Hiển thị các bài đăng có nhãn TS PHẠM TRỌNG CHÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TS PHẠM TRỌNG CHÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGUYỄN HÀNH (1771-1824) MINH QUYÊN THI TẬP: TIẾNG CHIM ĐỖ QUYÊN KÊU BI THƯƠNG

Nguyễn Hành cùng với chú là thi hào Nguyễn Du, nằm trong năm người hay thơ nhất nước Nam « An Nam Ngũ Tuyệt », thuộc bốn dòng họ thơ văn danh tiếng nước Nam. Họ Nguyễn Tiên Điền có hai người. Họ Nguyễn Trường Lưu có Nguyễn Huy Tự, họ Phan Huy gốc làng Thu Hoạch Hà Tĩnh có Phan Huy Ích. Họ Ngô Thì, Tả Thanh Oai HàĐông có Ngô Thì Vị.

Nguyễn Hành để lại Minh Quyên thi tập (VH. 109), và Quan Đông Hải (A 1530, VN 1444, VH 81) bản chép tay lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội. Các văn bản được Trường Viễn Đông Bác Cổ từ năm 1901 mướn người sao chép lại đều có hai bản, một bản lưu giữ tại Hà Nội và một bản tại EFEO Paris.

Minh Quyên là tiếng kêu đau thương loài chim đỗ quyên, chim cuốc, Nguyễn Hành thấy thi ca mình đồng cảm với tiếng kêu đau thương ấy.

Quan Đông Hải là ngắm Biển Đông. Mỗi con người đứng trước biển đều cảm nhận được sự kỳ vĩ của biển cả, từ đó suy ngẫm về xã hội và bản ngã của mình.

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: PHAN HUY ÍCH (1751-1822) TINH SÀ KỶ HÀNH - KÝ SỰ TRÊN THUYỀN ĐI SỨ (VỚI VUA QUANG TRUNG GIẢ) NĂM 1790

(Tiếp theo và hết)

ĐỀ MIẾU NHẠC VƯƠNG Ở YỂN THÀNH
Chí hùng mong uống rượu Hoàng Long,
Áo giáp mũ đồng hét cõi không.
Hương đỉnh hân hoan lòng phụ lão,
Kim bài phụng chiếu khóc anh hùng.
Trời xui Nam Tống ngu hòa giặc,
Người ví Trung Nguyên tiếc chiến công.
Căm phẩn bừng bừng nơi chiến địa,
Một sân tùng bách gió thu rung.

ĐỀ YỂN THÀNH NHẠC VƯƠNG MIẾU
Tráng hoài cảm khái ẩm Hoàng Long,
Thiết giáp đâu mâu khiếu sá không.
Hương đỉnh nghinh sư hân phụ lão,
Kim bài phụng chiếu khấp anh hùng.
Thiên giao Nam Tống ngu hòa tự,
Nhân vị Trung Nguyên tích chiến công.
Liệt phẩn do di cung kiếm địa,
Nhất đình tùng bách vãn hào phong.

Dĩu Lý thuộc huyện Thang Âm tỉnh Hà Nam, tương truyền là nơi Trụ giam Chu Văn Vương. Trong lúc bị giam giữ Văn Vương đã diễn nghĩa lý Kinh Dịch. Nhờ bề tôi là Tản Nghi Sinh dâng ngọc ngựa cho Trụ  mà Văn Vương được tha. Lý của cỏ thi, mai rùa có cái sâu xa. Nơi đồng hoang còn bia đá ghi sự tích này. Hàn Dũ có viết bài Cầm tháo, phổ trên đàn cầm nói tấm lòng Văn Vương bị giam nơi Dĩu Lý.

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: PHAN HUY ÍCH (1751-1822) TINH SÀ KỶ HÀNH: KÝ SỰ TRÊN THUYỀN ĐI SỨ (VỚI VUA QUANG TRUNG GIẢ) NĂM 1790

