Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Trần Mộng Tú: Nhịp Đập Mới Của Tim (Truyện Phóng Tác)

Chàng tỉnh dậy trong phòng hồi sinh sau một ca phẫu thuật vào giữa đêm, (chàng đoán thế) vì chung quanh chàng không có ai, bóng tối lờ mờ của ngọn đèn trên cao không soi tỏ rõ ràng vật gì chung quanh chàng và cả không gian yên tĩnh.

Nguyên ngày hôm qua, họ đã làm một cuộc thay tim cho chàng. Cuộc thay tim coi như thành công (chàng đoán thế) vì chàng đã tỉnh và chàng còn sống.

Chàng đã đợi chờ cuộc thay tim này lâu quá rồi. Họ không tìm được trái tim nào cho chàng vì người cần nhận tim thì nhiều và người hiến nội tạng về tim không đủ cung cấp. Các Bác Sĩ đã nói chuyện với chàng và với vợ con chàng nhiều lần. Cuối cùng họ đưa đến một giải pháp mà chàng và gia đình không hề nghĩ tới: Vì không thể chờ lâu hơn nữa, bác sĩ không bảo đảm cho sự tồn tại của trái tim đã hư hoại trong ngực chàng và vào thời điểm này, trái tim đã hư hoại của chàng có thể đưa tới cái chết bất cứ lúc nào. Một quyết định sinh tử cần được chọn lựa.

Một trái tim của con Heo sẽ được đặt vào để thay cho trái tim chàng đã có của riêng mình hơn 50 năm.

Đó là một ngày chao đảo cho cả gia đình chàng. Vợ chàng cầm cả hai bàn tay chàng lắc mạnh, chị nói nhỏ nhưng dằn từng tiếng:

Một trái tim Heo sao? Anh sẽ yêu em và các con bằng trái tim của con Heo sao?

Chàng cũng ngớ người ra không biết trả lời vợ thế nào cho đúng. Chàng làm sao biết được sau khi thay tim Heo vào ngực mình liệu chàng còn những rung động yêu thương như chàng đã có trước đây hay không? Chàng có nhìn vợ con bằng con mắt đằm thắm đầy yêu thương nữa hay không? Con Heo à? Nó có biết yêu không nhỉ. Chàng hình dung ra mấy con Heo ở trong chuồng đang vục đầu vào máng thức ăn, rồi chàng lại hình dung ra mình, áo quần tươm tất, đi bên cạnh vợ con với một trái tim Heo trong lồng ngực.

Chao ôi! Dù cố gắng cách nào đi chăng nữa, khó mà hình dung ra được.

Phạm Tín An Ninh: Đôi mắt mùa Xuân

Nếu không nhờ đôi mắt ấy có lẽ tôi không bao giờ nhận ra vợ chồng người bạn trẻ, từng là ân nhân đã giúp tôi giữ được mạng sống của nhiều đồng đội và của cả chính mình, thời tôi còn lăn lộn trên chiến trường, khi lằn ranh sống chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.

Cuối năm 1966, vừa rút quân ra khỏi Mật Khu Lê Hồng Phong, Phan Thiết, tôi dắt đại đội theo toàn bộ tiểu đoàn di chuyển lên Quảng Đức, tham dự một cuộc hành quân dài hạn nhằm truy lùng một đơn vị địch mới xâm nhập từ biên giới Miên-Việt. Cuộc hành quân kết thúc vài ngày trước Tết Nguyên Đán, nhưng tiểu đoàn có lệnh phải tiếp tục ở lại, biệt phái dài hạn cho Tiểu Khu Quảng Đức.  Tiểu đoàn (-) về nghỉ quân tại Đạo Nghĩa, một khu dinh điền do Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng lập nhằm định cư di dân từ miền Bắc sau Hiệp Định Genève,và cũng để tạo thành một vòng đai chiến lược. Riêng đại đội tôi được “solo” xuống tăng cường cho Chi Khu Kiến Đức, một quận hầu hết dân cư là người Thượng và tương đối mất an ninh. Quận trưởng lúc ấy là một sĩ quan lớn tuổi gốc Lực Lượng Đặc Biệt, người Kinh, tuy chỉ mang cấp bậc trung úy nhưng khá dày dạn, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Các sĩ quan còn lại trong Chi khu phần đông là người Thượng, gốc Bảo An đồng hóa.

Sau một cuộc hành quân tảo thanh chung quanh khu vực, đại đội tôi về đóng quân bên cạnh Chi khu để binh sĩ ăn Tết. Nói vậy thôi, chứ lính đánh giặc thì có cái gì để mà ăn Tết, ngoại trừ được ăn cơm nóng thay vì gạo sấy lương khô. Riêng tôi, được ông quận trưởng biếu cho mấy lon bia và một gói đậu xanh với đường đen để nấu chè đón giao thừa. Tôi cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng đóng quân trên ngọn đồi thấp giữa một vườn cà phê khá lớn, nằm không xa quận lỵ. Ngọn đồi chỉ là một cái chấm rất nhỏ giữa trùng điệp những vòng cao độ trên tấm bản đồ quân sự đang có trên tay tôi, nhưng đây là một vị trí có xạ trường tốt và tầm quan sát bao quát chung quanh. Mặc dù chỉ còn hai ngày nữa là Tết, tôi vẫn lệnh cho đại đội luôn trong tư thế tác chiến. Ban ngày các trung đội tảo thanh chung quanh, tối tổ chức các toán tiền đồn và phục kích theo tin tình báo của Chi Khu. 


Võ Phiến: Thịt Cầy

 — Thơ Nguyễn Du thật độc đáo.

Ôi tư tưởng tân kỳ táo bạo. Mừng bạn có nhận định sắc bén, mới lạ. Bạn nói về Truyện Kiều chăng? 

— Không.

— Nói về ‘Độc Tiểu Thanh ký ‘, “tam bách dư niên hậu” chăng?

