Hiển thị các bài đăng có nhãn TS Phạm Đỗ Chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TS Phạm Đỗ Chí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

ĐỌC SÁCH: “ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH VĨ MÔ”



do TS Phạm Đỗ Chí PGS TS Đào Văn Hùng chủ biên
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Học Viện Chính sách và Phát triển
Hà Nội 2012


TS Phạm Đỗ Chí là một cựu nhân viên của IMF và là một giáo sư Đại học.  Ông đã đứng ra chủ biên cho nhiều sách về kinh tế Việt Nam, bắt đầu bằng cuốn “Đánh thức con rồng ngủ quên” vào 2001; "Làm gì cho nông thôn" (2002); "Thử thách của hội nhập" (2002); "Trên đường hoá rồng" (2005); "Từ lạm phát đến kích cầu" (2010); "Khi rồng muốn thức dậy – loay hoay với mô hình kinh tế sau Đổi Mới" (2011) và vừa mới đây là cuốn "Ổn định và Phát triển Kinh tế: Phân Tích Chính Sách Vĩ Mô" (2012) cùng đứng chủ biên với TS Đào Văn Hùng.

Xem qua các sách vừa kể từ 2001 đến nay, người ta có ngay nhận xét này: ngày càng có nhiều tác giả là kinh tế gia trong nước tham dự. Trong cuốn đầu tiên “Đánh thức con rồng ngủ quên” (2001) tác giả đa số là các kinh tế gia người Việt hải ngoại. Hơn 10 năm sau, trong cuốn sách mới này, các cây bút đóng góp bài vở phần đông là các tác giả trẻ trong nước, với nhiều bài phân tích khá hay.

Cuốn sách “Ổn định và Phát triển Kinh tế: Phân tích Chính sách Vĩ mô” dài hơn 335 trang, chia làm hai phần, bao gồm 20 bài phân tích về kinh tế Việt Nam, với lối viết chuẩn mực, có trình độ về cả hình thức lẫn nội dung. Trên thị trường sách chuyên môn về kinh tế tại VN, người ta thường gặp những sách "giáo khoa" dịch của nhiều tác giả kinh tế nước ngoài, nhưng ít khi thấy được một cuốn sách với nhiều phân tích vĩ mô có tính kỹ trị dính liền vào trường hợp kinh tế VN, do chính các tác giả đang sống ở Việt Nam viết, như cuốn sách này.

Phần 1 được đặt dưới đề tài Ổn định kinh tế vĩ mô gồm 11 chương phân tích về Mối tương quan giữa lạm phát và các chính sách tiền tệ tài khoá, Các chính sách đối phó với đình trệ sản xuất và lạm phát, Phát triển mô hình đường cong Philipps để phân tích nguyên nhân lạm phát, Tránh lạm phát đình đốn, Về một chính sách mới: nâng cao khả năng thực hiện Lạm phát mục tiêu, Định hướng đổi mới phân cấp đầu tư trung ương và địa phương, Quá trình chuẩn bị ngân sách nhà nước, Phân tích tính bền vững của ngân sách nhà nước, Lập trình tài chính quốc gia chú trọng việc xác định các mức tiền tệ tín dụng hàng năm suy ra từ các mục tiêu tăng trưởng, lạm phát và cán cân thanh toán, và việc thiết lập một Hệ thống cảnh báo vĩ mô cho VN.

Trong phần này có nhiều bài phân tích tỉ mỉ về lạm phát và chính sách tài khoá. Lạm phát ở VN do nhiều nguyên nhân như việc in tiền quá nhiều từ áp lực chi tiêu ngân sách làm tăng lượng tiền trên thị trường dẫn đến việc tăng giá.  Các phân tích cũng cho thấy là thâm hụt ngân sách sẽ có tác động chèn ép đầu tư tư nhân và đồng thời giải thích tại sao nhiều doanh nghiệp khó đi vay. Thâm hụt ngân sách một phần là do việc yểm trợ các doanh nghiệp nhà nước và vì thế lại là cản trở cho các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa.  Phân tích mô hình đường cong Philipps cũng giúp cho hiểu thêm về nguyên nhân chính tác động đến lạm phát VN là kỳ vọng lạm phát do sự mất niềm tin.

Bài về Quy trình lập ngân sách và các bài phân tích về nguyên nhân lạm phát rất quan trọng vì nó sẽ giúp các kinh tế gia và các chuyên gia có nền tảng vũng vàng để quyết định về chính sách kinh tế tài chính.  Việc đặt ưu tiên của ngân sách, việc dùng quy trình kế hoạch ngân sách cho nhiều năm (multi-year program budget) là các biện pháp đóng góp vào việc lập quy trình đứng đắn cho một ngân sách nhà nước đồng thời giúp tránh lạm phát cho kinh tế. Bài lập trình tài chính quốc gia hay bài về Hệ thống cảnh báo vĩ mô cho VN cũng là những thí dụ thích hợp áp dụng cho VN dựa theo các phương pháp của IMF, nơi mà một chủ biên làm việc trong nhiều năm và giúp tổng hợp được nhiều phương pháp thực tiễn của các nước khác.  Nói tóm nó sẽ giúp nâng cấp trong vấn đề “quản lý vĩ mô” cho kinh tế VN trong giai đoạn “bối rối” này.

Là một chuyên gia về kinh tế - ngân sách (PFM – Public Financial Management) tôi coi phần này quan trọng – đánh giá cao đóng góp về phần này. Hiện nay các nước OECD đều theo mô hình Program budget vì nó giúp chính phủ quản lý tốt ngân sách chi tiêu thường xuyên lẫn các chi tiêu đầu tư có thời gian dài, đòi hỏi nhiều năm cho lập trình ngân sách.  Đây là việc tốt nhưng nếu VN muốn làm thì sẽ phải cần nhiều năm vì quy trình này đòi hỏi thời gian để đào tạo nhân sự. Mong là trong các công trình tương lai các tác giả sẽ nghiên cứu thêm về quy trình tái tổ chức hành chính trong ngân sách để có thể thực hiện các đề nghị vĩ mô.

Nhìn chung phần 1 là một cố gắng trong việc hệ thống hoá, phân tích và đóng góp một cách bài bản ngân sách và cơ cấu lại nền tài chính công hầu giúp giảm một trong những yếu kém hiện nay của kinh tế Việt Nam là lạm phát.

Phần 2 là đề tài “Tăng trưởng và Tái cấu trúc kinh tế” gồm 9 chương phân tích về sự thay đổi cấu trúc kinh tế, nhìn tổng hợp về hệ thống ngân hàng và các yếu kém trầm trọng hiện tại, tính toán hiệu quả đầu tư công, Uớc lượng sản phẩm tiềm năng của VN, Tái cấu trúc và phát triển Tập đoàn kinh tế, Mô hình cân đối liên ngành liên vùng (I/O), Tiềm năng tăng trưởng kinh tế tiếp cận từ vi mô, đề xuất một khái niệm mới là Tổng sản phẩm toàn cầu (Gross Global Product) của VN và Tái cơ cấu tài chính công và đầu tư công.