Tinh Sà Kỷ Hành, là tập thơ kiệt tác hàng đầu trong kho tàng thi ca chữ Hán của Việt Nam, được vua Quang Trung khen ”thơ văn ông có khí cốt” và Ngô Thì Nhậm ca ngợi thơ văn  ông “đắc vô tà chi tư “ (có được cái nghĩ không sai trái). Phan Huy Ích viết ký sự bằng thơ, bằng nguyên dẫn, chú thích  cuộc đi sứ thú vị nhất trong lịch sử bang giao  Trung Hoa và Việt Nam là cuộc đi sứ năm 1790 thời Tây Sơn sau trận chiến thắng Đống Đa. Nhà Thanh phải tiếp rước chiêu đãi trong hơn sáu tháng một sứ đoàn đông đảo 150 người tổng cộng nhà Thanh phải tốn đến 800 000 lạng bạc, khác với sứ đoàn bình thường khoảng 30 người. Lần đầu tiên có một ông vua Việt Nam sang Trung Quốc, lại là ông vua Quang Trung giả, với sự thông đồng giữa Tổng Đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh Phúc Khang An và Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm Việt Nam  qua mắt  vua Càn Long. Sứ đoàn còn có hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, một ban hát bội Bình Định và hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi , sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc... Sau cuộc chiến, việc nối lại bang giao nhằm tránh việc trả thù  dai dẵng hao tổn xương máu, tài sản cả hai bên, và bảo đảm một hoà bình lâu dài trước một đế quốc  gấp mười lần nước ta. Vai trò các sứ thần trong việc ngoại giao trở thành vai trò hàng đầu. Trong trận tuyến hòa bình ngày xưa, sứ thần được xem là những Thi tướng trong thi trận. Nhanh nhẹn làm thơứng đối để khiến đối phương khâm phục công nhận mình là một nước văn hiến. Khi vào chầu đòi hỏi phải đứng ngang hàng với các sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản.  Gặp các công quán, quan địa phương chơi xỏ “chào mừng sứ đoàn nam di”, thì nhất định không bước qua, lập luận sắc bén buộc phải tháo gỡ. Khi họ đòi hỏi những cống phẩm quái gỡ như nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai, cống người vàng... phải lập luận có chứng cứ để bãi bỏ. Trước các thắng cảnh di tích các quan địa phương, quan triều đình Trung Quốc  giả vờ xin đề thơ đề bia đá để thử tài, trăm cặp mắt nhìn vào,  các sứ thần nước ta phải hiểu rộng lịch lãm  thi ca các thi hào Trung Quốc, phóng bút đề thơ văn hay, chữ tốt khiến họ khâm phục, để không bị cười  như “một đàn thằng ngọng đứng xem chuông “, do đó thi ca khi đi sứ không phải là chuyện bầu rượu túi thơ, thi sĩ một mình một ngựa đi ngâm vịnh thắng cảnh non sông, mà là những cuộc thi thơ đối mặt thường trực vì văn hóa, sĩ diện danh dự đất nước.

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: TRẢ LỜI BÀI VIẾT ÔNG PHÚ TRƯỜNG « MỘT CUỐN SÁCH HOÀNH TRÁNG BÊN NGOÀI, SƠ SÀI BÊN TRONG » CAND điện tử ngày 15/5/2015

Nhân đọc bài viết ông Phú Trường đăng trên Công An Nhân Dân điện tử viết về quyển  Lịch Sử Việt Nam. Từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ 20 của Gs Lê Thành Khôi do ông Nguyễn Nghị dịch, nhà xuất bản Nhã Nam và Thế giới ấn hành năm 2014. Đây là tác phẩm được viết và  Minuit xuất bản từ năm 1955, năm 1982 được bổ túc tư liệu, Nxb Sud Est Asie. Bản dịch sử dụng bản in năm 1982 và thêm chương VII và chương IX quyển le Vietnam. Histoire et Civilisation năm 1955.  Là môn sinh Gs Lê Thành Khôi, tôi xin thay mặt giáo sư trả lời những thắc mắc của ông.

Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: YÊN ĐÀI THU VỊNH - SỨ THẦN ĐOÀN NGUYỄN TUẤN (1750- ?)

