Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Y Thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Y Thư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Trang thơ Xuân

Tranh Đinh Trường Chinh

Năm Mới Đang Về

Trần Mộng Tú


Tôi do dự không muốn rời năm cũ

ngẩn ngơ nhìn không nỡ để trôi qua

giọt nước mưa còn đọng trên cuống lá

ai nỡ rung cho rớt những cánh hoa


Năm vừa qua đôi lần tay tôi đặt

bông hoa cuối cùng trên ngực của ai

vẫn nhớ hương xưa còn trên tóc ấy

vẫn nhớ khi tay được nắm bàn tay


Năm Mới đang rủ nhau về thành phố

gõ lên cánh cửa khép chặt đòi vào

cửa ơi đừng mở tôi còn rất ít 

cả bốn mùa chỉ một vốc trăng sao


Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2023

Thơ Trịnh Y Thư

Rèm cửa sổ mùa đông

Rèm cửa sổ suốt mùa đông không mở

cho tôi nằm ngắm nhìn em trang điểm

     trước tấm gương tròn

     trong gương

     đôi vú màu hồng

     che giấu nét tàn phai

     dưới làn da bụng

     buồng trứng rỗng ruột

     vẫn thao thức chờ.


Em đã quên từ lâu những cơn gió chướng

luẩn quẩn trốn tìm trong nhịp điệu thời gian

     khoảnh khắc phù du

     buốt tràn lên cung bậc.


Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

Tin Sách: Căn phòng riêng (Virginia Woolf, Trịnh Y Thư dịch) - Trích chương VI

DML_Cover_PreOrder.jpg
VHLogo_Caybut.jpg

 


Trân trọng giới thiệu:



Căn phòng riêng

Tiểu luận văn học


Virginia Woolf

Trịnh Y Thư dịch


VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2023






LỜI NGƯỜI DỊCH


Suốt thời gian gần trăm năm qua, từ ngày xuất bản năm 1929, cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf vẫn được xem là tập tiểu luận văn học có tầm ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách đặt vấn đề của nó. Nó là cuốn sách được nhật báo Le Monde của Pháp quốc xếp hạng thứ 69 trong số 100 cuốn sách hay, giá trị, đáng đọc nhất thế kỷ XX. Kỳ thực, nó là cuốn sách đặt nền móng cho Nữ quyền luận trong hai lĩnh vực tư tưởng và phê bình văn học. Cuốn sách được hình thành dựa trên loạt bài thuyết trình Woolf đọc trước cử tọa toàn phái nữ tại hai trường cao đẳng dành riêng cho phụ nữ, Newham và Girton, thuộc trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh quốc, vào năm 1928, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.”

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

Trịnh Y Thư: Trần Vũ - Phép tính của một nho sĩ

1.

Hai phẩm cách đáng kể nhất của một nhà văn là ngôn ngữ và sự tưởng tượng. Nhà văn Trần Vũ – qua tập truyện Phép tính của một nho sĩ (Công ty sách Nhã Nam liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, 2019) – hình như có cả hai. Đây không phải là cuốn sách sáng tác theo công thức có sẵn, kể lể một câu chuyện mà người đọc chưa đọc hết mươi dòng đầu đã biết tác giả muốn nói gì, kết cục ra sao. Nó không phải là cuốn sách đọc qua là quên ngay, chẳng lưu lại trong bộ nhớ người đọc được vài sát-na. Nó khó khăn bắt người đọc trăn trở cùng nó, cùng chiêm nghiệm những góc cạnh đầy gai nhọn nhức nhối từ lịch sử đến siêu hình; từ bản thể đến bản nguyên con người; từ dục vọng thấp hèn đến lý tưởng cao vợi. Nó là cuốn sách đầy cá tính – You either hate it or love it, there is no midway here, no equidistance – để từ đó, hiển lộ một tính cách khai phá cực đoan hiếm thấy trong ngôi nhà văn chương Việt Nam. Những truyện ngắn của Trần Vũ trong tập truyện, tác giả viết không phải để làm cái gì phải đạo, viết không để làm vừa lòng ai, thậm chí viết để thách thức, để đưa ra một Cái Khác, một Lịch sử khác, một Thực tại khác. Bạn hoặc đồng ý, hăng hái tán thành, hoặc phẫn nộ phản đối, mà theo tôi, cả hai phản ứng đều là chỉ dấu cho sự thành công của ngòi bút, bởi như nhà văn Franz Kafka từng nói, “Một cuốn sách phải là chiếc búa tạ dùng để đập vỡ tan biển cả đóng băng bên trong chúng ta.”

