Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạ Duy Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạ Duy Anh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

Tạ Duy Anh: Tiền và sự cám dỗ

(Nhân vụ Việt Á và Giải cứu)

Một hôm, cánh lính cũ chúng tôi trong "Hội đạp xe", đưa ra một tình huống thế này: Giả sử có người mang 100.000 USD (chỉ mới 100.000 USD, quy ra khoảng 2,4 tỷ đồng thôi nhé, so với 3 triệu USD hay 14,5 tỷ đồng thì nó chỉ là một món rất vừa phải) đến hối lộ, để cảm ơn về một việc gì đó (ví dụ giúp họ thắng thầu, ví dụ giúp họ giảm án tù, ví dụ giúp họ trốn thuế, ví dụ giúp họ mua rẻ bán đắt…) thì liệu ai trong số những người ngồi đây có thể từ chối?

Tất cả đều trả lời giống nhau: Khó từ chối vô cùng.

Bản năng sống của con người là hám lợi. Ở đâu có lợi là nó mò đến. Cái gì đem lại lợi ích là nó lao vào. Vì nó là con người, với đầy đủ những khiếm khuyết tự nó không hoàn thiện được (thế mới cần đến tôn giáo). Chính vì vậy, tham nhũng, nhận hối lộ, ăn cắp của công… xuất hiện từ thời thượng cổ, khi con người biết đến quyền lực và khi xã hội phân tầng về giai cấp.

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Tạ Duy Anh: Lịch sử và môn học Lịch sử

Tôi phải nói thật là mình không thuộc lịch sử cho lắm. Suốt thời học phổ thông, chúng tôi chỉ được học rất sơ sài, do những ông thầy không hề có tí hứng thú nào với chính môn mình dạy. Tôi không bao giờ dám hỏi các thầy để biết lý do vì sao.

Nhưng rồi thì tôi cũng sớm nhận ra, phần lớn kiến thức lịch sử mình được học trong nhà trường, đều rất khác với những gì tôi tự tìm hiểu sau này. Ví dụ điển hình có thể dẫn ra là những kiến thức về Nhà Nguyễn. Chúng tôi được học đơn giản và mang tính đóng đinh rằng, Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến thối nát, mang tội bán nước.

Nhưng rồi không chỉ Nhà Nguyễn, còn rất nhiều sự kiện khác, nhất là những sự kiện thời cận đại, hiện đại, thậm chí chỉ ngay mới đây… đều có những nhận thức trái ngược giữa chính thống và “ngoài luồng”. Tự lực Văn đoàn với chúng tôi suốt một thời là cải lương, vọng ngoại, suy đồi. Rồi hàng loạt các sự kiện chính trị khác nữa. Ví dụ sự kiện tại phố “Ôn Như Hầu” năm 1946; sự kiện Chính phủ Trần Trọng Kim; sự kiện Cải cách ruộng đất; sự kiện Nhân văn giai phẩm; sự kiện “Nhóm xét lại”…

Ngoài ra, nhiều nhân vật lịch sử, rất khó để kể hết, cũng nằm trong tình trạng tương tự. Tiêu biểu trong số này là Trương Vĩnh Kí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… Tận lúc lớn chúng tôi vẫn đinh ninh rằng đó là những kẻ ôm chân thực dân, đế quốc, làm hại giống nòi!

Sau này khi được tiếp xúc với giáo sư Trần Quốc Vượng, tôi sáng ra nhiều điều để có thể tự lý giải cho mình một số băn khoăn. Và tôi nhận ra rằng, những kiến thức lịch sử ít ỏi mình có, phần nhiều đều phải chỉnh sửa lại.

Quá trình này hóa ra không chỉ khó, mà còn bi hài ngoài sức tưởng tượng. Xóa bỏ kí ức (kiến thức, với thời gian đủ dài, cũng thành một thứ kí ức) không hề đơn giản chút nào. Cho dù đã nỗ lực vượt bậc, tôi phải thành thật nhận rằng, mình vẫn thuộc loại “mù” lịch sử. Bởi khi tờ giấy đã bị bôi lem nhem, thì ta có thể thay nó bằng tờ giấy trắng tinh, rồi viết lại lên đó những chữ ngay ngắn, những hình vẽ tử tế. Nhưng kí ức thì không thể làm thế. Chúng chống lại mọi sự thanh tẩy một cách ngoan cố, vượt ra ngoài mọi khả năng của lý trí.

