Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Phiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Phiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2019

Thơ Võ Phiến: Bạn Bầy



- Ấy, cô ta ? Ai như cô ấy độ nào ?
Chén rượu uống vụng lúc nửa đêm,
Cơn hỏa bốc ngầm một hôm trời chưa hửng sáng.
Gớm, cô Mùi ! bấy lâu mất dạng.

- Ô hay… nhờn nhợt màu da…
Đích thôi ! Bà Tú đẫy đà…
Cùng trong lân lý có xa xôi gì.

Cô Mùi, cô Loan, cậu Trương, anh Vọi
Thậm chí cả cô Thúy Kiều, chàng Kim Trọng
Với bà Phó Đoan, với gã A.Q., thằng Nhuận Thổ,
Chiếc chiếu cạp điều của “thằng chú Tư” khốn khổ.
Này bà Bovary, này chị Anna
Thể thống mà đa tình, đẹp người mà xấu số…

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Võ Phiến: Hạ Hồi

Cái suy tưởng 


Rời phần nghệ thuật, xin qua phần học thuật [1]

Cái đóng góp ở địa hạt này nhằm tiếp tay giúp con người hay thêm, tốt thêm. Bách gia chư tử đều là những đấng suy nghĩ về triết, về đạo; không có “tử” nào gieo vần chuyên nghiệp, kể tiếu lâm chuyên nghiệp, vẽ tranh tôm chuyên nghiệp. Có Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử v.v... Có luôn Lão Tử là kẻ xúi ai nấy đừng làm gì cả, cứ lửng lơ con cá vàng. Xúi đừng làm cũng như xúi cố làm, đều là những phát biểu đóng góp, hữu dụng. Khác với phía nghệ thuật. Không hề có Lý (Bạch) Tử, Đỗ (Phủ) Tử. Hát cực hay như Trương Chi không thành Trương Tử, soạn nhạc giỏi như Kê Khang cũng không được gọi là Kê Tử. 

Học thuật nhằm cải tiến cuộc sống, nhằm cải thiện con người. Cái giá trị của kiến thức là ở chỗ cao sâu và mới mẻ. Để được tiếp nhận niềm nỡ, cái sau phải cao hơn, phải mới hơn cái trước. Người cổ sơ lưu lại hình vẽ ở hang động, lưu lại những bộ xương cốt trong huyệt mộ; hậu thế gặp được hình vẽ càng xưa càng quí, gặp được xương cốt càng xưa càng hay. Nhưng về mặt học thuật thì kiến thức đưa ra càng mới càng tốt. Sách dạy ở nhà trường mỗi năm mỗi bổ sung, chỉnh đốn, cho cập nhật. 

Do đó một người viết đã “có tuổi” không mấy hào hứng khi ngoái nhìn “sự nghiệp” mình. Lắm lúc không còn hứng thú tiếp tục sự nghiệp suy tưởng. 

Riêng bản thân tôi trong khoảng mười năm trước Hiệp định Genève đã sống trong khu vực cộng sản. Ở đó muốn viết phải viết đúng chiều hướng. Tôi không thuận chiều hướng; sau mười năm, rời Liên khu V ra đi, không có thành tích viết lách gì. 

Sau 1955, tôi đọc huyên thiên, lóa mắt, thấy gì cũng ham. Cái viết bấy giờ đâm ra huyên thiên. Cứ thế vài chục năm; rồi bị văng ra khỏi Việt Nam. Mọi cái đổi mới: mình xa lạ, sống lạc lõng, sống lai rai, suy nghĩ lai rai... Cái viết càng lai rai. 

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Võ Phiến: Thẫn Thờ

Mình viết lách từ hồi nào? được bao lâu rồi nhỉ? Mằn mò nghĩ ngợi cho ra, e khó. Tí toáy tập tành, viết lèm nhèm, thì làm sao nhớ được từ năm tháng nào. Viết được ra trò, được cái đáng kể, thì biết cái nào là cái đáng kể mà ấn định lúc bắt đầu?

