Hiển thị các bài đăng có nhãn Trùng Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trùng Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

Trùng Dương: Chủ bút, người là ai?

Nhân chủ bút Phạm Phú Minh của Diễn Đàn Thế Kỷ thông báo nghỉ hưu ở tuổi đã-quá-tuổi-hưu 85, tôi đi tìm một tấm thiệp để gửi chúc mừng anh. 

Giá còn vẽ đượcbây giờ thú thật là đến viết, mấy ngón tay vốn quen với bàn máy chữ điện toán đã không còn nghe lời mình nữa, nói chi vẽ!thì đã vẽ cho anh một tấm thiệp. Tôi lục trên Internet và bắt gặp bức hình bên dưới trong khi nghĩ tới bài viết gần đây của anh Nguyễn Tường Thiết trên Diễn Đàn Thế Kỷ, trong đó anh tuyên bố, rất chân thành, là nếu không có Phạm Phú Minh thì không có Nguyễn Tường Thiết nhà văn.


“Xin cám ơn anh đã có công khai sáng điều tốt đẹp nhất nơi chúng tôi!”
(Ảnh holidappy.com, Pixabay)

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2022

Trùng Dương: Lê Thành Nhơn (1940-2002) - Những mộng lớn & những tác phẩm còn, mất

Tháng 11 năm nay là tròn 20 năm từ ngày điêu khắc gia Lê Thành Nhơn (1940-2002) qua đời tại Melbourne, Úc, nơi anh định cư từ năm 1975.  

Cách đây gần 10 năm khi lang thang quanh trên 200 pho tượng trong công viên điêu khắc nổi tiếng nhất thế giới Vigeland ở Oslo, Norway, tôi nhớ đã tự hỏi không biết hồi còn sinh tiền Nhơn có dịp ghé nơi này—làm sao đã không được!--, và tưởng tuợng nguồn cảm hứng anh có được, mặc dù hình như không lúc nào mà, theo hồi tưởng của nhiều bằng hữu, anh lại thiếu cảm hứng cả. Gần đây, khi soạn bài “Hành trình của Mẹ” và chiêm ngưỡng các hình chụp những pho tượng độc đáo gợi nhiều cảm xúc của điêu khắc gia Ron Mueck, tôi cũng ước ao giá Nhơn có dịp viếng một trong những buổi triển lãm của người nghệ sĩ tạo hình tài ba này. Ở Mueck có cái đam mê hoang dại—như Nhơn--mà lại rất thiết tha, dịu dàng, phản ảnh qua các tác phẩm độc đáo siêu hiện thực của anh. Cảm nghĩ tôi có về nghệ thuật nơi Nhơn cũng vậy: choáng ngợp vì tính cách vĩ đại, song đầy đam mê, tha thiết, dịu dàng, chứa chan tình tự qua những tác phẩm anh đã thực hiện. 


Nhân 20 năm kể từ ngày anh qua đời, tôi thu vén hồ sơ cả điện tử lẫn còn trên giấy, thư từ trao đổi còn giữ được dù không nhiều, cùng là nghiên cứu thêm. Trong khi xục xạo trên Internet hầu cập nhật khoảng trống thông tin trong 20 năm qua, tôi bắt gặp một tiếng nói lần đầu nghe được, song thú vị, giúp tôi lấp được phần nào khoảng trống kéo dài nhiều thập niên thiếu vắng thông tin về Lê Thành Nhơn kể cả khi anh còn sống. Thỉnh thoảng Nguyễn Hưng Quốc bên Úc vẫn gửi thông tin về Nhơn, và điện thư cuối cùng gửi chung cho thân hữu khắp nơi báo tin Nhơn đã từ trần chiều ngày 4 tháng 11, 2002 tại Melbourne. 


Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Trùng Dương: Thăm lại mộ thuyền nhân Việt ở Đông Nam Á

Anh bạn nhà báo Lưu Dân bên Úc gửi cho bản tin phổ biến cuối tháng Tám vừa qua trước ngày nghỉ gọi là Quốc khánh của Hà Nội, tựa là“Khuyến cáo du khách Việt không nên đến một số khu vực tại Indonesia, Philippines và Malaysia”. Lý do: “Tổng cục Du lịch Việt Nam cho biết khuyến cáo này nhằm đảm bảo an toàn cho khách du lịch outbound (khách trong nước ra nước ngoài).”

“Để đảm bảo an toàn cho khách du lịch và tránh phát sinh những vấn đề về chính trị, ngoại giao, đề nghị Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Liên chi hội Lữ hành Việt Nam thông tin, khuyến cáo các doanh nghiệp lữ hành tạm thời không đưa khách đến 3 địa điểm trên,” thông báo của Tổng cục Du lịch Việt Nam cho hay. 

Đọc bản tin, tôi không khỏi bật cuời. Vào thời buổi Internet phát triển vượt bực và tạo cơ hội cho mọi người có dịp tiếp cận với đủ loại thông tin và kiến thức của Thế kỷ 21 này, bất kể các nỗ lực ngăn chặn mà tôi gọi là “lấy thúng úp voi” của chế độ, mà nhà nuớc, qua Tổng cục Du lịch VN, vẫn còn đối xử với người Việt trong nước như một lũ con nít không biết gì. 

Cái mà họ thực sự quan tâm không phải là “an toàn cho du khách”, mà chính là cho thế đứng của chế độ tư bản đỏ song vẫn độc tài của họ đấy thôi.

Chuyện thuyền nhân VN vào cuối thập niên 1970 và suốt thập niên 1980 có mấy ai mà không biết, nếu muốn. Chỉ cần đánh cụm từ “thuyền nhân Việt Nam” hay “Vietnamese boat people” trong bất cứ hộp Search của bất cứ browser nào—Safari, Google, Microsoft Edge, Firefox, Omega, Duckduckgo, vv…--là thấy hiện lên đầy các tài liệu, hình ảnh và phim liệu về thảm kịch kéo dài gần hai thập niên này. Cho là trong nước những trang Web này có bị chặn thì vẫn có vô vàn các cách khác để tiếp cận thông tin trên Mạng. Người Việt trong nước, khả năng kỹ thuật điện toán nghe nói nhiều khi còn hơn cả nhiều người hải ngoại nữa. 

Tại sao phải đến tận nơi chôn cất các nạn nhân vượt biển đi tìm tự do không may bị bỏ mạng tại các địa điểm như Galang (Indonesia), Bidong (Malaysia) và Palawan (Philippines)? Các du khách trong nước muốn tới tận các nơi này thăm viếng thực ra phần lớn chính là thân nhân của các nạn nhân vượt biển muốn viếng người thân để vun đắp, sửa sang mộ phần và thắp lên một nén hương tưởng nhớ. Cấm đoán họ vì những lý do “an toàn” đâu đâu là một lời dối trá không che dấu được ai, nếu không nói là một sự tàn nhẫn, táng tận lương tâm đối với những người không quên được thân nhân đã chết thảm trên đường đi tìm tự do mấy thập niên trước.


Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Trùng Dương: Văn Quang mà tôi biết

Trước 1975 chúng tôi không quen nhau. Ngoài tuổi tác chênh lệch—anh Văn Quang hơn tôi trên 10 tuổi--cũng còn vì… “phe nhóm” văn chương khác nhau. Tôi cũng chẳng hề đọc anh và ngược lại, có lẽ anh chẳng bao giờ đọc tôi.

