Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

Phạm Công Thiện: Anh Sẽ Hiện

Hình minh hoạ, Freepik
Anh sẽ hiện ồ anh sẽ hiện
Cả rừng cây không ai lên tiếng
Bóng tối tràn vũ trụ tan hoang
Tiếng thơ kêu trên đầu con kiến

Kiến lửa ngày xưa đốt mộng mơ
Nằm nghe con ngựa nhảy qua bờ
Em về bên ấy quên đi nhé
Anh chẳng bao giờ biết đến thơ

Một hàng áo trắng phất trong sương
Vũ trụ chiều nay sao quá buồn
Tôi đắp kín mền trong gác lạnh
Nghe mùa xuân dậy ở Đông phương

Trần Doãn Nho: Một truyện rất Huế, ‘Thương Nhớ Hoàng Lan’

Nhà văn Trần Thùy Mai. (Hình: Tuổi Trẻ Thủ Đô)

“Thương Nhớ Hoàng Lan” do nhà xuất bản Văn Mới (California, Hoa Kỳ) xuất bản năm 2003, là tuyển tập gồm 18 truyện ngắn của một nhà văn nữ xứ Huế, Trần Thùy Mai.

Tôi ghi nhận một vài nét tổng quát như sau:

- Chất Huế, tính Huế, vị Huế và hồn Huế bao trùm trong hầu hết các truyện, từ địa danh, nhân vật cho đến tâm tình và cung cách ứng xử. Khung cảnh trong truyện gần gũi, quen thuộc có thể bắt gặp đâu đó trong đời sống Huế hằng ngày, đến nỗi nếu là người Huế, ai cũng mường tượng chúng xảy ra ở đâu, vận vào loại người nào.

- Tất cả đều là truyện tình, truyện nào cũng đậm đà, có đầu có đuôi, phong phú về sự kiện, dồi dào về chi tiết, nhiều chi tiết khá lạ và gây ấn tượng.

- Về văn phong, Trần Thùy Mai không theo xu hướng thời thượng cách tân khá phổ biến sau này ở nhiều cây bút trong cũng như ngoài nước. Hơi văn chị nhẹ nhàng, sâu lắng, quy cách. Về nội dung, Trần Thùy Mai tập trung viết về những chuyện đời thường, nên bật những xung động, những rối rắm trong các quan hệ tình cảm giữa cá nhân-cá nhân, giữa cá nhân và gia đình/xã hội. Trần Thùy Mai hầu như không quan tâm đến những vấn nạn xã hội, chính trị thời đại. Bởi thế, dù hầu hết khung cảnh và sự kiện diễn ra sau 1975, truyện dựng nên một Huế y như Huế vẫn… cứ như thế độ nào, không tìm thấy bất cứ dấu vết gì của một cuộc đổi đời ghê gớm sau biến cố Tháng Tư, 1975.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Ts Phạm Trọng Chánh: Nguyễn Du - Homère Và Bệnh Dịch

Nguyễn Du mất năm 1820, lúc 54 tuổi, giữa cơn dịch khủng kiếp từ Á sang Âu. Dịch tả phát xuất từ Ấ́n Độ sang nước ta cuối triều vua Gia Long, đầu triều vua Minh Mạng, có khoảng trên hai trăm ngàn người chết từ Bắc chí Nam, cơn dịch theo một người lính đi tàu từ Ấn Độ về đến cảng Toulon nước Pháp gây truyền nhiễm làm tiêu hao phân nửa dân số Âu Châu thời bấy giờ.

Quan Cần Chánh học sĩ Nguyễn Du vừa được cử làm Chánh sứ đi sứ lần thứ hai, chưa kịp đi thì mất. Ngô Thời Vị được cử đi thay. Nguyễn Du đang ở Phú Xuân, bên cạnh ông chỉ có người cháu Nguyễn Thắng con Nguyễn Ức. Nguyễn Du không kịp để lại một di chúc gì, ông chỉ bảo người nhà sờ tay chân xem lạnh chưa, người nhà bảo : lạnh và nhà thơ nhắm mắt ra đi.

Phải đến năm 1892 bác sĩ Robert Koch (1843-1910) người Đức sang Ấn Độ điều tra, mới tìm ra vi trùng bệnh dịch tả, nguyên do ô nhiễm nguồn nước, người Ấn Độ tiêu tiểu, vất tro, vất xác người đốt chưa hết và thú vật chết, thải rác và tắm rửa uống nước cùng một dòng sông. Tôi có đi Ấn Độ năm 2007 đi thuyền trên sông Hằng, xem cảnh đốt xác bên bờ sông, nhìn dòng sông, tôi than sông Hằng sao dơ bẩn quá, người hướng dẫn du lịch chạm tự ái, ông vốc ngay một vốc nước rửa mặt, ông nói sông Hằng thiêng liêng luôn luôn trong sạch.

Tại Việt Nam, ngay tại Sài Gòn ngày trước cùng có những dòng sông như Rạch Cầu Bông nước sông đen ngòm, nhà chồ trên bờ sông, tiêu tiểu vứt rác xuống sông, trẻ em bơi tắm trong sông. Sống trong cảnh ấy có lẽ người Ấn Độ, người Việt Nam có nhiều kháng thể hơn các dân tộc khác ?

Tôi đi Trung Quốc năm 2009, có đi thăm các chợ vùng Quảng Tây, người Trung Quốc con gì cũng ăn, làm thuốc, từ sừng tê giác giá đắt hơn vàng trị cả bệnh ung thư, đến các con tê tê cho bữa ăn sang trọng, dơi phơi khô chất từng giỏ cần xé, chó mèo quay treo lủng lẳng… nào ai nói đến những con vi khuẩn từ động vật hoang dã. Nào ai biết chuyện một ngày nào đó có thể xảy ra.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

Hoàng Quân: Gừng Càng Già…

Soi Bóng- Tranh Hoàng Thanh Tâm

Càng Cay


Xong đại học, tôi ngoài 35 tuổi. Như trúng số độc đắc, tôi nhận việc ở tổng hành dinh của một ngân hàng lớn trên nước Đức. Sếp cũng như đồng nghiệp, ngỡ tôi cùng tuổi với sinh viên (bình thường) mới ra trường, tức là ngấp nghé 25 tuổi. Bởi thế, họ chăm sóc tôi theo hàng con cháu. Tuổi không trẻ, tài không cao, là người Á châu duy nhất trong nhóm, tôi rét, đi đứng khép nép. Đồng nghiệp hướng dẫn điều gì, tôi ghi chép cẩn thận. Tôi để ý, bà Becker trong nhóm rất có uy. Tiếng nói của bà nặng ký lắm, có gang, có thép hẳn hoi. Nghe đâu, bà là dân kỳ cựu, chung vai, sát cánh với ngân hàng gần ba chục năm. Vì vậy, lúc nào được bà dạy dỗ, tôi nhất nhất khắc cốt, ghi tâm. Việc gì bà chỉ bảo tôi làm, sếp yên tâm, chẳng cần phải bới lông tìm vết. Sau vài tháng tôi gia nhập Phòng Tín Dụng Quốc Tế, tôi được dự sinh nhật của bà. Bà tròn năm mươi tuổi. Sếp nhỏ, sếp lớn đến chúc tụng. Mọi người cười nói vui vẻ, je oller, desto doller, càng già, càng gân. 

