Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2020

Mai Thảo: Thảm và tiếng động

Không biết bởi nguyên nhân nào- có thể là cái hiện tưọng của cảm giác một lần đã nhận chịu một chạm đụng dữ dội, chạm đụng còn vang ngân mãi mãi trong vòm trời trí nhớ, hiện tượng với tôi, còn giải thích cho các vị trí khác thường của một số hình ảnh đặc biệt trong trí tưởng một đời người - tôi yêu lắm những hành lang. Một hành lang khách sạn chạy qua những cửa buồng đánh số, một hành lang lâu dài dẫn lên tháp canh cao vút hay dẫn xuống những cửa hầm tối thẳm, một hành lang biệt thự với những tấm gương, một hành lang bảo tàng trầm tư nhũng pho tượng, tôi đều yêu. Cả đến cái hành lang rùng rợn kia, nơi người tù tử hình bước những bước chân cuối cùng của đời y tới phòng hơi ngạt, như những đời hành lang khác, cũng chuyên chở cũng ngưng đọng trên cái thăm thẳm chạy dài của chúng những dư âm và những hình bóng dị thường. Của một ngôi nhà hành lang là linh hồn. Nó có một đời sống và một định mệnh riêng tây. Cho bất cứ một kiến trúc nào hành lang là cái phần đắm chìm, mơ màng và phảng phất nhất. Đêm trên hành lang, tiếng chân anh vang động hơn. Đi trên một hành lang, đã thường hằng trong tôi là cái cảm tưởng đi trên một phím dương cầm. Và ngọn đèn đêm kia đổ xuống bóng người cô đơn trở về. ngọn đèn đó chính là con mắt ráo hoảnh của đêm thao thức không cùng mở lớn.

Tuần lễ vừa qua; để thay đổi một không khí, thấy khác một vùng trời, đến ở mấy ngày tại một khách sạn miền núi, khi rời khách sạn, cái hình ảnh duy nhất còn lại trong tôi vẫn là cái hình ảnh thăm thẳm ấy của một hành lang. Đó là một lối đi rất dài và rất rộng, như một con sông chảy giữa những bờ tường. Lên khỏi cầu thang, sau những cột gỗ nghiêm nặng, cái thế giới ngưng đọng tịch mịch thình lình hiện ra trước tầm mắt. Những bước chân tôi cũng thình lình bặt tiếng. Một tấm thảm dầy đã thu hút hết mọi tiếng động. Không khí ở đây lạnh buốt. Hành lang nằm giữa lòng một kiến trúc nhiều tầng bát ngát. Ở đây là đêm và ngày không nhận định, sáng và trưa cùng mơ hồ, cái tranh tối và tranh sáng trộn lẫn, tối và sáng cùng vô tính như nhau. Thoạt đầu tôi không phân định được gì. Hành lang nào cũng thế. Phút thứ nhất nó chỉ là một hình thể trống trơn và vô nghĩa. Hai bên, những căn buồng đóng kín. Hành lang chạy ở ngoài, xa lạ với mọi cuộc sống bên trong. Nhưng từng phút rồi từng phút những cái ngưng đọng, những cái vô hình, những cái phảng phất đã quanh tôi dần dần vây kín. Bằng một nghìn con mắt yên lặng nhìn người. Tôi bàng hoàng. Tôi im lặng theo. Và tôi không nhầm được nữa. Tất cả đã tới đây, tất cả còn nguyên vẹn. Thứ hơi lạnh chạy dài trên suốt khắp mặt thảm chính là cái hơi thở của nhiều mùa đã được chuyên chở tới chốn này. Và trong hơi thở ấy, có cỏ, có sương, có rừng có núi. Những chiều mưa làm nhòa nhạt mọi khung kính, núi rét mướt đứng. Những đêm mùa đông, thông một triệu gốc lạnh, lời thác cũng buồn rầu. Những buổi trưa mùa thu, một cánh bướm bay lạc trong nắng, dưới thật xa thung lũng. Những tinh sương kín đặc sương mù, rừng mang linh hồn biển, và trên những con đường nhỏ của rừng, lá từng từng rơi xuống, lá dệt thành một tấm thảm dầy, ở đó không một dấu chân nào đi qua.

Võ Phiến: Xem Sách

Chàng nhổm dậy, hạ lưng ghế xuống thêm một bực nữa. Rồi xoay người lại, nằm thử. Bấy giờ thì thật là hoàn toàn thoải mái. Chiếc ghế vải này vừa vặn lắm.

Ở hè nhà, phía ngoài đường lớn, có tiếng rắc rắc đều đều của chiếc tông-đơ hớt tóc đang hoạt động. Người thợ đặt một bàn làm việc nhỏ ngoài hè. Còn phía bên này thì có con hẻm lát gạch tử tế, hẻm vượt quá nhà chàng là tịt: một ngôi nhà chận bít nó lại. Ngay trước nhà ấy có chum nước, lâu lâu nghe có tiếng người ra chum múc nước rửa ráy. Tất cả những tiếng động ấy, những hoạt động ấy, đều ở bên ngoài. Tất cả chỉ củng cố thêm cảm tưởng an toàn của chàng. Chàng hoàn toàn được an toàn lúc này, không còn nghi ngờ gì nữa.

Bên ngoài trời lại vừa đổ mưa nặng hột nữa. Càng tốt. Như thế càng tăng thêm cảm tưởng an toàn. Không nghe tiếng mưa rơi, nhưng khi mưa đã đủ nhiều thì nước từ máng xối đổ xuống lách tách. Chàng đánh diêm châm thuốc. Hút cho ấm, ngả người trên ghế vải, trong một gian phòng đóng cửa thật kín, gian phòng của chàng, bên cạnh kệ sách, chiếc giường, và những áo xống của chàng mắc trên vách...

Trong tấm gương ở mặt tủ, chàng chợt thấy phản chiếu đầu chàng, ngậm píp. Trong gian phòng lờ mờ cái đầu thiếu chi tiết trông quả là giống bức họa của Liêu Hà vừa trông thấy ngoài hè phố. Họa sĩ Liêu Hà là bạn chàng từ ba mươi năm. Hắn ta đã theo dõi khuôn mặt và đầu chàng từ lâu. Trong ba mươi năm, tùy theo các phong trào nghệ thuật kế tiếp nhau — ấn tượng, siêu thực, lập thể, vô hình dung, trừu tượng v.v... — hắn đã vẽ nhiều đầu và mặt chàng, khi theo lối này khi theo lối khác.