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2021

Tạ Duy Anh: Chúng ta và Trung Quốc đều cần hòa bình

Vài lời của tác giả:

Sau khi tờ "Hoàn cầu thời báo", một phụ bản của "Nhân Dân nhật báo" Trung Quốc đăng lời hăm dọa người dân của chúng ta, phóng viên của tờ Vietnamnet đã phỏng vấn tôi. Bài phỏng vấn được thực hiện rất nhanh. Nhưng sau đó lãnh đạo của tờ báo đề nghị thay đổi đề tài, nói về ảnh hưởng của Khổng giáo đến văn hóa Việt. Tôi đã khước từ. Rồi đến lượt cô phóng viên thực hiện bài phỏng vấn cũng khước từ tư cách tác giả bài phỏng vấn. Vì thế, khi lần đầu đăng trên mạng Boxit, tôi đã phải nói là tôi trả lời một bạn sinh viên quan tâm đến vận mệnh đất nước nhưng vì lý do tế nhị nên xin được ẩn danh.

Nhân việc Trung Quốc ngang ngược áp dụng cái gọi là “Luật Hải cảnh” lên cả phần chủ quyền biển đảo của Việt Nam và nhân cuốn “Sống với Trung quốc” sắp được in và phát hành rộng rãi ở Đài Loan bằng hai thứ tiếng (Đài Loan và Trung Quốc), tôi xin đăng lại bài trả lời này, thay cho lời chúc đất nước của chúng ta bình yên vượt qua đại dịch.
Hỏi: Thưa nhà văn, nghe nói ông thường xuyên bóp trán suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để sống bên cạnh Trung Quốc ngày càng hùng mạnh nhưng cũng ngày một bất quy tắc? Ông tự nhận thấy mình có sứ mệnh hay vì động cơ gì?

TDA: Đúng là tôi ngày đêm nghĩ về vấn đề vô cùng khó khăn đó. Có thể nói là khó nhất hiện nay. Một người cũng chung nỗi trăn trở và cùng chung ý nghĩ đó với tôi là ông Nguyễn Trần Bạt, Tổng giám đốc của một công ty nổi tiếng. Chúng ta không chỉ cứ nói cho bõ tức. Phải có sách lược khôn ngoan, vì con cháu của chúng ta sẽ không thể dọn đi đâu để tránh Trung Quốc được. Nhưng phải nói thật tôi chưa thấy có lối ra khả dĩ để có thể coi đó như một kế sách nhỏ đem hiến cho đất nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, huống hồ tôi là một nhà văn. Lòng yêu nước là bản năng sống không chỉ của tôi, mà của bất cứ người dân Việt nào, sao phải có động cơ mới làm điều mà mình thấy phải làm.

Hỏi: Trong những ngày vừa qua, trên khắp đất nước đang sôi sục những thông tin về cuộc gây hấn của Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam, thách thức lòng yêu nước của người Việt. Là một người cầm bút, ông quan sát sự kiện này như thế nào?

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

Tạ Duy Anh: Sự thật không bao giờ cũ

Việc Ban quản trị Facebook xóa bài của tôi, thực ra là do những DLV đánh phá, hóa ra rất phản tác dụng. Tôi không bịa đặt một chi tiết nhỏ, vì thế tôi hoàn toàn bình thản. Sự thật không bao giờ cũ. Một nhà triết học, kịch tác gia cổ Hy Lạp có câu nói bất hủ: “Tôi nắm trong tay sức mạnh của sự thật”. Không vũ khí hủy diệt nào xóa được sự thật. Mong các vị nhớ cho điều đó.

Tự truyện (một kiểu hồi ký) DƯỚI BÀN TAY VÔ HÌNH tôi viết xong từ năm 2012. Sau khi về hưu, tôi có sửa sang lại, bổ sung vài chi tiết không đáng kể. Nó gần 200.000 chữ. Phần viết về nạn quân phiệt trong quân đội (chỉ kể lại những gì tôi chứng kiến tận mắt và những gì tôi trải qua (như bài viết vừa rồi) gồm hai chương: NƠI HẦM TỐI và CHUỘC TỘI chiếm gần 1/6 cuốn sách. Bài vừa bị xóa chỉ là phần rất nhỏ, chưa bằng 1/10 của hai phần trên và chưa phải là chuyện kinh khủng nhất. Chuyện kinh khủng nhất xảy ra với một quân nhân tên là Tiện, cùng lúc bị năm tên chỉ huy và một A trưởng hạ sỹ quan (tôi ghi tên từng thằng) lao vào đánh đấm trước mặt hơn 200 tân binh (trong đó có tôi).

