali, một ngày rất vội
cái lạnh se da làm buốt lòng người
đốt chút lửa cho lòng ấm lại
hong cuộc tình, vầy chuyện trăm năm.

Trần Yên Hòa

Ngự Thuyết: Biệt Ly (Đôi Bạn)


Biệt ly! Lại biệt ly! Hai chữ ngắn ngủi này xuất hiện rất nhiều trong văn, thơ, nhạc. Và dĩ nhiên trong tiếng nói hàng ngày. Đông, Tây, Kim, Cổ đều có nó. Nó là nỗi ám ảnh dai dẳng của con người, khi ẩn khi hiện, nhưng không bao giờ dứt. Nó đan quyện, chằng chịt, đổ vỡ, đứt lìa, nối tiếp. Biệt ly tuổi thơ ..., biệt ly tình yêu ..., biệt ly quê hương ..., biệt ly thời gian, không gian. Cuối cùng biệt ly cuộc sống để đi vào một cõi vĩnh hằng, hay một cõi vô định nào đó. 

Cần gì phải đến sân ga, bến xe, bến đò, sân bay mới gặp biệt ly. Biệt ly vẫn diễn ra ngay trên con đường, trên dòng sông, trong đám bèo trôi, trong chiếc lá rụng, trong tiếng chim kêu. Cả trong gió, mây, khói, sóng. 

Gặp biệt ly? Một lối nói nghịch lý, mới mẻ, sáng tạo? Không, không phải thế. Khoảng 80 năm về trước, trong thơ của Xuân Diệu, một nhà thơ nhiều sáng tạo, đã có những câu:

Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt

(người viết tô đậm)

Hay rõ hơn:

Tôi dạo tìm thơ gặp biệt ly

(người viết tô đậm)

Trong thơ cổ, trong Chinh Phụ Ngâm, Đoạn Trường Tân Thanh, và trong Thơ Mới tiền chiến, đề tài biệt ly dường như không bao giờ cạn nguồn. Cho nên đã nói đến, còn muốn nói thêm. 

Lần này nói thêm này, trước hết, xin đề cập đến Tản Đà với biệt ly giữa người tiên, kẻ tục. 

Trần Văn Nam: Sông Mã qua bút ký và truyện ngắn của Phạm Xuân Đài và Nguyễn Tường Thiết

               Sông Mã, đoạn chảy qua trước trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa

Không hiếm gì những dòng sông có liên hệ đến tác phẩm văn học của một tác giả. Nếu kể ra hết thì nhiều quá, có khi ta bỏ sót một tên tuổi nào đó mà không hay. Nếu kể về vĩ đại trên bình diện thế giới thì chắc ta không thể bỏ sót, như “Sông Don Êm Đềm” của nhà văn Nga giải Nobel văn chương Mikhail Sholokhov viết về chuyện tình trong bối cảnh buổi giao thời nội chiến ở nước Nga giữa các phe thuộc Nga Hoàng và lực lượng Cộng Sản Sô Viết đang dấy lên hồi đầu thế kỷ 20; và trong bối cảnh ven hai bờ sông Don hùng vĩ của dân Cossacks (loại người thuộc nhiều chủng tộc ở phía cực Nam nước Nga, rất thiện chiến, giỏi về kỵ binh, trước nội chiến vốn là sức mạnh phòng vệ đắc lực cho chế độ phong kiến Nga Hoàng). Hoặc như tác phẩm “Cuộc Phiêu Lưu của Huckleberry Finn” của nhà văn Mỹ Mark Twain viết về cuộc phiêu lưu trên sông Mississipi vĩ đại của một thiếu niên, qua đây nhà văn Hoa Kỳ thể hiện rất sinh động đời sống văn hoá người Mỹ ở hai bên bờ con sông dài, trong đó cũng có vần đề người da trắng người da đen. Với thiếu niên này, trên chiếc bè, dài theo con sông thao thao truyện kể về một xứ sở, về một dân tộc, về một tình bạn (With this boy, on this raft, along this river flows the story of a country, a people and a friendship). Cũng như âm nhạc trên bình diện phổ biến cho toàn thế giới, chắc ta sẽ không bỏ sót dòng sông Danube của nhạc sĩ Johann Straus; với khảo cổ thì có dòng sông Nile ở Ai Cập; với tôn giáo thì có dòng sông Hằng bên Ấn Độ; với lo âu cần phải bảo vệ môi trường xanh cho Trái Đất thì phải kể đến dòng sông dài nhất thế giới Amazon ở nước Brazil; với tranh chấp nguồn nước trong tương lai thì chắc là sông Mekong, vì nó có liên hệ đến một cường quốc đang lên gây lo ngại cho cả vùng Đông Á...