— Không. Tôi định nói về thơ thịt cầy.

— Trời! Tiên sinh có cả thơ thịt cầy nữa à? Nếu quả có hẳn là độc đáo, không sai.

— Sao lại “nếu”? Có chứ. Này nghe:

“... Nhân sinh vô bách tải

Hành lạc đương cập kỳ

Vô vi thử bần tiện

Cùng niên bất khai mi

Di Tề vô đại danh

Chích Kiểu vô đại lợi

Trung thọ chỉ bát thập

Hà sự thiên niên kế

Hữu khuyển thả tu sát

Hữu tửu thả tu khuynh

Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận

Hà sự mang mang thân hậu danh”.

Đó là một đoạn trong bài từ ‘Hành lạc’1. Thịt chó hiển hiện rõ ràng. Thấy không?

Quả nhiên. Đúng nó. Đọc lên nghe thơm phưng phức. Người xưa từng nói đến thứ văn hay đọc thơm tho cả miệng lưỡi. Là đây chăng? Giá có luôn cái nghĩa...


Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Nguyễn Hưng Quốc, Gây Sự Với Hư Không

 image

Giữa thiên đàng và địa ngục

Tôi chọn cái ở giữa:

Trần gian

(20)

Trần gian cũng là chọn lựa của nhiều nhà thơ. Ngôn ngữ Nguyễn Hưng Quốc giản dị, mạch lạc, các bài thơ của anh có ý tứ rõ ràng. Sự rõ ràng ấy làm cho bài thơ sáng lên, có sức thuyết phục, mặc dù có thể không gây ra ám ảnh. Đọc thơ ba câu của anh, tôi nghĩ đến các nhà thơ hình tượng của Mỹ, như Ezra Pound, những người chịu ảnh hưởng ít nhiều từ truyền thống Nhật Bản, nhưng thơ anh không hẳn là haiku. Chỉ đôi khi có khuynh hướng ấy:

Con quạ đen

Mổ nắng

Giữa chiều quạnh hiu

(251)

Bài thơ hay, nhưng không tiêu biểu cho cả tập thơ. Thơ ba câu cũng là thơ tự do, không vần, tựa như tercet của phương Tây, hay những đoạn mở đầu của villanelle. Thơ tự do đòi hỏi người viết tập trung chú ý đến số chữ trong câu, đến trật tự sắp xếp của các câu, khác với người làm thơ có vần, luật, làm theo mẫu nhịp điệu có sẵn. Người làm thơ tự do cần độc đáo khi viết. Tôi không có ý nói rằng thơ tự do thì cao hơn thơ có vần, hay ngược lại, nhưng quá trình sáng tạo của các nhà thơ là khác hẳn nhau khi họ chọn một hình thức để sáng tác. Bạn chọn thứ nào cũng được, nhưng phải viết như thể số phận của bạn được định đoạt bởi chúng, câu thơ mỏng mảnh kia.

Các vì tinh tú xa xăm

Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu

Tìm một nhà thơ thất lạc

(17)


Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Nguyễn Văn Thà: Thánh Nữ

 1. Dẫn ngôn

Hình một người nửa nam nửa nữ trên một bình gốm Hy Lạp cổ đại, Wikipedia

Thần thoại Hy Lạp về người tri kỷ, hay về chuyện một con người trở thành những con người và ngược lại

Người ta kể rằng vào thời hồng hoang, khi con người mới được tạo ra, con người có hình dạng khác với người ngày nay. Trong “The Symposium: Chuyện trà dư tửu hậu”, triết gia Platon mượn lời Aristophanes, một kịch tác gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ, kể truyện về những người tri kỷ như sau:

“Theo thần thoại Hy Lạp, con người ban đầu mới được tạo ra, có bốn tay, bốn chân và một cái đầu với hai khuôn mặt. Thần Chủ tể Zeus/Jupiter thấy thế, đâm lo sợ về sức mạnh của họ, và để ngăn ngừa tai hoạ về sau, thần đã chẻ dọc con người thành hai phần, và bắt họ phải trọn đời tìm kiếm nửa-kia của mình.” 

Quả thật, cũng theo thần thoại kể trên, trong Thiên nhiên có ba giới tính: Đàn ông, đàn bà và androgynous: nghĩa đen là đàn ông+phụ nữ hay là nửa nam nửa nữ, trong tiếng Hy Lạp. 


Mỗi giới có hai bộ sinh dục, nghĩa là mỗi đàn ông có hai bộ sinh dục đàn ông và mỗi đàn bà có hai bộ sinh dục đàn bà, nằm đối xứng hai bên thân thể, trong khi người nửa nam nửa nữ có một bộ sinh dục nam ở một nửa dọc thân thể cộng với một bộ sinh dục nữ nằm đối xứng ở nửa dọc thân bên kia. 


Giới tính của con người có liên quan đến nguồn gốc của họ: đàn ông là con của Mặt trời và đàn bà là con của Trái đất, trong khi androgynous là con của Mặt trăng, được sinh ra từ sự hôn phối giữa Mặt trời và Trái đất. 



NguyễnPhúc Bửu-Tập: Một Kỳ Án Trong Văn Học Thế Giới Thế Kỷ Thứ 20 Giải Mở - Cái Chết Của Saint-Exupéry

Người Việt Nam ta ở tuổi trên dưới 70, lúc trẻ có học tiếng Pháp, chắc không ai xa lạ với hai tên ông Phạm Duy Khiêm và ông Bùi Xuân Bào. Ông Phạm Duy Khiêm tác giả cuốn Légendes des Terres sereines (Truyền Kỳ Mạn Tiên), thuật chuyện nàng ‘thiếu phụ Nam Xương” và chuyện “ngày xưa có anh Trương Chi, mặt thì thật xấu, hát thì thật hay” bằng giọng văn tiếng Pháp trong và mát như nước suối Evian. Ông Bùi Xuân Bào đến sau, văn chương trau chuốt óng ả, viết bản luật án về Saint-Exupéry làm sống văn nhân nước Pháp suốt phần sau của thế kỷ thứ 20, trong giới người trẻ Việt Nam.