Bài phân tích về các thay đổi cấu trúc kinh tế trong hơn 10 năm qua cho thấy có lẽ đã đến lúc VN cần “đánh giá lại các cố gắng trong quá khứ để có thể tiếp tục tăng trưởng bền vững hơn. Bài này cho thấy hiệu quả cao nhất trong đầu tư là khu vực FDI (đầu tư nước ngoài) và hiệu quả thấp nhất là khu vực Doanh nghiệp nhà nước.  Nó cũng cho thấy là VN chỉ đạt hiệu quả rất thấp trong việc sử dụng đầu tư.  TFP (total factor productivity) hay năng xuất tổng hợp của kinh tế VN xuống trong các năm qua. Việc đánh giá hiệu quả kinh tế VN qua hệ số ICOR hay TFP cho thấy việc sử dụng đầu tư của VN không mấy hiệu quả gây ra khả năng cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực.

Bài về hệ thống ngân hàng cho thấy rõ các yếu kém trầm trọng trong ngành ngân hàng do các vấn đề thanh khoản và nợ xấu. Hiện nay công ty đánh giá quốc tế Fitch Rating đánh giá nợ xấu trong ngành ngân hàng cao (13%) hơn các con số chính thức do Ngân hàng Nhà nước vừa công bố (8,6% vào cuối năm 2011) và trên mức rủi ro nguy hiểm (10%).  Đây là một chỗ yếu (Achille heel) kém của kinh tế VN cần tái cơ cấu gấp.  

Bài về tái cấu trúc và phát triển các tập đoàn kinh tế cho thấy một số nhận xét nhưng chưa đủ mạnh.  Các phân tích vĩ mô khác trong sách và các bài báo về các vụ Vinashin, Vinalines hay các Tộng công ty khác cho thấy đa số các công ty này quản trị yếu kém do tham nhũng, thiếu cạnh tranh, ít đóng góp vào việc sử dụng lao động, vv. Bài có cho một số nguyên tắc và định hướng cải cách.

Mô hình cân đối liên ngành liên vùng (Input/Output) và Tiềm năng tăng trưởng kinh tế tiếp cận từ vi mô (I/O) là những công cụ kinh tế hữu ích đóng góp cho sự đánh giá của các ngành trong một nền kinh tế.

Bài về Tái cơ cấu tài chính công và đầu tư công rất hay vì nó cho thấy quy mô chi tiêu chính phủ, sự thiếu hụt ngân sách tại một số nước Á châu.  Bài này cho thấy là VN có chi tiêu chính phủ và thâm hụt ngân sách cao nhất trong một số nước Á châu và cơ cấu đầu tư của chính phủ. Bài này cũng cho một số ý kiến về các quy tắc ngân sách hay giám sát nợ trong khu vực DNNN hầu tránh việc tăng nợ công.

*

Một cách tổng quát, sách này cần thiết cho những người trực tiếp làm việc trong ngành kinh tế (economist practitioners), cho những công chức cao cấp ở cấp trung ương hay cấp tỉnh, thành viên Quốc Hội lo về ngân sách hay chính sách kinh tế, các nhà khảo cứu, các nhà báo viết về kinh tế hay cho các sinh viên thạc sĩ về kinh tế hay quản trị kinh doanh. Các bài này rất bổ ích cho việc nghiên cứu, có thể coi là một hướng dẫn cụ thể giúp đánh giá các chính sách kinh tế.

Tôi nghĩ đối với những ai muốn tìm hiểu hay nghiên cứu về các vấn đề vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, cuốn sách sẽ giúp ích cho họ rất nhiều. Dĩ nhiên đây cũng là cuốn sách không thể thiếu cho cả người dạy lẫn học viên cấp thạc sĩ trong ngành kinh tế và quản trị.

TS Đinh Xuân Quân


Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

TS Phạm Đỗ Chí - Tại sao Việt Nam đang kém hấp dẫn hơn Myanmar ?


TS Phạm Đỗ Chí

LTS: Người viết, một nhà tư vấn kinh tế về Myanmar (Burma) từ nhiều năm lúc còn là chuyên gia IMF, mới đây tham dự một diễn đàn quốc tế quan trọng về các triển vọng phát triển kinh tế và chính trị của Myanmar, đã có bài nhận định riêng dưới đây về tình thế so sánh giữa Myanmar và Việt Nam.

Hiện tượng Myanmar
Tin tức trong khu vực gần đây tập trung đưa tin về Myanmar kể từ cuộc bầu cử bổ sung vào tháng 4/2012, theo đó Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) - đảng củaAung San Suu Kyi - đã giành một chiến thắng vang dội khi giành được 43 ghế trong tổng số 45 vị trí tranh cử vào Quốc Hội nước này. Bằng việc tổ chức một cuộc bầu cử công bằng và để NLD tham gia vào nghị viện, chính phủ dân sự được sự hậu thuẫn bởi quân đội đã đưa ra các tín hiệu đến với cộng đồng quốc tế rằng chính phủ mới đã sẵn sàng cho các giải pháp cải tổ chính trị. Và mặt khác, cuộc bầu cử giúp tăng cường tính hợp pháp của chính phủ dân sự mới trong con mắt các chính phủ Tây phương.

Cuộc bầu cử thực ra là bước đầu trong tiến trình chuyển đổi toàn bộ hệ thống chính trị-kinh tế của Myanmar. Tiến trình này được khắc họa qua hai bước: (i) dân chủ hóa hệ thống chính trị thông qua bầu cử trực tiếp phổ thông đầu phiếu cho hai nhánh lập pháp và hành pháp và (ii) đổi mới nền kinh tế thông qua những thay đổi cơ bản nhằm khôi phục lại các cải cách dựa trên kinh tế thị trường. Do những đặc điểm lịch sử chính trị và bị cô lập trong suốt hai thập kỷ qua, Myanmar đã bắt đầu tiến trình chuyển đổi bằng cách thực hiện bước đầu tiên với hy vọng có được sự hỗ trợ của quốc tế trong việc gỡ bỏ các biện pháp trừng phạt thương mại và kinh tế mở đầu cho quá trình thực hiện giai đoạn thứ hai – cải tổ kinh tế.