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Nguyễn Tường Thiết: Mưa Đêm Cuối Năm

Nhà văn Võ Phiến
1975- Năm đó tôi gặp lại anh thật bất ngờ. Đúng vào cái buổi sáng đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ. Chiều hôm trước chúng tôi được chuyển đến một trong bốn trung tâm tiếp cư cho nguời tỵ nạn, trại Indiantown Gap thuộc tiểu bang Pennsylvania. Sáng sau tôi đến Processing Center lập thủ tục nhập trại. Chúng tôi ở barrack số 8. Từ đó đến khu Trung Tâm tôi phải cuốc bộ khá xa, trên một con đường có hàng cây phong thâm thấp trồng rất thẳng hàng. Bên trái là dẫy mess halls một từng nền xi-măng nhô cao mái màu xanh lá cây dùng làm phòng ăn cho dân tỵ nạn. Bên phải là bãi cỏ trống rất rộng hình như là sân banh của trại lính. Tuy là tháng sáu mùa hè nhưng sáng hôm đó trời cũng lành lạnh như đã vào thu. Khi đi qua cánh đồng cỏ trống tôi hít thở không khí của nước Mỹ và cảm thấy không khí nhẹ tênh. Một con sóc từ trên đùm lá phong thoăn thoắt đổ dọc thân cây, chạy băng mặt đường. Một con khác đứng cạnh thùng rác của barrack, nó đứng thẳng trên hai chân sau đang gậm nhấm thức ăn bằng hai chân trước, đôi mắt lơ láo nhìn tôi thách đố. Hồi đó tôi không quen thấy cái dạn dĩ của những con thú hoang nên rất đỗi ngạc nhiên.

Nguyễn Tường Thiết: Mưa Đêm Cuối Năm (Tiếp theo và hết)

Ông bà Võ Phiến

1976- Hôm đó nhân rạp hát gần nhà có chiếu phim cũ Cuốn Theo Chiều Gió ấn bản mới vợ chồng tôi kéo đi xem, nhân thể cho biết mặt mũi rạp xi-nê ở nước Mỹ ra sao. Hồi còn ở Sài Gòn chúng tôi mê xem xi-nê lắm. Rạp Rex, rạp Eden, rạp Vĩnh Lợi, rạp Đại Nam... Lần nào cũng thế hết phim ra khỏi rạp là cảnh vật bên Mỹ đứt rụp, đối diện ngay với thực tại là cái trưa hè nắng chói chang, cái bùng binh Sài Gòn đông ngụt người. Lần này ra khỏi rạp, đứng trên thềm cao đảo mắt tìm chiếc xe hơi của mình đậu trong khu parking vắng hoe của Lakewood Mall, thốt nhiên tôi lặng người. Thoáng cái tôi không biết là mình đang ở Mỹ vừa đi ra khỏi rạp xi-nê hay là tôi đang ở Việt Nam vừa bước vào trong rạp! Cứ như thế... như thế... năm đầu tiên của tôi ở Mỹ đời sống trôi đi mơ màng như không thực. Đầy những khắc giây những giấc mơ Trang Tử thời đại!

Mauro Senesi: Lỗ Hổng (Trần Doãn Nho dịch)

(Mauro Senesi là một khuôn mặt lớn trong văn giới Ý hiện đại. Ông sinh ở Volterra Tuscany vào năm 1932, nhưng sống ở Florence. Ông là một nhà văn sung sức viết nhiều và viết về mọi đề tài. Truyện ngắn “The Breach” (Lỗ hổng) sau đây được đăng trên tạp chí “The Atlantic”, Hoa Ky). 

