Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Nguyễn Vạn An: Hồn Của Tượng

(tượng, Nguyễn vạn An, nặn bằng đất pha sỏi vụn)

Mới gặp Anh đêm nay 
Xin Anh chỉ phác em vài nét 
Hướng một dáng ngồi, níu hai cánh tay 
Nắn một áng lưng, gọt một bờ vai. 
Em e thẹn quay đi 
biết Anh đang nhìn em tha thiết 
Đừng quá vội vàng 
Xin Anh nhè nhẹ thôi ! 

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

Nguyễn vạn An : Câu Chuyện Dì Sáu

Tranh Bé Ký
Dì Sáu là một người đàn bà rất đáng phục. Sinh trưởng ở miền nam Việt Nam, lúc nhỏ chắc học hành cũng chẳng bao nhiêu, sau 1975 di tản sang tây, không biết một tí tiếng Pháp nào, vậy mà lại một thân một mình sống được yên hàn từ mấy chục năm nay tại xóm La Tinh, ở ngay trung tâm thành phố Ba Lê hoa lệ. 

1. Gặp Dì Sáu. Chúng tôi gặp Dì lần đầu trước đây đã mấy chục năm. Khi đó vùng Ba Lê còn ít người Việt, và họ phần lớn sống ở ngoại ô. Trong xóm La Tinh có môt tiệm bán thức ăn Việt Nam rất nổi tiếng. Tôi ở ngoại ô, mỗi cuối tuần là lái xe chở vợ và hai con nhỏ vào xóm La Tinh mua thức ăn Việt. Một ngày nọ, mua hàng xong, tôi vừa mở cửa xe cho hai cháu lên, thì bỗng có một bà người Việt, tuổi cỡ trên năm mươi, quần áo đen, xách một cái thúng lớn xô hai đứa con tôi, chen vào ghế sau, ngồi trốn trong xe. Nhìn phía xa sau xe, tôi thấy có hai người cảnh sát đang rảo bước tới. Tôi không khỏi lo sợ, vì nghĩ bà đã làm điều gì bất chính, bị cảnh sát rượt. Nào ngờ khi hai người cảnh sát đến nơi, thì họ chỉ ghé đầu vào xe, trừng mắt nhìn bà một cách nghiêm khắc, rồi quay nhìn nhau tủm tỉm cười, rồi bỏ đi. Bà lụm cụm chui ra, cảm ơn chúng tôi, rồi xách thúng ngồi ở một cái ghế dài bên lề đường... chờ khách. Thì ra là bà làm món ăn Việt Nam, rồi mang tới bán lậu ở trước cửa hàng kia. 

Sau đó ít lâu, chúng tôi dọn vào ở xóm La Tinh, tình cờ gần nhà bà, thành ra chúng tôi thành hàng xóm và tình bạn với bà kéo dài mấy mươi năm, tới khi bà tự nhiên đi đâu mất tích, nhưng đó là chuyện về sau. 

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Tôn Nữ Thu Nga: Nhặt Lá Vàng



Chiếc lá vàng khô rụng xuống rồi!
Trong mùa thu tới có ai hay?
Khi em khẽ nói lời chia biệt.
Là lúc chiều buông ánh nắng phai.

Thuở ấy đường xa tiễn gót người
Sao em không thể đợi ngày mai?
Rồi ngày liên tiếp, ngày sau đó,
Se sắt buồn thương suốt cả đời.

Một thoáng trầm tư nhặt lá vàng.
Ngậm ngùi nghe gió lướt mênh mang.
Tiếng cười văng vẳng từ năm cũ,
Vọng mãi ngàn thu em biết chăng?

10/10/2019

Bình Nguyên Lộc: Bóng Ma Trường Áo Tím

Thái ngóc đầu lên để vói rút khăn lông trên đầu giường đặng che mặt mà ngủ, vì đèn chong nóng quá.

Rút khăn xong, anh thả rơi đầu xuống thì nghe một cái cộp, rồi lại nghe anh ta la: “ Ui cha ! “ Ở mấy chiếc giường hai bên, người ta rúc rích cười. Anh đã bị bạn kế giường rắn mắc ăn cắp gối lúc anh ngóc đầu lên. Tên ăn cắp là Ngư. Ngư hô:

- Nè chụp nè ! Rồi liệng gối Thái theo đường vòng cầu. Gối bay ngang mình Thái rồi rơi qua giường bên kia. Nguyên đưa tay sẵn để hứng lấy rồi dồi gối qua cho Thoại bên cạnh, y như người ta chơi bóng rỗ.