Việt Nam, tương tự như Trung Quốc, cũng đã trải qua cùng một tiến trình thay đổi như vậy nhưng với thứ tự đảo ngược: cải cách kinh tế được thực hiện trước, theo sau là những
chuyển đổi về cơ chế và chính trị. Việt Nam bắt đầu các cải cách kinh tế với khẩu hiệu Đổi Mới trong suốt 25 năm qua (1986-2011). Theo sau các cải cách kinh tế là những chuyển đổi dần dần cơ cấu hệ thống chính trị theo hướng được gọi chính thức là "dân chủ tập trung" thông qua các cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu nhằm chọn ra các đại biểu từ một danh sách các ứng cử viên được "chọn lựa" sẵn để vào Quốc Hội – một cơ quan có sức mạnh và ảnh hưởng được cho là ngày càng tăng trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung trong tiến trình chuyển đổi của hai nước, những quan sát về lịch sử chính trị và kinh tế của hai quốc gia cho thấy sự khác biệt đáng kể.

Myanmar ngày hôm nay tương tự như Việt Nam vào đầu năm 1980 với một mức sống rất thấp và đang ở trong giai đoạn đầu của các cải tổ kinh tế thị trường. Mặc dù là một quốc gia giàu tài nguyên và từng là một đất nước giàu nhất khu vực Đông Nam Á vào đầu những năm 1950, sau này do các chính sách hà khắc của chế độ quân sự, chịu các biện pháp trừng phạt kinh tế của thế giới phương Tây, cộng thêm khả năng quản lý kinh tế yếu kém của chính phủ quân sự, Myanmar giờ đây là quốc gia nghèo nhất trong khu vực. Nền kinh tế của Myanmar hiện đang chịu nhiều khó khăn về kinh tế: lạm phát cao - tỷ lệ lạm phát hàng năm trung bình khoảng 20% ​​trong 10 năm qua, tăng trưởng chậm chạp, dữ liệu kinh tế không đáng tin cậy, hệ thống ngân hàng yếu kém, thị trường chợ đen thống trị do hệ thống tỷ giá hối đoái kép (trước tháng 4/12), tham nhũng cao, luật pháp yếu, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, và nguồn nhân lực kém phát triển do thiếu sự đầu tư.

Hiệu suất kinh tế thấp đặc trưng bởi các tiêu chuẩn sống nghèo nàn của phần lớn dân số, áp lực chính trị căng thẳng từ các nước phương Tây, cùng với các thúc ép từ các nước láng giềng ASEAN cuối cùng đã khiến các nhà lãnh đạo Myanmar thực hiện một cuộc cải tổ sâu rộng ấn tượng đầy tính bất ngờ. Bằng cách khởi xướng các cải cách chính trị - kinh tế - xã hội gần đây, các nhà lãnh đạo quân sự thực sự đang cứu chuộc lại các lỗi lầm của họ.

Sau những tiến triển đáng khích lệ trong cải cách chính trịnổi bật nhất là cuộc bầu cử bổ sung vừa rồi, Myanmar có thêm một động thái quan trọng khởi đầu cho những cải cách kinh tế bằng việc thống nhất hệ thống hối đoái nhiều tỷ giá thành một hệ thống thả nổi có kiểm soát đồng kyat – đồng tiền của Myanmar - bắt đầu từ ngày 02/4/2012. Tỷ giá thả nổi dựa quanh một tỉ lệ được đưa ra bởi ngân hàng trung ương gần sát với tỉ giá của thị trường chợ đen với dao động nhỏ ở hai biên. Những cải cách khác bao gồm giảm thuế xuất khẩu, giảm bớt những rào cản trong lĩnh vực tài chính cải thiện môi trường kinh doanh. Những cải thiện này đã dẫn đến một dòng vốn lớn khoảng 20 tỷ đô la Mỹ đổ vào Myanmar năm 2010-2011, so với khoảng 300 triệu đô la Mỹ đổ vào trong năm 2009-2010.


Nhìn lại Việt Nam
Ngược lại, Việt Nam đạt được những thành tựu kinh tế ấn tượng qua chương trình Đổi Mới trong suốt hai thập kỷ qua (1986-2006) với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, và giảm nghèo đói đáng kể ở các khu vực nông thôn. GDP bình quân hàng năm tăng trên 7% trong giai đoạn này. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đã phải trả khá đắt bằng một số giá trị xuống thấp như: môi trường sinh sống hủy hoại, tăng mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, xuất hiện ngày càng nhiều các xáo trộn xã hội, và đáng chú ý hơn là sự suy hại dần cơ cấu xã hội (social fabric). Với giá phải trả này, việc theo đuổi chiến lược tăng trưởng cao trong 5 năm qua (2007-2011) dựa trên đầu tư công tràn lan và không hiệu quả, đặc biệt là việc đề cao vai trò của các tập đoàn nhà nước trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, đã khiến nền kinh tế vĩ mô mất cân bằng nghiêm trọng, thể hiện qua tình trạng tăng trưởng giảm mạnh và lạm phát tăng vọt ở mức hai con số trong năm 2011.

Cuối cùng, chính phủ Việt Nam phải hãm tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng kể từ giữa năm 2011, đáng chú
ý là trong 3 tháng đầu năm 2012. Việc thắt chặt tín dụng đã dẫn đến một sự suy giảm mạnh các hoạt động kinh tế thể hiện qua tốc độ tăng trưởng trong quý 1 năm 2012 đạt ở mức rất thấp 4% - mức thấp nhất trong những quý gần đây. Điều này gây ra mối quan ngại về tình trạng "lạm phát đình đốn", một khái niệm tương đối mới trong giới thiết lập chính sách ở Việt Nam.

Nhiều công ty ngưng sản xuất hay phá sản trong những tháng gần đây phát ra những tín hiệu cảnh báo về kinh tế và xã hội – đây là hệ quả trực tiếp của việc thiên vị các tập đoàn và công ty quốc doanh lớn trong khi cản trở môi trường kinh doanh cho khu vực tư doanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Vì những lý do trên, Việt Nam thình lình trở nên kém hấp dẫn hơn trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài; điều này tương phản rõ rệt với hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài đổ xô vào Việt Nam tại thời điểm năm 2006-2007 khi Việt Nam gia nhập WTO và chủ trì hội nghị APEC ở Hà Nội vào cuối tháng 11 năm 2006. Hiện tượng này cho thấy những tín hiệu lạc quan quen thuộc về những gì đang xảy ra ở Myanmar: các quốc gia tư bản lớn hay trong vùng gồm các nhà đầu tư của họ đang cố gắng tạo ảnh hưởng nhằm có được những dự án ở vùng đất mới đầy hứa hẹn này.