Vậy hãy phỏng chừng từ độ tuổi đôi mươi đến giờ: Sáu mươi năm. Trong chừng ấy thời gian, được gì nào?

Hai tiếng “được gì” hàm ý chọn lựa. Thế nào là “được.” Thế nào là chưa “được.” Khó thay. Tự nó, cái viết có giá trị gì, có tầm quan trọng nào chăng? Cũng khó nói quyết.

Viết, đại khái có cái sáng tác, cái suy tưởng. Sáng tác, như thơ, truyện, tùy bút thuộc về một phía. Còn suy tưởng, tra cứu, biên khảo, thuộc phía khác. Một bên là nghệ thuật, một bên là học thuật; nên tách riêng mà nói.

Đồ dùng và đồ chơi


Chuyện sáng tác có gì đáng nói? Hồi nhỏ, tự dưng náo nức viết; rồi theo đà cứ viết hoài. Đó không phải là lý do chính đáng làm cho cái viết thành quan trọng.

Phàm đồ làm ra, xét về mục đích sản xuất, có một thứ là đồ dùng, một thứ là đồ chơi. Cái có công dụng gọi là đồ dùng; dù nhỏ bé như cái kim, sợi chỉ, như cái tăm xỉa răng, cái que ráy tai v.v... đều là đồ dùng. Còn những cái làm ra không có sở dụng thực tế, chẳng hạn con diều giấy, thì dẫu có to lớn bằng cái nong cũng gọi là đồ chơi. Đồ dùng thô sơ như cái búa, cái gối, cái đòn ngồi, vẫn là đồ dùng. Đồ chơi thì tinh xảo như chiếc phi cơ, gắn cục pin vào có thể bay tít lên cao cũng gọi đồ chơi thôi. Đồ dùng thì một viên thuốc nhỏ bằng hạt tiêu, đen sì, nằm lăn lóc, vẫn là để dùng một cách thận trọng. Còn đồ chơi thì dù cái pháo đốt kêu ầm ĩ, cây pháo bông tỏa sáng huy hoàng cả một góc trời, cũng đồ chơi thôi.

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

Võ Phiến: Thác Đổ Sau Nhà (Tiếp theo và hết)

Tôi chú ý đến Hải. Hải có đôi chân vạm vỡ, nhưng có điều buồn cười là cử động của hai chân hắn không biểu lộ sức mạnh mà lại diễn tả một thái độ lưỡng lự, phân vân, không quyết định: Khi đứng lúc nào hắn cũng tựa cả người trên một chân, còn chân kia hoặc quấn tréo xung quanh chân nọ như con rắn, hoặc quơ qua lại dịu dàng, trông mềm nhuốc. Tư thế của hắn thiếu sự rắn rỏi. Nhìn hai chân hắn, có khi tôi nghĩ đến cặp râu của những con kiến đang chạy chợt dừng lại phân vân, cặp râu quơ quơ thăm dò. Khi đứng nói chuyện với tôi, hắn xúc động, hai chân lại càng nhấp nhỏm, cựa quậy, quơ quất. Những áy náy, bồn chồn e ngại của hắn biểu lộ ở cả sự cử động của hai chân. Nếu hắn là một người gầy yếu bạc nhược thì có lẽ không thấy chướng mắt lắm, nhưng đàng này hắn lại mập khỏe sung sức, cho nên sự rụt rè diễn tả ngay bằng một bộ phận thân thể cường tráng của hắn trông lố bịch. Bắt gặp cái nhược điểm ấy tự dưng tôi coi thường, không tin rằng hắn có thể quả quyết đeo đuổi tôi. Quả nhiên trong bao nhiêu lâu tình yêu của hắn cứ như là một cái gì không chịu thành hình, một cái gì lấp ló thấp thoáng, vô hại. Tôi không ngờ đến một phương diện tai hại khác của sự phân vân lưỡng lự: Hải không tiến tới, nhưng hắn cũng không hề rút lui, hắn không chịu có một thái độ dứt khoát nào cả. Nếu là một người rắn rỏi hơn, thì sau khi tôi có chồng họ đã nhận định lại hoàn cảnh và quyết định một thái độ hợp lý. Nhưng hắn thì cứ như thế thôi; trước kia hắn không dự tính hành động gì thì bây giờ hắn cũng không quyết định gì.