28 bài thơ tuyệt tác viết về mùa thu tại Bắc Kinh

Đoàn Nguyễn Tuấn đi sứ Trung Quốc năm 1790 trong sứ bộ Tây Sơn. Sau trận Đống Đa, nhà Thanh phải vất vả,  hao tổn khá nhiều vàng bạc để tiếp rước, phục dịch ông vua Quang Trung giả, do người cháu vua là Phạm Công Trị đóng vai, và hoàng tử Nguyễn Quang Thùy.  Một sứ bộ 158 người đông đảo chưa từng thấy trong lịch sử, có cả một ban hát bộ 10 người và cống phẩm còn có hai con voi đực. Các đoàn sứ bộ bình thường chỉ khoảng 30 người. Thời xưa quan niệm thời chiến dùng Võ, thời bình  dùng Văn. Trên trận tuyến Thi Ca, Đoàn Nguyễn Tuấn là một Thi tướng tài năng dưới trướng  Chánh sứ Phan Huy Ích, khiến các quan Trung Quốc nể phục. Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn được chép trên vách Hoàng Hạc Lâu. Không ngại ngùng trước bài thơ kiệt tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, mà thi hào Lý Bạch phải thán phục: “Trước mắt có cảnh không tả được, Vì thơ Thôi Hiệu ở trong đầu”. Đoàn Nguyễn Tuấn  viết luôn bốn bài Vịnh Hoàng Hạc Lâu. Một bài được Chánh sứ Phan Huy Ích duyệt và cho chép lên vách Hoàng Hạc Lâu (Xem cùng tác giả bài « Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần Việt Nam », site Chimvietcanhnam, diendantheky, tapchivanhoanghean)

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: SUY TƯ BÊN TƯỢNG EVE BỊ ĐUỔI KHỎI THIÊN ĐƯỜNG CỦA VỊ VUA LƯU ĐÀY TỬ XUÂN HÀM NGHI

Vua Hàm Nghi
Tôi đến không gian nghệ thuật Bétonsalon thuộc Viện Đại Học Paris 7 để xem 5 tác phẩm Hội họa và Điêu khắc của vua Hàm Nghi triển lãm từ 14-9 đến 5-11-2016. Đây là cuộc triển lãm chung với nhiều tác giả khác, mang tên Anywhere but here. Tôi ngồi trầm ngâm suốt buổi chiều trước các tác phẩm. Không khí trầm buồn của các bức tranh vắng lặng không một bóng người và bức tượng đồng Eve bị đuổi khỏi thiên đường (Femme à la coloquinte) đã gợi cho tôi những cảm thông sâu thẳm.

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGUYỄN DU VIẾT VỀ NHẠC PHI (1103-1142)


Năm 1813 trên đường đi sứ từ 9-8 đến22-8 năm Quý Dậu Nguyễn Du đi qua Yển Thành thuộc tỉnh Hà Nam, ở phía Nam thành Hứa Xương nơi Nhạc Phi đóng quân. Nguyễn Du viết bài Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ. Năm 1790 trên bước đường đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc (1787-1790) Nguyễn Du từng dừng chân ở Tây Hồ, Hàng Châu nơi Miếu Nhạc Phi dưới chân núi Thê Hà, Nguyễn Du đã làm  5 bài thơ trong lúc chờ đợi gặp lại Nguyễn Đại Lang, một bài viết về Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị.


Nhạc Phi là một anh hùng dân tộc được kính trọng tại Trung Quốc, học sinh từ Tiểu Học học riêng một chương về anh hùng Nhạc Phi.

Nhạc Phi người thời Nam Tống, quê huyện Thang Âm, Tương Châu. Nhà nghèo ham học giỏi cả văn lẫn võ, yêu thích sách binh pháp Tôn Tử và Ngô Khởi. Ông sinh ra vào thời nước Liêu và Đại Kim xâm lăng nhà Tống.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGUYỄN DU QUA MỘ ÂU DƯƠNG TU (1007-1072)


Nguyễn Du  qua mộ Âu Dương Tu  trong khi đi sứ năm 1813, thời gian từ 9-8 đến 22-8 năm Quý Dậu, khi đi ngang qua tỉnh Hà Nam, cựu  kinh đô Khai Phong tức Đông Kinh nhà Tống. Âu Dương Tu là một trong 10 văn hào lớn nhất Trung Quốc : Khuất Nguyên,Tư Mã Thiên, Đào Uyên Minh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Âu Dương Tu, Tô Thức, Tào Tuyết Cần ; và một trong 8 nhà văn lớn thời Tống : Đường Tống  Bát Đại Gia : Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Vương An Thạch, Tăng Củng.
Trước mộ văn hào Âu Dương Tu, Nguyễn Du đã xúc động viết bài thơ : Mộ ông Âu Dương Văn Trung Âu Dương Tu là một nhà thơ trữ tình xuất sắc, một ngòi bút sử gia chính trực, một mẫu mực của người quân tử ngày xưa. Sớm đỗ đạt, làm quan cao. Suốt đời theo đường lối ngay thẳng không để lại điều gì để đáng ân hận. Nghìn năm qua chốn suối vàng còn vang tiếng danh. Một trong những việc ngay thẳng của Âu Dương Tu để lại tiếng danh là việc bênh vực nhà cải cách chính trị Phạm Trọng Yêm (989-1052).