Giữa tháng Tư năm 2004 vừa qua, báo The New York Times ở Mỹ và Le Monde ở Paris thông tin là xác chiếc máy bay do sĩ quan không quân Antoine de Saint-Exupéry lái được vớt lên từ một nơi gần cửa biển Marseille, thuộc biển Méditerranée (Địa Trung Hải). Danh số (serial number) của máy bay đúng là con số sản xuất của chiếc máy bay mất tích ngày 31 tháng Bảy năm 1944. Như vậy một điều kỳ án trong văn học thế giới đã gây thắc mắc đúng nửa thế kỷ vừa được giải mở. Ta thử lược đọc lại chút tiểu sử của Saint-Exupéry.


Antoine de Saint-Exupéry (từ sau viết gọn St-Ex) sinh năm 1900 tại Lyon, nước Pháp, thuộc một gia đình quý tộc đã suy kém. Từ nhỏ ông thích phiêu lưu, muốn trở thành một thủy thủ. Sức học kém, ông thi trượt vào trường Sĩ quan Hải Quân (Ecole Navale). Chế độ thi cử nước Pháp rất khắc nghiệt, nhiều lúc trớ trêu, như đã đánh trượt văn hào André Gide khỏi kỳ thi Tú tài, và nữ sĩ Françoise Sagan không qua nổi bằng Tú tài Hai, Bac Philo! Vừa đến tuổi quân dịch, St-Ex chọn binh chủng Không quân. Được bằng cấp lái phi cơ năm 22 tuổi. Thập niên ’20 thế kỷ trước là thời kỳ thám hiểm các đường bay, bắt đầu là các chuyến bay bưu tín. Năm 1926, St-Ex xin gia nhập hãng Latécoère, tình nguyện vào toán phi công khai phá đường bay đem bưu kiện xuống Phi châu và vượt Đại Tây dương xuống Nam Mỹ. Vào thập niên ’30, St-Ex chính thức trở thành phi công thám hiểm các đường bay mới của hãng hàng không quốc gia Air France và được chỉ định làm phát ngôn viên của hãng. Đồng thời ông cộng tác với báo Paris Soir, viết những bài phóng sự về các đường bay mới mở. Thế chiến thứ Hai chợt nổ, tuy đã nhiều lần bị thương trong các phi vụ thám hiểm trước, ông tình nguyện gia nhập đoàn phi công trinh sát, hoạt động thám hiểm hậu cần của địch quân Đức quốc xã. Nước Pháp thất trận. Ông trốn qua được Hoa Kỳ. Năm 1943, ông gia nhập Lực lượng Giải phóng Đồng minh ở Bắc Phi, lại trở thành phi công trinh sát. Phi vụ cuối cùng của ông vào ngày 31 tháng Bảy năm 1944. Phi công và phi cơ được báo cáo là mất tích.


Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

Trần Mạnh Toàn: “Bầy lan run rẩy mộng”

bướm trắng bay đi...

bầy lan run rẩy mộng

gai rừng khuya xé rách cánh bơ vơ

 (Vũ Hoàng Chương, Nhịp Cầu, Văn, số 14, 7.7.64)


 Hình TMT-2020


Lần tìm về thái độ của Nhất Linh trước khi nhập cuộc - nghĩa là khi người tiến về một đối cực mà hành động càng làm rõ điều chân lý chỉ là cái nhìn hài lòng từ mỗi phía - người ta cảm thấy nỗi dao động khác thường của người khi buộc phải bước về hướng đối nghịch với con đường mình đang theo đuổi. Bướm Trắng, viết xong vào tháng 3.1939, không chỉ là bước tiến của văn chương vào cõi sâu thẳm tâm hồn của con người muôn thuở, mà ở một khía cạnh, phát giác phản ứng gần như tuyệt vọng của con người trước sự ám ảnh hay đe dọa thúc bách cận kề. Trong cái tĩnh báo hiệu cái rất động, Nguyễn Gia Trí - người tương tri của Nhất Linh cả về nghệ thuật lẫn dấn thân, đã mách bảo tâm trạng của một lớp người như thế. (1) Sự ra đời của tác phẩm trong tình thế căng thẳng đương thời có thể nghĩ là cố gắng lặn sâu vào cõi văn chương như cách ứng phó trước sự mời gọi thiết tha của thời cuộc trước khi là kết quả của việc chiêm nghiệm những dằng co bất định trong tâm hồn người.  Trong tâm trạng đó, văn chương - mà đây là Bướm Trắng - còn là chứng tích của một nỗ lực vượt thoát nhưng vô hiệu đồng thời báo trước những đau khổ trong cơn thử thách, những cay đắng trong nỗi dằn vặt - dù có ý nghĩa của việc thanh tẩy - sẽ bám chặt lấy người mà những địa danh như 12 Yersin, 7 và 11 Yagut, 19 Đặng Thái Thân Đalat, suối Đa-mê... trở thành vị trí để người hằng đêm đối bóng. Những cao điểm để chiếc bóng thêm cô liêu dù hương lan rừng có nguôi lòng tỏa ngát. Hiểu theo cách riêng, Bướm Trắng đã tiên định được hướng tâm hồn thăng hoa khi đề cập trường hợp con người sa ngã. Cái chết, sự thất bại hay tan vỡ đều đặt con người vào thế khốn cùng khi họ, dưới một hình thức riêng, tự nguyện chấp nhận chúng. Trương - người thanh niên trong truyện - rơi vào tình trạng chịu đựng " cái khổ sống gượng này còn lớn gấp mấy cái khổ tiếc đời trước kia " (2) và chỉ thoát ra khỏi bi kịch này khi nỗi ám ảnh về bệnh không còn và ý niệm hạnh phúc giản dị lại trở về với chàng. Như vậy, ở một khía cạnh, đau khổ, thất vọng - sau khi tàn phá con người- rút cuộc, lại đem đến tác dụng của việc rửa sạch tâm hồn, mở lại hy vọng về một viễn ảnh dung dị thuần khiết. Rồi đến khi luống đậu nở hoa trắng có những con bướm rất xinh ở đâu bay về ...(3)


Lê Hữu: Chim sáo nâu và chàng nhạc sĩ

Chim sao nau.jpg
Ảnh: yeuchim.net

 “Cô ca sĩ qua đời, bài hát ấy cũng qua đời.” 