Còn chàng, đâu phải vừa. Thoạt tiên, khi mới có thơ đăng báo lai rai, chàng lừa cơ hội đưa ra tấm hình đẹp trai nhất của mình. Cái hình trong đó chàng ăn mặc chỉnh tề nhất và mỉm cười. Về sau, chàng thích được chụp hình với mấy cuốn sách trên bàn. Trên ba mươi tuổi, hồi đó chàng đã vững chỗ ngồi trên thi đàn, tâm hồn đã chín chắn hơn, chàng ăn mặc tự nhiên có chút cẩu thả: thường thường chỉ có sơ-mi, không cà-vạt; gương mặt có nét suy nghĩ thường xuyên. Đến lúc chàng bắt đầu mang kính trắng và hút píp thì Liêu Hà kiểu thức hóa cái đầu chàng một cách tài tình bằng ít nét đơn sơ. Trông qua, nhận ngay ra chàng. Điều quý báu hơn nữa là còn nhận được kẻ có khuôn mặt ấy phải là một nghệ sĩ đang có nhiều băn khoăn trước cuộc đời. Hai con mắt với cặp kính tròn xoe thao láo nhìn vào một nỗi hoang mang đáng hãi. Đó là chàng, mà đó cũng là một nghệ sĩ nói chung của thời đại, là một biểu hiệu đẹp đẽ dùng chung cho cả giới. Chắc chắn vì thế mà hình vẽ của Liêu Hà được phổ biến rộng rãi nhanh chóng, lắm khi được dùng như một hình trang trí ở mục thi ca các tạp chí. Dần dần, đối với đa số độc giả nó không còn là khuôn mặt chàng, khuôn mặt của một ai nữa; đó là khuôn mặt của nghệ sĩ. Chẳng bao lâu, đó sẽ là khuôn mặt của nghệ thuật.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Vũ Hoàng Chương: Trích đoạn Hồi thứ I kịch Vân Muội

Sao lòng ta đêm nay buồn không thể nguôi ?
Niềm u uất dâng cao mà tháng ngày trôi xuôi...
Há vì cơm áo chẳng no lành ?
Há vì đời không ai mắt xanh ?
Nhớ thuở xưa chưa có ta thì đường đi thênh thênh.

Kịp tới khi có ta là chông gai mông mênh.
Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương đều vướng mắc.
Ba mươi năm trên vai mà trống không bình sinh...
Gối vải mộng phong hầu
Vinh quang đường lối khép
Thẹn trước thương về sau
Đời tàn trong ngõ hẹp...
Mưa lùa phên nứa khép
Ngày trắng theo nhau qua
Lá rơi đầy ngõ hẹp
Đời hiu hiu xế tà.

Ôi ! ta đã làm chi đời ta ?
Ai đã làm chi lòng ta ?
Cho đời tàn tạ lòng băng giá,
Sương mong manh quạnh chớm thu già.

Mải mê theo sự nghiệp
Quá trớn lỡ giàu sang
Mưa rơi lầy ngõ hẹp
Lá vàng bay ngổn ngang
Dìu vương nhau mươi chiếc lá khô vàng,
Xuân đời chưa hưởng kịp
Mây mùa thu đã sang !

Giấc hồ nghe phấp phới
Cờ biển nhịp mơ màng
Đường hoa son phấn đợi
Áo gấm về sênh sang...

Đường hoa về áo gấm ?
Chao ôi! Ta nhớ kiếp nào xưa !
Tiền thân còn thoáng hương mơ
Lều tranh gối vải phai mờ vàng son...


Ngô Nguyên Dũng: Những Cánh Chim Giấy

Cửa tiệm bán dụng cụ học sinh và văn phòng nằm ở đường Trần văn Thạch (*), giáp ranh hai đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân miệt Tân Định, tuy nhỏ nhưng sạch sẽ và bày biện ngăn nắp. Tiệm có tên Thế Giới. Chủ tiệm người gốc Hoa. Ngay cửa, lúc nào cũng mở toang, bên phải, có dựng một tủ kiếng lau chùi sáng loáng, thấy trưng bày tập vở học trò, viết máy, những vật dụng học sinh lỉnh kỉnh, và nhiều bộ tem thư nước ngoài.

Thuở ấy, giữa thập niên một chín sáu mươi, tôi đã đến tuổi được phép đi học một mình bằng xe gắn máy. Những sáng thứ năm, thời trung học đệ nhất cấp tại trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng, chỉ phải học hai tiếng. Trong khi các bạn theo Ky-tô giáo phải ở lại học thêm giờ giáo lý, tôi được ra về thơ thới, hân hoan. Sáng Sài gòn, vào giờ ấy, không còn kẹt xe. Nắng ngày chỉ mới e ấp nóng. Vào những tháng cuối và đầu năm, thời tiết dịu mát, khoan thai bắt đầu một ngày mới. Trước khi về nhà, tôi thường ghé ngang tiệm, dán mắt chiêm ngưỡng những bộ tem trưng bày trong tủ kiếng. Thấy bộ nào ưng ý, tôi xem bảng giá viết bằng tay bên cạnh và nhẩm đếm số tiền nằm trong túi. Thường thì không đủ. Tôi ra về, thầm tiếc rẻ và nhủ lòng sẽ dành dụm để mua cho bằng được.

Cũng như nhiều bạn học của tôi lúc ấy, tôi có sở thích sưu tầm tem. 

Ba tôi, thuở trước, cũng vậy. Ông còn giữ một tập tem khổ lớn, bìa cứng màu xanh lá cây. Giấy bên trong dày, vàng nhạt, mỗi tờ đều được lót giấy lụa mỏng. Về sau, tập tem được ông trao cho anh Ba tôi. Anh đem cất trong tủ riêng, chỗ anh lưu giữ những xấp thư kết bạn bốn phương.

Thỉnh thoảng, không có anh ở nhà, tôi rón rén mở tủ, lấy tập tem của ba ra xem. Tim tôi rộn rã. Tay tôi lần mở từng trang, từng trang một. Hai mắt tôi mở lớn. Toàn những bộ tem Việt Nam thời trước. Bộ vua Bảo Đại, hoàng tử Bảo Long, hoàng hậu Nam Phương, kỷ niệm năm di cư 1954. Và bộ tem tổng thống Ngô Đình Diệm, mười hai con. 

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2020

Hòa Đa: Chuyện Có Thể Xảy Ra

1.


Ông Tâm nằm trằn trọc, không ngủ được, mặc dù hồi đầu hôm, ông đã uống một viên thuốc ngủ.

Từ hơn một năm nay, Diễm, con gái duy nhất của ông, làm quen và đưa về giới thiệu với ông cậu Viên. Ông vừa ý lắm. Viên là một sinh viên Việt Nam, sang Mỹ học về ngành quản trị xí nghiệp. Ban đầu ông cũng biết Viên là sinh viên du học, nhưng Diễm chọn nó vì sau bao năm lớn lên ở Mỹ, tốt nghiệp đại học, Diễm vẫn không thể tìm được một bạn trai vừa ý. Có thể lối giáo dục của ông làm cho Diễm hơi khó tính trong việc chọn bạn. Thanh niên Việt Nam lớn lên ở Mỹ, Diễm cho là “Mỹ quá,” mà bạn Mỹ chính cống thì đúng chỉ là bạn thôi, nó nói không cảm được... Mà với Viên, thú thật ông cũng có cảm tình. Cởi mở và thành thật là hai đức tính ông nhận ra ngay từ những ngày đầu gặp mặt cậu thanh niên này. Càng về sau, qua những lần nói chuyện trong những bữa cơm gia đình, ông lại càng quí trọng Viên hơn vì những suy nghĩ chín chắn của nó về Việt Nam, về dân tộc. Hai thằng anh của Diễm có vẻ cũng ưa Viên, luôn có những ý kiến đẹp về nó. Chỉ có Liên vợ ông là không có ý kiến gì vì bà đã mất cách dây gần mười lăm năm, lúc Diễm mới học lớp bảy.