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

TS Phạm Trọng Chánh: NGUYỄN DU QUA QUẢN TRỌNG TAM QUI ĐÀI


Nguyễn Du đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm Quí Dậu (1813). Quản Trọng là một nhân vật chính trị, kinh tế, giáo dục  kiệt xuất trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, người đất Dĩnh Thượng nước Tề (vùng Sơn Đông) tên là Di Ngô, tự là Trọng.
Ông là tác giả sách Quản Tử, quyển sách sớm nhất của Trung Quốc luận bàn về luật pháp và kinh tế Trung Quốc thời Cổ Đại bao gồm cả chính trị, thương mại, triết học. Về mặt kinh tế ông đề cập đến : Tài chính, ngân hàng, thương mại, thuế khóa... tác động mạnh mẽ đến kinh tế Trung Quốc thời cổ đại.

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

Ts Phạm Trọng Chánh - Đọc lê khắc thanh hoài Chuyện một người đàn bà... Năm con. Kể chuyện tình nhà thơ triết gia phạm công thiện (1941-2011)


Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện  qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc : Người thì viết : anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo ; kẻ khác  viết :  anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết Học  Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy  trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa Học Nhân Văn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai ? Dạy Triết học tại một Đại Học Pháp mà không cần một văn bằng nào ?
Đâu là sự thật, đâu là huyền thoại ?
Được chị Lê Khắc Thanh Hoài tặng cho quyển tiểu thuyết đầu tiên của chị : Chuyện một  người đàn bà năm con,  tôi đọc say mê, với lối văn giản dị trong sáng tôi đọc một mạch, tôi không ngờ chị viết hay và hấp dẫn như thế về cuộc đời khổ đau gian truân của chị với một thi nhân, triết gia mà thời niên thiếu tôi đã từng say mê tác giả : Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Phạm Công Thiện.

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

Ts Phạm Trọng Chánh - Nguyễn Du Qua Hàm Đan Đọc Bia Liêm Pha

Nguyễn Du qua sông Hoàng Hà đến Hàm Đan, Hà Bắc trên đường đi sứ trong khoảng thời gian 21-9 đến 4-10 năm Quý Dậu (1813 ). Hàm Đan xưa là kinh đô nước Triệu thời Xuân Thu Chiến Quốc. Nơi đây có các anh hùng lịch sử Trung Quốc :  Liêm Pha, Lạn Tương Như, Triệu Xa, Lý Mục. Chuyện thời Xuân Thu Chiến Quốc Trung Quốc, với những kinh nghiệm trị nước, là những bài học cha ông ta ngày xưa thường nhắc đến, không chỉ ảnh hưởng các nước Đông Á, mà còn được Voltaire, tư tưởng gia hàng đầu Cách Mạng 1789 Pháp nghiên cứu. Ta thử tìm hiểu tư tưởng thi hào Nguyễn Du khi đọc Bia Liêm Pha.
Hàm Đan, nơi đây Phạm Tuy mưu sĩ nhà Tần Chiêu Vương, dùng tướng Vương Hạt không đánh bại nổi Liêm Pha, lập mưu phản gián cho vua Triệu thay thế Liêm Pha bằng tướng Triệu Quát.  Vua Triệu mắc mưu thay Liêm Pha bằng Triệu Quát. Liêm Pha trao quyền cho Triệu Quát trở về, rồi lìa xứ sang nước Ngụy. Nhà Tần thay Vương Hạt bằng Võ An Quân Bạch Khởi. Bạch Khởi một tướng tài ba nhà Tần chiến thắng trận Trường Bình (262-260 TCN) giết quân Triệu Quát vô số, kiểm điểm hàng quân Triệu ước hơn hai mươi vạn. Bạch Khởi thấy số quân Triệu đông quá, sợ nổi lên làm loạn, truyền đem giết hết, đầu quân Triệu chất thành núi, gọi là núi Đầu Lâu. Bốn trăm ngàn quân Triệu tiêu vong trong trận này. Nguyễn Du qua Hàm Đan đọc bia Liêm Pha, viết những dòng tư tưởng xúc cảm về cuộc chiến tàn bạo nhất trong lịch sử Trung Quốc; về trách nhiệm nhà vua, nhà lãnh đạo chính trị không biết dùng người, cách chức những người tài năng là tường thành bảo vệ đất nước mình, dùng người non kém, thiếu kinh nghiệm cầm quân, trị nước đểđi đến chổ bại vong, bốn trăm ngàn quân bị giết, vài năm sau  nước Triệu bị diệt,  vua tôi đều bị giết, lăng miếu nước Triệu bị tàn phá.Thơ chữ Hán Nguyễn Du, mở một chân trời khác, Nguyễn Du không chỉ thương khóc một nàng Kiều, hồng nhan bạc mệnh, mà qua những bài thơ như Đọc Bia Liêm Pha, Nguyễn Du đã đạt đến tầm cao tư tưởng như thi hào Homère, suy nghĩ về thân phận con người trước sự tàn bạo của chiến tranh, trách nhiệm người lãnh đạo.