Nhưng vào giữa thập niên 1990 thì chúng tôi quen nhau và trở nên thân thiết qua điện thư. Hồi ấy tôi đang cộng tác với một tờ báo Mỹ địa phương ở Stockton, Cali. Anh Hồng Dương, nguyên ký giả báo Chính Luận xưa, đã định cư tại đây từ giữa thập niên 1980. Chúng tôi có biết nhau song cũng chỉ sơ giao ở Sài Gòn. Đồng hương gặp nhau, lại cùng đồng nghiệp xưa, mặc dù Hồng Dương đã sinh hoạt trong ngành khác, nên hai chúng tôi gặp nhau thường xuyên, và vì cùng thích chuyện kỹ thuật điện toán,nên trở nên thân.

Hồi ấy máy computer cá nhân còn tương đối mới, điện thư qua lại còn là chuyện có phần lạ, song ai đã làm quen với nó thì dễ trở nên gắn bó vì thấy bỗng dưng liên lạc được với những người ở tận đẩu tận đâu mà chỉ cần ngồi ở bàn giấy tại gia, nghe có cái gì mầu nhiệm là đàng khác. Qua Hồng Dương và điện thư tôi quen thêm với những người bạn của anh, trong đó có Văn Quang ở Sài Gòn. Chúng tôi họp thành một nhóm điện thư gồm năm người: ngoài tôi, là Hồng Dương, Văn Quang, Tạ Quang Khôi, và Hoàng Ngọc Liên—là những nguời nay đều đã bỏ cuộc chơi.

Trong những chuyện trao đổi với nhau qua điện thư trong thời gian này, hai chuyện liên quan tới Văn Quang mà tôi còn nhớ hơn cả. Thứ nhất là việc băn khoăn đi hay ở của anh sau khi bị tù cộng sản ra và được nhận đi Mỹ qua chương trình HO vào giữa thập niên 1990. Và chuyện thứ hai liên quan tới việc gây quỹ giúp mẹ con nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ.

Nói là băn khoăn nhưng có lẽ anh Văn Quang cũng đã nhiều phần quyết định ở lại. Có lần, qua điện thư, anh kể có một bà nọ có nhiều tiền bạc của cải cất giấu ở đâu đó có đến đề nghị với anh cho bà đi cùng, bà sẽ đền bù hậu hĩ. Tất nhiên là anh không nhận. Tiền bạc đối với anh không phải là một vấn đề trong thời kỳ này khi mà những bài phóng sự về Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung trong loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” đang được độc giả hải ngoại khắp nơi đón nhận. Đó là những bài viết về các thân hữu văn nghệ còn ở lại trong nước, hay điểm tin tức báo chí hàng ngày qua cái nhìn thẳng thắn của anh. Loạt bài này được nhiều báo hải ngoại đăng tải và chăm chỉ trả nhuận bút cho anh, nhờ vậy anh Văn Quang có một đời sống không phải ưu lo về vật chất. Anh bảo nhiều người anh quen biết ở vào diện như anh cần đi Mỹ phần lớn vì nhu cầu gia đình, như con cái còn vị thanh niên cần có một tương lai. Còn anh một thân một mình, các con thì đã khôn lớn có đời sống ổn thoả ở nước ngoài, anh chẳng còn gì để bận tâm.


Trùng Dương: Từ Quảng trường Thiên An Môn tới Quảng trường Maidan - Khát vọng tự do không thể bị dập tắt

Trước khi Tổng thống Nga Vladimir Putin xua quân xâm lăng Ukraine vào ngày 24 tháng Hai vừa qua, giới quan sát quốc tế và cả Mỹ đã tiên đoán quốc gia nhỏ bé với trên 40 triệu dân và ít được biết tới đối với thế giới bên ngoài này sẽ thất thủ trong vòng hai ngày. Chính tổng thống Ukraine, Volodymyr Jelensky, có lẽ cũng không tin là mình sống sót khi nói với giới lãnh đạo Âu châu vào ngày đầu của cuộc xâm lăng là có thể họ sẽ không còn dịp gặp lại ông nữa.

Thực tế đã cho thấy ngược lại.

Dân Ukraine, dưới sự lãnh đạo của vị tổng thống 45 tuổi, vốn là một diễn viên hài, Jelensky, đã kiên quyết chứng tỏ cho thế giới thấy là, ngược lại với lời của TT Putin rằng Ukraine “không phải là một quốc gia có thật”, dân tộc này thực sự đang hiện hữu mặc những đổ vỡ vật chất của hết thành phố này tới thành phố khác và hàng ngàn sinh mạng dân thường do súng đạn quân Nga gây ra xung quanh.

Với thế giới, sự kiên quyết bảo vệ nền dân chủ của dân Ukraine là một một “mặc khải văn hoá” cho thế giới tự do, như nhà bình luận David Brooks của nhật báo New York Times viết, trong bài “Tuần lễ đã thức tỉnh thế giới”.

“Các biến cố ở Ukraine đã nói lên một tàn phá đạo đức và thảm kịch chính trị, song đối với thế giới loài người thì nó là một mặc khải văn hoá. Nó không nói lên điều gì mới, song là một nhắc nhớ cho nhiều người trong chúng ta về điều chúng ta vẫn hằng tin tưởng, và càng tin tưởng thêm, với nhiều quyết tâm hơn nữa. Đây chính là tuần lễ của quyết tâm,” ông Brooks viết.

“Dân tộc Ukraine chính là thầy dậy và đã gợi hứng cho chúng ta,” nhà bình luận Brooks viết. “Họ là những người đàn ông đàn bà thường dân như trong video này xếp hàng để lãnh vũ khí đặng bảo vệ quê hương họ. Họ là người phụ nữ này đã nói với người lính xâm lăng Nga hãy cất vào túi anh ta mớ hạt hoa hướng dương [biểu tượng của đoàn kết]. Họ là hàng ngàn dân Ukraine đang sống an lành ở nước ngoài đã kéo nhau về nước bất chấp an nguy tới tính mạng để bảo vệ dân tộc và nếp sống của họ.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

Trùng Dương: Sách - Kinh nghiệm kiến quốc trong thời chiến của Việt Nam Cộng Hoà, 1955-1975

 Tổng thống Kennedy có lần đã nói: “Chiến thắng có cả trăm ông cha và thất bại trở thành mồ côi” (Victory has a hundred fathers and defeat is an orphan). Người Việt Miền Nam, dù lưu vong hay còn ở quê nhà, thẩy đều đã trở thành “mồ côi.” 

Nhiều thập niên qua, chúng ta đã sống trong thầm lặng, chịu đựng bị hiểu lầm, cố gắng dồn mọi nghị lực vào việc xây dựng lại đời sống trên mảnh đất quê hương thứ hai, nuôi dậy con cái, vun sới gia đình, và có một dạo còn cung cấp cho người thân, bằng hữu còn kẹt lại sống thiếu thốn mọi sự. Vào giờ rảnh rỗi và dịp cuối tuần, chúng ta tập hợp nhau, người bàn chuyện quang phục quê hương; kẻ nói chuyện bảo tồn lịch sử và văn hóa đã và đang bị cộng sản tàn phá, hủy hoại ở quê nhà --cũng là một hình thức quang phục quê hương khi các giá trị dân tộc và nhân bản đang trên đà thoái hóa nơi quê nhà. Những hoạt động này đã giúp nối kết người Việt hải ngoại không chỉ ở Mỹ mà còn ở khắp thế giới lại với nhau.

