Hiển thị các bài đăng có nhãn The Economist. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn The Economist. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

The Economist: Nhìn lại con người và di sản của Mikhail Gorbachev ( Nguồn: “Mikhail Gorbachev has died”, The Economist, 30/08/2022. Người dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy)

Mikhail Gorbachev có hai người hùng trong suy nghĩ, đều là những nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa của thế kỷ 19: Alexander Herzen và Vissarion Belinsky. Các tác phẩm của hai ông tập trung vào phẩm giá cá nhân, và Gorbachev hầu như thuộc lòng tất cả những cuốn sách của họ. Khi chúng được chuyển thể lên sân khấu Nga trong vở kịch ba phần “The Coast of Utopia” [Bờ biển xứ Không tưởng] của Tom Stoppard vào năm 2002, đích thân ông đã đến xem. Và khi buổi diễn kết thúc, ông được mời lên sân khấu để nhận một tràng pháo tay nhiệt liệt, từ những khán giả mà có lẽ vẫn chưa ra đời khi ông nhậm chức tổng bí thư cuối cùng của Liên Xô vào năm 1985.

Perestroika (cải tổ) do ông khởi xướng đã không bao giờ đi đến cái đích như ông muốn, về một chủ nghĩa xã hội dân chủ, nhân đạo – có lẽ vì đích đến đó là một điều Không tưởng. Đối với giới tinh hoa Nga hiện đại, ông là một kẻ kỳ quặc nếu không muốn nói là kẻ phản bội: một kẻ ngu ngốc đã khiến Liên Xô sụp đổ, nhưng lại không tranh thủ kiếm chác từ quá trình đó. Có quyền lực, một cuộc sống thoải mái và số phận của hàng trăm triệu người trong tay, nhưng Gorbachev đã buông tất cả khi từ chức tổng thống Liên Xô vào ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Trước đó, Gorbachev đã họp suốt tám giờ với Boris Yeltsin, tổng thống Nga và đối thủ truyền kiếp của mình, về quá trình chuyển giao quyền lực. Sau cuộc gặp, ông nằm nghỉ trong văn phòng – một lần cuối cùng. Khi đồng nghiệp thân cận Alexander Yakovlev bước vào, ông ta thấy Gorbachev nhỏ nước mắt. “Anh thấy đấy, Sasha, đó là cách mọi chuyện diễn ra”, Gorbachev nói.

Rõ ràng ông không muốn nhìn Liên Xô chết như vậy. Người đàn ông đã kết thúc Chiến tranh Lạnh, người đã thay đổi tiến trình lịch sử thế kỷ 20, không phải là nhà bất đồng chính kiến hay nhà cách mạng. Ý định ngay từ đầu của ông là cải tổ Liên Xô, chứ không phải phá hủy nó. Nhưng thái độ ác cảm với bạo lực và niềm tin của ông vào sự Khai sáng là đủ để kéo sập một hệ thống mà bản thân nó được tạo nên bởi đàn áp và dối trá.


Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022

The Economist: Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO làm lập luận của Putin sụp đổ (Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng)


Sự mở rộng của liên minh không phải là nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến của Tổng thống Nga ở Ukraine.

Quyết định của Phần Lan và Thụy Điển nộp đơn xin gia nhập NATO là một hành động thẳng thừng bác bỏ tầm nhìn chiến lược của Tổng thống Nga, Vladimir Putin. Hai quốc gia từng tự hào về lịch sử không liên kết quân sự lâu đời của mình đã nhận định rằng, rủi ro làm mất lòng nước láng giềng không quan trọng bằng sự trợ giúp an ninh bổ sung mà họ có được khi tham gia một liên minh chuyên chống lại sự xâm lược của Nga. Đó là kết quả trực tiếp của việc Nga xâm lược Ukraine, mà theo Putin là để ngăn chặn NATO mở rộng.

Nó cũng là một lời bác bỏ đối với những người lập luận rằng NATO có lỗi vì đã dẫn tới cuộc chiến. Putin không phải là người duy nhất cho rằng việc liên minh mở rộng sang Trung và Đông Âu sau Chiến tranh Lạnh là điều khiến người Nga không thể dung thứ. Nhiều học giả phương Tây đồng tình với lập luận đó. Tuy nhiên, sự lựa chọn của Phần Lan và Thụy Điển cho thấy họ có quan điểm ngược lại. Hai nước tìm cách tham gia NATO vì họ bị Nga đe dọa, chứ không phải để chống lại nước này.

Tin tức từ Phần Lan và Thụy Điển được công bố ngày 15/05, khi các ngoại trưởng của NATO đang nhóm họp để thảo luận về Ukraine và về chiến lược mới của liên minh, trong giai đoạn chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh vào tháng tới. Bất chấp những than phiền từ Thổ Nhĩ Kỳ, việc gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển nhiều khả năng sẽ là chính thức. Khi tham gia, cả hai sẽ mang lại khả năng vũ trang đáng kể, đặc biệt là nếu có chiến tranh ở Bắc Cực, và, trong trường hợp của Phần Lan, là lực lượng pháo binh lớn nhất châu Âu. Những lực lượng này có thể nhanh chóng được tích hợp vào cấu trúc chỉ huy của NATO. Tư cách thành viên của hai nước cũng sẽ giúp chiều dài biên giới của liên minh với Nga tăng lên gấp đôi (xem bản đồ). Nó còn củng cố các nước thuộc khu vực phía bắc, đặc biệt là các quốc gia vùng Baltic, nơi sẽ dễ được tiếp tế hơn, và là những nước mà Thụy Điển và Phần Lan sẽ cam kết bảo vệ nếu họ trở thành thành viên NATO.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

Người Biết Sự Thật (The Economist February 15th 2020 - Bản dịch của Trần Thế Kiệt)

Bác Sĩ Li Wenliang (Lý Văn Lượng) 33 tuổi, người đầu tiên báo động về một coronavirus mới, đã mất ngày 07 tháng Hai, 2020 bởi chính virus này.

Là bác sĩ nhãn khoa của bệnh viện trung ương Vũ Hán anh rất bận, nhưng hễ được rảnh tay một chút là lập tức lên mạng để chít chát với bạn bè về những điều anh thích, nhất là về các món ăn. 

Món Nhật chấm wasabi cay nhức mũi, món mì bò xào dòn thơm phức, món lẩu Haidilao nóng hổi đâm đà. Nhờ các món ăn khoái khẩu này anh sống sót được ba năm làm việc cật lực ở Xiamen khi vừa mới ra trường. Và còn món gà rán nữa, đùi gà ở ga xe lửa là số một, nếu có dịp đi ngangnhất định phải mua về một hộp. Nhưng món gà rán của nhà hàng Dicos cũng quá ngon đến độ phải vinh danh anh đầu bếp. Gọi một phần gà lớn, chiêu một ngụm coke để đẩy tuột cái vị béo ngậy của gà rán qua cổ họng, thật tuyệt, cuộc đời sướng vậy thôi!

Hậu quả là trông anh hơi bị tròn, vì thế phải chơi thể thao. Mỗi ngày ngoài vài trận cầu lông buổi sớm, phần lớn anh chơi thể thao…on-line, xem trực tiếp các trận tranh tài billard, góp ý sôi nổi với các bạn trên mạng về các phán quyết của trọng tài… Cứ như vây, trước đâyanh coigọn gàng và bây giờ cũng không đến nỗi tệ, nhưng trông anh ngày càng khác với thần tượngcủa anh là ca sĩ kiêm tài tử Xiao Zhan, anh chàng bảnh trai có cái dáng gầy dong dỏng và khuôn mặt trẻ thơ. 

Mọi chuyện rồi cũng khác đi, bây giờ anh đã là một người chồng, một người cha, một người có nghề nghiệp ổn định, một người có “trọng lượng”.

Đó cũng là những điều anh nhắm tới khi quyết đinh đi học. Anh còn nhớ ngày anh rời căn nhà của cha mẹ khi hai ông bà đang thất nghiệp ở Liaoning, khu lỹ nghệ miền đông-bắc, để xuống miền nam ghi danh vào đại học Vũ Hán. Bây giờ làm việc ở đây, bệnh viện Trung Ương Vũ Hán, lương thấp việc ngập, nhưng cần gì, miễn sao cha mẹ vui là được. Món trứng chiên (chất dopamine kỳ diệu đánh thẳng vào lưỡi) giúp anh vượt qua những ca trực đêm khắc nghiệt. 

Cũng bởi cái thói quen chia sẻ với bạn bè gần như tất cả mọi chuyện, không ai ngạc nhiên là ngày 30/12/2019 anh đã post lên mạng một bản tin ngắn nói về một hiện tượng bất thường trong khu săn sóc đặc biệt: một loạt bệnh nhân bị sưng phổi nặng, bị cách ly mà không có lời giải thích. Những bệnh nhân này lại có thêm một điểm chung nữa là đều dính tới Chợ Hải Sản Vũ Hán.

Với những dữ kiện trên, anh đã nghĩ ngay là bệnh này do con người lây cho nhau, cho dù lúc khởi đầu có thể là dơi hoặc một thú hoang nào đó đã nhiễm bệnh cho người. Và cũng ngay lập tức chúng đã gợi lại cái bóng ma của trận dịchSARS vào những năm 2002-03 đã cướp đi hơn 700 sinh mạng.

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

The Economist, 15/7/2017/Phan Trinh dịch: Cái chết của Lưu Hiểu Ba: Thông điệp cho Trung Quốc và phương Tây


LƯU HIỂU BA, mất ngày 13/7 vừa qua, không là cái tên cửa miệng ở phương Tây. Tuy nhiên, với người Trung Quốc đang đòi dân chủ, đang chống lại dã tâm cản đường dân chủ của Đảng Cộng sản, thì cái tên Lưu Hiểu Ba lại rất nổi bật. Tiếng nói uy nghiêm, trầm tĩnh và không ngưng nghỉ kêu đòi tự do cho dân tộc Trung Quốc của Lưu Hiểu Ba đã khiến ông trở thành một trong những nhà phản kháng vì lương tâm nổi tiếng nhất thế giới, cùng hàng ngũ với Andrei Sakharov và Nelson Mandela. Ông cũng là tù nhân lương tâm đoạt giải Nobel Hoà bình như họ.

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

The Economist - Xã Hội Dân Sự: Ngầm Dưới Sông Băng

The Economist
Phan Trinh dịch
Giới thiệu của người dịch: Bài này tuy nói về xã hội dân sự Trung Quốc, nhưng cũng gợi ra nhiều điều đáng suy nghĩ về xã hội dân sự Việt Nam. Dù sao, Trung cộng và Việt cộng đều là bạn cùng “tàu”, và có chung nhiều tật.
Chỉ cần nhìn cách Đảng Cộng sản Việt Nam đàn áp dân Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc xâm lược trong nhiều năm, rồi đùng cái cho biểu tình ngày 11/5, rồi đùng cái đàn áp trở lại ngày 18/5 là có thể thấy quan hệ giữa Đảng và dân là một thứ “quan hệ bất trắc, luyến ái phập phồng” (dangerous liaison).

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

The Economist - Tập làm Giông

The Economist
Phan Trinh dịch


Giới thiệu của người dịch:
Tập Cận Bình nhanh hơn nhiều, vượt khỏi dự đoán của báo chí thế giới. Vào ngày 15/11/2013, chỉ ba ngày sau khi Hội nghị Trung ương 3 Khóa 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, nghị quyết 22.000 chữ đã được phổ biến, kèm với diễn văn của Tập. Kiến nghị này do một ban gồm 60 chuyên gia soạn thảo và Tập là người cầm đầu.

Một loạt những cải cách, được The Economist gọi là chấn động, đã được nói tới: Kinh tế thị trường là chủ đạo, quyền sở hữu đất đai của nông dân, bãi bỏ trại lao động cải tạo, nới lỏng chính sách một con,… đặc biệt là cho phép các tổ chức xã hội (phi chính phủ) hoạt động, và dự định cải cách tư pháp cho độc lập với hành pháp.