Gối chuyền tay mà bay từ giường này đến giường khác, Thái rượt theo mãi mà không kịp. Rốt cuộc anh đành trở về giường, cuốn mền lại kê đầu mà nằm.

Những người chơi cái trò trẻ con trên đây toàn là người lớn cả, trên dưới bốn mươi tuổi đầu.

Đó là những thầy giáo ở tỉnh, nhân dịp bãi trường về Sàigòn theo học các lớp tu nghiệp tại trường Gia Long.

Tất cả, ngày xưa đều là lưu trú học sinh ở một trường trung học nào đó ở miền Nam.

Cuộc sống chung trong mùa tu nghiệp năm nay bỗng dưng gây lại cái không khí mười mấy năm về trước với những dãy giường sắt ngay hàng thẳng lối, với trống điểm giờ ăn, giờ tắm, giờ nằm, với bóng đèn chong màu xanh xanh tỏa ánh sáng trăng nhơn tạo xuống những chiếc mùng rung rinh mà trong đó các cậu thiếu niên mơ những mộng đẹp ngoài đời.

Ôi, cái đời lưu trú năm xưa, xa lắm rồi mà nghe sao như là mới hôm qua này thôi !

Đàm Duy Tạo: Chương 24 Kim Vân Kiều Đính Giải

CHƯƠNG 24
KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp
hiệu đính năm 2019

* * * * *

CÂU 2289 ĐẾN CÂU 2438
“Tha người tri quá / Cứ phép gia hình”


2289. Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi: [1]
2291. Khi Vô Tích, khi Lâm Truy,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương. 
2293. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân oán đôi đàng chưa xong.
2295. Từ Công nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
2297. Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao. [2]
2299. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, [3]
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy,
2301. Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra. [4]
2303. Lại sai lệnh tiễn truyền qua, [5]
Giữ gìn họ Thúc một nhà cho yên.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Người Tình - Bài Thơ Giã Biệt Du Tử Lê



Năm giờ sáng
Em nhắn tin
Từ trong vùng tối
Sương mù bay đầy trời
Anh Du Tử Lê vừa mất
Sau những ngày thật im lặng
Điện thoại sáng lên như vầng trăng
Dưới gối
Gọi người về

Anh vẫn nghĩ về cái chết nhưng tin hãy còn lâu
Như ngực em vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Mùi cỏ cây mục nát bên đường
Khi em nói cùng anh
Gió thổi mênh mang ngoài bãi cát
Em lại muốn ôm anh thêm một lần
Chiếc thuyền máy tắt
Thùng dầu cuối cùng phụt lửa
Mùa bắp chín trong làng
Khói đốt cỏ ngoài đồng nhòe mặt em
Nếu phải chết
Chúng ta sẽ chết trước mùa đông lạnh giá

Trần Ngươn Phiêu: Tuổi thơ *

Triệu mồ côi mẹ rất sớm, khi chưa tròn năm tuổi. Mẹ Triệu vốn thuộc một gia đình công chức khá giả, lớn lên ở Sài Gòn nhưng sau khi có chồng thì về làm dâu ở Mỹ Long, một làng nhỏ thuộc quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, ven biên Đồng Tháp Mười. Nơi đây là một nơi thực sự quê mùa, xa thành phố Sa Đéc cách hai nhánh sông lớn Tiền Giang. Từ Sài Gòn xuống, không có đường xe đi ngang qua làng. Thuở đó con đường từ An Hữu, trước khi đến bến Bac Mỹ Thuận, đi đến quận Hồng Ngự chưa được xây cất như trong thời Đệ nhất Cộng Hòa. Dân trong làng nếu không có dịp ra tỉnh thì chưa biết được hình dáng một chiếc xe hơi ra làm sao!