Các nỗ lực bảo tồn văn hóa và lịch sử của người Việt hải ngoại thường nhỏ giọt, riêng lẻ, phần lớn do cá nhân bỏ tiền túi ra thực hiện. Thảng hoặc, có những trường hợp nhận được tài trợ như nhà văn Võ Phiến được một tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội tài trợ đi sưu tầm tài liệu và thực hiện bộ “Văn Học Miền Nam Tổng Quan” vào đầu thập niên 1980. Dù vậy, kết quả của những nỗ lực này phải nói là phong phú, xuất hiện dưới hình thức sách báo, băng đĩa nhựa, hình ảnh, bầy bán khắp nơi. Những tác phẩm bị cộng sản cấm đoán, tịch thu, đốt hủy cũng đã được chụp và tái bản ở hải ngoại, ngay cả những bộ sách của thời tiền chiến được tái bản ở Miền Nam trước 1975 cũng theo chân chúng ta ra hải ngoại. Và hồi ký đủ loại đề tài phong phú của nhiều người viết thuộc mọi thành phần trong và ngoài nước, đặc biệt là các hồi ký của nhiều người đã từng là đảng viên cộng sản nay tỉnh ra. Từ ngày kỹ thuật Internet ra đời cách đây 25 năm, sinh hoạt văn hóa này càng nở rộ (*). Dù vậy, các ấn phẩm vẫn chỉ thu hẹp phần lớn trong phạm vi tiếng Việt, hạn chế đối với các thế hệ trưởng thành hoặc sinh ra và lớn lên ở hải ngoại.


Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Trùng Dương: Nhân bộ báo Sóng Thần ‘tái xuất’ trên Mạng, duyệt qua các trang mạng sách báo Miền Nam


Bài này gồm hai phần, như nêu trong tựa bài. Phần đầu giới thiệu bộ báo Sóng Thần và một số báo khác do anh Võ Phi Hùng ở Virginia thực hiện, và được Kho Sách Xưa của ông Hùynh Chiếu Đẳng phổ biến gần đây. Và phần thứ hai nhằm duyệt lại và bổ túc một bài tôi soạn cách đây trên hai năm về các nỗ lực phục hồi sách báo xuất bản ở Miền Nam truớc 1975. Có thể còn những nỗ lực khác mà người viết không được biết tới, xin độc giả tùy nghi bổ túc.

Bộ báo Sóng Thần & kho báo Miền Nam


Vào đầu tháng Chín vừa qua, Võ Phi Hùng, một cựu học sinh Petrus Ký hiện đang cư ngụ tại tiểu bang Virgnia, viết thư cho nguyên tổng thư ký Uyên Thao và tôi, nguyên chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần (Saigon, 1971-1975), thông báolà đã gần hoàn tất việc scan xong bộ báo Sóng Thần từ toàn bộ bẩy cuộn microfilm 35mm mượn của thư viện Đại học Cornell qua chương trình Interlibrary Loan. Anh Hùng cho biết “đang tiến hành công việc chụp lại từng film một tại thư viện địa phương Fairfax Regional Library ở Fairfax, VA, và sau đó về nhà ráp từng trang lại thành một số báo.” Anh hy vọng trong hai tuần nữa thì hoàn tất.

Sóng Thần là một trong những bộ báo xuất bản tại Miền Nam, từ 1971 tới 1975, mà anh Hùng “vì yêu đọc sách báo và muốn phổ biến cho việc tham khảo các báo chí Việt Nam đã phát hành ở Miền Nam trước năm 1975” nên đã bỏ công sức ra thực hiện. Những báo kia, Hùng cho biết, hoặc đã hoàn tất, gồm có Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, và An Hà Nhật Báo, đã gởi đăng trên trang mạng Kho Sách Xưa; hoặc đang thực hiện, ngoài nhật báo Sóng Thần, là Chính Luận (tồn tại lâu nhất trong làng báo Miền Nam, từ 1964 đến 1975), Đông Pháp Thời Báo, và Đuốc Nhà Nam.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Trùng Dương: Mùa thu đi thăm nhà văn Võ Phiến

Tuần trước, qua điện thư, Phan Nhật Nam bảo, “Khi nào đi thăm ông bà Võ Phiến, bác rủ tôi đi với.” Thứ bẩy vừa rồi, 12 tháng 11 năm 2011, có dịp ghé Quận Cam, Nam Cali, bèn rủ. Chẳng ngờ tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa dẫn theo ông hàng xóm đặc biệt: tác giả Khu Rừng Lau Doãn Quốc Sỹ, mới dọn từ Houston qua sau khi người bạn đời mất. Tất nhiên là tôi không bỏ lỡ cơ hội thủ theo một cái máy hình. Tới nơi, lại gặp cả chủ bút báo điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ Phạm Phú Minh và nhà văn Ngự Thuyết, mới viết sau 1975 và là tác giả của nhiều bài viết nhiều tính sưu tập công phu. Như thường lệ, ông bà Võ Phiến tiếp đón chúng tôi niềm nở. Buổi viếng thăm ngắn ngủi song đượm tình đồng hương và, đặc biệt, văn nghệ.


Hai nhà văn lớn của nền văn học Miền Nam, Võ Phiến, trái, và Doãn Quốc Sỹ, phải. Cả hai ông nay cùng xấp xỉ 90, một người, ông Võ Phiến, ra đi từ 1975 vì biết số phận nào đã dành cho mình dưới chế độ Cộng sản của hận thù và thanh toán, chưa một lần đặt chân lại quê hương; trong khi ông Doãn Quốc Sỹ kẹt lại và bị cộng sản cầm tù trước sau cả thẩy 14 năm. Họ là những vì sao sáng và là niềm hãnh diện của nền văn học Việt Nam tự do, không chỉ vì danh mục tác phẩm đồ sộ của một đời cầm bút của mỗi người, mà còn vì tinh thần bất khuất trong sáng của những người cầm bút chân chính, tôn trọng sự thật và yêu thương chữ nghĩa.


Hình bên trái, từ trái qua, các nhà văn Ngự Thuyết, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam và Phạm Phú Minh. Hình bên mặt, bà Viễn Phố, tiền cảnh, ông Võ Phiến, giữa, và Trùng Dương. (TD, 11/2011)


Tài liệu đọc thêm:

Võ Phiến

Doãn Quốc Sỹ

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

Trùng Dương: 1,000 số báo Sóng Thần ‘tái xuất giang hồ’ trên Liên Mạng do công lao của một người trẻ yêu sách báo

Vào đầu tháng Chín năm nay, Võ Phi Hùng, một cựu học sinh Petrus Ký hiện đang sinh sống tại Chantilly, VA, viết thư cho nguyên tổng thư ký Uyên Thao và tôi, cựu chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần, thông báo đã gần hoàn tất việc scan xong bộ báo Sóng Thần từ toàn bộ gồm bẩy cuộn microfilm 35mm mượn của thư viện Đại học Cornell qua chương trình Interlibrary Loan. Anh Hùng cho biết “đang tiến hành công việc chụp lại từng film một tại thư viện địa phương Fairfax Regional Library ở Fairfax, VA, và sau đó về nhà ráp từng trang lại thành một số báo,” hy vọng trong hai tuần nữa thì hoàn tất.