Bao trùm trên tất cả những điều đó là thủ pháp siêu hư cấu mà tác giả sử dụng tới hạn trong hầu hết các truyện. Siêu hư cấu là một thủ pháp văn chương, trong đó phần tự sự, miêu thuật cũng như nhân vật luôn luôn nhắc nhở người đọc rằng những gì anh/chị đang đọc chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu, chẳng có gì thực. Siêu hư cấu phá bỏ bức tường ngăn chia giữa người viết và người đọc, xóa mờ đường biên, giải trừ tính lưỡng phân, giữa thế giới thực tại và thế giới hư cấu. Nó trực tiếp nhắm thẳng vào người đọc, khiến người đọc có thể tra vấn chính văn bản của câu chuyện. Hơn nữa, siêu hư cấu cho phép tác giả đắp thêm một tầng tưởng tượng bên trên tầng tưởng tượng thông thường thường thấy trong bất kỳ một tác phẩm tiểu thuyết hay truyện ngắn nào. Hiệu ứng của nó là một trải nghiệm văn chương bất chấp quy ước, gây thú vị cho người đọc, và làm bật mở những chiều kích bình thường không cảm nhận được. Sử dụng một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không gượng ép, thủ pháp siêu hư cấu đánh đổ rào cản nhận thức quy ước để sự thật hiển lộ, để đưa ra cái nhìn khác – tuy thậm xưng, gay gắt, nhưng lại vô cùng chính xác và đau đớn – về thân phận con người. Nói như thế bởi tôi đang nghĩ đến cuốn tiểu thuyết Chiến hữu trùng phùng của nhà văn Mạc Ngôn.

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

Trịnh Y Thư: Milan Kundera - Cái cười cái nhẹ cái quên

Milan Kundera

Trong bài tựa cuốn tiểu thuyết Chuyện đùa, Milan Kundera thuật lại giai thoại sau: Năm 1980 (lúc này ông đã cùng gia đình sang Pháp định cư), có buổi hội thảo trên kênh truyền hình nào đó nói về sự nghiệp văn học của ông. Một nhân vật trong thành phần tham dự đứng lên phát biểu, gọi cuốn Chuyện đùa là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo tội ác của chủ nghĩa Stalin. Kundera nghe vậy vội vàng ngắt lời, “Ông làm ơn đừng gán ghép chủ nghĩa Stalin của ông vào tôi. Chuyện đùa chỉ là một câu chuyện tình.”

Quả vậy, mặc dù tiểu thuyết Kundera không thiếu những mạch đoạn viết về chính trị – đúng hơn lịch sử chính trị – và ông không bao giờ che giấu thái độ hằn học, gần như thù hận, với nước Nga, bởi quốc gia này đã gây nên không biết bao nhiêu tai họa và thống khổ cho quê hương, dân tộc ông, thậm chí cho chính cá nhân ông, nhưng thật sai lầm nếu chúng ta bới móc giữa những dòng chữ ông viết để tìm kiếm một thông điệp hay luận đề chính trị nào. Ông có vẻ dị ứng với tất cả những điều đó. Với ông, Lịch sử chỉ là tấm phông trừu tượng mà ông ví tiểu thuyết gia như nhà thiết kế sân khấu kịch sử dụng để kiến dựng một tiết kịch. Câu nói “Tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu của sử gia” thường được ông nhắc đi nhắc lại trong những bài tiểu luận (ngoài vai trò một tiểu thuyết gia hàng đầu trên thế giới vào nửa sau thế kỷ XX, Kundera còn là một ngòi bút viết tiểu luận văn học xuất sắc) như trong những đoạn viết sau:

Bởi Lịch sử, với tất cả những động thái của nó, chiến tranh, cách mạng, phản cách mạng, quốc nhục, không được chen vào can dự ngòi bút của nhà văn – không thể để nó trở thành đề tài cho nhà văn minh họa, lên án hoặc biện giải. Tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu của sử gia; nhà văn có thể bị mê hoặc bởi Lịch sử, nhưng bởi nó là thứ đèn giọi xoay vòng chạy xung quanh hiện hữu con người, chiếu luồng sáng lên nó, lên những khả thể bất ngờ, mà ở những lúc bình ổn, khi Lịch sử đứng yên, không ló mặt ra phía trước, chúng nằm yên phía sau, không ai thấy, không ai nhận biết.
Lịch sử nhẹ như đời sống cá nhân con người, nhẹ khôn kham, nhẹ như lông hồng, nhẹ như hạt bụi cuốn lên không trung, như bất cứ cái gì ngày mai không tồn tại.

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2021

Trịnh Y Thư: Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being

Nguyễn Lương Vỵ [1952-2021]
(Trong ký ức Đinh Trường Chinh, 2021)

Có thể nói những bài thơ trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ (xuất bản cuối năm 2014) là những biến tấu liên miên bất tận của cái Being.