Trông người lại nghĩ đến ta:
Tập làm giông, Tập không, ta có.
Tập làm gió, Tập có, ta không!
Tập có gì? Chủ động, phát động, vận động, chấn động!
Ta có gì? Thụ động, bị động, phản động, bất động!

Dưới đây bản dịch hai bài về cải cách của Tập, đăng trên The Economist số ra ngày 23/11/2013. Bài thứ nhất có tựa “Let quite a few flowers bloom” (nhiều hoa đua nở), bài thứ hai “The Xi manifesto” (tuyên ngôn Tập Cận Bình). Tựa phía trên là của người dịch.

1.

Nhiều hoa đua nở

Hai đề xuất ẩn trong văn kiện Đảng có thể thay đổi chính quyền Trung Quốc.

Thế là các ông bà nghị đã nghị xong, và mọi sự đã rõ. Sau nhiều tháng đoán già đoán non và sau bản Thông báo cuối hội nghị phổ biến vào tuần trước [ngày 12/11], bản nghị quyết cuối cùng, dài 22.000 chữ của Hội nghị 3 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được công bố hôm 15/11. Trong lĩnh vực kinh tế, nghị quyết cho thấy Đảng còn muốn cải cách mạnh dạn hơn cả những gì bản Thông báo tóm tắt gợi ra. Lãnh tụ Đảng, ông Tập Cận Bình, muốn đẩy mạnh hơn những cải cách đã phải giậm chân tại chỗ suốt một thập niên qua. Như nguyên văn nghị quyết nói rõ: “Chúng ta hãy để cho lao động, tri thức, công nghệ, quản trị và tư bản phát huy hết tiềm lực của nó, hãy để cho mọi nguồn gốc của thịnh vượng được mặc sức nở rộ và hãy để cho mọi người được hưởng một cách công bằng thành quả của phát triển.” Quả là hay.

Dĩ nhiên, không có gì chắc chắn ông Tập có thể làm được tất cả những gì ông muốn, nhưng đã rõ là ông thắng trận này, tính cho đến nay. Về mặt kinh tế, ông cho thấy mình là hậu duệ của Đặng Tiểu Bình, nhà cải cách lớn của Trung Quốc, và hoàn toàn không phải là một gã Mao-ít hũ nút như một số người lo ngại trước đây. Các thế lực bảo thủ tìm cách bịt miệng những tiếng nói cải cách đã bị khóa họng, ít nhất là cho đến lúc này.

Nhưng, điều thú vị của nghị quyết không chỉ nằm trong những cải cách kinh tế, vốn đã được đoán trước. Chấn động hơn là một số những cải cách trong lĩnh vực xã hội mà nghị quyết công bố, ví như việc nới lỏng chính sách mỗi gia đình chỉ có một con. Những cặp vợ chồng mà vợ hoặc chồng đã là con một sẽ được phép có hai con, và chính sách này sẽ còn được nới lỏng hơn nữa. Một bước tiến khác được ủng hộ mạnh mẽ đó là các trại lao động cải tạo – hiện giam giữ 190.000 người, gồm cả các tù nhân chính trị và nhà hoạt động tôn giáo – sẽ được bãi bỏ.

Nhưng có thể nói, những tiết lộ quan trọng nhất của nghị quyết lại nằm rất sâu và chôn rất kín trong văn kiện, chẳng được mấy ai đưa tin hay giựt tít. Riêng có hai động thái cho thấy Đảng rất nhạy bén với bức xúc của xã hội Trung Quốc hiện nay và với những đòi hỏi được tự do hơn, đồng thời đòi hỏi chế độ phải chịu trách nhiệm, phải được kiểm soát nhiều hơn.

Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã chuyển hóa từ một xã hội toàn trị sang một xã hội mà trong đó người dân có thể đi làm ở chỗ mình muốn, kết hôn với người mình chọn, đi lại nơi mình thích (dĩ nhiên vẫn còn những vướng mắc hạn chế quyền đi lại của người từ nông thôn và những vùng có sắc dân thiểu số). Trong 10 năm qua, sự xâm nhập của internet đã đi từ tối thiểu đến gần như cực đại. Những cơ chế an sinh xã hội truyền thống bị phá vỡ mà chưa gì thay thế thỏa đáng. Người dân bình thường bỗng có thêm quyền định đoạt nhờ có tiền, nhờ tham gia công luận thông qua các trang blog cá nhân, và nhờ họ đã hóa vai trở thành người tiêu thụ và người chủ những tài sản mình có.

Xã hội “PHI” chính phủ

Xã hội đã trở nên quá phức tạp, vượt khỏi khả năng kiểm soát của các cơ cấu xã hội truyền thống. Vì vậy, nhà cầm quyền đã quyết định cho phép sự phát triển của điều họ gọi là “các tổ chức xã hội”. Trên thực tế, đây chính là những tổ chức phi chính phủ (NGO). Đảng vốn rất không ưa bất cứ điều gì “phi” chính phủ và từ lâu xem các tổ chức phi chính phủ như những con ngựa thành Troy, nơi ẩn chứa những tư tưởng chính trị phương Tây và sự phá hoại, nhưng nhà cầm quyền ngày càng hiểu rằng các tổ chức xã hội kia có thể giúp giải quyết một số những vấn nạn – như chăm lo cho người bệnh, người cao tuổi, người nghèo. Sự phát triển của xã hội dân sự không chỉ quan trọng vì chức năng thực tế của nó, mà còn vì đó là cầu nối đến tương lai, gắn kết những cải cách kinh tế hôm nay với bất cứ những cải cách chính trị tương lai nào có thể có.
Cũng quan trọng không kém là vấn đề cải cách tư pháp. Các ông thẩm phán tham nhũng trắng trợn tại Trung Quốc bị dân chúng rất oán ghét. Nghị quyết của Đảng nhắc tới ý tưởng “hệ thống quyền hành tư pháp được tách rời một cách phù hợp với khu vực hành pháp”, nghĩa là bộ máy tư pháp ở địa phương sẽ không do chính quyền địa phương trả tiền hay kiểm soát nữa. Mặc dù một số nhà quan sát không tin điều này sẽ xảy ra, nhưng nếu nó xảy ra thật thì rất có thể đó sẽ là khởi đầu của một hệ thống kiểm soát và đối trọng tạo cân bằng làm cho quan chức nhà nước phải chịu trách nhiệm nhiều hơn.

Nội chuyện hai động thái này được nhắc tới trong văn kiện đại hội mà thôi đã là rất khích lệ rồi; nhưng ngược lại, việc chúng được chôn kín đến gần như không thể nhận ra trước con mắt người trần không chuyên cũng cho thấy Đảng đang đi hai hàng và vừa đi vừa run trên con đường tiến đến tự do hóa. Nhưng Đảng phải dấn tới thôi. Kế hoạch cải cách kinh tế của Đảng sẽ mang lại không chỉ thịnh vượng, mà sẽ tạo thêm những áp lực buộc thay đổi chính trị nhiều hơn. Nếu Đảng không đáp ứng, ắt sẽ có bùng nổ. Nếu ông Tập lâm vào cảnh chùn chân run gối, ông nên nhớ lại lời khuyên hào sảng này trong văn kiện đại hội: “Dám gặm cả xương cứng, dám lội nước chảy xiết, dám bẻ gẫy gông cùm ý thức hệ với quyết tâm kiên định.”

2.

Tuyên Ngôn Tập Cận Bình

Chủ tịch Trung Quốc tiết lộ những kế hoạch cải cách chấn động nhất trong hai thập niên qua, vừa táo bạo bất thường, vừa thận trọng như thường.
 Kể từ thời Mao Trạch Đông lên nắm quyền năm 1949, chưa có lãnh tụ Trung Quốc nào lại nhanh nhẩu công bố kế hoạch chi tiết cho hàng loạt những cải cách như thế. Ngay cả Đặng Tiểu Bình, sau khi nắm quyền năm 1978, cũng chậm rãi trong việc công bố kế hoạch của mình. Chủ tịch nước Tập Cận Bình, trong văn kiện dài 22.000 từ được phổ biến vào ngày 15/11 vừa qua, đã cam kết thực thi những cải cách triệt để. Cải cách bao gồm từ việc nới lỏng chính sách một con, bãi bỏ các trại lao động cải tạo, đến việc bãi bỏ kiểm soát lãi suất. Nhưng cũng phải nói rằng chưa từng có lãnh tụ nào gặp nhiều thử thách như ông.

Mặc dù đã vượt qua Nhật Bản vào năm 2010 để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc vẫn chưa thấu hiểu được nhu cầu nắm bắt thông tin của thế giới bên ngoài với các chính sách của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc loan báo đã thông qua Nghị quyết vào ngày 12/11 sau cuộc mật nghị với trên 370 thành viên Ủy ban Trung ương Đảng. Nhưng họ đã muốn, như thường lệ, giấu kín nội dung Nghị quyết trong một tuần để triển khai trước cho nội bộ đảng viên. Nhưng cuối cùng thì họ đã nhượng bộ, chỉ sau ba ngày; có lẽ vì bị áp lực do sự đồn đoán (trên cả báo chí nhà nước Trung Quốc) rằng Hội nghị đã không xứng tầm là một cột mốc lớn cho công cuộc cải cách. Đảng cũng làm một việc bất thường khác là phổ biến một diễn văn của ông Tập Cận Bình, trong đó ông cho biết ông đã đích thân chỉ đạo nhóm soạn Nghị quyết gồm 60 thành viên. Báo đài nhà nước nói ông là lãnh tụ Đảng đầu tiên kể từ năm 2000 giữ vai trò này. Rõ ràng, trên thực tế, báo đài nhà nước ám chỉ rằng Nghị quyết kia chính là tuyên ngôn của ông Tập Cận Bình.

So với văn phong nhợt nhạt phát ngán thường thấy trong các văn kiện Đảng, Nghị quyết này phải nói là chấn động. Nghị quyết để một đoạn dài nói thêm về điểm đầu tiên trong Thông báo rút gọn đưa ra vào ngày 12/11 rằng các lực lượng thị trường sẽ giữ vai trò “chủ đạo” trong việc định đoạt mô hình kinh tế (đây là một bứt phá về khái niệm mà trước đây cứ bị Đảng tránh né, mặc dù đã áp dụng chủ nghĩa tư bản từ lâu). Nghị quyết kêu gọi “tăng tốc” các bước thúc đẩy để thị trường có thể quyết định lãi suất. Có thể để tạo tiền đề cho việc này, Nghị quyết cũng nói một hệ thống bảo hiểm sẽ được thực hiện để bảo vệ người gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng: quan chức nhà nước lo ngại rằng các ngân hàng nhỏ sẽ gặp khó khăn nếu lãi suất tiền tiết kiệm được thả nổi. Việc kiểm soát lãi vay cũng đã được bãi bỏ vào tháng 7 vừa qua. Có dự báo rằng hệ thống bảo hiểm này sẽ hình thành trong những tháng sắp tới. Nghị quyết cũng kêu gọi Trung Quốc tạo điều kiện để biến đồng Nhân dân tệ trở thành chuyển đổi được, đây là một điểm hóc búa, được hứa hẹn nhưng không được thực hiện trong suốt hai thập niên qua.

Nghị quyết cũng lặp lại cam kết của Đảng là sẽ để cho thị trường quyết định giá cả các tài nguyên then chốt như nước, dầu hỏa, khí đốt, điện và giao thông vận tải. Nhưng lần này, Nghị quyết dùng từ ngữ mạnh miệng hơn. Nghị quyết viết “Thị trường phải được quyền quyết định giá cả của bất cứ thứ gì mà thị trường có thể định đoạt được, và chính quyền không được can thiệp không chính đáng.” Trong diễn văn của mình, ông Tập định nghĩa vai trò của chính quyền bằng ngôn ngữ nghe rất quen thuộc với lập trường trung lập ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Ông nói đến những điều như: duy trì ổn định kinh tế, cung cấp dịch vụ công ích, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quy trình hoạt động của thị trường và chỉ can thiệp khi thị trường thất bại.