Rồi thình lình được biết cái việc phải rời bỏ quê hương, hắn hoảng hốt quấn quít những gì thân yêu. Hắn quấn quít xung quanh tôi như người ta quyến luyến một người bạn đời đã chung sống nhiều năm thân thiết, mà cũng có thể nói như đứa trẻ thơ bịn rịn một người chị, một người mẹ. Trong bao năm hình ảnh tôi ám ảnh tâm trí hắn mà không có địa vị rõ rệt, cho nên bây giờ trong sự hốt loạn hắn bị đẩy liều đến cạnh tôi, hắn bíu lấy tôi mà không tự biết mình muốn gì.

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

Võ Phiến: Thác Ðổ Sau Nhà (Kỳ 1)

Hình minh hoạ, Getty Images
Ðáng lẽ hôm đó tôi không đi với nhà tôi. Một phần vì tôi chưa quen tiệc tùng đông đảo mà đám cưới hôm đó thì nhà trai mời rất đông. Vả lại hồi ấy tôi có mang trên ba tháng, thân hình đã có những nét thay đổi; một người đàn bà dù không hay làm đỏm cũng không thấy có hứng thú chen đến chỗ đông người với một thân hình như thế.

Tuy vậy khi nhà tôi sắp đi thì vợ chồng anh Thủy ghé vào. Chị Thủy kéo tôi vào nhà trong, nhất định nằn nì đòi tôi cùng đi cho có bạn. Chị bảo nếu không có tôi thì chị cũng không đi dự tiệc, nên muốn cho chắc chắn chị không cho anh Thủy đi thẳng mà bắt ghé vào nhà tôi để rủ. Chị xốc hai tay vào nách, lôi tôi đứng dậy, vuốt vuốt trên bụng tôi, rồi nghẻo đầu ngắm nghía, cười ngắc nghẻo, thì thào:

– Trông được gái lắm. Có ai thấy bụng dạ gì đâu nào? Ði với người ta cho rồi.

Tôi bật cười. Vẫn với vẻ đùa đùa, nhanh nhẹn láu táu, chị mở tủ lấy áo ra, lấy lược chải tóc cho tôi, lấy kem lấy phấn dàn ra.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