Để lấy lại niềm tin của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, Việt Nam cần nhanh chóng giải quyết sự mất cân đối vĩ mô và thực hiện quá trình tái cơ cấu nền kinh tế một cách cụ thể và nhanh chóng. Các yếu tố của tiến trình cải cách lần thứ hai này, có thể gọi là Đổi Mới II, sẽ cần một khoảng thời gian để thực hiện (nhanh nhất là 2-3 năm), nhưng điều quan trọng nhất là chính phủ cần thay đổi tư duy căn bản trong việc nhìn nhận vai trò của khu vực tư nhân là động lực kinh tế chính nếu muốn theo đuổi một kỉ nguyên kinh tế mới cho Việt Nam, tránh sự phá sản kinh tế xã hội đang xảy ra với chi tiết được khám phá hàng ngày của những tập đoàn công ty nhà nước lớn bòn rút tham nhũng như Vinashin, EVN, rồi mới nhất là Vinalines...


Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

TS Phạm Đỗ Chí - Tại sao giá vàng đang tạm xuống?


TS Phạm Đỗ Chí

Quãng thời gian đổ dốc ngắn hạn trong ba tháng qua chưa đủ để nói vàng đang đổ dốc tiếp "xuống đáy". Vàng nên được coi là tài sản trú ẩn trong một danh mục đầu tư lâu dài.

Tác giả xem lại tác động của chính sách nới lỏng định lượng của FED trên những chuyển động mạnh của giá vàng từ ngày 8/8/2007 (lúc bắt đầu với QE I) cho tới nay khi giá vàng đang xuống khi có dấu hiệu QE đã ngưng lại và đang đổi chiều do chính sách tiền tệ Mỹ bắt đầu thay đổi chú trọng hơn về lạm phát. Vàng có thật sự sẽ đổ dốc?


Nhìn lại vài năm qua, vàng vẫn ở trong khuynh hướng tăng giá lâu dài. Tuy nhiên từ 3 tháng nay giá chợt tụt xuống dưới 1.700 USD/ounce rồi dưới 1.600 USD và phá luôn mức chống đỡ 1.540 USD ngày 16/5/2012 làm giới đầu tư, nhất là giới đầu cơ, lo ngại. Đâu là những lý giải cho các diễn biến giá cả phức tạp của món hàng hóa "siêu" này?

Từ 2004 đến tháng 7/2007, giá vàng tiếp tục đi lên mạnh do phản ánh lạm phát, nhất là do giá dầu quốc tế đi lên từ mức 20 USD/thùng tới trên 140 USD/thùng. Nhưng từ tháng 8/2007 và đến tháng 8/2011 2011, giá vàng lại tiếp tục "đột phá" các kỷ lục mới lên tới trên 1.900 USD/ounce, do quyết định nới lỏng định lượng (QE--quantitative easing) của Fed và nhất là vai trò "tài sản trú ẩn" do vàng mới tìm thấy, mặc dù lạm phát nói chung trên thế giới có chiều hướng sút giảm mạnh do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008.

Diễn tiến của chính sách QE của Fed được tóm tắt trong các hình sau đây:

Hình 1: Do QE, Fed MUA VÀO trái phiếu của chính phủ Mỹ (Treasury bonds), và tài sản có (assets) của Fed tăng vọt trên 3 lần từ trên 860 tỷ USD vào tháng 8/2007 lên trên 2.800 tỷ USD vào tháng 8/2011; giá vàng lên đỉnh (record) cao trên 1.900 USD vào tháng 8/2011;

Hình 2: Từ tháng 8/2011 đến nay, tài sản có của Fed không thay đổi nhiều loanh quanh mức 2.800 tỷ USD, và giá vàng tụt xuống từ trên 1.900 USD/ounce xuống 1.600-1.800 USD vào tháng 2/2012;

Hình 3: Đặc biệt từ ba tháng nay, 2/12 đến 16/5/12, tài sản có của Fed có dấu hiệu đi xuống lần đầu tiên từ 5 năm nay, các quan sát viên quốc tế coi đây là dấu hiệu đổi chiều chính sách của Fed, bắt đầu BÁN RA trái phiếu, và chú trọng hơn việc kiềm chế lạm phát lâu dài.

Đặc biệt khi vàng "đổ dốc" xuống dưới mức 1.540 USD hôm 16/5/2012 khiến giới quan sát cho là vàng có thể còn xuống nữa về mức 1.400 USD. Tuy nhiên, lời tuyên bố của "ông trùm" đầu cơ quốc tế Soros hôm 17/5 là "chưa nên loại vàng ra khỏi danh mục đầu tư" đã giúp vàng vọt tăng lại 60 USD lên mức gần 1.600 USD vào cuối tuần 20/5. Và rõ ràng là vàng chưa phải đang đổ dốc tiếp "xuống đáy".

Vàng nên luôn được coi là tài sản trú ẩn trong một danh mục đầu tư lâu dài (5%-10% tài sản).


Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

TS Phạm Đỗ Chí - Đừng huy động vàng!

TS Phạm Đỗ Chí trả lời phỏng vấn của Diễn Đàn Doanh Nghiệp

LTS: Vài lời bàn về tính khả thi của đề án huy động vàng của 1 kinh tế gia người Việt. Đọc kỹ tôi càng thấy rõ rằng nên đổi tên đề án đó thành đề án “Cướp vàng” mới hợp lý và nghe lọt lỗ tai. Các chuyên gia kinh tế hải ngoại và quốc nội đâu sao không vào cuộc, các vị để mặc người thân, bạn bè mình bị cướp vậy sao? Hay là các vị tin vào sự sáng suốt và tài tình của bọn cướp !?


Trong bài viết này là những nhận định về tính khả thi của việc phát hành chứng chỉ vàng để huy động vàng trong dân mà NHNN dự kiến sẽ trình Chính phủ thông qua vào quý II này, qua góc nhìn của TS. Phạm Đỗ Chí.

- Trước hết, ông có thể cho biết nhận định của mình về việc Ngân hàng nhà nước (NHNN) dự kiến sẽ đứng ra phát hành chứng chỉ huy động vàng, nhằm hướng tới quản lý thị trường và khơi thông nguồn lực trong dân?

Sáu tháng trước, Tổ xây dựng Đề án sử dụng nguồn lực trong nước để bình ổn thị trường vàng của NHNN được thành lập. Một đề án về việc phát hành chứng chỉ vàng nhằm huy động nguồn lực trong dân đã được đưa ra. Tuy nhiên cho đến nay, đề án vẫn chưa công bố ra thị trường và bên cạnh những ý kiến ủng hộ, cá nhân tôi luôn có sự e ngại về mục tiêu có ý nghĩa quyết định nội dung của đề án này.

- Vì sao lại e ngại trong khi mục tiêu quản lý thị trường và khơi thông nguồn lực trong dân đều rất rõ ràng, hợp lý, thưa ông?

