Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

Trần Mộng Tú: Như Mưa Thấm Đất


Mùa hè năm 1954 tôi mới được 10 tuổi. Tôi chưa học hết tiểu học. (Vì gia đình tôi hồi cư về Hà Nội trễ.) Hai bàn chân bé của tôi được tham dự vào “Cuộc bỏ phiếu bằng chân” của một triệu người miền Bắc di cư vào Nam.

Lúc đó ba tôi đang làm việc cho Sở Địa Chánh, Hải Phòng. (Ba tôi từ Hà Nội thuyên chuyển xuống làm việc ở đây đã được gần 4 năm).

Sau những năm loạn lạc từ Hà Nội về Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định rồi hồi cư muộn màng về Hà Nội (vì sợ Pháp bắt lại dọc đường). Cha mẹ tôi chắc chắn không còn chọn lựa nào khác ngoài việc vào Nam để tránh Cộng Sản. Phải bỏ nhà mà đi thôi.

Gia đình tôi bắt đầu bán dần đồ đạc trong nhà. Từ cái to lớn như cái giường ngủ Hồng Kông của ba mẹ, cao lêu khêu có bốn cái cột đồng để giăng màn, cái sập gụ, tủ chè, cái bàn tròn gỗ mun mặt bằng đá, đôn sứ cho đến những cái nhỏ bé như chậu rửa mặt bằng đồng, bát đĩa, nồi xoong. Người đến mua, là những người ở lại, không tính vào Nam, nhân cơ hội này họ kiếm được chút tiền. Mua xong họ mang ra chợ trời bày la liệt ngoài đó bán lại, nên lúc nào cũng có người lạ ra vào nhà tôi tấp nập.

Nhà tôi ở ngay trước Vườn Hoa Con Cóc, nơi người ta mang những thứ mua đi, bán lại bày ra ở đó, nên buổi trưa, tôi có thể theo anh chị lớn ra xem chợ trời.

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, X - Về quê Bắc

Tôi là người Bắc thì miền Bắc nhật định là quê hương tôi rồi, nhưng tại sao, ngoài tên làng Hành Thiện nơi mẹ tôi sinh ra và làng Doanh Châu quê thầy tôi, là hai cái tên tôi thân lắm, như có thể mày tao với chúng được, tôi còn chơi thân cả với nhiều tên khác, như Gia Bình, Bất Bạt, Bạch Hạc, Tiêu Sơn, Long Giáng, Châu Mộc, Vụ Bản... chúng cũng làm tôi "rung động" không phải rung động kiểu tuyết thuyết diễm tình, mà khi nghe những tên này, tôi cảm thấy như ai gọi tên mình, một tý tên mình thôi, không phải tất cả, vì nào có phải tên mình. Tôi tìm hiểu mãi vụ này mà không ra manh mối. Chỉ biết đích xác rằng tôi ở Pháp đã hơn nửa thế kỷ, mà ai gọi tên Lyon, Marseille, ngay cả Versailles huy hoàng như thế, tôi cũng tỉnh bơ như không dính dáng gì đến mình. Nhưng chưa về đến Phú Thọ, tôi đã nghe bụng dạ báo động: sắp tới Đoan Hùng rồi đấy! Hơn hai mươi năm trước, khi cả nước còn luỹ tre xanh, xe còn đi đường quốc lộ, thường ghé Đoan Hùng. Bây giờ nước đã thành thị hoá, xe đi xa lộ cao tốc, tôi mất cả tre xanh, mất cả Đoan Hùng, mất cả đồi chè Phú Thọ vì chè đã dọn sang Thái Nguyên, nhưng tim tôi vẫn nhớ những địa chỉ cũ, dù có nơi tôi chưa đến bao giờ, bởi chúng là địa chỉ của những Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Cầm, Quang Dũng... truyền lại cho tôi. Như Đoan Hùng là nơi Mai Hương và Lê Phong đặt phòng thám tử, hồi nhỏ đọc sách trinh thám Thế Lữ thích lắm, bây giờ đọc lại thấy hết hay, nhưng vẫn cứ nhớ. Như Long Giáng của Khái Hưng trong tưởng tượng. Như Vụ Bản nơi giam cầm Gia Trí, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Như Châu Mộc, nơi đoàn quân không mọc tóc của Quang Dũng đã đi qua... những điạ chỉ ấy nó dính vào mình, nó nhỏ vào tim những vệt son một lần, là không tẩy đi được.

Rạp hát Chuông Vàng

Phùng Cung: Mộ Phách (Kỳ 2)

Nắng chiều đã lùi khỏi hàng giọt tranh, hai vợ chồng Tư Chản lại nón lá xùm xụp trên đầu, quai căng thẳng dây diều dưới cằm; lại khoác tuổi chiều xéo lên bóng nhau lúi húi vườn rau; lại ngóng tin con gái, đợi thư con trai; lại nghe gió lào xào trên cây lá - hết ngày...

Ra Tết, đang mùa của ngày xưa hội hè lễ bái, du xuân - gió chạy quanh trời, mây trắng lững thững đi, về muôn ngả. Không gian đang dọa một cái rét nàng Bân.