Ông bạn tôi, nhạc sĩ sáng tác Phan Tần, thốt lên câu ấy với giọng lừng khừng.

“Làm gì có chuyện bài hát qua đời,” tôi nói, “không người này hát thì cũng có người khác hát vậy.” 

“Thế nhưng bài ấy thì chỉ có Phương Nhi, không tiếng hát nào thay được.” Chàng nhạc sĩ lắc đầu, giọng thẫn thờ. “Người đời có tiếc thương cô ca sĩ thì cũng tiếc thương bài hát ấy, có tưởng nhớ đến cô thì cũng tưởng nhớ đến bài hát ấy.”

Tôi chưa nghe ai nói lạ vậy, nhưng ngẫm nghĩ thì cũng có lý. Có những bài hát người ta không muốn nghe ai hát nữa từ khi tiếng hát gắn liền với những bài ấy đã về trời.

“Bài hát qua đời” ấy là bài “Bến cũ đò xưa”, mang âm hưởng dân ca Nam bộ. Nói vừa dứt tiếng, tác giả bài hát ôm cây đàn guitar cất giọng ồm ồm.

Chiều nay trên bến xưa

hắt hiu bóng con đò

Bến cũ cây già

tôi về nghe mưa khóc hoài con sáo bay xa…

Chim sáo bay xa rồi

trăng cũng bỏ tôi ngồi
giữa bến đời sầm sập mưa rơi…

Mưa “sầm sập”, ít nghe ai nói vậy, hẳn là mưa to gió lớn. Liệu cái “bến đời” heo hút của chàng nhạc sĩ có chịu nổi những gió mưa tơi bời?

Giọng Phan Tần nghe rưng rưng cảm xúc. Có điều chàng nói đúng, người ta không muốn nghe ai khác hát bài ấy ngoài Phương Nhi, kể cả tác giả bài hát. “Bến cũ đò xưa” hay những bài “Lý con sáo Bạc Liêu”, “Phải lòng con gái Bến Tre” thì chỉ có Phương Nhi. Không ít ca sĩ từng thử sức với những bài ấy, gồm cả những giọng hát chuyên trị dân ca, nhưng kể từ khi Phương Nhi cất tiếng thì những bài hát này đã ở lại với cô và gắn liền với tên cô.


Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Hoàng Quân: Thoáng hương mùa cũ


Trang Vở Cũ – Tranh Hoàng Thanh Tâm

Mùa lễ, đám con nít gặp nhau ở nhà ông bà Ngoại, vui mừng tở mở. Đêm nào chúng cũng thức khuya lắc, khuya lơ. Sáng dậy trưa trật, trưa trờ. Mở mắt, mở miệng, như bầy tằm ăn rỗi. Chúng lau chau một hồi là tủ lạnh láng o. Chúng sục sạo tủ này, tủ kia, hỏi, chúng trả lời: “Kiếm cái chi tào lao ăn cho đỡ buồn miệng”. Nhà bếp bày biện nấu nướng linh đình, hết bánh cuốn, bánh canh đến cơm chiên, mì xào. Khi nhà bếp tuyên bố, hôm nay mời món bún ốc, đám trẻ uể oải: “Thôi, con nhịn đói”, “Con ăn chips cho no cũng được”. Bỗng đâu, giọng oanh vàng thỏ thẻ:

-Lâu lắm rồi mình chưa đi ăn nhà hàng.

Thế là có ngay dàn hợp xướng:

-Đúng rồi! Bữa nay người lớn đãi con nít ăn nhà hàng Mỹ.

Nhà hàng sang trọng đây là tiệm ăn của cháu chắt mấy đời ông Mạc Đĩnh Chi: ông Mỹ Mạc-Đô-Nô. Trong nhà, ai nấy bận rộn. Chỉ có Quỳnh Tương bị “ế độ” thôi. Bởi vậy, mọi người nhanh chóng có ngay quyết định. Người lớn Quỳnh Tương sẽ dẫn bầy cháu ra McDonald's để chúng chạy ngoài trời cho giãn gân, giãn cốt. Rồi vào tiệm nạp năng lượng với những big mac, hamburger, những shake này, shake kia.

Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2021

Ngô Nguyên Dũng: Tặng Phẩm Của Bầu Trời

Hình minh hoạ  Angeles Balaguer, Pixabay

Sau khi lướt đọc hồ sơ bệnh lý, vị bác sĩ trưởng ngước nhìn ông đăm đăm, cất giọng chậm rãi:

"Những thương tích thể xác của cậu con trai ông sau tai nạn hôm đó, chúng tôi đã chữa xong, chỉ chờ lành. Có điều… những chấn thương não bộ và tâm lý đã khiến cậu hôn mê…" Ông ngập ngừng, rồi buông tiếng ngắn gọn: "Phải chờ thôi!"

Người đàn ông với khuôn mặt âu lo thở hắt, hỏi khẽ:

"Bao lâu, thưa bác sĩ?"

"Không nói được. Có thể chỉ vài ngày, dăm tuần, … Có những trường hợp kéo dài tới đôi ba năm."

Người đàn ông lặng lẽ gật đầu thay cho lời cám ơn.