Tôi ngẫm nghĩ, ồ, thì ra, chuẩn mực gừng càng già, càng cay cũng có giá trị ở xứ này. Tôi cung kính chúc mừng sinh nhật bà. Bà tưởng tôi còn nhỏ, bằng tuổi con bà. Bà vỗ nhẹ vai tôi: “Mein Kind, Du hast noch viele, viele Jahre bis Du so alt bist wie ich. Con gái, còn nhiều, nhiều năm nữa con mới già bằng bác bây giờ”. Lúc đó, tôi tưởng chắc lâu lắm, tôi mới đến tuổi năm mươi. Mặc dầu làm phép tính đơn giản, chưa tới 15 năm, tôi sẽ bước vào tuổi ngũ tuần như bà. Tưởng tượng ít bữa, khi tuổi tôi tròn nửa thế kỷ, tôi được trọng vọng ra trò. 

Bùi Ngọc Tấn: Người ở cực bên kia

Tôi là Các-nô đây, thầy còn nhớ tôi không...
(Quốc văn giáo khoa thư)

Chiếc Toyota tay lái phải lượn sát hè, dừng lại rất êm. Máy vẫn nổ. Một người mở cửa bước ra. Mũ phớt, áo pôđơđanh lửng đến đùi, mặt tròn, da căng, miệng cười rất tươi. Người ấy giơ mũ chào hắn. Hắn biết ngay đấy là Đàm. Đúng, đấy chỉ có thể là vẻ mặt, là dáng người tự tin, thành đạt, là nụ cười rạng rỡ của các “sếp”.

Cửa hàng ghế sau bật mở. Hắn bước lên. Đàm ngồi ghế trên, cạnh lái xe, “ghế thủ trưởng”.

Ngồi cạnh hắn ở ghế sau, như Đàm giới thiệu là ông trưởng phòng tổ chức của Đàm.

Xe hiện đại, đệm nhung màu huyết dụ, lún người. Những đèn xanh, những kim đồng hồ đưa đi đưa lại trên bảng phía trước. Những bao thuốc lá “ba số” vứt cẩu thả trên xe. Tự nhiên hắn cảm thấy mình là người quyền quý. Ông trưởng phòng tổ chức mời hắn hút thuốc và một cách kính trọng đưa cho hắn cái bật lửa manhêtô xinh đẹp như một đồ trang sức. Đàm đã giới thiệu hắn là bạn. Là bạn của giám đốc, hắn xứng đáng được hưởng như vậy.

Hắn làm ra vẻ thân mật với Đàm. Thân mật và thông thạo:

- Cái xe này của các cậu, tàu Đ.N nó biếu phải không?

Đàm nháy mắt với hắn như muốn gạt ngay đi một đề tài kiêng kị.

Như vậy ông trưởng phòng tổ chức làm sao biết được đây là lần đầu tiên hắn với Đàm gặp nhau. Hắn bốc lên nói với Đàm và với ông trưởng phòng tổ chức một cách ngang hàng:

- Không mấy khi có bạn bè là các “sếp” thế này mà mình không có đứa con nào để nhờ vả. Ba đứa con lớn học ra trường đi làm rồi. Còn cháu út mới đang học lớp 12.

Đàm quay lại cười:

- Tưởng có đứa nào thì cứ quẳng hồ sơ cho anh Chí tôi đây.

Chí (tên ông trưởng phòng tổ chức) hoạ theo:

- Vâng. Cứ có chữ ký của thủ trưởng Đàm là “em” làm quyết định ngay.

Đó là một kiểu nói hắn đã nghe nhiều lần khi chầu chực các cửa xin việc cho ba đứa con lớn (tất nhiên cách nói không thân mật như thế này). Lúc đó hắn lặng người đi, rủa thầm: “Lại đồng đổ cho cốt, cốt đổ cho đồng”. Nhưng bây giờ hắn hóm hỉnh:

Võ Phiến: Một Chỗ Thật Tịch Mịch

Chàng vẫn tin rằng cứ đến giữa khung cảnh ấy mà an tọa, một mình, rồi lặng lẽ suy tưởng, thì chẳng mấy chốc sẽ có chim chóc đến làm tổ trên đầu. Một chiếc tổ chim thật rối trên đỉnh đầu, một vòng hoa tư tưởng đáng ước ao như thế có lúc chàng đã dám nghĩ là không khó. Chỉ cần đến đó, một mình. Chỉ cần có thế, nhưng ấy là điều chàng chưa bao giờ làm. Đâu khó gì? Chỉ vì chàng chưa bao giờ có cái duyên đối với một hành vi như thế.

Khung cảnh nọ cách xóm làng không xa. Nằm trên vùng đồi hơi cao. Xế trưa, thơ thẩn trên đồi, chàng trông xuống thấy dừa với tre trong xóm xanh um, nổi bồng lên cuồn cuộn như từng đám rong lớn trong hồ nước. Xóm làng coi xinh xắn, nhỏ hẳn đi. Nhà cửa thì thưa thớt, nằm khuất trong đám cây xanh. Và sự sinh hoạt của dân làng thì càng khuất xa hơn nữa. 

Tha hồ nhìn ngắm, vẫn không thấy động tĩnh gì. Lắng tai hàng giờ, không bắt được tiếng hát tiếng la nào. Họa hoằn, như có tiếng ai kêu ơi ới, nhưng tiếng văng vẳng rồi tắt ngay, mơ hồ, không rõ rệt.

Một đôi khi, mắt chàng bắt gặp một bóng người ngoài đồng, trên một con đường bờ ruộng ngoằn ngoèo nhỏ xíu. Một dáng người tí teo ngọ nguậy trong nắng xế bao la. Một chiếc nón trắng lấp lánh giữa đồng trống, tận xa tít... Chiếc nón lấp lánh, di động chậm chạp, trong lúc con ó rằn giăng đôi cánh xác xơ giữa nền trời, trong lúc con cuốc phát tiếng kêu đều đều trong nắng rưng rưng... Chàng càng có cảm tưởng xa cách cuộc sống khiêm tốn của xóm làng hơn bao giờ hết...