Ông nội Triệu là một nhà nho, quê ở Hà Tĩnh vào Nam để theo ông Bác của Triệu bị Pháp xử lưu đày ở Nha Mân (Sa Đéc) vì tham gia hoạt động trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông nội Triệu là nghĩa quân trong phong trào Phan Đình Phùng, khi trở về làng thấy làng đã bị quân Pháp đốt sạch nên đã lấy quyết định bỏ làng, xuôi về Nam theo người anh cả. Nhiều nhà cách mạng khác cũng bị Pháp chỉ định cư trú ở Nam, như cụ Vũ Hoành ở Sa Đéc, cụ Dương Bá Trạc ở An Giang, cụ Phan Tây Hồ ở Định Tường ...Từ Hà Tĩnh, ông nội Triệu đã đi bộ vào Nam tìm người anh. Cuộc hành trình này là một giai thoại được con cháu thường nhắc nhở trong gia đình và được ghi vào gia phả. Ông nội Triệu đã được chọn lãnh trách nhiệm dạy học ở trường làng và đã lập nghiệp ở đây, vừa làm vườn vừa làm ruộng. Cả làng đều gọi ông là Ông Giáo. 

Cha Triệu là một tư chức làm việc với Pháp, có được cơ hội giúp việc khi Pháp thành lập các khách sạn lớn như Continental, Majectic ở Sài Gòn, Langbiang Palace, Hôtel du Parc ở Đà Lạt. Lúc Triệu ra đời thì cha Triệu đã trở thành chuyên viên nên được chỉ định phụ trách các khách sạn ở Siemréap, Đế Thiên Đế Thích và nhà hàng Bokor ở Campuchia. Mẹ Triệu vì có hai con còn nhỏ nên chưa theo chồng được, phải về quê làm dâu. Từ một nơi phồn hoa là Sài Gòn về chốn quê mùa, mẹ Triệu vẫn thích nghi được với cuộc sống mới. Từ một cuộc sống tương đối theo lối Âu tây trong một gia đình công chức, mẹ Triệu vẫn sinh hoạt bình thường trong một gia đình Nho giáo theo lề lối sống khắt khe.

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2019

Trần Mộng Tú: Xin Lỗi

Hoa Trà Mi, Hình minh họa, Dan Kitwood/Getty Images

Xin Lỗi

Sáng nay chủ nhật, tôi tới nhà thờ
Nhìn lên ảnh Chúa
Trên thánh giá hai bàn tay Người rỉ máu
Tôi hình dung ra những vệt máu trong thành chiếc quan tài

Chiếc quan tài bọc thép
chở 39 hồn điêu linh
chở 39 xác đông lạnh
đông lạnh những lời Kinh

Hơi thở nào ngậm lại
Như cái ngáp cuối cùng của những con cá miền Trung ở quê tôi
Trong những ngày tháng đó
ai còn nhớ không

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Ngọn đèn trong căn lều nhỏ

Hình minh họa
Salkum, năm 1989. 

Luân đậu xe trước Andy’s Tackles Shop. Tiệm là một căn nhà gỗ nhỏ xây nhô cao hơn hẳn mặt đất. Luân nhìn quanh bãi đậu không thấy chiếc xe truck màu đỏ. Như vậy là Mark chưa tới. Anh bước lên mấy bực gỗ vén tấm mành mành nơi cửa chính vào tiệm. Tấm mành có gắn cái chuông. Khi bị động nó phát một tiếng kêu lớn “binh boong”. Luân nhìn khắp một lượt không thấy ai bên trong. Tiệm chia làm hai khu. Một bên bán đồ săn bắn với những khẩu súng săn đặt trong tủ kính. Trên tường phía sau tủ có gắn đầu một con hươu lớn với cặp sừng cong lên. Phía bên kia bán đồ câu. Những chiếc cần câu dài đặt thẳng đứng trên giá. Luân bước về phía bán đồ câu, đến gần một cái tủ kính dài và thấp có bầy lưỡi câu, giây câu, mồi giả, phao, chì… Đồ câu ở đây ít ỏi và thô sơ không thể nào sánh với các tiệm câu lớn ở Seattle. Luân đã mang theo đầy đủ đồ nghề, nhưng anh nghĩ chẳng lẽ đã vào đây mà lại không mua thứ gì? 