"Căn cứ theo những tài liệu y học và kinh nghiệm chữa trị của chúng tôi, trong khoảng thời gian chờ đợi cậu con trai của ông hồi tỉnh, ông có thể làm những việc này…", vị bác sĩ tiếp lời.

Người đàn ông ngẩng mặt, đưa tay sửa gọng kính lệch. Đầu tóc bạc thưa sợi dường như cũng hắt sáng. Ông chớp mắt, chút lệ xúc động ngân ngấn khóe mắt.

"Tôi sẵn lòng, thưa bác sĩ."

Pari Mansouri: Không Phải Là Một Cơn Mơ (Nguyên tác: No, I Was Not Dreaming - London 12/1988; Hà Quang Xương chuyển ngữ)

Hình minh hoạ  Michi-Nordlicht, Pixabay
Có một chuyện thật là lạ xảy ra cho tôi trong đêm qua. Nó kỳ lạ đến độ vào buổi sáng hôm sau tôi không có đủ can đảm để kể lại cho chồng và hai con tôi nghe. Tôi biết là khi nghe xong chuyện tôi kể, với tính tình thực tế và nhậy cảm, chồng tôi sẽ lo lắng và có thể khuyên tôi nên đến một nhà tâm lý học để được chữa trị. Mặt khác, cô con gái và cậu con trai của tôi, với tính tình vô tư lự, sẽ có thể nói: “Chắc là mẹ lại nằm mơ phải không?”

Dù sao thì tôi cũng chắc chắn một trăm phần trăm là chuyện xảy ra không phải là một cơn mơ và tôi thấy cần kể lại cho mọi người nghe.

*

Đang ngủ thật say bỗng dưng tôi nghe thấy một tiếng động nhẹ trên cửa sổ. Lúc đầu tôi tưởng là có lẽ là gió nhưng khi lắng nghe kỹ thì tôi thấy rõ ràng là có ai đó đang gõ vào cánh cửa sổ nơi phòng ngủ của vợ chồng tôi. Tôi hơi sợ và bật chiếc đèn ngủ bên cạnh giường lên, đồng hồ lúc đó chỉ một giờ sáng. Tôi tính thúc nhẹ cho chồng tôi dậy nhưng lại không muốn quấy rầy chàng vì trong thời gian gần đây chàng hay bị đau bụng, và cơn đau nhiều khi làm chàng khó có thể có giấc ngủ ngon như lúc này.

Tôi nghĩ là không thể nào là trộm được bởi vì những tên trộm thường là hành động lén lút làm gì có chuyện gõ cửa sổ nhà vào lúc một giờ sáng để làm cho khổ chủ thức dậy! Tôi cũng nghĩ là khó có thể có ai mà gõ vào cửa sổ được vì phòng ngủ của vợ chồng tôi ở lầu hai. Có lẽ tiếng gõ đó là do tôi tưởng tượng chăng? Tuy vậy tiếng gõ nhẹ đó không ngừng lại mà cứ tiếp tục khiến cho tôi không còn cách nào khác hơn là trở dậy để tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Tôi khẽ mở cửa sổ, và dưới ánh trăng chan hòa tôi nhìn thấy một người thấp bé mặc một cái áo choàng mầu vàng trên đầu đội một cái mũ nhọn đỏ mà chỏm mũ có gắn một cái chuông. Ông ta ngồi trên ghế trước của một cái xe trượt tuyết do bốn con hươu kéo và có một người khác giống y hệt ông ta ngồi ở ghế sau.

Trần Doãn Nho: ‘Mẹ’ của Ngự Thuyết

Ngự Thuyết là một khuôn mặt rất quen thuộc của văn chương hải ngoại. Anh viết nhiều, viết đều và viết đủ thể loại. Truyện ngắn, truyện dài và nhiều tiểu luận của anh xuất hiện trên các tạp chí văn học giấy cũng như mạng suốt ba thập niên qua.

Bà mẹ quê. (Hình minh họa: Đức Nguyễn/Pixabay)

Về mặt sáng tác, anh có lối viết nhẩn nha, điềm đạm, từ tốn và đặc biệt nhất, là rất chi li. Trong thế giới gọi là “hư cấu” của anh, mọi sự, mọi vật đều “hiện thực” một cách đầy hiện thực! Chúng được anh mô tả tới nơi tới chốn và xuất hiện một cách bình đẳng. Từng chi tiết một, kể cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, đều được ngòi bút của anh chiếu rọi đến.

Đọc anh, tôi có cảm tưởng như không có gì trong cái thế giới thân thuộc chung quanh thoát khỏi con mắt quan sát tinh tường, độc đáo của anh. Không phải chỉ ở hiện tại, mà ngay trong quá khứ. Anh ghi lại chúng y như thể các tầng lớp ký ức xa xưa đều lũ lượt trở về, sắp hàng đi ngang trước mặt anh, để cho anh tuần tự chộp lấy và ghi lên giấy. Một ký ức tuyệt vời! Và một đầu óc quan sát nhanh, nhạy, mẫn cảm và… dân chủ. Anh không cưng sự vật này, bỏ bê sự vật khác. Tất cả đều có chỗ đứng đàng hoàng trong văn anh. Đọc anh, tôi mê mải theo dõi những điều anh mô tả đến nỗi quên – có khi quên bẵng – theo dõi… câu chuyện.

Đặng Mai Lan: Độc giả


Đừng kể tới những năm tháng tuổi đời xanh như lá mới nơi quê nhà, thuở tập tành viết lách. Truyện ngắn đầu tiên tôi viết trên quê hương thứ hai, được đăng trên tạp chí Văn với vài lời giới thiệu của cố nhà văn Mai Thảo, đến bây giờ đã gần ba mươi năm.

Xuất bản được bốn tác phẩm. Ba tập truyện đầu, tổng cộng là ba mươi sáu truyện ngắn, lẫn tạp ghi. Mỗi tập truyện cách nhau đến chín năm. Nếu chia đều số truyện cho hai mươi bảy năm thì mỗi năm tôi chỉ viết được một truyện. Tội nghiệp quá, sức viết của tôi!