Chỉ cần dừng lại, an tọa, chẳng mấy chốc...

Nhưng chàng không đến đó để an tọa.

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

Trần Thị Diệu Tâm: Nhà Văn Nữ (Ký Sự)

Nhà văn nữ...

Đó là cái nhãn hiệu mà người ta gán cho tôi khi tôi có tập truyện ngắn đầu tiên được in ra. Điều này tôi thấy vui vui, mình viết khơi khơi, lung tung lang tang mà được cái mác như vậy. Thật ra, tôi chỉ là một người thích kể chuyện, nhà văn nữ, danh xưng này quá cao sang, quá tầm với tôi.

Chuyện viết, trước đây còn ở trong nước, không bao giờ tôi nghĩ đến, nhưng khi qua ở nơi đây, một xứ sở văn minh, thấy cái gì cũng lạ cũng mới và cũng hơi kỳ. Cảm thấy như mình vừa tái sinh vào một kiếp người khác, do trước đây đã tạo được duyên lành. Trong những mối tạo duyên đó, tôi là người thích đọc truyện, nên giờ đây mình là người thích kể chuyện, tôi được luân hồi ngay ở kiếp này không cần phải chờ đợi sau cái chết! 

Có nhiều khuynh hướng trong cách viết câu chuyện kể, do ảnh hưởng hoàn cảnh sống, do ảnh hưởng suy nghĩ cá nhân. Trước kia lúc bắt đầu viết, tôi dùng trí tưởng tượng khá nhiều, từ một hình ảnh trong đời thường tôi có thể kể ra một câu chuyện hẳn hoi có thứ tự lớp lang. Đa số chuyện dạo ấy, tôi kể về tình yêu vì cho rằng không có gì đẹp hơn loại tình cảm này ! Lẽ dĩ nhiên tình yêu trong trí tưởng được vẽ vời rất nhiều điều đẹp đẽ xúc động. Trong đời thường, làm chi có những mối tình đẹp như thế. Kể ra cũng có hơi ba xạo! Tuy nhiên, mẫu truyện nào cũng đều dựa vào một hình ảnh có thực đã thấy trong quá khứ hay hiện tại. Có chuyện tình bịa đặt hoàn toàn đọc lại thấy cảm động lắm, chẳng hạn như Tìm Trong Quá Khứ, khung cảnh là bệnh viện tâm thần Saint Anne (vì chỗ tôi làm việc gần bệnh viện này, thấy bệnh nhân đi dạo ra vô). Khi viết ra những câu chuyện tình lãng mạn, tôi nghe tuồng như mình tham dự trong đó, mình đang là diễn viên chính. Vậy mới ham viết! 

Có điều, ngôn ngữ chữ viết ít khi bắt kịp với nhịp độ suy tưởng, luôn chậm chạp, trong khi dòng suy nghĩ luôn biến động theo cảm hứng. Tìm câu chữ thích hợp cho suy nghĩ, cho sáng tạo là điều không dễ dàng gì. Viết, luôn luôn là một hành trình đi tìm kiếm. Tìm kiếm cái gì, điều gì? Đó là một câu hỏi với tôi, tôi không biết giải đáp.

Thảo Trường: Trước Mặt Sau Lưng

Chuyện tình thứ nhất đến với tôi do một sáng tác ngắn in trên tạp chí. Nàng lại tìm tôi sau hôm báo phát hành vài ngày, trên tay, tập báo có bài nàng ưa thích bị cuộn tròn và bóp chặt. Người con gái ấy đến với tôi hết sức sức bình thản và giản dị. Nàng nói:

- Truyện của anh đã chuyên chở được tâm hồn tôi.

- Nhưng chắc là không thỏa mãn được tất cả mọi người.

Nàng nhìn tôi, mắt mở to và sáng láng, mớ tóc nghiêng nghiêng:

- Như thế nghĩa là anh chưa hài lòng về mình?

Tôi chậm chậm:

- Cũng đúng. Nhưng tôi muốn nói rằng, những sáng tác dù hoàn hảo nhất, đã được nhiều người mến chuộng nhất cũng vẫn có những kẻ không bằng lòng, đôi khi thù ghét. Và sau này biết đâu, trong số, có em.

Cặp lông mày của người đối diện nhíu lại, giận dữ.

- Anh làm như Trang "lòng lang dạ thú" lắm, đến nỗi phải thù ghét anh.

Tôi dịu dàng:

- Không, anh không nói Trang hay thay đổi. Anh muốn nói đến những ý nghĩ của anh, đến những tác phẩm của anh. Không phải lúc nào anh cũng nghĩ như thế. Không phải truyện nào của anh cũng quyến rũ em như thế. Ngày hôm qua không phải là ngày hôm nay. Người con gái này không làm anh yêu bằng người con gái khác. Trước mặt không phải sau lưng. Đường đời là như vậy.

Tống Văn Thụy: Tháng Ba Trên Sông Nước Miền Tây

Đi mãi đi miết trên những nẻo đường giêng-hai sương mù gió bấc miền Bắc, đến Huế trời vẫn còn mưa lâm thâm, tôi vào Nam khi tháng Ba trôi theo sông nước miền Tây trong nắng mùa xuân. Hạnh phúc gần gũi như đám lục bình bập bềnh đây đó ngoài kia trên sông theo những bờ kênh. Nhìn lục bình trôi thời biết nước lên hay nước ròng. Trôi về cửa Định An, Ba Thắc, Tranh Đề… thủy triều lên. Theo chiều ngược lại là con nước ròng. Chu kỳ con nước lên xuống hai lần trong ngày bước đầu hình thành chốn ghe thuyền quần cư nơi chỗ ‘’ giáp nước ’’ trên sông làm nên nhịp sống châu thổ.

Miền Nam không thấy núi cao vực sâu như Tây Bắc, Đông Bắc, núi chẳng chạy sát biển như Trường Sơn xa lắm người ơi, ở đây chỉ heo hút vài ngọn đồi thoai thoải đã gọi là núi như Bà Đen, Thất Sơn, núi Sam. Châu thổ miền Nam là vùng đất bằng phẳng như ‘’Le Plat Pays’’ trong ca từ nhạc Jacques Brel nơi ‘’bầu trời xuống thấp đến nỗi dòng kênh trôi đi mất ’’. Tháng 3 ở đây trời trong xanh và kênh mương nối lấy đôi bờ, đan kín châu thổ.