Tuy nhiên, ngôn ngữ đậm tính thị trường của Ủy ban Trung ương lại chệch choạc khi bàn đến vấn đề gây tranh cãi sôi nổi nhất, đó là vai trò của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy vậy, phe cải cách – vốn lo ngại bởi sự khẳng định quen thuộc trong Thông báo cuối hội nghị rằng các doanh nghiệp nhà nước sẽ là “thành phần chính” của nền kinh tế – cũng được Nghị quyết cho một số hy vọng. Nghị quyết cho biết đến năm 2020, các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải giao cho chính quyền 30% lợi nhuận của họ bằng hình thức cổ phần (tăng lên từ 15% hay ít hơn hiện nay). Như nhiều nhà cải cách đã đòi hỏi từ lâu, một số tài sản của họ sẽ được giao lại cho quỹ an sinh xã hội của chính quyền trung ương. Và khu vực kinh tế tư nhân sẽ được cho nhiều cơ hội hơn để đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước và kinh doanh trong các lĩnh vực hiện do doanh nghiệp nhà nước thao túng, kể cả ngân hàng. Tuy nhiên, nghị quyết không đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải rút khỏi những lĩnh vực không then chốt như khách sạn và bất động sản. Nghị quyết cũng lặp lại từ ngữ của bản Thông báo tóm lược khi kêu gọi đẩy mạnh khả năng “kiểm soát và ảnh hưởng” của các doanh nghiệp nhà nước.

Cải cách nông thôn

Ở một lĩnh vực cải cách quan trọng khác – quyền sở hữu đất đai nông nghiệp và nhà ở nông thôn – Nghị quyết cho thấy những dấu hiệu rõ ràng hơn. Cuối thập niên 1990, thị trường bất động sản bắt đầu xuất hiện ở các đô thị Trung Quốc, nhưng không diễn ra ở nông thôn, nơi quyền sở hữu đất đai được quy định rất mơ hồ. Năm năm trước, Đảng yêu cầu thị trường bất động sản ở đô thị và nông thôn phải hòa chung thành một, nhưng chưa có tiến bộ đáng kể. Hiến pháp vẫn khẳng định đất đai nông nghiệp là “sở hữu toàn dân”, một khái niệm lưu cữu từ thời Mao, và luật pháp vẫn cấm việc bán đất đai cho người ngoài nông thôn và cấm cầm cố bất động sản nông thôn. Tuy nhiên, Nghị quyết với kế hoạch mới nói rằng nông dân cần được cho phép cầm cố nhà cửa. Một vài địa phương đã cho thử nghiệm việc này. Dù Nghị quyết tiếp tục kêu gọi thận trọng, nhưng những thử nghiệm theo hướng này sẽ còn lan rộng nhanh chóng (và luật lệ có lẽ cũng sẽ thay đổi) khi giờ đây Đảng đã bật đèn xanh.

Báo đài nhà nước đã ca tụng những bước vừa kể bằng ngôn ngữ dạt dào cảm xúc, cứ như là Trung Quốc vừa nhận được một phần mềm nâng cấp, kế hoạch cải cách đã được đặt tên là “cải cách phiên bản 2.0”. Một số bài báo gọi đó là những “cột mốc lịch sử” trên lộ trình đạt đến “giấc mơ Trung Hoa”, cụm từ được ông Tập dùng và trở thành phổ biến trên khắp các biển quảng cáo ngoài trời trong cả nước. Trong diễn văn của mình, ông Tập báo trước là hành trình sẽ không dễ dàng gì. Nhưng ông cũng trích lời Đặng Tiểu Bình nói năm 1992 rằng nếu không có cải cách sâu rộng thì đất nước sẽ đi vào “ngõ cụt”. Rõ ràng, ông Tập muốn so sánh mình với ông Đặng, và có vẻ ông đã thu tóm được quyền lực để tạo cho mình một thế lực tương tự như ông Đặng.

Giống như Đặng Tiểu Bình, và thực ra cũng giống như tất cả các lãnh tụ Trung Quốc kể từ thời Mao, ông Tập có vẻ vẫn kiên định duy trì quyền lực độc tôn của Đảng. Như dự đoán, kế hoạch của ông nói rất ít về cải cách chính trị. Nghị quyết nói về cải cách tư pháp nhưng không cho biết chi tiết, mà cũng nhắc đến nhu cầu cho phép nhiều không gian hơn cho các “tổ chức xã hội” – tên Đảng gọi các tổ chức phi chính phủ – trong khi vẫn kêu gọi tăng cường sự “quản lý” của chính quyền với những tổ chức này.

Nghị quyết cũng cho thấy một số nhượng bộ trong hai lĩnh vực về nhân quyền. Một là lời cam kết sẽ xóa bỏ các trại “lao động cải tạo” mà Liên Hiệp Quốc ước tính, vào năm 2009, có tới 190.000 người bị giam giữ không qua xét xử với các thời hạn lên đến bốn năm. Các trại cải tạo này thường được dùng để cách ly các nhà bất đồng chính trị và tôn giáo. Ngay báo đài nhà nước cũng từng đăng tải các lời kêu gọi xóa bỏ các trại này và một số quan chức trong nhiều tháng qua cũng từng cho thấy tín hiệu là sự thay đổi sẽ xảy ra. Tuy nhiên, Nghị quyết lại không nhắc đến việc cấm các hình thức giam giữ không viện dẫn pháp luật khác, vốn xảy ra thường xuyên.

Một thay đổi đáng kể khác là quyết định nới lỏng chính sách một con, cho phép các cặp vợ chồng được có hai con nếu vợ hoặc chồng là con một. Trong những năm qua, các cặp vợ chồng đều là con một đã được phép có hai con. Các gia đình nông thôn cũng thường có hai con nếu con đầu lòng là con gái. Tuy vậy, chính sách mới này có lẽ sẽ không mang lại một sự bùng nổ dân số. Nhiều cặp vợ chồng thị dân nói họ vẫn thích có một con hơn, vì chi phí nhà cửa, y tế và học hành ngày càng đắt đỏ. Nghị quyết cũng không đưa ra lời hứa chấm dứt việc chính quyền kiểm soát việc sinh đẻ, hoặc giảm bớt tiền phạt, đôi khi cao đến cắt cổ, đối với những ai vi phạm luật kế hoạch hóa gia đình.

Ông Tập Cận Bình sẽ phải đối đầu với những chống đối lớn. Nghị quyết kêu gọi thay đổi nhanh chóng chính sách hộ khẩu, vốn không cho nông dân lên thành phố sinh sống được hưởng các khoản an sinh xã hội ở đô thị, và nhiều trường hợp không được quyền mua xe hơi hay mua nhà. Chính quyền địa phương cũng sẽ chống đối khoản này, trừ khi họ nhận được nhiều hỗ trợ tài chính để chi cho trường học, bệnh viện cà các dịch vụ khác. Thị dân trung lưu cũng ngại ngùng không muốn chia sẻ tài nguyên cho giáo dục và chăm sóc y tế cho những người nhập cư. Các doanh nghiệp nhà nước, những công chức bướng bỉnh và những nhà kẻ giáo điều trong hàng ngũ Đảng cũng sẽ chống lại những cải cách thị trường có khả năng đe dọa quyền lợi của họ. Ông Chương Lập Phàm (Zhang Lifan) một nhà phân tích ở Bắc Kinh nói rằng những cải cách của ông Tập có thể dễ thành công hơn nếu đưa ra mười năm trước đây, trước khi những quyền lợi riêng tư được đổ bê tông và cố thủ.

Tuy vậy, quyền lực của ông Tập vẫn có thể giúp ông thực thi được các dự định của mình. Ông đã cho thấy ông đang xác lập quyền kiểm soát trực tiếp hệ thống an ninh trong nước, bằng cách lập ra một “ủy hội an ninh quốc gia” (người tiền nhiệm, ông Hồ Cẩm Đào lại nhường vai trò này cho đồng nghiệp). Ông Tập cũng cho hình thành một “nhóm lãnh đạo nhỏ” để lèo lái công cuộc cải cách, có lẽ cũng sẽ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông. Nắm chặt hệ thống an ninh sẽ là điều có lợi cho ông: Nghị quyết, trong lời kêu gọi kiểm soát internet, cho thấy giới lãnh đạo lo ngại sâu sắc về những bất ổn xã hội và về quyền lực của hoạt động bất đồng trên mạng. Ông Tập Cận Bình có lẽ phải ghen với ông Đặng Tiểu Bình, vì ông Đặng đã tiến hành cải cách vào một thời đỡ rối ren hơn nhiều.

Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra


Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

The Economist - Tới luôn, cược hết gia tài vào vụ này đi bác


The Economist
Phan Trinh dịch và giới thiệu
Giới thiệu của người dịch

Có thể nói vui rằng trong 35 năm qua, Trung Quốc có hai ông Bình đáng kể, Đặng Tiểu Bình và Tập Cận Bình, và có hai Hội nghị Trung ương 3 đáng kể, một diễn ra năm 1978 và một diễn ra từ ngày 9-12/11/2013.


Ông Tiểu Bình đã mở cửa Trung Quốc, ông Cận Bình đang sửa sang nhà cửa xuống cấp nghiêm trọng. Ông Tiểu Bình năm 1979 xua quân “dạy cho Việt Nam một bài học” và học được một bài học từ Việt Nam; đến năm 1989, sinh viên đòi dân chủ giận dữ đập nát những cái chai nhỏ (tiểu bình) ở Thiên An Môn, ít lâu sau ông cho xe tăng đè bẹp sinh viên. Ông Cận Bình thì chưa thấy dạy ai bài học nào, cũng chưa bị ai… đập chai.

Cũng có thể nói vui rằng nếu quan hệ Việt-Trung là “môi hở răng lạnh”, thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đang lèo lái con thuyền đất nước bằng “kính chiếu hậu”: Trung làm gì thì Việt làm nấy, cho an toàn (và nếu làm mà vẫn an toàn): Trung bàn về hiến pháp, thì Việt cũng hiến pháp bàn về; Trung tìm cách kiềm chế những doanh nghiệp nhà nước lộng hành, chống tham nhũng, giải quyết nạn đền bù đất đai như cướp, cấm bất đồng chính kiến trên mạng, thì Việt cũng lộng hành, tham nhũng, đền bù như cướp và bất đồng trên mạng. Chưa hết, Trung đấu đá quyền lực chóp bu, thì Việt cũng chóp bu đấu đá.

Khi Hội nghị Trung ương 3 ở bên kia họp kín thì ở bên này, tại Việt Nam, cũng đang diễn ra Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13, từ 21/10-30/11, với toan tính vội vã thông qua dự thảo Hiến pháp.

Thực ra, chuyện xem thường Hiến pháp cũng không lạ. Chính quyền Trung Quốc cũng chẳng coi Hiến pháp ra gì, thậm chí không hề có điều lệ nào trong Hiến pháp nhắc đến Đảng Cộng sản Trung Quốc – Đảng và vai trò lãnh đạo chỉ được nhắc tới trong “Lời mở đầu” dông dài của Hiến pháp mà thôi. Tờ Nhân dân Nhật báo tháng 8 vừa qua cũng chạy ba bài xã luận trên trang nhất phản bác ý kiến của giới trí thức cho rằng Đảng cần nằm dưới luật. Tờ báo chê đó là ý tưởng điên rồ, chẳng khác nào đòi “leo cây bắt cá”. Tờ báo còn lu loa rằng chủ trương đề cao Hiến pháp chẳng qua chỉ là một đòn diễn biến hòa bình của các cơ quan tình báo Mỹ.[i]

Cũng dễ đoán là với tinh thần đi tới bằng cách nhìn chiếu hậu nói trên, Quốc hội Việt Nam sẽ bất chấp dư luận và thông qua dự thảo Hiến pháp có sửa mà không hề đổi. Trừ khi quá nửa các đại biểu dũng cảm tỉnh ngủ, vứt Đảng, chấm dứt nhìn ra sau hay nhìn qua vai trước khi nói điều gì lương tâm mách bảo.