Hệ thống scan báo từ microfilm sang dạng PDF trên comupter tại thư viện. (Ảnh Võ Phi Hùng)

Sóng Thần là một trong những bộ báo xuất bản tại Miền Nam mà anh Hùng “vì yêu đọc sách báo và muốn phổ biến cho việc tham khảo các báo chí Việt Nam đã phát hành ở Miền Nam trước năm 1975” nên thực hiện. Những báo kia, anh Hùng cho biết, hoặc đã hoàn tất, gồm có Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, và An Hà Nhật Báo, đã gởi đăng trên trang mạng Kho Sách Xưa; hoặc đang thực hiện, ngoài nhật báo Sóng Thần, là Chính Luận (tồn tại lâu nhất trong làng báo Miền Nam), Đông Pháp Thời Báo, và Đuốc Nhà Nam.

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Trùng Dương: Sách, phim - Van Gogh không hề tự tử

Người họa sĩ gạt xuống sàn nhà ly rượu còn đầy do cô hầu bàn vừa đặt xuống bàn cho anh, chán chường rời khỏi quán cà phê giữa dòng người ôm nhau nhẩy nhót cười vui trong tiếng nhạc ồn ào trong một ngày hội.

Anh xách giá vẽ tìm tới cánh đồng lúa mì cành nặng hạt ngả nghiêng trước gió như không cưu mang nổi những hạt lúa chờ mong bàn tay người gặt. Anh đã vẽ gần xong bức tranh đồng lúa mì khi đàn quạ đen bay tới tấp quanh anh kêu quang quác như hối giục. Anh bèn đưa những nhát cọ giận dữ đem bầy quạ vào tranh. Xong, anh buông bảng mầu và cây cọ, lảo đảo bước tới bên một gốc cây, móc túi lấy ra một mảnh giấy nhầu nhò, kê lên một nhánh cây, viết nguệch ngọac lên đó. Tôi tuyệt vọng quá rồi. Tôi không còn thấy một lối ra nào nữa. Rồi anh móc túi kia lấy ra một khẩu súng.

Người nông dân đánh xe ngựa đi qua ngoảnh nhìn qua người họa sĩ, rồi tiếp tục trên con đường đất giữa các ruộng lúa mì. Thình lình ông ta nghe một tiếng súng nổ, bèn ngừng xe ngoảnh nhìn lại phía nơi mình vừa đi qua…

Đó là hình ảnh về cái chết tự chọn của hoạ sĩ Vincent van Gogh (1853-1890) mà ai cũng đã quen thuộc, không chỉ qua phim “Lust for Life“ (1956) -- dựa trên cuốn tiểu sử cùng tên của Irving Stone xuất bản lần đầu vào năm 1934, với diễn xuất tuyệt vời của tài tử Kirk Douglas— đã trở thành kinh điển, mà còn qua vô số phim truyện, phim tài liệu, sách vở, triển lãm, Web sites, và gần đây là loạt trình diễn luân lưu bộ tranh số hoá Hoà nhập cùng Van Gogh.

Cái chết do tự chọn này cũng đã từng đuợc lãng mạn hoá, thăng hoa đến thành rực rỡ, và đã trở thành huyền thoại. Cao điểm của sự lãng mạn hoá này có lẽ là đoàn xe hoa 600,000 bông thược dược mà thành phố Zundert ở Netherlands, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà danh hoạ, tổ chức nhân ngày giỗ thứ 125 (thayvì thông thuờng là ngày sinh nhật) của ôngvào năm 2015. Trong đó có một xe hoa khổng lồ mô tả nhà danh họa nằm chết như mơ giữa cánh đồng hoa dại, cây cọ vẽ buông lơi giữa những ngón tay, tất cả được đan bện bằng hàng ngàn bông thược dược mầu tím với các tông mầu khác nhau. Nhìn mà không khỏi bồi hồi.

Van Gogh qua đời ở tuổi 37 sau nhiều năm phấn đấu với bệnh tâm thần và những cơn điên dại bất chợt, để lại hơn 2,000 hoạ phẩm, trong đó có 860 bức tranh sơn dầu mà khi sinh tiền, ông chỉ bán được có một bức và phải sống nhờ vào sự trợ giúp tài chính của người em, Theo, một nhà buôn bán tranh làm việc ở Paris.


Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2021

Trùng Dương: Vũ Trọng Phụng có tư tưởng cộng hoà?

Thỉnh thoảng tôi dọn sách vở xem cuốn nào cần giữ, cuốn nào mang cho, và đặc biệt là cuốn nào cần gửi trả khổ chủ kẻo lỡ quên đâm mang tiếng.

Thuộc vào số ít sách phải gửi lại khổ chủ, tôi tìm thấy cuốn này: Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung, tạm dịch là Tư tưởng Cộng hoà thời Thuộc địa - Viễn kiến Chính trị của Vũ TrọngPhụng, của Giáo sư Peter Zinoman thuộc phân khoa Sử học của Đại học California tại Berkeley.

Tôi vẫn có ý định viết bài giới thiệu tập biên khảo của GS Zinoman từ khi đọc xong từ… giữa mùa đại dịch vào hè năm ngoái, với nhiều thích thú. Bài bên dưới là lời giới thiệu ngắn, thiếu sót là lẽ đương nhiên, nhất là đối với một công trình nghiên cứu vô cùng công phu. Thật vậy, tập biên khảo này đã giúp tôi biết thêm rất nhiều về nhà văn Vũ Trọng Phụng vốn khá độc đáo của nền văn học tiền chiến, nay càng thêm (có thể nói là) độc nhất-- một tay “tiền trạm” của chủ nghĩa cộng hoà tại Việt Nam-- dưới cái nhìn của GS Zinoman.

Peter Zinoman (UC Press, 2001)

Nhắc tới văn học thời tiền chiến (1930-1945), ta thường nghĩ tới nhóm Tự Lực Văn Đoàn với những tên tuổi lớn, như Nhất Linh, KháiHưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và nhiều nữa. Nhiều sách vở, luận án, hội thảo đã diễn ra về nhóm TLVĐ. Đối với các độc giả Việt ở hải ngoại, muốn tìm hiểu về những cây bút độc lập khác—nghĩa là không thuộc hẳn nhóm nào--của thời tiền chiến đã giúp làm nên nền văn học vô cùng phong phú trong thờinày, ta chỉ còn trông chờ vào bộ sách năm cuốn Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan xuất bản lần đầu năm 1942 tại Hà Nội, tái bản lần thứ hai năm 1951 (ấn bản này hiện được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ), tái bản lần thứ ba tại SàiGòn năm 1959. Ấn bản thứ ba này đã được chụp lại và phát hành tại hải ngoại sau 1975, đã được chuyển sang dạng ebook hiện được lưu trữ tại Tủ Sách Tiếng Việt. Dù vậy, trông chờ một cuốn sách cho ta thấy cả một xã hội văn học nhộn nhịp sống động của thời tiền chiến, như cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến về nền văn học Miền Nam 1954-1975, e không (hay chưa?) có.