2.


Gia đình ông vượt biên sau khi ông từ trại học tập cải tạo về không lâu. Nhà bị phường quản lý vài tuần sau khi ông trình diện học tập, Liên với cái thai bé Diễm trong bụng gần đến ngày sanh và hai con trai phải về sống tạm với người cô vì không muốn đi kinh tế mới. Bảy năm trong trại học tập cải tạo với bao đắng cay, nhọc nhằn, ông trở về với một thân tàn, bệnh hoạn và thương tật. Một vết thương nhỏ ở đầu gối không được chăm sóc, không thuốc men đã làm chân trái của ông bị liệt một khoảng thời gian dài. Nhờ chịu khó tập luyện, chân ông không bị tệ hại hơn, nhưng trở thành khập khiểng. Tuy không hẳn là phế nhân, nhưng ông không còn giúp được gì cho vợ trong việc kiếm sống, suốt ngày lang thang trong thành phố bán vé số, mà người phân phối là một trung sĩ trong đơn vị do ông chỉ huy ngày trước. “Ông thầy đừng lo, hễ tui còn cơm, thì ít ra ông cũng có cháo, trời sinh voi sinh cỏ mà ông. Ông không chết trong trại cải tạo thì sao lại chết trong vũng trâu nằm này chớ?”- anh ta thường nói vậy để an ủi ông. Liên thì buông giầm cầm chèo, bà xoay sở mọi đường để sống còn. Thời gian đó, cái gì cũng quốc doanh hết, từ nhu yếu phẩm hàng ngày tới vải vóc, tập vở, vỏ ruột xe đạp... nhưng cũng nhờ vậy mà Liên luôn có hàng để chạy. Cũng có lúc bà bị công an chụp được, bị nhốt vài hôm, nghe cán bộ lên lớp về cuộc sống lành mạnh mới của xã hội chủ nghĩa, không được theo lề thói làm ăn của bọn Mỹ ngụy cũ, phải lao động để tạo ra của cải vật chất, lao động là vinh quang... Cũng có lần, bà bị bắt và bị đưa đi kinh tế mới với thằng con trai lớn (bà khai chỉ có một con), nhưng chỉ vài tuần sau thì trốn về vì bỏ hai đứa nhỏ ở nhà sao được? Lại mua chui, bán trốn. Chính sách ngăn sông cấm chợ làm cho công việc của bà khó khăn hơn, nhưng thoát được thì cũng bỏ công. Một lần, ngang trạm Cái Bè mà dân đi buôn chui như bà gọi là Ngã Ba Sơn Trạch (ngã ba sạch trơn), bà đi thoát hơn nửa tạ thịt heo nhờ lơ xe giấu. Lơ xe này cũng là một bạn đồng ngũ cũ của ông...

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2020

Trần Ngươn Phiêu: Đời lính thủy

(Đây là chương 26 trích từ cuốn Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Ngươn Phiêu)

Triệu tham dự cuộc hải hành đầu tiên trên chiến hạm Việt Nam nhân dịp có chương trình di dân từ các vùng khô cằn ở miền Trung để đưa dân vào tái định cư ở các vùng phì nhiêu trong Nam. Đây là một trong những chương trình khẩn hoang lập ấp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tiếp theo cuộc di dân vĩ đại sau Hiệp định Genève năm 1954.

Chiến hạm được sử dụng trong công tác này thuộc loại dương vận hạm L.S.M. (Landing Ship Medium), có thể chở trên 500 người. Từ bến Sai Gòn ra đến cửa Cần Giờ để ra biển, chiến hạm phải di chuyển rất cẩn trọng vì sông Lòng Tào uốn khúc có những khoảng quẹo khó khăn. Hạm trưởng nếu sơ ý để tàu kẹt vướng vào bờ thường bị “rớt lon” trong các trường hợp này.

Khi tàu vượt khỏi Vũng Tàu, lần đầu tiên hứng được gió và bọt biển thổi ướt mặt, Triệu cảm thấy một niềm hãnh diện vô biên về tương lai mới của mình. Đây là lần đầu tiên, Triệu đứng trên một chiến hạm có quốc kỳ của xứ sở mình đang bay phấp phới. Vì trên tàu có sự hiện diện của y sĩ nên hạm trưởng cho kéo thêm hiệu kỳ M lên kỳ đài.

So với nước biển bên trời Âu, biển Thái Bình Dương có một màu xanh biếc khác hẳn. Từ Nam ra Trung, chiến hạm di chuyển cận duyên, nên cần phải được xác định vị trí một cách thường trực. Anh em thủy thủ và sĩ quan hải hành phải “làm point”, đo góc cạnh với các mục tiêu trên bờ. Nhờ vậy, Triệu thích thú biết được tường tận vị trí của các địa danh từng nơi trước kia chỉ được biết trên các bản đồ. Các nơi như mũi Kê Gà, Cap Varella, Mũi Dinh (Cap Padaran), Cù lao Ré, Cù lao Chàm... nay là những thực thể trước mắt Triệu.

L.S.M. là loại tàu đổ bộ và ủi bãi, lườn tàu đáy bằng nên mỗi khi nhảy sóng lớn, toàn thân tàu rung chuyển như một hộp sắt lớn. Mỗi lần tàu nhảy sóng như vậy, các đoàn cá bay lội theo tàu phải hoảng hốt bay lên để tránh xa. Chuyến hải hành này gặp mùa gió Đông Bắc. Tuy sức gió không phải vào những ngày biển động mạnh nhưng một số thủy thủ cũng bị ói mửa mật xanh, mật vàng, bỏ ăn bỏ uống. Triệu nhờ học được kinh nghiệm truyền lại của những “soái biển” già ở Pháp nên đã chịu đựng được bằng cách suốt ngày chỉ ăn từng nhúm nho khô đã đem theo. Chỉ có đêm đành phải chịu khó ngủ vì tiếng động mạnh của vách tàu rung chuyển mỗi khi nhảy sóng.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

Hoàng Quân: Kiếp này, kiếp sau

 Tranh và Ảnh - Hoàng Thanh Tâm
Một chị bạn mở cuộc thăm dò ý kiến những đôi uyên ương cao niên. Hỏi, trong túp lều tranh có bao nhiêu trái tim vàng xin ông tơ bà nguyệt xe thêm kiếp nữa. 

Bà sốt sắng tham gia chương trình. Bà không dám trả lời cho ông. Nhưng bà nghĩ, rất có thể ông nói “không”. Vì, có lần bà đang lim dim thổn thức theo lời ca của một trong những bài hát bà mê nhất đời “Trăm năm dù lỗi hẹn/ Nghìn năm vẫn không quên/ Vẫn nhớ y nguyên” thì ông lay phắt bà ra khỏi cơn mơ với lời bàn “vớ vẩn”. 