Trên bờ kênh, cây sao, thân thẳng đứng, dáng uy nghi, vươn thẳng lên trời cao . Cây bần, thế vặn vẹo như bonsai, bằng lòng với phù sa con nước . Bần và sao hoa màu trắng. Trên kênh Cái Sơn, bần lấm tấm hoa vào tháng Ba và sao trên bờ nở hoa khi mùa mưa đến . Tiếc quá, bờ kênh bây giờ ngày càng vắng bóng sao mà rác thì cơ man. Đây đó trên bờ, còn thấy mấy cây bông gòn trái treo lủng lẳng như bầu bí trên cành. Trái bông gòn chuyển sang sắc vàng khi chín và nở bung, tơ màu trắng bay bay trong gió. Hoa đồng nội như hoa sao, hoa bần màu trắng phơn phớt, hoa lục bình màu tím nhạt dung dị trong khi phụ nữ miền Nam lại chuộng sắc màu rực rỡ ! Như màu vàng cam hình chuông của hoa tulipe xứ Gabon/ tulipier du Gabon ? từ đâu về đây khoe sắc thắm bên bờ kênh phương Nam.

Hôm trước, tiễn khách ở Châu Đốc, đi phà Châu Giang, phà Tân Châu qua ngã Hồng Ngự rồi theo tỉnh lộ 831 đi Tân Hưng. Dọc bờ kênh, tôi ngợp trong sắc hồng phai mùa hoa ô môi nổi bật trên nền trời tháng ba xanh thẳm. Chưa được may mắn đi chơi hội hoa đào ở Tokyo, Washington DC., Toronto… duyên may nhìn rặng ô môi mùa hoa bên bờ kênh trong nắng là nỗi xúc động dâng trào. Hồng phai ô môi là quà tặng hào phóng mùa xuân phương Nam trên mấy nẻo đường.

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

Nguyễn Vạn An : Chuyện Xứ Người - Bà Năm.

Gần nhà gia đình tôi ở Ba Lê, có một quán cà phê bình dân khá lớn. Chúng tôi thường gọi là Quán Ngựa. Quán lúc nào cũng đầy người. Phần lớn là dân thợ thuyền, từ ngoại quốc tới xứ Pháp làm ăn. Rất nhiều các ông bà già đã về hưu. Họ đến đây để gặp nhau, gặp người đồng hương, trò chuyện nói tiếng xứ mình, uống bia, cà phê, xem đá bóng trên ti vi màn ảnh to, đánh lô tô và nhất là để đánh cá ngựa.

Điều đặc biệt với tôi là quán này có một cái bàn rất lớn, đặt trong góc phải khi đi vào cửa chính, gần như dành cho một nhóm người Việt. Nhóm này toàn là đàn bà. Toàn là các bà già! Bà nào cũng ít nhất 70 tuổi, có bà đã trên 90 !

Sáu bẩy bà già người Á Châu mà châu lại với nhau trong một bàn thì ai không để ý. Nhất là còn có thêm hai lý do. Lý do thứ nhất là, vì bà nào người cũng bé nhỏ, nên cái bàn đó nhìn từ xa như trũng hẳn xuống, so với các bàn xung quanh, phần lớn người ngồi là đàn ông thợ thuyền, ai cũng to lớn mập mạp. Lý do thứ hai là, tuy nhỏ người, các bà lại nói rất to và chỉ nói tiếng Việt. Tiếng các bà lanh lảnh, tiếng cười khanh khách, chẳng coi ai ra gì hết. May là quán cũng đầy tiếng nói chuyện ồn ào, đủ thứ tiếng ngoại quốc, và chủ tiệm cũng như khách hàng đã quá quen với các bà, nên cũng chẳng ai than phiền gì.

Tôi tò mò nhiều lần đến đứng ở quầy uống cà phê để có dịp quan sát các bà. Dĩ nhiên là tôi không qua mắt các bà được. Thấy tôi người Việt, lần nào các bà cũng lên tiếng chào mời hỏi thăm. Rồi thi nhau bô bô hỏi chuyện, mặc dù tôi đứng ở quầy, xa bàn các bà tới mấy thước. Không hiểu từ đâu, tôi được đặt tên là “cậu Ba “ ! “Cậu Ba có khoẻ không, vợ con gì chưa ? “, “Cậu Ba hồi này mần ăn ra sao ? “, vân vân.

Các bà là những người Việt Nam đã qua Pháp từ lâu. Tuổi trung bình là 80, như đã nói. Các ông chồng thì đã chết hết cả rồi. Con cháu đã trưởng thành ra ở riêng. Không bà nào chịu ở với con cái dâu rể, dù dâu rể là người ngoại quốc hay người Việt. Họ phần lớn đều có một căn nhà riêng, hoặc đã mua khi còn trẻ, hoặc con cái mua cho. Trong nhóm có mấy người nghèo, không ai thân thuộc, đi ở đậu hết chỗ này đến chỗ kia. Tuy vậy, tất cả sống điều hoà với nhau, ai đói thì chia cho ăn, ai rách thì tìm quần áo cho mặc. Thỉnh thoảng cũng nghe tiếng la lối um xùm, cãi nhau ỏm tỏi, nhưng nói chung họ cùng tình cảnh già nua góa bụa, lẻ loi xứ người, biết đùm bọc lấy nhau. 

Trong nhóm này có một bà tôi rất để ý. Người ta gọi bà là bà Năm, chắc vì bà là người con thứ tư. Người bà cái gì cũng nhỏ. Thân nhỏ, đầu nhỏ, mắt nhỏ, mũi nhỏ, miệng nhỏ, răng nhỏ. Nói chung nét mặt thanh thoát, chắc ngày xưa cũng xinh xắn.

Tuổi khoảng 70-75, tóc vẫn còn đen, tuy nhiều lúc rất dơ. 