Being chứ không phải đời sống như chúng ta thường hiểu. Bạn có thể gọi nó là kiếp nhân sinh, kiếp người, đời sống, hữu thể, hiện tồn, hiện hữu, hiện sinh, hiện tính, thể tính, hoặc cả chục từ ngữ khác tương tự. Nhưng xin bạn cho phép tôi gọi nó bằng cái từ tiếng Anh Being. Giản dị, hàm súc, nhưng hết sức bao la, gợi mở. Dịch sang tiếng Việt, gọi nó là “đời sống” hoặc “kiếp người” thì không đủ nghĩa, còn các thuật ngữ Hán-Việt thì bị tô đậm bởi màu sắc Triết học nặng nề, khó hiểu. Kỳ thực, dưới luồng sáng của Triết học, Being được định nghĩa là, “Một hình thái ý thức chủ quan lẫn khách quan lý giải thực tại và sự hiện hữu.” Các triết gia Hy Lạp cổ đại nói nhiều về nó. Sang thời cận, hiện đại các triết gia như Hegel, Heidegger, Sartre, v.v… cũng tốn khá nhiều giấy mực về nó. Tuy nhiên, bởi không mấy mặn mà với Triết học nên tôi thích hiểu từ Being theo cái nhìn của thi ca, một suy nghiệm giao thoa giữa thực tại và huyễn mộng, bằng một thứ ngôn ngữ trong suốt chứ không dày đặc thuật ngữ vốn rất dễ đưa người ta sa vào chốn hỏa mù. Being dưới mắt nhìn của thi ca, có lẽ đơn giản hơn và dĩ nhiên “thơ” hơn. Vì nó, Shakespeare băn khoăn, “to be or not to be”; Nguyễn Du gọi nó là “cuộc bể dâu [với] những điều trông thấy mà đau đớn lòng”; gần chúng ta hơn, Milan Kundera gọi nó là cái “hệ toán hiện sinh”; và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, với tinh thần cụ thể Việt Nam tính, thấy gì nói đó, gọi nó là “bầu trời lộn ngược.” Hiển nhiên, các thi sĩ cũng đã tốn không ít giấy mực cho cái Being mà tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ này là tốn kém mới nhất.

Mở tập thơ, tôi bắt gặp ngay thái độ và câu trả lời của nhà thơ, mà tôi đặc biệt yêu thích và tâm đắc, về cái Being, “Hỏi ta vui hay buồn? Theo nắng sáng xuống phố!” (Âm cuối thu). Một thái độ trầm tĩnh thấm đẫm tinh thần Đạo giáo đông phương! Nhẹ nhàng. Phơi phới. Thong dong. Không cần đi vào những suy nghiệm siêu hình mà lại tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, đó là lợi thế của thi ca trên Triết học. Câu thơ biểu hiện một ý thức trong sáng nắm bắt được lẽ sống thiên nhiên, thấu hiểu lẽ đời và những hữu hạn tất yếu của con người sinh sống trong đó. Sống hài hòa với những quy luật tự nhiên, sống nương theo lẽ đời chứ không chinh phục cuộc đời; sống luôn luôn khiêm tốn, chẳng bao giờ dám vọng động đến độ tự nhận mình là đỉnh cao (mà khiếp hãi nhất là đỉnh cao trí tuệ). Phải chăng đấy là triết lý sống của người xưa mà ngày nay chúng ta gần như quên bẵng?

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Trịnh Y Thư: Chia biệt nhà văn Nhật Tiến [1936-2020]

 Đối với những người viết thuộc thế hệ tôi, gần như ai cũng ít nhiều đọc văn Nhật Tiến ở tuổi đang trưởng thành. Những trang viết trong sáng và nhân ái của ông đã là hành trang cho tuổi trẻ học trò chúng tôi lúc bấy giờ. Và như chính ông nhiều lần khẳng định, ông là một nhà giáo trước khi là nhà văn, chữ “Nhà Giáo” được ông trân trọng viết hoa trong suốt cuộc đời ông, và có lẽ đó là lý do chính khiến ông bất chấp hiểm nguy liều mình bỏ nước ra đi. Ông viết như sau trong cuốn Nhà giáo một thời nhếch nhác: “… trải gần 4 năm trầy trợt dưới một mái trường XHCN, tôi phát giác ra rằng ở đấy người ta không những không trang bị điều gì tốt đẹp thêm cho nhận thức của nhà giáo, mà tệ hơn, lại còn không cho phép các thầy các cô được làm tròn vai trò của một nhà giáo đúng nghĩa.” 

Tôi nhìn thấy ông trong tư cách một nhà giáo hôm tôi ghé tòa soạn báo Học Đường Mới đâu năm 66 hay 67 gì đó. Lúc đó tôi là cậu học sinh Trung học tập tành thơ văn và ông phụ trách trang văn nghệ cho tờ Học Đường Mới, một tờ báo dành riêng cho thanh thiếu niên. Tôi đến để đưa bài đăng báo, và ông đã tiếp tôi như một người lớn, dành cho tôi nhiều cảm tình tốt đẹp. Chỉ một lần mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ dù hơn nửa thế kỷ đời người đã trôi qua. Nhớ vì cái nhân cách của ông. Nhân cách đó còn mãi sau này, khi tôi gặp lại ông ở hải ngoại.

 

Năm 1970 tôi lên đường đi du học, và trong va li của tôi hôm ra phi trường, tôi nhét vào ba cuốn sách, một trong ba cuốn ấy là tiểu thuyết Chuyện Bé Phượng của ông. Cuốn sách tôi vẫn giữ kỹ cho đến ngày hôm nay.