Khi ông Lê Đức Anh qua đời, tôi đọc thấy có bài báo hiếm hoi nói về việc ông nhắc tới nạn quân phiệt trong quân đội. Tôi đã định nhân cớ ấy kể về chuyện tôi bị tra tấn, để lãnh đạo Bộ Quốc phòng biết một sự thật nhức nhối, diễn ra tàn khốc nhưng luôn bị bao che, tuy gần đây có giảm nhưng vẫn chưa chấm dứt, tại các đơn vị quân đội. Nhưng rồi nhìn vài gương mặt, tôi cảm thấy chưa phải là lúc.

Chắc chắn Bộ Quốc phòng còn lưu trữ hồ sơ về những vụ lính bắn chỉ huy (dù chủ yếu bị giấu, thì cũng khá nhiều) chỉ vì bị ngược đãi, tra tấn.

Hẳn chuyến đi thị sát của bà Nguyễn Thị Bình đến một số đơn vị bộ đội khoảng năm 1987, còn lưu trong hồ sơ công tác của Quốc hội. Bà Bình đi chuyến công tác ấy vì có đơn thư tố cáo nạn quân phiệt ào ạt gửi về từ khắp nơi.

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

Tạ Duy Anh: Vì sao tiếng cười bị căm ghét?

Tôi phát hiện ra rằng, những người cầm quyền trong chế độ toàn trị rất dị ứng với những tác phẩm hài hước, dù nó nói về bất cứ chủ đề gì. Cứ gây cười là rất đáng ghét và đáng sợ?

Vì sao vậy? Tại sao những tác phẩm mang đến bạn đọc tiếng cười lại bị săn lùng, ngăn chặn, tìm cách vô hiệu hóa ở mọi nơi, mọi lúc gắt gao, khắc nghiệt đến thế?

Hóa ra khi ngồi xem tivi, tôi nhận ra toàn bộ các chương trình, dù rất nghiêm trang như những lễ kỷ niệm, những kỳ hội họp, những cuộc thăm thú, những lời phát biểu… đều ẩn chứa yếu tố hài hước, yếu tố diễn hề. Bất cứ gương mặt nào xuất hiện cũng có khả năng gây cười, nếu người xem có một chút hiểu biết về ông hay bà ta, rồi đặt bên cạnh những gì ông hay bà ta nói.

Làm sao không gây cười được, khi một ông bà nào đó kiến thức rỗng tuếch, đến viết còn sai chính tả, lại nói rất hùng hồn về những thứ cao siêu, về thời đại trí tuệ, về tầm nhìn nửa thế kỷ? Làm sao không gây cười được, khi trong một hội trường nào đó, trên những băng rôn, khẩu hiệu, trên những dáng đi, cử chỉ nghiêm cẩn… thực chất đều là diễn, đều đang làm trò, chẳng có cái gì thiêng liêng cả. Hàng ngàn người nét mặt ai nấy đầy vẻ nghiêm nghị, cứ như họ đang chuẩn bị tuyên thệ, nhưng tất cả đều đang đóng kịch, đang canh chừng nhau, đang ngầm toan tính giành giật quyền lợi về mình và không một lời nào được nói ra là thật, không một hành động nào đáng tin. Thế thì làm sao lại không gây cười. Quan sát rộng ra, mọi thứ khác cũng đều ẩn chứa sự hài hước. Một bức tranh áp phích, một đoạn phát biểu, những khẩu hiệu nhiều nhan nhản, những cử chỉ, lời nói như thánh phán, nổ như bom, buông ra ở bất cứ đâu… Cũng đều là những chi tiết có thể cười vỡ bụng của vở đại hài kịch.

Phàm con người ta rất ghét phải thấy lại hình ảnh nhếch nhác của chính mình. Bạn cứ làm một cú test đơn giản mà xem: Tặng một đại nhân thích trịnh trọng nào đó tấm hình chụp ông ta lúc ông ta ăn mặc lôi thôi, hoặc lúc ông ta chức vụ còn bé tí, ông ta sẽ căm ghét bạn – kẻ lưu giữ trong ký ức những thứ chả ra gì về ông ta – đến xương tủy. Vua chúa ngày xưa tìm cách giết bạn nối khố cũng là vì thế. Mà cấp nhếch nhác ấy chỉ mới ở hình thức, còn lâu mới kinh bằng nhếch nhác từ trong tinh thần. Vì thế, mọi sự “nhắc cho nhớ lại” còn hơn cả nhạo báng. Con người có thể nói dối ráo hoảnh, trơ tráo, nhưng nó rất sợ đối diện với chính sự nói dối ấy, rất sợ bị vạch trần bởi người khác.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