Việt Nam, đối với Peter Zinoman, giống như một quê hương thứ hai. Chính xác ra thì Việt Nam chính là quê vợ của ông, Giảng viên Nguyễn Nguyệt Cầm. Và tiếng Việt chính là ngôn ngữ thứ hai của ông. Ông và vợ là đồng dịch giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của VTP, Số Đỏ, tựa tiếng Anh là Dumb Luck (University of Michigan Press, 2002). Ông cũng là người đã tìm ra khoảng 20 bài ký sự và truyện ngắn của VTP đã đăng báo trước 1945 nhưng chưa hề in thành sách, kể cả trong thời kỳ “Đổi mới” khi nhà văn được phục hồi và sách được tái bản sau gần bốn thập niên bịcộng sản cấm. Những bài này đã được in và phát hành dưới tựa đề Vẽ Nhọ Bôi Hề (Phương Nam, 2004). Ngoài ra, GS Zinoman còn là tác giả của cuốn sách biên khảo về hệ thống nhà giam tại Đông Dương của chính phủ thuộc điạ Pháp, The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940 (UC Press, 2001).

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2021

Trùng Dương: Từ đề xướng ‘Đường Tơ Lụa Mới’ của Trung Cộng... tới dự án Xây dựng Hạ tầng Cơ sở Toàn cầu của Nhóm G7

Kết thúc ba ngày hội thảo từ 11 đến 13 tháng 6 vừa qua tại Cornwall thuộc miền nam Anh Quốc, Nhóm G7 – một tổ chức gồm bẩy nước dân chủ có nền kinh tế phát triển lớn nhất là Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Anh và Gia Nã Đại – cùng đồng ý tham gia vào một đềxướng đầy tham vọng, đó là hỗ trợ dự án giúp các quốc gia nghèo có nhu cầu phát triển xây dựng hạ tầng cơ sở trên toàn thế giới.

Tên tiếng Anh của dự án đồ sộ trị giá hàng chục ngàn tỉ Mỹ kim này là New Global Infrastructure Initiative (NGII). Đềán này được coi như là một đối thủ của Đề xướng Con Đường Tơ Lụa Mới, hay Belt and Road Initiative (BRI), cũng đầy tham vọng của Trung Cộng. Đề xướng BRI, còn có tên lãng mạn là Con Đường Tơ Lụa Mới (The New Silk Road), ra đời cách đây đã tám năm song,theo nhiều nhà phân tích, đang gặp nhiều trở ngại và khốn đốn cho một số quốc gia thành viên, và có dấu hiệu Trung Cộng đang thu hẹp tầm hoạt động đối với các công trình ít quan trọng.

Trong bài này người viết sẽ bàn sơ qua về đề án phát triển hạ tầng cơ sở toàn cầu của nhóm G7 – sơ qua vìđây mới chỉ làdự kiến chứ chưa cógì là cụ thể. Tiếp theo là phần tường thuật chi tiết hơn về công trình BRI của Trung Cộng, một đề xuớng đang được thực hiện tại khoảng trên 70 quốc gia, những thành công cũng như trở ngại.

Đề án xây dựng hạ tầng cơ sở toàn cầu của G7


Đề án này, còn gọi là Tái Thiết Một Thế Giới Tốt Đẹp Hơn – Build Back Better World, tắt là B3W - rút ra từ bản thông báo chung của Nhóm G7 phổ biến sau khi kết thúc cuộc họp ba ngày ở Conway, và được khai triển thêm qua thông báo tại Web site của Toà Bạch Ốc. Đây là một đề nghị hợp tác nhằm tiếp sức xây dựng lại cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển vốn cũng đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Một dự án ước tính tốn khoảng trên 40 ngàn tỉ Mỹ kim sẽ do đóng góp của các quốc gia đã phát triển và đầu tư của các cơ chế tài chínhquốc tế. Người ta không khỏi nghĩ tới các công trình đề ra và thực hiện sau khi hầu hết toàn thế giới bị tàn phá bởi cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai.

“Qua B3W, Nhóm G7 và các đối tác cùng khuynh hướng sẽ phối hợp và vận động tư bản đầu tư vào bốn khu vực chính – khí hậu, y tế và sự an toàn y tế, kỹ thuật vi tính, và sự bình đẳng giới tính và quyền lợi -- với các đầu tư khởi động của các cơ sở tài chính cho việc phát triển,” theo trang Web của Toà Bạch Ốc.

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2021

Trùng Dương: Janet Yellen - Nữ bộ trưởng tài chánh Mỹ đầu tiên và trọng trách lèo lái Hoa Kỳ ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế hiện tại

Bức hình lịch sử:Phó Tổng thống Kamala Harris, phải,người nữ đầu tiên trong vai trò này, chủ tọa buổi lễ tuyên thệ nữ bộ trưởng bộ Tài chính đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, Janet Yellen, diễn ra tại cửa vào Cánh Đông của tòa Bạch Ốc đối diện với tòa nhà bộ Tài chánh, mà bà sẽ lãnh đạo, vào ngày 26 tháng Giêng, 2021. Nguyên chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ, bà Yellen có trọng trách giúp lèo lái Hoa Kỳ ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế hiện tại.Chồng bà Yellen, ông George Akerlof, giải Nobel về kinh tế năm 2001, và con trai Robert của họ, cũng là kinh tế gia, hiện diện tại buổi lễ đơn sơ trên. Hình  Drew Angerer/Getty Images

Thứ hai ngày 25 tháng Giêng Thượng Viện Mỹ đã bỏ phiếu công nhận bà Janet L. Yellen, 74 tuổi và là kinh tế gia chuyên về lao động và nguyên chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Federal Reserve, tắt là The Fed), vào chức vụ bộ trưởng Ngân khố (Treasury). Với 84 phiếu thuận 15 phiếu chống, lần đầu tiên một phụ nữ nhận lãnh chức vụ từ 232 năm qua toàn do đàn ông nắm giữ.

Bà Yellen là một trong năm người nữ được đề cử vào chức vụ bộ trưởng trong nội các của tân Tổng thống Biden, bên cạnh tân Phó Tổng thống Kamala Harris, và một số các bà khác. Vào lúc tôi soạn bài này, vẫn còn một số chức vụ, như bộ trưởng và vài chức vụ quan trọng khác, cần Thượng Viện phê chuẩn. Nếu tất cả được chuẩn nhận, nội các của ông Biden sẽ gồm 48 phần trăm là phụ nữ, với nhiều người Da mầu, vượt xa bất cứ nội các chính phủ nào từ trước tới nay trong lịch sử công quyền Mỹ - một món quà xứng đáng mừng 100 năm ngày Tu Chính Án 20 công nhận quyền đầu phiếu của phụ nữ sau 70 năm tranh đấu cam go của nhiều thế hệ phụ nữ.