Tôi chỉ nhẩm tính con số này khi sửa lại phần tiểu sử, tác giả và tác phẩm, chuẩn bị cho cuốn truyện dài đầu tay. Bởi vì đây là tác phẩm thứ tư, ra đời chỉ cách hai năm, sau cuốn sách thứ ba. Nói vậy, không phải là tôi đã viết nhanh hơn.

Truyện dài mang tên "Sương Ký Ức" được khai bút từ rất lâu, nhưng nhiều chuyện không vui xảy ra khiến tôi không còn hứng thú. Tôi ngừng viết, bỏ hẳn bản thảo qua một bên, mặc dù đã viết được sáu chương… Cuối cùng, truyện được hoàn tất trong vòng sáu tháng. Chữ nghĩa từ tim óc viết ra làm sao có thể dễ dàng dứt bỏ.

Pearl Buck: Sáng Ngày Giáng sinh (Christmas Day in The Morning - Nguyễn Văn Thực dịch)

Hình minh hoạ  1388843, Pixabay

Người đàn ông tỉnh dậy đột ngột và hoàn toàn tỉnh táo. Đã bốn giờ, giờ mà cha ông hằng gọi ông dậy để giúp cha ông vắt sữa. Thật lạ là những thói quen thời trai trẻ bây giờ vẫn còn đeo bám ông! Đây là thói quen của 50 năm trước đây, và tính tới nay thì cha ông đã mất được 30 năm, vậy mà ông vẫn có thói quen thức dậy mỗi ngày lúc bốn giờ sáng. Ông xoay mình, ngủ nướng thêm chút nữa, nhưng sáng nay là Lễ Giáng sinh, ông chẳng rán nhắm mắt mà ngủ thêm như mọi bận.

Tại sao đêm nay ông lại cảm thấy tỉnh táo như vậy? Độ rày ông hay nghĩ về những năm tháng cũ. Ông 15 tuổi và sống trong trang trại của cha ông. Ông thương cha ông. Ông đã không biết cha mình thương mình cho đến một ngày trước Lễ Giáng sinh vài ngày khi ông tình cờ nghe được những gì cha ông đang nói với mẹ:

"Mary à, anh ghét phải gọi thằng Rob dậy mỗi sáng sớm. Thẳng lớn nhanh quá và nó cần ngủ. Nếu em mà có thể thấy nó ngủ mê như thế nào khi anh vào đánh thức nó... Anh cứ muốn để anh tự làm hết công việc để cho con nó ngủ.”

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

Lale Gül: Tôi sẽ sống (Nguyễn Hiền dịch)

Lời người dịch.-

Vào tháng 2/2021, tác phẩm đầu tay Ik Ga Leven (Tôi Sẽ Sống) của nhà văn nữ trẻ Lale Gül đã gây sôi nổi trong làng văn học Hòa Lan. Lale Gül (sinh năm 1997), người Hòa Lan gốc Thổ Nhĩ Kỳ, viết tác phẩm này khi cô đang theo học ban Văn Chương. Cô sinh trưởng trong một môi trường giáo dục khắc nghiệt theo Hồi giáo chính thống. Ik Ga Leven là cuốn tự truyện của cô, qua đó cô đã xác định quan điểm của mình, là đoạn tuyệt với lối giáo dục nghiêm khắc này. Ngay khi tác phẩm được xuất bản, cô đã bị gia đình cấm cửa. Những lời kêu gọi giúp đỡ cô cũng không được cộng đồng người Thổ Nhĩ Kỳ ở Hòa Lan hưởng ứng, nhưng cô đã được Parool, một tờ báo lớn của Hòa Lan, mời giữ mục xã luận. Cuộc đời cô sẽ được quay thành phim, và tác phẩm này đã được trao giải NS Publieksprijs 2021 (là giải bình chọn tác phẩm tiếng Hòa Lan do công chúng, một giải văn học quan trọng ở Hòa Lan) với 32% trong tổng số hơn 210.000 số phiếu bình chọn. Dưới đây là bản dịch những trang đầu của tác phẩm, đọc để hiểu một phần vì sao cô bị cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tẩy chay.

Nguyễn Hiền

***


Tôi sẽ sống


Giá mà tôi chịu đi theo dòng dư luận thì chuyện này đã không xảy ra với tôi, tôi đã không biến thành một kẻ bị ruồng bỏ. Với sự hiểu biết của ngày mốt, ngay hôm nay tôi sẽ đưa ra một quyết định vội vàng và láo xược. Có rất nhiều điều trong cuộc sống nghe thật tuyệt vời nếu bạn nghĩ ra chúng, nhưng nói chung, tốt hơn là bạn không nên thực hiện chúng. Điều tương tự cũng áp dụng cho việc xuất bản tác phẩm này. Do đó, tôi đưa ra cho quý vị lời khuyên sau đây theo cách của Cruijf (1): hãy giấu mọi thứ mà chúng sẽ làm quý vị hối hận sau này.

Tôi đưa quý vị cùng đi vào câu chuyện của tôi. Hãy cho chúng ta hy vọng là tôi quăng được cục đá xuống ao.

Ngự Thuyết: Home

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Thôi Hiệu

Trong một căn hộ nhỏ ở tầng hai của một chung cư, một buổi trưa.

Ông già đang “vui đùa” với đứa cháu ngoại. Ông đã già lắm rồi, tóc bạc phơ, đi đứng lụm cụm; đứa cháu mới khoảng 6 tuổi, trông thông minh, nghịch ngợm, dễ thương. Bà ngoại đón nó đi học về. Nó sẽ ở lại đấy với ngoại cho đến chiều, rồi bố hoặc mẹ của bé, sau ngày làm việc, sẽ đến đón bé về nhà của bố mẹ gần đấy.