Theo thống kê thì VN nằm trong top 10 quốc gia hàng đầu về việc người dân có thói quen giữ vàng và lượng vàng được lưu giữ trong dân đạt tới hàng trăm tấn. Có người đưa ra thống kê ước lượng con số đó khoảng 300 – 500 ngàn tấn. Tôi cho rằng đó là con số tính trên số lượng vàng đã xuất – nhập của mấy năm qua, không bao gồm tính toán lượng vàng mà người đã tích luỹ, trao đổi từ trăm năm nay. Ước tính của tôi thì số lượng vàng còn trong dân, nếu bao gồm cả tích luỹ qua thời gian, sẽ lên tới cả ngàn tấn. Nguồn lực đó rõ ràng rất lớn. Nhưng không phải cứ thấy nguồn lực lớn thì tính ngay chuyện huy động. Huy động lại là một câu chuyện khác, nhất là trong bối cảnh của hệ thống ngân hàng VN hiện nay.

- Ý ông là không nên huy động, hay là vẫn có thể huy động nguồn lực đó bằng một cách khác?

Ý tôi là không nên huy động vàng, cho dù nguồn lực đó lớn tới đâu. Giả sử ước tính lượng vàng trong dân còn 1.000 tấn. Nếu quy đổi ra giá vàng quốc tế hiện nay, thì khối lượng vàng đó tương đương với khoảng 50 tỉ USD, tức là bằng ½ GDP VN. Thử hỏi, nếu huy động khối lượng vàng giá trị khổng lồ ấy vào nền kinh tế, các nhà hữu trách đã tính đến chuyện làm thế nào để phát huy được giá trị nguồn lực ấy cho gia tăng GDP quốc gia, làm thế nào để bảo đảm được an toàn toàn bộ giá trị lượng tài sản khổng lồ ấy?

- Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết, theo đề án huy động vàng, thời gian tới, NN sẽ đứng ra huy động vàng thông qua các tổ chức tín dụng. Hay nói khác, các tổ chức tín dụng sẽ làm đại lý cho NHNN trong việc huy động vàng… Ông nhận định ra sao về các cách thức đã được tính toán khá cụ thể này?

Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn như thế này: Trong hơn 30 năm theo dõi vàng quốc tế tại IMF, tôi chưa thấy quốc gia nào dám… đụng tới vàng. Nói chính xác thì rất ít Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của Chính phủ nào đứng ra huy động vàng của dân. Tôi cho rằng, NHNN VN không nên tính đến câu chuyện này, vì rủi ro là rất lớn. Giá vàng hiện nay đang ở mức khoảng 1.600 USD/ounce. Nhiều chuyên gia phân tích và đưa ra dự báo về diễn biến của giá vàng thời gian tới. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại căn cứ trên dự báo của các chuyên gia và cả chuyên viên của họ, để sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro do biến động giá vàng thế giới. NHNN VN khi thực thi, chắc chắn cũng sẽ phải dựa trên các dự báo để bảo hiểm rủi ro do biến động của giá vàng. Nhưng có dự báo nào là 100% chính xác? Bây giờ giá vàng đang thấp như thế, cũng không ai dám nói chắc vàng có lên trên 2.000 USD/ ounce, và thời điểm diễn ra sẽ vào lúc nào. Có thể sẽ rất lâu, nhưng cũng có thể sẽ chỉ sau một đêm. Một biến động tại bất kỳ một khu vực địa kinh tế – chính trị nào đang rất nhạy cảm như Trung Đông, hay châu Âu… đều sẽ tác động khôn lường đến sự bất thường của giá vàng. Chúng ta không thể kiểm soát và cũng không thể trả giá nổi cho chuyện đó. Xin nhắc thêm là dự trữ ngoại hối của VN hiện cũng chỉ mới đạt đến khoảng 20 tỉ USD, chưa bằng một phân nửa giá trị vàng trong dân mà ta tạm ước tính!

- Ông cho rằng NHNN không nên triển khai huy động vàng? Vậy ông có thể đưa ra giải pháp khác?

Tôi cho rằng NHNN hay các NHTM đều không nên đứng ra huy động vàng trong dân. Sờ vào vàng của dân là sờ vào lửa. Sẽ bỏng tay đấy! Và chúng ta đã phần nào được chứng kiến được việc “phải bỏng” của hệ thống ngân hàng hiện nay. Cái căn bản là rủi ro của một vài tổ chức, lây lan sang rủi ro cho cả hệ thống, và nghiêm trọng hơn là đánh mất đạo đức kinh doanh ngân hàng. Khi các chuẩn mực đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ không còn thì các NH sẽ rất khó để thực thi bổn phận của mình đối với dân chúng, trong khi đây lại là vấn đề căn bản nhất của hoạt động ngân hàng.

Với các tổ chức, định chế tư nhân, nếu theo cơ chế thị trường thì việc họ vay mượn, huy động vàng của người dân trên cơ sở thoả thuận và tự nguyện của các bên là bình thường. Nhưng kể cả cá nhân và tư nhân cũng không nên đụng vào vàng, vì cũng khó tránh rủi ro. Nói ngắn gọn là riêng với vàng, chúng ta nên tránh can thiệp cũng như tránh huy động. Nếu cần thiết phải hạn chế về mặt thanh toán, để nâng cao sự ổn định và vị thế cho đồng tiền VN, thì chỉ nên ra các quy định hạn chế dùng vàng làm phương tiện thanh toán, như điều mà NHNN VN đã làm rất tốt với việc ổn định ngoại tệ, chống đô la hoá trên thị trường thời gian vừa qua.

- Xin cảm ơn ông!

Lê Mỹ thực hiện
Diễn đàn doanh nghiệp

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

TS Phạm Đỗ Chí - “Chất xanh” và “chất xám” người Việt nước ngoài: bên nào nặng hơn? 


TS Phạm Đỗ Chí

GS Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Tokyo có sáng kiến tổ chức một hội thảo quốc tế quan trọng ở Tokyo về các vấn đề Biển Đông, gồm nhiều đại biểu là giáo sư và các nhà nghiên cứu sử học từ Trung Hoa lẫn Việt Nam. Có nhà nghiên cứu uy tín từ VN đã lên tiếng về một số bài thiếu giá trị và dữ kiện chắc chắn từ phía VN sang. Hình như thiếu hẳn sự có mặt của các giáo sư chính trị hay sử học và các nhà nghiên cứu có uy tín trong cộng đồng NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI, nhất là từ Mỹ. Phải chăng đây là lúc cần đặt lại vấn đề về vai trò và tiềm năng thật sự của khối cộng đồng hải ngoại, cách sửa soạn các công trình nghiên cứu cần thiết có giá trị, và lên tiếng ở những hội nghị hội thảo quốc tế có tầm vóc, đúng nơi và đúng lúc? Bài dưới đây xin bắt đầu góp ý về các vấn đề đó.