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Trùng Dương: Hoàng Hải Thủy - ‘Trăm Năm Hiu Quạnh’

Lời giới thiệu: 

Khi được tin nhà văn Hoàng Hải Thủy vừa qua đời ngày 6 tháng 12 trong mùa đại dịch 2020 ở tuổi 87, tôi nghĩ thầm lại thêm một chiếc lá của thế hệ mình vừa rụng. Và điều tôi nghĩ tới đầu tiên về anh, vì đây là dịp duy nhất chúng tôi làm việc với nhau, đó là tác phẩm lừng danh do anh dịch (không phải phóng tác như nhiều tác phẩm khác của anh), tựa là“Trăm Năm Hiu Quạnh,” bản Anh ngữ là “One Hundred Years of Solitude,”chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha là“Cienaños de soledad,”của văn hào Grabriel Garcia Marquez (1927-2014), giải Nobel Văn Chương năm 1982.

Vào năm 1973, cơ sở nhật báo Sóng Thần thiết lập một chi nhánh xuất bản lấy tên là Nhân Chủ, và tôi được nhóm chủ trương giao cho việc điều hành. Một trong những tác phẩm đầu tiên nhà xuất bản dự tính in là bản dịch cuốn tiểu thuyết độc đáo này. Người chúng tôi nghĩ tới để giao dịch là anh Thủy vì khả năng ngoại ngữ điêu luyện và văn phong bay bướm của anh. Vì đây là một tác phẩm văn chương lớn, tự nó đã có chất thơ dù được chuyển từ bản tiếng Tây Ban Nha, chúng tôi đề nghị anh dịch chứ không phóng tác. Chính anh Thủy, sau khi đọc bản Anh ngữ xong cũng đồng ý là phải dịch.

Tác phẩm tuyệt vời này không may đã không tới tay độc giả Miền Nam mặc dù việc sắp chữ, dàn trang, trình bầy bìa và đóng thành sách tạm để đưa đi kiểm duyệt đã xong, chỉ chờ được giấy phép in. Tôi hiểu sự tha thiết và nuối tiếc của anh đối với đứa con tinh thần mệnh yểu này, mặc dù không do mình thai nghén mang nặng đẻ đau nhưng là người có công “đỡ đẻ” (chữ của nhà văn Phạm Phú Minh) sang một ngôn ngữ khác, không thể nhuyễn hơn dưới ngòi bút dịch thuật của Hoàng Hải Thủy. Tôi lục tìm lại bài viết cách đây10 năm của anh Thủy về kinh nghiệm “mất con” này trên blog của anh, với nhiều chi tiết mà chính tôi khi đọc bài này lần đầu cũng không còn nhớ và không khỏi ngậm ngùi. Bài viết này anh viết nhân đọc bài của tôi về cuốn sách dịch “Ngàn Cánh Hạc.” Tôi mạn phép cắt bỏ phần anh viết về cuốn NCH, chỉ đăng lại phần anh viết về kinh nghiệm với“Trăm Năm Hiu Quạnh.”

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Trùng Dương: Tưởng nhớ Túy Hồng


Túy Hồng, 1937-2020.
Ảnh Trần Cao Lĩnh, circ. 1972.
Tin Túy Hồng qua đời vào một buổi sáng tháng 7, 2020 khiến tôi khựng lại một lát. Chị là một trong năm bà mà giới văn học mệnh danh – do yêu, ghét, nghịch, hay có thể cả… cợt nhạo - là “năm nữ quái” của Văn học Miền Nam trước 1975, gồm Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng và Trùng Dương. 

Chị Túy Hồng là người đầu tiên đã bỏ cuộc chơi ra đi, ở tuổi 82.

Túy Hồng và gia đình tới Mỹ cùng một năm với tôi, cùng định cư dọc theo bờ biển miền Tây. Vậy mà suốt 45 năm qua chúng tôi chưa một lần gặp nhau. Thực ra chúng tôi đã suýt có lần gặp nhau. Cách đây hơn 10 năm khi tôi vừa về hưu và dọn lên Bandon, một tỉnh hẻo lánh nằm trên bờ biển phía nam Tiểu bang Oregon, nghe chị cũng ở cùng tiểu bang nên tôi liên lạc mời chị xuống chơi. Chị nói không đi được vì kẹt phải trông coi một cháu trai bị tai nạn đã lâu và có vấn đề. Tôi đề nghị để tôi lên thăm chị, chị không hẳn từ chối nhưng có ý ngần ngại, viện thêm những lẽ này khác. Tôi không ép, mặc dù tha thiết muốn gặp chị, song đành chờ. Cách nay vài năm tôi tìm cách liên lạc lại qua điện thư nhưng thư bị trả về. Hỏi quanh cũng không bạn nào biết tung tích của chị.

Và rồi được tin chị đã qua đời. Tin do một người bạn gửi text báo qua điện thoại, trước cả khi trên Internet đăng, vì ngay sau khi nghe tin tôi lên Web ngay tìm thêm chi tiết, song chưa thấy. Người bạn gửi text kèm với trang bìa và trang mục lục của tạp chí Văn số đặc biệt về năm nhà văn nữ, xuất bản tháng 7 năm 1973, trong đó có tranh hí họa đầy nghịch ngợm của họa sĩ Chóe (1944-2003) về mỗi chúng tôi. 

Nhìn hình bìa báo Văn mà bùi ngùi. Miền Nam đã có một thời khai phóng, trăm hoa đua nở như thế, nhờ một thể chế tương đối tự do, và một khung cửa rộng mở ra thế giới bên ngoài đón nhận đủ loại hương hoa của nhân loại. Giới phụ nữ cầm bút xục xạo các góc cạnh xã hội, kể về những mảnh đời phụ nữ nhỏ bé, khiêm tốn, bị dồn ép, bỏ quên, tưởng là vô nghĩa, trong một xã hội vốn còn trọng nam khinh nữ, nhưng đang bị chiến tranh làm đảo lộn, thay đổi sâu xa. Nhưng có lẽ gây chú ý hơn cả là việc những cây bút phụ nữ thời đó khai phá các ngõ ngách của tâm hồn đàn bà mà lâu nay các cây bút phái nam thường chỉ có thể tưởng tượng ra (thậm chí có người nói chúng tôi chuyên về khai thác dục tính, như thể họ chỉ có thể nhìn thấy được mỗi góc cạnh đó). Chúng tôi hồn nhiên ghi nhận và kể lại, không mầu mè, song cũng không lộ liễu sỗ sàng, kể cả khi đề cập tới những tâm cảnh rất riêng tư. 

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

David Brooks: Nếu ta có một nhà lãnh đạo thực thụ
Tưởng tượng Covid dưới thời một tổng thống bình thường (Nguồn: If We Had a Real Leader Chuyển ngữ: Trùng Dương)

Hai trang nhật báo The New York Times và USA Today dành một số trang báo tưởng niệm 100,000 người tử vong vì Covid-19 tại Mỹ. Toàn cầu số tử vong là trên 353,000. (Screenshot từ MSNBC)

Tuần này tôi có một cuộc hội thoại đã để lại một dấu ấn. Đó là với Mary Louise Kelly và E.J. Dionne của chương trình “All Things Considered” [Mọi sự đều đáng kể] trên đài NPR [National Public Radio], và về đề tài các vị tổng thống trước đã đối phó với những cái tang toàn quốc ra sao -- như TT Lincoln sau trận Gettysburg, TT Reagan sau vụ phi thuyền Challenger phát nổ ngay sau khi phóng, và TT Obama sau vụ thảm sát tại trường Sandy Hook.(*)

Cuộc hội thoại đã khiến tôi thắc mắc nếu như nước Mỹ đã có một nhà lãnh đạo thực thụ trong Tòa Bạch Ốc thì kinh nghiệm đại dịch của ta sẽ ra thể nào.