Con đường đi vào nghĩa trang hẹp và mấp mô. Gần đây, người ta phủ một lớp nhựa đường mới và ngày đưa đám Alderman trời lại mưa, nên con đường trở nên bóng láng như gương đến nỗi người ta có thể soi mình vào được. Vì thế, nên các cô gái của Viện Mồ Côi cứ nhìn trộm mãi bóng mình trong đó. Tôi cũng thế, tôi nhìn hình dáng phản chiếu của các cô gái lộn ngược chống lại một nền trời đầy mây xám, với những bím tóc đong đưa như cái đuôi diều.

Thế rồi cơn mưa lớn dần khiến các bà nữ tu phải bảo các cô mở dù ra che.

Các cô được điều đi phục vụ trong mọi tang lễ - thị trấn chúng tôi nhỏ, nhưng ngày nào cũng có người chết - ngoại trừ tang lễ của những người nghèo không đủ tiền để trả chi phí cho Viện Mồ Côi. Các cô gái xếp từng hai cô một, ngoằn nghoèo thành một dãy dài, những cô nhỏ nhất đi đầu, tay cầm những bó hoa huệ, còn các cô lớn thì xếp ở những hàng phía sau. Những người đứng cuối cùng hầu như đều đã ở tuổi trưởng thành, và dưới cái áo choàng đen mỏng manh, người ta có thể thấy rõ đường nét của những cặp vú.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Ngô Nguyên Dũng: bay trong chiêm bao tôi


trong giấc ngủ. thường khi
tôi thấy mình bay lượn
dọc ngang tiềm thức
chập chùng đêm ...

tôi xuyên qua đại dương
tưởng đã ngủ yên. những thập niên
vượt biển. chợt bùng lên. bão tố.
tôi là cánh diều băng gió
trong thảm kịch của chủ nghĩa
đánh tráo lương tâm. bằng bạo lực.

tôi bay trên phố phường
trên những con đường lạ tên
mùa mưa. ôi. những nắng sáng mưa chiều
những mùa màng hoa niên.

Đàm Duy Tạo: Chương 15 - Kim Vân Kiều Đính Giải

Kim Vân Kiều Đính Giải
Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018

o o o O o o o

CÂU 1227 ĐẾN CÂU 1370
“Lầu xanh vui gượng, Phận bạc lo xa”

1227. Lầu xanh, mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người. [1]
1229. Biết bao bướm lả, ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
1231. Dập dìu lá gió, cành chim, [2]
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. [3]
1233. Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
1235. Khi sao phong gấm rủ là, [4]
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
1237. Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
1239. Mặc người mưa Sở, mây Tần, [5]
Những mình nào biết có xuân là gì!
1241. Đòi phen gió tựa, hoa kề, [6]
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
1243. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
1245. Đòi phen nét vẽ, câu thơ, [7]
Cung cầm dưới nguyệt, nước cờ trong hoa,
1247. Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó, mặn mà với ai?
1249. Thờ ơ gió trúc, mưa mai, [8]
Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.

Mai Kim Ngọc: Du ký - Ai Lên Xứ Lạng (Tiếp theo và hết)

Sự đơn giản của nàng vọng phu Quebec làm tôi ghi nhận sự súc tích của chuyện Tô Thị. Cả một nền văn hóa của quê cũ hiện ra, tầng tầng lớp lớp, mỗi tầng mỗi lớp là một chiều sâu khác nhau của tâm hồn Việt Nam. Lớp ngoài giản dị nhất, là cái đạo lý Khổng Mạnh với chuyện chung thủy vợ chồng, chuyện tiết hạnh của người đàn bà, chuyện chí trai phục vụ đất nước... 

Dưới cái hình thức phải đạo này là cái u uẩn của tội loạn luân. Nhưng loạn luân ở đây không đơn giản và dứt khoát một ngả như ở văn hóa khác. Trong hoàng tộc cổ Ai Cập, loạn luân không phải là tội. Hoàng tử lấy công chúa em gái mình với sự chúc phúc của hoàng gia, triều đình, và thần dân. Có lẽ cũng không có chữ loạn luân với ý nghĩa phê phán, mà sự việc được chỉ định bằng những từ trung lập đại để như ‘hôn nhân đồng máu huyết.’ Ngược lại sự cấm đoán có thể tuyệt đối đến nghiệt ngã tại những xã hội không hẳn văn minh hơn mà có khi còn bán khai. Tại một bộ lạc Phi Châu, cặp trẻ song sanh một trai một gái vừa ra đời tức thì bị hy sinh để tế thần. Chúng bị coi như đã phạm tội gần gũi người cùng máu huyết suốt thời gian chung chạ trong bụng mẹ. Hai xã hội là hai thái cực, mà hai cách luận tội cũng là hai thái cực khác.