Một lĩnh vực nữa cho thấy “Việt soi bóng Trung” là lãnh đạo của cả hai nước đều bị giới trí thức chỉ trích gay gắt là họ quan tâm bảo vệ quyền lực chính trị của chính mình hơn quyền lợi đất nước.

Nhưng, không biết may hay rủi, Việt lại khác Trung ở khoản này, xin trích:
“Ở Trung Quốc, sự thất sủng của Bạc Hy Lai, một lãnh tụ địa phương đầy tham vọng, là dịp hiếm hoi hé mở cho quần chúng thấy cuộc đấu đá khốc liệt trong hàng ngũ lãnh đạo chóp bu. Ở Việt Nam cũng thế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như đang là mục tiêu của một chiến dịch đấu đá do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, một lãnh tụ bảo thủ hơn, cầm đầu. Sự khác biệt của hai nước nằm ở chỗ: Tại Trung Quốc, đấu đá nội bộ đã ngã ngũ với một kẻ thắng cuộc thấy rõ là ông Tập Cận Bình, lãnh tụ Đảng. Còn ở Việt Nam, một phần của bài toán hóc búa nằm ở chỗ dường như không có ai đang thực sự nắm quyền.”[ii]

Hóa ra lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm không điều hành đất nước dựa trên các Chủ nghĩa Mác, Mao, Minh, Xã hội hay Tư bản, mà là đang áp dụng rất sáng tạo… chủ nghĩa sinh tồn thú vật.

Cũng không khó để vẽ ra bức biếm họa: Một chiếc tầu chở 90 triệu dân nheo nhóc, sóng gió hãi hùng đang ập tới, nhưng trên phòng lái, bánh lái không ai cầm, cứ xoay qua trái rồi bật ngược qua phải. Tầu chao đảo, ai nấy ói mửa. Thực ra không phải phòng lái không có người, mà là có ông Nũng, ông Nang, ông Nùng, ông Nọng nào đó đang đứng cạnh bánh lái, nhưng thay vì cầm lái, mỗi ông đều hai tay hai súng chĩa vào đầu hai ông còn lại, hóa ra bất động, tạm gọi là “bất lực bên bánh lái”. Con tàu thì cứ ngụp xuống, ngoi lên, vật vã. Dưới bức biếm họa có dòng chữ nhỏ: “Ai cho chúng nó đứng đó nhỉ?”

Đó là câu hỏi đáng suy nghĩ. Thực vậy, theo lời giáo sư luật Hạ Vệ Phương thuộc Đại học Bắc Kinh thì ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng là một đảng phi pháp. Ông nói: “Với tư cách là một tổ chức, Đảng đang ngồi ngoài và ngồi trên pháp luật. Lẽ ra đảng phải có một tư cách pháp nhân, hay nói cách khác, có ai đó để bị kiện ra tòa, nhưng Đảng chưa bao giờ đăng ký như là một tổ chức. Đảng hoàn toàn đứng ngoài vòng pháp luật.”[iii]

Có phải chính vì tính “phi pháp” vừa kể, cộng thói quen hoạt động bí mật trước khi nắm chính quyền và truyền thống ngàn năm “con trời” cai trị, đã khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc mỗi lần họp là mỗi lần bí mật? Lần này cũng như bao lần trước, Hội nghị Trung ương 3 được báo chí tiết lộ là họp tại khách sạn Kinh Tây, do quân đội quản lý, nội bất xuất, ngoại bất nhập, chỉ được báo trước ít ngày, hoàn toàn không có tiếp xúc với báo giới trong hay ngoài nước, họ bàn gì cũng chẳng ai biết, có tranh cãi lớn hay không cũng không ai rõ. Kết thúc hội nghị sẽ chỉ có một thông báo chung chung, đến tháng 12 sẽ có hai hội nghị triển khai, cũng tại khách sạn Kinh Tây và cũng kín đáo nốt.[iv]

Kể cũng lạ, đường đường cũng là một đảng “quang vinh”, đưa kinh tế Trung Quốc lên hàng thứ hai thế giới, mà lại họp kín như một băng tội phạm, cứ như chung quanh họ tràn ngập những ‘thế lực thù địch’. Chẳng lẽ thế lực thù địch ở đây không ai xa lạ, mà chính là nhân dân?

Có lẽ ông Tập Cận Bình đủ sáng suốt để hiểu rõ ông không thể coi thường nhân dân, nhất là nông dân, nếu ông và Đảng của ông muốn sống còn, vì vậy tờ The Economist mới khuyên ông hãy “cược cả gia tài” vào việc cải tổ nông thôn và doanh nghiệp nhà nước. Bằng không thì rất có thể một ngày nào đó nông dân Trung Quốc sẽ lại mang chai ra đập, hoặc dân Việt sẽ gọi ông là “bình vôi” và hát chọc quê ông bằng câu thơ cũ “càng sống càng tồi, càng sống càng bé lại”.
____________

Tại hội nghị quan trọng này, lãnh đạo Trung Quốc phải thúc đẩy cho được những thay đổi rốt ráo, nhất là với nông thôn.

 Nếu có ai càm ràm với bạn rằng hội họp chẳng ích lợi gì, hãy khóa miệng họ lại bằng tám chữ chì nặng ký: “Hội nghị Trung ương 3, Khóa 11”. Thực vậy, hội nghị năm ngày này của Đảng Cộng sản diễn ra vào tháng 12, 1978 đã thay đổi hẳn Trung Quốc. Hai năm sau ngày Mao Trạch Đông chết, Hội nghị đã đưa Đặng Tiểu Bình, người bị trừ khử đến ba lần, vào vị trí cầm quyền, đưa nhân sinh lên tầm quan trọng hơn đấu tranh giai cấp, nới lỏng kiểm soát nhà nước, và mở cửa Trung Quốc cho nước ngoài buôn bán, đầu tư. Cuộc mạo hiểm tả khuynh đã mở ra những “công xã nhân dân” ở nông thôn, dẫn đến nạn chết đói khủng khiếp dưới thời Mao Trạch Đông, nhưng dưới thời Đặng Tiểu Bình công xã bắt đầu được tháo bỏ. Kết quả của những biện pháp vừa kể ảnh hưởng đến một số đông nhân loại. Thu nhập đầu người ở Trung Quốc lúc đó chỉ có 200$ một năm, nay con số này lên tới 6.000$. Đối với phần còn lại của thế giới, thành quả của Hội nghị kia có thể được tóm gọn vào mấy chữ “Trung Quốc trỗi dậy”.

Vào ngày 9 tháng 11, 2013, Tổng Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch nước Tập Cận Bình triệu tập một mật nghị khác tại Bắc Kinh, lần này là Hội nghị Trung ương 3, Khóa 18 (những hội nghị trung ương diễn ra ít nhất mỗi năm một lần, trong khi Ủy ban Trung ương, gồm hơn 370 đảng viên lãnh đạo, được Đại hội Đảng bầu ra mỗi năm năm; Đại hội Đảng gần đây nhất diễn ra năm 2012). Cuộc họp lần này, tại một khách sạn do quân đội điều hành ở thủ đô, sẽ tiếp tục diễn ra trong vòng bí mật, như vẫn bí mật từ trước đến nay. Cũng giống như Hội nghị năm 1978, phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, trước khi người ngoài biết được đầy đủ nội dung của nó. Tuy vậy, ông Tập đã cho các lãnh tụ nước ngoài biết rằng Hội nghị lần này là Hội nghị quan trọng nhất của Trung Quốc kể từ năm 1978, báo hiệu những thay đổi chấn động có thể diễn ra. Đúng vậy, Hội nghị chắc chắn sẽ gây chấn động nếu ông Tập thực sự cấp tiến trong hai lãnh vực đang rất cần được cải tổ, đó là: vấn đề doanh nghiệp nhà nước, cùng hệ thống tài chính đi kèm; và vấn đề nông thôn, nơi nông dân vẫn chưa có quyền hạn rõ ràng với đất đai của họ.

Khi bạn muốn làm cách mạng 

Công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình – và những cải cách khác năm 1993 giúp đưa Trung Quốc vào WTO – là những cải cách mạnh mẽ, nhưng chúng cũng đã đến hồi hết hơi. Trung Quốc không còn là nước có lao động giá rẻ có thể khai thác bất tận nữa. Những doanh nghiệp nhà nước tuy lớn nhưng không hiệu quả đang bóp nghẹt cuộc cạnh tranh lành mạnh và hút cạn các nguồn tài chánh. Sai lầm lớn trong phân bổ vốn đã đẩy giới kinh doanh tư nhân và người dân bình thường chăm chỉ tiết kiệm vào thế kẹt.

Điều vừa kể cũng làm nghẽn mức phát triển kinh tế vốn khỏe khoắn của Trung Quốc. Đó là mối nguy không thể bỏ qua đối với một Đảng mà, kể từ năm 1978, tính chính danh còn hay mất hoàn toàn lệ thuộc vào việc Đảng có làm kinh tế phát triển hay không. Vì vậy, khi ông Tập nói về một “kế hoạch chủ đạo” cho công cuộc cải cách, và một cuộc “cách mạng sâu rộng” thì có vẻ ông đã nói một cách rất nghiêm túc. Ông cùng Thủ tướng Lý Khắc Cường đã tụ họp được một nhóm rất đáng kể những nhà cố vấn có khuynh hướng thân thiện với kinh tế thị trường. Thêm vào đó, sau khi đã đè bẹp được thế lực của Bạc Hy Lai, một đối thủ (tả khuynh) có tham vọng quyền lực lớn giờ đang ngồi bóc lịch trong tù, hiện nay có thể coi ông Tập Cận Bình là nhân vật có quyền lực lớn hơn bất cứ lãnh tụ tối cao nào, kể từ thời Đặng Tiểu Bình.

Về vấn đề các doanh nghiệp nhà nước, việc tư hữu hóa, tiếc thay, sẽ chưa diễn ra. Tuy vậy, ông Tập sẽ làm cho chúng có tính thương mại hơn và phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Giải pháp tốt nhất có thể là trao quyền sở hữu các doanh nghiệp nhà nước cho Quỹ An sinh Xã hội Quốc gia, được thành lập để đáp ứng nhu cầu của một xã hội đang già đi nhanh chóng. Quỹ này có thể bổ nhiệm tổng giám đốc để điều hành các doanh nghiệp nhà nước, nhằm bảo đảm quyền lợi cho những người hưởng lương hưu trong tương lai. Ông cũng có thể thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ hơn bằng cách cắt các khoản vốn vay dễ dãi đang được ưu tiên dành cho doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh việc cắt bỏ đặc quyền của những đơn vị kinh tế này, ông Tập cũng nên có những bước cương quyết hơn nhằm thả lỏng lãi suất, tỉ giá hối đoái và dòng chảy vốn. Điều này cuối cùng sẽ dọn đường giúp đồng tiền Trung Quốc trở nên hoán đổi được – rất quan trọng để Trung Quốc trở thành một nền kinh tế trưởng thành.