Ðáng ta mới tí tuổi đời, từ bữa được vào đảng ủy xã - cờ đến tay thằng nào cũng phất - lời đầu lưỡi vụng trộm của xóm làng - nay xem ra cũng tạo vẻ mặt chững chạc, cũng nghiêm nghị, cũng xuề xòa, cũng cười khẩy, đầu khi lắc, khi gật có trọng lượng, đủ tư cách một tín đồ có hạng của đạo mới, đủ khả năng chăn dắt đàn dân... Bà con hàng xóm đến nhà cán bộ sớm tối, hỏi chuyện nọ bọ chuyện kia; có người gọi là bác Ðáng, người thì gọi ông Ðáng, để tỏ lòng tôn trọng đảng ủy, tôn trọng chính quyền, tôn trọng cán bộ. Mẹ Ðáng - bà Thước - tất nhiên lấy làm hãnh diện, còn luôn miệng phàn nàn trước mọi người, về con trai mình trên trao nhiều việc, cơm chẳng kịp ăn, ngủ không ngon giấc. Bà thường một mình ngán ngẩm tiếc chồng bà không sống đến ngày nay!

Từ chiều hôm qua, bà Chản lúc lúc lại máy mắt. Hai vợ chồng đồ đoán: hoặc con Nhiễu bế con về chơi, hoặc thằng Thuyên về phép. Bà Chản nghĩ thương con Nhiễu neo đơn, vất vả chắc chắn chả về được dịp này; có chăng chỉ là Thằng Thuyên. Trong năm Thuyên có gửi thư về báo tin được nghỉ phép vào dịp Tết; không biết lại bận công tác gì mà mãi đến ngày nay chưa thấy về, cũng không thư từ gì. Nỗi băn khoăn thông thường nhưng cứ lẽo đẽo trong mong đợi của vợ chồng ông bà Tư Chản. Một lúc sau có tiếng chân người từ ngõ vào. Cả hai vợ chồng Tư Chản đều nghển phía cổng. Bà Chản mau miệng thốt lên: 

- Ôi! Thằng Thuyên đã về.

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019

Trần Mộng Tú: Cái Bếp Của Tôi

Hình minh hoạ, FreePik

Cái Bếp của tôi là một thế giới thu nhỏ
nó chứa trong đó tất cả buồn vui
tiếng cười vỡ toang
hạnh phúc
ngậm ngùi

Giọt nước mắm tròn như giọt lệ
nên bao giờ cũng nghe mằn mặn trên môi
những hạt đường là những tiếng cười
tiếng cười khẽ giúp quên đời quá mặn

Những hạt muối nêm vào khi đời bỗng dưng quá nhạt
để không quên muối mặn gừng cay
một muỗng dầu làm nên sự đổi thay
giúp chiên dòn phi thơm những điều khó chịu

Ts Phạm Trọng Chánh: Sử Thi Odyssée - Thi Hào Homère Dẫn Nhập

Homère là là thủy tổ của nền văn học Tây Phương. Iliade và Odysée là hai kiệt tác của nền văn học nhân loại, ra đời cách chúng ta gần ba ngàn năm, nó vẫn làm say mê mọi người trong suốt gần 30 thế kỷ. Ba nghìn năm qua các Thần thánh, vua chúa, anh hùng, giai nhân, thành quách, lâu đài đều sụp đổ, tan biến chỉ còn thơ Homère viên ngọc quý giá, bất tử với thời gian.

Theo Sử gia Hy Lạp Hérodote, thế kỷ thứ V trước Tây Lịch, Homère sống trước ông 400 năm, nghĩa là Homère sống vào thế kỷ thứ IX trước Tây lịch. Ông sinh tại Milet một bến cảng miền Tiểu Á nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Theo truyền thuyết ông mù mắt, ông kế lại cho môn đệ ghi chép hai trường ca vĩ đại. Tiếng địa phương vùng Eolien, Homère chỉ có nghĩa là ông già mù. Thời Cổ Đại, người ta thường gán một nguồn gốc thiêng liêng cho những thiên tài, anh hùng, giai nhân sinh ra ngoài hôn nhân . Mẹ có lẽ một cô gái trót yêu một chàng du tử thi sĩ, nàng say mê tiếng hát cung đàn nên trao thân một đêm, sau đó chàng ra đi, cuộc đời du tử thi sĩ nay đây mai đó kể chuyện, ngâm thơ đệm đàn lyre nuôi thân. Homère sinh ra không có cha bên bờ sông Mèles được đặt tên là Mélésigénès. Thời cổ đại có đến 12 tiểu sử khác nhau, mười hai địa danh giành nơi Homère sinh ra dọc theo bờ biển Tiểu Á, Anatolienne và các đảo lân cận: Kymè, Smyrne, Colophon và Chios có tiểu sử còn cho ông sinh ra ở Athènes, Ai Cập hay Rome. Điều này chứng tỏ ông đi khá nhiều và được nhiều nơi biết ̣đến. Thời đại ông sinh ra có tiểu sử cho rằng ông dự kiến cuộc chiến thành Troie, có tiểu sử lại cho ông sống thời đại vua Lydie Gygès năm thế kỷ sau.

Mẹ Homère được một thầy dạy học kiêm du tử tên là Phémios gá nghĩa, Homère được ông nuôi nấng, dạy học, dạy đàn, hát, kể chuyện. Các tiểu sử cho mẹ ông nhiều tên khác nhau : Critheis, Hyrnèthès hay Hynéthès. Cha ông tên : Maion, Créton hay Alèmon. Trong Odyssée, Homère đã cho người du tử ở Ithaque tên Phémios của mình. Theo truyền thuyết Homère đi hát dạo nay đây mai đó, từ vùng Tiểu Á đến Rome, Etrurie và Espagne, địa bàn sinh sống các thuộc địa, các thương cảng dân Hy Lạp ngày xưa.

Phùng Cung: Mộ Phách

Nhà văn Phùng Cung
LTS.- Theo lời nhà phê bình Thụy Khuê, Mộ phách viết về thời kỳ cấm ca trù của đảng Cộng sản Việt Nam, đập đàn đáy, chôn phách, vì người ta cho rằng : “Từ nay cái nghề ca trù càn rỡ dông dài phải tự tay đào sâu, chôn chặt, không để nấm mồ, không luyến tiếc”

*

- Ông ơi! - tiếng gọi thì to - cái thằng mặt dầy sang làm gì đấy? - tiếng hỏi thì nhỏ dần.

Bà Khuê vợ ông Tư Chản vừa từ chợ Phùng về đến lối rẽ đầu bờ ao, nhìn thấy người mà bà không ưa, từ sân nhà bà qua lối bờ ruộng khoai sọ nhà thím Vượng đi tắt lên thẳng gốc gạo đầu xóm. Ông Tư Chản, đang bận tay phía sau nhà, ông quành về đứng đầu hỏi lại:

- Ai? Thằng mặt dầy nào? - Vừa hỏi ông Tư Chản vừa nhăn nhăn nhìn vợ.

Bà Khuê tuy vẫn còn bực, nhưng lại tủm tỉm pha trò:

- Thằng nào ăn béo thì mặt dầy! Nó đến hỏi gì nhà này?

- À thằng Ðáng con nhà Thước; bà nói gì mà nặng lời thế!

Ông Tư Chản vốn dịu dàng, nói chuyện với bất kỳ ai ông cũng cười cười xã giao - tính bẩm sinh, tính gia truyền, thói quen nghề nghiệp tạo thành. Từ lâu nay, nhất là từ sau Cải Cách, ông ít khi đi đâu, ít nói, gần như lù đù, nhút nhát; vợ ông cũng thấy thế. Ông nói thằng Ðáng vừa qua đây, nó đi họp xã, tiện rẽ vào hỏi thăm xem thằng Thuyên nhà này, từ bữa trở về đơn vị, đã thư từ gì về chưa? Hai thằng vừa là bạn học với nhau, vả lại cũng còn là anh em nội, ngoại. Ông không muốn vợ nói nặng như vậy; chả gì nó cũng đang là cán bộ, lỡ nó nghe tiếng lại nghĩ nhà mình thế nọ, thế kia, thêm phiền. Ông cũng cứ băn khoăn chưa rõ vì sao mà vợ ông có ác cảm với thằng Ðáng; và ông vẫn khuyên vợ không nên thế. Chưa dứt lời khuyên của chồng, bà Khuê đã gạt đi, bực bội nói là ông không đi họp, ông không biết. Từ sau Cải Cách, nó được vào Ðảng; nhất là từ khi làm ủy viên ủy ban xã; úi chà! gặp ai nó cũng vác cái mặt lên, ra điều ta đây cán bộ. Ngay những lần họp thôn, họp xóm, nhìn thấy bà nó có thèm mở miệng chào một lời, bà còn nhận xét: xem ý, ngay mẹ nó cũng đang lên mặt... Bạn bè, họ hàng gì lúc này! Một sự bực bội vừa có cớ. Nó được hình thành trong bối cảnh cần sự đoàn kết, cần sự chia rẽ! Bà Khuê từ một người nhanh nhảu, vui tính, hiền dịu, dần dần trở nên kí cảu, có lúc nặng lời, thậm chí tục tĩu, nghĩ lại và tự thấy ngượng ngùng. Cái môi trường sinh sống nó quan trọng thật! Nó nhẹ nhàng vần đi, vần lại, biến đổi, phân hóa, nó kiểm dấu chìm, dấu nổi giai cấp lên chỗ dễ tìm thấy, lên mặt từ già lão đến trẻ thơ!

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

Thuỵ Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, IX - Trên đường ra Bắc

Rời Huế chúng tôi lên đường ra Bắc, nhưng hồn Huế vẫn còn đọng lại trong tôi suốt quãng đường dài. Bữa cơm Âm phủ tối qua, có món canh dưa chua và nhiều thứ bánh Huế tôi không nhớ hết tên, bánh nào cũng ngon, vừa ăn vừa tưởng đến Gia Long, ông vua hay nói tục, hàng ngày ra công binh xưởng kiểm soát, tự lái thuyền đi thăm xuởng đóng tầu ở Thị Nghè, trưa ăn cơm cá kho dưa muối với thợ. Nhớ chuyện Barisy (một người lính Pháp theo vua) kể lại: ngày đầu tiên quân tiến vào kinh đô, tối đó vua về thuyền ngủ và ra lệnh cho quân sĩ cũng phải ngủ trên thuyền không được nhiễu dân. Sáng hôm sau, tám giờ ngày 15/6/1801, vua chính thức lên Tử cấm thành, ông cũng không đi thẳng vào cung điện mà đứng ở phòng ngoài (nơi dân chúng tụ họp để chờ xem mặt vua những ngày thiết triều), ông đứng đó "đấu láo" với quân lính. Tôi chắc khi đã lên ngôi tôn, thế nào cũng có lúc vua lẻn ra quán Âm phủ ăn cơm canh dưa chua cá khô tộ. Tâm hồn Gia Long gắn liền với hai thứ Huế: Huế cung đình và Huế dân dã, và cũng chính là tâm hồn Huế mà tôi cảm nhận được. Nhiều lần tự hỏi không biết mình yêu nước là yêu cái gì và tôi không nhận ra cái gì chính xác cả.

Hôm đó, tôi yêu lắm cái quán ăn trong thành nội, có nhiều món ngon tuyệt, kể cả "nem công chả phượng" trước đây chỉ được đọc trong sách; chúng tôi lại được tiếp đãi như những người "hoàng phái". (Hồi đi học, tôi có con bạn người Huế, phong cách rất sang, một hôm có đứa hỏi nó: trước tau ở Vỹ Dạ, mi ở đâu? Nó vênh váo: ta hoàng phái ở trong thành nội chớ đâu có chung đụng với bọn bây). Chừ bây giờ về Huế, tôi cũng được ăn "nem công chả phượng" trong "thành nội" y như... hoàng phái, cũng được ngồi ghế bành, được nghe các cô chiêu đãi Huế ngọt lịm thưa bẩm, chao ôi là thú vị. Tôi lại nhớ một hôm khác, tại Institut Franco-Vietnamien ở khu La Tinh (nơi sinh viên Việt chúng tôi thường ở trọ hoặc thuê phòng nghỉ hè) vẫn con bạn hoàng phái đó, nó ở chung với mạ nó, bà là mệ, mới ở Huế sang chơi. Tôi phục lăn vì thấy nó một điều bẩm mệ, hai điều bẩm mệ (tôi con nhà dân làm chi biết lễ phép như thế). Một hôm đi ngang qua phòng nó, không biết hai mẹ con cãi nhau cái gì, tiếng Huế người ngoài nghe không thể hiểu, bỗng phắt cái nó dơ tay tát mệ nó ngã chúi xuống đất, tôi giật bắn mình, từ đó tôi đề phòng cái bẩm của nó. Nhưng mà tôi vẫn mê tiếng Huế và tôi hiểu ra rằng mình yêu nước là yêu cả cái hay lẫn cái dở.

Hoàng Quân: Biếc

Niềm Biếc

Thơ và tranh thi pháp của thi sĩ Trụ Vũ
Đọc, nghe câu thơ hay, thấy thích, tôi học thuộc ngay, và đưa vào “kho dữ liệu” của mình. Đôi lúc sơ suất, tôi không biết tên tác giả. Bởi thế, khi trích dẫn, tôi đành xem những câu thơ ấy là của kho tàng “văn học dân gian”. Trong cái rủi, có cái may. Do lầm lẫn, ghi sai tên tác giả bài thơ trong một truyện ngắn của tôi, tôi được quen với thi sĩ Trụ Vũ và An Hòa, con gái của ông. Chẳng những thế, sau khi nghe tôi trình bày sự việc đã xảy ra, thi sĩ Trụ Vũ viết bài thơ khoán thủ với họ tên của tôi và tựa đề của truyện ngắn Khi Mười Bảy Tuổi. 

Từ đó, tôi liên lạc với thi sĩ Trụ Vũ qua An Hòa. Mối quan hệ của chúng tôi, dù chỉ trong điện thư, ngày càng thắm thiết, đậm đà. Dẫu chưa hề gặp nhau, chưa hề nghe giọng nói của nhau, nhưng chúng tôi cảm thấy rất gần nhau, và có sự đồng cảm rất lớn. An Hòa nhắn, “Ba em nói, truyện của chị rất “ngộ”. Vui, duyên dáng và cuốn hút người đọc. Qua những câu chuyện độc giả có thể nhận ra một cây bút dí dỏm, thông minh, trong sáng pha lẫn chút nghịch ngợm.” 

Đỗ Hoàng Diệu: Tướng không về hưu

Lời tác giả : Vài tháng trước, để chuẩn bị cho chuyên đề Viết và Đọc, nhà văn- biên tập viên Tạ Duy Anh đã đặt tôi viết bài về "Tướng về hưu", sau 32 năm đọc lại.
Tôi nhận lời ngay, tất nhiên, vì họ là Tạ Duy Anh và Nguyễn Huy Thiệp.
Một tuần sau, anh Tạ viết mail thống thiết xin lỗi. Bài không thể đi bởi lý do "tế nhị" từ lãnh đạo.
Tôi đưa lên đây hầu bạn đọc. 
*

Năm ngoái, từ bên kia bán cầu, nơi mà quê hương chỉ hiện diện trong những chiếc bóng mờ, giữa không gian của đêm và không khí của ma, tôi đọc tin một con chó ngoạm xác hài nhi chạy nhong nhong trên đường làng ngoại ô Hà Đông. Ngay lập tức, ông Tướng về hưu xuất hiện đuổi theo con chó. Hà Đông không xa Khương Trung, không xa làng Cò, quê Nguyễn Huy Thiệp. Không xa cái đơn vị hành chính ghi phố nhưng sinh hoạt làng trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Ông Tướng về hưu ba mươi hai năm trước đã chết lặng khi nhìn thấy mấy ngón tay hồng hồng nhỏ tý trong nồi thức ăn chó dưới nhà ngang. Giờ đây, bác sĩ Thủy không cần dặn ông Cơ cô Lài giấu diếm bố chồng, bởi không chỉ con chó ngây thơ vô tội cắp thai nhi chạy hoang, ngay cả con người cũng thản nhiên vứt bỏ, đánh đập, ăn thịt chính huyết thống của mình. Nhà máy rác Cần Thơ phát hiện hơn 300 xác thai nhi trong bảy năm, nghe đã rùng mình. Nghĩ tới bàn tay ai đó đã ném những hài nhi bé bỏng ấy vào túi rác, càng rùng mình hơn. Suy cho cùng, trên hành tinh này, không giống loài nào độc ác bằng loài người. 

Ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp nếu sống đến giờ, sẽ không chỉ buồn không chỉ bất lực, thể nào cũng phẫn uất sinh nhồi máu cơ tim. Những năm tám mươi, ông còn có thể “bỏ chạy” khỏi xã hội nhiễu nhương, quay về chiến trường, chiến đấu với kẻ thù. Giờ thù đã thành bạn, bạn chót lưỡi đầu môi, bạn đâm bị thóc chọc bị gạo nhưng thỉnh thoảng nắm tay nhau dự tiệc nhân dân nên luôn luôn tốt. Ông tướng có muốn cũng khó tìm ra một chiến trường thực sự, chiến trường của sức mạnh, niềm tin, chiến trường vì nước vì dân. Cái chết của ông trên miền biên viễn, dưới đạn pháo kẻ thù, giải thoát ông khỏi hiện tại xa lạ, khỏi tương lai còn khủng khiếp hơn nhiều. 

Nguyễn Huy Thiệp: Tướng về hưu

I


Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi. Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tình cảm này, tôi xin nói trước, là sự bênh vực của tôi đối với cha mình.

Cha tôi tên là Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải, tôi không tường mặt, chỉ nghe nói là một người đàn bà cay nghiệt vô cùng. Sống với dì ghẻ, cha tôi trong tuổi niên thiếu đã phải chịu đựng nhiều điều cay đắng. Năm mười hai tuổi, cha tôi trốn nhà ra đi. Ông vào bộ đội, ít khi về nhà.

Khoảng năm… cha tôi về làng lấy vợ. Chắc chắn cuộc hôn nhân này không do tình yêu. Mười ngày nghỉ phép bề bộn công việc. Tình yêu đòi hỏi điều kiện, trong đó thời gian cũng cần.

Khi lớn lên, tôi chẳng biết gì về cha mình cả. Tôi chắc mẹ tôi hiểu về cha tôi cũng ít. Cả đời cha tôi gắn với súng đạn, chiến tranh.

Tôi đi làm, lấy vợ, sinh con. Mẹ tôi già đi. Cha tôi vẫn đi biền biệt. Thỉnh thoảng cha tôi cũng ghé về nhà, nhưng những lần về đều ngắn. Cả những bức thư cha tôi gửi về cũng ngắn, dầu rằng dưới những dòng chữ, tôi biết ở đấy ẩn chứa nhiều tình thương cùng với âu lo.

Tôi là con một, tôi đã chịu ơn cha tôi về đủ mọi mặt. Tôi được học hành, được du ngoại. Cả những cơ sở vật chất gia đình cũng do cha tôi lo liệu. Ngôi nhà tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự đẹp nhưng khá bất tiện, tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia kiến trúc trứ danh, bạn của cha tôi, ông này đại tá, chỉ thạo việc xây doanh trại.

Năm bẩy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng.

Đàm Trung Pháp: Tò Mò Đường Thi

Hình minh họa lấy từ Internet
    “Trên đường về nhà sau khi đi thi tiến sĩ bị rớt, người khách ngồi trong chiếc thuyền đang ghé bến đò Phong Kiều lúc nửa đêm. Nửa thức nửa ngủ trong một tâm trạng buồn, khách thấy trăng sắp lặn, nghe tiếng quạ kêu, cảm thấy lành lạnh vì trời đầy sương phủ. Cây phong trên bờ sông và ánh đèn từ một thuyền đánh cá chờn vờn trước cơn buồn ngủ. Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San. Tiếng chuông nửa đêm vang đến tận thuyền khách.” Đấy, quý bạn vừa đọc qua nội dung tôi viết một cách hời hợt về tuyệt tác Đường thi mang danh Phong Kiều Dạ Bạc 楓 橋 夜 泊 (PKDB) của Trương Kế 張繼(712-779). 

Vô số người Trung Quốc và ba quốc gia đồng vănTriều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đã coi PKDB (Tản Đà dịch thành Nửa đêm đậu bến Phong Kiều) là một trong vài bài được coi là hay nhất trong tổng số vài ngàn bài thơ Đường. Toàn bài thơ tứ tuyệt lẫy lừng ấy được ghi dưới đây bằng Hán tự nguyên thủy và bằng âm Việt-Hán, cùng với bản phỏng dịch sang thơ Việt của Tản Đà:

月 落 烏啼霜 滿 天.    = Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên 
 江 楓 魚 火 對 愁 眠  = Giang phong ngư hỏa đối sầu miên 
 姑 蘇 城 外 寒 山 寺  = Cô Tô thành ngoại Hàn San tự 
 夜 半 鐘 聲 到 客 船  = Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền 

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Trịnh Y Thư: Cái mới trong văn



Có người bạn văn, chủ biên một trang mạng văn chương, một hôm kêu gọi tôi đóng góp vào số chủ đề anh đang thực hiện. Chủ đề tình yêu. Anh nói tôi có toàn quyền làm chủ ngòi bút mình, viết gì cũng được – “bạo liệt” càng tốt – miễn sao có nghệ thuật và tương đối mới mẻ một chút. Tôi ậm ừ trả lời anh, chẳng nhận lời mà cũng không từ chối. Tôi hiểu ý anh nhưng đột nhiên tôi cắc cớ tự đặt ra câu hỏi trong đầu với chính mình: Có gì mới lạ nơi tình yêu không?

Thật ra, làm gì có cái mới lạ dưới ánh mặt trời này. Thánh Kinh phán vậy. Và, quả tình, tôi chẳng biết có cách nào dùng văn chương để “làm mới” tình yêu. Đừng bảo tôi cực đoan nếu – nhìn từ góc độ nào đó – tôi bảo tất cả những bài thơ tình đông tây kim cổ chẳng qua chỉ là biến tấu từ mẫu đề 

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.

do một thi nhân nào đó sống cách đây hai ba nghìn năm ở lưu vực sông Hoàng Hà, trong giây phút ngẩn ngơ nhìn người con gái đẹp giặt lụa ven sông, lòng bỗng tràn ngập nỗi cảm xúc yêu thương, viết xuống. Tình yêu, chính nó, chắc không có gì mới lạ. Cảm xúc con người hai ba nghìn năm qua chẳng đổi khác bao nhiêu. Hai ba nghìn năm còn phù du, ngắn ngủi hơn một sát na trong biến trình tiến hóa của con người; bởi thế, chắc chắn hai ba nghìn năm sau con người vẫn thế, vẫn chừng đấy thương yêu, thù ghét, chừng đấy những quan hệ giữa người và người.

Trần Mộng Tú: Hai bài thơ cùng nhan đề, cách nhau 10 năm

Dưới đây mời bạn đọc thưởng thức hai bài thơ cùng một nhan đề “Viên Sỏi” của nhà thơ Trần Mộng Tú. Bài thứ nhất làm vào mùa hè năm 2009. Bài thứ hai làm 10 năm sau, vào ngày 7 tháng Bảy, 2019.

Nhà thơ cho biết đây chỉ là một trùng hợp tình cờ, vì khi sáng tác bài Viên Sỏi thứ hai, tác giả hoàn toàn quên bài đã làm trước đây 10 năm.

Phạm Xuân Đài có bài bình luận về sự tình cờ hy hữu này trong số DĐTK hôm nay.

Hình minh hoạ, FreePik

VIÊN SỎI

Này anh trái mặt trời vừa chín
rụng mùa hạ trên lưng bầy ong
những bụi cúc trong vườn trắng xóa
đang tỏa hương trên từng cánh thật cong
đến đây anh
xem bầy thỏ dại
những con mắt tròn như mắt bé thơ
ngậm cọng cỏ trong vườn vừa thức giấc
khua những con giun ra khỏi cơn mơ
mùa hạ người ta yêu hơn một chút
bởi mặt trời về làm ấm xương da
và những giọt sương mang hồn biển cả

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Thanh Ngọc Đình - Tết Xưa

Thương nhớ chị tôi,
Nguyễn Kim Thoa (1938-2006)

Hàng năm mỗi lần Tết đến khi tôi hồi tưởng về những cái Tết đã đi qua trong đời mình thì hình ảnh Tết Kỷ Hợi bao giờ cũng hiện lên trước nhất. Nó nổ trong ký ức tôi tiếng pháo đùng đón giao thừa từ Thanh Ngọc Đình vọng vào đêm rừng. Nó lóe trong trí nhớ tôi hình bóng căn nhà chập chờn ánh lửa tỏa từ đám củi cháy dưới nồi bánh chưng sôi sục và tiếng kèn của cha tôi lan đi trên dòng suối Đa Mê. Suối mơ! Bên rừng thu vắng. Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng...

"Mẫu ngôi nhà mà Nhất Linh tự vẽ và đặt tên Thanh Ngọc Đình. Ngôi nhà mà đến cuối đời ông vẫn chưa có được".

Thanh Ngọc Đình là tên cha tôi đặt cho một căn nhà ông xây cất ở giữa rừng Fim Nôm vào những năm cuối đời, để thưởng cho một loài hoa ông cho là tiên cách nhất. Căn nhà do chính cha tôi vẽ họa đồ, được xây toàn bằng vật liệu nhẹ, tọa lạc bên dòng suối Đa Mê, cách Quốc L 20 Sài Gòn-Đà Lạt khoảng một nghìn thước, ngang cây số 27 tính từ thành phố Đà Lạt, và thuộc xã Fim Nôm.

Thực ra đó chỉ là một căn nhà trong mộng. Bởi vì Thanh Ngọc Đình không bao giờ được hoàn thành. Năm 1959 căn nhà bị sụp đổ hoàn toàn sau một đêm giông gió, chỉ còn trơ lại cái nền nhà trống. Cũng may là nó sụp đổ sau Tết Kỷ Hợi (ngày 8 tháng 2 năm 1959), là năm mà đông đủ chúng tôi đã ăn cái Tết sau cùng ở Fim Nôm. 

Năm ấy là năm đầu tiên cha tôi tổ chức ăn Tết trong rừng. Một phần để ăn mừng căn nhà xây gần xong, phần khác chắc là ông muốn làm sống dậy không khí những cái Tết xưa ở trại Cẩm Giàng. Hồi đó chúng tôi đều ở Sài Gòn. Năm trước cha tôi đã bỏ Đà Lạt về Sài Gòn làm báo. Tháng giêng năm 1959 ngay sau khi số báo Văn Hóa Ngày Nay số Xuân Kỷ Hợi được phát hành, cha tôi lên Fim Nôm đôn đốc việc xây nhà và sửa soạn đón xuân. Ông mời một số thân hữu và gia đình của họ lên Fim Nôm ăn Tết. Tôi nhớ có gia đình các bác Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Sĩ Dinh, Bùi Khánh Đản, Lê Đình Gioãn... Thời gian đó tại Fim Nôm bà nội tôi ở chung với người em trai của bà là cụ Nghị Biên trong một căn nhà gỗ sơ sài ở cây số 27 ngay sát quốc l. Bà nội tôi tu ở đó, mẹ tôi thuê một con bé giúp việc tên là Tình lên ở Fim Nôm trông nom bà nội tôi. Bà lúc này đã yếu nên không muốn bầy vẽ tổ chức Tết lớn. Nhưng cuối tháng chạp cha tôi khẩn khoản bà nội đứng ra phụ trách nấu nồi bánh chưng. Ông nói:

Phạm Hảo: Vài Mảnh Tình ở Xóm Cầu Mới

Bậc thang Comstock Grand Dame (Good for kissing).
Thành phố Seattle ở miền Tây Bắc nước Mỹ được tạo thành bằng sáu ngọn đồi, cho nên hầu hết nơi nào trong thành phố cũng có dốc ngắn dốc dài, dốc cao dốc thấp, tha hồ cho những người thích chạy bộ hay leo núi tung hoành.

Nhà tôi nằm trên đồi Queen Anne, là ngọn đồi cao thứ nhì trong sáu ngọn đồi, ngoài những con dốc ngoằn nghèo cho xe chạy, đồi này còn có 120 bậc thang nằm rải rác chung quanh đồi để khách bộ hành đi tắt. Những bậc thang này phần nhiều được kiến trúc rất mỹ thuật, có những bậc thang chỉ có vài chục bậc, nhưng cũng có những bậc thang cao đến 150 bậc.Có bậc hẹp chỉ đủ cho hai người đi, có bậc lại rộng đến mức đủ cho năm người sánh vai đi cùng một lúc. Tôi mê đi leo theo những bậc thang này lắm, nhưng có một ông này còn mê những bậc thang của đồi Queen Anne nhiều hơn tôi, ông này tên là Thomas Horton, làm nghề kiến trúc sư, nhà cũng ở trên đồi này. Trong năm 2007, ông ta bỏ ra 120 tiếng đồng hồ để đi cho hết những bậc thang, rồi năm 2009 in và bán ra tấm bản đồ kích thước bằng tờ tạp chí Newsweek, gọi là Map of The Pedestrian Stairs of Queen Anne. Ông này cẩn thận lắm, trên tấm bản đồ này ông có ghi chú là nếu đang dùng nó ở ngoài trời mà lỡ bị mưa mà không có áo mưa hay cây dù thì dùng tấm bản đồ này che đỡ cũng được vì nó được làm bằng loại giấy không thấm nước.

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2019

Trịnh Y Thư: Cái cười


1.


Nhà văn Võ Phiến, trong một tùy bút viết năm 1967, tỏ ý thắc mắc tại sao trong văn học của ta lẫn tàu đều thiếu vắng tiếng cười. Ông bảo nếu dựa trên sách vở mà nói thì đó là những dân tộc không biết cười. Ông viết như sau:

“Văn học Trung Hoa từ xưa tới nay phong phú vô kể: muốn tìm trong đó thơ văn lâm ly thống thiết, không thiếu gì; muốn tìm những truyện ly kỳ quái đản, cũng không thiếu gì; thậm chí muốn tìm những cái tục tĩu (tức cái phát kiến rất mới mẻ của Âu Tây) thì tưởng Kim Bình Mai cũng cống hiến được nhiều đoạn không hổ thẹn với các danh phẩm của Lawrence, Miller… Thế nhưng bị yêu cầu xuất trình một tác phẩm hoạt kê, trào lộng cho có giá trị, chắc chắn cả ta lẫn tàu đều lúng túng.


Những nhân vật nổi tiếng của chúng ta – xuất hiện từ trang sách mà ra – dù nghèo, dù giàu, dù khôn, dù dại, dù thiện, dù ác, đều không có gì đáng cười: Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, Thôi Oanh Oanh, Tống Giang, v.v…”

Lạ chứ! Một dân tộc không biết cười? Nhưng có thật thế không?

Tú Mỡ: ‘Phở’ Đức Tụng

LTS. Trong thập niên 1930 của thế kỷ trước Tú Mỡ là một nhà thơ trào phúng của báo Phong Hóa – Ngày Nay, hai tờ báo có khuynh hướng cười cợt chế giễu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bài ‘Phở’ Đức Tụng trích từ cuốn thơ trào phúng Giòng Nước Ngược của Tú Mỡ xuất bản năm 1934. 
Trong lời Tựa của tập thơ này, sau khi phân tích đặc tính của Văn Bác Học và Văn Bình Dân, nhà văn Khái Hưng đã viết : 
“Mà thực ra thì ta vẫn khao khát được đọc văn bình dân, ta vẫn quý trọng các nhà văn bình dân. Cô Hồ Xuân Hương tuy lẳng lơ nhưng vẫn được ta mến tài và truyền tụng những bài thơ cợt nhả. Vì cô là một nhà văn bình dân. Ông Tú Xương tuy mỉa đời mà vẫn được đời kính mến. Vì ông là một nhà văn bình dân. Và ngày nay Tú Mỡ tuy tinh nghịch đùa bỡn, chế nhạo mà vẫn không mấy người ghét được. Vì Tú Mỡ cũng là một nhà văn bình dân”. 
Phở, như một món ăn tương đối bình dân trong thập niên thứ ba của thế kỷ 20, Tú Mỡ đã nhìn thấy rất nhiều ưu điểm của nó và không tiếc lời ca tụng. Ngày nay Phở đã có mặt trên khắp năm châu bốn biển của thế giới, chúng ta có thể xem bài thơ này như là một lời tiên tri rất ứng nghiệm. 
*

Trong các món ăn "quân tử vị", 
Phở là quà đáng quý trên đời. 
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi, 
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ. 
Này bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ, 
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên. 
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm, 
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mũi. 
Như xúc động tới ruột gan bàn phổi, 
Như dục khơi cái đói của con tì. 
Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì, 
Xới một bát nhiều khi chưa thích miệng. 

Thế Giang: Thằng người có đuôi

Tên chị là gì?

- Thưa em tên Mơ.

- Mơ gì? Mộng mơ hay quả mơ?

- Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu...

- Quê quán ở đâu vậy?

- Em ở Thạch Thất, Hà Tây.

- Chị công tác ở cơ quan nào?

- Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.

- Chắc chưa vào Ðảng...?

- Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn...

- Chị lập gia đình chưa?

- Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!

- Các cụ nhà ta còn cả chứ?

- Vâng, thầy u em vẫn còn.

- Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?

- Thưa, được tám cả thảy...

- ...

Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn?

Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.

- Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?

- ...

Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Ðịa Không, Ðịa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2019

Nhất Linh: Giấc mộng Từ Lâm


Tôi vừa ở Sở về, nghĩ đến thân mình lầm than mà buồn tình thế sự. Hai buổi đi về công việc càng làm càng thấy chán nản, đời mình thật là lạt lẽo vô cùng, lắm lúc muốn ẩn thân một nơi thôn dã, đối với đời không có tiếng tăm gì là đủ; nhà giầu, có công việc làm đây không chút gì bổ ích cho ai, ra luồn vào cúi mà vẫn không sao rút ra được. 

Đương băn khoăn thời thấy một người đi vào trông hơi quen quen, đứng dậy nhìn kỹ thời té ra anh Trần Lưu, trước cùng học với tôi trường Luật. Năm nọ ăn mặc tây, bây giờ trông lạ hẳn đi: mình mặc cái áo the thâm, đầu đội nón dứa, tay xách cái khăn gói to như người ở phương xa đến, thấy tôi thì tươi cười mà cúi chào, chứ không bắt tay nhau như trước nữa. 

Xưa nay tôi vẫn phục anh Trần Lưu là người trí: anh Lưu học cùng với tôi trong trường Luật, đến năm thứ hai, thời bỏ vì hai thân anh qua đời cả. Hôm về quê, anh có than vãn với tôi, không biết cuộc đời của anh sau này sẽ xoay ra làm sao: 

- Tôi bây giờ một thân một bóng, về quê là để thăm chút phần mộ của hai thân tôi, rồi sau đây non nước bốn phương biết đâu là quê hương xứ sở, anh dẫu có nhớ đến tôi cũng không biết đâu mà tìm tôi nữa. Tôi định bây giờ đi khắp các vùng nhà quê, lẩn vào đám làm ăn, vừa để học vừa để dạy cho họ và xem xét dân tình, ăn mặc thời quần nâu áo nâu đi đất, đánh cái nón rách vừa đi vừa kiếm ăn, anh nghĩ sao? 

Thụy Khuê: Quê Hương Ngày Trở Lại, VIII - Huế

Huế vô cùng quyến rũ về nhiều mặt, bởi vì Huế là kinh đô cuối cùng của thời đại tự chủ. Huế còn giữ được phong độ, qua nếp sống, kiến trúc, văn hoá và ẩm thực. Huế không bị ngộp thở vì nhà cao tầng. Huế vẫn lác đác những nhà cổ trên đường phố ngoại ô, như lời chào của quá khứ đón ta về Huế. Đi sâu vào thành nội, ta gặp muôn vàn quyến rũ khác, như thể tất cả vàng son và uy quyền của một thời còn đọng lại trong không gian, trong cỏ cây, trong sự đài các của cô gái Huế, của các món ăn Huế, trong cách trang trí Huế, từ vườn rau, cây kiểng, cái gì cũng nhuốm chất hoàng gia, sang trọng, lịch lãm.

Lăng Tự Đức
Về cái chết của vua Minh Mạng, tác giả Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse) cuốn sách nổi tiếng nhất của Pháp về thời kỳ truyền giáo, linh mục Louvet viết:

"Vài tuần sau đó, kẻ tàn sát cũng lên hầu toà án Thượng Đế: Ngày 20 tháng Giêng năm 1841, Minh Mạng bị ngã ngựa, chết bất thình lình và đạo Thiên chúa mà y quyết tâm tận diệt vẫn sống, sống mạnh mẽ hơn, qua 10 năm chiến đấu, tự hào với hàng ngàn linh mục và hàng trăm người tử tội. Vì tự mình làm kẻ tàn sát đạo, tên bạo chúa đã bị thần dân của y kinh tởm và có biệt hiệu là bạo chúa Néron Việt Nam. Thay vì lùi, đạo Chúa đã tăng trưởng trong cuộc tranh đấu bền bỉ và đã chiến thắng vinh quang. Kẻ nào không tin hãy nhìn thống kê sau đây: Năm 1830, có một Khâm sứ Giáo Hoàng [Pháp] tám giáo sĩ [Pháp] hai mươi linh mục bản xứ và sáu mươi ngàn giáo dân. Năm 1841, một Khâm sứ Giáo Hoàng, bẩy giáo sĩ, ba mươi linh mục bản xứ và bẩy mươi lăm ngàn giáo dân"(Louis-Eugène Louvet, Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse),1885, tập II, t. 115).

Không chỉ mình vua Minh Mạng có biệt hiệu Néron Việt Nam, cả chúa Nguyễn Phước Tần thời trước cũng "được" các giáo sĩ gọi như thế.