Mới đây nhân ngày 30-4-2012, một vị hữu trách về vấn đề người Việt ở nước ngoài đã lên tiếng về nhiều biện pháp mới dành cho kiều bào hải ngoại như gia hạn thị thực về thăm quê hương từ 3 tháng lên 6 tháng, hay về các biện pháp dễ dàng hơn cho các thủ tục kiều hối, mua nhà, đầu tư … Đây là những chuyện quan trọng, đáng quý, cần làm. Nhưng đều là những biện pháp ngiêng về “chất xanh”. Có ai còn nghĩ xa hơn về tăng cường đóng góp “chất xám” nơi những người ở xa?

Nếu tính toán một cách sát thực tế từ lượng kiều hối về Việt Nam hàng năm, ước tính số tiền gửi phản ảnh 10%-15% tiền kiếm được, thì thu nhập tổng cộng của khối người Việt ở nước ngoài có thể lên tới 50 tỷ USD, ở mức cao đạt bằng 50% tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam.

Trong không khí những ngày này, tác giả đặt suy nghĩ về chuyện đoàn kết dân tộc ở một khía cạnh mới, dựa trên tiềm năng của khối người Việt toàn cầu. Và cũng từ đó, đề xuất về một khái niệm lý thuyết kinh tế là “tổng sản phẩm toàn cầu”, áp dụng cho cộng đồng người Việt toàn cầu hay các cộng đồng dân cư có nhiều người sinh sống làm việc ở các nước ngoài.

Đo tổng sản phẩm VN toàn cầu, thấy tiềm lực người Việt

Nhân dịp 30/4 mỗi năm, lúc tâm tư cũng tạm trầm lắng đôi chút để suy nghĩ chuyện gần xa vượt khỏi các hình ảnh du lịch của kỳ nghỉ lễ dài, có thể đặt lại chuyện đoàn kết dân tộc trên một khía cạnh mới khác hẳn. Đó là dựa trên “lý”, dựa vào tiềm năng hùng mạnh của một khối “Người Việt Toàn Cầu” mà từ trong hay ngoài nước bất cứ một con dân Việt nào có suy nghĩ phải hãnh diện vì thực thể lớn mạnh đó vượt tầm mức của cả một quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới, vì ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ nhiều hơn với tổ quốc.

Trong thời kỳ toàn cầu hoá, rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian, rất cần có sự huy động sức mạnh tổng hợp. Những nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Do Thái đã rất thành công khi quy tụ được sức mạnh của các cộng đồng kiều bào vào nỗ lực phát triển xứ sở họ.

Với Việt Nam, cần chăng sự có mặt của khối người Việt ở nước ngoài trong thời hội nhập và xét đến tiềm năng của một “Việt Nam Toàn Cầu”? Trong ý nghĩ này, chúng ta thử xét đến một khái niệm mới, TỔNG SẢN PHẨM TOÀN CẦU hay Gross Global Product (GGP), và áp dụng cho Việt Nam hay các cộng đồng dân cư thế giới nêu trên.

Trong hai năm 2001-2002, lượng tiền của người Việt chuyển về nước đạt bình quân 2 tỷ USD/năm; tăng nhanh lên 3 tỷ USD trong hai năm tiếp đó rồi vọt lên 5 tỷ vào các năm 2006-2007 và bình quân là 7 tỷ vào ba năm 2008-2010, do số người đi xuất khẩu lao động cũng tăng rất nhanh. Tổng cộng có thể lên tới trên 40 tỷ USD trong hai thập niên vừa qua, vượt xa tổng vốn FDI thực hiện và vốn ODA giải ngân trong cùng thời gian.

Con đường chuyển về nhiều nhất vẫn là chính thức qua các ngân hàng, nhưng thật sự lượng tiền gửi về còn lớn hơn do số tiền mang về trực tiếp trong những lần họ về du lịch hay thăm nhà, thay vì chỉ gửi qua ngân hàng. Một thực tế là trong khi Việt Nam nói nhiều đến đầu tư nước ngoài và dành nhiều công sức để thu hút thì nguồn lực dồi dào từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài lại chưa được đánh giá đúng tiềm năng để có chính sách thích ứng. Con số tiền gửi hàng năm mặc dù lớn lao chỉ thật sự phản ánh một phần nhỏ tiềm lực của họ.

Hình 1: Lượng kiều hối của người Việt ở hải ngoại, 2001-2011


 Nguồn: Niên giám thống kê và ước tính cho 2009-2011

Xu thế toàn cầu hoá về sức mạnh cộng đồng

Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, sâu rộng như hiện nay, công nghệ mới xuất hiện, khoảng cách được rút ngắn lại, yếu tố địa lý trong kinh doanh giảm dần ý nghĩa, tính liên kết tăng lên mạnh mẽ đã dẫn đến tính “mạng” trong kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng.

Ngày nay có một xu thế là khi người ta nói đến nền kinh tế Trung Quốc thường không chỉ giới hạn trong đại lục mà cả một cộng đồng người Hoa trên khắp thế giới. Đúng như John Naisbitt nhận định “Nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ Đài Loan và Hồng Kông là một bộ phận của Trung Quốc. Giờ chúng ta phải mở rộng ranh giới của một Trung Quốc rộng lớn hơn để bao gồm cả những người gốc Hoa sinh sống ở Singapore, Nam Dương, Malaysia… Đầu não của mạng lưới này là số đông các tỷ phú tự lập như Liem Sioe Liong, Robert Kuok, Dhanin Chearavanont….”

Trung Quốc cũng đang thực hiện chiến lược phát huy được tiềm năng của Hoa Kiều trong phát triển kinh tế thông qua thu hút chất xám, thu hút đầu tư và lấy chính những Hoa Kiều làm cầu nối để đưa hàng hoá xâm nhập thị trường quốc tế. Charles Zhang, tốt nghiệp khoa Vật lý Viện Công nghệ Massachusetts, tiên đoán: “Nếu hôm nay chúng ta nhìn lại 100 năm phát triển qua, chúng ta có thể thấy thời kỳ này tương tự như thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu hay Minh Trị ở Nhật Bản.”

Chính phủ họ đã tiếp đãi trọng thể các học giả và đã xây dựng hơn 70 công viên kinh doanh cho họ làm việc. Một trong số đó là công viên Zhongguancun, gần Bắc Kinh, được biết đến như Thung lũng Silicon của Trung Quốc. Các học giả này khi quay trở lại Trung Quốc làm việc có thể được miễn thuế thu nhập, có không gian thuận lợi làm việc, được cấp tín dụng cũng như có thể cố vấn cho bộ máy hành chính cấp địa phương.

Thu nhập của người Việt ở nước ngoài là bao nhiêu?

Khó có thể ước tính chính xác lợi tức (hay thu nhập) của 3 triệu người Việt cư trú thường xuyên và 500.000 người sang làm việc tạm thời ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu dựa trên lý luận là đa số đồng bào gốc Việt ở nước ngoài đang cư trú ở các nước có đời sống cao như Bắc Mỹ và Tây Âu, tạm dùng con số thu nhập mỗi năm là 5.000 USD một đầu người, thì 3,5 triệu người Việt ở hải ngoại có thu nhập hàng năm là 16,5 tỷ USD. Con số ước tính này có vẻ quá nhỏ thiếu chính xác.