Tạ Duy Anh: Lời cảnh tỉnh gửi tất cả chúng ta

Trên trang Uyen Nguyen vừa đăng bài viết của Tạ Duy Anh, bình luận về cuốn sách “Cái chết chìm của siêu cường, lời cảnh tỉnh gửi tới Trung Quốc” của tác giả Lưu Hiểu Ba, nhà văn Trung Quốc được trao giải Nobel năm 2010. Thông qua lời bình về cuốn sách, ta sẽ càng hiểu hơn về một đất nước Trung Hoa dưới thời cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như qua đó càng hiểu rõ hơn về đất nước Việt Nam hôm nay.  
Xin chia sẻ với độc giả BVN!
Ban biên tập BVN

Tiêu đề của cuốn sách “Cái chết chìm của siêu cường, lời cảnh tỉnh gửi tới Trung Quốc” hàm ý rõ ràng rằng, các vị, tức là người dân Trung Quốc, hãy chọn lựa tương lai của mình. Rằng, “Trong mấy chục năm qua người dân bách tính Trung Quốc đã phải trả một cái giá rất lớn cho hình tượng đạo đức giả và sự ngu xuẩn của những kẻ cầm quyền, lẽ nào có thể để lịch sử như thế này tiếp tục đi về phía tương lai hay sao?”. Các vị nghe cho rõ nhé, tôi – Lưu Hiểu Ba – muốn các vị nhớ lấy sự thật ấy.

Đây là lần đầu tiên tôi được đọc một tác phẩm hoàn chỉnh của Lưu Hiểu Ba, về chủ đề chính trị và văn hóa gắn với Trung Quốc. Tôi xin mách trước với bạn đọc là bạn sẽ bắt gặp những chuyện không khác xa với những gì vẫn xảy ra xung quanh mình, được Lưu Hiểu Ba, người Trung Quốc, thuật lại, bằng thứ ngôn ngữ có phần chua chát và đầy nhạo báng theo truyền thống Trung Hoa.

Mỗi người, tất nhiên, sẽ tìm thấy trong cuốn sách điều mình quan tâm, tự rút ra nhận định của riêng mình. Đó là quyền to lớn nằm trong số quyền mà Lưu Hiểu Ba cố sống cố chết đòi cho bạn và cũng được thể hiện mạnh mẽ trong cuốn sách này (có thể bạn không biết, không cần biết điều này). Quyền đó là quyền tự do biểu đạt ý kiến, quyền nói lên sự thật về mọi vấn đề lớn hay nhỏ, trong đó có ý kiến không bị định hướng về cuốn sách này.

Tôi rất tò mò muốn được bạn chia sẻ ý kiến, và tôi sẽ chờ.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Tạ Duy Anh: Khi lãnh đạo được người dân ném giày

Cách đây ít năm, tôi từng muốn đề xuất một sáng kiến: Tại thành phố HCM và thủ đô Hà Nội nên xây dựng mỗi thành phố một căn nhà, tạm gọi là Nhà xả hận. Trong mỗi ngôi nhà ấy nên treo một loạt mặt các loại quan chức của ta, cả đương chức lẫn đã nghỉ, bằng đất nung (số lượng mặt của mỗi quan chức không hạn chế), để thỉnh thoảng người dân tột cùng oan ức nào đó (phải thông qua chọn lựa) được dịp xả hận bằng cách vào trong phòng đó và thỏa sức dùng gậy phang thẳng vào mặt các quan chức, cho nó vỡ tan vỡ nát ra (Phòng xả hận cần được thiết kế sao cho thật an toàn cho người xả hận). Sau đó cứ cộng sốmặt quan chức bị đập vỡ lại mà tính tiền theo giá thị trường, có cộng thêm phí dịch vụ. Người xả hận phải chi trả một phần số tiền đó (coi như vé mua trò chơi). Số còn lại lấy từ tiền ngân sách chi cho việc giải quyết khiếu kiện. Gộp tất cả hai khoản lại rồi nộp vào quỹ hỗ trợ người nghèo. Tôi tin rằng việc đó có mấy cái lợi: Thứ nhất, người dân, sau khi xả hận vào mặt giả của các quan, họ sẽ nguôi ngoai nỗi bức xúc, để không manh động chọn các hình thức khác bạo lực hơn. Cái lợi thứ hai là tạo công ăn việc làm cho các lò gốm thất nghiệp (mặt quan chức là sản phẩm dễ làm và không kén chất liệu, có thể làm hàng loạt); cái lợi lớn nhất là nhắc nhở đám quan “phụ mẫu” phải liệu bề mà tu tỉnh, phục vụ dân, chứ nếu chỉ biết vơ vét và nói dối thì thể nào cũng có ngày dân họ đập vỡ mặt thật. Và thứ tư, tại sao không coi đó là cách kiểm tra uy tín của lãnh đạo (Sau vài tháng, thống kê sốmặt ông quan nào bị đập nhiều, tức ông quan đó bị dân ghét, một kiểu lấy phiếu tín nhiệm cũng hay đấy chứ, mà lại vui?).