Thuở ông bà còn là vợ chồng son, dù chẳng là gái trong song cửa, nhưng lúc đó, trong mắt bà, ông quả thật là mây bốn phương trời. Những năm ấy, hai vợ chồng không nhất thiết phải có râu tôm, ruột bầu, mà ăn uống gì, cả hai cũng chan, cũng húp, cũng gật đầu khen ngon, miễn là ngồi bên nhau. 

Bà không nhớ rõ, từ lúc nào hai ông bà thôi không còn ngâm nga, ôi đẹp sao là thuở ban đầu. Mức độ ông chẳng, bà chuộc gia tăng tỷ lệ thuận với những mùa thu ông bà chung đếm. 

Thời bà còn miệt mài đèn sách đại học, ông lắc đầu khi nhìn bàn học của bà. Những cuốn tạp chí Việt ngữ nằm lẫn lộn giữa các sách giáo khoa, tự điển. Bên cạnh những bài vở bà ghi chép ở giảng đường là những thư từ bà nhận được hoặc bà đang viết. Bà vừa hí hoáy làm bài tập, vừa ngắm nghía mấy tấm hình ở Việt Nam gởi qua. Ông thấy mệt mắt lắm:

-Nếu bàn học của em gọn gàng hơn, chắc chắn em sẽ học giỏi tới đâu. 

Bà tỉnh queo:

-Em học được tới đây là nhờ bàn học em như vậy. Em để đồ đạc theo thứ tự hợp lý của em. Anh nghe ông văn thi sĩ Paul Claudel nói nè: Die Ordnung ist die Lust der Vernunft, aber die Unordnung ist die Wonne der Phantasie. Ngăn nắp là niềm vui của lý trí. Nhưng lộn xộn mới là niềm vui cho trí tưởng tượng.

Cuối tuần, bà dọn dẹp lau chùi nhà cửa. Thỉnh thoảng, chiến dịch vệ sinh của bà bị đình trệ ở tủ sách. Bà đang lau lau, chùi chùi, chợt thấy một cuốn truyện bà đọc đã lâu. Bà lật lật vài trang, thấy lý thú. Thế là bà tháo găng tay, dựng chổi sát tường, ngồi đọc sách ngon lành. Ông đi ngang, vướng mắt: 

-Em bận đọc sách thì để anh làm. 

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

Nguyễn Công Khanh: Đọc Lại “Đôi Bạn” Của Nhất Linh

DOI BAN - nhatlinh- NgCongKhanh

Để nhớ Nhật Thịnh

Trong thời niên thiếu, anh cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến anh nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của anh. Trong nhóm đó, Nhất Linh được anh coi như một mẫu người lý tưởng, một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức anh. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của anh mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành. Trong những năm cuối cuộc đời, ông xa lánh cảnh trần tục, như một tiên ông quy ẩn bên dòng suối Đa Mê của rừng lan Đà Lạt.

Anh thích đọc truyện của Nhất Linh, vì theo nhà văn Nhật Thịnh, trong cuốn “Chân Dung Nhất Linh”, một cuốn sách biên khảo dầy trên 200 trang, chữ nhỏ, in trước năm 1975, với nhiều tài liệu mà anh cho là một trong những cuốn sách đầy đủ nhất về Nhất Linh. Nhật Thịnh viết, Nhất Linh thường nói tới "Những con người bị dìm sâu xuống, muốn vươn lên, và những khúc mắc của tâm hồn mỗi con người". Nhất là quyển "Đôi Bạn", anh đã đọc đi, đọc lại nhiều lần, có hình ảnh Dũng và Loan trong đó. Họ cùng hiểu nhau, cùng yêu nhau, tình yêu của họ lúc xa, lúc gần dù cho tới một buổi chiều cuối cùng chia tay trên đồi cỏ may, hai người vẫn thấy tình yêu của họ sao mà nghiêm trọng đến nổi không ai dám nói cho nhau biết. Dù Dũng biết rằng đây có thể là lần cuối, chàng có thể ngồi cạnh Loan bên bờ giếng khơi, có thể ngửi được mùi quê hương nồng ấm trong cơn gió đưa thoảng lên từ dưới cánh đồng lúa chín xa, có thể nhìn thấy những con châu chấu xanh, những con cào cào cánh xanh đỏ của thời thơ ấu bay qua trước mặt rồi lẫn vào đám cỏ xanh. Ngay cả đến Loan, nàng cũng biết rằng sắp phải xa Dũng, dù biết rằng Dũng ra đi chắc gì đã thoát được như một số bạn của chàng. Dù biết rằng, chắc gì đã có ngày gặp nhau, và ngày mai thì Dũng đã ở một nơi nào đó mà nàng chỉ có thể tưởng tượng nghe tiếng vó ngựa mơ hồ và hình ảnh Dũng bạt vào cảnh núi rừng biên giới mịt mù xa xăm...

Anh nhớ lại một buổi sáng, tuần trước. Anh lái xe thẳng đến một quán cà phê ở phố chợ, tìm một chổ sát khung cửa, ngồi nhìn xuống cả một vũng biển bao la. Sáng sớm quán còn vắng người. Trong cái yên lặng của mặt biển mùa thu, anh nhấm một chút cà phê và giở đoạn cuối cuốn truyện ra đọc. Anh có thói quen khi đọc những cuốn mà anh thích, anh thường đọc từng chữ và từ từ để từng ý thấm vào hồn. Trong tất cả những truyện thời đó, "Đôi Bạn" đã cho anh thấy một cái gì khác biệt hơn các tiểu thuyết thường tình. Có lẽ là một cái gì rất mơ hồ về sự áp bức và cách mạng, về sự ra đi và hành động.

Trần Thị Diệu Tâm: Sông Seine, đôi dòng

Hình minh hoạ, LUDOVIC MARIN/AFP via Getty Images

Mới sáng hôm nay thôi, khi mở máy ra, tôi thấy một cái điện thư có tên người gửi lạ hoắc không quen biết. 

"Xin chào chị. Chị có phải ngày xưa ở Huế không ? Chị có phải là người tôi từng quen biết ? Chị có phải đã từng học lớp hè Pháp văn ở trường Providence ?"

Người chi mà lạ, chưa xưng tên xưng tuổi mà hỏi tới tấp như vậy, viết trả lời: "Xin cho biết quý danh". -" Tôi là Doan đây chị, Doan ở xóm Phú Cam đó".Tôi lặng đi một lúc, không vội trả lời. Đứng dậy uống một tách trà nóng pha mật ong. Tách trà thơm mùi mật ngọt đem thêm chút tỉnh táo. Sợ mình đọc sai chữ, tôi tháo chiếc kính lão ra, lấy khăn giấy lau chùi sách sẽ, rồi mang lại vào. "Dạ, đúng." Người bên kia như chờ đợi câu trả lời như vậy, kêu lên "Trời ơi !".

"Trời với đất mà chi nữa, hiện chừ anh ở nơi mô trên trái đất này?" 

"Thì mình đang ở Pháp, từ ngày xa Huế".