Vì con số thu nhập, 16,5 tỷ USD này không tương xứng với số tiền gửi chính thức về quê hương hàng năm bây giờ là 7-8 tỷ USD (mức trung bình trong mấy năm gần đây nhất, riêng hai năm chót 2010-11 đã là 9 tỷ USD mỗi năm), tức là mức gửi lên tới một nửa của thu nhập ước tính trên từ bên ngoài; con số gửi về này quá cao so với tiền tiết kiệm bình thường bên đời sống Âu Mỹ.

Nếu tính toán một cách sát thực tế hơn, cho là số tiền gửi phản ảnh 10% tiền thu nhập kiếm được hàng năm, và từ con số gửi về 9 tỷ mỗi năm hiện nay gồm 5 tỷ là từ thu nhập hàng năm và 4 tỷ từ tiết kiệm gửi về để bỏ vào ngân hàng ở VN với lãi suất cao hay để mua nhà đất, thì thu nhập tổng cộng của khối người Việt ở nước ngoài có thể lên tới 50 tỷ USD, hay đạt bằng 50% tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam (ước tính ở mức 100 tỷ USD hiện nay). Đây là một con số đáng kể cho một cộng đồng di dân mới thuộc về thế hệ thứ nhất và thứ hai.

Từ GDP đến GGP

Nếu chúng ta thử đề nghị một định nghĩa mới cho hệ thống kế toán tài khoản quốc gia là Tổng Sản Phẩm Toàn Cầu của một nước (Gross Global Product-GGP) cho Việt Nam, Israel, Ấn Độ hay Trung Quốc - những nước có nhiều di dân ở ngoài lãnh thổ quốc gia, thì chúng ta sẽ có 3 định nghĩa sau đây về tổng sản phẩm cho một nước, thí dụ là Việt Nam:
Tổng Sản phẩm Quốc dân (Gross National Product–GNP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt Nam sản xuất bất kể trên lãnh thổ quốc gia mình hay ở các nước khác.
· Tổng Sản phẩm Quốc nội (Gross Domestic Product–GDP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ người dân của Việt Nam hay của dân nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam.
· Tổng Sản phẩm Toàn cầu (Gross Global Product-GGP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt Nam hay người dân của nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt  Nam, hay do các kiều bào gốc Việt sản xuất trên lãnh thổ các nước khác.
Nếu tính như vậy thì trong khi tổng sản phẩm quốc nội  của Việt Nam là 100 tỷ USD cho 87 triệu người Việt trên lãnh thổ quốc gia vào năm 2010, tổng sản phẩm toàn cầu của Việt Nam sẽ là 150 tỷ USD cho trên 90 triệu người Việt ở cả trong và ngoài nước. 

Chất xanh và chất xám 

Nhưng câu chuyện không chỉ ngưng ở đó. Tiềm năng của người Việt ở ngoài nước còn lớn hơn đóng góp “chất đô la xanh” cho GGP của Việt Nam rất nhiều, đó còn là sự đóng góp quan trọng về “chất xám”. Nhất là với xu hướng hiện tại của mấy trăm ngàn người Việt về thăm nước hàng năm, và hàng chục ngàn người Việt sang làm việc, du lịch hay đầu tư ở nước ngoài, thêm vào con số mấy chục ngàn học sinh sinh viên du học hàng năm và ở lại thực tập lấy kinh nghiệm hay định cư lâu dài hơn bên ngoài.

Trình độ giáo dục cao, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng quản lý, tiếp xúc với công nghệ mới… là nguồn tài nguyên, kiến thức rất lớn đối với một quốc gia. Thành phần đội ngũ đáng kể nhất là khối đông doanh nhân và chuyên viên trung niên ở tuổi 40-55 và giới chuyên viên mọi ngành, nhất là nhóm kỹ thuật gia trẻ, lứa tuổi 25-40 đang có mặt trong nhiều hãng xưởng ở trên 150 nuớc trên thế giới. Họ là những người có thu nhập cao nhất và là khối đông thầm lặng có trọng lượng trong cộng đồng hải ngoại và cũng giữ tiềm năng lớn với các đóng góp tương lai cho một Việt Nam rộng mở hơn ra bên ngoài, thí dụ trong 10-20 năm nữa.

Điển hình của thành công về kỹ thuật là sự có mặt quan trọng của giới chuyên viên gốc Việt ở các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học Pháp, ở khu Thung Lũng Điện Tử Silicon Valley bên San Jose, Hoa kỳ, hay trong các hãng tài chính lớn ở khu tài chính quốc tế Wall Street. Trong tương lai gần, họ có thể đóng góp lớn cho Việt Nam trong ba địa hạt quan trọng: công nghiệp, công nghệ thông tin (vốn được coi là một mũi nhọn phát triển) và kinh tế tài chính. Họ cũng đã và sẽ góp phần vào việc phát triển lành mạnh môi trường bất động sản ở nhà, giúp tình trạng «đóng băng» sớm chấm dứt.

Ngoài ra, họ còn là các đại diện thương mại hữu hiệu để xâm nhập thị trường quốc tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, nếu kêu gọi được sự cộng tác của những người gốc Việt ở nước ngoài thì cộng đồng này sẽ là phương tiện hiệu quả nhất để gia tăng phát triển thương mại cho Việt Nam. Thật vậy khó ai trong 5-10 năm có thể huấn luyện hay gửi ra ngoài một nhóm đại diện thương mại cả mấy trăm ngàn người sinh sống trên hơn 150 nước với khả năng ngôn ngữ thông thạo cũng như quen thuộc với tập tục văn hóa của từng xứ.

Ngược lại cho một số đông người Việt trung niên hay cao niên muốn quay về xứ hồi hưu hay làm việc tiếp, sẽ có thêm cơ hội phát triển các cộng đồng cư dân “tuổi hưu” và góp phần phát triển trong nhiều lãnh vực. Ở nước ngoài, người Việt thường tự tin là họ có thể đóng góp ý kiến cho việc kiện toàn một hệ thống pháp luật, tổ chức một xã hội công dân tự do hoàn thiện, cho một chính sách kinh tế, ngoại giao hay giáo dục mới, một chính sách y tế công cộng hiệu quả, ngoài việc chính là góp phần đem về kinh nghiệm của một nền công nghệ tiền tiến.