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU QUA MỘ KỲ LÂN


Trên đường đi sứ năm Quý Dậu (1813) , Nguyễn Du đi qua tỉnh Hà Bắc trong khoảng thời gian 21-9 ÂL, đến ngày 4-10 thì đến Bắc Kinh. Nguyễn Du đi ngang qua mộ con kỳ lân. Kỳ lân là một giống linh thú, không dẫm lên vật sống, không bẻ cành cây tươi, nên gọi là giống thú có nhân. Chỉ khi nào có thành nhân ra đời thì kỳ lân mới xuất hiện.  Do đó kỳ lân được tượng trưng cho điềm lành báo hiệu thời thịnh trị. Kỳ lân đứng hàng thứ nhì trong 4 con linh thú : Long, Lân, Qui, Phụng. (Rồng, Kỳ Lân, Rùa lớn, Phượng hoàng.) Trên các bình phong trước đình miếu, vẽ đắp nổi hình Kỳ lân : đầu rồng, thân ngựa con, có vẩy cá. Ở Tây phương, gọi là con licorne, tạm dịch là con lân, hình như ngựa con có sừng trắng trước đầu cũng là con vật huyền thoại, vẽ dệt trên bộ thảm đỏ danh tiếng ở Viện Bảo Tàng Cluny, Saint Michel, Paris.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Ts Phạm Trọng Chánh - Nguyễn Du Qua Cầu Dự Nhượng Và Quê Cũ Kinh Kha


Trên đường đi sứ, Nguyễn Du đi qua Tấn Dương trong khoảng thời gian 21-9 đến 4-10 năm Quí Dậu (1813) ; nơi đây Nguyễn Du qua cầu Dự Nhượng và viết hai bài thơ: Dự Nhượng kiều chủy thủ hành (bài hành về chiếc gươm ngắn của Dự Nhượng) và bài Dự Nhượng kiều (Cầu Dự Nhượng). Với Kinh Kha Nguyễn Du  viết một bài Kinh Kha cố lý (Làng cũ Kinh Kha) nhân khi đi ngang qua sông Dịch. Điều đó nói lên tấm lòng trân trọng của Nguyễn Du đối với  hai  tráng sĩ này.

Kinh thành Tấn Dương do Triệu Giản Tử xây dựng năm 500 trước Công nguyên. Từ đời nhà Tần được đổi tên là Thái Nguyên, nay thuộc tỉnh Sơn Tây, thành phố có 4,2 triệu dân. Có nhiều vị vua ở nơi này nên nó còn được gọi là Long Thành. Tấn Dương là một trong 9 cố đô Trung Quốc (Cửu triều cố đô), một trong những thành phố có nhiều di sản văn hóa nhất Trung Quốc. Thành phố nằm ở Bắc Tấn Trung, dựa lưng vào Nhị Long Sơn, có sông Phần chảy qua thành phố từ phía Bắc.