Tới phiên tôi kêu trời ơi trong bụng, nhìn lại địa chỉ của Doan, có ghi " fr" ở cuối hàng. Ông này nói đúng, chỉ lo tuổi già lẩm cẩm ở nơi kia mà tưởng nơi này. 

Sau khi biết chắc chắn đó là sự thực đang xảy ra, chắc chắn là người bạn cũ ngày xưa liên lạc được với mình, tôi hỏi số điện thoại ngay, qua cuộc điện đàm, Doan kể lại cuộc sống xa nhà kể từ ngày ấy, năm ấy, rồi lẩn thẩn tự hỏi sống cùng một xứ sở mà cả hai không hề thấy nhau, gặp nhau trong chừng ấy năm nửa thế kỷ, kể cũng lạ. Tôi cười đùa "Ông Trời không cho gặp thì không gặp, thắc mắc chi".

Võ Phiến: Một Chỗ Thật Tịch Mịch

Chàng vẫn tin rằng cứ đến giữa khung cảnh ấy mà an tọa, một mình, rồi lặng lẽ suy tưởng, thì chẳng mấy chốc sẽ có chim chóc đến làm tổ trên đầu. Một chiếc tổ chim thật rối trên đỉnh đầu, một vòng hoa tư tưởng đáng ước ao như thế có lúc chàng đã dám nghĩ là không khó. Chỉ cần đến đó, một mình. Chỉ cần có thế, nhưng ấy là điều chàng chưa bao giờ làm. Đâu khó gì? Chỉ vì chàng chưa bao giờ có cái duyên đối với một hành vi như thế.

Khung cảnh nọ cách xóm làng không xa. Nằm trên vùng đồi hơi cao. Xế trưa, thơ thẩn trên đồi, chàng trông xuống thấy dừa với tre trong xóm xanh um, nổi bồng lên cuồn cuộn như từng đám rong lớn trong hồ nước. Xóm làng coi xinh xắn, nhỏ hẳn đi. Nhà cửa thì thưa thớt, nằm khuất trong đám cây xanh. Và sự sinh hoạt của dân làng thì càng khuất xa hơn nữa.

Tha hồ nhìn ngắm, vẫn không thấy động tĩnh gì. Lắng tai hàng giờ, không bắt được tiếng hát tiếng la nào. Họa hoằn, như có tiếng ai kêu ơi ới, nhưng tiếng văng vẳng rồi tắt ngay, mơ hồ, không rõ rệt.

Một đôi khi, mắt chàng bắt gặp một bóng người ngoài đồng, trên một con đường bờ ruộng ngoằn ngoèo nhỏ xíu. Một dáng người tí teo ngọ nguậy trong nắng xế bao la. Một chiếc nón trắng lấp lánh giữa đồng trống, tận xa tít... Chiếc nón lấp lánh, di động chậm chạp, trong lúc con ó rằn giăng đôi cánh xác xơ giữa nền trời, trong lúc con cuốc phát tiếng kêu đều đều trong nắng rưng rưng... Chàng càng có cảm tưởng xa cách cuộc sống khiêm tốn của xóm làng hơn bao giờ hết...

Chỉ cần dừng lại, an tọa, chẳng mấy chốc...

Nhưng chàng không đến đó để an tọa.

Và càng tiến xa, cảnh càng vắng hơn. Có một vùng đồi chia làm nhiều khoảnh lớn, như những khoảnh vườn rộng với hàng cây bao bọc bốn bề. Trong số ấy có khoảnh vốn là vườn thật, nhưng vườn cũ, vườn hoang. Bởi vì xưa kia trên đồi có một số gia đình sinh sống, về sau bỏ đồi xuống xóm. Trong những khu vườn hoang ấy còn lại hoặc một cây mít, hoặc năm ba cây dừa, có cây cụt ngọn chết khô từ lâu.

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

Hòa Đa: Xóm Cầu Ngang

Dân miền Nam dễ dãi trong việc đặt tên người và địa danh. Cha tên Khỏe, con là Mạnh. Cha tên Lúa, đặt cho các con: Dun, Đầy, Bồ, Mừng, Dui... Cứ nghĩ sao, đặt vậy; cũng là cách biểu thị lòng mơ ước của người bình dân. Địa danh cũng vậy, cái gì chỉ ra được cái chung cho nơi đó thì họ gọi tên như vậy: Giáp Nước, Ngọn Miễu, Xóm Đình... Tên “chữ” chỉ nằm trên giấy tờ hành chánh. Thành thử trong miền Nam có bao nhiêu chỗ có tên Giáp Nước, Ngọn Miễu, Xóm Đình...? - Nhiều lắm, không chừng tỉnh nào, làng nào, xã nào cũng có. Cho nên câu chuyện tôi kể về Xóm Cầu Ngang này cũng có thể giống như bất kỳ Xóm Cầu Ngang nào khác, ở một làng một xã nào đó trong miền Nam, nơi sông rạch chằng chịt. Chỉ cần một cây cầu, bằng xi-măng kiên cố hay chỉ miếng ván, thân cau, cây tre... lung lay, nối hai xóm ở hai bờ con rạch hay con sông nhỏ, cũng có thể làm cư dân quanh đó chấp nhận cái tên “Xóm Cầu Ngang.”

Hồi đó, lúc mới về làm ruộng, tôi vô tuốt trong Ngọn Miễu, sống heo hút một mình, kiểu như chán mọi chuyện, tưởng mình theo gót Lão, Trang; tìm nơi vắng vẻ, có gì ăn nấy, cứ thuận theo thiên nhiên mà sống. Phải chi không vợ con, có lẽ tôi cũng “tu” theo kiểu đó rồi. Ngặt một điều, mấy đứa con ngày càng lớn, tụi nó cũng phải đi học, phải có bạn... không lý gì tôi bắt chúng phải “tu” theo mình. Còn vợ tôi nữa, đành rằng “có chồng thì phải theo chồng, đói no cùng chịu, lạnh lùng cùng cam” nhưng thấy sao mà tội quá. Cho nên, chỉ sau vài năm, tôi sang lại miếng vườn nhỏ ở Xóm Cầu Ngang, rồi dọn về đó, lòng nhủ lòng, đó là do mình “thương vợ thương con”! Bà con trong xóm, thấy tôi có chút chữ nghĩa hơn họ, gọi tâng là thầy, tôi thứ năm, họ gọi chết danh “thầy Năm” cho dù tôi không phải thầy giáo, thầy tụng, thầy ký... gì hết; không mấy người biết tên thật của tôi. Xét cho cùng, có cần gì biết tên họ thật, họ chỉ cần tên gọi để ai cũng nhận biết là được rồi, cần chăng là mấy người làm việc trên xã, nhờ tên thật khai trong đơn xin mua này mua nọ, hay trong hộ khẩu. Cả ấp, chỉ có hai “thầy” thứ thiệt là thầy giáo Lễ dạy ở trường cấp một và thầy y tá Hường phụ trách phòng y tế xã, nhưng cả hai đều ở tuốt ngoài Xóm Đình, cách xóm Cầu Ngang của tôi hơn hai cây số.