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2020

Mai Thảo: Hà Nội, một ánh lửa đã tắt

Thời kỳ tản cư ra khỏi thủ đô Hà Nội, bấy giờ là 46, toàn quốc kháng chiến lang thang suốt ba bốn năm liền ở mấy tỉnh phụ cận với năm cửa ô và ba mươi sáu phố phường là Sơn Tây, Hà Đông, Phủ Lý, buổi tối nào với tôi cũng có một khoảng thời gian nhỏ dành cho nhìn về Hà Nội. Đứng dưới một gốc cây, tôi trèo lên cành. Ở giữa một cánh đồng, tôi leo lên mặt đê. Một bụi tre làm cho khuất lấp? Tôi lần ra khỏi ngõ. Và như thế, đứng cái thếđứng chênh vênh trên một ụ đất, một gò đống, tôi mê mải ném tầm mắt cho bay qua một khoảng trống trải rộng, nhìn về cái phía có một vùng ánh sáng lung linh hư ảo bốc lên. Trời của chiến thời mới khởi dấy hồi đó, đêm nàocũng tối đặc như trời ba mươi tết. Tiêu thổ lướt qua như một bóng rợp khổng lồ, tất cả những thị trấn đã nằm xuống thành bình địa. Duy Hà Nội còn đứng vững với những kiến trúc tiền chiến và tiền khởi nghĩa, duy Hà Nội còn ánh sáng còn mái ngói, còn cửa sổ, hàng hiên và những ngọn điện đường. Cho nên, giữa một địa hình làng xóm tối đen hoa mắt, bên này một vòng đai trắng, mà đứng ở đâu, tôi cũng quy định phương hướng Hà Nội thật dễ dàng, bằng vùng hào quang của Hà Nội ở xa xa, vùng hào quang chập chờn, nghi ngút, như dấy bốc lên từ một miệng lò vĩ đại. Mầu hồng của lửa ném lên khoảng không mịt mùng ở một góc trời, đó là cái ấn tượng, cái hình ảnh cuối cùng Hà Nội còn gửi đến cho tôi, tôi đã ở xa rồi, đêm tối vây quanh, nhưng tôi còn nhìn thấy lửa của Hà Nội, và lửa ấy đã cháy sáng trong hồn tôi thành một tình yêu lớn. Kẻ thức với đêm dài đến chán ngấy, đợi chờ một ánh nắng bình minh, thấy cái đĩa mặt trời đỏ lửa hiển hiện, niềm vui có lẽ cũng chỉ ngang bằng với niềm vui mừng đầy xúc động của tôi, khi nhìn thấy vùng lửa xa của Hà Nội trong đêm. Suốt mấy năm đầu của một lưu động trường kỳ, tôi không rời được mấy khu vực kề cận với Hà Nội, tôi quẩn quanh với những làng xóm Hồng Hà, tôi lưu luyến với những bãi bờ sông Đáy, nguyên nhân tình cảm sâu nặng kín thầm là ở đó, nơi tôi không rời xa một ánh lửa đêm, ánh lửa tạo cho tôi cái ảo giác Hà Nội còn gần, và phía lửa Hà Nội còn kia, tôi còn thế một ngày trở về Hà Nội. Lửa của trời Hà Nội. Lửa hồng bên trên, Hà Nội dưới lửa. Lửa cháy thành năm ngọn, mỗi ngọn một cửa ô. Lửa đỏ ba mươi sáu tầng. Mỗi tầng một phường cũ. Nhìn thấy lửa Hà Nội xa xa chập chờn dấy bốc với tưởng tượng dẫn đường và hình dung phóng lớn, kết tụ từ một tổng hợp của áng sáng muôn nghìn thành một vùng lửa lớn, tôi đã thấy được Hà Nội, qua từng khu phố, từng con đường. Lửa kia là của những ánh điện thấp thoáng tơ liễu buông rũ bên bờ Hoàn Kiếm, phản chiếu lên từ mặt nước Hồ Gươm. Chỗ sáng rỡ nhất của hào quang ném thẳng lên trời kia, không thể khác hơn là khu trung tâm đông chật của Hà Nội, lửa nhiều như vậy là lửa của Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Đào. Những đường viền mờ nhạt hơn, lúc có, lúc không, lúc ngời lúc tắt kia là lửa ngoại ô, với những ngọn đèn cao trên đê Yên Phụ, những chụp bóng thấp lối vào Cổ Ngư. Và cái hàng dài như một cánh tay, lan xa thành một mũi tên vàng trong bóng tối kia, là dẫy lửa hai hàng lẩp lánh chạy từ phố Huế chạy tới Bạch Mai, giữa leng keng tầu điện Kim Liên trong chuyến cuối cùng về Ô Đống Mác. Lửa Hà Nội nhìn xa như thế, mê đắm nghìn lần hơn khi Hà Nội nhìn gần. Trời cứ tối đặc ở ba phương. Riêng lửa một phương Hà Nội sáng. Nhiều đêm, tôi không nhìn thấy vùng lửa ẩy của Hà Nội. Đó là những buổi tối có sương mù, có mưa dăng, và trời hậu phương những đêm đó, đã không còn một quê hương nào cho tầm mắt nữa.

Nguyễn Tường Thiết: Đỉnh Gió Hú

Căn nhà số 19 Đặng Thái Thân Đà Lạt.

Nơi một chiếc bàn tròn nhỏ sát cửa kính nhìn ra hồ Green Lake... tôi đã tìm được một nơi lý tưởng để “viết”.

Bàn thật nhỏ. Tôi phải thu xếp gọn để có thể đặt được mọi thứ trên đó. Chiếc “laptop” đã chiếm gần hết mặt bàn. Phần còn lại dành cho ly cà phê Starbucks, chiếc bánh croissant bơ, nhật báo Seattles Times. Còn tập bản thảo dịch Ðỉnh Gió Hú của Nhất Linh tôi chưa biết đặt ở đâu đành để chồng lên trên tờ báo.

Ðầu mùa hạ, tôi về hưu. Tôi tự đặt cho mình những công việc phải làm. Ví dụ như phải vận động để giữ sức khỏe tốt, phải đánh máy bản thảo của ông cụ, bản thảo dịch cuốn tiểu thuyết Wuthering Heights của Emily Bronte, phải tiếp tục việc làm của ông cụ là dịch nốt một số chương cuối của cuốn tiểu thuyết, công việc ông cụ chưa hoàn tất khi qua đời.

Tôi tìm được một nơi có thể thực hiện cả hai thứ một lúc. Hồ Green Lake và quán cà phê Starbucks. Buổi sáng tôi thức dậy sớm lái xe đến hồ, đậu xe ở parking, đi rảo bộ một vòng quanh hồ chu vi 5 cây số, rồi tay xách cặp laptop, tôi đi ngang vườn hoa băng qua đường vào quán cà phê.