Tất nhiên đề xuất của tôi vẫn nằm trong đầu. Tôi đã định quên đi, thì lại phải nhớ nhân vụ chị Nguyễn Thị Quyết Tâm, bị một phụ nữ trẻ oan ức ném giầy vào mặt (việc trúng hay chưa không còn quan trọng nữa). Giá sáng kiến của tôi được đề xuất công khai và thành hiện thực, thì sẽ có vài vạn cái mặt chị Tâm làm bằng đất nung bị đập (còn với anh Hải, anh Đua, anh Cang… và một số anh khác, thì mảnh vỡ từ mặt các anh vun lại chắc chắn to bằng dăm bảy cái gò Đống Đa là cái chắc), nhưng chị Tâm (và các anh) sẽ không bị ăn một cái giầy vào mặt thật và các “thế lực thù địch” không có cớ bảo đấy là cái giầy ném thẳng vào mặt chế độ!

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Facebook’s Tạ Duy Anh: Tôi phải lên tiếng

Ông Đặng Văn Hiến trước tòa. (Hình: VOA)

Nếu hôm nay tôi im lặng, có thể tâm hồn tôi sẽ vĩnh viễn không còn tìm thấy sự bình yên như mình mong muốn và mọi nỗ lực sáng tạo của tôi hoàn toàn vô nghĩa.

Tôi đã bỏ lại mọi việc, để lục lọi, tìm hiểu về vụ án Đặng Văn Hiến. Tôi cố gắng để không bị sự cảm tính dẫn dắt. Và sau đây là ý nghĩ của tôi.

Anh Đặng Văn Hiến thực sự đã phạm tội. Là người chống lại bạo lực dưới mọi hình thức, tôi không thể không lên án hành động của anh. Khi nổ súng bắn vào những người đập phá tài sản của anh, anh quên mất rằng, họ chỉ là những kẻ làm theo mệnh lệnh, hoặc quá lắm là vì tiền. Nhưng bất kể thế nào thì họ không đáng phải chết. Bọn đáng chết là những kẻ tại thời điểm ấy đang ngồi trong các salon sang trọng, uống những chai rượu đắt tiền, nói những điều dối trá về đạo đức cách mạng, về học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sau khi đã làm muôn vàn điều nhơ bẩn, đã ăn của dân không từ một thứ gì.

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

Giới thiệu sách mới: MỐI CHÚA, Tiểu thuyết của TẠ DUY ANH


MỐI CHÚA,
Tiểu thuyết của TẠ DUY ANH
NGƯỜI VIỆT BOOKS xuất bản tháng Bảy 2018


Năm 2017 cuốn Mối Chúa lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam với tên tác giả là Đãng Khấu, dù đã cắt xén nhiều chỗ, cũng bị thu hồi ngay sau khi phát hành.

Lý do thu hồi, theo nhà cầm quyền :

Trích nội dung công văn số 914/CXB1PH-QLXB, do ông Chu Văn Hòa, Cục trưởng, ký ngày 13-9-2017, yêu cầu cấm lưu hành tiểu thuyết Mối chúa.

“... Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn. Toàn bộ hệ thống bộ mảy chỉnh quyền bộc lộ sự tàn nhẫn, vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền. Một số chi tiết được viết với giọng giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực có phần tô đậm và có tính khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám. Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như hai lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh được chuẩn bị kỹ lưỡng từ vũ khí đến lực lượng bí mật”.