 

Nhật Tiến là nhà văn của thời đại, một thời đại cực kỳ nhiễu nhương và tang tóc của dân tộc, và ông đã hoàn tất nhiệm vụ vô cùng khó khăn của nhà văn là nói được tiếng nói của thời đại mình. Ông viết không phải để cho mình. Ông viết thay những kẻ bất hạnh trong xã hội, những kẻ thấp cổ bé miệng không có tiếng nói, và ông không bao giờ chịu bẻ cong ngòi bút. Nhà văn Mai Thảo khi còn tại thế, gọi Nhật Tiến là “người đứng ngoài nắng.” Ông “đứng ngoài nắng” bởi ông đã chọn thứ văn chương mà André Gide gọi là “văn chương dấn thân.” Vâng, Nhật Tiến “dấn thân” ra “đứng ngoài nắng” để tìm bóng mát cho chúng ta, và chỉ chừng đó thôi, chúng ta đã chịu ơn ông nhiều biết dường nào.

 


Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

Trịnh Y Thư: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào?

Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.

Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.

Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…

Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.

Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng ba gãy súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn học.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Gabriel García Márquez: Chết lần thứ ba (Trịnh Y Thư dịch)

Gabriel García Márquez [1927-2014], Nobel Văn chương 1972
Dịch COVID-19, tôi thường xuyên nghĩ đến cái chết, lý do dễ hiểu, có quá nhiều người chết xung quanh. Nhìn bức ảnh chụp những chiếc quan tài màu trắng nằm xếp lớp, chen chúc trong một mồ chôn tập thể, có các nhân viên mặc áo bảo hộ trắng từ đầu đến chân, lấp đất, chắc bạn cũng như tôi, chẳng thể nào che giấu được sự mất mát to lớn trong lòng, sự hoang mang về tương lai loài người, sự mong manh của kiếp người, sự khiếp hãi của đời sống… Tin tức dồn dập từng giờ, từng ngày, bao nhiêu người bị dương tính, bao nhiêu người chết, tất cả như trong ác mộng, không thể nào tin được cái gì đang thật sự xảy ra trên thế giới, đang diễn ra trước mắt mình.

Cái chết sao dễ dàng thế, chết như mơ, chết như đang làm một chuyến du hành. (Thực sự là một chuyến du hành về bên kia thế giới.) Chứng kiến những cái chết như thế, để trấn át nỗi hoang mang ghê rợn, bạn có thể tìm đến đức tin tôn giáo. Tốt thôi. Tôi hiểu sức mạnh tâm linh có thể giúp người ta bước qua cơn hoạn nạn. Hoặc bạn có thể vào phòng làm tình với vợ, hoặc người yêu. Cũng tốt thôi. Tôi hiểu khi bất an, người ta cần đi sâu vào nhau tìm sự vỗ về, an ủi, để khơi dòng nước tắc nghẽn nơi sông cạn cho nó chảy chan hòa ra biển cả mênh mông. Hoặc bạn có thể nốc hết chai Macallan rồi gục xuống sô pha mà ngủ. Vẫn tốt thôi. Tôi biết những biến động kinh hoàng xung quanh tác động sâu sắc lên tâm hồn mẫn cảm, dễ bi lụy của bạn, và bạn đành tìm quên trong men rượu. Bạn có thể làm bất cứ điều gì khả dĩ giúp bạn vượt qua cơn khó này. Riêng tôi, tôi tìm đến văn chương.

Lại kệ sách tôi cầm xuống tập truyện ngắn của Gabriel García Márquez. Đọc đã lâu, nhưng tôi nhớ trong đó có vài ba truyện ngắn Márquez viết về cái chết.

Hiếm có nhà văn nào viết về cái chết như Márquez. Khí hậu “Hiện thực Huyền ảo” đã khiến ông có thể viết những điều mà một ngòi bút “Hiện thực Tả chân” không thể nào làm nổi: Đi vào phần sâu thẳm nhất của bản ngã và kiếp người để trực diện với cái kinh khiếp nhất. Cái chết. Trực diện để thấy rằng đời sống vẫn đáng sống, để thấy tôi và bạn là những kẻ may mắn vì chúng ta vẫn còn trông thấy mặt nhau. Và nhất là để sống sao cho xứng đáng, một điều cực kỳ khó khăn cho con người chúng ta.

Tôi mất ba hôm để dịch thiên truyện này, xin chia sẻ với bạn, mong bạn an lành trong mùa đại dịch. – Trịnh Y Thư.

***

Lại cái âm thanh ấy. Âm thanh nhức óc, lạnh lẽo hắn đã nghe rất nhiều lần; nhưng không hiểu vì sao lần này hắn thấy có cái gì chói lói và đau đớn, như thể chỉ qua đêm hắn không còn nhớ gì cái âm thanh ấy nữa.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Trịnh Y Thư: Đại dịch COVID-19, đọc lại La Peste của Albert Camus

Nằm nhà rảnh rỗi suốt những ngày đại dịch Coronavirus Disease-2019 (COVID-19) hoành hành khắp nơi trên thế giới, tôi lại kệ sách lấy xuống cuốn tiểu thuyết La Peste của Albert Camus đọc lại, và sau khi đọc tôi bỗng giật mình vì những gì đang xảy ra quanh tôi ngày nay đã được Camus miêu tả thật chính xác cách đây trên 70 năm.