Nếu ta đã có một nhà lãnh đạo thực thụ, ông ta đã hiểu là thảm cảnh 100,000 người tử vong Covid-19 là cái gì sâu xa hơn là chuyện chính trị: Họ khiến ta thấm thía nỗi mong manh chung và mối thương cảm sâu xa tự nhiên dành cho nhau của chúng ta.

Vào những lúc như vậy, một nhà lãnh đạo thực thụ đã bước ra khỏi vai trò chính trị của mình và để lộ cho thấy một con người không che đậy và khiêm nhường, một người có khả năng coi đó là nỗi đau thương của chính mình và góp mặt với mọi người trong nỗi thống khổ như đại dương này.

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

Trùng Dương: Tôi đi thử Covid-19

Tôi lái xe quẹo trái từ Đại lộ Cal Expo vào cổng dẫn vào khuôn viên dùng làm nơi tổ chức hội chợ tiểu bang hàng năm và hàng trăm thứ sinh hoạt cần đất rộng khác, thấy mình lọt vào hai hàng xe dài chờ qua cổng. Tôi hơi ngạc nhiên thấy trên nhiều xe có trẻ em và nhiều bong bóng. 

Quận Sacramento nơi tôi ở vẫn ở trong lệnh cư trú tại gia để ngăn ngừa Covid-19 (tắt từ Corona Virus Disease 2019) lây lan, sao lại có một tụ tập đông người lớn và trẻ em thế này, tôi tự hỏi. Phía trước tôi, một phụ nữ nhân lúc xe đậu mở cửa xe chạy ra xa phía ngoài xe rồi dùng điện thọai thông minh chụp hình đám trẻ cầm bong bóng trên chiếc SUV của chị ta. Tôi nghĩ tới bảng chỉ dẫn nhận được qua điện thư sau khi lấy được cái hẹn đi thử Covid, có nói là người có hẹn phải tự lái xe tới chỗ thử, không được mang theo thú vật cưng, và người không có hẹn không được tới. Thế mà xung quanh tôi hầu như xe nào cũng có trên một người, cả trẻ em với bong bóng nhiều mầu. Như thể họ đi hội vậy.(*)

Hay là tôi vào lộn cổng? Ở thành phố này đã lâu, tôi chả bao giờ tự lái xe tới nơi này nên không có một ý niệm nào về hàng chục lối vào khuôn viên rộng tới 350 acres này.

Quả nhiên là tôi vào lộn cổng. Người kiểm soát cổng bảo tôi Covid ở bên kia, cái cổng đầu tiên ở ngay phía sau bà, rồi anh ta chỉ cho tôi rẽ trái đi đường tắt ra đại lộ trở lại. Tôi rời hàng xe dài chờ vào cổng và lái xe ra khỏi khuôn viên, rẽ phải trở vào Đại lộ Cal Expo rồi rẽ phải liền sau có đôi phút lái xe. 

Khác với cổng bên kia, cổng bên đây vắng hoe, có một cái gì hơi căng thẳng, có thể đó chỉ là cảm tưởng trong tôi trước sự vắng lặng xung quanh và bãi đậu xe mênh mông vắng tanh trước mặt. Xa xa bên trong là hai cái lều nhỏ mầu trắng, loại vẫn thấy tại những trạm thử nghiệm trên màn hình.

Trước tôi chỉ có hai, ba xe. Bên trái tôi là một tấm bảng dặn giữ mọi cửa kính đóng kín, rồi tới một trạm kiểm soát nhỏ. Bên phải tôi là hai cái bảng dán giấy, một có nội dung “Only persons with an appointment will be tested. Go to projectbaselinbe.com if you do not have an appointment” (Chỉ người có hẹn mới được thử nghiệm. Vào projectbaseline.com nếu bạn muốn được thử). Bảng kia có lẽ cũng cùng nội dung nhưng bằng một thứ ngôn ngữ trông giống như tiếng Nga – tại sao Nga, tôi tự hỏi, vì thành phố tôi ở tôi chưa nghe tới việc có một cộng đồng người Nga. Phía trong là một xe cảnh sát đậu. Tôi trình thẻ lái xe cho người kiểm soát, rồi đi theo mũi tên chỉ đường, tiến vào nơi có hai cái lều mầu trắng.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Trùng Dương: Nhìn lại hành trình dựng nước trong thời chiến - Việt Nam Cộng Hòa, 1955-1975

Sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi còn ở trong trại tị nạn Camp Pendleton ở Nam Cali, tôi có dịp ở chung lều với gia đình một ông bác sĩ thuộc lứa tuổi trung niên. Như nhiều người Miền Nam, ông tỏ ra cay đắng cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ rơi Miền Nam. Ông cho biết sẽ tìm xin tị nạn tại Pháp hay Canada, vì cảm thấy không thể sống tại đất nước đã phụ rẫy mình. Chúng tôi đứt liên lạc từ sau khi rời trại, và tôi không rõ gia đình ông gồm bà vợ, vợ chồng cô con gái và ba đứa cháu ngoại còn nhỏ đã phiêu bạt nơi nào.

Ai làm mất Nam Việt Nam là câu hỏi thời thượng dạo ấy. Như hồi quân của Mao Trạch Đông tiến chiếm Hoa Lục năm 1949 người ta đã hỏi nhau, đúng ra là đổ lỗi cho nhau, là ai đã làm mất Trung Hoa. Trở lại chuyện Việt Nam: Giới bảo thủ thì đổ cho là giới báo chí khuynh tả làm mất Miền Nam. Họ quên là số phận Miền Nam đã được định đoạt từ khi Tổng thống Cộng hòa Richard Nixon bắt tay với Trung Quốc ba năm trước đó, nhắm vào thị trường béo bở với hàng tỉ người tiêu thụ tương lai. Mặc dù chính chúng ta dạo ấy không muốn tin như thế.

Ai làm mất Miền Nam thì là chuyện đã rồi đối với tôi vào buổi sáng ngày 1 tháng 5 cách đây 45 năm thức dậy trong căn lều nhà binh mới dựng hôm trước, cỏ còn cao quá đầu gối, chỉ mới có tôi và hai đứa con nhỏ, 9 và 2 tuổi, được lùa vào đây nửa đêm hôm trước từ chiếc xe buýt đón chúng tôi đến từ Guam tại phi trường Los Angeles. Tôi nhìn ra những ngọn đồi thoai thoải phủ thảm hoa vàng giữa cái lạnh rơi rớt từ mùa đông vừa qua, nghe trong đầu câu hát Lòng thật bình yên mà sao buồn thế / Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ… (Trịnh Công Sơn, “Bên đời quạnh hiu.”) Có điều tôi không đang khóc. Mắt tôi ráo hoảnh. 