Cả xóm chừng ba mươi nóc gia, nối nhau bằng chiếc cầu ngang ba nhịp, nhịp giữa là một thân cau lão, lung lay như răng bà già, vắt ngang con kinh chảy quanh co giữa mấy khu vườn um tùm mấy đám ô rô, cóc kèn, dừa nước mọc dày ken ở hai bờ; nhiều đêm tối trời bơi xuồng, không thấy được mũi xuồng đằng trước. Đúng ra, cầu có tay vịn bằng tre, nhưng

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020

Phạm Tín An Ninh: Đà Lạt Trời Mưa

Hình minh hoạ, ML

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời... 

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

Nguyễn Chí Kham: Chuyến tàu ngày mai (Tiếp theo và hết)

 Tôi đợi Vinh ăn xong, bắt đầu uống cà phê mới đưa lá thư cho Vinh đọc. Vinh đọc chậm, còn tôi tự dưng cảm thấy xa xôi, trống trải  trong niềm bâng khuâng khi nhớ đến em tôi. Lúc này, tôi không nghĩ mình sẽ về Huế hoặc có một sự hiện diện mang ý  nghĩa sẽ rời khỏi đây để trở về nơi mái ấm gia đình.

Đọc xong thư, Vinh trả lại cho tôi, nói:


- Chữ của cô Thanh viết hơi giống anh.

- Em mình nghỉ học đi làm từ năm ngoái.

- Cô dạy học ?

- Không, làm thư ký bên Toà hành chánh.

- Anh có về dự đám cưới không ?

- Mình chưa biết. Tự nhiên cảm thấy an ủi khi có Vinh chiều nay.


Vinh nhìn lại tôi.  Sự cảm thông qua tiếng nói của tôi đầy lên trong tình bạn, nó đến với Vinh, nơi cặp mắt còn trẻ ấy bỗng dưng nghĩ ngợi nhiều.


- Gia đình anh đang ở Huế?

- Ở ngoài đó. Vào đây chỉ có hai anh em  thôi. Ông anh đã yên phận với lính tráng, còn mình thì cũng chờ.


Sự chuyển động cây lá ngoài đường, rồi có tiếng gió đập dội mỗi lúc một nhanh, và tiếp theo là tiếng gầm trên bầu trời báo hiệu mưa. Mưa xuống, ào ạt. Cả dãy phố bên đường tưởng như bị cuốn theo gió và nghiêng đổ dưới cơn mưa lớn, nước mưa đang tràn chảy giữa lòng đường.


- Anh về nghỉ được mấy ngày?

- Mai lên lại rồi. Mai sẽ đi sớm.

- Tối nay ở lại nhà Vinh.

- Tối nay về với Vinh.


Trời mưa nặng hạt. Những người khách ngồi trong quán không có ai rời ghế đứng dậy. Người thiếu phụ xuất hiện ở chỗ quầy bánh, nàng đứng một mình, hai tay khoanh trước ngực nhìn ra những dãy bàn khách đang ngồi. Tôi nhìn lại bà qua lớp kính dày rồi tự nhủ, người đàn bà này có vẻ đẹp lạ thường.


Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

Hạ Long Bụt Sĩ: Cung Đàn Bạc Mệnh Trong Thung Lũng Ma

 Mỗi thiên tài là một Tề Thiên Đại Thánh, chớp mắt chu du từ Hoa Quả Sơn lên Thiên đình, xuống cõi thế, vào ra cõi ma quỷ, như đi chơi mà không vướng mắc, vô chấp, buông mà không bỏ, cởi mà không vứt. 

 

Nguyễn Du cũng như Shakespeare trong McBeth, sống mà sống với cả người chết, sống cõi rất rộng, chùm lên thiên giới, trần gian, địa ngục. Vào tác phẩm tuyệt bút, tâm tư cao rộng ra, được trèo lên vai của ông khổng lồ để nhìn chân trời xa, óng ánh vạt áo Hằng nga, lấp láy khối tinh anh chập chùng quanh trời đất, tiếng thở u uất lẫn âm ba thảng thốt, nửa thật nửa mộng, biên giới Ú, OM, U, Ớ... âm thiêng vang vào vách núi, dội ra luồng ba động vằn vèo nhập mạt na thức !


Chất thiêng toát ra từ ngòi bút Nguyễn Du làm truyện Kiều trở thành một cuốn sách bói : - lậy vua Từ Hải, lậy vãi Giác Duyên, lậy tiên Thúy Kiều .. Bói Kiều xem vận may rủi như gieo âm dương, xin thẻ xin xâm. Ngày Tết người ta kiêng không giở Kiều ra đọc là vì trong tâm thức bình dị của người Việt Nam, truyện Kiều mang chất thiêng và chất ma quái gở :

 

            Rằng hay thì thực là hay

            Xem ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

 

như một ngón đàn có ma nhập, cay đắng ngậm ngùi, chẳng ai dám tấu lên vào ngày đầu năm !

 

                                                                         *

Một đêm trăng bạc, Nguyễn Du 30 tuổi, ngồi nhớ người vợ đầu mới mất, ông tưởng tượng một cô hồn từ Thái Bình lặn lội qua đèo Tam Điệp, vượt sông Lam về thăm chồng nơi căn phòng trống trải dưới ngọn đèn dầu mờ tỏ xanh xao, nàng kể lể than van, chồng thương cảm phảng phất như nói chuyện với hồn nhập màn mờ sương ảo :

 

                        Mộng lai cô đăng thanh

                        Mộng khứ hàn phong xuy

                        Mỹ nhân bất tương kiến

                        Nhu tình loạn như ti

                                           Ký Mộng - Thanh Hiên Thi Tập

 

                        Dưới đèn leo lét mộng vào

                        mộng đi gió thổi thấy nào mỹ nhân

                        tơ lòng rối loạn muôn phần !

 


Nguyễn Chí Kham: Chuyến tàu ngày mai

Khi chuyến xe buýt tới trạm ngừng gần rạp hát Quốc Thanh, tôi xuống, rồi đi bộ đến nhà cô Trinh ở cách đây chừng hơn trăm thước. 

Buổi chiều thứ bảy thật vui, đường phố ồn ào, nhộn nhịp và nghe giục giã trong tiếng còi xe kêu lên inh ỏi. Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy có gì hơi buồn, lặng lẽ, đơn độc mỗi khi trở về Sài Gòn. Ở Biên Hòa, tôi mới về lúc sáng, mục đích vào Chợ Lớn thăm Tuấn bạn học cũ nay sắp sửa khăn gói vào quân trường. Gặp lại nhau, chúng tôi thật vui mừng, rồi trước khi làm một vòng dạo phố hai đứa kéo nhau qua quán ông Tàu ở trước mặt nhà ngồi uống cà phê, trò chuyện. Tuấn nói tôi thay đổi nhiều, khuôn mặt đen sạm, hơi già đi. Tôi cũng nhận ra vậy, nhưng trong đó, tôi hết sức an lòng với cuộc sống hiện tại của mình. Tôi làm hai công việc, chính ở bên ngành Thủy Lâm, phụ là dạy giờ môn Toán cho trường tư thục của linh mục Phương. Trường trung học này mới mở, chỉ có sáu lớp. Với hai công việc làm, nhưng đồng lương kiếm ra được không khá gì lắm, vì còn độc thân nên tôi tạm đủ với các thứ chi tiêu về tiền thuê nhà, giặt ủi, cơm nước, cà phê, thuốc lá, có nhậu nhẹt đôi chút cho vui, đến đôi ba tháng tôi mới gởi chút ít tiền cho mẹ và mấy em tôi. Gia đình tôi hiện ở Huế, chỉ có anh Huân và tôi ở xa. Anh Huân đã vào quân đội, làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến Sài Gòn, nhưng với chức vụ phóng viên anh đi công tác luôn. Và, cứ mỗi lần ra các tỉnh miền Trung, anh lại được dịp ghé thăm gia đình thay cho những chuyến đi phép. Còn tôi, đã hai năm nay chưa về thăm nhà. 