Phải chăng thời điểm này là giây phút thách đố cho cả hai bên? Ngoài nước bắt tay vào các việc sửa soạn trên. Trong nước, cảm nhận và tâm tư của người dân cũng đã được thể hiện trên nhiều diễn đàn. Như vậy, quả bóng hiện nằm trên sân của giới hữu trách lo về chính sách đoàn kết quốc gia và cộng đồng người Việt ở hải ngoại, cần sửa soạn ngay các chiến lược trên tầng qui mô lớn hơn là các hoạt động đón Tết, trại hè sinh viên học sinh, hay đơn giản chỉ là các thủ tục dễ dàng cho việc mua nhà với sổ đỏ (dù thật sự hiện vẫn chưa được áp dụng rõ ràng thông thoáng), hay chỉ là các thủ tục xuất nhập cảnh như để khuyến khích… du lịch ! Phải chăng đã đến lúc cần có hẳn một Bộ trong Chính phủ lo về các chuyện này và bắt đầu bằng một « Hội nghị Diên Hồng » hàng năm vào dịp 30/4 hay Tết để toàn dân góp ý cho việc phát triển đất nước trong 10-20 năm tới?

Và sau cùng, đã quan niệm được sự đóng góp như trên của mọi người gốc Việt trên thế giới, Việt Nam sẽ không cần lo ngại đến hiện tượng “chảy máu chất xám” (brain drain) vẫn được bàn đến mỗi lần nói đến con số lớn sinh viên Việt Nam du học hàng năm chưa trở về quê hương ngay sau khi học xong. Vì họ vẫn tiếp tục đóng góp vào Tổng sản phẩm toàn cầu (GGP) của Việt Nam hiện có thể tạm ước tính đạt tới 150 tỷ USD. Tất nhiên sẽ cần các tính toán GPP khác chính xác hơn, nhưng tầm quan trọng và vai trò quốc tế của một khối “Người Việt Toàn Cầu” khó có thể phủ nhận nếu được nhìn nhận đúng.
 
   Và… sau hết chút tâm tư người trong nước (bài của nhà báo Trần Trọng Thức)

Mặc dù khái niệm trên còn chờ sức thuyết phục của lý luận và thời gian, đôi chút cảm nhận và tâm tư người trong nước đã được tìm thấy từ bên kia bờ đại dương trong một bài viết của nhà báo Trần Trọng Thức :

“Nhớ lại vào những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước, số kiều hối ít ỏi chỉ khoảng 1 tỷ USD gửi về nước không chỉ giúp cho một bộ phận người dân thoát khỏi khó khăn mà còn tạo thêm sức mạnh cho nền kinh tế trong thời kỳ đầu đổi mới. Từ đó đến nay, những cải tiến về chính sách liên quan đến dòng tiền này đã kích thích kiều hối liên tục tăng trưởng...

…Thử làm một bài toán đơn giản. Một trong những nguồn thu quan trọng của chúng ta là xuất khẩu. Theo cách tính của các doanh nghiệp xuất khẩu ngành may thì họ phải bỏ ra 100 USD mới có được 1 USD lợi nhuận. Còn nếu tính theo tỷ suất lợi nhuận trung bình lý tưởng nhất là 10%, để có được khoản "lãi ròng" 6,3 tỷ USD, như kiều hối năm 2009, thì phải cần nguồn vốn đầu tư lên đến 63 tỷ USD, nghĩa là tương đương hai phần ba GDP của chúng ta hiện nay!

Như vậy mới thấy nguồn tiền kiều hối có sức nặng thế nào đối với sự phát triển của kinh tế đất nước. Có thể nói, trong những năm qua nguồn tiền này đã bù đắp gần 50% thâm hụt cán cân thương mại, giúp giảm thiểu rủi ro trong việc huy động vốn cũng như giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, nhất là vốn ODA vay dài hạn mà con cháu chúng ta phải trả sau này. Và cũng không kém quan trọng là kiều hối đã trực tiếp giúp nhiều gia đình có điều kiện vượt khó, làm giảm mức nghèo đói ở nông thôn bởi phần lớn người đi lao động nước ngoài xuất phát từ đây.

Thế mà lâu nay chúng ta vẫn khá thụ động trước "mỏ vàng kiều hối", có được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu. Một vài cải tiến như bãi bỏ thuế, không giới hạn số lượng ngoại tệ được chuyển về, cho thân nhân trong nước nhận tiền bằng ngoại tệ và không bắt buộc phải bán lại cho ngân hàng mà chúng ta gọi là tháo gỡ, chẳng qua cũng là chuyện rất bình thường, nhất là trong tình hình nền kinh tế đô la hoá, không có chủ trương kết hối các nguồn ngoại tệ như hiện nay.

Chính sách tích cực hơn nữa để thu hút ngày càng nhiều lượng kiều hối từ khắp nơi trên thế giới không chỉ dừng lại ở chừng ấy biện pháp. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho chúng ta một bài học quý giá.

Khi quan hệ giữa Ấn kiều và chính phủ còn lạnh nhạt, 20 triệu người Ấn ở nước ngoài, với thu nhập bình quân 160 tỷ USD mỗi năm, chỉ gửi về quê 4 tỷ USD. Nhưng từ khi chính phủ Ấn Độ nỗ lực tiến hành nhiều biện pháp cải thiện mối quan hệ với người Ấn xa xứ, lượng kiều hối đã tăng lên nhanh chóng cùng với sự trở về nước kinh doanh của Ấn kiều: 11 tỷ USD năm 1995, 22 tỷ USD năm 2005 và tăng đến gần 28 tỷ USD vào năm 2007. Đó là chưa kể, từ năm 2005 Ấn kiều cũng đã gửi 32 tỷ USD tiết kiệm vào các ngân hàng Ấn Độ để hưởng lãi suất ưu đãi. Nguồn vốn này, bằng 23% dự trữ ngoại tệ của Ấn Độ, đã giúp cân bằng cán cân thương mại đồng thời ngăn chặn lạm phát hiệu quả.

Ở nước ta, các thống kê cho thấy lượng tiền kiều hối trở lại hệ thống ngân hàng chỉ 10%, một con số quá thấp mà đúng ra Ngân hàng Nhà nước phải có chính sách ưu đãi nhằm thu hút đồng ngoại tệ quý báu này để tăng thêm dự trữ quốc gia, có điều kiện chủ động trong biện pháp điều hành tiền tệ, đồng thời hạn chế các tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội như buôn lậu, đầu cơ, làm giá... Tại sao lại không nghĩ đến việc huy động những "đồng tiền ngọt ngào" này vào ngân hàng với lãi suất ưu đãi hoặc cho các khoản kiều hối được chuyển đổi với tỷ giá cao hơn giá thị trường, bởi đây là những khoản tiền nền kinh tế có được mà không phải mất một khoản đầu tư nào. Và trên tất cả là những chính sách thông thoáng hơn nữa của chính phủ liên quan đến "một bộ phận không thể tách rời của dân tộc".”