Anh đang phân vân lựa chọn thì ở phía sau tủ kính một người đàn ông từ phòng trong mở cửa bước ra. Ông ta cao gần bằng khung cửa, mặc áo ca-rô đỏ, quần jeans, khuôn mặt vuông, hàm bạnh, râu mép rậm. Luân thấy ông ta giống William Faulkner, nhà văn Mỹ anh đã một lần nhìn thấy hình in trên bìa của một tập san số kỷ niệm nhà văn này. Ông ta đi ra, đầu cúi xuống, một tay cầm cái dũa, vừa đi vừa dũa vào một vật gì bằng kim loại cầm ở tay kia. Một lát ông ngửng lên. Luân đọc trong con mắt ông ta một nét ngạc nhiên. 

Ngô Nguyên Dũng: Bọ rầy tháng năm

Ảnh minh hoạ lấy từ tin mạng.
Cơn giông bất ngờ nổi lên bắt ông phải tìm chỗ trú mưa dưới tàn cây rậm. Thoáng chốc, mây đen đùn kín khung trời tháng mười. Ánh ngày tắt ngúm. Khắp nơi chỉ nghe tiếng mưa rì rào. Đệm theo một thứ thanh âm khác. Khẽ. Rất khẽ. Nghe như tiếng gọi. Một giọng trẻ con ngại ngùng gọi. Ông ơi, tới đây! Ông quay nhìn dáo dác. Lại đây, ông! Nhanh lên! Sau một thoáng lưỡng lự, ông bước lại chỗ phát ra tiếng gọi và bắt gặp một cậu bé đang đứng đấy. Một mình. Cậu khoác trên người chiếc áo mưa có mũ che màu vàng loé. Mưa gió thế này mà bé con làm gì đứng đó? Con tìm bọ rầy tháng năm. Bọ rầy tháng năm? Vào tháng mười? Dạ, con tìm được cả bầy. Đâu vậy? Đằng kia kìa, xung quanh nấm mộ con. Ông tới đấy. Thật vậy. Chỗ đó, thấy có vô số bọ rầy tháng năm ẩn náu trong cỏ. Lúc ông giơ tay toan bắt một con, cả bầy túa bay tứ tán. Nhịp cánh đập nhấp nháy như những đốm ma trơi trong bóng nhá nhem. Dưng không cả không gian sáng loé. Một lằn sét xé trời thành nhiều mảnh. Một tiếng sấm kinh thiên đánh trúng ngay thân cây, chỗ ông đứng mới nãy, và lưu lại một thương tích còn bốc khói. Toàn thân ông run rẩy. Sau khi hoàn hồn, ông ngoảnh nhìn quanh quất. Không thấy cậu bé đâu nữa. Ông xem lại. Trên tấm bia đá của nấm mộ con thấy ghi tên và di ảnh một cậu bé. Sinh năm 2011. Mất năm 2016. Vào một ngày tháng năm. 


"Kết quả thử máu tốt đối với tuổi của ông", người bác sĩ nhìn ông, nhoẻn cười khích lệ. "Ông nên, vì lý do sức khoẻ, hoạt động nhiều hơn nữa. Đi bơi mỗi tuần ít nhất một lần và tản bộ. Và uống nước, uống, uống, cả những lúc ông không thấy khát." 

Kể từ đó chiều nào ông cũng đi dạo. Gần như mỗi ngày. Cả những hôm thời tiết xấu. Đôi khi có vợ ông theo cùng. Thường thì ông đi một mình, lưng đeo ba-lô, quà tặng của vợ ông nhân dịp sinh nhật thứ năm mươi lăm. 

Đàm Trung Pháp (2010, nhuận sắc 2019): Duyên Trời “Tìm Thấy” Trong Công Viên

Johann Wolfgang von Goethe, Hình Hulton Archive/Getty Images
Thi nhân trữ tình lẫy lừng nhất trong văn học Đức phải là Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832). Bậc thiên tài hy hữu trong lịch sử loài người đã thành công trong đủ mọi loại văn chương. Trong cõi thơ trữ tình của ông, nổi bật nhất là ngôn ngữ bình dị và cấu trúc ngữ pháp đơn sơ theo truyền thống dân ca. Trọn bài thơ Gefunden (“Tìm thấy”) chuyển ngữ dưới đây, song hành với nguyên tác, phản ánh vẹn toàn các đặc trưng đó. 