Lĩnh vực lớn thứ hai trong cuộc cải cách sâu rộng – vấn đề nông thôn – lại còn quan trọng hơn nhiều về lâu về dài. Quan trọng, một phần vì gần nửa dân số 1 tỷ 400 triệu người dân Trung Quốc hiện sống ở nông thôn. Nhưng vấn đề trước mắt nằm ở chỗ nông thôn chưa được cải cách lại là hậu quả của cuộc khủng hoảng xoay vốn của chính quyền địa phương. Chính quyền trung ương đã buộc các chính quyền địa phương chịu thêm trách nhiệm về chi thu tại địa phương, nhất là sau khi gói kích thích tài chính khổng lồ được trên lệnh xuống năm 2008 để xoa dịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu [gói kích cầu 2008 trị giá 586 tỉ đô-la, nhưng chính quyền trung ương chỉ cấp 30% con số này, các chính quyền địa phương và doanh nghiệp phải nộp gần 30% khác, và hơn 30% còn lại đến từ các ngân hàng][v]. Nhưng chính quyền địa phương chỉ có những phương tiện lẻ để nâng số thu. Từ đó đẻ ra một loại thuế bất động sản để tạo nguồn thu ổn định.

Từ lâu lắm rồi, lãnh đạo tỉnh đã kiếm tiền cho địa phương mình – và cho túi riêng mình – bằng cách tịch thu đất đai của nông dân rồi bán lại cho các công ty phát triển dự án. Tác dụng tích cực của tình trạng này (chẳng hạn như số nông dân rời nông thôn đến thành phố kiếm sống tăng vọt) đã không bù lỗ được những tiêu cực nó gây ra. Công nhân gốc nông dân trong các đô thị bị đối xử như những công dân hạng hai, họ phải làm những công việc nguy hiểm bậc nhất mà lại không được hưởng các quyền hạn về nơi ăn ở tươm tất, được đi học hoặc được chăm sóc y tế. Nông dân ở lại với đất đai thì lại bị cường hào ác bá lãnh đạo địa phương hành hạ. Đền bù không tương xứng và không được sở hữu đất đai một cách rành mạch chính là lời oán thán lớn nhất của nông dân.

Tính sao cho khéo với các tỉnh

Ông Tập Cận Bình nên cho nông dân Trung Quốc những quyền tự do mà người cộng sản đã nêu cao như ngọn cờ để chiến đấu và làm cách mạng. Cải cách ruộng đất sau Hội nghị 1978 đã giải thoát nông dân khỏi những công xã nhưng không cho họ những quyền tự do khác. Nông dân vẫn không thể bán ruộng đất, trừ khi bán cho người trong làng, cũng không được bán nhà. Họ cũng không được thế chấp ruộng đất hay nhà cửa. Trong khi đó, người dân thành phố đã có thể đường đường chính chính trở thành chủ sở hữu căn nhà họ ở, nhờ kế hoạch tư hữu hóa nhà đô thị diễn ra rộng khắp vào cuối thập niên 1990.

Cho nông dân đầy đủ quyền hạn với đất đai và nhà cửa sẽ mang lại những tác dụng tích cực rất lớn. Người dân sẽ dọn lên thành phố nhiều hơn – nhất là khi các ràng buộc về hộ khẩu ở thành phố được hủy bỏ – góp phần chuyển đổi nền kinh tế nặng về đầu tư thành một nền kinh tế thiên về tiêu thụ. Người ở lại nông thôn cũng sẽ được hưởng những tự do tương đối, như dân thành phố đang được hưởng, đời sống hàng ngày của họ sẽ không bị các ông lớn địa phương quấy nhiễu nữa.

Đó là sẽ một cuộc cách mạng sâu rộng và được nhân dân ủng hộ, nhưng liệu ông Tập có thể đương đầu với phe chống đối hay không? Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã vượt qua được những tay bảo thủ chủ trương kinh tế chỉ huy bằng cách biến các tỉnh trở thành những ngôi sao trong phát triển kinh tế. Tản quyền cũng gây ra những vấn đề ở địa phương hiện nay, gồm cả mớ bòng bong tài chính. Vì vậy, ông Tập Cận Bình sẽ không được các tỉnh ủng hộ nếu ông không miễn trách, rốt ráo tha nợ cho các tỉnh. Tuy nhiên, làm được vậy chăng nữa, thành phần chống đối ông hiện vẫn rất mạnh, trong số có cả những ông trùm của các doanh nghiệp nhà nước và đám con cháu tham nhũng của rất nhiều những gia đình cộng sản quyền lực nhất nước. Nhưng làm gì thì làm, ông Tập Cận Bình phải triệt hạ bằng được những thành phần chống đối này, nếu ông và Hội nghị của ông không muốn bị lịch sử luận tội, thay vì được ghi công.

Nguồn: The Economist, “Go on, bet the farm”, số ra ngày 2/11/2013
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra


Ghi chú của người dịch
[i] The Ecomomist, “Climbing trees to catch fish”, số ra ngày 17/8/2013
[ii] The Economist, “Across the party wall”, số ra ngày 26/10/2013
[iii] Richard McGregor, The Party, The Secret World of China’s Communist Rulers, NXB Harper Collins, 2010. Tr. 22
[iv] The Economist, “Behind closed doors”, số ra ngày 8/11/2013
[v] Economist Intelligence Unit 2009, “China’s stimulus package – A six-month report card”


Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

The Economist - Giang hồ Bồ Tát


The Economist
Phan Trinh dịch

Giới thiệu của người dịch

1. 
 Robert Webster Ford (1923-2013) sinh ra ở Anh, đến Tây Tạng từ năm 1945, và trở thành người phương Tây đầu tiên làm công chức cho chính quyền tại đây. Khi Trung Quốc xua quân chiếm Tây Tạng năm 1950, thay vì bỏ đi, ông chọn ở lại cùng người Tạng. Và ông bị quân Trung Quốc bắt, giam tù, tra tấn, cải tạo tư tưởng suốt năm năm.


Câu chuyện của ông được kể lại trong cuốn tự truyện Captured in Tibet (Bị bắt ở Tây Tạng) xuất bản năm 1957, bản ở Mỹ có tên Wind Between the Worlds (Gió giữa ta bà thế giới), năm 1990 tái bản dưới tên The Occupation (Cuộc chiếm đóng) với lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

2. 
Bài được dịch dưới đây tuy ngắn gọn, nhưng lại như một cuốn phim ngắn cô đọng nhiều chi tiết và tình tiết. Đọc xong, hình ảnh Robert Ford cứ ám ảnh tôi, gợi nhiều suy nghĩ, và tôi xin phép được chia sẻ đôi điều ở đây.

Tuy không được truyền thông đại chúng nói tới bao nhiêu nhưng Robert Ford thật đáng chú ý, có lẽ vì ông đại diện cho một “cách làm người” khác. Cái cách của những gã “giang hồ” rời bỏ nước mình, sống, làm việc và sẵn sàng chết cho chính nghĩa ở một nước khác.

Nhưng đó mới chỉ là một vế, vì giang hồ cũng có năm bảy đường. Ford gợi nhớ đến con đường của những người nổi tiếng khác trong “giới”, tuy được truyền thông đại chúng tung hô, nhưng chưa hẳn đã thực sự xứng đáng, hoặc cần, chú ý.

Đường của Ché Guevara là một:
Ché sinh ở Argentina, làm bạn và làm cách mạng với Fidel Castro ở Cuba, rồi làm tiếp cách mạng ở Congo, Bolivia, cuối cùng chết ở Bolivia. Mặc dù trong thời Chiến tranh Lạnh, Ché trở thành một thứ James Dean của cách mạng (Ché cũng chết trẻ, lúc 39 tuổi), và được “phong thánh” (trẻ em Cuba mỗi sáng đều đọc câu “em mơ thành Ché”), con người thật của người hùng này ngày càng lộ rõ:

“Guevara không phải là một chàng lãng mạn theo đạo Chúa, mà là một tay Mác-xít tàn nhẫn và giáo điều, cũng không đại diện cho giải phóng, mà là đại diện cho một nền độc tài chuyên chính mới. Ở Sierra Maestra [Cuba] ông cho bắn bỏ những kẻ bị tình nghi là phản bội cách mạng; sau chiến thắng, Castro giao cho ông chịu trách nhiệm đội xử bắn, tử hình ‘những tên phản cách mạng’; khi làm bộ trưởng công nghiệp [Cuba], Guevara cổ xúy chính sách truất hữu triệt để, tịch biên đến miếng đất nông nghiệp cuối cùng, đến cửa hàng tư nhân cuối cùng. Việc ông cổ vũ cho chiến tranh du kích, bất kể tình hình chính trị có phù hợp hay không, đã đẩy hàng ngàn thanh niên Châu Mỹ La Tinh đầy ắp lý tưởng vào chỗ chết, đã giúp dựng nên các chế độ độc tài tàn ác và làm trì hoãn tiến trình đi đến dân chủ.” [i]

Ford khác Ché ở nhiều điều. Một điều nhỏ là Ford cũng từng “phượt” đó đây trên mô-tô như Ché, nhưng trong khi nhật ký mô-tô của Ché trở thành best-seller một thời, được làm phim, thì Ford phượt rồi lại chán, và ông quyết định không đi nữa, mà ở lại Tây Tạng, ngay khi quân xâm lược Trung Quốc tràn vào. Có lẽ, “ở lại” trong trường hợp này mới là thứ “giang hồ” tuyệt đỉnh.

3.
Cũng có một con đường giang hồ khác, của một người phương Tây khác, tên là Heinrich Harrer (1912-2006), nhà leo núi thám hiểm người Áo, có mặt ở Tây Tạng cùng thời với Ford, trước khi Trung Quốc xâm lăng. Chuyện của Harrer được kể lại trong phim Seven Years in Tibet (Bảy năm ở Tây Tạng), do tài tử Brad Pitt điển trai giữ vai chính, và Jean-Jacques Annaud đạo diễn (Annaud cũng là đạo diễn phim L’Amant (Người tình) quay tại Việt Nam).

Nếu so với Ford thì chuyện của Harrer quá bình yên và bình thường. Nhưng vì sao Harrer lên phim, Ford thì chìm? Câu trả lời có lẽ nằm ở công thức sản xuất phim theo kiểu Hollywood: Phương Tây thích làm phim về nước ngoài nếu, và chỉ nếu, có người phương Tây trong phim, nhất là ông Tây này phải giữ một vai trò “chiếu trên”, như góp phần “khai hóa” dân bản xứ chẳng hạn (hoặc trong trường hợp phim Người tình, nhân vật nữ phương Tây đã làm anh da vàng… điêu đứng). Hình tượng đó kín đáo làm khán giả phương Tây thấy thỏa mãn “tự ái dân tộc” hơn, và như thế sẽ mua vé xem phim nhiều hơn. Chuyện của Harrer đáp ứng điều này, ông là “thầy” dậy Anh văn, và nhiều thứ khác của phương Tây, cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Còn Ford, dù rất hay, lại là chuyện của một ông Tây hòa vào đám đông, và bị những tên cai tù (da vàng) trù dập. Harrer cũng giang hồ, nhưng là giang hồ “cung đình”, trong khi Ford là giang hồ… “chìm”.[ii]

4.
Con đường của Robert Ford Tây Tạng – tên rất dễ nhầm với Robert Redford, tài tử thành công trong phim Out of Africa (Rời Phi Châu) – gợi ra hình ảnh của một thiền sư rời chùa, rời tháp ngà, xuống núi, “thõng tay vào chợ”.

Có lẽ, với Ford, và những người như ông, sống – gồm cả sẵn sàng hy sinh để sống cho ra hồn – là một chọn lựa hoàn toàn có ý thức và tự nguyện, chứ không phải một phản xạ thụ động và đối phó. Họ sống thật với mình, chứ không “diễn” cho người khác xem và sung sướng vì mình long lanh trong mắt người khác. Và vì không diễn nên họ thanh thản như không. Thấy họ “hay” cũng được, bảo họ “ngu” cũng xong. Chuẩn mực xã hội không đo được họ.