Trong Kiều có câu: Thưa rằng lượng cả bao dung, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Điển tích Tấn Dương chỉ việc  năm 617  khi Đường Cao Tổ Lý Uyên cùng con là Lý Thế Dân khởi binh ở Tấn Dương chống lại nhà Tùy lập nên nhà Đường, có đám mây ngũ sắc điềm báo hiện thiên tử xuất hiện.  Câu này Kiều ví Từ Hải như Lý Uyên khởi binh.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

TS Phạm Trọng Chánh - Nguyễn Du và Cây Liễu Xưa Ðền Mạnh Tử


Nguyễn Du  là một nho sĩ Khổng Giáo như bao người xưa, nhưng không thấy thi hào nhắc đến Khổng Tử, lại nhắc đến Mạnh Tử. Trong bài Trở Binh Hành  có nhắc đến câu « Dân tử tại tuế bất tại ngã »   Dân chết lỗi ở trời nào phải ta. Câu nói nổi tiếng của Mạnh Tử kết án quan lại không lo tròn trách nhiệm, khi dân chết đói thì đỗ lỗi tại trời.  Trên đường đi sứ lúc đi về, thi hào có ghé ngang Sơn Đông, có ghé thăm đền Mạnh Tử và viết bài Cây liễu xưa đền Mạnh Tử. Khu di tích đền Khổng Tử chỉ cách đó 30 km, nhưng nhà thơ không ghé qua.
Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành vật dụng. Bài thơ Nguyễn Du viết :  Ta nghe bên bờ ao trời có con rồng uốn khúc. Những bức tranh vẽ ngày nay không giống chút nào. Những đêm mưa gió rồng bay xuống đây. Hoá làm cây liễu trước đền Á Thánh. Cây liễu này toàn vẹn to trăm người ôm. Được nuôi dưỡng để thành cao to như thế không phải một lúc . Trời có ý yêu riêng đem mưa móc nhuần tưới. Quỉ thần ngấm ngầm giúp đỡ. Cành nhánh sum suê càng già càng khỏe. Tháng năm dằng dặc không biết đã bao năm. Uốn bên tả quanh bên hữu đứng ngay bên đường lớn. Khách qua đường không dám vén cành. Um tùm rậm rạp ôm chứa nguyên khí. Nền tư văn thiên hạ có lẽ ở đây. Người làng xây hai trụ đá chống đỡ. Trụ đá càng sâu, gốc càng bền. Không như cây cỏ tầm thường tuổi thọ ít. Cây choáng nửa mẫu đất trong gió mây từ xưa đến nay . Cái khí hạo nhiên chẳng phải tầm thường, cây lớn sẽ cùng trời ngang tuổi thọ.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU QUA VĨNH CHÂU NƠI LIỄU TÔNG NGUYÊN (773 - 819) VIẾT «LỜI NGƯỜI BẮT RẮN»


Trên đường đi sứ năm 1813  từ 18-7 Âm lịch năm Quý Dậu, rời Toàn Châu  theo sông Tiêu Tương, Nguyễn Du qua Vĩnh Châu khoảng ngày 20-7 âm lịch, nhớ nơi đây Liễu Tông Nguyên, hiệu Tử Hậu từng bị giáng chức làm Tư Mã trấn nhậm nơi này, nơi đây Liễu Tông Nguyên viết bài Bổ Xà Thuyết nhân nghe chuyện kể của người bắt rắn. Bài Bổ Xà Thuyết là một án văn tuyệt tác lên án thuế  nặng sưu cao, quan lại sách nhiễu, dân chúng sợ hơn cả rắn độc.

Liễu Tông Nguyên, tự Tử Hậu, người Hà Đông, nay thuộc huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây,  nên còn gọi là Liễu Hà Đông một trong Đường Tống Bát Đại Văn Gia. Tác phẩm Liễu Hà Đông gồm 45 tập, ông còn được gọi tên là Liễu Liễu Châu vì làm Thứ sử Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây. Tuổi thiếu niên nổi tiếng tài văn chương, 20 tuổi đỗ Tiến sĩ, đồng khoa với Lưu Vũ Tích, được bổ chức  Hiệu Thư lang. Năm 30 tuổi được Tể tướng Vương Thúc Văn để ý đến văn tài thăng chức Lễ Bộ Viên ngoại lang. Vương Thúc Văn ý muốn liên kết các nhân tài trong triều như Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích, Lữ Ôn tiến hành cải cách triều đình, trừ khử bọn hoạn quan đang lộng quyền. Chẳng may vua Đức Tông bệnh nặng, nhường ngôi cho con là Hiến Tông, nhân đó bọn hoạn quan khôi phục quyền bính. Vương Thúc Văn cùng đồng bọn bị biếm trích đi xa. Liễu Tông Nguyên bị giáng làm Tư Mã ở Vĩnh Châu, địa phận tỉnh Hồ Nam hiện nay. Ở đấy ông thấy dân chúng cùng khổ vì sưu cao thuế nặng, lại có người liều mình bắt rắn độc để được miễn thuế thân, nên ông làm bài Bồ Xà Thuyết. Mười năm sau năm 815 ông được bổ làm Thứ sử Liễu Châu, ông mất ở Liễu Châu năm 819 năm 46 tuổi.