Phạm Xuân Nguyên: CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ


Tràng Thiên, một bút hiệu của nhà văn Võ Phiến

Tôi nhớ mãi một bài báo đọc được trên tạp chí Bách Khoa trong quá trình tìm hiểu về văn học miền Nam trước 1975. Bài báo nói chuyện những địa danh ở miền Nam Bộ lại luôn mang tên người, những thôn ấp kênh rạch được gọi là xóm Ông Đồ, ấp Trùm Thuật, sông Ông Đốc, ngọn Ông Trang, rạch Biện Nhan, núi Bà Đen... Núi sông được gọi theo tên con người, mà lại là những người dân chân chất, bình thường, những con người chân lấm tay bùn, không phải những vĩ nhân, nhân vật lịch sử. Thật lạ lùng. Ở miền Bắc thì con người phải mượn tên sông núi để ghi danh mình như Tam Nguyên Yên Đổ, ông Tú Vị Xuyên, cụ Nguyễn Tiên Điền, còn trong Nam con người cho núi sông mượn tên mình trước bạ. Mới đọc đến đó tôi đã khoái quá. Nhưng tác giả chưa dừng ở đó. Trong Nam tên núi tên sông là tên người, nhưng người Nam lại rất lắm tín ngưỡng, thờ lắm thần, lập lắm đạo. Cớ sao vậy? Câu trả lời của tác giả chốt lại trong một từ: đất mới. Nam Bộ là miền đất mới, người Việt vào đó khai khẩn phải tự tạo ra tất cả mọi thứ cho cuộc sống của mình, từ tên gọi núi sông đến thần linh đạo giáo. Kết luận lại, tác giả gọi đó là “đất của con người”. Và đó cũng là tên của bài báo tôi đọc được. Toàn bài toát lên một sự ngợi ca con người Việt Nam đi mở đất, nối dài bờ cõi. Toàn bài chan chứa lòng yêu con người Việt Nam tràn trề sức sống và biết sống trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Giọng văn như kể chuyện, một lối văn nói, khiến người đọc thấy gần gũi, chan hòa. Tôi đọc xong bài ngó tên tác giả thấy hai chữ Tràng Thiên. Ngày tháng ghi dưới bài viết là vào năm 1972.

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

VÕ PHIẾN: BUỔI SÁNG GIỮA ÐỒNG


Chuyn đang k là mt chuyn đời xưa. Ði xưa, Thc đang hc Ðà Lt thì xy ra Cách Mng Mùa Thu; sau đó Pháp tr li Ðà Lt, nàng theo cha m tn cư v quê. V đây ban đầu không biết làm gì, ít lâu nàng theo ch em ra xã làm vic đoàn th. Huyn thy nàng có “kh năng”, bc lên huyn; ri huyn li thy nàng có “kh năng”, bc lên tnh. cơ quan tnh, đã có tôi sn đó ri.
Như thế cũng thường thôi. Vì by gi ai ny đều tíu tít. Phn ln là tíu tít v vic đoàn th; các đoàn th thanh niên, ph n, thiếu niên, ph lão v.v..., cp nào cũng có, đâu cũng có, bao nhiêu người dùng cũng không tha.
Vy Thc làm vic nước, tôi làm vic nước, mi người xung quanh lăng xăng làm vic nước. Vui quá th. Phn tôi, có mt đim riêng: là tôi va làm vic nước va mê Thc ngt ngư.

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

Nguyễn Hiến Lê: Bài TỰA tập “ĐẤT NƯỚC QUÊ HƯƠNG” của VÕ PHIẾN


Tùy búttùy hứng mà phóng bútlà một th rt tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Một cơn mưa, một giọng hát, một hớp trà, một trang sách, một tà áo phất phơ dưới gió, một tiếng ve rỉ rả trong rừng... bất kỳ một cảnh vật nào, một sự việc nào, hễ gi hứng cho ta cũng có th là đề tài một thiên tùy bút. Nó tựa như nhật ký mà không phải là nhật ký, vì nó là bút chứ không phi là “ký”; nó tựa như nghị luận mà không phi là nghị luận, vì nó là tùy hứng suy đoán chứ không phải dụng ý biện luận.

Nó phóng túng như vậy nên ta tưởng là dễ, nhưng có viết thử mới thy khó. Trước hết nó phải thân mật, hầp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những bạn đồng điệu lúc ngồi bên một giàn hoa hay một ấm trà. Nó không cần dàitrung bình mươi trang trở lạinhưng lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị.