Trở về quê hương, sự tích nàng Tô Thị không đơn giản như vậy. Nó phản ánh một văn hóa đã phát triển đến mức tinh vi, và tư duy của quần chúng đã đến mức tế nhị. Chuyện định tộiloạn luân tuy cũng giống như trong mọi xã hội văn minh khác, nhưng chuyện luận tộilại đặc thù ở chỗ uyển chuyển và tinh vi. Người anh vô tình phạm tội, cho đến khi chưa biết sự thật thì không có tội. Nhưng một khi sự thật đã tỏ tường, tức thì tội lỗi hồi sinh và anh phải đón nhận hình phạt. Anh phải lẳng lặng dứt tình vợ con mà bỏ nhà ra đi. 

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Mai Kim Ngọc: Du ký - Ai Lên Xứ Lạng (Kỳ 1)

Nàng Tô Thị, hình Internet

Những xôn xao thời sự về mất biển mất đất với Trung Quốc làm tôi nhớ lại nhiều sự việc liên hệ đến biên thùy Hoa Việt, trong đó có sự tích Tô Thị. Rồi tôi liên tưởng đến bài đồng dao‘Ai Lên Xứ Lạng’, nhắc đến tiết phụ hóa đá ngay trong câu 2. Và sau cùng, tôi nhớ đến một người đàn bà trẻ đẹp mà không may mắn, đã có hồi gắn bó mật thiết với cuộc sống của bản thân tôi. Người đàn bà đó là vú tôi, và vú thường ru tôi với bài ‘Ai Lên Xứ Lạng’... 

Một tam giác tình tự xuất hiện, tiềm tàng trong tâm thức tôi, với ba người đàn bà chiếm giữ ba góc. Đó là nàng Tô Thị, người đàn bà không tên trong ‘Ai Lên Xứ Lạng’, và vú tôi. Tôi không nghĩ đến tam giác này cho đến năm ngoái nhân tham quan vùng cửa sông Saint Laurent của Quebec, thấy người lại ngẫm đến ta, tôi cảm thấy phải ngồi xuống viết lại câu chuyện.

*

Bắt đầu bằng bài đồng dao. Tôi nhớ hôm đó tôi đã lớn, và tôi được nghe mẹ tôi ru cháu nhân dịp anh tôi mang vợ con về trình diện bà. Mẹ tôi ru:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...”

Tôi buột miệng:

“Con biết bài hát này.” 

Và tôi đọc mấy câu tiếp theo:

“Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mảng vui quên mất lời em dặn dò
Gánh vàng gánh bạc đi đổ sông Ngô
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương...”

Khánh Hà: Về Đâu


Một mình giữa cõi nhân gian
Nhìn rừng cây lá úa vàng ngẩn ngơ
Mùa thu về tự bao giờ 
Rào cây chín đỏ, lửng lơ mây trời
Âm thầm từng chiếc lá rơi
Bao nhiêu xác lá qua đời về đâu
Về nguyên bản thể ban đầu
Đất lành ấp ủ hoa mầu mùa sau
Xuân về lá mới lao tao
Hồn nhiên cây cỏ vẫy chào nhân gian
Hỏi chòm mây trắng lang thang
Gió đưa gió đẩy hợp tan vô chừng
Hôm nào thành mưa rưng rưng
Giọt dài giọt vắn bâng khuâng lòng nguời
Ngàn cây nội cỏ mát tuơi
Biển hồ sông nước đang vơi lại đầy
Một vòng sinh tử loay hoay
Chẳng còn chẳng mất, như ngày nguyên sơ
Ta qua quán trọ tình cờ
Vay từng hơi thở viễn mơ một đời
Hôm nao trả lại đất trời
Trở về nguồn cội một thời lìa xa.