Sau này, Robert Ford phục vụ cho Bộ Ngoại giao Anh, có lúc đã làm việc ở Việt Nam. Về hưu, ông đấu tranh cho Tây Tạng. Ông từng sắp xếp để Đức Đạt Lai Lạt Ma gặp hoàng gia Anh. Và Lạt Ma đã đích thân chủ trì lễ tưởng niệm khi Ford qua đời. Tháng ba năm nay, chính quyền lưu vong Tây Tạng đã trả lại cho ông khoản lương còn thiếu từ năm 1950, tương đương 100 đô-la. Rất có thể loài người cũng nợ những người như Ford một khoản “lương” nào đó, chỉ vì họ tồn tại.

Tôi tin những gã giang hồ một mình như thế. Họ vẫn đang lang bạt đâu đó, giữa núi rừng, hoang mạc, ruộng đồng, làng chài hay phố thị. Họ có thể ngồi uống trà đá hay bia hơi ở bàn cạnh tôi trong quán bình dân tối qua, hay cọ vai vào bạn trên chuyến xe buýt vượt qua con đường nhiều ổ gà sáng nay.
______________

Robert Ford, người Anh, chuyên viên radio Tây Tạng Tự do, qua đời ngày 20/9, thọ 90 tuổi.
So với những quan chức khác của chính quyền Tây Tạng, ông dường như một mình một cõi. Áo không nâu sồng, tóc không kết bím, tai không khoen dài. Ngược lại, ông để tóc húi cao sau gáy và trên tai, lại mặc bộ quần áo vét cứng đờ, rất khó cho người mặc khom sâu cúi chào, ngồi chéo chân trên đất, hay co chân leo lên lưng ngựa. Ngoài đường, ai nấy chăm chăm nhìn tóc ông hoe hoe vàng. Những bạn thân người Tạng cũng không dám dùng chung dầu gội của ông, vì sợ dùng xong tóc họ cũng sẽ vàng hoe hoe như thế.

Robert Ford được người Tây Tạng mướn vào năm 1948 để dựng nên hệ thống thông tin hiện đại cho Tây Tạng: ít nhất là hiện đại hơn những con đường mòn in chân lừa đi, ngoằn ngoèo vắt ngang những dãy núi cao nhất thế giới. Việc của ông, với lời chúc phúc của Đạt Lai Lạt Ma, là gắn kết khu vực trọng yếu Chamdo ở phía đông với thủ đô Lhasa, và kết nối Tây Tạng với thế giới bên ngoài. Vô tình, ông cũng giúp Tây Tạng phần nào đứng vững như một đất nước tự do trước những đợt tấn công xâm nhập của Trung Quốc. Người dân Tây Tạng gọi ông là Phodo Kusho (Ford Esquire, Ngài Ford). Còn người Trung Quốc, khi bắt được ông, lại gọi ông là gián điệp tay sai đế quốc.

Cuộc sống của ông ở Chamdo thật lạ lùng, nhưng cũng rất khắc nghiệt. Ông phải gắng uống vô số những tách trà bơ, và loại bia “chang” khó nhằn đặc sản. Một lá thư gửi về Anh mất năm tuần mới đến, ngay một thông điệp gửi đến Lhasa cũng mất 15 ngày. Nhưng kết nối qua radio không chuyên lại giúp ông quen biết nhiều bạn bè trên thế giới, và trong một lần may mắn, ông quen được một anh thợ may cùng quê hương Burton-on-Trent. Nhờ vậy, khi điều kiện cho phép, ông có thể nói chuyện với bố mẹ vào mỗi thứ tư.

Huấn luyện cho người dân Tây Tạng hiểu radio là gì còn khó hơn. Người bình dân cứ tìm “cái ông nằm trong cái hộp”; các quan chức cao cấp thì cứ hay cúi mình trước micro và choàng khăn trắng cho micro để tỏ lòng tôn kính. Ở Chamdo, cũng chẳng mấy ai có đồng hồ để có thể hẹn giờ nghe đài. Thay vào đó, ông phải tính giờ truyền thanh của mình theo vị trí mặt trời lên xuống.

Khi quân đội Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng vào năm 1950, ông được yêu cầu treo những giải cờ cầu nguyện lên cột ăng-ten phát thanh, vì để chống lại súng máy và đại pháo của quân Trung Quốc, người dân Tây Tạng hầu hết chỉ biết khẩn cầu thần thánh. Họ sợ máy bay trên trời có thể khuấy động các vị thần trên tầng cao. Ford tham gia những nghi lễ ông có thể tham gia, nhưng chưa bao giờ thấy mình là một phần của tôn giáo nơi đây. Có lẽ ông không chỉ là người Anh cô đơn nhất trên thế giới, như ông viết, mà còn là người Thiên Chúa giáo cô độc nhất.

Vào tháng 10, 1950, Chamdo thất thủ. Phodo Kusho lúc ấy có thể bỏ trốn khỏi Tây Tạng, nhưng không, ông đến Tây Tạng để phiêu lưu mạo hiểm kia mà – sau khi đã không thỏa mãn với những cuộc phiêu lưu phượt trên mô-tô, hay làm huấn luyện viên phát thanh cho RAF (Không lực Hoàng gia Anh), hoặc khi được phái đến làm việc tại Ấn Độ năm 1943. Bên cạnh đó, ông thấy không thể bỏ rơi các nhân viên, cũng là những người bạn Tạng của mình. Ít nhất, việc ông ở lại cũng góp phần cho thế giới bên ngoài biết rằng Tây Tạng đã không buông xuôi hay ngoan ngoãn đầu hàng. Ông đến Lhasa bằng cách vượt một chặng đường 4.500 mét xuyên qua những khe núi vách đá dựng đứng, phần lớn trong đêm, để rồi đến cuối đường, ông lại lọt vào tay quân Trung Quốc phục sẵn. Ông bị tống giam, trải qua không biết bao nhiêu cuộc tra vấn suốt năm năm trời.

Cai ngục đinh ninh rằng ông đã đầu độc Lạt Ma Geda, tu sĩ Tây Tạng thân Trung Quốc. Thực ra thì Ford đã không chịu chữa trị cho Geda, dù ông là “thầy thuốc” tốt nhất có được lúc bấy giờ ở Chamdo, nhờ ông học cứu thương khi còn là hướng đạo sinh; ngược lại, các thầy tu lo chữa bệnh cũng chỉ có thể đề xuất cách điều trị tốt nhất cho Geda là uống nước tiểu của Đạt Lai Lạt Ma.

Ngoài ra, hoạt động phát thanh của ông cũng làm cai tù Trung Quốc nghĩ ông là gián điệp, một việc ông không hề liên quan. Họ lập luận rằng: Nước Anh sẽ phản ứng thế nào, nếu Trung Quốc cử người đến xúi giục ly khai ở xứ Wales? Còn những thông điệp mã hóa kia trong báo cáo hàng ngày của ông có nghĩa là gì, chẳng hạn như dòng mật mã “SRI OM CONDK PR”? Ford cố giải thích: đó chẳng qua là “Sorry old man, conditions poor” (Xin lỗi bố già, tình hình bết bát quá). Kẻ tra vấn ông phản bác lập tức: “Bố láo! “Sorry” mà đánh vần thế à?”

Tôi trung của các vị

Quân Trung Quốc không giết ông. Thay vào đó, họ cố biến ông thành người cộng sản thuần thành bằng những cuộc tra tấn tâm lý liên tiếp. Điều kiện giam giữ khắc nghiệt dần, cho đến khi ông bị biệt giam trong căn phòng dưới gầm cầu thang đầy chuột. Khủng bố tinh thần cũng ngày càng tăng cường độ, cho đến khi cứ mỗi sáng thức dậy, ông lại bụng bảo dạ không biết hôm nay người ta có đem mình ra bắn bỏ hay không. Lần hồi, ông biết chắc rằng chỉ còn cách nhận tội (dù là nhận một cách giả tạo và chỉ nhận một phần) mới có thể thoát chết và đầu óc không phát điên. Thế là ông tự nạp vào đầu mớ ngôn ngữ Mao-ít, cũng leo lẻo lên án chủ nghĩa đế quốc, cũng tự phê, tự thú đã phạm tội trong tư tưởng ra sao. Không chỉ phải làm tất cả những thứ ấy, ông còn phải cho thấy mình “thành khẩn, chấp hành đường lối, và trên hết là thật tình cải tạo” ra sao.

Sau bốn năm, ông được phép viết thư cho bố mẹ vốn nghĩ rằng ông đã chết rồi. Một năm sau, ông được xem là đã cải tạo xong, và bị trục xuất qua Hong Kong. Ở Hong Kong, ông biết tin “một nhóm những con người dũng cảm đã chinh phục ngọn Everest”, chứ ngọn núi không được chinh phục “nhờ Đảng quang vinh hoặc nhờ Mao Chủ tịch vĩ đại”. Ông bắt đầu giải độc đầu óc mình, làm lại từ đầu.

Sau này, lúc nghỉ hưu, rời khỏi công việc trong ngành ngoại giao nước Anh, ông trở thành người đấu tranh rất mạnh mẽ và thẳng thắn cho quyền lợi Tây Tạng. Qua nhiều năm, vị thế của ông trở nên quan trọng: Ông là nhân chứng phương Tây duy nhất còn sống sót đã sống tận nơi, xem tận mắt đất nước Tây Tạng trước khi Trung Quốc xâm chiếm, ông cũng ở vị trí rất tốt để phản bác lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của kẻ chiếm đóng: Thì đúng rồi, Trung Quốc đã cải thiện được mức sống cho dân; thì đúng rồi, tiến bộ của nước Tây Tạng cổ xưa đã diễn ra, tuy hơi chậm chạp; nhưng theo ông, “không thể lấy một người máy, dù no nê khỏe mạnh, để thay thế một con người.”

Bạn của ông, đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại, đã chủ trì nghi lễ tưởng niệm ông. Trước đó vài tháng, ông đã trở thành một trong số ít người ngoại quốc làm công chức cho chính quyền Tây Tạng được tặng danh hiệu cao quý nhất của đất nước này, Giải thưởng Ánh sáng từ Sự thật. Và ông cũng được trả nốt số lương còn sót lại là một tờ 100 srang mà chính quyền Tây Tạng nợ ông từ trước khi ông bị bắt.

Ảnh: Robert W. Ford khi bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt năm 1950.

Nguồn: “Robert Ford”, The Economist, số ra ngày 5 tháng 10, 2013. Tựa của người dịch.
Bản tiếng Việt © 2013 Phan Trinh & pro&contra


________________________________________
[i] “Che Guevara – A modern saint and sinner. Why the Che myth is bad for the left” (Ché Guevara – thánh nhân và tội nhân kiểu mới. Vì sao huyền thoại Ché không tốt cho cánh tả), The Economist, số ra ngày 11 tháng 10, 2007.
[ii] Cả Harrer và Ford đều được Đức Đạt Lai Lạt Ma trao Giải Ánh sáng từ Sự Thật”. Harrer nhận giải năm 2002, vì nỗ lực của ông trong việc trình bày cho thế giới biết tình hình Tây Tạng. Ford nhận giải vào tháng 4, năm 2013, vì “không ngừng vận động cho chính nghĩa Tây Tạng trong hơn nửa thế kỷ”.


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

The Economist - Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam


Một thỏa thuận thương mại do Mỹ dẫn dắt có giúp gì cho các nhà cải cách Việt Nam hay không?

The Economist, Oct 19th 2013
Phạm Nguyên Trường dịch - 

Một số người cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển động khá nhanh. Tốc độ lạm phát với hai con số trong năm 2011 đã đã bắt đầu hạ nhiệt, còn kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và hàng điện tử thì đang gia tăng nhanh chóng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 36% mỗi năm, đấy là theo đánh giá của cơ quan xếp hạng, có tên là Fitch.