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Võ Phiến: ÐÀN ÔNG, KẺ NỌ NGƯỜI KIA(1)


Ch Lê thèm khát ước ao mt khong không gian.
Người đàn ông buông lng vòng tay. Ch nhích ra. Ch nhích sát ra ngoài ca xe. Ca sau ca xe tc-xi hiu Renault bn nga ch có th đẩy qua đẩy li na tm kính, không th m rng, gió không lùa vào được nhiu. Ch áp trán ri nghiêng mt áp má sát vào tm kính ca để nghe cái mát ca bên ngoài. Ch thò bàn tay ra ngoài, xòe các ngón tay ra để cho gió lt tng ln qua k ngón tay. Ðường khuya vng người, rng thêm ra.
Ch thèm hít cái hơi sương ngoài đường ph vào nhng gi khuya khot, – mt, hai gi sáng – lúc ch ri khi tim, đi v nhà.
Ðêm nay, tri va mưa mt trn, đường còn ướt, không khí hãy còn đẫm ướt. Ch mun nhoài người ra ngoài hng đón cái không khí y đập ngược vào mt, tung vào tóc mình.
Ch nhích ra quá xa, bàn tay người đàn ông tut rơi trên nm xe và nm yên đấy. Ch thm cm ơn thái độ ca người nhân tình. Anh ta t tế mà không bao gi v vp. Mt người con gái mi ln s tha h gin di v nhng lúc anh ta h hng, lơ đãng. Nhưng ch Lê thì ch thy d chu. Thnh thong ch cn được người đàn ông b quên trong chc lát. Nếu không, ch cũng đến phi làm như cáo t mt người khách nim n, rút lui trong chc lát vào cuc sng riêng ca mình. Mt người vào tui ch, vào hoàn cnh ch, thường gp nhiu phin bn vì cuc sng riêng quá.

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Võ Phiến: MỘT NGƯỜI, MỘT NGƯỜI...



Lần đầu tôi được biết Nguyễn Bá Trạc cách đây chừng hăm lăm năm, thuở cùng chân ướt chân ráo đến Hoa Kỳ, ai nấy nhốn nháo chưa rõ đâu vào đâu.  Chuyến ấy tôi cặp họa sĩ Lâm Triết (là bạn của nhà văn Nguyễn), lên chơi Bắc Cali cho biết sự tình.

Buổi sáng, ông Nguyễn đi ra đi vào, băn khoăn.  Lâm Triết giải thích vào tai tôi khe khẽ:  “Sắp cúng. Chưa mua được trầu cau”.  (Giỗ quải hay cúng bái gì, tôi quên).

Lát sau, ông Nguyễn sốt ruột hẳn. Lâm Triết mỉm cười ranh mãnh, bấm nhẹ vào cổ tay tôi.  Triết không nói gì, nhưng nụ cười và ánh mắt ngầm nói:  “Chờ xem.  Có thể chàng còn lắm trò”...

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Võ Phiến: EM ĐÂY


Nhà văn Trà Sơn, buổi sáng, đi bộ hai
block, bỏ ra một đồng quarter mua tờ báo, mở ra soạn lấy những phần thể thao, quảng cáo v.v... vất vào thùng rác gần đấy, rồi cầm báo về. Giữa đường, chợt có ai khều nhẹ. Ông thầm hỏi:
- Ai?
- Em.
a, “em”? Em nào vậy cà? Ông nghĩ ngợi:
Ai vậy?
Có tiếng cười trong trẻo:
“Nắng vàng trên ngọn lá
Hồn ta mênh mông xanh”...
Ông Trà Sơn đỏ mặt. Ông nhớ. Em ấy, ông nhớ rồi. Nhà văn Trà Sơn thật ra làm thơ nhiều hơn viết văn. Thứ năm tuần trước, cũng buổi sáng, chính chỗ ngả tư này ông đã nảy ra một tứ thơ, ông phác sơ qua vài câu rồi về nhà, mãi xem báo, ông tạm bỏ đấy... Bây giờ ông ngượng như một k thất hẹn:
Thư thả nào!

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

BÀI THƠ VÕ PHIẾN NĂM 2000: nhà ở hai mươi năm

Thân tặng
anh chị Ngô Thế Vinh


Thoạt tiên nhà ấy nhà ai?
Dù sao, hai mươi năm ta đã ở
Quen lối thông ra các buổi mai
Quen ngõ vào buổi tối

Cơn vui sân trước
Nỗi buồn vườn sau
Giấc chiêm bao ở buồng này
Trận cãi nhau trong phòng nọ...