K.H.

Nguyễn Thị Hậu: Tạp bút - Những Góc Nhỏ Sài Gòn

Tiệm làm tóc bình dân


Sài Gòn có đến hàng ngàn tiệm bình dân cắt uốn tóc làm móng tay chân, phần lớn nằm trên những con đường nhỏ hay trong hẻm. 

Hồi những năm 1990 tôi hay đến một tiệm làm tóc trên đường Mạc Đĩnh Chi quận Một. Tiệm là một gian phòng nhỏ khoảng 6 mét vuông cơi nới từ tường rào của một công sở, cao hơn vỉa hè đến gần 1 mét nên có hai bậc thang gỗ gá tạm, khi nào mấy anh quản lý đô thị của phường buồn buồn đi ngang thì vội vàng kéo vào, nếu không thì bị phạt vì “lấn chiếm vỉa hè”! Hai ghế ngồi cắt tóc làm móng, một ghế nằm gội đầu, vài dụng cụ uốn tóc… tất cả xếp đặt gọn gàng hợp lý trong không giản nhỏ xíu. Trên tường một tấm gương lớn và mấy tấm hình các kiểu tóc của phụ nữ. Tiệm chỉ có cô chủ cũng là thợ chính và một cô thợ phụ. Cô chủ từ Long Khánh lên Sài Gòn vài năm, tính tình vui vẻ, làm tóc kỹ càng nên tiệm lúc nào cũng đông khách là nhân viên các công sở xung quanh. Có bữa buổi trưa ghé ngồi chờ hết giờ nghỉ cũng chưa tới lượt vậy mà ai cũng vui vẻ nói “thôi mai chị ghé”, “chiều cuối giờ em ghé nha”. Sau hơn 20 năm bây giờ cô chủ đã có một tiệm lớn đàng hoàng ở mặt tiền một con đường gần đó, có dịch vụ matxa, chăm sóc da mặt, thợ làm công có đến hơn chục người. Khách đến tiệm nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu xe hơi đưa đón và cả khách quen cũ vẫn xe máy “cà tàng”, tất nhiên giá cả không còn bình dân nữa nhưng ai cũng hài lòng vì chất lượng và thái độ thân tình vui vẻ.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Phạm Thành Châu: Tìm Con

Qua khỏi Cầu Sơn, Thị Nghè (Hàng Xanh), gã để chiếc xe đạp từ từ trôi xuống dốc, rồi quẹo vào xóm trên con đường gập ghềnh những mô đất và những vũng nước dơ bẩn. Gã lắc chiếc chuông đồng nhỏ treo tòn teng dưới ghi đông xe để báo hiệu cho mọi người biết, ra mua kẹo kéo, mua vé số hoặc dò số. Đôi khi, theo thói quen, đang đạp xe trên đường vắng, gã cũng thò ngón tay út xuống cái chuông, khều cho nó kêu leng keng, chẳng vì mục đích nào cả. Gã chuyên bán kẹo kéo và vé số. Phía sau xe là một thùng có cục kẹo lớn, khi bán kẹo, gã kéo ra một khúc nhỏ, bẻ gãy và trao cho khách. Cục kẹo lớn đó, gã bán cả ngày cũng chưa hết. Phía trước xe gã treo một mớ đồ chơi trẻ con bằng nhựa. Những con thú, chiếc kèn, cây súng... đủ màu sắc. Khi có người mua, gã mở hộp kẹo ra. Phần nắp có một cái khung để một trái banh nhỏ. Ai mua kẹo cũng được bắn một phát súng hơi, nhắm vào trái banh, nếu bắn rớt trái banh thì ngoài khúc kẹo còn trúng thưởng một món đồ chơi. Trẻ con và cả người lớn đều thích trò chơi nầy. Ít người bắn trúng vì viên đạn là một nút điên điển nhẹ, khi rời nòng súng là đi chệch hướng ngay. Gã còn bán vé số, số đề nữa. Mỗi ngày có đến năm bảy tỉnh mở số, kết quả được gã chép vào một miếng giấy nhỏ, treo trước xe cho người ta tiện dò số. Khoảng bốn, năm giờ chiều, sau khi các đài phát thanh công bố các lô trúng, gã đến huyện đề nhận tiền trúng giao cho người may mắn. 