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2020

Hoàng Xuân Sơn: T H Á N G G I Ê N G, 2 & 3. N H Ữ N G B À I T H Ơ C Á N H C Ụ T

Hình minh hoạ, FreePik

X e n, P h á p H o a n


Vẽ tự khi nào không biết nữa
hai bàn tay mọc xuống cầm dương
âm đi chúi nhủi buồn đi trốn
một nốt vi lô lạc giữa đường

B à n C h â n


Bước đi của tĩnh
sao thân còn động
ngồi yên ngồi yên
hồn vừa đổ bóng

Đ ố n


Người thức giấc một trần đêm
ngủ nằm lây lan cơn vạ
ánh trăng vực sóng bên thềm
đại thừa lung linh tiểu ngã

N g h e M ì n h


Để tay lên bụng
như trẻ thơ nằm
thở hơi nhè nhẹ
ngủ giấc đằm đằm

T h ấ y


Lưng còng tuổi gió
đời khoan nhặt sương
mắt cườm tra hột
nhìn sao tỏ tường

Tường Việt: Muộn màng

Nắng lên, định đi bộ một vòng, biết lạnh nên tôi đã trang bị như một người đi trượt tuyết, vậy mà vẫn không chịu nổi những cơn gió hung hãn, lạnh buốt, làm tê cóng cả tay chân, mặt mũi. Mới đi một đoạn ngắn, tôi đã phải rời khỏi công viên, nhìn cây phong, có chiếc ghế đá, nơi hay ngồi đàm đạo với ông Văn, giờ khẳng khiu như bộ xương khô. Kì diệu thật ! đã mấy trăm năm, dưới cái lạnh dữ dội, chưa kể tuyết rơi tầm tã, những cành cây trơ trụi, tưởng như chết kia, vẫn tuôn nhựa sống trong từng thớ gỗ, để nuôi cho những mầm non hé nụ khi cơn gió mùa xuân vừa thổi đến, cả những cây đã già, không còn chịu nổi phong ba bão táp, trước khi chết, cũng thả hơi thở còn lại của mình xuống gốc cho những hạt mầm mới sinh ra, sự sống lại tiếp nối, chúng tự tin, ngạo nghễ, mưa, gió, nắng của trời nuôi sống chúng, trong khi con người một phần sự sống lại nhờ vào cây cỏ .

Tôi chui vào xe, tự nhiên hứng chí muốn uống một ly cafe nóng, vẫn biết uống cafe giờ này sẽ mất ngủ, đêm sẽ dài, nhưng thỉnh thoảng, đừng ngược đãi " bản thân " mình quá ! hãy " chiều " chúng một chút ! Cưỡng cầu làm gì khi mọi thứ kể cả con người, đều có hạn sử dụng của nó ! Ngụm cafe nóng đưa đẩy tôi vào đủ thứ chuyện, tôi lan man nghĩ tới những tổ chức bảo vệ môi sinh, mọi thứ từ : sông ngòi, biển cả, loài vật quí hiếm, cái gì cũng cần bảo vệ, nhưng cần nhất vẫn là bảo vệ rừng, cây cỏ vốn là thứ gần gũi với con người, vì chúng cho ta dưỡng khí, cho ta biết ý nghĩa cuộc đời, cho ta cảm nhận cái kỳ diệu của tạo hóa qua bốn mùa thay lá, cho ta biết mơ mộng, đôi khi còn đẩy ta phiêu lưu trên các ngọn tình sầu, gợi hứng cho những văn si, thi sĩ, nhạc sĩ để họ dẫn ta vào với rừng, với lá "Anh đi rừng chưa thay lá ! Anh về rừng lá thay chưa ?" Không thể chính xác, cuồng nhiệt, hoang dại hơn, khi : " Anh yêu em như rừng yêu thú dữ, anh yêu em như rừng cây với gió, đã yêu rồi, biết nói gì em ơi ! " mỗi lần nghe những giòng thơ, nhạc quyến rũ này, tôi lại thấy khỏe cả người, ( cứ như càng yêu, càng khỏe ), cái trữ tính đó lan tỏa trong tâm hồn, thấm vào cảm xúc, như sức sống của một thời trai trẻ cứ âm ĩ hoài, không dứt ! Chất cafeine, làm tôi tỉnh táo, quá khứ, hiện tại, tương lai, từng mảng đầy ắp trong đầu, tiếc có, nhưng buồn thì không.

Tôi đọc được đâu đó trên mạng, già thì phải sống yên ổn, ngồi thiền, nghe kinh Phật, buông bỏ mọi thứ, mỗi người có suy nghĩ khác nhau, chẳng ai đúng, ai sai, chỉ một đoạn đường ngắn nữa thôi, hà cớ gì phải ép mình vào những thứ mình không thích ? 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Võ Phiến: Nguyên Vẹn

(Trích đoạn từ tiểu thuyết Nguyên Vẹn của Võ Phiến)


Người khách hàng mua xong bộ quần áo trẻ con vừa đi sang hàng khác, Dung nghĩ là nên nhân lúc dì Bảy rảnh tay để chào dì ra về. Dì nói:

— Ừa, con về. Nói với má không chừng tháng sau dì lên chơi đó, nghen.

Nhưng sau đó dì lại hỏi:

— Mai chúa nhựt mà; ở lại chơi với em một bữa nữa, không được sao con?

— Thưa, mẹ con dặn...

Dì Bảy phá lên cười: 

— Má mày khó quá chời. Ừa, thì con về. Tao biết tánh má mày mà: chuyện gì chuyện nấy sắp đặt trước như vạch sẵn chương trình đâu ra đó hết. Sai một chút cũng không chịu. Khó quá chời.

Dì cười ngặt nghẽo về cái tánh khó của mẹ nàng, rồi quay sang bà bạn bên cạnh giải thích thêm:

— Với lại tôi biết cái tánh con nhỏ: nó ham học, nó lo bài lo vở lắm. Biểu nó ở chơi nó không ở đâu. Nó lên đại học cả năm nay rồi đó. 

Để chữa thẹn, Dung cười với bà bạn về lời khoe khoang của dì.

“Cái tánh” của dì, nàng cũng đã biết hơi kỹ: dì dễ dãi quá, không dứt khoát gì hết, và tưởng tượng ai cũng như dì. Nguyên một việc mời nàng ở lại chơi thêm một hôm, từ đêm qua tới trưa nay, dì nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần. Nàng trình bày lý do cần phải về Sài Gòn ngay hôm nay; dì nghe xong, bằng lòng để nàng về. Thế rồi sau đó, dì lại hỏi nàng có thể nán lại được chăng? Dì làm như lý do này, lý do nọ của nàng nêu ra đều không có nghĩa lý gì: mọi việc có thể tùy thích quyết định, định đi rồi định lại thế nào cũng được, không có gì quan trọng cả.