Trong cuốn tiểu thuyết này, xuất bản năm 1947, với bối cảnh là thị trấn Oran, xứ Algerie – lúc đó còn là thuộc địa Pháp – Camus thuật câu chuyện xoay quanh một trận dịch hạch khủng khiếp, tàn phá tan hoang cả thị trấn, và khi trận dịch chấm dứt thì không một ai trong thị trấn không bị ảnh hưởng, nặng là cái chết, nhẹ tuy may mắn sống sót nhưng cả thể xác lẫn tâm hồn chẳng còn như cũ nữa. Cuốn sách hiển nhiên hàm chứa nhiều tư tưởng Hiện sinh, nhiều ẩn dụ, thậm chí có những câu văn đa nghĩa, và tất cả hình như quy chiếu vào tính cách, định mệnh và thân phận con người trong một thế giới phi lý, biểu hiện bởi thần thoại Sisyphus – kiên trì lăn tảng đá lên đỉnh núi, để tảng đá lăn xuống chân núi, rồi lại bắt đầu ra sức lăn lên.

Bạn hãy cùng tôi đọc lại cuốn tiểu thuyết quan trọng này của Camus để biết đâu chúng ta tìm ra được những điểm song song giữa cuốn tiểu thuyết hư cấu và những sự kiện thực tại đã và đang xảy ra trong cuộc sống vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba này.

Camus thuật, tại thị trấn Oran, thoạt đầu có hàng nghìn con chuột chết ngoài đường phố, nhưng mọi người chẳng ai lưu tâm và chỉ hốt hoảng sau khi báo chí loan tin. Chính quyền địa phương, do áp lực của công luận, phản ứng bằng cách cho nhân viên hốt xác chuột đem đi đốt, mà không biết là làm như thế chỉ khiến dịch bệnh nhiễm truyền nhanh hơn và tác hại khủng khiếp hơn.

Tự phủ nhận hình như là một thuộc tính của con người, nhất là những con người nắm trong tay quyền lực. Không một chính quyền nào, xưa cũng như nay, dân chủ hay độc tài, muốn một xã hội hoảng loạn. Bằng mọi cách, nhiều khi bằng mọi giá, họ phải bưng bít sự thật, phủ nhận sự thật, cùng lúc che giấu càng nhiều càng tốt những khiếm khuyết, sai lầm với hy vọng mọi chuyện sẽ êm thắm trôi qua trong bóng tối và lãng quên. Đó là cái gì xảy ra tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, tháng 11, 12 năm 2019, khi COVID-19 mới được phát hiện. Có bao nhiêu mạng người chết oan vì quyết định vô luân này của nhà nước Cộng sản Trung Quốc? Và nếu thế giới biết sớm hơn thì có lẽ tình trạng ngày nay, như bên Italy, bên Iran, không đến nỗi nguy khổn trăm bề. Chỉ là một giả định, nhưng là giả định đầy thuyết phục.

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2019

Trịnh Y Thư: Đi Nghe Ngàn Khơi 30 Năm Kỷ Niệm

Bích Vân hát bài Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành An.Photo Việt Phạm
Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, Giàn Nhạc Giao Hưởng OCofOC, nhạc trưởng Mộng Thủy với Trường Ca Hòn Vọng Phu trong chương trình kỷ niệm 30 Năm- Photo: Việt Phạm

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

Trịnh Y Thư: Mùa Vu Lan, đọc lại hồi ký tù


1.


Mùa Vu Lan này, có chút thời gian thư thả, tôi lại kệ sách lấy xuống hai cuốn sách cũ ngồi đọc. Đó là hai cuốn hồi ký tù: Ánh sáng và bóng tối của nhà văn Hoàng Liên và Đại học máu của nhà văn Hà Thúc Sinh. Mặc dù đã hơn hai mươi năm trôi qua, khi đọc lại hai tác phẩm với nội dung phơi trần sự thật về chế độ lao tù cộng sản từng gây nhiều chấn động lúc xuất hiện lần đầu, tôi vẫn thấy có cái gì rất mới hiển hiện trên từng trang sách. Hai mươi năm lẻ, từ khi hai cuốn sách ra đời, là thời gian khá dài để hàn gắn nhiều vết thương, ngoại trừ vết thương của những người tù trong cuộc mà tôi biết họ phải gánh chịu cho đến chặng cuối con đường họ đi. Nhưng, dù sao chăng nữa, tôi chẳng thể nào chối bỏ được giá trị văn học cũng như lịch sử của hai cuốn sách, cảm xúc cũ mới cứ thế tràn về lây lan tâm khảm tôi.