Người gã cao lớn, râu ria mọc chơm chởm trên khuông mặt lầm lì. Khi nói, cả hàm râu quanh miệng gã chuyển động giống mấy con sâu róm khổng lồ cựa quậy. Hai vai rộng, chân tay dài lòng khòng, người hơi gập về phía trước. Đôi mắt vừa u uẩn vừa vô hồn, như không thấy gì ngay cả khi đối đáp với ai. Chỉ với bọn trẻ nít, gã mới trở nên linh động, vui vẻ. Gã rất tử tế với chúng, có khi tặng kẹo cho những đứa không có tiền. Buổi sáng và giờ tan trường, gã bán kẹo trước cổng các trường học. Gã thường móc trong túi áo ra hình chụp một đứa bé khoảng năm, sáu tuổi và hỏi bọn trẻ "Các em có thấy đứa nào giống như thằng nhỏ nầy không?" Bọn trẻ tò mò nhìn hình đứa bé và lắc đầu. Có đứa hỏi "Nó là con của chú hả?" Gã gật đầu "Con chú nhưng bị thất lạc mấy năm nay rồi. Bây giờ chắc nó lớn lắm, cỡ các cháu. Mấy cháu đây, có cháu nào là con nuôi của gia đình nào không?" Bọn trẻ nhìn nhau lắc đầu.

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Giới thiệu sách mới: Xứ Động Vật của nhà văn Cung Tích Biền


Diễn Đàn Thế Kỷ hân hạnh giới thiệu cuốn Tân truyện đầu tiên của nhà văn Cung Tích Biền xuất bản từ khi ông định cư tại Hoa Kỳ. Sách dày 274 trang, do Nhân Ảnh xuất bản năm 2018, gồm một số truyện tác giả sáng tác trước đây khi còn sống tại Việt Nam.

Liên lạc với nhà xuất bản Nhân Ảnh : hanle3359@gmail.com, điện thoại (408) 722-5626.

Một vài tâm sự của tác giả với DĐTK :

“Xứ Động Vật là một trong các sáng tác tôi viết ngay khi còn ở trong nước, trong lòng một chế độ mà lịch sử hẳn biết là chúng đối xử những người làm văn chương văn hóa ác nghiệt như thế nào.

Không than van, không đầu hàng hoàn cảnh. "Sống với họ mà không là họ", tạm ví von vậy, cũng là một thái độ cần thiết...” 

Trong số này, mời độc giả theo dõi một truyện trích từ Xứ Động Vật với sự đồng ý của tác giả.

DĐTK

Cung Tích Biền: Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ

[gồm 3 tiểu truyện]

I

BÓNG

II

LÀNG VÀ SÔNG

III

XƯƠNG THẠCH TÍN

I
BÓNG


Tàu đường sắt chạy trong đêm. Chừng giờ này đã tới miền trung Trung bộ.

Lão Kiên đi tàu hạng nằm. Mỗi phòng có bốn giường ngủ; hai tầng. Lão nằm giường bên dưới để bớt độ lắc lư. 

Hòa bình đã nhiều năm, đầu máy tàu được thay mới, các phương tiện phục vụ hiện đại hơn, nhưng đường tàu vẫn còn là con đường sắt hẹp, bề ngang non một mét, được người Pháp làm ra từ đầu thế kỷ trước, thời đô hộ. Tương truyền vua Khải Định có dự lễ khánh thành.

Thời nội chiến, đường tàu bị phá hoại tan nát, nhưng khi đất nước hòa bình nó được sửa chữa, vẫn kích thước đó. Không có kinh phí đủ để làm một đường tàu rộng hơn theo mẫu đường hiện đại. Chỉ trên cái nền cũ thời thuộc địa. Lắp ghép lại những vật liệu cũ, đáng ra phải phế thải. Nên đường ray hẹp, lỗi thời; tốc độ rùa. Thường xuyên gây tai nạn nơi những đường bộ cắt ngang. Mỗi tai nạn có ngay cái chết tập thể, rất tang thương. 