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016

Liễu Trương: Võ Phiến Một Ðời Cầm Bút


Để ca tụng sự ham thích đọc sách, nhà văn kiêm nhà thơ Pháp Valery Larbaud (1881-1957) đã chọn cái tựa đề như sau cho một cuốn sách của ông : « Ce vice impuni, la lecture » (Đọc sách, cái thói hư không trị được). Cũng như bao nhiêu người khác, tôi mắc phải cái « thói hư » đó. Đọc sách cho ta cái thú đi vào thế giới thiên hình vạn trạng do tác giả tạo ra, và là cái thú mà ta có thể có ngay từ thuở nhỏ. Nhưng nếu nói về việc đọc sách của Võ Phiến thì tôi xin có một lời thú : tôi được biết tác phẩm của ông rất muộn. Giữa lúc tiếng tăm ông lừng lẫy trên văn đàn miền Nam, thì ở Pháp tôi không hề biết đến cái tên Võ Phiến. Mãi đến thập niên 80, tình cờ đọc bài tùy bút  « Ngày xuân êm đềm »  tôi bỗng cảm thấy bị cuốn hút.  « Ngày xuân êm đềm »  là một văn bản có thể được liệt vào thể loại mà nhà phê bình văn học Pháp Jean-Yves Tadié gọi là « Le récit poétique » (Truyện kể thi vị). Kể từ đó, tôi đi tìm sách của Võ Phiến để đọc, và  đã miệt mài với những tác phẩm của ông.

Đàm luận giữa Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng: họp tan, tan họp

Nhà văn Võ Phiến

LTS. Như đã ghi ở trên, bài này là một cuộc đàm thoại giữa hai nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng được ghi lại. Nhưng  cuộc nói chuyện đã diễn ra như thế nào, được ghi lại ra sao? Xin mời độc giả đọc lại đoạn ký sự sau đây để hiểu cách sáng tác có vẻ như tay đôi này (trích từ bài Đi Thăm Nguyễn Xuân Hoàng của Phạm Phú Minh, kể chuyện đi San Jose thăm nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đang bị bệnh nặng, vào ngày 10 tháng Tám 2013).
 
... Tôi hỏi tiếp: "Năm 1993, từ tháng Tư cho đến tháng 12, tạp chí Thế Kỷ 21 có đăng một loạt bài chín kỳ có tên gọi là 'Một hoàn cảnh mới cho sáng tác văn nghệ', ký tên hai người: Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng. Các bài đều dưới hình thức đàm thoại. Vậy cách thức hình thành của loạt bài này như thế nào?" 
Sở dĩ tôi đặt câu hỏi này là vì gần đây tôi tìm những bài cũ có giá trị của Thế Kỷ 21 để đăng lại trên báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ, và đã đăng gần trọn loạt bài này. Hai nhà văn này đã nhìn ra lắm cái hoàn cảnh mới cho sáng tác văn nghệ, ví dụ sự tương quan giữa sách và người, ngày nay con người không còn chịu nhiều ảnh hưởng của sách như các thế kỷ trước, mà chịu ảnh hưởng của tin tức, của TV, của đời sống xã hội nhiều hơn. Rồi đề tài sách và nhà, rồi cuộc sống vội vàng v.v... Câu chuyện đối thoại nào cũng hấp dẫn, cũng thấu tình đạt lý. Và một hôm tôi bỗng nhận ra điều này: dù là dưới dạng đàm thoại, văn phong tất cả các bài này là của Võ Phiến, vậy cuộc chuyện trò đã diễn ra như thế nào giữa hai nhà văn? Tôi định đến thăm nhà văn Võ Phiến để hỏi vấn đề này, nhưng sực nhớ ra từ mấy năm nay trí nhớ của nhà văn lão thành này đã lãng đãng lắm, chắc là khó có được câu trả lời chính xác. Và định bụng hỏi Nguyễn Xuân Hoàng. May quá trong chuyến đi thăm Hoàng lần này, cái trí nhớ cũng đã bắt đầu lãng đãng của tôi lại nhớ ra chuyện này, và tôi vội vàng đem ra hỏi Hoàng. Chứ lỡ không còn dịp để hỏi nữa thì làm sao? Thì tôi lại ân hận như đã lỡ dịp hỏi nhiều điều tôi cần biết, với Lê Trọng Nguyễn, với Đỗ Ngọc Yến, với Phạm Duy... May quá, Hoàng đã trả lời một cách rõ ràng. 