Học cùng lớp, nhưng Tuấn kém tôi một tuổi. Tuấn rất vui, có duyên trong cách chuyện trò và quen cũng khá nhiều bạn gái. Còn trong lứa bạn học, Tuấn thân tôi nhất. Vào Sài Gòn, Tuấn sẽ ở chơi hết tuần lễ này sau đó lên đường ra Nha Trang. Thời gian huấn nhục, rồi học quân sự và Anh Ngữ ở ngoài đó chừng sáu tháng Tuấn sẽ đi Hoa Kỳ học lái máy bay để trở thành phi công.

Ngồi ở quán cà phê, chúng tôi cứ mãi nói chuyện đời. Khi đã đến tuổi trưởng thành, có lẽ, đường đời là muôn vạn nẻo mà hướng mình đi có thể đã chọn đúng, hoặc sai. Với Tuấn, hướng đi về binh nghiệp, tương lai là phi công làm tôi vui trong ý tưởng về người bạn mình là một chàng trai quanh năm sống phiêu bạt, bao la giữa mây trời. Còn tôi, nghĩ lại mình bằng cuộc sống thực sự rất tầm thường, hẳn còn tạm bợ. Tôi chỉ là một công chức cấp nhỏ trong ngành thủy lâm. Tôi làm việc ở Biên Hòa, cách Sài Gòn không xa nên lên về cũng dễ nếu thường xuyên muốn đi vào cuối tuần. Nơi tôi ở trọ không nằm trong thị xã mà thuộc vùng ngoại ô, nhà ở cách con đường chạy từ phi trường ra quốc lộ chừng vài chục mét, mặt sân trước rộng và đằng sau có căn gác. Gần đấy, có khu chợ nhỏ, cách vài căn có một cửa hiệu

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2020

Hoàng Quân: Vẫn chuyện cố nhân

Lặng lẽ- tranh Hoàng Thanh Tâm

Điện thoại reo sau mười giờ tối, khi nàng vừa ủi áo quần, vừa coi Late Night Show. Khuya như vậy, thường là mấy chị em trong nhà, gọi tán gẫu, kể chuyện trời trăng, mây nước. Nàng nhấc máy, vừa nói, vừa cười: 

-Phủ tổng thống nghe đây. 

Đầu dây bên kia, giọng nữ, ngập ngừng: 

-Hello, cho nói chuyện với Định. 

Không mảy may nghĩ đến chuyện hỏi danh tính người gọi, nàng máy móc: 

-Chị chờ một chút. 

Nàng ló vào phòng, đưa điện thoại cho chàng, đang ngồi nơi computer.

-Có điện thoại cho anh. 

Nàng trở ra tiếp tục với bàn ủi và ti-vi. Tiếng chàng vọng ra từ phòng, rộn ràng, sống động: 

-Chứ sao, có người đẹp chiếu cố là phải tiếp đón trọng thể... Nhằm nhò gì, việc này mất, tìm việc khác. Bạn xưa là quan trọng nhất. Yên tâm! Qua đây nhe, mình sẽ lo từ A đến Z mà. 

Lát sau, khi mang điện thoại gác lại vào máy, chàng vắn tắt: 

-Duyên bên Canada sẽ qua thăm tụi mình vào tháng Bảy. 

 

Tai nàng đang nghe những câu chuyện thú vị, dí dỏm của anh phóng viên. Nghe thông tin của chàng, nàng dạ dạ. Cảm nhận như một sinh hoạt bình thường. Như kiểu cuối tuần này mình đi chợ mua thêm thùng bột giặt, mua vài két nước suối. Nhưng nàng đã lầm to. Đó chẳng phải thông tin của một ngày như mọi ngày. Mà là dấu hiệu giông bão sắp đến trong mùa hè của gia đình nàng. 

 


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

Trần Mộng Tú: Cái Dáng Rất Buồn  

                                                                 (Gửi PH và chị Oanh)  

 Anh bước vào giai đoạn lú lẫn (Alzheimer ) ở cuối đời. Mấy năm nay anh đã thay đổi rất nhiều. Bắt đầu anh quên quên nhớ nhớ, tiếp đến là anh dễ xúc động, anh hay khóc. Mấy năm trước, nghe cô bạn đọc Thơ của anh, anh cười, anh nhớ lại, đọc tiếp theo, chỉ độ một năm sau đó, anh không đọc theo nữa, anh chỉ nghiêng đầu lắng nghe, rồi bật khóc. Hình như anh biết được người kia vừa nói ra những câu gì rất thân yêu, rất thân thuộc với mình, và điều đó làm anh xúc động, anh khóc rưng rức. Chị lại nhỏ nhẹ dỗ anh:  

·                Nín đi, nín đi, Thơ của anh, cô ấy nhớ đấy mà, phải vui chứ.  

Anh nghe chị, ngoan như em bé, lau nước mắt, bằng mấy ngón tay, rồi cười, một nụ cười rất thơ trẻ.  

Những năm kế tiếp, anh bắt đầu quên mặt họ hàng, quên mặt những người bạn thân, anh chỉ nhớ có chị thôi. Anh 85 tuổi, chị 80 tuổi. Hai vợ chồng già sống với nhau, con trai, con gái đều có gia đình. Đứa ở xa, đứa ở gần cũng vậy thôi. Một năm tụ họp gia đình đôi ba lần vào dịp Lễ, Tết.  

Khi anh mới bắt đầu lãng quên, sức khỏe anh vẫn còn tốt, sáng sáng chị chở anh tới Gym. Chị bơi lội, anh ngồi ngoài nắng hóng mặt trời. Chị đi chợ, đi tới nhà bạn họp mặt luôn luôn có anh đi theo. Mỗi ngày anh một chậm hơn và quên nhiều hơn nhưng anh vẫn tự lo được vệ sinh cho mình, chị chỉ cần nhắc.  

Rồi bỗng một ngày anh không làm gì một mình được nữa, chị phải phụ anh. Cơ thể chị nhỏ quá so với anh, chị không thể khênh vác, tắm gội cho anh được. Anh bắt đầu ngu ngơ như một đứa trẻ còn mặc tã, mà anh đang mặc tã thật, chị không thể nào khênh, đỡ anh làm những việc vệ sinh cá nhân cho anh. Chị gọi con, con trai chị từ tiểu bang xa về tìm Home Care để gửi Bố vào.  