Tôi lớn lên tiêm nhiễm lời răn dậy “tiên trách kỷ, hậu trách nhân,” tự trách mình trước rồi hẵng trách người. Và từ buổi sáng trên đồi hoa vàng nơi xứ người, tôi nhìn vào chính tôi, vào hồn của mảnh đất Miền Nam thân yêu nơi tôi lớn lên từ năm 1954 sau khi cha mẹ tôi mang chúng tôi 11 anh chị em chạy nạn cộng sản vào lập nghiệp. 

Đây cũng là nơi ra đời của một quốc gia mới mẻ, mang tên Việt Nam Cộng Hòa, được sự hỗ trợ tận tình của một Hoa Kỳ thời hậu đệ nhị Thế chiến đã trở nên hùng mạnh nhất thế giới, và của các bạn đồng minh trong khối tự do, những quốc gia đã chịu ơn nước Mỹ giúp tái thiết. Không thể phủ nhận, đã hẳn, Hoa Kỳ thoạt kỳ thủy đã có chủ ý coi VNCH là “tiền đồn cuối cùng” để ngăn chặn làn sóng đỏ tưởng bách chiến bách thắnghồi ấy. Song người Việt Miền Nam chúng ta coi đây là cơ hội ngàn năm một thuở để xây dựng một xã hội tự do dân chủ thực sự đầu tiên trong lịch sử của hàng ngàn năm nếu không là sống trong chế độ quân chủ chuyên chế thì là bị đô hộ bởi ngoại nhân. Người Miền Nam không coi nhẹ nền cộng hòa còn rất non trẻ này. Trong khói lửa mịt mù và một bối cảnh chính trị nhiều biến động, người Miền Nam vẫn kiên nhẫn xây dựng và vun sới cho mảnh đất tự do nhỏ bé này. 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

Trùng Dương: Rủ bạn đi thăm rừng, nghe cây tâm sự, tạm quên đại dịch

Mùa thu trong rừng Calaveras Big Trees.(Ảnh parks.gov.ca)

Từ khi tin đại dịch Covid-19 chiếm ngự tin tức hàng ngày và California có lệnh ở nhà trừ phi thật cần thiết cần ra ngoài như đi chợ mua thực phẩm hoặc mua thuốc, để ngăn tránh dịch lây lan, tôi vẫn tự nhủ, hay đúng hơn là cảm thấy có nhu cầu đi thăm khu rừng cổ thụ gỗ đỏ Calaveras Big Trees đã lâu chưa ghé lại. 

Lần lữa, sáng nay Thứ Hai ngày 30 tháng 3 thì nghe tin mọi công viên của tiểu bang sẽ bị đóng vì cuối tuần rồi thiên hạ đổ xô đi các công viên khiến luật cách ly (social distancing) đã không được tôn trọng, làm giới hữu trách lo ngại. California là một trong ba tiểu bang có nhiều người bị nhiễm Covid-19 nhất và là tiểu bang đầu tiên áp dụng lệnh cấm ra khỏi nhà trên toàn bang từ ngày 19 tháng 3. Khi tôi viết những dòng này, Hoa Kỳ chiếm hàng đầu với trên 140,000 ca nhiễm bệnh trong số khoảng 750,000 ca toàn cầu, với trên 3,000 tử vong trong số trên 36,500 tổng số tử vong toàn cầu, ảnh hưởng tới 202 quốc gia và vùng. Thế giới chưa hề rơi vào tình trạng như thế này kể từ sau trận đại dịch cúm 1918 giết tới từ 50 tới 100 triệu người khắp thế giới. Vì đâu nên nỗi? Tôi đã đọc và xem các phim tài liệu liên hệ. Đã trải qua đủ phản ứng, với nhiều lo âu. Tôi thấy cần thiên nhiên. Tôi cần sequoia.

Tôi không khỏi thở dài, lần giở lại những hình ảnh, bài vở đã chụp và viết về cụm rừng tôi không nhớ đã bao nhiêu lần thăm, hoặc một mình hoặc với thân hữu từ xa tới. Tôi rất hãnh diện là nơi mình sống lại gần với một cụm rừng cổ thụ đến vậy, nên hay thích rủ bạn tới thăm rừng.Tôi thích gọi cụm rừng này nằm ở ngay “sân sau nhà tôi” mặc dù phải lái xe gần 2 tiếng mới tới. Đó là nơi tôi cững thường tìm tới một mình để nghe tâm hồn mình lắng đọng, hòa cùng thiên nhiên, lắng nghe tâm sự của những cây cổ thụ, nhiều cây còn nhiều tuổi hơn cả những nền văn minh một-thời-hưng-thịnh-dài-nhất trong lịch sử nhân loại, trước khi bị con người đốn ngã hay khai thác cho những tham vọng thương mại hoặc niềm tự hãnh cá nhân.

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020

Trùng Dương: Cuộc khải hoàn của các nữ họa sư cổ điển

Collage TD2019

Nhìn các bức tranh trên, chúng ta, do chỗ đã bị điều kiện hóa thành ra mang định kiến, khó có thể nghĩ chúng do các nữ họa sĩ của thế kỷ 16 và 17 vẽ mà lịch sử nghệ thuật đã không hề nhắc tới và gần đây mới được giới thẩm định nghệ thuật công nhận đưa ra trình làng. Đó là các bức họa, từ trái sang phải: 1) “Judith and Holofernes/Nàng Judith hạ sát Holofernes,” khoảng năm1620, do nữ họa sĩ Artemisia Gentileschi họa, hiện trưng bầy tại Uffizi Gallery, Florence, Italy; 2) “Family Portrait/Chân dung Gia đình,” năm 1558, do Sofonisba Anguissola họa, hiện có tại Museo del Prado, Madrid, Spain; 3) “Self-Portrait at the Spinet/Tự hoạ bên Phím đàn,” năm 1577, của Lavinia Fontana, thuộc Museo del Prado; và 4) Sofonisba Anguissola, “Self-Portrait at the Easel/Tự hoạ bên Giá vẽ,” khoảng năm 1556–57, tại Museo del Prado.

Do đòi hỏi của giới thưởng ngoạn ngày một gia tăng, các viện bảo tàng đã cất công sưu tầm, tìm mua và phục hồi những họa phẩm cổ điển này để trưng bầy. Cũng do nhu cầu này của các viện bảo tàng và giới sưu tầm tranh, các nhà bán đấu giá tranh, như nhà Sotheby’s nổi tiếng quốc tế, cũng đã vào cuộc chơi sưu tầm và tổ chức đấu giá các tác phẩm của các nữ họa sĩ thế kỷ 16 tới 19 vào đầu năm ngoái, mệnh danh là “The Female Triumphant,” tạm dịch là “Cuộc Khải hoàn của Nữ giới.”

“Số nữ họa sư [female Old Master] thành đạt mà chúng ta được biết tới ngày nay vẫn còn rất ít,” chuyên gia về tranh cổ điển của Sotheby’s ở New York, Calvine Harvey, nói trong một bản thông cáo. “Các bà đã bất chấp những trở ngại ghê gớm, và sức mạnh và phẩm chất của tác phẩm của họ do đó càng thêm phi thường. Những năm gần đây nẩy sinh một nhu cầu ngày càng gia tăng đối với các tác phẩm nghệ thuật của nữ giới, và chúng tôi tiếp tục khám phá thêm thông tin về đời sống và tác phẩm của những vị nữ lưu tiền phong này.”