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN (30/10/1925 - 28/9/2015)


Nhà văn Võ Phiến rời chúng ta thấm thoát đã được một năm. Giỗ đầu của nhà văn được tổ chức tại chùa Điều Ngự (Westminster, Nam California) trưa ngày thứ bảy 24 tháng Chín, 2016. Đông đủ bạn bè thân thiết trước kia vẫn quây quần cùng anh, đặc biệt có người cháu dâu của học giả Đào Duy Anh với cô con gái nhỏ gọi học giả họ Đào bằng ông cố. Thân tình, quý trọng, giản dị, là không khí của bữa cỗ chay nhân ngày giỗ đầu của nhà văn.

Diễn Đàn Thế Kỷ tưởng niệm nhà văn Võ Phiến hôm nay cũng trong tinh thần thân mật và giản dị, với một số bài viết mới cũ của bạn bè, văn hữu. Đây là những nén nhang chân thành tưởng nhớ một nhà văn rất lớn lao nhưng cũng rất gần gụi với tất cả chúng ta.


DĐTK

Trúc Chi: Võ Phiến, chút kỷ niệm

Trúc Chi và Võ Phiến 2013

Anh Võ Phiến bấm chuông. Chủ nhà mở cửa nhận ra anh chị. Vồn vã mời vào. Tôi theo sau . Anh dừng lại ở phòng khách, đảo mắt nhìn quanh rồi xin phép chủ nhà mở cửa ra vườn sau. Tôi nhìn ra vườn. Cây hồng mà tôi biết năm nào cũng sây, vẫn còn đấy. Anh đứng dưới mái hiên, bịn rịn trước cảnh cũ, cái nhìn của anh có lẽ đã thu hết những gì anh thấy và ghi nhận hết mọi đổi thay, anh tần ngần trước cảnh cũ một hồi rồi ra về, sau khi đã lễ phép cám ơn chủ nhà. Tôi đề xe. Anh ngoái cổ nhìn mãi ngôi nhà. Tôi liếc nhìn anh: thoáng một vẻ quyến luyến.

Tôi không nhớ năm tháng đích xác. Chỉ biết hôm ấy nhân cùng đi chơi với anh chị Võ Phiến ở Glendale, khi xe chạy qua khu có ngôi nhà anh cư ngụ ở Highland Park trước khi dọn xuống Santa Ana, tôi quay sang hỏi anh có muốn tạt qua cái địa chỉ quen thuộc ấy hay không.