Điều khá hiển nhiên, khi đọc hai cuốn sách này cùng lúc, là sự tương phản trong phong cách văn học, trong thể cách trần thuật và nhất là trong tâm cảnh được thể hiện của hai tác giả. Chính vì thế hiệu ứng của mỗi cuốn sách nơi người đọc không giống nhau. Đều nói về các trại giam tù “cải tạo,” đều nói về sự đối xử tàn bạo của chế độ tù, đều nói về những sự kiện nghịch lý, thậm chí phi lý, phi nhân của đời sống tù nhân cải tạo, nhưng một bên là sự chịu đựng thầm lặng, cố hết sức nuốt xuống tất cả mọi tủi hận đắng cay, cố bám víu lấy hy vọng, vẫn tìm ra cái đẹp –chiếc lá đu đủ nửa vàng nửa xanh nổi đường gân trông đẹp đẽ như một bức tranh, người tù trân trọng ghim nó lên tường căn xà lim bẩn thỉu rồi lui lại ngắm nhìn – trong lúc chờ đợi ngày về; còn một bên là sự phẫn nộ, không, đúng hơn là cơn uất hận bốc cháy bừng bừng và uất khí không có chỗ tiêu tán quay vào xâu xé tâm tư, thể xác người tù đến độ cả tâm tư lẫn thể xác hắn rách bươm. Thú thật, trong lúc đọc cuốn Ánh sáng và bóng tối, thần thái tôi khá là nhẹ nhàng, thanh thản; còn với cuốn Đại học máu, từ trang đầu đến trang cuối, lúc nào những sợi dây thần kinh trong não bộ tôi cũng căng thẳng tưởng chừng như sắp đứt.

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Trịnh Y Thư: Cái mới trong văn



Có người bạn văn, chủ biên một trang mạng văn chương, một hôm kêu gọi tôi đóng góp vào số chủ đề anh đang thực hiện. Chủ đề tình yêu. Anh nói tôi có toàn quyền làm chủ ngòi bút mình, viết gì cũng được – “bạo liệt” càng tốt – miễn sao có nghệ thuật và tương đối mới mẻ một chút. Tôi ậm ừ trả lời anh, chẳng nhận lời mà cũng không từ chối. Tôi hiểu ý anh nhưng đột nhiên tôi cắc cớ tự đặt ra câu hỏi trong đầu với chính mình: Có gì mới lạ nơi tình yêu không?

Thật ra, làm gì có cái mới lạ dưới ánh mặt trời này. Thánh Kinh phán vậy. Và, quả tình, tôi chẳng biết có cách nào dùng văn chương để “làm mới” tình yêu. Đừng bảo tôi cực đoan nếu – nhìn từ góc độ nào đó – tôi bảo tất cả những bài thơ tình đông tây kim cổ chẳng qua chỉ là biến tấu từ mẫu đề 

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.

do một thi nhân nào đó sống cách đây hai ba nghìn năm ở lưu vực sông Hoàng Hà, trong giây phút ngẩn ngơ nhìn người con gái đẹp giặt lụa ven sông, lòng bỗng tràn ngập nỗi cảm xúc yêu thương, viết xuống. Tình yêu, chính nó, chắc không có gì mới lạ. Cảm xúc con người hai ba nghìn năm qua chẳng đổi khác bao nhiêu. Hai ba nghìn năm còn phù du, ngắn ngủi hơn một sát na trong biến trình tiến hóa của con người; bởi thế, chắc chắn hai ba nghìn năm sau con người vẫn thế, vẫn chừng đấy thương yêu, thù ghét, chừng đấy những quan hệ giữa người và người.

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2019

Trịnh Y Thư: Cái cười


1.


Nhà văn Võ Phiến, trong một tùy bút viết năm 1967, tỏ ý thắc mắc tại sao trong văn học của ta lẫn tàu đều thiếu vắng tiếng cười. Ông bảo nếu dựa trên sách vở mà nói thì đó là những dân tộc không biết cười. Ông viết như sau:

“Văn học Trung Hoa từ xưa tới nay phong phú vô kể: muốn tìm trong đó thơ văn lâm ly thống thiết, không thiếu gì; muốn tìm những truyện ly kỳ quái đản, cũng không thiếu gì; thậm chí muốn tìm những cái tục tĩu (tức cái phát kiến rất mới mẻ của Âu Tây) thì tưởng Kim Bình Mai cũng cống hiến được nhiều đoạn không hổ thẹn với các danh phẩm của Lawrence, Miller… Thế nhưng bị yêu cầu xuất trình một tác phẩm hoạt kê, trào lộng cho có giá trị, chắc chắn cả ta lẫn tàu đều lúng túng.


Những nhân vật nổi tiếng của chúng ta – xuất hiện từ trang sách mà ra – dù nghèo, dù giàu, dù khôn, dù dại, dù thiện, dù ác, đều không có gì đáng cười: Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, Thôi Oanh Oanh, Tống Giang, v.v…”

Lạ chứ! Một dân tộc không biết cười? Nhưng có thật thế không?

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

Du Tử Lê: Trịnh Y Thư, thơ ở quảng trường Siêu thực,


Trường phái Siêu thực xuất hiện trong sinh hoạt thi ca và hội họa, đã có hàng trăm năm trước. Nó khởi đầu từ thủ đô Paris, Pháp quốc. Tới nay, trong Bách Khoa Toàn Thư, Wikipedia – Mở vẫn còn ghi nhận sự thành hình của trường phái này:

“Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Theo chủ trương, khuynh hướng nầy nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội, thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên, không bị gò bó bởi lý trí, lôgic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo. Những sáng tác phẩm của những nghệ sĩ Siêu thực ghi chép tất cả những trạng thái tâm lý luôn luôn chuyển biến trong tiềm thức, không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai.”