Vừa mở cửa để vào nhà, bé đã cúi xuống cổi giày ngay và nói lí nhí, tiếng lơ lớ, ngọng nghịu:

“A ngoai.”

Ngoại mắng:

“Ạ ngoại thì phải nhìn ngoại mà ạ, chứ sao lại nhìn giày. Muốn ạ giày sao?”

Nó chạy vội tới hôn vào má ông ngoại, xí xoá. Ông hỏi tiếp:

“Bà ngoại đâu?”

“Xe.”

Năm trước học lớp mẫu giáo, nó khá tiếng Việt hơn nhiều.Ở nhà, bố mẹ nó luôn luôn chịu khó nói tiếng Việt với nó, và bắt buộc nó cũng phải trả lời bằng tiếng Việt. Năm nay nó lên lớp Một, nói toàn tiếng Anh với bạn bè tí hon, và với thầy giáo, cô giáo, thì đồng thời nó cũng dần dần quên cái thứ tiếng mà bố mẹ và ông bà mong nó nhớ mãi. Nó quên tiếng “mẹ đẻ” thì cũng khó nhớ đến quê hương cũ, ông già ngẫm nghĩ. Mà quê hương cũ của ai? Nó sinh tại Mỹ, sống tại Mỹ, quốc tịch Mỹ. Vậy quê hương của nó nơi nào? Ông già cau mày, thở dài, vội nghĩ qua chuyện khác.

Trước đây nó đã được bố mẹ mang về thăm ngoại mấy lần khi nó còn bé tý. Nay nó ở gần ngoại, hay nói đúng hơn, ngoại dọn nhà về ở gần bố mẹ nó. Và tuy ngoại không nói ra nhưng bố mẹ nó biết ngoại ở xa con cháu thì ngoại không vui, nếu không muốn nói là buồn. Buồn nhiều.

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Đặc Sản Quê Tôi

Quê hương của Trúc Thanh nằm nép mình cuối dãy Trường Sơn. Nơi đó có núi, rừng, ruộng, rẫy và biển xanh. Thanh chưa bao giờ đặt chưn xuống miệt đồng bằng. Từ ngày về chung sống với tôi, Thanh chỉ biết quê chồng qua những câu chuyện kể hoặc đọc qua sách báo và xem phim ảnh chớ chưa một lần nhìn tận mắt. Thanh ao ước:

- Ngày nào về nước em sẽ về quê anh, em rất thích sóng nước miệt đồng bằng sông Cửu Long.

- Em ở miền núi nên em thích đồng bằng cũng như anh ở miệt đồng bằng thì thích về miền núi — tôi tự hào khoe với vợ — quê hương anh được cái là thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều món ăn dân dã, anh cam đoan với em, từ Trung ra tới ngoài Bắc không đâu có được miền trù phú như U Minh.

- Nói cho cố đi ông!

- Em dìa rồi em sẽ biết.

Tôi không nói quá lắm đâu. Quê tôi vùng ven thuộc về U Minh Hạ, ra biển thì tôm cá biển, vô sông thì cá tôm sông, lên ruộng thì cá đồng, rùa, rắn... Trên trời chim chóc rất nhiều loại như: diều hâu, diệc, cò đen, cò trắng, le le, chằn bè, vịt nước... Những vườn cò, sân chim mỗi nơi rộng hàng chục công đất vuông. Nhứt là vào những buổi chiều chim, cò bay về rợp bóng mát và kêu ríu ra ríu rít vang động cả góc rừng. Cò mần ổ trên những bụi chà là có nhiều gai nhọn. Đầu mùa mưa, cò đẻ trứng, người ta chuẩn bị áo, quần và may bao tay dầy đề phòng gai chà là quẹt rách da, chảy máu. Họ mang gùi, vác móc vô rừng móc một buổi đầy hết gùi nầy sang qua gùi khác, họ ăn cho tới khi trứng lộn mới ngưng lại. Đợi tới khi trứng nở con, chờ cò con bể bọng, mọc lông non, đủ thịt thì họ lại xách gùi vô một đợt nữa móc lấy cò con đem về bán cho quán nhậu hoặc tự làm đồ nhậu.

Nghe tới đây Thanh chận:

- Cò con ăn được sao?

- Được chớ, cò con thịt thơm, xương mềm, đem nướng, khìa nước dừa hay rô ti thì ăn rất ngon và nhậu rất bắt.

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2021

Nhất Linh: Lan Rừng

Hình minh hoạ


Quang xuống xe rồi vào một cái nhà ở đầu phố để hỏi thăm đường đi Bản Lang và để thuê ngựa. Người cho thuê ngựa hỏi:

– Ông vào nhà ai trong đó?

– Vào nhà ông Vi Văn Hoài. Đường vào đấy có xa lắm không?

– Độ mười cây số thôi. Nhưng ông phải đi ngay kẻo trời tối mất. Để tôi lấy con ngựa thật khỏe ông đi cho chóng. Ông vào trong ông Hoài thì tôi không cần cho người đi theo dắt ngựa về, khi nào ra, ông đem ngựa lại trả tôi cũng được.

Rồi người cho thuê ngựa chỉ tay về phía một con đường lên dốc, bảo Quang:

– Ông cứ đi theo con đường đó. Đến một cái chùa đã đổ nát, thì ông rẽ sang bên tay phải, rồi đi thẳng, khi nào đến một cái cầu gỗ là đến Bản Lang.

Lên hết chỗ dốc, Quang cho ngựa chạy phóng để kịp đến trước khi tối trời.

*

Đi vài cây số gặp một cái chùa đổ nát, chàng theo lời người cho thuê ngựa rẽ về bên tay phải, rồi lại cho ngựa phóng. Nhưng đi được ít lâu, chàng có cảm cái tưởng là lạ rằng con đường đương theo không phải là đường về Bản Lang, tuy chưa lần nào chàng về Bản Lang cả. Chàng tự cho mình nghĩ thế là vô lý, rồi cứ cắm đầu quất ngựa.