Nguyễn Tường Thiết: Những lá thư Võ Phiến

Từ trái: Trùng Dương, Võ Phiến, Nguyễn Tường Thiết, Trần Huy Bích 
Đầu tháng 9 vừa qua tôi nhận được email của anh Phạm Phú Minh, trong đó anh viết: “Ngày 28/9 sắp tới là ngày giỗ đầu của anh Võ Phiến, tôi có ý định làm một số tưởng niệm trên Diễn Đàn Thế Kỷ vào ngày 25/9. Muốn xin anh một bài về Võ Phiến để đăng trong số đó. Cám ơn anh Thiết”.
Biết tôi là chỗ thân tình với anh Võ Phiến từ rất lâu, ngay từ thủa chúng tôi còn ở VN trước năm 1975, nên tôi đoán là anh Minh muốn tôi viềt về những kỷ niệm mà tôi có với anh Võ Phiến, và bài viết có nội dung như thế hẳn sẽ thích hợp với số báo tưởng niệm anh.
Tuy nhiên vào năm 2003 tôi có viết một hồi ký tựa đề “Mưa đêm cuối năm”, trong đó tôi viết về mối giao tình giữa anh Võ Phiến và tôi, cùng rất nhiều kỷ niệm giữa hai người, bài này tôi có in trong cuốn sách “Nhất Linh Cha Tôi” ấn hành năm 2006.

Liễu Trương: VÕ PHIẾN VÀ TÂM TRẠNG KẺ LƯU ĐÀY

Liễu Trương
Sống ở Pháp từ năm 1963.
Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.

Đã xuất bản
Les canons tonnent la nuit
Bản dịch truyện Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca
Nxb Philippe Picquier, Pháp, 1997

Một cuộc đi chơi ở đồng quê
Bản dịch 16 truyện ngắn của Guy de Maupassant
Nxb Đà Nẵng, 2007
Tiếp cận văn học Pháp
Nxb Văn Học, Hà Nội, 2007
Phân tâm học và Phê bình Văn học
Nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 2011

Sau biến cố tháng 4, 1975, đông đảo người Việt Nam đột ngột rời xa quê hương để tìm đến một bến bờ tự do. Cả một cuộc đời bỗng nhiên bị đảo lộn, nếp sống cũ bỗng nhiên tan biến. Kể từ nay trên đất khách, người Việt di tản phải tập sống với những người khác chủng tộc, khác văn hóa. Vấn đề thích nghi, hội nhập được đặt ra, và người di dân ý thức rằng lìa cuống rún là cả một sự đau đớn. Thích nghi về vật chất như ăn uống, đổi nghề nghiệp, đổi lối sống, v.v… những điều này đều có thể làm được, nhưng thích nghi về tinh thần thì sao? Tâm hồn vẫn còn mang nặng hình ảnh quê hương, vẫn còn quyến luyến với những truyền thống, tập quán xưa, vẫn còn tha thiết với cái không gian đã bị tước đoạt một cách tức tưởi.

Phạm Thị Hoài: Ngày Về

“Chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh thật khốn nạn. Sau hàng thế kỉ ngoại thuộc, sau ba chục năm trời nhiễu nhương, nay nước nhà được thanh bình, dân tộc bắt tay xây dựng đất nước, thì chúng ta lại bỏ xứ ra đi, chúng ta lại vắng mặt, lại đứng ngoài vòng.”
“Không về được, chúng ta tự thấy sống một đời vô duyên, lãng xẹt. Cần thì chưa chắc tổ quốc đã cần đến mình; chưa chắc mình sẽ có một đóng góp nào đáng kể. Những kẻ có ý thức cao nhất về mình cũng không bao giờ dám tự nhận mình là cả một cần thiết cho quốc gia. Tuy nhiên, nghĩ rằng ở cái xứ nghèo khó nhỏ bé của mình đồng bào đang rầm rập xây dựng mà mình không được dự phần vào, tự dưng có một cảm tưởng tưng hửng, dần dần ngấm thành một đau đớn.”
“Lòng chúng ta lúc nào cũng tha thiết với quê hương, nhưng quê hương lại không còn như xưa. Cho nên chúng ta lâm cảnh bẽ bàng.”

hoàng xuân sơn: làm thơ. nhớ ông Võ

thân xác
một người rành rọt xác thân

hít vào một bấc khí thũng
thân lây lan rợn bốn bề
chiếc sừng tù và
hòn đê nở trắng
mù phương sinh giạt
nằm từng khi co giật
mây rừng
ngần ngật cơn rung
hối hả