Khi Dung sắp sửa đứng lên để đi, dì Bảy chợt có một ý kiến: 

Đào Hiếu: Chuyện rắc rối trong khách sạn

Có thể nói chàng trai 19 tuổi ấy chưa bao giờ sử dụng súng. Nếu không tại sao ở cự ly 2 mét mà cậu ta bắn trượt? Cô gái khai rằng cậu ta bắn thẳng vào ngực mình nhưng viên đạn lại bay vào cửa sổ. Kính vỡ loảng xoảng, rơi xuống tầng dưới khách sạn. Cô gái vơ vội tấm drap trải giường choàng lên mình để che thân thể trần truồng của mình. Khi bảo vệ khách sạn tông cửa vào thì cô ta đang đứng nép vào tường, run rẩy, còn chàng trai thì ngồi im trên chiếc ghế bành, hút thuốc. Khẩu súng K54 vứt dưới chân.

Những ngày sau đó các nhân vật có liên quan đến vụ án được lần lượt hỏi cung tại trụ sở công an quận.

LỜI KHAI CỦA NẠN NHÂN:

- Tôi tên là Ngọc Trâm, 28 tuổi, chủ cửa hàng điện tử Hậu Giang. Tôi lên thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch mua bán.

- Trước đây chị có từng quen biết tên Lê Trung không?

- Tôi mới quen cậu ta cách đây một tuần lễ. Một buổi sáng khi tôi ngồi uống cà phê tại khách sạn X thì thấy một thanh niên trạc mưới chín, hai mươi tuổi, mặt lầm lì. Cậu ta đến ngồi ở bàn đối diện, gọi một ly cà phê đen và một bao thuốc con mèo. Sáng hôm ấy cậu ta không có vẻ gì muốn làm quen với tôi, chỉ nhìn tôi chằm chặp khiến tôi rất khó chịu. Những ngày sau đó cậu ta thường lảng vảng trước khách sạn để theo dõi xem tôi đi đâu. Lúc đó tôi nghĩ rằng cậu ta thích tôi nhưng vì nhát gan nên không dám bắt chuyện.

- Thế thì sao gọi là quen?

- Chỉ quen nhau khi ở hồ bơi.

- Hồ bơi nào?

- Hồ bơi của khách sạn X.

Trưa hôm đó, tôi đi bơi với một người đàn ông. Một đầu mối cung cấp các loại hàng điện tử cho cửa hàng tôi như tivi màu, cassette, máy tính…. Ông ta có nhã ý mời tôi đi bơi và dùng cơm trưa với ông. Lúc tôi xuống nước thì ông ngồi uống bia bên bờ hồ. Ông có thói quen uống một lon bia rồi mới đi thay đồ và xuống hồ.

Thứ Bảy, 29 tháng 2, 2020

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Về Một Chuyến Đi

Từ ngày xuống tàu cho tới nay, cũng hơn hai tháng rồi, thường gặp gió to, sóng lớn, mưa nhiều. Cho tới hôm nay sóng, gió mới chịu ngừng và mưa không còn nữa. Khí trời vùng này tuy lạnh nhưng không buốt, hôm nay trời nắng và mặt biển trơn láng như mặt thủy tinh. Trên không, sau lái tàu chim nhàn bay cả bầy. Dưới nước, trước mũi tàu, một bầy cá nược đua trông nhộn nhịp vô cùng. Tôi có thói quen gặp cảnh đẹp và vui, tôi hay chăm chú theo dõi, tôi đứng nhìn bầy cá nược rất lâu, cá nược lâu lâu mới gặp chúng đua một lần. Chim nhàn thì mùa nào cũng có, bất cứ ở nơi đâu, xứ lạnh tuyết, băng hoặc xứ nóng như thiêu, nói chung từ Nam Cực lên Bắc Cực ra tận giữa Thái Bình Dương, chỗ nào cũng thấy chim nhàn bay theo lái tàu. Đàn cá nược đua rất trật tự và ngay hàng thẳng lối theo hông hoặc trước mũi tàu. Thỉnh thoảng vài con phóng lên khỏi mặt nước và rơi xuống lao chao qua lại rồi cũng bơi theo một đường thẳng, hình như chúng chăm chú chỉ có cuộc đua thôi. Nhìn tốc độ chúng đua theo tàu, rất thong thả. Tàu chạy trên dưới mười bảy hải lý, tức trên dưới hai mươi lăm cây số một giờ, có lẽ chúng không có ý tranh phần thắng nên không thấy có dấu hiệu cố sức và cũng không một chút nào lơ là. Chúng có thể bơi nhanh hơn tốc độ con tàu, nhưng chúng cứ thong thả trước mũi tàu theo đường thẳng mà bơi. Cũng như chim nhàn, thỉnh thoảng nhấp cánh một cái rồi dang thẳng hai cánh thả theo tàu, tàu tới đâu chúng tới đó và trong lúc chúng nhấp cánh đứng yên lấy trớn, trước khi từ trên lao xuống như mũi phi tiêu thẳng một đường, ùm xuống mặt nước, khi cất cánh lên thì trên mỏ đã gắp được con mồi. Tuy thấy động tác chớp nhoáng nhưng rất nhẹ nhàng, thong thả không lệch lạc chút nào, đặc biệt hơn nữa là không thấy chúng giành giựt hay cắn mổ nhau vì một con mồi. 

Mấy chục năm làm đầu bếp trên tàu buôn, nấu cho nhiều loại người ăn, từ giám đốc công ty, officers cho tới những thủy thủ ít học, tôi hay chú ý cách ăn uống của họ và có sự so sánh này. Mặc dù mỗi con người, mỗi dân tộc, có đạo hay không theo đạo nào hết, phần đông con người ta hay đứng núi này trông núi kia, ăn uống ít khi chú tâm tới món ăn trước mặt, dọn ra món này thì ước ao được ăn món khác. Có vài thuyền trưởng hễ uống bia thì ngồi miết từ trưa cho tới chiều, thuyền trưởng làm sao thì đám phụ tá làm theo vậy. Nhưng thấy họ có chú tâm uống bia đâu, ngồi tụm lại người này nói, người kia nói, lâu lâu ngước cổ đổ bia vô họng rồi lấy trớn nói tiếp, làm như bia là dầu bôi trơn cho mấy cái máy nói chạy. Hổng biết chuyện gì mà ngày nào cũng tụm lại vừa uống bia vừa nói chuyện, đàn ông không mà cũng nhiều chuyện quá trời, có khi mê nói mà bỏ luôn cả bữa ăn. Tôi có làm chung với thuyền trưởng phụ nữ, nhưng đàn bà thường sống kỷ luật hơn, đúng giờ giấc hơn và các bà đâu có ngồi lê đôi mách hàng giờ, uống bia và nhiều chuyện như mấy ông. Mỗi khi quan sát cá nược và chim nhàn, tôi nghĩ tới sự chú tâm (mindfulness), ngôn ngữ Phật giáo gọi là “chánh niệm”, tôi thấy ngoài những chùa chiền ra, nhiều nơi trên thế giới này có nhiều trung tâm tổ chức thực tập chánh niệm, nhưng càng ngày con người càng lộn xộn, sống trong sợ hãi và bất an. Xem ra chim nhàn và cá nược khỏi cần thực tập, có lẽ từ khi có loài chim, loài cá cho tới nay chúng vẫn vui sống trong chánh niệm rất hồn nhiên. 