Lâm Vĩnh Thế: Dịch Thơ Đường

Bài viết này ghi lại một vài suy nghĩ chủ quan dựa trên kinh nghiệm cá nhân tương đối giới hạn của người viết về việc dịch thơ Ðường sang tiếng Việt, hay nói cho đúng hơn là chuyển dịch thơ Ðường sang thơ Việt.  Người viết không phải là người đầu tiên làm công việc này và cũng chắc chắn sẽ không phải là người cuối cùng.  Và đây chính là lý do hình thành của bài viết này: để chia sẻ hứng thú và kinh nghiệm với những người đồng điệu.

Vài nét về thơ đường

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, triều đại nhà Ðường (618-907) là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của thi ca, cả về lượng lẫn về phẩm.  Tại nước ta, trong suốt bao nhiêu thế kỷ, "Ðường thi được coi là kho tàng điển-cố trân-quí, là khuôn-mẫu mệnh ý, dụng ngữ cho các nho sĩ khi làm thơ chữ cũng như thơ nôm." [1]    Ngay cả sau khi Nho học đã suy tàn, thơ Ðường vẫn còn rất được ưa chuộng tại Việt Nam.  Số người thưởng thức và chuyển dịch thơ Ðường sang thơ Việt rất nhiều nhưng nổi tiếng nhất thì phải kể đến Tản Ðà và Ngô Tất Tố trong giới cựu-học và Trần Trọng San trong giới tân-học.  

Phần lớn các tài liệu về văn học Trung quốc đều phân chia văn học thời Ðường làm 4 giai đoạn: Sơ Ðường (618-713), Thịnh Ðường (713-766), Trung Ðường (766-835) và Vãn Ðường (836-905).  Mỗi giai đoạn đều có nhiều thi sĩ nổi danh nhưng hai ngườI nổi tiếng nhất là Lý Bạch (701-762), được gọi là Thi Tiên, và Ðỗ Phủ (712-770), được gọi là Thi Thánh; cả hai đều thuộc thời Thịnh Ðường và đều để lại một sự nghiệp rất vĩ đại.  

Một trong những đóng góp quan trọng của thời Thịnh Ðường là việc hoàn thiện thể thơ mới để thay thế cho thể thơ cổ phong, gọi là thơ cận thể hay kim thể, với luật lệ rất nghiêm ngặt, chặt chẽ.  Do đó về sau người ta gọi là luật thi: ngũ ngôn luật thi hay thất ngôn luật thi.

Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập đến việc chuyển dịch một số bài thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt, 4 câu 7 chữ. 


James Thurber: Tuyệt Chiêu (The Catbird Seat - Gió ViVu phỏng dịch)

Lời người dịch:


Cổ nhân xưa có câu:

Họa hổ, họa bì, nan họa cốt.
Tri nhân, tri diện, bất tri tâm.

Có nghĩa là:

Vẽ hổ chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương.
Biết người, biết mặt, nhưng không biết được lòng.

Câu nói của cổ nhân từ xa xưa nhưng cho đến nay vẫn đúng và vẫn còn được ứng dụng hằng ngày trong giao tế xã hội, trong đối nhân xử thế.

Dò sông, dò biển dễ dò.
Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

Dù ở phương Đông hay phương Tây cũng giống nhau, con người thật đa dạng, đa tài, đa mưu túc kế,...!

Tiểu Sử Tác Giả:


Sinh tại Columbus - Ohio, James Thurber (1894 - 1961) thích lấy quê nhà làm bối cảnh cho những câu chuyện khôi hài của ông. Những mẫu nhân vật điển hình trong truyện thường là một người cha hiền lành, nhu nhược bị ăn hiếp, bắt nạt bởi một bà mẹ khôn lanh, đanh đá; và những cuộc chiến tranh hay sự ganh đua, xung đột xảy ra giữa hai phái nam và nữ trong xã hội. Thurber viết cho tờ báo The NewYorker vào năm 1972 và đã được nhiều độc giả biết đến với những bài văn, truyện, hoạt họa và những hí họa rất đặc sắc.

Sau Mark Twain, Thurber được công nhận là nhà văn hài hước nổi tiếng nhất nước Mỹ. Hầu hết những tác phẩm của ông viết về những hậu quả của những cuộc hôn nhân không êm ấm, không thuận buồm xuôi gió; những ảnh hưởng xấu của nền công nghệ, kỹ thuật; và sự tác hại của chủ nghĩa Phát- xít. Thurber ưa thích dùng những hình tượng thú vật trong truyện vì ông rất ngưỡng mộ và cho rằng đó là những hình ảnh đặc thù gây ấn tượng sâu sắc nhất.

Thurber đã viết rất nhiều tác phẩm hay, nổi tiếng và đoạt được một số giải thưởng, bao gồm: My Life and Hard Time (1933), The Middle-Aged Man on the Flying Trapeze (1935), Further Fables For Our Time (1940), The Thurber Carnival (1945), and Thurber's Dogs (1955).

TUYỆT CHIÊU 

Gió ViVu phỏng dịch

Martin đã mua một gói thuốc lá hiệu Camels vào tối thứ Hai trong một tiệm bán Xi-ga rất đông khách ở đường Broadway. Đó là giờ người ta đi coi hát, nên có khoảng bảy hay tám người đến mua thuốc lá cùng lúc. Người bán hàng bận bịu đến nỗi không có thì giờ để ý nhìn mặt từng người khách, Martin lẹ làng đút gói thuốc lá vào túi áo khoác rồi bước nhanh ra cửa. Nếu có ai trong công ty F & S mà nhìn thấy Martin đi mua thuốc lá thì chắc hẳn họ sẽ ngạc nhiên lắm lắm vì ai cũng biết là hắn không hút thuốc và cũng chưa từng có ai thấy hắn phì phèo điếu thuốc bao giờ.