Nội dung bài thơ 20 câu ngắn ngủi này kỳ thú như một chuyện cổ tích dân gian rất nên thơ của dân tộc Đức – Nàng Thơ được so sánh với một nụ hoa hé nở, đẹp long lanh với đôi mắt hiền mà thi nhân đã bất ngờ tìm thấy trong bụi cây một công viên lớn tựa rừng tại La Mã năm 1788. Nhà thơ muốn cúi xuống bẻ hoa, nhưng hoa vội nhẹ nhàng can ngăn rằng “hoa sao khỏi héo nếu phải lìa cành ? ” Lúc đó “hoa” mới đôi mươi, đẹp cả người lẫn nết, được nhà thơ giàu tình cảm cẩn thận đào lên cả ngọn lẫn gốc, rồi rước nàng về dinh làm tình nhân. Họ kết hôn sau đó và có với nhau một người con trai tên là Julius Walther von Goethe. 

Cần biết thêm rằng cái cây hoa tươi tốt mà lại biết nói tiếng Đức rất có duyên trong bài thơ hiền hòa chan chứa ân tình nêu trên chính là cô Christiane Vulpius (1765-1816). 

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2019

Trần Ngươn Phiêu: Bên bờ Rạch Cát *

Buổi sáng tinh sương ở Biên Hòa vào khoảng tháng Tám bao giờ cũng lạnh so với các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long. Đây là nơi chẳng những ở về phương Bắc lại còn là chốn khởi đầu của núi rừng miền Nam.

Triệu cùng ông ngoại ra ga Hiệp Hòa để đón chuyến xe lửa sớm buổi sáng đi Sài Gòn. Đây là một nhà ga rất nhỏ, thường được gọi là ga tạm, giữa hai ga lớn là ga Chợ Đồn và ga chánh Biên Hòa. Xe lửa Sài Gòn - Biên Hòa chỉ ghé lại ga này vào chuyến sáng sớm và chuyến bảy giờ tối để công chức, công nhân hoặc các bạn hàng có thể đi làm việc hay buôn bán ở Sài Gòn.

Trời còn sớm, sương vẫn còn trải mờ mờ trên mặt đất. Các công, tư chức làm ở các cơ quan chánh phủ hay các hãng xưởng kể như đều biết nhau vì thường cùng đáp xe hằng ngày nên đã chụm nhau từng nhóm nhỏ cười đùa, bàn chuyện thời sự ...Phần đông đều mặc âu phục, cổ thắt cà vạt vì là cách ăn mặc hầu như bắt buộc của các thầy thông phán trước Đệ nhị Thế chiến. Trong giới bạn hàng, các phụ nữ chuyên mua bán cá thì rất thong dong vào chuyến sáng vì gánh thúng không, chưa có cá, nên họ cười đùa rộn rã. Chỉ có chuyến chiều về thì mới thấy họ mệt lả vì các gánh nặng trĩu, sau khi bổ được cá ở chợ Cầu Ông Lãnh về bán ở các chợ Biên Hòa.

Từ ngày Triệu về Biên Hòa vì ông ngoại đã về hưu, dọn nhà từ Vĩnh Long về miếng vườn nhỏ ở ấp Phước Lư, bên dòng Rạch Cát, một nhánh của sông Đồng Nai, thì mỗi lần ông cháu có việc đi Sài Gòn, đều chọn khởi hành từ ga tạm Hiệp Hòa cho tiện vì gần nhà. Từ vườn nhà ra ga không bao xa, nhưng mỗi lần đi Sài Gòn, ngoại thường thức rất sớm, khi tiếng chuông công phu khuya chùa Đại Giác ở Cù lao Phố gióng lên và ngân rền trên sóng nước Đồng Nai. Lúc còn ở Vĩnh Long, một tỉnh nhỏ nhưng ở ngay trong thành phố, Triệu thường bị đánh thức khi thành phố bắt đầu rộn rịp xe cộ buổi sáng. Về Phước Lư, nửa tỉnh nửa quê, chuông công phu khuya của chùa Đại Giác là đồng hồ báo thức mỗi sáng, nhắc Triệu thức dậy, chong đèn dầu ôn bài để đến trường Tỉnh. Mỗi lần thức dậy, đánh que diêm đốt đèn, mùi diêm sinh tỏa trong không khí buổi sáng tinh sương có một hương vị là lạ mà Triệu không bao giờ quên kể như suốt cuộc đời sau này.