“Với trường phái hội họa, những chủ thể rất bình dị được đặt trong một phông màn hoặc bí ẩn, hoặc hùng vĩ, khiến cho bức tranh mang một sức sống mới, ý nghĩa mới, như tồn tại trong mơ cùng những sự vật hiện thực trong trạng thái không thực. (Theo Bách Khoa Từ Điển Triết Học.)”

Ở Việt Nam, người sớm nhất bước vào trường phái thơ Siêu thực là cố thi sĩ Bích Khê / Lê Quang Lương (1916-1946) với thi phẩm Tinh Huyết xuất bản năm 1939.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Trịnh Y Thư: Thận Nhiên - Những ghi chép trên tầng thứ 14


1.


Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí văn học The Paris Review cách đây khá lâu, nhà văn Nhật Hakuri Murakami có một phát biểu rất ý nhị, “Cái hay của việc viết văn là bạn có thể mơ trong lúc thực sự đang tỉnh táo.” Tôi thấy điều đó quá đúng, bởi nếu bạn không mơ mộng, không mơ ngày, không sống với không-thời-gian của tưởng tượng bay bổng trong cõi huyền ảo, phi thực tại thì có lẽ bạn không nên chọn nghiệp văn. Đối với những người cầm bút như Murakami, viết tức là mơ, là mộng du trong chốn phi thực. Sự khác biệt với mộng du trong lúc ngủ là ý thức vẫn hiện hữu, mơ và thực bởi thế hòa quyện nhau, trí tưởng tượng vượt ra ngoài kiểm soát của lí trí. Nhờ đó, người viết không nhất thiết quan tâm nhiều đến cái giống thật, không phải bám sát sự thật để có thể dễ dàng mạo hiểm vào những cảnh giới mới của sáng tạo. Tôi đồ khi viết cuốn tiểu thuyết Những ghi chép trên tầng thứ 14 [Văn Học Press xuất bản, 2019] nhà văn Thận Nhiên của văn học Việt Nam hải ngoại cũng ở trong một tâm cảnh tương tự. Chính vì thế, mặc dù cuốn tiểu thuyết phản ánh khá nhiều đời sống thật của tác giả ngoài đời – khiến người đọc không ngớt thắc mắc phải chăng nhân vật chính diện ở ngôi thứ nhất ấy chính là tác giả – nhưng thật sai lầm nếu chúng ta xem đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện, và càng sai lầm hơn nếu chúng ta đánh giá nó dưới góc độ hiện thực.

Ngay ở câu văn mở đầu cuốn tiểu thuyết, “Sài Gòn là một thành phố có nhiều ma nhất trên thế giới…” nhà văn đã ngầm báo hiệu cho chúng ta biết ngay những gì anh viết trong cuốn sách chẳng có gì là “chân” mà phần nhiều có khả năng là “giả.” (Nó khiến tôi liên tưởng đến câu văn mở đầu cuốn The Metamorphosis của Franz Kafka.) “Giả” ở đây không có nghĩa là fake, mặc dù chúng ta đang sống trong một thời đại mà ngay cả tình yêu cũng fake, không “thật” chút nào. “Giả,” hay hư cấu, hay dấn thêm bước nữa – siêu thực, phi lí, phi thực – trong tiểu thuyết là cái gì khiến óc tưởng tượng nổ bùng như trong giấc mơ khiến chúng ta có thể truy tìm một hay nhiều khả thể khác bên dưới cái mặt bằng hiện thực phẳng lì, nhàm chán.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

Hồ Đình Nghiêm: Y Thư Và Thơ Văn

Trịnh Y Thư – Ảnh tự chụp,Egyptian Museum, San José, CA, 2019
Tôi gửi bài, góp mặt với tạp chí Văn Học khá muộn, vào năm 1986. Vẫn đón nhận những lá thư ngắn gửi qua bưu điện của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, khích lệ và thân tình chia sẻ những kinh nghiệm sáng tác cho lớp đi sau (như tôi). Tôi nói khá muộn vì trước đó tôi thường gửi truyện ngắn tới Đất Mới, Văn, Làng Văn… Tôi yêu thích Văn Học hơn các tạp chí khác, cộng tác khá đều đặn, tới tháng 12 năm 1990 vẫn còn “chung tình”. Bấy giờ chủ bút đã là Trịnh Y Thư.

Anh là ai? Ở xa tôi vẫn giữ một “ảo ảnh”. Không những chậm trễ khi đến với tạp chí Văn Học, tôi còn mù mờ thông tin, chậm lụt một vài thứ khác, vẫn thường lỡ biết bao chuyến xe. Thời gian gần đây, trong “phế tích” của trí nhớ bỗng nổi cộm tên tuổi cũ: Trịnh Y Thư. Người cao thủ biết môn công phu phân thân: Anh là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, vẫn thường chơi guitar nhạc cổ điển và cũng đang tự mình đứng ra coi sóc nhà Văn Học Press tại California, Hoa Kỳ. Như thế, dẫu cho chậm bước, tôi tự nhủ, nếu không tìm cách lân la đến bên anh quả là một thiếu sót lớn. Có thể bạn sẽ trách tôi dùng “ảo ảnh” với “phế tích” trong câu trên là không chỉnh. Xin thưa: Tôi đã vay mượn chữ, “Phế Tích Của Ảo Ảnh” là nhan tập thơ của người tài hoa Trịnh Y Thư. Bạn có nhín chút thời gian để nhàn du cùng chúng tôi không? Xin vui lòng.