Nhưng, GDP lại gia tăng khá chậm: năm ngoái chỉ đạt 5%, thấp nhất kể từ năm 2009. Rắc rối phần lớn là do đảng Cộng sản cầm quyền thất bại trong việc ép các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tuân thủ kỷ luật và không xử lý được những khoản nợ xấu trong trong các ngân hàng. Cũng như nước láng giềng Trung Quốc, các ông trùm trong đảng và đàn em của họ không muốn thay đổi hiện trạng vì nó có lợi cho họ.

Nhưng, muốn có tính hợp pháp thì chính phủ phải cải thiện được cuộc sống của người dân trong cái đất nước có tới 90 triệu người này. Trong mấy tháng gần đây, các quan chức bắt đầu tung ra kế hoạch cải cách kinh tế quan trọng. Dấu hiệu đáng khích lệ gồm có Nghị quyết của Bộ Chính trị hồi tháng Tư, coi hội nhập kinh tế là ưu tiên hàng đầu; và những cuộc tranh luận gần đây của các nhà làm luật của Việt Nam về biện pháp "cổ phần hóa" hay tư nhân hóa một phần doanh nghiệp nhà nước. Tháng 9 vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ xử lý 1.300 doanh nghiệp nhà nước như các công ty tư nhân và tăng mức cổ phần trong các ngân hàng mà các nhà đầu tư ngoại quốc có thể sở hữu lên từ 30% đến 49%. 

Một nhà ngoại giao phương Tây nói rằng hiện nay vấn đề không phải là có cải cách hay không mà là cải cách sẽ diễn ra nhanh đến mức nào. Nếu đúng như thế thì tốc độ thay đổi có thể phụ thuộc vào Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tức là phụ thuộc vào Thỏa thuận thương mại tự do của hơn một chục nước do Mỹ lèo lái, đang được trù liệu. Ngoài những vấn đề khác, TPP sẽ yêu cầu các thành viên kiềm chế những hành động thái quá của doanh nghiệp nhà nước.

Việc TPP tập trung chú ý vào doanh nghiệp nhà nước tạo ra vỏ bọc chính trị cho các nhà lập pháp có tinh thần cải cách của Việt Nam, để họ có thể theo đuổi chương trình nghị sự của mình, một nhà kinh tế học là ông Phùng Đức Tùng nói như thế. Họ sẽ đi xa đến đâu vẫn là một câu hỏi mở, nhưng ông Tùng cho rằng tư nhân hóa hầu hết các DNNN sẽ thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và tạo được nền tảng thuế khóa vững chắc hơn. 

Doanh nghiệp nhà nước, chiếm 40 % sản lượng kinh tế, đang có nguy cơ gắn chặt với các ngân hàng quốc doanh – tức là gắn với những người cho vay từng tài trợ cho việc tham gia vào thị trường bất động sản đầy rủi ro trong vụ bùng nổ kèm theo việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007. 

Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đang tích cực "tái cơ cấu", báo chí do nhà nước kiểm soát nói như thế. Không có người nào tin rằng những khoản tín dụng khổng lồ sẽ tái diễn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động không hiệu quả, một số nợ nần chồng chất đến nỗi không có tiền trả lương cho nhân viên. 

Không có gì tốt đẹp cho hàng trăm ngàn thanh niên đang bước vào thị trường lao động thiếu sinh khí của Việt Nam, những người đang chán ngấy nạn tham nhũng và bất bình đẳng còn đáng buồn hơn thế. Cùng với tâm trạng thất vọng về hệ thống giáo dục, y tế và chính sách về quyền sử dụng đất, những vấn đề đó có thể là nhiên liệu cho một vụ bùng nổ xã hội trong một ngày nào đó.

Trong khi đó, các nhà đàm phán trong lĩnh vực thương mại của Mỹ đang nóng lòng muốn kết thúc những cuộc đàm phán TPP. Sự hấp dẫn đối với Việt Nam là một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc và giày dép sẽ dễ tiếp cận hơn với thị trường Mỹ. Nhưng đại sứ Mỹ ở Việt Nam, ông David Shear, nói rằng nước này cần phải thể hiện "sự tiến bộ rõ ràng" về nhân quyền để có thể giúp cho dư luận Mỹ ủng hộ họ tham gia vào TPP. Về mặt này, việc luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân bị phạt tù vì tội danh trốn thuế giả mạo sẽ chẳng giúp được gì. Mặc dù vậy, rất có thể hai bên sẽ ký thỏa thuận trong năm tới.

Nguồn: economist.com


Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

The Economist - Bí quyết thành công của Bắc Âu


The Economist
Phạm Vũ Lửa Hạ dịch và chú thích

pro&contra – Mô hình dân chủ xã hội như một khả năng cạnh tranh hoặc chuyển đổi cho thể chế xã hội chủ nghĩa trên danh nghĩa của Việt Nam gần đây được quan tâm trở lại, sau lời kêu gọi thành lập một Đảng Dân chủ Xã hội của ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận. Không ở đâu mô hình này đồng nghĩa với thành công hơn ở các nước Bắc Âu, nơi các đảng dân chủ xã hội cầm quyền trong một thời gian dài – ở Na Uy thậm chí từ 86 năm nay. Song bí quyết thành công của Bắc Âu hiện tại có phải chỉ bắt nguồn từ mô hình dân chủ xã hội? Tháng Hai năm nay, tờ The Economist có loạt bài phân tích Bắc Âu như một “siêu mô hình” đáng cho thế giới học hỏi. Chúng tôi xin giới thiệu sau đây hai bài trong số đó.


Các nước Bắc Âu có lẽ trị quốc tốt nhất thế giới

Cecil Rhodes[i] từng nhận xét rằng “sinh ra là người Anh coi như trúng số độc đắc”. Ngày nay ta cũng có thể nói như vậy về người sinh ra ở Bắc Âu. Các nước Bắc Âu không chỉ tránh được phần lớn những vấn nạn kinh tế đang làm rung chuyển vùng Địa Trung Hải; mà còn tránh được phần lớn những căn bệnh xã hội đang hành hạ nước Mỹ. Xét về bất cứ chỉ số nào đo lường tình trạng ổn định và lành mạnh của một xã hội – từ các chỉ số kinh tế như năng suất và đổi mới sáng tạo đến các chỉ số xã hội như tình trạng bất bình đẳng và tội ác – các nước Bắc Âu quần hội ở gần đầu bảng xếp hạng (xem bảng).

Tại sao khu vực hẻo lánh, dân cư thưa thớt, với mùa đông băng giá và những vùng hoang vu mênh mông này lại thành công đến vậy? Đã có thời đa số người dân các nước này chẳng ngần ngại ca ngợi chính phủ của họ, cái chính phủ mà trong phần lớn thế kỷ 20 chính là những nhà dân chủ xã hội nấp dưới một trong những vỏ bọc dân tộc khác nhau của họ. Chính phủ đó đã cung cấp cho người dân các dịch vụ phúc lợi trọn đời, từ lúc lọt lòng cho đến khi xuống mồ, cứu họ thoát khỏi cảnh sống khắc nghiệt của tổ tiên họ hồi thế kỷ 19, và can thiệp để cứu các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát khỏi những cuộc khủng hoảng định kỳ.

Nhưng giới chủ trương thị trường tự do bới lông tìm vết trong cách lý giải của giới ủng hộ vai trò can thiệp của chính phủ, và đưa một cách giải thích khác đầy thuyết phục. Trong giai đoạn từ 1870 đến 1970, các nước Bắc Âu nằm trong số các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nhờ một loạt các cải cách có lợi cho kinh doanh chẳng hạn như thành lập các ngân hàng và tư hữu hóa các khu rừng. Nhưng trong những năm 1970 và 1980 sự bành trướng thiếu kỷ cương của chính phủ khiến những cải cách đó chựng lại. Giới chủ trương thị trường tự do nhận định rằng thành tựu đáng nể gần đây của khu vực này là nhờ họ quyết tâm giảm chi tiêu chính phủ và để cho giới kinh doanh được tự do hành động.

Vai trò của chính phủ trong việc cải thiện tình trạng bình đẳng cũng đang bị đặt câu hỏi. Andreas Bergh, thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế học Công nghiệp của Thụy Điển, nhận định rằng thu nhập [quốc dân] của Thụy Điển đã giảm sút trước khi nhà nước phúc lợi xuất hiện, mà nhà nước phúc lợi này là một hệ quả chứ không phải nguyên nhân của sự thịnh vượng của Bắc Âu – và suýt giết chết con ngỗng đẻ trứng vàng.

Bản tường trình đặc biệt này [của tạp chí The Economist] tán thành một số lập luận của giới chủ trương thị trường tự do. Các nước Bắc Âu đã từng nhiễm thói quen chi tiêu cho phúc lợi nhiều hơn khả năng trang trải của họ và thói quen dựa dẫm quá nhiều vào một số ít công ty lớn. Họ hành động đúng khi cố gắng tinh giản nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh doanh. Nhưng sẽ sai lầm nếu [họ] hoàn toàn phớt lờ vai trò của chính phủ.

Các nước Bắc Âu hãnh diện về tính trung thực và minh bạch của chính phủ nước họ. Các chính phủ Bắc Âu bị giám sát chặt chẽ: ví dụ, ở Thụy Điển ai cũng có quyền xem tất cả các hồ sơ chính thức. Các chính khách bị bêu diếu, nếu họ nhảy khỏi yên xe đạp và chui vào xe limousine công.

Người Bắc Âu đã cộng thêm hai phẩm chất quan trọng vào tính minh bạch: tính thực dụng và tính quyết đoán. Khi phát hiện rằng kiểu đồng thuận dân chủ xã hội cũ không còn tác dụng, họ sẵn sàng từ bỏ nó mà chẳng một lời bàn cãi ầm ĩ và áp dụng những ý tưởng mới từ đóng góp của mọi giới chính trị bất kể tả hữu. Họ cũng tỏ ra hết sức quyết tâm trong việc thực hiện triệt để các cải cách. Nếu thấy người Bắc Âu tử tế mà tưởng họ nhu nhược yếu đuối là ta nhầm to.

Tính thực dụng giải thích tại sao sự đồng thuận mới đã nhanh chóng thay thế sự đồng thuận cũ. Ví dụ, hiếm có chính khách Dân chủ Xã hội Thụy Điển nào muốn bãi bỏ những cải cách bảo thủ được thực hiện trong những năm gần đây. Tính thực dụng cũng giải thích tại sao dường như các nước Bắc Âu thường có thể là nơi tập hợp đủ kiểu chính sách thiên tả và thiên hữu.

Tính thực dụng cũng giải thích tại sao người Bắc Âu liên tục nâng cấp mô hình của họ. Họ vẫn còn gặp nhiều vấn đề. Các chính phủ của họ vẫn còn quá cồng kềnh và khu vực tư nhân ở các nước này còn quá nhỏ. Thuế của họ vẫn còn quá cao và một số khoản phúc lợi của họ quá hào phóng. Hệ thống đảm bảo công ăn việc làm linh hoạt (flexicurity) của Đan Mạch quá coi trọng đến sự bảo đảm việc làm, nhưng quá coi nhẹ tính linh hoạt. Sự phát triển bùng nổ dầu hỏa của Na Uy đang có nguy cơ tiêu diệt tinh thần làm việc siêng năng cần mẫn. Quả là dấu hiệu xấu khi ở bất cứ thời điểm nào cũng có hơn 6% lực lượng lao động nghỉ bệnh và khoảng 9% dân số trong độ tuổi lao động sống bằng trợ cấp bệnh tật. Nhưng người Bắc Âu tiếp tục áp dụng các cải cách cơ cấu mới, có lẽ là hơi chậm nhưng đầy dứt khoát và cương quyết. Họ lại đang thực hiện những điều này mà không hề hy sinh các đặc tính khiến mô hình Bắc Âu vô cùng có giá trị: khả năng đầu tư vào vốn con người và bảo vệ cho người dân tránh khỏi những xáo trộn vốn là một phần của hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Noi gương Đan Mạch[ii]

Phần lớn các nước giàu hiện nay đang gặp những vấn đề mà người Bắc Âu đã gặp vào đầu những năm 1990 – chi tiêu công cộng vượt quá tầm kiểm soát và các chương trình phúc lợi an sinh quá hào phóng. Nam Âu cần đôi chút tính quyết đoán của Bắc Âu nếu muốn kiểm soát tài chính công. Và Mỹ cần đôi chút tính thực dụng của Bắc Âu nếu mong có cơ hội kiềm chế phúc lợi an sinh và cải cách khu vực công cộng.