Trần Mộng Tú: Đuổi Nhau

Hình minh hoạ, FreePik
Sáng nay tôi ra phố
gặp người phu dọn đường
trên lưng đeo chiếc túi
thổi tung lá bên đường

Này anh phu dọn đường
thổi mùa thu của tôi
thổi lá vàng của tôi
thổi về đâu, anh ơi

Trong bầu trời trong vắt
lá chạy người đuổi theo
cả hai lăn xuống dốc
mùa thu cũng lăn theo

Mùa thu bay theo lá
lá bay theo mùa thu
người phu chạy theo đuổi
lạc vào một giấc mơ

Hoàng Quân: Thy Will Be Done

Hình minh hoạ, FreePik

Nàng đã đọc đâu đó câu nói của văn sĩ người Anh C.S. Lewis: “There are two kinds of people. Those who say to God “Thy will be done” and those to whom God says: “All right, then, have it your way.”

Hồi còn bé tí tẹo, nàng đã biết băn khoăn về tuổi của mình. Tình cờ, nghe bà thím nói chuyện, những người sinh năm canh tý số vất vả, cực khổ. Lời nói đó để dấu trong đầu óc non nớt của đứa bé mới vào trung học. Nàng nghĩ, cả thế gian chỉ mỗi mình nàng có tuổi canh tý. Nàng không muốn có cuộc đời đã định của tuổi canh tý. Rất sớm, nàng manh nha ý định “cải số” của mình. Theo suy nghĩ trẻ con của nàng, nhỏ học giỏi, lớn an nhàn. Nàng không nhớ rõ mình đã áp dụng “chiến lược” này từ lúc bao nhiêu tuổi. Có lẽ, nàng mê học trước khi biết đọc chữ. Nàng đã ăn cháo thánh từ thuở tiểu học. Khi nhà có cúng giỗ, nhất là dịp cúng tất niên, cao lương mỹ vị ê hề. Con nít háo hức chờ tàn nhang để tranh nhau con cua luộc đỏ thắm, cái trứng vịt luộc tròn quay. Hoặc hau háu ngó những lát chả lụa xắt hình thoi, những cuốn ram chiên vàng óng ả. Con bé tuổi canh tý nôn nao nhìn đầu bàn, có lư hương, những cây đèn sáp, những nải chuối với hoa phượng vàng ở trên, và quan trọng nhất, có chén cháo thánh. Nàng nghe nói, cháo thánh sẽ giúp đầu óc sáng suốt, học mau, hiểu lẹ, nhớ dai. Với niềm tin mãnh liệt đó, nàng thấy cháo thánh ngon hơn món bồ câu hầm hạt sen hay vịt nấu măng. Cháo thánh đã hiệu nghiệm suốt bao nhiêu năm làm học trò của nàng. 

Một lần, nàng và nhỏ bạn hàng xóm, Ti Ti, hai đứa chơi vũ cầu xong, ghé ngồi nơi hiên nhà của vợ chồng chú Lương, vừa nói chuyện, vừa chia nhau nhâm nhi miếng kẹo đậu phụng đường đen. Thím Lương quay qua Ti Ti:

Trần Huy Quang: Linh Nghiệm

Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân, không nghèo nhưng cũng chẳng giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy học ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ…bằng nguyên bản, nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.

Hằng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chuỳ gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các. Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn ! Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. 

Hinh ngước cái đầu mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiên hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2019

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Miền Kinh Rạch

Giethoorn, hình Internet

Nhân dịp gia đình người em từ Úc sang thăm tôi và đứa em kế, sau hơn hai mươi năm ba anh em mới gặp, phải tính chuyện đi chơi coi sao cho được. Tôi là anh lớn và tất cả qua ở nhà tôi, nên tôi phải chọn một nơi thắng cảnh đẹp của Hoà Lan để mọi người cùng thưởng ngoạn. Tôi hỏi ý kiến bà xã và con gái, bà xã tôi thích bông nên chọn đi vườn bông, con gái thì thích những thắng cảnh thành phố nên chọn Amsterdam, Den Haag hoặc Rotterdam, hai người nói qua nói lại cả buổi nhưng chưa chọn được chỗ nào. Bà xã tôi bèn day qua hỏi tôi:

– Anh đi nhiều chắc anh biết chỗ nào đẹp? 