Tìm mãi mới được một nơi gần nhà, Mẹ chỉ lái xe có 8 phút là thăm được Bố. Số tiền hơi cao, nhưng để con lo.  

Con ở lại thêm vài ngày nữa yên tâm có chỗ tốt cho Bố mà Mẹ không phải đi xa, muốn thăm Bố lúc nào cũng được. Chị ngậm ngùi :  


Ngự Thuyết: Thu

Hình minh hoạ, FreePik

Ngồi ở căn hộ tầng hai trên chiếc ghế quay này, trước cái computer này, bao nhiêu tháng năm rồi nhỉ, bao nhiêu lần rồi nhỉ, chốc chốc tôi xoay hẳn người qua phía trái nhìn mông ra ngoài thật lâu. Tôi không biết tại sao tôi làm như vậy. Vô thức? Theo quán tính? Hay tại vì phải đổi thế ngồi cho đỡ mỏi. Già rồi, ngồi lâu mỏi đã đành, nằm lâu cũng không yên, đi lâu cũng mệt. Và cái gì đập mãi vào mắt tôi? Những bức tường vôi trắng vàng ngang dọc, những mái nhà nghiêng, dăm ba ô cửa sổ – tất cả đều hiện lên bằng những đường thẳng băng, khô khốc, cứng đơ, góc cạnh. Vô ý chạm mạnh vào sẽ u đầu, sứt trán. Tôi bỗng nghĩ đến mái chùa, mái đình uốn cong ẩn sau rặng tre, khóm trúc; mái tranh, mái lá mềm mại nằm sâu trong vườn cau, chuối, nhãn, mít ... 

Thế ra trong tôi, hay có lẽ trong rất nhiều người nói chung, vẫn âm ỉ nhiều hoài niệm về nếp sống “nhà quê” cũ mà hắn từng trải qua. Hoài niệm ấy sẽ trói buộc hắn vào cái mà có người mệnh danh là “phong thái đình làng”, là sinh hoạt “tiểu nông”, là “gà què ăn quẩn cối xay”, và sẽ không cho phép hắn mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài? Một cây non yếu đuối mọc rễ trong quá khứ, vừa nhú lên thấy trời cao đất rộng bỗng choáng ngợp, chết đứng, không còn khả năng sống cho ngày mai. 


Có thể như vậy. Mà cũng có thể quá khứ làm bệ phóng cho cây non ngạc nhiên bước vào những cuộc hành trình mới xa xôi và đầy thách thức.


Xa hơn là những chòm cây lá xanh quanh năm khắc hình lên bầu trời. Hầu hết là thông, tùng, bách. Xa hơn nữa, dăm ba cây cọ, cây gồi xoè bẹ lá như những mái tóc bờm xờm khổng lồ.


Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

Võ Hoàng – Trong Lòng Cách Mạng


Nếu Võ Hoàng còn, ta có một nhà văn lớn.

Vũ Thư Hiên


Được Cao vác bó tre về tới ngã ba cây chôm thì trời cũng vừa đứng bóng. Anh cảm thấy như cái sống lưng như muốn gẫy cụp lại, một bên ngực đau nhói, đau từng nhịp theo mỗi bước chân. Từ đó tới cây cầu ván bắc ngang đường mương trước nhà đâu khoảng năm bẩy chục thước nhưng biết mình có rán cũng không nổi, Được Cao lầm bầm:

“Nghỉ đã, còn có chút xíu, gấp gáp gì.”

Được Cao nghiêng người hất bó tre xuống bờ cỏ xong chống nạnh nhìn chầm chập vào nó một cách ngao ngán. Buổi trưa trời u u mà vẫn nóng, anh thấy bực bội trong mình quá, nhưng không biết phải làm sao nên chỉ thở hắt một cái thật mạnh rồi chầm chậm ngồi xuống đất, lột tấm áo đang cột ngang lưng ra, tìm một chỗ sạch nhất lau mồ hôi mặt.

“Tự dưng buồn ngủ kỳ thiệt!”

Được Cao luồn tay vô cái đầu tóc sói vuốt nhè nhẹ, thấy nản quá. Chiều hôm qua con mẹ Năm Đàn tới nói hoài về cái chương trình làm lễ rồi rốt cuộc nhờ anh phụ trách việc làm cho mấy chục cái lồng đèn, lớn nhỏ đủ thứ cỡ. Điều mà Được Cao ghét nhất là cái giọng của con mẻ ngọt lịm mà nghe cho kỹ thì luôn luôn có vẻ hăm doạ, và mỗi chuyện được lặp lại ít ra cũng ba lần.

Nghe thì ghét, nhưng không nghe thì không được. Nghe rồi lại càng không được vì tối lại, Được Cao ngẫm nghĩ tới trường hợp của ông Phùng, trường hợp của thằng Cam, mỗi người mỗi chuyện xem ra không có gì quá đáng mà cũng phải đi Miệt Thứ năm sáu tháng nay chưa thấy ai về nên cũng hơi lo. Thành ra, cuối cùng. Được Cao cũng phải quyết định sáng thức sớm đi chặt tre.

“Kệ mẹ nó.”


Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Phạm Xuân Hy : Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai

Đôi Hàng Bộc Bạch 

U Linh Lục 幽明

Lưu Nguyến Nhập Thiên Thai trong « U Minh Lục 幽明 » cũng còn viết là « U Minh Lục 幽冥錄 », hay là U Minh Ký 幽冥記, là truyện thuộc loại văn ngôn đoản biên Thần Kỳ Chí Quái tiểu thuyết, do Lưu Nghĩa Khánh, tông thất nhà Tống, thời Nam triều, cùng môn khách soạn, gồm 30 quyển, nguyên thư đã bị thất tán mai một.

Trong sách « Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm », Lỗ Tấn đã thu thập được 265 truyện. Sách ghi chép những truyện ma quỷ, thần linh, quái dị, biến ảo vô thường, nên mới có tên là U Linh Lục. Trong U Linh Lục cũng có một số truyện tương đồng với các truyện

sách Liệt Dị Truyện列異傳  và Sưu Thần Hậu Ký搜神後記, càng làm cho truyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai được lưu truyền rộng rãi thêm.

Cùng như tác phẩm « Thế Thuyết Tân Ngữ » , Lưu Nghĩa Khánh đã dựa vào những cố sự có trước mà soạn thành, chứ không phải cá nhân ông một mình sáng tác.

Sách « U Linh Lục » được phổ biến rộng rãi về mọi mặt trên diễn đàn văn học Trung Quốc, như thơ, văn, hý , hoạ, kịch.

 Việt Nam, chịu ảnh hưổng nặng nề của Tầu, nên núi Thiên Thai , truyện Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai, và nhiều đoản biên truyện ký khác cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ,nhạc sĩ, dịch thuật, phóng tác.

 Như Tản Đà từng có bài Tống Biệt, một bài thơ tuyệt vời,  bất hủ, mô tả cảnh Tiên Phàm Tiễn Biệt, lờ mờ nửa hư, nửa thực lãng đãng mơ hồ :

Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Tản Đà