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Trịnh Y Thư: Vân-Ánh Vanessa Võ – Sao Bắc đẩu

Nhạc sĩ / Nhà soạn nhạc Vân-Ánh Vanessa Võ.

1.

Hãy tưởng tượng một buổi tối trong một khán trường trang trọng vào bậc nhất của thành phố, bạn và gần nghìn khán thính giả khác nín thở trong im lặng tuyệt đối theo dõi những vũ điệu tuyệt luân của những vũ công thuần thục, biểu diễn những chuyển động khi vũ bão khi dịu dàng, khi tiết chế khi man dại, như bay trong chân không, như thể trọng lực của quả đất chẳng hề có sức hút nào đáng kể đối với họ, và cảm xúc trong tim bạn dâng trào đến độ ngẩn ngơ lúc bạn nhận ra những chuyển động của những vũ công ballet dày công luyện tập ấy ăn nhịp sát sao với những nốt nhạc một bài ca trù thơ Hồ Xuân Hương! Và rất nhiều âm thanh, giai điệu khác, với phong cách sáng tạo hiện đại, vang lên từ các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, đàn tranh, đàn bầu... Một buổi diễn có một không hai, tôi dám khẳng định như thế. Sự ngạc nhiên lúc ban đầu mau chóng nhường chỗ cho niềm thú vị hiếm thấy trong một chương trình ca vũ, bởi đó là sự phối ngẫu tuyệt hảo giữa nghệ thuật múa và nghệ thuật âm thanh.


Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

Trịnh Y Thư: Nghìn thu từ độ

Hình minh họa, PATRIK STOLLARZ/AFP/Getty Images

Nghìn thu từ độ 


1. 
Giật mình tiếng khánh nhẹ khua 
ngẩn ngơ chiếc lá chuyển mùa bay sang 
duềnh quyên bóng động hai hàng 
nghìn thu từ độ vẫn bàng hoàng trôi. 

2. 
Nghe trong cô quạnh tiếng mưa 
rơi thầm vào những bến bờ mù tăm 
rừng xưa lỡ hẹn trăm năm 
ngoảnh trông mộ chí chỗ nằm mộng dư. 

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Trịnh Y Thư: Chuyện Tình

1.


Tôi yêu cô bé quá mất thôi!

Lần đầu gặp cô gái, tôi bị cô “khống chế” ngay: “Xin lỗi anh nhà văn, em có mấy điều thắc mắc về tiếng Việt . . . muốn hỏi anh, có được không ạ.”

Tôi nhớ hôm đó tôi có cuốn sách mới in và lũ bạn văn nghệ tổ chức ra mắt sách cho tôi. Tự thâm tâm tôi biết cuốn sách chẳng ra gì, một thứ văn chương thời thượng, nhưng cái nếp ra mắt sách đã thành thông lệ ở miền đất này và phần thưởng duy nhất cho người viết sách là những lời tâng bốc lên tận mây xanh (nhưng cũng đầy giả trá).

Cô gái đợi mọi người ra về gần hết mới mon men đến hỏi tôi.

“Vâng, cô cứ hỏi.” Tôi đáp lời cô như thể tôi là vị giáo sư đang chờ đợi câu hỏi từ cô sinh viên ngơ ngác hôm đầu tiên ôm sách đến giảng đường đại học. Dễ chừng tôi hơn cô đến chục tuổi. Có trịch thượng một chút chắc cũng chẳng sao. Cô gái trông như con trai, tóc cắt ngắn, khuôn mặt sáng sắc lẻm, đeo kính trắng gọng tròn. Tôi bị khuôn mặt đó thu hút ngay lập tức.

“Em phải nói trước với anh là em qua Mỹ khi mới năm tuổi nên tiếngViệt em dở lắm.”

“Cô đừng ngại. Tôi sẽ cố gắng trả lời cô với tất cả kiến thức tôi có.”

Cô không ngập ngừng. Hình như cô chuẩn bị sẵn câu hỏi trong đầu, “Điều em thắc mắc là trong tiếng Việt, khi nói một đồng năm mươi xu người ta nói một đồng rưỡi, rưỡi dấu ngã, còn khi nói một trăm năm mươi đồng hay một ngàn năm trăm đồng người ta lại nói một trăm rưởi, một ngàn rưởi, rưởi dấu hỏi. Người Nam, người Trung không phân biệt nhưng tiếng Bắc và nhất là chữ viết, rưỡi và rưởi không được quyền tùy tiện. Em thắc mắc hoài về điều này từ khi bố em dạy em tiếng Việt ở nhà. Em hỏi thì bố em bảo ông bà mình xưa nay nói thế, mày thắc mắc làm gì. Em không thích lối trả lời kiểu áp chế nửa mùa đó của bố em nên định bụng khi nào gặp một nhà văn Việt Nam đem ra hỏi . . .”