Tính ra cả đời tôi thường xê dịch đó đây, mang tiếng là dân Hoà Lan nhưng thường thì tôi sống ngoài Hoà Lan nhiều hơn, nên sự hiểu biết về đất nước con người ở xứ hoa tulip của tôi có phần giới hạn. Tôi cười và nói: 

– Ở Hoà Lan anh biết ít lắm. 

– Anh thường tìm hiểu chuyện du lịch mà, bộ ở Hoà Lan anh hổng có ấn tượng chỗ nào sao? 

Nghe hỏi tôi chợt nhớ ra và buông lời không do dự: 

– Theo anh thì ở Hoà Lan, Giethoorn là ấn tượng. 

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Nguyễn Vạn An: Chuyện Liễu Trai Thời @

Hồi trẻ còn là sinh viên, muốn học hỏi về ngoại ngữ, tôi có làm một blog bằng tiếng Pháp. Trong site đó các thành viên viết cho nhau rất tử tế. Có điều là họ rất kín đáo về đời tư. Khi tự giới thiệu, chỉ cho biết là nam hay nữ, còn phần lớn không ai cho biết tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Rất ít khi cho điện thoại, còn địa chỉ thì không bao giờ cho.

Vào blog ít lâu thì một số người cùng gu nhận ra nhau, và chúng tôi thành một đảng khoảng ba bốn chục người, nam nữ trẻ già đủ cả, viết thơ, tản văn, vẽ, chụp hình, thăm thú đi lại. Khi quen nhau rồi, thì ai cũng kín đáo nói về mình một chút, và bản tính, tuổi tác, trình độ học vấn, sở thích, gia đình, dần dần lộ ra.

(ảnh minh họa, lấy trên mạng, nhân vật này không ăn nhập gì tới người trong chuyện)

Trong nhóm có một cô rất nổi tiếng, tên hiệu là cô Lan (Orchidée, Orchid). Đọc bài thì thấy ngay cô là một người có trình độ học vấn cao, đọc sách báo nhiều (sau này tôi mới biết cô là một luật sư rất thành công). Cô không làm thơ nhưng viết tản văn rất hay. Cô viết nhiều và đưa nhiều ảnh về đạo Thiên Chúa. Ngoài ra, cô rất thích tìm hiểu triết lý, nghệ thuật Á Châu, Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Cô viết và đưa tranh và lý luận sâu sắc về Lão Tử. Cô viết về các bình và tách trà cô mua được bên Tầu, về các loại trà đủ xứ, phân biệt cách uống trà của nguời Nhật và người Trung Hoa, đọc rất mê say. Cô cũng cho xem rất nhiều bức tranh các ikebana cô làm, rất tinh khiết, trang nhã, chứng tỏ cô có theo học về nghệ thuật này. Một lần cô đưa hình một đôi mắt xanh, to, rất đẹp, lông mi dài cong vút, dưới đầu xoã một bộ tóc vàng ánh. Chỉ có đôi mắt thôi. Chẳng biết hư thật ra sao, đôi mắt đó có phải của cô hay không, nhưng bài này cô được gần 100 cảm nhận lao xao. Cô kể chuyện đã học yoga từ nhiều năm và bây giờ là giáo sư trong một club yoga, tuy đó không phải là nghề chính. Vậy chắc là cô có một thân hình rất đẹp. 

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

Nguyễn Nam An: Chanh


Cô bảo làm lại ngôi vườn đi. Cây lá xơ xác lắm rồi. Cô đưa cho anh tên vài loại hoa, loại cây trong đó có cây chanh ngọt! Phía sau căn gác một phòng đất đâu có nhiều. Cô nói thêm:

“Làm gì thì làm cũng phải có cây cuối cùng. Chanh!”

“Ờ chanh. Mà trồng cây đó để làm gì?”

“Em thích.”