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Lê Hữu: Thuốc lá, buồn ơi chào mi

Nhớ tôi người có châm điếu thuốc?
Nhớ tôi người có đi trong mưa?
(Thơ Trần Mộng Tú)

“Bỏ thuốc lá? Dễ thôi, tôi bỏ hoài.”

Câu ấy ta vẫn nghe. “Bỏ hoài” có nghĩa là bỏ tới bỏ lui, bỏ đi bỏ lại nhiều lần mà vẫn chưa… bỏ được. 

Bỏ thuốc lá là chuyện nhỏ, nhưng cần một ý chí lớn, mạnh mẽ. 

Trong một lần chia sẻ về kinh nghiệm bỏ thuốc lá mới đây với vài người bạn, tôi ghi nhận được những câu chuyện không ai giống ai. Có anh thì do chịu khó luyện công môn yoga, một môn tập không chỉ giúp làm dịu tâm trí, vượt qua sự mệt mỏi và căng thẳng mà còn có tác dụng loại bỏ được những ham muốn các nhu cầu giả tạo. Nhờ vậy, mặc dù không nhắm vào việc cai nghiện thuốc lá, đến một lúc nào đó anh bỗng quên bẵng và không còn hứng thú gì chuyện hút xách nữa, xem như “bất chiến tự nhiên thành”. Có anh suốt mấy chục năm đi đâu cũng kè kè gói thuốc, tự biết ý chí mình chưa đủ lớn, đủ mạnh để khuất phục sự quyến rũ của “tương tư thảo”, đành tìm đến ông bác sĩ người Mỹ để xin… kẹo Nicorette và nhai đến sái quai hàm mới bỏ hẳn được thuốc lá (thời ấy cần có toa bác sĩ mới mua được kẹo này). Trường hợp bỏ thuốc lá của tôi cũng dính dấp đến ông bác sĩ nhưng là câu chuyện dở khóc dở cười. Xin kể lại đầu đuôi thế này.

Những gia đình chuẩn bị xuất cảnh để định cư tại Mỹ theo diện HO đều phải qua thủ tục khám sức khỏe, trong đó có màn chụp hình phổi để xem có bệnh trạng gì không. Nếu chẳng may vướng bệnh phổi thì cần được điều trị cho đến khi hết hẳn mới được phép xuất cảnh. Nếu chữa không xong thì chịu khó ở lại vậy, xem như bị đánh rớt. 

Ngô Nguyên Dũng: Điểm trang



Mỗi thứ năm, bà Lê dậy sớm hơn thường lệ. Bảy giờ sáng, chuông đồng hồ réo thức. 

Vọng qua ô kính khép, hồi chuông nhà thờ gióng lễ.

Giờ giấc này, vào những ngày đông, trời vẫn còn tối ám. Sang tháng tám, giữa hè, luồng sáng những ngày nắng đẹp đã lách qua rèm cửa sổ voan mỏng, suồng sã soi bói diện tích phòng ngủ hai mươi thước vuông. Lên phiến vách dán giấy màu vỏ trứng treo bức tranh hoa mẫu đơn hồng nhạt. Lên tủ quần áo bốn cửa sơn trắng gắn gương soi. Lên mặt giường đôi để trống một nửa, nhưng gối chăn vẫn được phủ gấp thẳng nếp. 

Cứ vậy, từ nhiều năm nay. Như để cất giữ một hơi ấm, một vòng ôm, một dư hương chưa phai. 

Bà Lê ngồi dậy, thẳng lưng, khép mắt tĩnh tâm, kiểm soát nhịp thở, cố gắng bôi xoá mọi ý nghĩ nội tâm và dập tắt âm thanh ngoại giới. Không được lâu. Cứ mỗi mười phút, thính giác bà lại bắt được từ bên dưới vọng lên tiếng xe điện nghiến đường sắt. Khe khẽ. Rầm rì. Và, cứ mỗi phần tư giờ, văng vẳng từ phòng khách tiếng đồng hồ quả lắc gióng chuông. Đôi khi, bà bất chợt thấy ra trong vùng tối thị giác một đốm sáng vàng loé, từ từ loang rộng. Rồi chuyển sang xanh lam, sẫm dần, và cuối cùng tan lẫn vào vũng tối mù tăm. 

Phạm Xuân Đài: Trích du ký Đi Tàu


Linh Ẩn Tự


Hàng Châu, Tô Châu của nước Tàu vẫn gợi cho một người Việt Nam nhiều cảm tưởng lãng mạn, ngay cả trước khi đến thăm tận nơi. Hai thành phố cách nhau không xa, chỉ có mấy giờ xe buýt, hình như sinh ra để bổ túc cho nhau. Cảnh đẹp, và người ta nói đàn bà tại nơi đó cũng rất đẹp, đến nỗi khi còn trẻ tuổi, đứng ở biên giới Việt Hoa tại Lào Kai năm 1947 thời kháng chiến Pháp, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết trong bản nhạc Bên Cầu Biên Giới:

...Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên dòng sông Danube
Những đêm sáng sao...

Giấc mơ ấy tác giả gọi là “viễn mơ,” ở trong khung cảnh khép kín trong núi rừng kháng chiến thả tâm hồn đi mông lung ra thế giới bên ngoài, vươn tới những cái đẹp của đời sống thanh bình nơi nơi, ước mơ được sống và được chết với những vẻ đẹp đó.

Nhưng đi du lịch theo tour thì rất khó gặp người đẹp, tuy vẫn bàng bạc cảm nhận cái không khí lãng mạn của nơi chốn này. Hàng Châu thì cảnh như vẽ, Tây Hồ và những cây liễu rủ quanh hồ quả là trứ danh, tôi lại càng may mắn đến đúng mùa hoa đào đang nở ven hồ, tưởng mình đi lạc vào một chốn Đào nguyên nào mà từ ngày nhỏ cứ nghe nhắc mãi trong sách vở, thơ văn.

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời