Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Linh Bảo - Hạt Châu (tiếp theo)


Mỗi chiều Hằng đã dành được phần nấu ăn. Ban đầu Vân nấu, bảo Hằng đứng xem để học lóm, nhưng Hằng không chịu, bảo rằng muốn làm từ đầu đến cuối tất cả mọi thứ để biết một cách rõ ràng, chứ không chịu “chị ướp gì vào thịt, em không biết, chỉ thấy xào xào, ai xào chả được, mai đây em biết làm thế nào.” Ban đầu Vân không tin là Hằng không biết nấu ăn, nhưng hôm nói chuyện về bánh chưng, Hằng hỏi một câu làm tất cả mọi người giật mình:
- Có phải nấu nếp chín trước, kho thịt xong, rồi mới gói lại thành hình bánh chưng phải không chị?
Từ đấy ai biết gì cũng ra công chỉ bảo cho Hằng, bởi vì tất cả đều không còn ngờ vực tài nấu nướng của Hằng nữa. Hằng nhường phần quét dọn và nấu buổi sáng cho Vân. Ngọc phụ bếp. Hằng giữ chân bếp chính nhưng ở dưới sự chỉ huy của Vân và Ngọc. Cô bé hăng hái muốn tập tất cả những món gì có thể nấu được, để chuẩn bị cưng anh chàng Hoàng tử đẹp trai tương lai nào đó.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Võ Phiến - Bắt Trẻ Đồng Xanh [2]

Nhà văn Võ Phiến (hình: Huỳnh Ngọc Dân)
Trước một đối thủ như thế, thái độ của những chính khách Việt Mỹ hằng ngày đấm ngực đồm độp, băn khoăn, tự trách mình cái lỗi không kết thúc được chiến cuộc, thái độ ấy ngây ngô đã đành. Thái độ của những người hớn hở với một kế hoạch kinh tế hậu chiến nào đó, nghĩ cho cùng cũng mỉa mai tội nghiệp: liệu rồi hưởng được mấy năm hòa bình trước mắt mà hí hửng tính chuyện xây dựng, mà mơ cảnh thịnh vượng? Rồi đến thái độ của những kẻ nhìn xa để báo động về một cuộc chiến tranh chính trị: bảo rằng đối phương rồi đây chỉ có hoạt động chính trị, như vậy không khác gì chỉ vào con cọp mà gọi là con chó. Gần như tự lừa mình, như giúp địch ngụy trang.

Võ Phiến - Bắt Trẻ Đồng Xanh [1]

Nhà văn Võ Phiến (Hình: Huỳnh Ngọc Dân)
(10-1968)

Trong những ngày gần đây ai nấy chỉ những xôn xao về chuyện ngưng chiến: Bao lâu nữa nhỉ? Làm gì bây giờ?

Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

Mai Loan - Vạ Miệng


Chuyện một ông tỷ phú người da trắng, chủ nhân một đội banh nhà nghề bị chỉ trích là có óc kỳ thị chủng tộc thật ra không phải là chuyện gì động trời dù rằng chúng ta đang sống dưới một chế độ dân chủ tự do với một vị tổng thống người da đen đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Cứ xem hình ảnh những cuộc biểu tình trong mấy năm qua do nhóm Tea Party chủ động nhằm khích động lòng nhỏ nhen và kỳ thị mầu da của khối dân da trắng thiếu khôn ngoan và hiểu biết thì cũng rõ là nhiều người dân Mỹ đã không ngần ngại bầy tỏ sự thật đáng chê này. Nói chi đâu xa, ngay cả trong cộng đồng người Việt tị nạn mới định cư chưa lâu tại xứ sở này, cũng bày đặt có máu kỳ thị mầu da không thua gì dân da trắng, xuyên qua biết bao những hình ảnh bóp méo nhằm chế riễu hay chê bai một cách quá lố những việc làm của ông bà Obama thường hay thấy phổ biến trên các diễn đàn truyền thông Internet, nhiều khi ngay cả bởi những người viết có trình độ học thức cao.

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Trần Thị Diệu Tâm - Vọng Tưởng


Suốt cả đêm, anh chẳng ngủ được. Mỗi lần nhắm mắt, cô hiện ra, trở về cùng với anh. Cô nói cuời, đôi mắt long lanh, đôi môi hé mở. Anh nao nức, muốn hôn ngay vào đôi môi ấy vào đôi mắt ấy. Nhưng cô biến mất, anh chợt tỉnh.

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Đỗ Kim Nhung - Quê Hương Xưa Trong “Cõi Đá Vàng”


Tùy Bút-Đỗ Kim Nhung

Tháng 3 năm 2012 tôi về Việt Nam. Ý nguyện của tôi trong chuyến đi nầy là sẽ viếng thăm quê hương của tác giả “Cõi Đá Vàng”, Nguyễn Thị Thanh Sâm, chị ruột tôi.

Cùng với thời gian này, anh Trần Hoài Thư, một nhà thơ, một cựu quân nhân của VNCH ở hải ngọai, người chủ biên “Thư Quán Bản Thảo”. Anh đã cùng một nhóm bạn, với tinh thần “Gìn Vàng giữ Ngọc” khởi xướng công việc tìm kiếm những quyển sách có giá trị văn học để in lại và lưu giữ cho những thế hệ trẻ lưu vong sau này.
Anh Phaolô đã tìm được và mượn Cõi Đá Vàng trong thư viện của trường Đại Học Cornell và với một tấm lòng yêu mến tác phẩm, anh đánh máy lại từng trang, và cuối cùng thì đến tay các anh chị trong Thư Quán Bản Thảo. Họ đã cùng nhau vực “Đứa con tinh thần” của Nguyễn Thị Thanh Sâm, cho sống lại trong ánh sáng mùa xuân 2012. Chị Trần Thị Nguyệt Mai là người đã bỏ ra rất nhiều công sức, thay mặt cả nhóm thực hiện trong việc liên lạc và đều hành tổng quát dự án “Cõi Đá Vàng”.

Sau đó những cây bút có giá trị về văn học đã ca ngợi và làm thăng hoa cho tác phẩm đã bị chôn vùi hằng bao năm tháng.

Vào một đêm tôi nằm giữa Saigon, hồn quê cũ thức dậy gọi người ra đi hàng chục năm hãy trở về. Trở về để nghe lại tiếng thì thầm của giòng sông, tiếng rì rào của hàng tre xao động, để nghe tiếng đất thở hòa vào tiếng thở của chính mình. Những kỷ niệm tuổi thơ mơ hồ đó, tưởng đã quên, tưởng đã mất, nhưng bỗng rủ nhau trở về khua động cả tâm thân.Tình hoài hương đã giục giã chân người. 

Buổi sáng hạ tuần tháng ba, từ Huế trên chiếc xe van, người tài xế lái chạy về hướng Bắc. Rời quốc lộ 1, vượt qua bao nhiêu làng mạc có những tên quen thuộc trong tiềm thức thơ bé ngày xưa của tôi. Phá Tam Giang, một địa danh mang chất thơ Tô Thùy Yên và nhạc Trần Thiện Thanh qua bài thơ phổ nhạc nổi tiếng “Chiều Về Trên Phá Tam Giang”. Rẽ phía phải chúng tôi đi qua các làng Văn Xá, Vĩnh Xương, Đại Lộc, Kế Môn nằm dọc theo một hàng chữ nhất. Nơi đây trong thời tham gia kháng chiến 1950-1951, Phạm Duy đã lấy chất liệu viết nên chiều dài lịch sử bản nhạc “Về Miền Trung”.

Chao ôi! Tôi nhớ lại cái thuở mà hai chị em chúng tôi từ Huế trở về quê trong ba tháng hè:
 “Chân non vui mộng hiền
 Nắng hè thơm bình yên” (Thơ Thanh Sâm).

Nhìn ra xa, giòng sông Ô Thủy vẫn lặng lờ bao quanh làng mạc, khói sóng đẹp như bức tranh thủy mạc và vời vợi buồn như đôi mắt của những người con gái thời chiến chinh.

Đến đầu làng Thế Chí Tây, làng của tôi, tôi cảm động không nói nên lời. Tôi muốn bắc chước nhà văn Do Thái Isaac Asimon. Khi về đến nơi chôn nhau cắt rốn, ông bốc một nắm đất trên tay cất vào ngực mình, như một nơi quí nhất của tâm hồn. Ông nói: “Cảm tạ Thượng Đế, Cảm tạ Thượng Đế đã cho tôi thấy lại quê hương một lần nữa.”


Không bao lâu tôi đã đứng trong sân từ đường xưa của ông nội tôi. Cảnh vật theo thời gian biến chuyển không ngừng. Tôi không tìm ra hình ảnh ngày xưa cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhưng tôi đã đứng đây trên mảnh đất quê xưa. Tôi định được vị trí trong óc tưởng tượng của tôi. Tôi bắt trí óc tôi kiến trúc lại hình ảnh dấu yêu của thời thơ ấu. Nơi kia cội hoa sói cạnh hòn non bộ trước sân nhà mà chúng tôi hằng ra hái để kính cẩn rắc vào chén trà buổi sáng của ông nội tôi. Xa hơn mươi bước dưới giàn hoa tường vi thơm ngát hương đêm nơi chúng tôi đùa vui ca hát quanh sân từ đường vào những đêm có ánh trăng tràn ngập.

Trước ngõ đi vào giữa hai hàng chè tàu, tơ vàng biêng biếc như những giải lụa óng ả quấn quanh âu yếm trên những đọt chè .Tôi hình dung ra được chị tôi mặc chiếc áo dài vân trắng của Huế, tóc xõa ngang vai đang dịu dàng đi giữa hai hàng tơ vàng đó, chị tôi đang ở tuổi dậy thì thơm ngát của mùa hè quê nội...

Tôi chớp mắt, tất cả đều tan biến. Những ngày tươi đẹp không còn nữa. Tôi thấy bài thơ của chị tôi viết về quê nội trong những tháng ngày điêu linh:

“Nhưng làng tôi xưa, ngày nay không còn nữa.
Từ chiến chinh bừng lửa một đêm nao
Thây ngổn ngang máu ngập trên chiến hào,
Tro tàn lạnh nhà xiêu bên gạch đổ,
Chiều vắng lạnh tóc tang về đây đó
Không tiếng gà eo óc buổi hoàng hôn.
Đêm nghe như ghê sợ đến bên hồn.
Làng tôi chừ, chiều nghe niềm thống khổ
Chinh phu về dấu rỗ gót chinh nhân.” 

Quyển “Cõi Đá Vàng” được viết nên trong bối cảnh đau thương của những thanh thiếu niên trí thức miền Trung dưới đại họa ý thức hệ cộng sản.

Hôm nay với căn bệnh alzheimer và tuổi đời chồng chất, chị tôi ngồi quên lãng tất cả. Suối nguồn quá khứ và hiện tại không còn nữa. Trí óc chị như một giải mù sương, như một giải khăn sô trắng xóa. Chị ngồi đó, mỉm cười xa vắng...

Cõi Đá Vàng là một thời quá khứ đầy nhiệt huyết, tình yêu và nước mắt của chị. Nhưng chính chị, chị là một quá khứ tràn ngập tình thương yêu trong tôi.

Tôi nhớ mãi trong lòng hai câu thơ chị đã dịch của văn hào Nga Leon Tolstoy:

              “Con người ta sống bằng gì?
        Bằng tình yêu mến khắc ghi trong lòng”

Đỗ Kim Nhung
Tháng 8 năm 2012

   

                                           












Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Võ Phiến - Người Chồng Bất Thường


Võ Phiến

Trên sân khấu cải lương, những cơn giận dữ, những cuộc cãi cọ đều có âm nhạc phụ họa. Trong nhiều năm, tôi đã quen như thế. Khi hai diễn viên to tiếng, xô xát, thì nhạc nổi lên hỗn loạn dồn dập. Cứ tăng gấp cho đến khi nhát gươm kết thúc vừa hạ xuống thì nhạc sĩ chụp cả hai tay xuống dương cầm cùng một lượt với tiếng thanh la đánh “xoảng” một cái.


Cũng có nhiều khi tôi bị đánh trên sân khấu. Nữ diễn viên có thể bị một tát tai chẳng hạn, bị một người đàn ông đánh. Khi ấy, cái tát vừa giáng xuống thì người phụ diễn dương cầm dùng ngón tay cái, trở ngửa ra, quẹt ngón tay xuống các phiếm đàn suốt từ đầu này tới đầu kia, làm vang lên một tiếng hú ngân dài ghê rợn. Lập tức tôi gục xuống, bưng đầu lắng nghe cái dư vang của hành động vũ phu lan nhanh chóng sự xúc động ra khắp cả hí trường. Sau đó, tôi mới bắt đầu tức tưởi.

Tôi đã quen như thế rồi. Bởi vậy trưa hôm đó lần đầu tiên chàng đánh tôi, tôi hoảng sợ hết sức. Chàng gây sự giữa trưa, sau bữa cơm, lúc đáng lẽ chúng tôi sắp sửa đi ngủ. Chàng xán vào mặt tôi một cái tát, giữa trưa nắng. Cả nhà lặng ngắt như tờ. Nắng bốc khói trên mái ngói. Tôi điếng người, thất lạc.

Má tôi vẫn nghi ngờ từ lâu. Năm ngoái, thằng em tôi đi học bị xe buýt cán, đưa vào nhà thương Saint Paul, tôi về thăm. Ðáng lý ra tôi ở lại săn sóc nó chừng một tuần lễ. Nhưng sau hai ngày, tôi thưa với má xin về. Bà nhìn tôi rồi tỏ vẻ buồn, không nói câu gì để cầm tôi lại cả. Tôi có lý do để cải chính một ý nghĩ trong đầu bà: “Chị ở vừa mới nghỉ việc mà anh ấy đau bụng chưa khỏi hẳn. Ăn uống ngoài tiệm mãi không tiện.” Má tôi không cãi. Tôi không chịu được như thế: bà tỏ ra hiểu nhiều quá, hiểu trường hợp gia đình tôi, hiểu cả cái ý ngầm trong lời cãi bướng của tôi. Bà biết rằng lý do tôi nêu ra là không đúng sự thực, nhưng bà nhường nhịn. Ðã thế, tôi quyết định ở nán lại một hôm nữa cho bà xem. Ðêm ấy má tôi nói lấp lửng nửa chừng: “Thằng Ba, độ này... Con liệu rồi ra sao?... Nghe nói hồi trước ông tổ thúc của nó, một ông tổ thúc nào đó, cũng có tánh hơi kỳ cục.” Chuyện đó tôi biết rồi, trước khi má tôi nói: một ông tổ thúc của chàng có chứng khùng. Tôi còn nghe nói trong dòng dõi chàng không phải chỉ một ông tổ thúc ấy: cứ cách đôi ba thế hệ lại xen vào một đầu óc bất bình thường.

Còn liệu ra sao? Sao má có thể hỏi tôi như thế? Bất bình thường, tiếng đó gợi ở người ta một cảm tưởng khác mà ở tôi một cảm tưởng khác. Má từng làm vợ, sao má không biết? Một người đàn ông đã ăn ở với mình, không có danh từ nào diễn tả, đủ sức diễn tả được người ấy hết. Một tiếng nói: đơn giản, nghèo quá. Người ấy tự vẽ ra khuôn mặt độc đáo của mình bằng cuộc sống hằng ngày, cuộc sống mà càng tiếp xúc thân mật càng thấy nó rắc rối, ly kỳ. Thấy má tôi tỏ vẻ e dè trước tiếng “khùng”, tôi buồn cười. Tôi muốn bảo: Má bị gạt đó; ban đêm có kẻ treo sợi dây trắng trong xó tối làm má sợ hãi, con nắm sợi dây giật cho má xem, không phải rắn đâu.

Tôi biết tính chàng khác thiên hạ chứ. Nhưng thường thường không phải chàng không có lý. Tôi đã nghe theo ý chàng bỏ hát cải lương ngay từ hôm nhận lời lấy chàng, rồi sau tôi thôi làm điện thoại viên, sau đó tôi xin nghỉ việc luôn ở sở, không làm gì nữa cả, chỉ ở nhà với chàng. Cũng không có gì đáng ân hận.

Lần đầu chàng gây chuyện rắc rối ở sở vì tôi thật là khiếp. Tôi ngượng hết sức. Tôi xấu hổ vì chàng. Quanh năm không hề xảy ra một trường hợp như thế. Nữ nhân viên ở sở có tới mười bảy mười tám người, chưa bao giờ tôi thấy chồng họ ghen tới sở làm dữ như thế. Chàng đón Mạc ngay trước cổng ra vào. Thoạt đầu Mạc không nhận ra: “Ông hỏi ai?” – “Tên Thạc”. Mạc lạnh lùng: “Không có ai tên Thạc ở đây.” Ðồng thời Mạc vừa trông thấy bộ dạng tôi sau lưng chàng, và chợt hiểu. Sự lầm lộn không làm chàng bối rối. Chàng chữa lại: “Tôi cần gặp tên Mạc.” – “Ông nên lễ độ. Ông là ai?” Chàng quay lại hỏi tôi: “Nó đây hả?”, rồi bảo Mạc: “Tôi là chồng người này”. Mạc phân trần với mấy người xúm lại: “Buồn cười nhỉ”. Chàng nổi giận ngay: “Mày không được nói thế. Mày đã biết không phải chuyện buồn cười”. Chàng vung tay thẳng ra; nếu Mạc không theo, chắc chắn chàng đã thộp ngực lôi đi.

Cuộc cãi cọ thật kinh khủng: “Mày mấy lần định rủ vợ tao vào tiệm”. Mạc không vừa: “Ðịnh là thế nào?” – “Muốn lý sự lấp liếm phải không?” – “Tôi nói cho ông biết: ông không được hàm hồ. Tôi lấp liếm cái gì mới được. Tôi không rủ vợ ông, tại sao ông biết tôi định rủ. Tôi định rủ cái gì, làm sao ông biết được?” Chàng vụt chỉ tay vào trán Mạc: “Năm giờ chiều thứ bảy tuần trước, ngay trước cửa Brodard, mày xun xoe tán tỉnh, cố mời...” Mạc vờ nghĩ ngợi: “Thứ bảy trước... tôi có ở Brodard không nhỉ?” Chàng chận lời sấn sổ: “Quên hả? Làm bộ quên hả? Chính mày, mày nói: Chị cho tôi cái hân hạnh được mời chị một lần, không thể nào quên được hôm nay!...” Mọi người cười ồ. Mạc đỏ mặt. Trời ơi! Chàng không giữ gìn chút nào, chuyện gì chàng cũng có thể nói ra được. Tôi thẹn muốn chết.

Tại cái tính quá ngay thẳng của chàng như thế mà tôi hóa ra lẩn thẩn. Mấy con bạn ở sở cho tôi dại. Chúng nó bảo nhau sau lưng tôi: Ai lại cái gì cũng đem về mách với chồng, chồng thì ghen như vậy mà chuyện vu vơ ở đâu cũng đem về thuật lại.

Một lần chàng đánh tôi sưng vêu cả mặt, má tôi sang thăm. Bà không hỏi đầu đuôi ra sao hết; tự nhiên lúc hai mẹ con ngồi tỉa rau muống bà bảo: “Ðối với đàn ông, có chuyện nên nói mà có chuyện không nên nói ra. Không phải khai hết mà người ta thêm tin mình đâu.” Ai đã mách gì với má tôi? Bà có nghe chúng tôi cãi cọ nhau đâu. Bà biết nhiều quá, cái gì bà cũng biết.

Khổ một điều: biết thế không phải là biết. Tôi kể lại với chàng chuyện nọ chuyện kia đâu có phải để chàng thêm tin cậy, đâu có phải tôi dại! Nhưng hãy sống như tôi thử coi. Thế giới chúng tôi chỉ có hai người. Chàng chỉ biết có tôi, và không cho phép tôi giao du với ai. Mỗi một vết bùn bắn lên tà áo của tôi chàng đều biết rõ, chúng tôi bàn bạc với nhau bao giờ kết lại cái khuy áo, hôm nào mua cái gót guốc vừa bị rơi mất, và mua ở đâu. Tôi để hai giọt mực tím rơi trên áo, thứ mực khó tẩy quá, chàng vừa giặt áo giùm tôi, vừa la um lên, không kể bên hàng xóm có ai nghe không. Chúng tôi sống như vậy. Tối tối, hôm nào không đi chơi đâu, chàng nằm đọc báo, bắt tôi ngồi bên cạnh. Thỉnh thoảng chàng đưa bàn tay nắm lấy chân tôi. Chàng bẻ thử vài ngón chân tôi kêu lắc cắc. Chàng sờ lần lên, nắn nắn bắp chân. Rồi chàng nắn lên cao hơn. Chúng tôi sống với nhau như vậy. Chúng tôi sống cận kề, sống mật thiết với nhau từng giờ từng phút, mật thiết từ thể xác đến tinh thần. Tất cả đều phơi bày ra với nhau, giải tỏ cho nhau, không chỗ nào che giấu. Gần nhau, trọn vẹn cho nhau. Giây phút nào cùng có thể đụng chạm vào bất cứ chỗ nào trong người và trong tâm sự nhau. Chàng lục soát những cảm nghĩ hàng ngày của tôi cũng như lục soát mọi ngóc ngách châu thân tôi. Lục soát tự do và tự nhiên, hồn nhiên. Lục soát một cách thân mật, ân cần vô tội. Chúng tôi gần như thường xuyên lẫn lộn, không phân biệt thân thể nào là của chàng và thân thể nào là của tôi, không phân biệt đến đâu là nội tâm của chàng và đâu là ranh giới sinh hoạt riêng của tôi. Chúng tôi như thể ở hai căn phòng thông cửa với nhau, và thường xuyên qua lại tự do. Dần dần tôi cảm thấy chúng tôi không sống khác được. Má tôi không thấy thế.

Nghĩ coi: trong thế giới của tôi có ai nữa đâu, ngoài chàng. Chuyện thực, chuyện mơ, tôi đều chỉ có chàng để nói. Cả đến những điều ước nguyện, đáng lẽ chỉ khấn vái lên các đấng thần linh, tôi cũng chỉ có thể nói với chàng.

Má tôi ái ngại, cho tôi là con bé ngốc nhất trong mấy đứa con gái của bà. Bà có vẻ thất vọng. Những lời nói xa nói gần không có hiệu lực như bà mong muốn. Nhưng má bảo khi có người đàn ông liếc tôi, mỉm cười với tôi, khen gót chân tôi đỏ và cổ tay tôi tròn, tôi kể những chuyện đó với ai? Với má sao? Những chuyện đó đều là những cái mà một người con gái không thể bỏ qua, không quên được, má biết. Những cái đó phải nhớ, phải nói lại với một người nào. Má nhìn mặt mày tôi sưng lên, bầm tím. Tôi thẹn với má: cuộc sống của chúng tôi lắm khi quả có vẻ không ổn, không tiện trình bày trước mọi người. Nhưng tôi phải sống cuộc sống của chúng tôi. Má nên biết xa hơn cách biết của má.

Tôi đi đến sở nào, ông chủ sở đó cũng nhận được đơn khiếu nại của chàng. Lũ bạn thì nó hiểu quái gì sâu xa. Chỉ giỏi cười với nhau. Chàng kêu kiện, yêu cầu chủ sở thuyên chuyển người này vì chọc ghẹo tôi, cảnh cáo người kia vì có “hành vi mất dạy”, yêu cầu giữ tiếng tăm cho sở vì một ông trưởng phòng “có máu băm lăm đang bôi nhọ sở” v.v... Chủ sở mời chàng, chàng đến, bao giờ cũng vững vàng, đầy tự tin. Chàng trưng ra bằng cớ. Phần nhiều đều xác đáng, tôi biết thế, bởi vì do tôi cung cấp. Nhưng lần nào người ta cũng có lý để cười chàng. Tôi công nhận: ngay những khi chàng nắm lẽ phải trong tay, chàng cũng vẫn có cái gì không thích hợp, trong lời nói, trong cử chỉ. Nhưng đáng lẽ người ta nên hiểu chàng xa hơn cái bề ngoài đó chứ.

Chàng ghen quá trời. Nếu chúng tôi giàu có, đủ của cải để ăn trọn đời, suốt ngày chàng không phải đi làm gì, chỉ ngồi ôm riết tôi thì có lẽ vẫn chưa đến nỗi. Khổ, chúng tôi không giàu. Tôi đã thôi việc tất cả các nơi rồi, chỉ còn ở nhà lo việc bếp núc. Nhưng chàng còn phải đi làm, tôi còn phải đi chợ. Ðã đành khi chàng đi làm thì chàng khóa cửa lại, khi tôi đi chợ thì chàng chở bằng xe gắn máy và đến chợ chàng đứng cách một quãng gần nhìn theo tôi. Tuy nhiên vẫn có điều bất trắc. Có những người đàn ông đi ngang qua bỗng vứt mẫu thuốc sát bên chân tôi. Chỗ đông đảo có những người cưỡi xe bóp hai ba tiếng còi liền sau lưng tôi.

Chàng hành hạ, làm tội tôi quá đáng, đến nỗi sự chịu đựng của tôi làm má tôi bất bình: “Con điên rồi.” Thật vậy, có lúc tưởng như tôi và chàng cùng điên: chàng ghen với cậu ruột tôi và với chú ruột chàng. Sau cùng chàng chém tôi vì ba tôi. Tới đó má tôi không chịu được nữa. Chàng xúc phạm nặng nề quá, không thể tha thứ. (Tuy vậy về phía chàng tôi biết chàng đã kiêng nể lắm, kìm hãm mình lắm. Chàng đập vỡ cánh cửa lá sách và mặt tủ gương là vì chàng cố gắng để tránh khỏi đánh ba tôi). Tới đây, tôi cũng nhận rằng chúng tôi không thể ăn ở với nhau được nữa.

Thật là buồn.

Tôi vẫn tự hỏi mãi sở dĩ chàng mỗi ngày mỗi ghen thêm, chứng ghen tăng lên tới mức vô lý, bệnh hoạn, điên dại, chuyện đó có phải phần lớn do tôi chăng. Những điều tôi kể hàng ngày thành ra một kích thích thường xuyên làm hại chàng. Dầu sao trong sự ghen tuông của chàng, sau cùng, có tính cách gì quái đản. Ðối tượng, người đàn ông đáng ngờ nọ, thành một ám ảnh vô hình. Nhiều trường hợp không thể chỉ rõ người đó đâu cả. Không trông thấy gì. Chúng tôi vẫn luôn luôn phập phồng. Nó lẩn khuất đâu đó. Có thể ở bên tả, bên hữu, ở cách một cánh cửa sổ, một bức vách, sau gốc cây trước mặt đường kia, hay thường trực ở trong bóng tối mỗi đêm quanh nhà... Ai biết được? Ðó là một thứ ma. Không khí nhiễm đầy lo sợ, thảng thốt. Một lần chúng tôi dời nhà từ bên Thị Nghè qua xóm Lò Heo, quá cổng xe lửa số 6, chị bạn láng giềng biết con đường nhà mới tôi sẽ đến ở, nhưng chưa biết số nhà. Ðến hôm dọn nhà chị muốn hỏi để sau này có dịp sang thăm, tôi cũng muốn báo cho chị biết nhưng cả hai sợ chàng, không dám hỏi nói gì cả. Sau rốt, sắp lên xe, tôi quặt một bàn tay sau lưng, xòe ngón tay ra dấu: ba ngón, hai ngón, bốn ngón. Số ba trăm hai mươi bốn. Hai chị em bạn, hai người đàn bà, liên lạc với nhau như thế, như có một bí ẩn đe dọa đang rình rập số phận chúng tôi. Tôi còn lo ngại kẻ địch thủ kia đến thế, huống chi là chàng. Làm sao chàng không sợ? Chúng tôi trót sa vào tình trạng như thế. Cho nên đến lúc không thể cùng ở với nhau nữa, tôi hiểu việc đáng tiếc không do cả ở chàng đâu.

Dĩ nhiên là chàng cộc cằn, chàng đánh tôi như một tên lính tẩy say rượu, chàng đập tủ đập cửa, chàng vác búa vác dao đòi đâm cậu tôi. Dĩ nhiên là ít có người hung dữ như chàng. Nhưng má tôi chỉ biết thế, má không biết những lúc khác của chàng.

Những hôm cùng đi xi-nê với tôi, xem xong, ra cửa, chàng đi ngoặc ra sau đến chỗ gửi xe để nhận chiếc xe véc-pa, trong lúc ấy tôi đi trước mấy bước, lựa chỗ đứng khuất một cột đèn, một gốc cây, chờ chàng dắt xe ra. Chàng đưa xe ra đến lề đường, ngừng lại, đảo mắt tìm tôi. Không ai có thể được như chàng lúc ấy. Một vẻ lo lắng, rất kín đáo, và nhất là hết sức bình tĩnh. Người trong rạp đổ ra tấp nập; giữa đám đông ấy một người đàn ông kín đáo tìm đợi, săn sóc mình. Lúc đó tôi yêu chàng, say mê chàng. Chàng dịu dàng một cách tế nhị. Người đàn bà nào lại không muốn tự phó thác vào một kẻ đàn ông cương nghị vững vàng như vậy, mà dành cho mình một cảm tình chắt chiu tế nhị như vậy.

Chàng thích xi-nê. Tuần nào tôi cũng đi xem với chàng đôi ba phim. Các rạp ở Sài Gòn – Chợ Lớn chúng tôi đều có tới hết. Trong bóng tối có nhiều trường hợp phức tạp, tuy nhiên chỉ có những lúc bắt buộc đi tiểu tôi mới thiếu sự bảo vệ của chàng. Tôi chuẩn bị trước, tôi cố tránh. Tôi quen rồi, rời xa chàng tôi lo lắng, sợ hãi.
Một lần ở trong rạp có người kêu: “Lựu đạn”, ai nấy xô nhau chạy. Chàng không có vẻ lực lưỡng hơn ai, nhưng hôm đó chàng bình tĩnh đương đầu để giữ tôi một cách can đảm đáng phục. Sự hy sinh của chàng giản dị, không có một chút phô trương.

Nhưng chàng không để yên cho tôi yêu chàng. Chàng có những lúc cộc cằn vô lý hết sức. Một hôm, buổi trưa, chúng tôi cao hứng. Xong, tôi vào buồng tắm. Tôi ngồi trong đó hơi lâu. Nằm ngoài, chàng nghe rao đậu hũ, mở cửa mang ly chạy đi mua. Nghe tiếng chân chàng trở vào, tôi vội vàng mặc đồ cho nhanh, sắp mở cửa ra với chàng và có sẵn câu nói đùa với chàng. Tôi yên trí là chàng vui vẻ, chúng tôi đang sung sướng.
Bỗng nhiên chàng nổi lên quát mắng ầm ĩ, chửi rủa tục tĩu. Chàng vừa trông thấy hai ba tờ bạc rơi rớt trên mặt gối, chàng cho là tôi bừa bãi không ngăn nắp. Tôi bước ra, ngó qua một cái, biết ngay đó là bạc do chính chàng đánh rơi trong khi lấy vội đi mua đậu hũ. Nhưng tôi không buồn cãi lại.

Sao chàng không biết lúc ấy tôi đau khổ tới bậc nào! Trong những trường hợp như thế tôi cầu cho chàng có một chút tinh ý. Mới trước đó mấy phút chúng tôi thân mật đến thế, sao chàng “trở mặt” nhanh vậy? Chàng không thấy trong thái độ ấy có cái gì làm cho sự chung đụng vừa rồi có tính cách thú vật? Tôi khổ sở hết sức. Chính vì chàng mạnh mẽ, có nghị lực, chàng biết kín đáo, mà tôi không chịu được sự thiếu tế nhị đó. Trời, trong con mắt chàng bấy giờ chỉ có sự hằn học, sự hằn học hung hăng dữ tợn.

Chỉ do một nguyên nhân sinh lý? Sau đó, đàn ông mệt nhọc, thường sinh gắt gỏng, cằn nhằn? – Cũng có thể như vậy. Nhưng ở chàng cái gì cũng quá độ.

Tôi không thể tiếp tục sống với chàng vì chàng không biết ngừng lại ở chỗ phải ngừng. Ðiên với thường, khác nhau ở đó... Ðể cho cảm xúc, hành vi, vượt một lằn ranh giới nào đó là điên. Nhưng khi nó chưa vượt, mà nó sát tới ranh giới thì là một hấp dẫn. Má tôi đã biết tôi quen chàng và chọn chàng là trong một trường hợp chàng tỏ ra độc đáo, “khùng khùng”, như thế.

 Tôi gặp chàng lần đầu vào một đêm ba mươi Tết, gần giao thừa, ở chợ Tân Ðịnh. Nhà tôi gần chợ. Tôi tính ra chơi, coi cảnh chợ tàn cuối năm lúc ai nấy lo xếp dọn các sập hàng, và nếu dưa có rẻ thì mua thêm mấy trái. Thường dưa hấu từ trưa hôm đó đã lo bán gấp rồi. Còn chàng, chàng đi đâu tới chợ vào lúc ấy? Chỉ biết tôi lựa dưa được một lúc thì có cảm tưởng bị ngắm trộm. Tôi kín đáo liếc mắt xem thử: quả thực. Nhưng người ngắm không trộm lén gì hết. Chàng nhìn tôi chòng chọc. Tôi sang hàng khác, chàng theo. Mua được hai quả dưa xong, tôi ra về; chàng lại theo. Thình lình tôi dừng lại chờ. Chàng vừa đến gần, tôi hỏi đột ngột:
– Tại sao ông nhìn người ta mãi vậy?

Chàng hỏi lại:
– Cô muốn biết, thiệt không?

Vẻ mặt và địêu bộ chàng rất thản nhiên, không có ý gì tỏ ra định trêu ghẹo. Bởi vậy tôi lúng túng chưa kịp nói sao. Chàng liền bảo:
– Ý tôi muốn biết cô hỏi để hiểu thái độ tôi, hay cô muốn... nghĩa là muốn đuổi tôi.

Tôi cười:
– Tôi muốn biết ý định của ông.

Chàng nhìn tôi kỹ trước khi nói:
– Tại vì cô đẹp. Không, không, tôi phải cắt nghĩa. Nghĩa là có rất nhiều cách đẹp, có một nghìn vẻ đẹp khác nhau, nhưng vẻ đẹp của cô đúng vào tiêu chuẩn thẩm mỹ của tôi. Cô thấy thế nào? Cô nên biết không dễ dàng tìm thấy một kẻ đáp ứng đúng cái mỹ quan của mình đâu. Mỗi người đưa cái mỹ quan của mình ra, như ông hoàng tử đưa một chiếc giày tiên, cô nào xỏ chân vừa vặn... Ðó. Cô có nhớ là bao nhiêu con gái khắp nước xỏ chân đều không vừa, con Cám mới vừa...

Chàng đang nói ngon trớn, tự dưng ngừng lại, ngoảnh lại chờ tôi. Tôi bảo:
– Ông nên nhớ không có ai ở đây định xỏ chân vào... cái... cái...

– Cái mỹ quan của tôi? Cô nhiều tự ái lắm. Ăn thua gì chỗ đó. Tôi chịu nhường đi. Tôi nhận là tôi thích cô, chứ không phải cô... chú ý tới tôi. Nghĩa là từ hồi nào tới giờ tôi chưa trông thấy ai đúng vẻ đẹp tôi thích như cô.

Dĩ nhiên là tôi sung sướng. Nhưng thái độ của chàng làm tôi tò mò:
– Ông nói thiệt chứ?

Chàng bật cười hồn nhiên:
– Ủa, tôi nói nịnh cô tôi được cái gì chớ?

– Có lẽ không.

– Ðó. Tôi nịnh làm quái gì. Mà cô nên biết: có được gì tôi cũng không nịnh đâu. Tánh tôi vậy đó: tôi không nói dối cho dễ nghe bao giờ... Cô đi mau vậy? Thường thường cô đi mau vậy hả? Không phải chạy trốn tôi đó chứ...? Tốt, tốt. Bây giờ, xin phép cô, tôi hỏi thiệt tình: cô, cô thấy tôi ra sao?

Tôi cười rũ. Chàng thúc dục. Tôi bảo:
– Vậy vậy.

– Vậy vậy là thế nào? Cô lười biếng. Cô cố gắng thử coi. Cô nhìn tôi đi, lúc nào tới giờ cô đã ngó thấy tôi đâu, cô trông qua tôi một chút rồi nói thiệt coi. Không có gì đặc biệt hết sao?

– Có lẽ tôi chưa thấy ra.

– Hả?

Chàng nóng nảy, nhún vai, thất vọng ra mặt. Chắc không phải thất vọng vì mình không xuất sắc, mà vì tôi “lười biếng, không cố gắng”.

Tôi phát biểu thành thực:
– Ông rất đặc biệt... Chúng tôi có hân hạnh được quen với ông. Thỉnh thoảng mời ông tới nhà chơi, có lẽ lần lần chúng tôi sẽ nhận thấy chỗ xuất sắc của ông... Nhà chúng tôi đây rồi.

Chàng lo lắng một cách buồn cười:
– Cô, cô không mời tôi vào nhà ngay lần này được sao?

– Ðược chứ. Nhưng giao thừa rồi.

Chợt nhớ, chàng phá ra cười, hơi ầm ĩ, quá lố.

Tôi thuật lại câu chuyện cho cả nhà nghe, và đêm đó tôi nhớ là ai nấy đều thích thú, không giấu cảm tình đối với chàng. Ngay cả má tôi nữa. Các chị em gái có chế giễu, nhưng chế giễu cả tôi cả chàng, và tất cả đều có vẻ mong được gặp mặt chàng. Ai nấy xúi tôi, khuyến khích tôi. Một người đàn ông đi tấn công người đẹp, và một người đàn ông sống với vợ cần những đức tính khác nhau, má cũng không để ý ngay lúc ấy. Chính má sau này đã đổi ý, đã thay đổi cách nhận xét chàng. Ngay lúc ấy tôi nêu lên cái gì, mọi người đều tha thứ, rộng rãi. Tôi bảo chàng lúc nào cũng nói: “Cô nên biết cái này, cô cần biết cái kia...” Ai cần biết gì về ông ấy chứ! Không ai thèm để ý tới sự ngớ ngẩn và độc tài của chàng. Chỉ có xúm nhau đùa, đánh trống lảng:
– Chàng không xin đỡ giúp cho chị một quả dưa à? Trời ơi, không nịnh đầm chút nào. Ðể một mình chị hai tay cầm bốn trái dưa.

Quả thật là chàng không hề nịnh tôi. Nhưng ngay từ lần gặp đầu tiên tôi đã thầm có cảm tưởng rằng sống với chàng thật dễ dàng, hồn nhiên. Giao tiếp với chàng không có chút gì quanh co hết. Thân mật với một người như thế rất là mau chóng. Mới lần thứ hai gặp nhau chàng đã đòi buộc tôi bỏ hát.

Ðối với tôi và cả gia đình, đó là chuyện động trời. Vậy mà chẳng bao lâu tôi làm theo ý chàng. Thế mới biết chàng có cá tính mạnh mẽ và lôi cuốn. Vì sau này chỉ có mình tôi sống với chàng nên những người khác mới sớm thấy cái vô lý, cái điên của chàng. Nếu tất cả đều tiếp tục sống bên cạnh chàng, sự nhận định của mọi người trong gia đình sẽ bớt cách xa ý kiến của tôi.

Ðã đành là không thể nào ăn ở với chàng được nữa. Bất cứ ai cũng không thể sống nổi với chàng, bây giờ. Không ai còn trách tôi được. Nhưng mọi người đều dứt khoát về chàng, tôi lại không.


Tôi đi làm trở lại thế này tức là đã quyết định không còn trở về với chàng. Chàng không thể dung thứ được tình trạng này từ lâu. Nhưng phải vậy, biết sao. Lần hồi rồi phải đến đó, làm thế nào khỏi. Tôi có con phải nuôi; không ở với chàng, không ở với ba má tôi, tôi phải đi làm việc kiếm tiền.

Hồi trước, khi chàng chưa cấm tuyệt đi làm, có độ sở bảo tôi làm điện thoại viên. Gác điện thoại một buổi tôi được nghỉ một buổi. Tôi thích như vậy, mình có trọn một buổi ở nhà. Nhưng chàng có một lập luận: điện thoại viên con gái là chỗ hứng đón những câu tán tỉnh tứ phương. Làm quen với một người chưa biết mặt mũi là một câu chuyện lãng mạn, ai cũng thích. Tán gái bằng điện thoại là cách tán ít nguy hiểm nhất.

 Dĩ nhiên tôi vội xin thôi. Nhưng mấy tháng sau máy điện thoại vẫn còn là một đề tài thu hút sự tò mò của hai chúng tôi. Chúng tôi bắt gặp và để ý đây đó những tin tức về hình thức thông tin này. Có lần chính tôi đọc thấy và thuật lại với chàng: Ngày mà ở San Remo bên Ý có tuyết đổ bất thình lình các đường dây điện thoại tại đây bị kẹt kinh khủng. Hàng nghìn hàng vạn người xúm nhau bu cứng lấy máy để gọi đi khắp nơi trao đổi những câu đại loại:
“– Thế nào? Sáng nay ở chỗ toa trời tốt không?

– Không chê được. Nắng tưng bừng. Thế nào cũng sắp có cuộc đi dạo đây.

– Có biết ở đây ra sao không? Vâng, ở đây, chỗ moa.

– Cách năm sáu mươi cây số, sức mấy mà biết được.

– Ðoán xem.

– Mưa?

– Tuyết. Mịt mù. Khiếp lắm toa. Mới chiều hôm qua còn ấm trời. Ðột ngột...”

Cứ thế mà nói. Người nào người ấy đeo riết lấy máy mà gọi mà nói, gỡ ra không nổi. Nói với ai? Với bạn bè, bồ bịch. Nhưng nhiều nhất là các ông cụ bà cụ. Những cụ già giàu có gọi hết con cháu bạn bè, rồi gọi đến đám người hầu hạ giúp việc cũ, đến các ông chủ tiệm quen biết, đến ông lang vẫn khám bệnh cho toa, đến ông nha sĩ vẫn săn sóc răng cho mình v.v... Trời trở gió trở nắng một cái là họ gọi rối rít. Tính ra mỗi ngày mỗi người có thể tốn tới một nghìn đồng lires về tiền điện thoại, ở những khách sạn sang trọng vùng thung lũng sông Pô. Các cụ già không có những liên hệ tình cảm nồng nàn nữa, những giao du rộn rã ồn ào nữa; xung quanh họ vắng vẻ; họ cần lấp chỗ trống ấy, họ dùng tiếng khua vang của điện thoại để khuấy động khoảng trống quanh mình.

Tôi và chàng nhìn nhau, lo lắng: Ðiện thoại là như thế. Nguy hiểm biết chừng nào cho một người con gái bị đặt mình vào cái chỗ mà giờ phút nào người ta cũng quờ quạng xao xác tìm nhau. “Người ta” đây là những kẻ rảnh rỗi, ăn không ngồi rồi, quờ vào đâu là tóm lấy đó, bắt quàng lấy đó, để làm quen.

Hồi ấy, câu chuyện làm cho cả chàng và cả tôi khiếp đến mấy tháng trời. Người thứ ba, người đàn ông thèm muốn tôi, người đó không biết hắn ở đâu mà ngờ được. Hắn ập đến không biết lúc nào. Biết đâu mà ngừa? Sợi dây thép giăng ngoài trời, trước mặt mọi người, giữa đường phố đông đảo, ngày ngày ai nấy đều trông thấy, những sợi dây đó cũng là lối xâm nhập thường xuyên của hắn nữa. Chúng tôi càng ngờ vực. Mọi khoảng không trước mắt đều thành ra đe dọa.

Vậy đó mà bây giờ tôi lại đi làm điện thoại viên. Tôi hết đường về với chàng rồi.

Thỉnh thoảng một con bạn hỏi tôi về cái sẹo ở cổ tay, tôi đặt điều nói quanh co, tôi giấu, không cho ai biết đó là vết chém của chàng. Tôi muốn xóa sự liên hệ giữa chàng và tôi. Ít lâu, rồi mọi người sẽ quên, không biết đến chàng nữa. Tôi cũng quên đi cái sẹo ở cổ tay và cái sẹo ở sườn. Nếu kéo dài cuộc sống chung ít lâu nữa, sẽ có hôm nửa đêm chàng thức dậy chặt cổ tôi. Chắc chắn thế. Thỉnh thoảng báo lại đăng một trường hợp như vậy.

Tôi xa chàng vĩnh viễn là phải.

Thế mà thứ bảy tuần trước tôi trở về nhà chàng để tìm giấy tờ khai sinh bỏ sót trong tủ, trông thấy chàng, tôi khóc. Chàng mặc cái quần cụt rất bẩn, và một chiếc mai-ô rách toạc một lỗ lớn ở ngang hông. Lúc tôi vào, chàng đang nằm trên chiếc ghế vải ở phòng khách. Hình như chàng đang trò chuyện với mẹ. Từ lúc tôi bước vào chàng không nói một lời nào nữa, nằm im cho đến lúc tôi ra về.

Ðêm ấy, tôi khóc. Hôm sau, tôi đem cái mai-ô mới, lén lút đến đưa cho mẹ chồng. Không cần chàng nói ra một tiếng nào, không khí trong nhà nó quả quyết rằng chàng không có tình yêu nào khác, rằng công việc săn sóc chàng là phải của tôi.

So sánh với chàng, kẻ hoang mang bất định chính là tôi, chứ không phải chàng. Tôi không biết mình phải làm thế nào, phải yêu hay bỏ, phải quên hay phải trở lại. Còn chàng thì lúc nào cũng vững vàng: nhất định cứ yêu tôi, chỉ yêu có tôi. Ðến với chàng, tôi thấy sự việc hóa thành giản dị hết sức.

Mọi rắc rối, hoang mang, chỉ tại vì tôi rời xa chàng.

Buổi sáng tôi đến trễ chừng năm phút nhưng thấy ở sở có vẻ xôn xao. Nhiều người bu quanh máy điện thoại của tôi. Họ thử qua rồi bỏ đi. Vô hiệu. Tất cả các máy trong sở đều hỏng. Quay số 11 để gọi ban sửa máy ở bưu điện cũng không được.

Một lúc, một người được phái đi hỏi ở bưu điện vừa về cho biết vì vụ mìn nổ ở khách sạn X... hồi năm giờ sáng vừa rồi đường dây bị đứt. Ít ra là ba hôm nữa mới chữa xong.

Nếu được nghỉ buổi sáng nay, bây giờ mà trở về nhà tôi có thì giờ ghé chỗ này chỗ kia một chút. Chắc chắn tôi sẽ không tránh khỏi ghé qua nhà chàng. Ít nhất là đi ngang qua, nhìn vào. Tôi muốn biết chàng có mặc chiếc áo tôi mua. Một điều vẫn làm tôi nghĩ đi nghĩ lại hoài: tại sao chàng ăn bận tồi tệ bẩn thỉu quá vậy? Không ai lưu ý tới chàng, hay tại chàng cố ý làm thế?

Nếu tôi ghé lại nhà chàng, thì rồi sẽ còn lắm việc lôi thôi nữa. Má tôi không bằng lòng. Nhưng má không hiểu: tôi bắt đầu thấy thiếu chàng.

Chàng hung bạo? Tôi biết. Tôi biết hơn ai hết mối nguy hiểm sống bên cạnh chàng. Nhưng chỉ bên cạnh chàng tôi mới có sự ổn định. Chàng đánh tôi, tát tôi những cái tát quả quyết, tự tín. Chỉ có chàng mới tát được những cái tát như thế. Những cái tát ấy làm cho tôi thấy trên đời có một ý chí xác quyết, không phân vân. Ngày nào còn sống bên chàng, bên cạnh sự hung tợn dữ dội lôi cuốn của chàng, tôi có cảm tưởng thế giới quanh tôi có vẻ vững vàng ổn cố. Bao giờ chàng cũng đi quá mức một chút, thật đáng tiếc. Phải chi chàng đừng chém, đừng có ý định giết tôi, tôi sẽ vui lòng ở mãi với chàng. Lỗ mãng, thô bạo là một thái độ xác định. Rời xa chàng, tôi sống trong hoang mang, bất định. Sự đe dọa của một ý chí không đáng lo hãi bằng sự đe dọa của trống rỗng, của cái khoảng không – không chiều hướng, không ý chí – trước mặt mình. Má sẽ cho tôi lây cái điên của chàng, nhưng không chắc là tôi sẽ không trở lại đâu.

... Trong sở người ta bảo là điện thoại “chết” hết rồi. Chiếc máy nằm trước mặt tôi cũng chết. Ngồi buồn tôi cầm máy áp lên vành tai. Ủa! Vẫn nghe thấy tiếng rọt rẹt, như một con bọ trong hộp. Ðiện thoại đâu có chết? Ðâu có hoàn toàn chết. Vẫn còn sự sống yếu ớt. Trẻ con nuôi dế, nuôi quít trong hộp giấy, lâu ngày quên cho ăn, tưởng chết, không ngờ áp tai xuống, chợt nghe một tiếng khua động. Sự bất ngờ thật hồi hộp: tội nghiệp, vẫn còn vài cái chân cố sức ngo ngoe.

Lâu lâu, có tiếng kêu u u, rồi dứt, rồi lại u u. Ðôi khi, còn bắt gặp cả một đoạn đối thoại, văng vẳng, tiếng được tiếng mất: vợ gọi chồng về một cái chìa khóa quên đem theo, một nhân viên thưa gửi với thượng cấp v.v... Nửa chừng, bỗng tịt câm.

Cái hệ thống thông truyền nhằng nhịt này bỗng dưng mang thêm một vẻ bí hiểm. Ai nấy tưởng nó chết, tự nhiên trên cái cơ thể rắc rối của nó chợt bắt gặp dấu hiệu của sự sống lén lút, âm thầm, thoạt có thoạt không, bất ngờ, thảng thốt.

Như thế ba ngày, rồi nó sẽ sống lại. Còn tôi, không biết đến bao giờ tôi thoát khỏi cái cảm tưởng bất định.

10-1966

Thảo Trường - Trong Bếp


 Thảo Trường


Ông nhà tôi rất dốt tiếng Anh. Học thì không chịu học cho nên sang Mỹ đã mấy năm mà mỗi khi nói chuyện với đứa cháu nội ông cứ ấp a ấp úng khiến con bé cứ phải sửa, bắt ông nội phải nói đi nói lại, nói tới nói lui, mãi cho đến khi nội nói đúng nó mới chịu tha. Ông nội thấy bà cháu tôi líu lo cái thứ tiếng không phải là tiếng quê hương của ông thì quay ra bắt bẻ:
– Bà nội phải tập cho cháu nó nói tiếng Việt cho quen. Suốt ngày ở trường học nó đã phải nói tiếng Anh, về nhà bà cũng lại nói tiếng Anh với nó suốt, con bé sẽ quên hết tiếng mẹ đẻ mất thôi.

Rồi ông cằn nhằn:
– Miết rồi “lai căng” hết, sẽ chẳng còn đứa nào giữ được… truyền thống.

Tôi thì… tiện đâu làm đó, cái gì thuận tiện tôi làm, cái gì dễ dàng tôi làm trước, nói tiếng Anh với con cháu thấy chúng nó hiểu ngay và làm nhanh theo ý mình hơn tiếng Việt thì tôi nói tiếng Anh với chúng nó cho được việc nhà bếp. Cũng như với ông cụ, nói tiếng Việt ông cụ tiếp thu nhanh hơn và dễ hơn thì tôi dùng tiếng Việt với cụ “Bố làm cho em cái này cái nọ à nhe…” Ông cụ chấp hành ngay tức thì không cần mất thời giờ sắp xếp ý tưởng và chữ nghĩa, cũng khỏi chia động từ hoặc uốn cái lưỡi cứng đơ để cất giọng cho duyên dáng điệu nghệ như ông cụ vẫn nghe thấy trên TV, Radio Mỹ… Ông cụ phát ngay ra lời tuyên bố ngọt ngào trong nhấp nháy “Xong ngay. Má yên tâm”. Sướng không? Hỏi có sướng không? Có tiện lợi không? Có dễ dàng không? Cũng in như với con trẻ, chúng “Hi Grandma” là dễ dàng, nhanh chóng và tiện lợi lắm.

Mấy mẹ con tôi ở bên Mỹ mấy chục năm qua, học hành và làm việc quần quật bằng tiếng Mỹ, may mà thời gian nghỉ ngơi ở nhà vẫn nói tiếng Việt với nhau cho nên cũng còn nhớ nguồn nhớ gốc nhưng lâu quá rồi cũng phải theo sinh họat chung quanh nói tiếng Anh cho nó nhanh hóa ra thành thói quen. Cũng chỉ vì tiện việc nhà bếp. Nhưng đến thế hệ thứ ba, những đứa cháu nội cháu ngoại của ông thì sự thể lại càng phức tạp hơn nữa. Ở nhà bố, mẹ, ông, bà… có tập cho chúng nói tiếng Việt đấy, nhưng ưu thế của trường học, bạn bè, môi trường sống… đã lôi kéo chúng theo cái dòng chính của xã hội nơi đây. Mới chỉ ba thế hệ nhưng ông bà nói một thứ tiếng, các cháu nội ngoại lại có một ngôn ngữ khác. Giòng giống này đến đây có một khúc quẹo, người già bị bỏ lại nơi ngã ba đường đó, giới trẻ thì chúng phải tiến lên, chúng vẫn phải tiến lên, không có cách nào khác, không thể cưỡng lại dòng chảy.    

Ông nhà tôi có phản ứng cũng chỉ là dể phản ứng, có trách cứ thì cũng chỉ là để trách cứ, tôi có sức lực nào ngăn cản hay điều khiển nổi dòng chảy. Tôi cũng chỉ bơi theo, nhưng cũng may là tôi bơi mà còn tụt lại níu được ông theo, đồng thời tôi cũng còn vẫy vẫy tay ngoắc đàn con lũ cháu đang hào hứng bơi ở phía trước.
Ông nhà tôi sinh ra lớn lên và trưởng thành suốt một đời được rèn luyện trong nền văn hóa nước Việt, dĩ nhiên nay và bao giờ nữa ông cũng vẫn chỉ yêu nền văn hóa ấy. Nay và bao giờ nữa ông cũng chỉ còn nền văn hóa ấy trong tâm hồn ông. Làm sao ông có thể khác được nữa. Và khác thế nào nữa cơ chứ. Cho nên tôi thông cảm với người. Tôi tụt lại nơi ngã ba đường với ông. Để cho có cùng mồ mả ở một chốn.

Tôi còn làm trung gian hòa giải cho ông và các cháu. Tôi là gạch nối cho hai thế hệ bớt cách biệt nhau. Tôi giúp ông cháu họ hợp quần với nhau được phần nào. Cũng chỉ tại ông dốt. Cũng chỉ tại ông giỏi. Ông giỏi một vài cái gì đó cho nên ông phải dốt một vài cái gì đó khác. Ông thích nghi với nền văn hóa quê hương ông đến độ đông đặc rồi thì cũng khó cho ông phải làm quen với một thứ văn hóa xa lạ khác.

Bà cháu tôi rủ ông đi xem phim, ông lắc đầu từ chối. Ông nói cuốn phim gây ồn ào mấy tháng nay làm cho ông không muốn ngó đến nó. Ông nói, ở đây người ta làm phim xong còn tính được sẽ có bao nhiêu triệu lượt người xem có nghĩa là sẽ bán được bao nhiêu vé, tính được sẽ thu về bao nhiêu tiền có nghĩa là sẽ lời lãi bao nhiêu của cải. Ông nói đi xem tức là đứng sắp hàng cho họ điều khiển. Mà có gì mới lạ đâu. Cũng vẫn là câu chuyện cũ, một cái tàu chở khách du lịch chúi mũi gãy đôi chìm xuống đáy biển, một vụ đắm tàu vĩ đại, một tai nạn vĩ đại, lồng trong đó một mối tình được chế ra rất khéo léo. Thế là khán giả kéo nhau đi xem, có người còn khoe đã đi xem nhiều lần mà vẫn còn muốn đi xem nữa. Quả thật các nhà chế tạo rất tài tình.
Bà cháu dắt nhau đi xem. Khi đã ngồi trong rạp rồi, con bé rút trong xách tay ra những tờ tissue đưa cho bà nội. Bà nội cầm lấy những tờ giấy lau, nhìn con cháu mới 12 tuổi như dò hỏi. Nó dẫn giải cho bà, dĩ nhiên bà cháu nói với nhau bằng tiếng Anh, thứ tiếng mà nếu có ông ở đây ông sẽ gọi là tiếng nước ngoài, còn cháu gái thì nó bảo là tiếng nước nó. Con bé nói với bà nội:
– Không phải là chuyện thật đâu, Bà. Chỉ là chuyện phim bịa mà thôi.

Trong bóng tối của rạp hát, bà lau nước mắt, liếc sang cháu gái thấy nó cũng lấy tissue chấm chấm nơi khoé mắt. Lát sau cả bà lẫn cháu đều nghe như nhau có tiếng khẽ sụt sùi. Cháu đưa thêm giấy cho bà. Về nhà bà khoe với ông con cháu gái còn bé thế mà rất chu đáo, nó biết lo trước cả giấy lau nước mắt cho bà. Hỏi ra thì ở trường lớp chúng bạn nó đã thường bình luận về cuốn phim rất nhiều rồi. Nghe kể ông nội chỉ biết lắc đầu thở dài. Ông nói với bà:
– Thảo nào trong Đoạn Trường Tân Thanh cụ Nguyễn Du đã tả cô Thuý Kiều chảy nước mắt khóc trước mả Đạm Tiên.    

Bà cự:
– Là con người thì cũng phải biết xúc động tình cảm trước những uẩn khúc của cuộc đời chứ.

Ông nội than:
– Đến khổ!

Ông nhà tôi nói thế chứ chính ông cũng đã nhiều lần chảy nước mắt. Do ông kể lại cho tôi biết cũng như do chính tôi thấy tận mắt, bắt quả tang tại trận người đang khóc thương cho cuộc đời. Năm 1975 sau khi đưa mẹ con tôi di tản khỏi Sài Gòn, ông trở về đơn vị quân đội cho đến ngày lệnh trên bảo “bàn giao” thì ông lái xe trở về nhà lấy một ít vật tùy thân tính đường chạy xuống Vùng 4, chẳng ngờ hai con chó con phóng từ trong nhà ra nhảy phóc lên xe ông, chúng kêu áu áu, lăn xả vào chân ông, lăn xả vào lòng ông, ông gỡ chúng ra bỏ xuống vườn thì cả hai con lại nhảy phóc lên xe lần nữa, lại áu áu kêu, lại lăn xả vào ông, như là “đi đâu cho con đi với”, như là “chạy đâu cho con chạy với”, như là “trốn đâu cho con trốn với”, như là “đừng bỏ rơi con”… ông kể “tự nhiên nước mắt ông trào ra ràn rụa”. Hình như cho đến lúc đó tất cả bao nhiêu cay đắng xót xa uất ức bị dồn nén suốt những ngày chiến trường tan vỡ, chế độ tự do suy sụp và Miền Nam bị rơi vào tay cộng sản, thì những tiếng kêu than của những con vật thân yêu trong nhà đã làm tràn ra nỗi khổ đau trong ông. Hôm mấy mẹ con tôi lên xe vào phi trường, thằng cu Tửng đã ôm theo hai con chó trong lòng đòi mang theo nhưng bị Bố cản lại bắt phải thả xuống, thằng cu không chịu, ông Bố phải dỗ dành “Chuyến bay này bằng Boeing 747 người ta không cho đem theo chó”. Thằng cu vẫn không chịu nhượng bộ, ông Bố lại phải hứa cuội “Bố sẽ mang hai con chó chuyến sau với bố bằng C130 cho con”. Vừa dỗ vừa áp lực mới gỡ được hai con vật nhỏ bé khỏi tay đứa con. Hai con cún này của anh Vọng cho, anh nói đó là hai con đẹp nhất đàn chó bảy con mới đẻ. Một con lông trắng muốt có đốm đen ở chân, một con lông vàng ươm thạch sùng bám bụng. Cu Tửng dành phần chơi với hai con chó cũng như anh ta đã từng dành phần chơi với Bố. Trong gia đình cu Tửng nay ốm mai yếu cho nên anh em đều phải nhường nhịn cu ta. Nghe tiếng máy xe Bố về có ai chạy ra trước thì cũng hãy đứng chờ đó để anh ta ra mở cổng, vào trong nhà Bố phải ngồi lên chiếc ghế dựa duỗi chân ra cho cu ta cởi giày vớ cất đi, lấy đôi dép xỏ vào chân bố, lỡ có đứa nào tranh cái phần hầu hạ ấy thì cũng phải trả lại chỗ cũ để cho êm cửa êm nhà. Ông Bố có dịp ngồi cười hưởng thụ, bà mẹ lại có dịp than “đến khổ”. Khổ cũng phải chịu, bởi vì nó ốm yếu tội nghiệp nhất nhà. Chó với người quấn quít nhau, anh ta đi học về cất sách vở xong là chơi với chó. Tối đòi cho chó chui vào chăn ngủ chung, bố phải giải quyết bằng cách lấy một cái thùng giấy lót khăn bông đặt dưới giường cu ta làm chỗ cho hai con chó ngủ, giống như giường tầng, người trên chó dưới, nhưng vẫn có những đêm bắt gặp chó với người ngủ chung trong chăn. Anh ta còn có trò chơi đánh răng cho chó, cũng chẳng hiểu nó tập cách nào mà cả hai con chó con đều ngoan ngoãn ngồi ngửa mặt nhe răng cho cu Tửng đánh răng cho. Cả nhà cười ngất. Em gái lớn chê thằng anh bẩn dùng chung bàn chải răng với chó, cu ta nói “Kệ tao nghe mày!” Em gái bé sửa “Anh em không được mày tao. Bố biểu thế.” Cu ta vẫn cãi “Em không được cãi anh nghe mày.” Có thêm hai con cún mỗi chiều cuộc tiếp đón Bố lại thêm đông vui, Tửng chạy ra cổng reo “Bố về”, hai con chó theo sau kêu “áu áu”, bà mẹ đứng trong bếp nhìn ra than “Nhức cả đầu”. Ấy thế mà phải chia ly.

Sau 17 năm lay lất qua các trại tù binh, trở về Sài Gòn thì căn nhà xưa không còn là của mình và dĩ nhiên hai con chó con au áu thuở đó cũng không còn nữa.

Những ngày chờ có chuyến bay xuất cảnh đoàn tụ với vợ con, ông lang thang phố chợ, mỗi khi ngang qua một tiệm bán thịt chó ông thường nhìn chăm chăm những con cầy thui treo dưới móc sắt như kiếm tìm một dáng quen quen, mặc dù ông biết rằng chúng chẳng thể còn tồn tại trên cõi đời này. Hồi xưa khi tới thăm trường huấn luyện quân khuyển của lục quân Mỹ trên đảo Okinawa, ông có được nghe thuyết trình rằng con chó “thọ” nhất chỉ không đầy mười hai tuổi. Thế mà thời cuộc Miền Nam nhố nhăng đã hơn mười bảy năm, lại thêm cao trào của món ăn thịt cầy được Miền Bắc chiếu cố vào càng thêm phát triển mạnh thì đời sống của loài gia cầm này khó mà trường thọ. Nhìn những quán ăn có tấm bảng hiệu “Đặc Biệt Bún Chó” hoặc “Chuyên Trị Xáo Chó”, trong khu nhà cán bộ thuộc Sở Chỉ Huy Quân Khu 7, có những con “chó leo dây” nhe hàm răng trắng ởn sủa đời, ông bâng khuâng nghĩ tới những khẩu hiệu chiến lược thời chiến tranh cộng sản xâm lấn Miền Nam như “Công Kích Kết Hợp Khởi Nghĩa Từng Phần – tiến tới – Tổng Công Kích Kết Hợp Tổng Khởi Nghĩa Toàn Phần”, hoặc là “Tiến Công Nổi Dậy – Nổi Dậy Tiến Công”, khẩu khí nào cũng rất là vang dội. Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến những kẻ lẻo mép thớ lợ thủ lợi, anh nào ngây ngô chính nghĩa thì chỉ có bị bán đứng. Nhưng ở cả hai phía, thì tất cả những ai nghiêm chỉnh tuân lệnh đều bị thiệt thòi như nhau. Và hình như, bao giờ, ở đâu, cũng đều thế cả.

Năm sau sang Mỹ, thằng Tửng đã thành người lớn tên là Tony, công dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, bố con bắt tay nhau, hỏi có nhớ hai con chó con ngày xưa đòi bế theo cuộc di tản không, anh ta suy nghĩ hồi lâu rồi đành cười, lắc đầu, nói với Bố “ Sorry, con không nhớ ra nó như cái gì!” Ông nhà tôi nói với tôi “Bố thì không quên được những tiếng kêu au áu của hai con chó con và cũng còn nhớ mãi rằng mình đã chảy nước mắt.” Tôi nghĩ như thế ông có “khéo dư nước mắt không?”

Chưa hết, một lần vợ chồng già ngồi xem TV, đội banh nữ Mỹ thắng đoạt giải vô địch thế giới, những thiếu nữ khỏe mạnh tươi tắn sung sướng reo hò ôm lấy nhau khóc ròng trên sân cỏ, thì tôi thấy ông chồng già của tôi cũng lén lau nước mắt. Rõ “mít ướt”, tôi nghĩ thế nhưng không dám nói ra đành quay đi vờ không thấy. Phải chi có con cháu nội ở nhà lúc đó để nó đưa tissue cho ông nội.

Vẫn chưa hết, lại cũng một lần vợ chồng già ngồi coi TV, xem tường trình Papal thăm nước Mexico, khi tiễn đưa Người ở sân bay, ống kính truyền hình chiếu live những thanh niên thiếu nữ xứ Mễ khóc ròng ròng vẫy khăn từ biệt Papal lên phi cơ, tôi lại bắt gặp ông cụ cũng khóc theo những tín đồ Thiên Chúa Giáo ấy. Không nhớ lúc đó tôi có lẩm bẩm hai tiếng “Đến khổ!” để vỗ về ông nhà tôi không.

Tôi hỏi:
– Thế ở nhà ông làm gì?

– Online, vào Internet đọc “Ken Starr Report”.

Tôi cười:
– Ghê nhỉ? Ông thấy thế nào?

– Kinh khủng.

– Như?

– Tả chân đến thế là tận cùng. Các tay viết “dâm thư” chuyên nghiệp từ nay giải nghệ thôi, xin chừa thôi. Ông công tố viết, quốc hội chính thức phổ biến, công khai tất cả. Không còn gì. Không còn gì để mô tả thêm nữa. Không còn gì nữa để “luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu”!

– Ai biểu bố đọc làm chi?

– Đọc để hiểu biết về lịch sử nước Mỹ.

– Thế còn ông tổng thống?

– Người đàn ông đó không đi kể chuyện người con gái mà anh ta đã dan díu. Trên đời này ít anh đàn ông nào giữ được cái miệng ưa khoe khoang, tô vẽ, có khi còn biạ đặt thêm vào những tình tiết ly kỳ của những mối tình vụn vặt. Ít ra người tổng thống này cũng đã đáng mặt đàn ông. Có khi người đời rồi ra sẽ phải chế tạo một chủ nghĩa mới mang tên ông ta. Chủ nghĩa của những người “Ai cho thì xài, không khoe khoang để giữ gìn cho kẻ tặng.”

– Bố có vẻ bênh kẻ ngoại tình ngậm miệng ăn tiền.

– Bà ấy tha thứ rồi, vẫn bằng lòng làm kẻ đứng bên cạnh cuộc đời. Má dịch sang tiếng Mỹ câu thành ngữ “ngậm miệng ăn tiền” giùm Bố.

– Chịu.

Ông nhà tôi nói:
– Má thấy chưa, Ta có những câu những chữ không nước nào dịch được.

– Nước nào chẳng có những cái mà nước khác không có. Hỏi trên thế gian này có nước nào có ông tổng thống, ông quốc hội, ông toà… như nước Mỹ đang có. Bố thấy chưa?

Ông nhà tôi ngồi thừ ra, lát sau nói:
– Má đừng khủng bố. Bố sợ.

Ghê thật, sau khi bị cộng sản nó giam cầm khủng bố, thoát được sang đây, hễ nói động tới là in như rằng kêu ầm lên “Bố sợ”!

Chiều hôm đó ông nội rủ tôi cùng đi đón con bé ở cổng trường. Trên đường về nhà, một tay ông xách túi học cho cháu, một tay ông ôm ngang lưng tôi dìu đi, hỏi tôi làm thế có “tình tứ” như tây với đầm không. Tôi chỉ con cháu gái đang tung tăng chạy nhảy phía trước bảo coi chừng con Mỹ con nó cười ông nội nó nhà quê bây giờ.

Ông nhà tôi bảo:
– Tội nghiệp con bé. Ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại, rồi bố mẹ nó đều là người Việt, sinh ra nó cũng là người Việt, nhưng ở đây dù ăn mặc đi đứng sinh sống cách nào thì nó vẫn mũi tẹt da vàng không giống người bản xứ, bây giờ có trở về Việt Nam nó lại không biết đọc biết viết chữ quốc ngữ như những người đồng hương xung quanh. Hoá cho nên thế hệ thứ ba đâm ra là những kẻ “non xanh nước biếc song không có lấy một chốn gọi là quê hương”!

Tôi nói ông nhà tôi:
– Lại bị khủng bố nữa rồi.

*

Đã lười không chịu đi học, lại càng lười không chịu đi làm một cách thực tế. Tôi bắt ông cụ phải bỏ cái nghề nhặt ve chai rong chơi và cái nghề cắt cỏ bêu riếu xong thì ở nhà lại xâm nhập vào hệ thống Internet, suốt ngày ngồi trong phòng với cái computer, mò mẫm theo các mạch điện tử khiến các con tôi phải kêu lên “Má coi chừng bố mình lạc đường vào hư vô sẽ mụ người đi”. Tôi còn sợ ông ấy bắt kịp sao chổi trên thiên hà. Cuối cùng thì hội đồng gia đình, tôi và các con tôi, giao ông cụ cho anh chàng Tony quản lý. Tony nhận ngay:
– Dễ thôi. Để tôi đưa Bố đi làm giám đốc Công Ty Rửa Xe của tôi.

Từ đó anh ta bắt bố mỗi ngày phải đi theo anh ta đến hãng rửa xe. Từ sáng sớm tinh sương đến tối mịt mới về. Tuần lễ sáu ngày. Tôi thở phào nói với các con tôi:
– Thoát nợ. Má thoát nợ.

Nhưng ông cụ lại có vẻ thích thú, thường hay khoe khoang với các bác các chú trong họ:
– Đầu tắt mặt tối. Ngày mười giờ liên tục. Không nghỉ trưa.

Bị hỏi:
– Làm cái “thống chế” gì mà “đầu tắt mặt tối”?

Bèn trả lời:
– Nó chỉ bắt làm mỗi một việc là “Bố… không được làm cái gì cả!”

Mọi người thở hắt ra:
– Tưởng gì chứ thế thì còn nói “con khỉ” gì nữa.

Bà lão bình luận:
– Chẳng qua các con tôi chúng lãnh “của nợ” thay cho tôi.

Ông nhà tôi hăng hái:
– Tôi đâu có muốn ở không. Tôi là người “yêu lao động”, hóa cho nên cứ phải lén chúng nó mà làm, khi nào vắng thằng chủ là tôi nhào vô lau xe với những người thợ Mễ, họ khoái grandpa lắm.

Bà lão lại phải làm cho rõ:
– Đụng đâu hư đó cho nên thằng con nó sợ, nó nói Bố đi tới đi lui kiểm soát là tốt rồi, Bố là chủ.

Một bác nói:
– Làm chủ thì không có lương, làm thợ mới được lãnh lương.

Ông nhà tôi phản ứng:
– Tôi đâu có đòi lương. Free.

– Thế chúng nó… cứ trả lương bao nhiêu?

– Thằng chủ nó bảo “Bố phải lấy”, tôi bèn ra giá “5 đồng”, thằng chủ lại nói “Không được, phải theo đúng luật lao động Mỹ, 5. 75 đồng/giờ là mức lương tối thiểu, nhưng phải làm đúng công việc mình nghĩa là Bố không được làm cái gì cả”. Mẹ nó can dự vào: “Ông chỉ đáng 1 đồng/giờ như mấy bác đồng cảnh với ông đi cắt chỉ khoán ở các shop may.”

Ông lão thở dài:
– Thấy là “đầu tắt mặt tối chưa”?

Ông nhà tôi tìm ra một tiệm cơm gần sở làm, giá rất rẻ, một tô cơm to go chỉ có 2.59, ông lão khoái lắm, trưa nào cũng sang mua hai tô mang về, bố một tô, con một tô, nhưng anh con trai sang Mỹ từ hồi nhỏ nên ăn đồ Mỹ quen rồi, lâu lâu bắt nó ăn tô cơm với rau xào thì được, nếu ngày nào Bố cũng săn sóc “thằng chủ” ngắc ngư nuốt không vô, nhưng vì thương Bố không dám nói. Bố thì luôn luôn suýt soa:
– Tiết kiệm, tiết kiệm thế này tốt lắm, ở ngoài Bắc đói “rã họng” không có khoai sắn mà ăn.

Ông còn khoe với cô bán cơm:
– Từ hôm tìm ra tiệm ăn này bác mới không bị đói, nhờ cô biết nói tiếng ta, trước có tiền nhưng không nói được tiếng tây nên nhịn đói hoài à. Bác làm nhiều tiền lắm…

– Bác làm lương bao nhiêu?

– Mỗi ngày bác làm được 10 đồng.

– Những mười đồng/ngày cơ à, nhiều thế?

Ông cụ hào hứng:
– Hai tô cơm 5.18 còn dư ra hơn 4 đồng, tha hồ để dành.

Cô gái hỏi:
– Bác mua làm gì những hai tô?

– Bác gái một tô.

– Sao bác không lấy hai món thức ăn khác nhau để hai bác gắp qua gắp lại cho nhau đổi món?

Ông lão nổ:
– Bị bác gái hay giành ăn cho nên mua hai tô giống nhau là hết lựa!

Cô hàng cơm phì cười:
– Cháu thấy hai bác hạnh phúc lắm.

Ông nhà tôi gật đầu, nhanh nhẩu:
– Hạnh phước, vâng, rất hạnh phước!

Rồi ông hỏi:
– Cô có thấy là từ hôm tôi tìm được tiệm cơm này tôi béo ra… trông thấy không?

Ông cụ kể chuyện cho tôi nghe, tôi có cảm tưởng trước sau gì rồi “thằng chủ” nó cũng phải… đuổi “ông thợ” này thôi, bởi con tôi gầy tọp đi… trông thấy.

*

Đầu tắt mặt tối. Đánh đông dẹp bắc. Đầu tiên là dùng máy hút bụi, cầm cái vòi miệng dẹp như miệng cá trê hút hết rác rưởi bụi bặm trong xe xong thì đến cửa ngõ rửa bánh xe, mỗi thợ một bên, xịt hóa chất, dùng bàn chải chải khắp lượt, rồi xịt nước cực mạnh, tất cả phải nhanh như chớp. Xe chui qua cổng phun nước rửa và xà phòng. Rồi anh chỉ có nửa phút để lau chùi cho xong một nửa bên xe nếu không chiếc xe sẽ chui qua cổng phun dầu bóng. Chỗ này gay go nhất. Bắn chậm là chết. Hai tay hai miếng búi chùi ướt đẫm xà phòng quơ khắp lượt chiếc xe từ đầu đến cuối, từ trên xuống dưới, không để sót một chỗ nào. Chỗ nào không quơ tới là “địch” nó núp ở chỗ đó. Phía bên kia anh chàng thợ gốc Mễ trẻ tuổi mỉm cười với ông lão. Có lẽ chỉ khoảng mười tám, hai mươi. Hai tay nó vẫn quơ đều nhuần nhuyễn. Anh ta không biết nói tiếng Anh. Ông lão thì không nói được tiếng Spanish. Ông cháu chỉ ra dấu với nhau. Một lần thấy ông mặc chiếc T shirt có in hình bãi biển, anh ta chỉ vào mình rồi chỉ vào chữ Cancun trên ngực áo ông, cười, ông hiểu ngay rằng anh ta muốn nói quê anh ta ở vùng đó bên xứ Mexico. Miệng cười là cách ra dấu tuyệt vời nhất. Khi ăn Pizza hoặc Burritos với nhau cũng như những lúc mỗi người mỗi bên rửa xe thế này. Giới trẻ chúng làm việc gì cũng nhanh nhẹn và tốt đẹp. Người già thì bao giờ chẳng chậm chạp, lóng ngóng. Bà lão ở nhà lại còn phê là “đụng đâu hỏng đó”. “Không đáng tin cậy”. Gặp phải chiếc xe to tổ bố do đế quốc Mỹ sản xuất thì cả ông lẫn cháu đều kiễng chân với tay sang cũng không tới nhau, không giáp mí.

*              
            
Hai đơn vị hành quân chưa bắt tay nhau là chiến trường chưa bao vùng, chưa khắp lượt, chưa càn quét hết, chưa trải thảm xong. Lãnh thổ hãy còn xôi đậu, còn da beo. Tài liệu của Cục R nó chỉ ra cho cán bộ cơ sở hạ tầng phải lợi dụng những “lõm” ấy mà tránh né đụng độ, kiếm những chỗ bỏ trống đó mà núp. Ông già yếu sức với không tới, cháu trẻ ham vui chơi lơ là bỏ sót, thế là Việt Cộng nó “nín thở, nó núp kỹ, nó thoát vòng vây, nó tránh né, nó không bị tóm”, mình rút đi rồi “nó lại chui lên, nó lại bò ra, nó lại lẻo mép, nó lại múa may”. Lung Ngọc Hoàng ở xã Hương Mỹ, giáp mí Cần Thơ – Chương Thiện cách không xa Vị Thanh Hỏa Lựu, là một vùng sình lầy quanh năm ngập nước, lác đác đây đó vài gò đất nổi, cây cối um tùm, hành quân vào vất vả, thắng lợi chẳng bù lại tổn thất, miền đất khó “nhá”, bèn khoanh vùng làm nơi oanh kích tự do, pháo binh muốn thử súng thì đì đùng vài quả, phi cơ xong nhiệm vụ oanh kích lỡ còn dư bom tạt ngang vào thả xuống muốn trúng đâu thì trúng, nhưng bom đạn viện trợ của đâu mà vung vãi nhiều, hóa cho nên vùng oanh kích tự do thành nơi an toàn cho Việt Cộng. Thậm chí còn là nơi cho cậu thượng uý em trai cô Nga, vợ nhỏ của anh Bí Thư Thứ Nhất Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng, trốn tránh trong đó một thời gian để khỏi bị Trung Ương Cục Miền Nam kỷ luật về tội du đãng và đào ngũ. Miền giáp ranh bị bỏ sót trở thành khu an toàn, quốc gia chẳng buồn vô, mặt trận bèn dùng làm chỗ núp. Tôm, cua, cá, ếch, ba ba, rùa, rắn, cóc, nhái, chim muông, dã thú… tự do sinh sản, thoải mái sống trong những vũng hố bom hố đạn, chờ coi có đồng chí nào đến bắt làm món mưu sinh. Một hồi chánh viên kể lại rằng thuở còn làm Xứ Ủy Nam Bộ, vợ con ở ngoài Bắc xa xôi, nên đồng chí Bí Thư cặp với cô Nga cán bộ cho ấm lòng nhau trong hoàn cảnh cùng làm cách mạng. Thuở ấy hai kẻ yêu nhau cũng thường rút vô “Lung” nghỉ ngơi mỗi khi bị chính quyền Miền Nam bố ráp săn đuổi. Nằm chung trong chiếc “nóp” trên gò đất nổi giữa vùng hoang dã xôi đậu da beo, hai kẻ yêu nhau bàn chuyện sách lược đấu tranh. Những ý tưởng nảy sinh trong cơn giao hoan rừng rú ấy sau này còn được dùng làm cơ sở lý luận soạn thảo bản Báo Cáo Chính Trị đọc trước Đại Hội 3 họp tháng 9 năm 1960 tại Trường Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội. Người hồi chánh kể rằng khẩu hiệu “Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Miền Bắc, Chiếu Cố Miền Nam” nêu trong bản báo cáo biết đâu đã chẳng thai nghén từ cái lúc Cô Nga trẻ trung xinh đẹp và anh Xứ Ủy dày dạn sương gió, cùng nhau làm việc trong cái “nóp” chật chội, kẻ trước người sau, em trên anh dưới. Sau này khi ra Hà Nội thì đàn bà ai mà chẳng ghen, cho nên bà hai phải đi Liên Sô ở cho yên chuyện nhà bếp và được việc nhà nước. Nhưng cũng chỉ vì mấy chữ “Chiếu Cố Miền Nam” mà chiến tranh tương tàn diễn ra trên đất nước khiến hàng triệu thanh niên Miền Bắc bỏ mạng sa trường và Miền Nam thì khốn khổ cho đến ngày nay chưa hết.  
 
*

Ông cháu lau chùi mui xe, hai kẻ từ hai miền đất xa nhau vạn dặm tình cờ gặp nhau nơi đây mỗi người mỗi bên, mỗi người mỗi vị trí, mỗi người mỗi phần vụ, mỗi người mỗi tiểu khu, mỗi người mỗi cánh quân… và nhìn nhau trao đổi những liên lạc truyền tin bằng những dấu hiệu quốc tế, những miệng cười mỗi người mỗi vẻ, mỗi nỗi niềm ưu tư, cháu chỉ kiếm tiền, ông muốn phiêu lưu hay chạy trốn. Họ từ trong những cái “lung” ấy mò ra, họ từ trong những cái “nóp” ấy mưu đồ, còn các cánh quân thì cứ bỏ sót…ông cứ bỏ sót cho nên bây giờ ông đứng đây với cháu, ông “chơi” một cánh quân trận giả với cháu, rồi ông cũng lại bỏ sót, cháu bỏ sót thì hiểu được vì cháu ham chơi, ông bỏ sót bây giờ là tại ông già nhưng ngày xưa trẻ ông bỏ sót cũng vì ông ham chơi, còn họ thì họ mưu đồ được ăn cả thua cũng chẳng có gì để mất. Họ nói họ chỉ có cái “lai quần” cũng vẫn đánh.

Cái thằng em nó “chiếu cố” ông, nó muốn lấy hết gia tài ông không cho nó, giá ông chịu nhịn cho nó hết rồi ông dắt díu vợ con đi ăn mày thì đã không có chiến tranh. Nó chủ trương đấu tranh giai cấp có nghĩa là nó muốn hạ người ta xuống để nó trèo lên. Nó chủ trương ai thắng ai có nghĩa là nó nhất định thắng và ông bắt buộc nhất định phải thua. Như thế là nó chủ chiến, nếu ông yêu hòa bình thì ông phải nhường cho nó tất cả tiền bạc, nhà cửa, vườn ruộng, vợ con... Ông không nhường nhịn mà cứ khư khư ôm lấy là ông không có thiện chí hòa bình, tức là ông muốn chiến tranh, thì nó phải đánh ông thôi. Trong các cuộc cách mạng thế nào cũng phải có một đứa phải thua, phải có một đứa chịu làm kẻ phản cách mạng cho đứa kia thành công, lại là “cách mạng đấu tranh giai cấp” kiểu thằng em ông thì nhất định là nó phải giành cho bằng được. Cách mạng là giành ăn!

Ông không chịu nhịn thua cho nó chiếm hết để ông đi ăn mày, lại còn nhờ hàng xóm láng giềng vào giúp, thế là nó cào mặt xé váy lăn đùng ra kêu làng kêu nước rằng nó bị ông ăn hiếp. Thằng em nó đòi chia gia tài, chính nó đòi chia gia tài, được phần rồi nó lại nói tại sao chia mà không để ở chung, nó vào nó đòi ở chung với ông, nó đòi cái phần của ông, ông không nhường nhịn lại còn kêu hàng xóm vào hùa với ông đánh lại nó. Nó tham nhưng ông cũng có cái lỗi là không nhường nhịn, ông có cái lỗi là không chịu bỏ hết để đi ăn mày, thì phải đánh nhau thôi. Nó hiếu chiến nhưng ông cũng không có thiện chí hòa bình. Nó cởi trần, mặc quần sà lỏn, ăn củ sắn, đi chân đất đánh ông, còn ông phải mang giày vào chân cho văn minh như Mỹ rồi mới tác chiến được. Mỗi chiếc giày 16 lỗ, hai chiếc là 32 lỗ, mang đôi giày vào chân xỏ dây đủ 32 lỗ xong buộc lại thì nó đã thu dọn chiến trường. Cho nên có nhà văn đùa rằng “thua là tại đôi giày”.

Cái thằng em nó chơi trò “tội tổ tông”, chiếm phần xong nó hạch tội dân Miền Bắc đủ điều, lục lọi lý lịch từ tổ tiên tam đại ra tra vấn cho đến tận cái chổi cùn rế rách. Đấu tố xong, vào trong Nam, nó hỏi tội từ trên xuống dưới từ dưới lên trên “Tất cả mọi người đều có tội với cách mạng. Văn Vĩ cũng có tội!” Tiếng đàn não nùng của nhà nhạc sĩ dân gian Văn Vĩ mà rất nhiều người ở Miền Nam đã từng được thưởng lãm qua các buổi trình tấu cổ nhạc của ông cũng bị chúng liệt vào hàng “có tội” vì chưng nhà nhạc sĩ mù này đã “ru ngủ” nhân dân! Nó kết tội hết, bắt mọi người phải nhận tội, kể cả bố nó cũng phải nhận tội, xong rồi mới bày trò tha. Được tha rồi thì phải làm sao? Kẻ có tội thì trong lòng ra sao? Kẻ có tội mà được tha thì trong lòng ra sao? Thế cho nên trước hết là phải bắt tội cái đã. Hành hạ cho nhừ tử ra rồi sẽ khoan hồng tha ra. Từ từ cho đến lúc xuống lỗ thì đã “đá nát vàng phai” Thằng em nó láu cá thế mà ông phải chịu. Nó chống “thực dân cũ” xong nó bày kế chống “thực dân kiểu mới”. Thực dân “cũ” vơ vét cả chổi cùn rế rách, “thuế thân” là lột cả cái khố của người dân. Thực dân “kiểu mới” khôn hơn chừa ra chổi cùn rế rách và khố, chỉ vơ vét tài nguyên quốc gia đem về chế biến thành hàng hóa mang sang bán lại cho dân bản xứ. Thế còn “đảng chỉ đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nghĩa là nó giữ cả quyền lẫn của thì là thực dân kiểu gì? Cho nên nó đích thị là một thứ “Siêu thực dân”, còn ghê gớm hơn cả “cũ” lẫn “mới” cộng lại. Ôi, thằng em, phải chi ông nhường cho nó chỉ đạo và quản lý ngay từ đầu, ông chỉ nên làm chủ, thì có lẽ sẽ không xảy ra chiến tranh. Ông chịu khó đi ăn mày ngay từ lúc nó đòi “chiếu cố” thì đã không đến nỗi tan nát. Bởi vì tất cả đều có tội, ngoại trừ nó. Siêu!

Anh em ông đánh nhau thì nhất định là xấu hổ rồi, xấu hổ cả hai, nhưng thằng em ông nó láu cá, nó biết che dấu, cho nên kẻ xúi bẩy nó cũng biết núp, đưa dao cho nó chém ông cũng biết cách đưa lén; còn ông, bạn nó đưa cái gì thì cũng ôn ào vỡ chợ, hàng xóm láng giềng đến giúp thì như chửi thuê chém mướn, chẳng ra làm sao cả, thế là lại mang tiếng.

Các ông hàng xóm láng giềng mỗi người giúp mỗi kiểu. Có ông thiệt tình hết lòng hết sức như ông có con Canguru, đánh kiểu du kích chiến, đánh kiểu biệt kích, xuất quỉ nhập thần. Cũng phục kích cũng nằm vùng, cũng giả dạng thường dân, anh sao tôi vậy, anh đi đêm tôi cũng đi đêm, anh nằm lì chờ tôi cũng nằm lì chờ, anh chịu gian khổ tôi cũng chịu được gian khổ. Coi ai thắng ai. Quả nhiên cả một vùng lãnh thổ trách nhiệm ở Bà Rịa êm ru, những thằng em ông bị lực lượng Canguru tóm hoặc tháo chạy đi nơi khác hết. Nhưng chỉ được một vùng ấy, người ta giúp cho một khu làm mẫu thôi.    

Hoặc như ông Nhân Sâm đem mấy sư đoàn thiện chiến sang, đi đến đâu yên đến đó, bao nhiêu đơn vị cộng quân bị họ quét sạch, gặp “chốt” nào cũng nhổ hết. Nhưng đồng minh Mỹ trả chiến phí mệt nghỉ.

Các ông Thái, ông Phi thì tham dự cho phải phép thôi. Ông Thái đem mãng sà sang cho nó cắn cộng sản. Ông Phi đem chuyên viên truyền tin và bác sĩ, y tá sang làm dân sự vụ, để cho dưới ngọn cờ quốc tế quân viện có đông đông nước một chút. Riêng ông Đài Loan vì đảo nhỏ, người không đông lắm, nên chỉ hiến kế. Dùng “tam dân chủ nghĩa” chống lại “cộng sản chủ nghĩa”. Về chiến lược thì dùng “lục đại chiến” chống lại “ba mũi giáp công”. Họ mang cẩm nang “chính trị tác chiến” sang huấn luyện cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Theo cuốn sách nếu vận dụng tốt sáu cái chiến: tâm lý chiến, tình báo chiến, du kích chiến, tổ chức chiến, mưu lược chiến và quần chúng chiến thì có thể thắng luôn được Trung Cộng, “quang phục đại lục” dễ dàng. Nghe đồng minh thuyết trình coi có vẻ ngon ăn, phe ta có nhà lập thuyết cũng hăng lên khoe:
– Nước chúng tôi cũng đã từng có “Quốc Sách Ấp Chiến Lược” với kế “tam túc-tam giác”. Mỗi ấp là một đơn vị hành chánh độc lập, tự túc về an ninh: được huấn luyện và cấp phát vũ khí lo phòng vệ giữ ấp, tự túc về tài chánh: ngân sách do dân trong ấp đóng góp, tự túc về hành chánh: gọi là tự quản.

Về chiến thuật chống cộng sản thì áp dụng du kích chiến, tình báo chiến và tâm lý chiến. Mỗi ấp còn có một “hương ước” riêng giống như là “hiến pháp” do các vị kỳ hào đại biểu soạn thảo ra tôn trọng các phong tục tập quán địa phương. Trị an cứ theo lệ làng mà áp dụng giống như dân chủ pháp trị. “Quốc sách” suýt nữa biến thành “quốc tế sách” với kế “tam tam giác” làm mẫu mực cho nhiều nước noi theo nếu không có biến cố…

Trong thảo luận các lý thuyết gia chiến tranh có đưa ra một viễn tượng chỉ cần “bẻ” đi một “chân” của phương châm “hai chân”, làm gẫy một “mũi” của cái kiềng “ba mũi” là lập tức “phương châm chiến lược hai chân ba mũi”… cùi luôn. Cộng sản sẽ tan rã lập tức. Các nhà nghiên cứu chiến lược ở trung ương tại Sài Gòn hì hục đề ra những phương pháp và kế hoạch vô hiệu hóa âm mưu địch.

Một kế gọi là “tam giác chiến” đã được nói tới. “Cộng sản biết làm chiến tranh thì ta cũng biết cách chấm dứt chiến tranh!” Nhưng các ông chưa tìm ra cách chấm dứt chiến tranh thì bạn đồng minh Mỹ đã cùng với cộng sản chấm dứt bằng cái hiệp định ngưng bắn ở bên Tây. Các bạn đồng minh rút về nước của họ, ông bạn Đài Loan vẫn còn cay nên ở lại dưới danh nghĩa Phái Bộ Canh Nông đem sang giúp những giống ngô bắp lớn, giống khoai củ to, ý là “dân giàu nước mạnh” tất thắng “bọn cộng sản bần cùng hoá nhân dân”. Sau năm 1975, cộng sản chiếm sạch cả nước, các bạn đồng minh lần lượt lân la chơi với kẻ thù cũ, quên cả “nghĩa nhà binh tình nhà thổ”. Mà chơi thân nhất đem tiền vô làm ăn nhiều nhất với cộng sản lại là những ông Đại Hàn, Đài Loan, Mỹ…Nước Canguru còn gửi cả một đại tá sang giúp thằng em ông hiện đại hóa quân đội.

Các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thì đi làm “tù binh vô thừa nhận”, xong trở thành các bác già lưu vong “vô tổ quốc” lang thang khắp thế giới.

Đồng minh Mỹ còn mời thằng em ông sang nhà chơi, ông mà biểu tình chống cộng thì cảnh sát họ quật ngã rồi còng tay ông đem “bỏ bót”.

*

Chiếc xe chui qua các cổng xịt dầu bóng rainbow wax, cổng hot wax, cổng nước phun từ dưới lên gầm xe, cổng phun nước từ trên xuống mui xe và cuối cùng là cổng phun hơi làm khô toàn bộ chiếc xe từ đầu đến cuối. Đến đây hai ông cháu sẽ sử dụng vòi xịt hơi để xịt đi hết những giọt nước đọng trong các khe của chiếc xe nhất là trong hai chiếc gương chiếu hậu và những chiếc đèn pha. Sau đó lái xe ra bãi đậu lau khô và lau kính. Anh thợ trẻ tuổi người Mễ chuyên nghiệp nên làm ăn ngon lành, những chiếc khăn màu sắc khác nhau gấp tư trên tay anh ta thoăn thoắt lướt qua từng vùng chiến thuật, anh ta chỉ hất nhẹ một cái là chiếc khăn trở mặt ngay trong khi ông lão thì lóng ngóng có khi còn làm rớt cả chiếc khăn xuống đất. Đã vậy lại còn phải trông chừng thằng chủ nó về bắt gặp ông không làm đúng chỗ đúng việc. Nhiều khi nhờ anh thợ trẻ nó tinh mắt thấy xe chủ, bèn nháy mắt ra dấu, thông tin cho nhau, ông lão vội buông khăn lau, chắp tay sau lưng vờ như đang “lao động kiểu chỉ trỏ”. Cái kiểu “lao động chỉ trỏ “ này ông học được trong các “trường” lao động cải tạo ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đi tù ngoài ấy. Cái “khâu” chỉ trỏ này rất quan trọng vì nó có tính cách chỉ đạo, nó có tính cách hướng dẫn, nó có tính cách tham mưu, nó trí tuệ, nó chất xám, nó có tính đảng, nó làm nòng cốt của mọi thắng lợi. Chả thế mà ca dao mới có câu “Công làm là công bỏ, công chỉ trỏ là công ăn”. Ông lão đi tù về bèn đem ứng dụng những sáng tạo tài tình đó của các cán bộ đảng và nhà nước cộng sản vào trong công việc này khi cần. Anh thợ trẻ thấy bố già biết sợ chủ thì cũng khoái lắm, hai người lại… “cười” với nhau. Những anh thợ trẻ này còn sợ bị vạ lây “Bao nhiêu là thợ sao không làm để Bố tôi phải nhúng tay vào? “Ai biểu cụ làm hồi nào, ấy là do cụ tự ý giành việc của người khác chứ ai bắt buộc được cụ. Có cụ dính vào chỉ thêm “loạn cờ”, cụ lau rồi có khi chúng tôi phải lau lại, cụ làm theo cái kiểu tự giác xã hội chủ nghĩa, bôi bác, qua loa, lắm chỗ còn bẩn nguyên, khách hàng người ta cự nự cho. Chúng tôi là thợ chuyên nghiệp làm việc ăn tiền, đồng tiền đáng giá, “đáng đồng tiền bát gạo”, chứ đâu làm theo kiểu cách mạng như cụ làm. Chúng tôi đang làm có cụ đến bên chỉ tổ vướng chân vướng tay, mà nói cụ thì không dám vì cụ là... bố của chủ, cụ là cấp “chỉ trỏ”. Khổ lắm! Chúng tôi nghe nói ở cái nơi mà cụ mới rời bỏ ra đi, người ta cũng thường không chịu về vườn, người ta cứ yêu nghề mãi mãi. Già khú đế đi không vững mà vẫn ở lại làm cố vấn. Tổng bí thư rồi còn đặt thêm ban cố vấn cho vài ba ông già đẹp mặt. Một thủ tướng với năm bảy anh phó thủ tướng. Một bộ trưởng với cả chục anh thứ trưởng. Một cục trưởng với cả 108 anh cục phó... Chật cả chỗ và tốn ngân sách. Đông. Vui. Hao.

*

Một bà khách Mỹ gốc Việt rất đẹp và rất sang, cô con gái cũng rất đẹp và rất xinh, chiếc xe hơi cũng rất đẹp và rất mới... đứng xem hai nguời lau chùi xe, nói nhỏ với nhau:
– Nhìn hai bố con ông Mễ già lam lũ vất vả, lát nữa xong xe cho mỗi người một đồng “tip” kẻo tội nghiệp!

Ngôn ngữ khác nhau cho nên nghe mà không hiểu, không cảm động, vẫn cứ lầm lũi làm việc. Chuyện kể cho Kiều Chinh nghe, bà diễn viên điện ảnh nổi tiếng này bèn nói:
– Như thế là ông cụ đó đã thành công.

Có lẽ nhà chuyên môn muốn nói diễn xuất nhập vai. Nhưng chuyện kể cho bà lão ở nhà nghe thì bà trách:
– Lại bêu riếu. Từ ngày mai, đi làm, Bố phải mặc đồ vest.


Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Phạm Xuân Ðài - Chuyện cái đầu gối (2)

Phạm Xuân Ðài

(Tiếp theo và hết)

Thảo Trường (phải) và Phạm Phú Minh, tại nhà Thảo Trường,
Huntington Beach, tháng Năm 2010.
Phi vẫn hàng ngày đến buồng tôi để làm thuốc, bao giờ cũng với một tô thuốc đã sửa soạn sẵn trên tay, đến nơi thì gầy một bếp lửa nhỏ, nấu và đắp thuốc tại chỗ. Tôi để ý không bao giờ Phi chuẩn bị thuốc men ngay trước mặt tôi, nhìn cái tồ đầy những lá tươi, lá khô, rễ cây xắt nhỏ không ai biết được là gồm những vị gì trong đó. Tôi hiểu là Phi giấu nghề, không muốn cho bất cứ người nào học lóm được những bí mật trong cách pha chế thuốc của mình. Ðó là một đặc tính mạnh mẽ của người Trung Hoa, và Phi cũng không giấu giếm điều đó. Sau những lần làm thuốc, Phi thường ngồi lại chơi với tôi, nói đủ các chuyện đời. Ðó là một người tính tình vui vẻ, mềm mỏng, có cá tính và nhân cách. Phi thường kể cho tôi nghe chuyện bên Tàu.

Là con của một ông đại tá quân đội Trung Hoa, thời Cách Mạng Văn Hóa anh ta từng làm lãnh tụ các nhóm Vệ Binh Ðỏ đi đập phá các nơi. Kể những chuyện đó anh ta có cái vẻ hào hứng hồn nhiên của một người hồi tưởng lại những giờ phút sôi động mãnh liệt trong tuổi trẻ của mình chứ không bao giờ có ý đánh giá đúng sai gì cả. Mà chính Phi có vẻ chưa bao giờ có cơ hội nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy của Trung Hoa và vai trò của anh ta trong ấy, vì năm 1975 anh ta xâm nhập Việt Nam và bị bắt thì cuộc Cách Mạng Văn Hóa vẫn đang còn ngự trị ở Trung Hoa. Về việc xâm nhập Việt Nam khi tôi hỏi kỹ thì Phi chỉ cười cười, lặp lại lời anh ta đã khai với công an: “Em đi buôn... đi buôn vàng.” Phi nói, khi bị bắt hầu như anh ta chưa biết tiếng Việt Nam (điều này tôi không biết anh ta nói có thật hay không), nhưng bị giam ở Hòa Lò, cùm chân suốt ngày trong phòng tối, anh lắng nghe những tiếng nói vang lên từ bên ngoài và lõm bõm đoán được nghĩa.

“Em đoán được nghĩa tương đối không khó, vì trong câu tiếng Việt có rất nhiều tiếng Trung Quốc. Ví dụ khi em nghe: 'Các đồng chí khẩn trương lên' thì em hiểu ngay người ta nói với nhau những gì, vì trong tiếng Trung Quốc cũng dùng hai tiếng đồng chíkhẩn trương.”

Tôi nghĩ thầm trong bụng nếu Phi bị bắt giam ở Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn trước 1975 thì chắc không đoán được dễ dàng như thế, vì chỉ ở miền Bắc mới có việc sửa đổi và sao chép từ ngữ Hán-Việt cho giống y chang với Trung Hoa lục địa. Ở miền Nam vẫn dùng các từ Hán-Việt đã thành nếp từ xưa, và thấy không việc gì phải đảo chữ bảo đảm thành đảm bảo, đơn giản thành giản đơn, thành hình ra hình thành... và thấy không việc gì phải đổi các thói quen ngôn ngữ của ông bà để lại, những tiếng đơn giản dễ hiểu như đồng ý thì thành nhất trí, nhanh lên, lẹ lên thì phải là khẩn trương, trục trặc thành ra sự cố, khoảng cách thành ra cự ly, v.v. Nhờ sự tự nguyện đồng hóa ngôn ngữ như thế của miền Bắc mà anh chàng Phi bên Tàu mới chân ướt chân ráo qua Việt Nam mà đã lõm bõm hiểu được tiếng Việt.

Tôi nhìn Phi như nhìn một thực tại sinh động của nước Trung Hoa. Phi đi buôn hay đi làm gián điệp? Khó mà biết được. Tôi chỉ nhìn khuôn mặt tròn luôn luôn tươi cười của Phi và thấy rất mến anh ta. Về chuyện nước Tàu tôi tin anh ta nói thật. Anh ta đã tả cảnh những vùng rộng lớn dân chúng bị chết đói, theo anh, như là cái giá phải trả cho sự nghiệp lớn mạnh của nước Trung Hoa. Anh nói về các cuộc thanh toán nhau của các lãnh tụ, trong đó cha anh cũng dính phần, đã bị bắt đi biệt tăm. Có những chuyện lạ anh ta nói tôi mới biết, như trong thời Cách Mạng Văn Hóa, cây đàn ghi ta bị cấm ở Trung Hoa. Ðiều đặc biệt là tôi không nhận thấy Phi tỏ ý tôn sùng chủ nghĩa cộng sản hay bất cứ lãnh tụ cộng sản nào, kể cả Mao Trạch Ðông, nhưng anh ta đặc biệt tôn sùng nước Trung Hoa của anh ta. Phi nói về nước Tàu, nước Tàu nói chung chứ không phải xã hội chủ nghĩa, một cách trìu mến và cung kính. Vốn liếng về y học cổ truyền Trung Hoa của Phi xem ra phong phú, anh ta kể cho tôi nghe những trường hợp chữa bịnh nan y ly kỳ, thần tình một cách rất Tàu. Trường hợp cái đầu gối vỡ của tôi, mặc dù trong hoàn cảnh ở tù thiếu thốn mọi thứ, thái độ của Phi rất ung dung tự tín, rõ ràng coi đây là “ba cái lẻ tẻ không nhằm nhò gì”. Mà tôi phải nhận là Phi chữa rất tài, suốt mười ba năm, từ ngày được Phi chữa lành cho đến lúc mổ vừa qua tôi không hề cảm thấy một chút đau nhức nào tại cái đầu gối bị nạn.

Phi là một người mềm mỏng, nhưng có một điều anh ta luôn luôn tỏ ra cương quyết, đó là chuyện giấu nghề. Cũng như bao người Tàu khác, anh ta coi chuyện bảo vệ những bí truyền của dân tộc Trung Hoa không cho người nước ngoài biết là một bổn phận thiêng liêng.

“Từ khi qua Việt Nam em đã chữa lành bịnh cho một số người, lúc chưa bị bắt cũng như khi ở trong tù. Nhiều người muốn em truyền cho các bài thuốc ấy, đã năn nỉ, mua chuộc, hăm dọa, nhưng em không thể tiết lộ được. Vì những bài thuốc đó có phải của em đâu, chúng là của dân tộc Trung Quốc, em không có quyền để lộ ra ngoài. Bây giờ có đem bắn thì em chịu chết chứ không bao giờ em nói cho ai biết.” Cái điều cứng rắn hơn đá ấy, Phi đã thủ thỉ với tôi bằng giọng nhỏ nhẹ, dễ thương, như đó là một chân lý tất nhiên, khỏi cần phải lên giọng cường điệu làm gì. Mà quả thật từ bao nhiêu đời người Hán đã phát minh ra bao cái thần kỳ mà vẫn khư khư biết lấy trong nội bộ với nhau, coi sự bảo vệ chúng là một nghĩa vụ cao cả nhất trong đời mình. 
Trước kia ở trong nước tôi có biết một người đàn bà Việt Nam lấy chồng Tàu, nhà chồng có nghề làm bánh dầu chá quảy. Ðó là một công việc tập thể, hàng ngày cả nhà xúm lại cùng làm, từ nhồi bột đến nắn bánh, chiên bánh. Nhưng bữa nào cũng thế, nhồi bột được một lúc thì thế nào bà già chồng cũng sai nàng dâu Việt Nam đi ra khỏi phòng trong chốc lát vì một công việc gì đấy. Mãi sau chị ấy mới biết trong lúc mình vắng mặt, người ta bỏ thêm một thứ gì đấy vào bột nhồi, và điều ấy quyết định phẩm chất của bánh. Chị tuy là dâu nhưng không phải là người Hán nên không được biết cái bí quyết ấy. Tôi nghĩ những điều mà người Tàu cố tình giấu giếm ấy chẳng qua là những khám phá khoa học chứ chẳng có gì là thần bí, nhưng vì họ khám phá ra chúng sớm quá giữa lúc thế giới còn u mê nên mới nảy ra lòng tự hào Hán tộc, coi mình là trung tâm của thế giới và nhất quyết không cho ai biết các bí quyết tạo nên sự tiến bộ của mình. Nhưng đến thời kỳ khoa học bùng nổ thì dần dần những bí quyết của họ chẳng còn gì là thần kỳ, mà có khi còn có vẻ vụn vặt trẻ con, và chính họ đến một lúc cũng thấy phải “hiện đại hóa” đất nước của họ, nghĩa là hòa nhập vào sự hiểu biết và tiến bộ chung của thế giới. Nhưng dù họ có học của thế giới bao nhiêu điều hay ho đi nữa tôi cũng không nghĩ họ sẵn sàng chia sẻ với thiên hạ những cái bí truyền của họ. Thôi thì đó cũng là cách để người Tàu giữ sự độc đáo của mình, họ lại độc quyền bán mì, quay vị, làm bánh dầu chá quảy, và chữa một số bịnh một cách thần tình... Những điều lặt vặt ấy ngày nay không còn đủ sức để gây lòng kiêu căng hơn người nơi họ nhưng vẫn giúp người Tàu gìn giữ bản sắc văn hóa và làm kế sinh nhai khi đi sinh sống nơi chân trời góc biển.

Nhờ sự săn sóc của Phi tôi không bị đau đớn nhiều. Anh em bạn tù lo lắng cho tôi chu đáo, thật cảm động. Anh Ðịnh hằng ngày ở nhà để gánh nước dùng cho cả buồng, đã kiếm được một cái thùng chiếc cũ và mấy mảnh ván, chế cho tôi một cái “siège ” để ngồi đi cầu, vì với cái chân bị bó thẳng đuột tôi không thể ngồi theo lối cổ điển được. Còn chuyện nước nôi và tắm rửa cho tôi thì anh lo đầy đủ, mỗi bữa gánh nước anh đều gánh thêm một đôi để dành cho tôi dùng. Mà thật ra tôi có tự “dùng” gì được đâu, đánh răng rửa mặt thì anh em đưa nước vào tận giường, trong một cái thau nhôm. Còn tắm thì vài ba hôm một lần, anh Ðịnh bế tôi ra ngoài hiên nhà giội nước kỳ cọ, dĩ nhiên phải tìm cách gác cái chân bị thương lên cao để khỏi bị ướt. Gặp lúc mùa hè nóng nực, một sự săn sóc như thế thật quý hóa. Mùa hè tại vùng thượng du của tỉnh Thanh Hóa nóng kinh khủng, ban đêm trong phòng đông người tuy cửa sổ mở mồ hôi vẫn đổ suốt giấc ngủ. Mùa hè cũng là mùa mưa, con sông Mã chảy qua trước trại nước vẫn thường dâng cao và đục ngầu. Mỗi năm có đến bốn năm tháng chúng tôi phải uống một thứ nước đục lờ lờ như có pha sữa loãng.

Ông thầy Tàu bảo tôi phải ăn chân heo hầm đề đầu gối được bồi bổ thêm nhiều chất gân, sẽ mau vững mạnh. Vào thời điểm này (giữa năm 1981) chúng tôi không còn bị đói nữa vì được gia đình tiếp tế khá đều, nhưng đột ngột bảo tìm chân giò để hầm ăn thì cũng gay go lắm. Thức ăn hàng ngày của trại vẫn chỉ là bắp hột với món ăn duy nhất là “canh” rau tức rau luộc với nước muối, nhưng nhóm ăn chung Nhượng, Châu, và tôi có gạo và thức ăn khô khá dồi dào, ngày nào cũng nấu một nồi cơm và biến chế một món ăn gì đấy, ví dụ “măng tươi xào mắm ruốc” hay “trái sung um tôm khô”, tùy theo những thứ kiếm được từ thiên nhiên quanh vùng trong lúc đi lao động. Nhưng chân giò heo thì hẳn nhiên là thứ không có sẵn trong thiên nhiên, chợ búa thì xa và thời gian ấy tương đối cũng còn siết chặt chưa liên hệ gởi đi mua đồ ở chợ dễ dàng được. Thế mà một hôm, chỉ độ dăm ba ngày sau tai nạn, Hùng, lúc bấy giờ đang làm nhà bếp, mang đến cho tôi một cái xoong nhỏ, mở nắp ra thì thấy một cái chân heo hầm đang bốc khói. Trả lời cái nhìn ngạc nhiên của tôi Hùng cười lớn:
“Ảo thuật! Ðừng hỏi gì cả, cứ ăn đi cho mau lành”.

Sau tôi mới biết cái chân heo ấy quả là do “ảo thuật” mà có. Bếp của ban chỉ huy trại làm thịt heo, gọi Hùng lên xẻ thịt, và Hùng đã “hát xiệc” thế nào mà thủ được một cái móng đem về.

Tất cả các thứ thuốc mà Phi có được đều là cây cỏ quanh vùng đem về sao chế. Có điều kẹt là Phi không được phép đi ra khỏi trại, các loại cây lá đều phải nhờ người khác hái trong khi đi lao động bên ngoài. 
Thường người Việt Nam không làm được việc này, vì Phi không biết các loại cây cỏ làm thuốc ấy tiếng Việt gọi là gì, mà mô tả hình dạng thì người được nhờ không thể nào nhận ra giữa vô số cây cối của núi rừng nhiệt đới. Cũng may là thời ấy có những đội toàn là người Tàu, Phi nhờ họ kiếm được khá đầy đủ lá thuốc. Thật ra đám tù nhân ấy không hẳn là người Tàu, họ là các sắc dân thiểu số sống ở vùng gần biên giới Tàu, có thể nói tiếng Việt, tiếng Tàu và thổ ngữ của họ. Sau trận chiến với Trung Quốc năm 1979, các sắc dân ấy, mà Hà Nội nghi là thân Tàu, bị tập trung hàng loạt nhốt một chỗ cho chắc ăn, chứ thật ra họ không có tội tình gì cả. Họ là dân sống ở miền núi nên cây cỏ họ cũng rành lắm. Ðối với một vài sắc dân thảm cảnh đã xảy ra: bị bắt vào tù họ đã chết hàng loạt, đến độ trại mộc dù làm hết công suất cũng không thể cung cấp đủ hòm để chôn kịp, cuối cùng đành phải quấn chiếu mà chôn. Ðó là những giống dân ở vùng núi cao, họ trồng cây thuốc phiện và dùng thuốc phiện hàng ngày như ăn cơm, uống nước, khi vào tù cơ thể họ không chịu nổi tình trạng thiếu thuốc, cứ rũ liệt, héo tàn dần dần không có cách gì cứu chữa được (dĩ nhiên có một thứ thuốc có thể chữa được, là thuốc phiện, nhưng kiếm đâu ra). Cái chết của họ thực thương tâm, họ đã sống hồn nhiên như cây cỏ, đã say sưa với chất nhựa ma túy lấy từ thiên nhiên chung quanh họ là những đỉnh cao lạnh lẽo mù sương, chắc cả đời họ chẳng biết đến những chuyện chính trị như kẻ này cần dạy cho kẻ kia một bài học, thế mà một hôm họ bị gom vào tù, rời khỏi môi trường cố hữu của họ, và gục chết. Chết không kịp chôn.

Và cuối cùng chính cái đám thoát chết trong bọn họ đã đi kiếm lá thuốc chữa cái chân cho tôi. Tôi đã chịu ơn của họ nhưng nào biết đích xác là người nào, là dân tộc nào. Tất cả chỉ là một cái cơ duyên đưa đẩy, kẻ nam người bắc cùng vào chung một nhà tù, trong một thời gian, một bên bị nạn, một bên đi kiếm thuốc, rồi thì vĩnh viễn xa rời nhau... Tôi mang ơn họ như mang ơn cuộc đời, rộng lớn chung chung, không mong có lúc đền ơn. Chuyện họ làm cho tôi có lẽ họ cũng không coi là một cái ơn mà chỉ là một tác động qua lại trong đời sống vậy thôi, nhưng tôi thì không có quyền quên. Cái xã hội thu gọn lại là nhà tù đã dạy cho tôi rằng đừng có quá thiết tha với việc trả ơn cho chính người đã làm ơn cho mình, mà chỉ cần tâm niệm rằng có một kẻ nào đó đã làm một việc tốt và mình cũng có bổn phận làm việc tốt cho người khác, người khác nói chung, không cần đích danh một người nào. Nhận ơn tôi không coi là một cái nợ phải lo trả cho nhẹ người, “cho xong nợ”, tôi nhận một cách dễ dàng thoải mái và tôi cố gắng cũng làm điều tốt cho người khác cũng dễ dàng thoải mái như thế trong khả năng của tôi. Sự vay trả ở đời không nên xem là một tính toán qua lại theo chiều ngang, mà nên theo một ý thức giúp ích rộng rãi không điều kiện. Giống như đám tù đi kiếm lá thuốc ngoài núi cho tôi, họ chẳng cần biết tôi là ai, họ chỉ biết loáng thoáng là có một người đồng cảnh bị gãy xương, và những thứ lá họ hái mang về có thể giúp chữa lành cho người ấy.

Ðối với Phi, tôi chia sẻ cho anh ta những gì gia đình tôi gởi ra bằng đường bưu điện. Không nhiều nhặn gì, mỗi lần một ít gạo, ít đường và mắm ruốc, cá khô... nhưng với Phi đó là những thứ cực kỳ cần thiết và quý báu, vì từ bao nhiêu năm anh ta nào có được ai thăm nom, tiếp tế. Phi có vẻ cũng thông hiểu hoàn cảnh không được sung túc của tôi như những người khác, và vui vẻ nhận các quà biếu của tôi không phải như một người thầy thuốc nhận thù lao từ bệnh nhân, mà như sự chia sẻ giữa bạn bè.

Thời gian nằm bệnh tôi đã đọc được nhiều. Từ năm 1980 khi bắt đầu cho tù liên lạc với gia đình và cho thăm nuôi, thái độ của trại đối với chúng tôi thay đổi rõ ràng, dễ dãi hẳn đi một bực, đặc biệt đối với sách báo được gia đình tiếp tế. Họ không những chỉ nhìn chúng tôi như những sinh vật biết đọc biết viết, nhưng còn bắt đầu nhìn như là những con người có tư tưởng. Sách vở tù nhân được phép nhận phong phú dần dần. Tôi để ý các gia đình rất ít khi gởi những tác phẩm được sáng tác bởi đám nhà văn Hà Nội, mà thường là sách dịch các danh tác quốc tế của nhà xuất bản Văn Học, cùng các báo ngoại ngữ - tiếng Anh và tiếng Pháp - của Liên Xô như các tờ Spounik , Les Nouvelles de Moscou, New Times, v.v... Ðời sống của chúng tôi thay đổi hẳn, bỗng nhiên như bừng sáng lại sau những năm chỉ biết quay quắt với cái đói và quanh quẩn với hai tờ Nhân DânQuân Ðội Nhân Dân. Cái đói kinh niên và báo đảng là hai điều kiện vật chất và tinh thần không rời chúng tôi trong những năm ấy, những điều kiện khắt khe, ti tiểu và thấp kém nhằm điều kiện hóa một con người, nhằm đưa những kẻ tự do, tình cảm, hiểu biết thành những sinh vật chỉ biết phản ứng theo bản năng và theo điều kiện là các giáo điều không sức sống trên các tờ báo đảng. Tập họp để nghe đọc báo là nhiệm vụ mỗi ngày của tù nhân. Ăn khoai sắn với muối, lao động cực nhọc và nghe đọc báo đảng, suốt mấy năm dài đời sống của chúng tôi chỉ có thế, nhưng cũng trong mấy năm đó tôi mới thấy rõ được một điều qua chứng nghiệm của bản thân là điều kiện hóa được một con người, dù với những phương pháp khắt khe đến đâu cũng không phải là việc dễ dàng. Việc ngày này qua ngày khác nghe đọc những luận điệu ca ngợi sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội và viễn ảnh sụp đổ tới nơi của chủ nghĩa tư bản, chúng tôi coi cũng chỉ là một trong các khổ nhọc của đời sống tù tội, giống như sự ăn đói và sự lao động nặng nề vậy thôi.

Nhưng các đợt sách báo của gia đình gởi vào thì khác hẳn, mặc dù cũng không thoát cái vòng chủ nghĩa xã hội, nhưng ở trình độ ít sơ đẳng hơn, thậm chí có lúc ở trình độ cao. Nhờ báo chí Liên Xô mà chúng tôi biết được một ít chuyện của thế giới Tây phương, ví dụ Mỹ chế tạo con tàu vũ trụ con thoi có thể dùng đi dùng lại nhiều lần, kinh tế Mỹ phục hồi mạnh mẽ thời chính quyền Reagan... Ðặc biệt tủ sách văn học thế giới của nhà xuất bản Văn Học đã đem lại nhiều điều đáng kể. Danh tác của văn học cổ điển các nước được dịch nhiều và dịch một cách kỹ lưỡng đáng khâm phục, kể qua những sách chúng tôi có được vào thời gian ấy: Anna Karenina , Chiến Tranh và Hòa Bình của Tolstoi ; Tội Ác và Trừng Phạt của Dostoievsky ; Don Kihôtê của Vervantes ; toàn bộ bi kịch và hài kịch của Shakespeare ; Thần Khúc của Dante ; các tập truyện ngắn của Tchekov và Maxime Gorki; Những Kẻ Khốn Khổ, Thằng Gù ở Nhà Thờ Ðức Bà của Victor Hugo, Giăng Crixtốp của Romain Roland; Hội Chợ Phù Hoa (Fair of Vanity) một tác giả Anh tôi quên mất tên, v.v. Việc chọn và dịch một cách có hệ thống và cẩn thận kỹ lưỡng các hòn đá tảng của văn học thế giới như thế tôi cho là một cái công lớn của nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam trong chế độ cộng sản. Mặc dù bị bưng bít và xuyên tạc triệt để về chính trị và đời sống trí tuệ hiện đại của thế giới bên ngoài, người đọc sách vẫn có một lối thoát khi bắt gặp nét đẹp vĩnh cửu về con người qua các tác phẩm cổ điển. Dưỡng chất đầy nhân bản của các tác phẩm ấy tuy không được thấm nhuần đều khắp trong xã hội, vì người dân phần nhiều nghèo cực quá không thưởng thức nổi các món ăn tinh thần cao sang đó, nhưng dù sao các sách ấy vẫn được in và phổ biến và dĩ nhiên cũng đến được một số người, dù rằng khá lạc lõng vì không phù hợp với trình độ và không khí chung của xã hội. Tôi nhớ hồi đó chúng tôi ai cũng ấm ức vì bộ trường thiên Giăng Crixtốp của Romain Roland ở ngoài gửi vào thiếu mất cuốn thứ ba, không ngờ trong một lần đi lấy bưu kiện ở huyện Cẩm Thủy, Nhượng đã tìm thấy nó tại cửa hàng sách trong chợ huyện, nó nằm một góc bụi bám đầy vì đã lâu không ai ngó ngàng tới. Ở cái huyện lỵ miền núi này ai mà biết ông Romain Roland là ai, chẳng qua “trên” phân phối xuống thì “dưới” cứ bày bán, cho nó đủ bộ lệ với người ta.

Tôi đã dùng phần lớn thì giờ nằm trên giường bịnh để đọc sách, đọc thong thả kỹ lưỡng vì giờ đây tôi không cần phải “tranh thủ” đọc vội trong những lúc ngoài giờ lao động như trước nữa. Thì giờ hoàn toàn là của tôi, mấy thùng sách đầy nhóc anh em dành cho tôi nằm sẵn ngay bên cạnh. Tôi vốn đọc chậm, viết chậm, chỉ khi ở trạng thái thật thong thả tôi mới thâu thái trọn vẹn những điều đọc và diễn đạt đầy đủ được những gì cần viết. Tôi biết đó là chỗ yếu của mình nhưng không sửa chữa được. Tôi đã thử học các phương pháp đọc nhanh nhưng không kết quả vì mỗi lần như thế đầu óc căng thẳng, tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Cái phong thái nhàn tản Lão Trang nhiều đời chắc thuần thấm khá kỹ vào bản chất mình rồi, làm cho mình thành một kẻ thiếu linh động trong đời sống, đành chịu thôi. Nhưng dù tốn nhiều thì giờ hơn kẻ khác mà thưởng thức được sâu xa đích thực một chút hay ho của sách vở thì tôi cũng thấy là điều đáng mừng. Và dù rất chậm chạp, bày tỏ được một chút chân thật của lòng mình trong khi viết thì cũng tự cảm thấy mình không đến nỗi phung phí thì giờ vô ích.

Vào sáng ngày thứ hai mươi mốt sau tai nạn, Phi bước vào nói:
“Hôm nay tháo băng và anh bắt đầu tập đi.”

Phi ngồi xuống bên tôi, cẩn thận gỡ mớ băng và thuốc to sụ trên đầu gối của tôi. Tôi nhớ đến câu ba bảy hai mốt ngày Phi nói cách đây ba tuần và hơi lấy làm lạ. Tại sao phải đúng hai mươi mốt ngày? Bội số của số bảy có liên quan một cách huyền bí gì đến sự chuyển biến của cơ thể, hay do khảo sát thường nghiệm lâu đời, người ta biết đó là thời gian đủ để các lệch lạc trong cơ thể phục hồi lại?

Sau mấy tuần ủ kín trong băng, cái chân trái của tôi trông lạ hoắc. Nó gầy hẳn đi, trắng trẻo, khẳng kheo, chỗ xương bánh chè bị vỡ trông rất rõ với một đường da lõm xuống chạy ngang. Mấy hôm trước phòng y tế của trại đã đem đến cho tôi một cặp nạng bằng gỗ, có lẽ do Phi yêu cầu để dùng từ ngày hôm nay trở đi.
Thoạt đầu Phi chưa cho tôi dùng nạng, mà dìu tôi đi. Vừa chạm chân trái xuống đất tôi la lên một tiếng vì một luồng đau buốt đột ngột, tôi vội giở chân lên, níu lấy cổ Phi và lắc đầu quầy quậy như một đứa bé, từ chối không chịu tập tiếp. Trái với tính tình mềm mỏng thường lệ, giờ phút này Phi trở nên rất cương quyết. Phi buộc tôi phải bước đi, mặc dù chỉ là mới chạm nhẹ cái chân ấy xuống đất thôi, phần trọng lượng còn lại của cơ thể tựa hẳn vào người Phi. Cứ thế đi suốt hết chiều dài của dãy nhà, tôi thấy bớt đau, tự tin hơn, và còn cảm thấy thích thích vì mình đang đạt tới một khả năng mới.

Sau một vài buổi tập như thế, tôi có thể dùng nạng để đi lại trong nhà. Nhưng cái chân trái vẫn thẳng như một cây gỗ, chỗ đầu gối không gập lại được vì đã bị bó cứng mấy tuần qua. Tôi ngạc nhiên vì một khám phá lạ về chính cơ thể của mình: sau có vài mươi ngày bị bó không cho nhúc nhích, một cái khớp xương sẽ trở nên cứng đơ, mất hẳn khả năng co duỗi linh hoạt cố hữu của nó. Hôm đầu thấy cái đầu gối không co gập được tôi hoảng sợ nhìn Phi, Phi cười, nói ngoài chuyện tập đi tôi còn phải tập co đầu gối nữa. Và đây là một việc không vui chút nào, mỗi ngày tôi phải ngồi trên giường thõng chân xuống đất, đắp nước nóng lên đầu gối cho gân cốt nó “mềm” ra, rồi “dùng tay bẻ chân”. Rất đau. Cái đầu gối cứ thẳng đuột cứng ngắc một cách ngoan cố, như là nó bằng lòng với tình trạng mới này hơn là sự linh hoạt trước kia. Cái chân bây giờ là một đường thẳng, và nếu xem đầu gối là trục để ống chân quay 180 độ - tức có thể gập sát hẳn vào đùi, mục tiêu tôi phải đạt tới - thì sau mỗi buổi tập đau vã mồ hôi, ống chân chỉ nhích vào chừng một độ là nhiều. Khi gặp chuyện mới thấy cơ thể sinh vật, mà trong trường hợp này là cơ thể của chính tôi, thật đầy lạ lùng bí ẩn.

*

Rồi mọi chuyện cũng qua đi, và quen đi. Ðến mùa đông năm đó thì tôi có thể đi lại chầm chậm không cần dùng gậy và ống chân đã có thể co gập bình thường. Phi thì sau mấy tháng xuất hiện ở “làng”, vừa đủ thời gian để chữa cho tôi, lại tiếp tục vào kiên giam, từ đó về sau tôi không bao giờ còn gặp lại nữa. Tết năm đó tôi kín đáo gởi người gánh cơm cho kiên giam đem lên cho Phi một gói bánh mứt, Phi gởi lời cảm ơn và chúc Tết tôi, đó là lần liên hệ sau cùng giữa chúng tôi.

Ðúng như lời Phi đã nói, cái chân ấy bị yếu đi nhiều, mất đi nhiều khả năng của một cái chân bình thường, bắp thịt ở vế teo lại vì không còn hoạt động nữa. Xương bánh chè là cục đệm, là đầu mối nối kết hoạt động giữa đùi và ống chân, nay nó đã bị đứt làm đôi, làm đứt theo những chức năng liên quan đến nó. Tôi không còn có thể dùng cái chân ấy để đi lên hoặc xuống cầu thang hoặc đường dốc, không thể chạy, nhảy, khi nằm ngửa không thể đưa cái chân ấy lên như ngày trước thường làm trong lúc tập thể dục. Khi đi, cái chân bị nạn phải luôn thẳng, nếu vô ý để hơi cong, chỗ đầu gối sẽ không chịu đựng nổi trọng lượng của cơ thể và quị xuống ngay lập tức. Những yếu kém của tình trạng mới tôi dần dần khám phá ra trong sinh hoạt hàng ngày, và buồn rầu nhận thấy, trong một chừng mực nào đó mình đã thành một phế nhân.

Nhưng tôi sống với cảm giác ấy không lâu. Một hôm, độ gần một năm sau khi bị tai nạn, tôi đang chầm chậm đi qua sân trại để đến chơi với anh em ở dãy nhà bên kia thì cán bộ trực trại trông thấy, gọi tôi lại và hỏi:
“Anh bị thương cái chân đã được bao lâu rồi?”

“Thưa cán bộ chừng mười một tháng”. Tôi trả lời.

Anh ta cười cười:
“Ði lao động trở lại được chưa?”

Dĩ nhiên là tôi trả lời chưa, và mô tả cho anh ta nghe tình trạng mới của tôi lúc đó. Chừng vài tuần sau tôi được lệnh chuyển qua đội lao động nhẹ và bắt đầu đi làm. Lao động nhẹ là đội gồm những người già yếu hay bị bệnh kinh niên, làm việc trong trại mộc cách trại chỉ một quãng ngắn, công việc chính lúc đó là đan cót. Gọi là đội, thực sự chúng tôi chỉ là một nhóm chưa tới mươi người sức khỏe kém, trực thuộc đội mộc và rèn gồm toàn những người vạm vỡ khỏe mạnh chuyên việc cưa xẻ gỗ, đóng bàn ghế và quai búa rèn đồ sắt.

Ở nhà suốt gần một năm nhàn rỗi thảnh thơi, hàng ngày chỉ sách báo với đàn địch, nay phải “đi làm” lại thoạt tiên tôi thấy không thích tí nào, giống cái cảm giác hồi nhỏ phải đi học lại sau mấy tháng nghỉ hè. Nhưng không khí và công việc ở lao động nhẹ rất dễ chịu, khiến tôi thích ứng khá nhanh với nhịp độ sống của “xã hội” chung quanh. Vì mộc và rèn là một đội có trình độ chuyên môn cao và làm việc trong nhà, chúng tôi đỡ bị sự soi mói của cán bộ bảo vệ và cũng đỡ bị cực nhọc vì nắng nôi. Công việc hầu như hoàn toàn tự giác, không phải bị canh giữ thúc bách, do đó tinh thần anh em cũng vui vẻ.

Trước kia nhìn một tấm cót tôi rất phục tài khéo của người tạo ra nó, và nghĩ mình không đời nào, từ một cây tre hoặc nứa, có thể chẻ một loại nan mỏng đều như thế, đan thành một tấm đẹp đẽ tinh tế như thế, nhưng nay chỉ sau một ngày đầu học cách thức, tôi cũng có thể làm được. Ðiều làm tôi ngạc nhiên là tất cả những gì tôi tưởng rất khó lại giản dị và dễ thực hiện đến thế, không cần phải có một tài năng đặc biệt gì cả.

Ði lao động tôi lại được tắm sông, và mới khám phá ra rằng với cái đầu gối bị vỡ tôi vẫn bơi lội được một cách bình thường. Khám phá này làm cho tôi rất an lòng và thích thú, vì nếu trên đất liền tôi bị mất rất nhiều khả năng thì khi xuống nước, mọi chuyện vẫn như cũ. À, thì ít nhất cũng có một nơi để tôi còn vùng vẫy được như cũ chứ! Nhưng niềm thích thú ấy không kéo dài vì lên khỏi nước, tôi lại “hiện nguyên hình” là một kẻ tật nguyền! Cuộc sống chính của con người là ở trên bờ chứ đâu phải ở dưới nước!

Sáu năm sau đó khi ra khỏi trại cải tạo thì tôi đã quen với cái đầu gối bể lắm rồi, quen đến độ không nhớ đến nó nữa, và ở chỗ đất bằng phẳng thì tôi đi lại thoải mái không có vẻ bị thương tật gì cả. Nhưng khi về đến nhà thì “chuyện cái đầu gối” lại được hâm nóng, vì người thân, bạn bè ai cũng hỏi han về nó. Người lạ, trừ những người tinh ý lắm, nhìn tôi đi không ai biết là tôi bị tật. Ðiều làm tôi mừng nhất là tôi có thể đi xe đạp được, đó là trắc nghiệm đầu tiên tôi làm khi tôi về với xã hội, vì xã hội “xã hội chủ nghĩa” mà không đi xe đạp được thì kể như là bị què chân. Còn chuyện lái xe hơi thì tôi không có xe thử nhưng biết chắc là không có vấn đề, vì tôi biết cái nơi tôi đang tìm đến (Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà) là nước Mỹ, lái xe hơi chỉ cần dùng chân mặt là đủ rồi.

Gần hai năm sau khi đến Hoa Kỳ thì tôi lên bàn mổ để sửa sang lại cái đầu gối. Ðó là kết quả của biết bao khuyến cáo của những vị chuyên môn, của bạn bè quan tâm đến cuộc đời tôi, của anh em lo lắng giúp tôi mua được bảo hiểm để trang trải vụ mổ... Cái đầu gối của tôi, nó im ỉm vô tình là thế, nhưng đã giúp tôi thấy lại được điều quí giá ở đời là sự quan tâm đến nhau, chất men làm cho cuộc sống trở nên nồng ấm. Sau khi nhấp chén cay đắng, đã bị làm cho cho hại, cho tàn, cho cân, tôi đã tìm thấy lại chất men nồng ấy của cuộc đời, mà cái đầu gối đôi khi cũng chỉ là một cái cớ.

Ba cái đinh vít dài đã được Bác sĩ Daniel Stein của bệnh viện Fountain Valley vặn vào để nối hai mảnh vỡ của xương bánh chè ấy lại sau mười ba năm chúng tách biệt nhau. Tôi nhớ lại lời của Phi nói mười ba năm trước: “Trường hợp của anh nếu là ở bên Trung Quốc, người ta sẽ nối hai mảnh vỡ lại bằng sợi ruột mèo.” Ðể phục hồi chức năng đã mất của cái chân, cần thiết là phải nối lại các mảnh vỡ, dù bằng đinh vít hay ruột mèo. Giờ này, khi tôi viết kể lại câu chuyện này - hơn ba tháng sau khi mổ - thì tôi đã đi lại được khá bình thường, cái đầu gối đã trở nên tròn trịa chứ không nhô lên xấu xí mỗi khi co chân như trước nữa, và nhiều khả năng đã mất nay đang dần dần, mỗi ngày một ít, phục hồi trở lại. Một người bạn, sau khi biết tôi hiện mang ba cái đinh vít trong chân, đã cười nói: “Coi chừng, mỗi khi anh đi máy bay, qua cổng kiểm soát vũ khí chuông sẽ reo đấy.”

Tôi nghĩ nếu thật như thế thì cũng là điều hay, nó sẽ nhắc cho tôi nhớ lại câu chuyện này, nhớ cái đau đớn, khổ sở, nhớ đến tình bạn bè trong cơn hoạn nạn, nhớ Phi và những người anh em dân tộc thiểu số đã thoáng qua cuộc đời tôi như một ánh chớp, và nhớ đến hơi men nồng ấm của cuộc đời vẫn luôn luôn còn bên tôi... Ba cái đinh trong đầu gối tôi cũng sẽ như cái vòng kim cô trên đầu Tôn Hành Giả, khi qua cổng kiểm soát chuông sẽ reo lên chẳng khác nào hễ niệm chú thì bị đau đầu, cốt để nhắc nhở rằng ở đời có những điều không nên quên. Thỉnh thoảng cũng cần phải nhắc, vì tôi sợ trong cuộc sống hấp tấp này, mọi chuyện rồi sẽ dễ quên lắm!

Viết xong ngày 8 tháng Hai 1995