Cô lại đòi thêm một cây như thế để trồng ở nhà. Người yêu hoa yêu trái theo mùa đã làm anh khốn đốn, chạy tới chạy lui những vườn bán cây để tìm mua cho được. Đến khi anh mang về, cô nhìn tên loại cây anh vừa tìm ra, đinh ninh là “chanh ngọt” rồi nhăn mặt: “Không phải. You trồng đi!” “Cái gì. This hybrid is thought to be a cross between a lemon and a mandarin or orange... mà không phải thì cây gì phải?” Cô giận bỏ về.

Giờ anh không còn ở căn gác nhỏ đó nữa. Cây cối anh cũng quên luôn vì chẳng hứng thú gì để đụng đến. Con đường cũ anh đã không còn qua lại. Phần cô, biết cô có quên? Lâu rồi hai người không nói chuyện bình thường, nhắc gì đến hoa và trái! Ngay cả những khóm lan quí có thời gian cô nâng niu và tốn bao công sức. Một lúc cô đã bảo: “Ê you, mua hết lan của em đem về trồng đi! Hồi nào có hoa em lấy.” Anh làm theo như một đứa bé ngoan. Mua lại hết. Biến cái phòng khách của căn gác thành một green house nho nhỏ. Vài ngày trong tuần tốn thời giờ để mong lan ra hoa. Cũng như cây chanh, anh lẩm bẩm một đôi lần khi tưới nước: “Chờ ra quả. Lạy trời chanh ngọt như nhà vườn ghi trong giấy. Coi đứa nào đúng.”

Cô cứ bảo anh hay cãi. Anh sinh ra ở cái xứ gì mà thích cãi. Không nghe lời cô nên cô phật ý. Cô nghỉ chơi coi đứa nào chết. Chẳng biết, nhưng cây trái hoa quả anh trồng chết là cái chắc. Lúc di tản, một đứa xong trung học. Đứa kia còn đâu lớp tám. Tuổi nhỏ qua rồi nhưng mà sao con nít tệ. Anh chơi với cô vài năm rồi nhiễm tính. Cách cư xử đôi khi “nghe sao sao” mà hai đứa không biết. Những ngày còn vui:

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

Trần Mộng Tú: Bên Kia Đường

Du Tử Lê -Tranh Ðinh Cường

Mùa Thu đến thật rồi
thêm một người bỏ đi
đuổi theo những chiếc lá
sang bên kia con đường

con đường không có mặt
hoang mang như bài thơ
niềm tin như hạt cải
rắc trên dốc mơ hồ

con đường có thật không
phải đi rồi mới biết
đi có tới nơi không
hun hút và biền biệt

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Lê Hữu: Những cô Mơ Bay trong truyện Cung Tích Biền

Girl Floating in the Air by Corey Egbert

“Mơ là ngọn đèn, tôi là ánh sáng.” 
(Mùa xuân cô Mơ Bay, Cung Tích Biền) 

Nhân vật chính trong truyện là cô Mơ Bay. Tên thực cô là Mơ. Lúc nào cô cũng muốn bay nên nhà văn cho thêm chữ “Bay” vào sau tên cô. Cô là Mơ ngoài đời thực, là Mơ Bay trong những trang viết của nhà văn.

Mơ Bay, tên đẹp quá đi chứ. Mơ mộng quá, bay bổng quá. Cô là giấc mơ có cánh. 

Cô mộng mơ, cô bay lượn thế nào thì chỉ có đọc qua mới biết được.

Mơ là mơ Thoát, bay là bay Thoát


Tác giả, người kể lại câu chuyện, cho biết, “Mơ Bay còn trẻ, rất đẹp, học giỏi, trưởng thành trong một gia đình nền nếp, giàu gia hạnh.” Cô lại “quá thông minh, giàu mộng tưởng. Mộng ước của cô lớn lao, ngoài giới hạn”. Mơ Bay tin tưởng một cách mãnh liệt rằng loài người là hậu duệ của chim chứ chẳng phải của tinh tinh, đười ươi, khỉ vượn chi cả. 

Vì ham rong chơi trên mặt đất, ham suối trong, rừng xanh và thích tắm biển nên chim sa đà vào kiếp đi bộ. Đôi chân chim dần dà bự ra như chân người, và đôi cánh teo lại thành đôi tay. (Mùa Xuân Cô Mơ Bay) (1)