Người Bắc Âu chẳng hề đỏ mặt ngượng ngùng khi cần quảng bá các ưu điểm của mô hình của họ. Các tổ chức nghiên cứu của Bắc Âu tiến hành những nghiên cứu chi tiết bằng tiếng Anh về cách họ cải cách nhà nước. Các chính khách tích cực bảo vệ quan điểm của mình ở các cuộc họp quốc tế và các chuyên viên tư vấn Bắc Âu mang kinh nghiệm chuyên môn của mình về khu vực công cộng đi bán khắp thế giới. Dag Detter đã đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tái cấu trúc danh mục đầu tư thương mại của nhà nước Thụy Điển trong những năm 1990, chiếm hơn một phần tư khu vực kinh doanh. Từ đó ông đã cố vấn cho chính phủ các nước ở Châu Á và Châu Âu.

Song khó mà hình dung được mô hình trị quốc của Bắc Âu có thể truyền bá nhanh chóng, chủ yếu bởi vì tài năng trị quốc Bắc Âu mang tính đặc thù, không giống ai. Việc trị quốc ở Bắc Âu xuất phát từ sự kết hợp địa lý khắc nghiệt và lịch sử ôn hòa. Tất cả các nước Bắc Âu đều có dân số ít, bởi vậy những người thuộc tầng lớp chóp bu cầm quyền phải hòa đồng với nhau. Vua chúa các nước này sống ở những nơi tương đối giản dị và giới quý tộc cũng phải kỳ kèo mặc cả với các nông dân và thủy thủ có suy nghĩ độc lập.

Họ sớm đi theo chủ nghĩa tự do. Thụy Điển bảo đảm tự do báo chí vào năm 1766, và kể từ những năm 1840 về sau Thụy Điển bãi bỏ chế độ ưu tiên cho quý tộc khi giao phó những chức vụ cao cấp trong chính phủ, và tạo ra hệ thống công quyền dựa trên năng lực và không có tham nhũng. Họ cũng theo đạo Tin Lành – một tôn giáo giảm vai trò của giáo hội xuống chỉ còn là người hỗ trợ và nhấn mạnh đến mối quan hệ trực tiếp giữa con người và Thượng Đế. Một trong những ưu tiên chính của giáo hội Tin Lành là dạy nông dân biết đọc.

Sự kết hợp giữa địa lý và lịch sử đã cung cấp cho các chính phủ Bắc Âu hai nguồn lực quan trọng: sự tín nhiệm người lạ và lòng tin vào các quyền cá nhân. Một khảo sát của Eurobarometer[iii] về sự tín nhiệm xã hội tổng quát (khác với lòng tin trong gia đình) cho thấy các nước Bắc Âu nằm ở các vị trí dẫn đầu (xem biểu đồ dưới đây). Giới kinh tế học cho rằng sự tín nhiệm ở mức độ cao dẫn đến chi phí giao dịch thấp hơn – không cần đến kiện tụng kiểu Mỹ hay những thương vụ “có qua có lại mới toại lòng nhau” kiểu Ý để được việc. Nhưng các ưu điểm của Bắc Âu không chỉ dừng lại ở đó. Sự tín nhiệm đồng nghĩa với việc những người tài đức tham gia bộ máy công quyền. Công dân đóng thuế và tuân thủ luật lệ. Các quyết định của chính phủ được nhiều giới tán thành.

Mức tín nhiệm của công chúng đối với các thể chế*

Tháng 11/2012, % trả lời “có xu hướng tín nhiệm”

Finland = Phần Lan; Denmark = Đan Mạch; Sweden = Thụy Điển; Russia = Nga

*Gồm báo chí, các đảng phái chính trị, chính phủ quốc gia, Liên hiệp Châu Âu (EU) và Liên Hiệp Quốc
Nguồn: Ủy hội Châu Âu

Cuộc Khảo sát Các Giá trị Thế giới (The World Values Survey), đã thăm dò các giá trị ở hơn 100 nước từ năm 1981, cho biết dân Bắc Âu là những người có lòng tin lớn nhất thế giới về quyền tự chủ của cá nhân. Sự kết hợp kiểu Bắc Âu giữa chính phủ quy mô lớn và chủ nghĩa cá nhân có thể nghe kỳ lạ đối với một số người, nhưng theo Lars Tragardh, thuộc Đại học Ersta Skondal University College ở Stockholm, người Bắc Âu dễ dàng hòa hợp hai yếu tố này: họ xem công việc chính của nhà nước là cổ xúy quyền tự chủ của cá nhân và tính cơ động xã hội (social mobility).[iv] Bất cứ luật lệ xã hội nào của Bắc Âu – đặc biệt là các luật gia đình trong những năm gần đây – cũng có thể được chứng minh là ủng hộ quyền tự chủ của cá nhân. Dịch vụ giáo dục miễn phí phổ quát[v] giúp cho sinh viên thuộc mọi tầng lớp và hoàn cảnh đạt được tiềm năng của mình. Việc đánh thuế tách bạch đối với các cặp vợ chồng giúp người vợ được bình đẳng với người chồng. Dịch vụ giữ trẻ phổ quát tạo điều kiện cho cả hai bậc cha mẹ có thể đi làm toàn thời gian. Ông Tragardh có một cụm từ hữu ích để mô tả tâm lý này: “chủ nghĩa cá nhân có sự can thiệp của nhà nước” (statist individualism).

Người Bắc Âu mang theo thái độ này đối với chính phủ khi họ ra nước ngoài. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khoảng 1,3 triệu người, một phần tư dân số Thụy Điển lúc đó, di cư, chủ yếu sang Mỹ. Nước Mỹ sáng tác cả thể loại chuyện tiếu lâm về “những người Thụy Điển khờ khạo” và thái độ sẵn sàng tuân thủ luật lệ của họ. Chính những người Thụy Điển khờ khạo đã tạo nên các cộng đồng được quản lý tốt nhất ở Mỹ, chẳng hạn như Minnesota. Thậm chí ngày nay những người Mỹ gốc gác Bắc Âu có khả năng cao hơn 10% so với người Mỹ trung bình về chuyện tin rằng “phần lớn mọi người có thể tin được”.

Quy mô lớn nhỏ không phải yếu tố duy nhất

Giới kinh tế học thường ngỡ ngàng về thành công kinh tế gần đây của các nước Bắc Âu trong khi chính phủ các nước này có quy mô quá lớn. Theo một quy tắc không chính thức trong giới chuyên môn, nếu số thu thuế tính theo tỉ lệ phần trăm của GDP tăng lên 10 điểm phần trăm, thì thường có tương quan với mức giảm nửa điểm phần trăm về tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Nhưng các con số như vậy cần được điều chỉnh để phản ánh các lợi ích của tính trung thực và hiệu quả. Ví dụ, chính phú Ý ấn một gánh nặng kinh khủng đè lên vai xã hội vì các chính khách điều hành chính phủ chủ yếu lo chuyện vơ vét lợi lộc chứ không phải cung cấp dịch vụ công cộng. Goran Persson, cựu thủ tướng Thụy Điển, từng so sánh nền kinh tế Thụy Điển với một con ong – “với một cơ thể quá nặng nề và đôi cánh nhỏ, cứ tưởng con ong không bay nổi, nhưng nó bay được”. Ngày nay con ong đó vẫn đang giữ thể trạng khỏe mạnh và đang bay khỏe hơn nhịp bay của nó trong mấy chục năm qua.

Nguồn: The Economist, 02-2-2013
Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra

[i] Cecil John Rhodes (1853-1902) là doanh nhân Anh, nhà tài phiệt ngành khai khoáng (chủ tịch đầu tiên của công ty kim cương De Beers), và chính khách ở Nam Phi. Ông dùng gia sản của mình lập học bổng Rhodes tài trợ cho sinh viên xuất sắc nước ngoài học ở Đại học Oxford. Học bổng này được nhiều nguồn như tạp chí Time, nhà xuất bản Yale University Press, báo The McGill Reporter,và Associated Press xem là học bổng quốc tế danh giá nhất thế giới. (Wikipedia)

[ii] Nguyên văn: “getting to Denmark”. Theo Ian Morris, chủ đề trọng tâm của tác phẩm Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng (The End of History and the Last Man, 1999) của Francis Fukuyama là “noi gương Đan Mạch”. Tác giả Fukuyama ý muốn nói đến việc tạo ra những xã hội ổn định, thanh bình, thịnh vượng, dung nạp mọi thành phần và tầng lớp, và trung thực. Cũng như trong tiểu luận nổi tiếng Sự cáo chung của lịch sử làm tiền đề cho cuốn sách này, Fukuyama xem đây là điểm tận cùng hợp lý của phát triển xã hội, và cho rằng tính chất Đan Mạch đòi hỏi phải có ba yếu tố: các nhà nước vận hành hiệu quả, chế độ pháp trị, và chính phủ có trách nhiệm giải trình. (Ian Morris, How To Get to the End of History, Slate, 2 May 2011)
[iii] Eurobarometer là loạt khảo sát dư luận được thực hiện định kỳ nhân danh Ủy hội Châu Âu kể từ năm 1973, về nhiều loại chủ đề liên quan đến Liên hiệp Châu Âu ở các nước thành viên. (Wikipedia).

[iv] Tính cơ động xã hội (social mobility) là khái niệm về sự dịch chuyển của các cá nhân, gia đình, hay nhóm người, trong một hệ thống đẳng cấp hay giai tầng xã hội. Nếu sự dịch chuyển đó là thay đổi về vị trí/chức vụ mà không thay đổi về tầng lớp xã hội, thì gọi là “cơ động theo chiều ngang” (horizontal mobility). Ví dụ một người dịch chuyển từ một chức vụ quản lý ở công ty này sang một chức vụ tương tự ở một công ty khác. Nhưng nếu sự dịch chuyển làm thay đổi tầng lớp xã hội thì gọi là “cơ động theo chiều dọc” (vertical mobility), và có thể “cơ động hướng lên” (upward mobility) hoặc “cơ động hướng xuống” (downward mobility). Một công nhân trở thành doanh nhân giàu có dịch chuyển lên giai cấp cao hơn; một quý tộc có đất bị mất hết gia sản trong một cuộc cách mạng dịch chuyển xuống giai cấp thấp hơn. (Bách khoa toàn thư Britannica)

[v] Dịch vụ giữ trẻ phổ quát (universal day care) là hệ thống bảo đảm mọi bậc phụ huynh đều có chỗ gửi con ở nhà trẻ mà không phải chờ đợi, thường có mức phí thấp và cố định. Ví dụ, ở Thụy Điển hệ thống này chủ yếu do nhà nước điều hành, chỉ có 20% đi nhà trẻ tư nhân. Năm 2002, nhà nước Thụy Điển áp dụng khung phí tối đa, giúp hệ thống này càng dễ trang trải hơn vì phí giữ trẻ mà phụ huynh đóng chiếm không quá 1 đến 3% thu nhập của họ. (Devine, Dympna & Kilkenny, Ursula, Nordic childcare model best for economic and social wellbeing, Irish Times, 9 June 2011)