Tàu chạy càng nhanh sức chịu của đường ray hẹp bên dưới càng khổ sở. Lão Kiên tưởng như cái sống lưng mình xoắn lại, cong vổng lên theo tính khí con tàu. Đôi khi máy gào thét, nó lồng lên như con cọp điên nhưng lúc đó tốc độ cũng chỉ… chừng bốn chục cây số giờ. Dù bực mình cái chậm, lão Kiên lại rất sợ tàu tăng tốc. Nó có thể rời khỏi đường ray và bay xuống những vực sâu hai bên đường bất cứ lúc nào.

**

Lão Kiên thấy nao nao, khi màn sương về sáng tan dần, bày ra nhấp nhô vùng ánh điện xa xa một thị trấn. Lão tắt đèn ngủ. Kéo cái màn mỏng che cửa sổ. Giăng bên trên thị trấn mờ nhạt ánh đèn là giải núi ngây ngây dưới lưỡi trăng bạc hạ tuần.

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Trần Kiêm Đoàn: Bún Bò Huế (Kỳ 1)

Hình Internet
Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế.” Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn Lân dịch)

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào. 

Trần Kiêm Đoàn: Bún Bò Huế (Tiếp theo và hết)

Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn giấu lắm công phu.

Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ... Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường giấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và loại bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề.” Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải. Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.

Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở.”

Cổ Ngư: Khu vườn bí mật

Hình minh hoạ, Juan Barreto/AFP/Getty Images
Khi tiếng dương cầm vừa ngân
Chiếc khóa Sol bỗng hóa thành đũa thần
Mở giưã hồn anh một khoảng vườn bí mật,
Có dấu tròn ngây ngất hương hoa,
Dấu đen mượt mà hơn cỏ lá
Và từng đàn bướm lạ
Hóa thân từ những móc đơn
Bay vờn trong gió.
Có em,
Nhỏ nhoi như một bông hoa hiền hòa bên suối,

Cúi nhìn những phím trắng trôi đi,
Những phím đen thành đá cuội,
Mà bọt sóng cười nghìn nốt nhạc pha lê
Vỗ về cơn nắng,
Để anh mãi chơi vơi cả một đời dấu lặng
Vẫn mang nặng trong tim
Bao tiếng vọng tuyệt vời...

Saigon 22.10.1984

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Ý Nhi: Người đứng bên kia đường

Hình minh hoạ, nền FreePik
Khí lạnh bỗng chốc tràn ngập cả căn phòng đóng kín, phủ trùm lên bàn ghế, tủ giường, quần áo, sách vở… 

Gió mùa, ông thì thầm, đưa tay đẩy mạnh cánh cửa sơn màu vàng nhạt, rồi tựa ngực vào bệ cửa, nhìn xuống phố. Bên kia đường, có kẻ nào đó đứng trong gió lạnh, nhìn về phía ông, vẻ như chờ đợi giây phút ông mở tung hai cánh cửa. Trong thoáng chốc, ông nghĩ mình vừa bắt gặp một ánh nhìn.Trống ngực ông đập loạn xạ. Để tự trấn an, ông cúi xuống, châm một điếu thuốc. Khi ngẩng lên, ông nhìn thấy một đốm lửa nhỏ trên môi người đối diện. Đốm lửa nhấp nháy một chút rồi chợt bùng lên, lan rộng ra, nhạt dần và lịm tắt. Trước mặt ông chỉ còn lại khoảng không đầy gió. Ông giơ tay chới với, như làm một cử chỉ chào hỏi. Hai cô cậu choai choai bá vai nhau đi qua, ngoái nhìn ông, giơ tay hươ hươ như đáp lời rồi cười phá lên, bước nghiêng ngả trên đường. Gần như tiếp ngay sau họ, một người phụ nữ cúi xuống nhấc đứa nhỏ lên và ấp nó sát vào mình để sưởi ấm. Tiếng cười của đôi trẻ và cử chỉ dịu dàng của người phụ nữ làm ông tỉnh trí. Ông nghĩ, hình ảnh người đàn ông và đám lửa chỉ do mình tưởng tượng ra. Hiệu ứng của cơn gió đầu mùa chăng, ông nghĩ và mỉm cười.