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU QUA ĐÌNH TÔ TẦN


Nguyễn Du có hai bài thơ viết về đình Tô Tần khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong bốn kinh đô lớn trong lịch sử Trung Quốc, phía Tây tỉnh Hà Nam, tỉnh phía Nam sông Hoàng Hà, giáp tỉnh lị Trịnh Châu. Lạc Dương nằm bên bờ sông Hà Lạc còn có tên là Đông Kinh, Tây Kinh. Được xây dựng từ thế kỷ 11 trước Công nguyên đặt tên là Thành Chu, trở thành kinh đô nhà Đông Chu từ năm  770 trước CN. Từnăm 25 đến 190 sau CN thành kinh đô nhà Đông Hán từ Hán Quang Vũ Đế đến Hán Hiến Đế. Nhà Tùy thống nhất Trung Quốc năm 589 định đô ở Trường An. Năm 605 Tùy Dạng Đế cho xây dựng Đông Đô Lạc Dương. Trong thời hạn một năm nhân công dùng mỗi  tháng đến 2 triệu người. Do việc đôn đốc khắt khe, 10 người chết đến 4, 5. Do hao tổn nhân lực tiền bạc, nhà Tùy suy sụp, các cuộc khởi nghĩa bùng nổ , nhà Tùy  diệt vong năm năm 617.   Nguyễn Du viết các bài Đình Tô Tần, và Phân Kinh Thạch Đài tại cựu kinh đô Lạc Dương năm 1789-1790. Khi đi sứ Nguyễn Du có đi ngang qua tỉnh Hà Nam, qua huyện An Dương, nhưng không đến Lạc Dương. Đình Tô Tần lập ở quê hương Tô Tần là Lạc Dương.  Lạc Dương có ngôi chùa Bạch Mã là chùa đầu tiên của Trung Quốc,  lập năm 65 sau công nguyên, có lẽ Phân Kinh Thạch Đài nhà Tùy nằm nơi này. Tôi có đến Trường An năm 2009  tìm Phân Kinh Thạch Đài nơi chùa Đại Hồng Nhạn và Tiểu Hồng Nhạn, nơi Trần Huyền Trang dịch kinh nhưng không  ai biết.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU, ĐI SỨ TRÊN QUÊ HƯƠNG LÝ BẠCH: « ĐƯỜNG TRUNG HOA SÂU HIỂM, QUANH CO GIỐNG LÒNG NGƯỜI- TRUNG TÍN THẢY KHÔNG NHỜ CẬY ĐƯỢC»


Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lý Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia đình : Cha cụ Nguyễn Nghiễm bút hiệu Nghị Hiên, anh Nguyễn Nể bút hiệu Quế Hiên, và cháu Nguyễn Thiện bút hiệu Thích Hiên. Bút hiệu Thanh Hiên, Nguyễn Du xưng danh rõ ràng trên Thanh Hiên thi tập, Thanh Hiên tiền hậu tập. Mang bút hiệu Thanh Hiên, Nguyễn Du xác định trong thơ chữ Hán, mình chịu ảnh hưởng thi hào bậc thầy Lý Bạch. Ngày xưa người nho sinh trên bước đường thi cử thường thuộc lòng văn chương chữ Hán: một ngàn bài thơ Đường,  trăm bài từ, trăm bài phú, 50 bài văn tế, 50 bài văn sách... Do đó ảnh hưởng các thi hào lớn Trung Quốc như Khuất Nguyên, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Liễu Tông Nguyên... là điều không tránh khỏi. Ta thử tìm hiểu ảnh hưởng các thi hào Trung Quốc trên thi ca Nguyễn Du trong thơ chữ Hán.

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - PATRICK MODIANO GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG 2014

Patrick Modiano
Patrick Modiano sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác phẩm được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, vừa được giải Nobel Văn Chương năm 2014. Đây là nhà văn Pháp thứ 15 được vinh dự trao giải này, khẳng định sự đóng góp quan trọng văn chương Pháp cho nền văn học thế giới.