Tác giả Tạ Duy Anh khi chọn Người Việt làm nhà xuất bản Mối Chúa tại hải ngoại đã viết : “Tôi gửi các anh bản thảo đầy đủ nhất của Mối chúa”. Và ông cũng gửi cho Người Việt bài viết ngắn sau đây :


MẤY LỜI CÙNG BẠN ĐỌC YÊU QUÝ

Tạ Duy Anh

Khi tiểu thuyết Mối Chúa in lần đầu trong nước, vì sự an toàn của một vài người mà tác giả mang ơn, nên tác giả đồng ý cắt đi một số đoạn. Nhưng kể cả như vậy thì Mối Chúa vẫn gặp vấn đề, không thể tiếp tục đến tay bạn đọc qua hệ thống xuất bản hiện hành. Với tư duy 0.0, nền xuất bản của chúng ta tiếp tục vui vẻ với thành tựu kẽo kẹt lê lết về quá khứ.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Tạ Duy Anh: Công an Khánh Hòa nên nhận được lời khen


Đây là một đoạn trích trong bản tin của báo Tuổi trẻ điện tử, ngày 11-10-2016 về việc công an Khánh Hòa bắt Blogger Mẹ Nấm:
“Cơ quan công an (Khánh Hòa) cho rằng các bài viết trên của bà Quỳnh thường “đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân”.
Đặc biệt, công an Khánh Hòa còn cho biết tập tài liệu SKC của bà Quỳnh đã tổng hợp 31 trường hợp người dân bị chết sau khi đến cơ quan công an trên các báo điện tử, trang thông tin điện tử trong nước.
Đây là việc làm có chủ đích, mang quan điểm, lập trường rất thù địch đối với lực lượng công an nhân dân. Tập tài liệu này khiến người đọc hiểu sai bản chất vấn đề, xúc phạm và làm hạ uy tín của lực lượng công an nhân dân, gây xâm hại đến mối quan hệ giữa nhân dân và lực lượng công an” - cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh Khánh Hòa khẳng định”. (Hết trích)

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Tạ Duy Anh/ Quê Choa - Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi


Có lẽ không quốc gia nào mà cuộc sống của giới công chức chứa nhiều điều nghịch lý như ở Việt Nam: Lương không đủ sống nhưng lại thuộc thành phần khá giả của xã hội; đã vào biên chế là có thể nằm lỳ cho đến hết đời, ngang nhiên đòi hỏi mọi chế độ phúc lợi, ngay cả khi chẳng làm gì; là người làm thuê cho dân nhưng lại hành xử như ông chủ có quyền ban ơn; năng lực cũng như tinh thần trách nhiệm trước công việc phần lớn ở mức trung bình và thấp, nhưng cực kỳ có khả năng trong việc kinh doanh “quyền lực Nhà nước” để tư lợi... Nhưng điều nghịch lý nhất là một nền hành chính cồng kềnh, ì ạch, dôi dư cả triệu người như vậy lại vẫn cứ đang tiếp tục ngày một phình to?

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Trần Phong Vũ - Đọc lại: “ĐI TÌM NHÂN VẬT” một tuyệt phẩm của Tạ Duy Anh bị bỏ quên


TRẦN PHONG VŨ - 

Tạ Duy Anh là bút hiệu của Tạ Việt Dũng, sinh năm 1959 tại xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, Bắc phần. Cho đến nay, độc giả hải ngoại vẫn chưa biết nhiều về tác giả Tạ Duy Anh, mặc dầu từ ngót 20 năm nay, qua những tác phẩm BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN (1989), LÃO KHỔ (1992), ĐI TÌM NHÂN VẬT[1] (2002) anh đã trở thành đối tượng bới lông tìm vết cho những cặp mắt cú vọ của đám công an văn nghệ nhà nước. Riêng cuốn tiểu thuyết ĐI TÌM NHÂN VẬT, tủ sách Tiếng Quê Hương đã được hân hạnh giới thiệu với độc giả hải ngoại từ năm 2003. Nhưng điều đáng tiếc là nó đã không được nhiều người đón nhận. Có thể vì nhan sách không tạo được sự chú ý của người đọc. Cũng có thể vì nhiều nguyên nhân khác. Bố cục, cách dựng chuyện hơi lạ thường; bối cảnh và tình tiết trong chuyện; các nhân vật trùm lấp, tròng tréo nhau cũng như không khí ẩm mốc, trầm mặc, u uất phủ lên toàn bộ tác phẩm dễ gây cảm giác u hoài, buồn chán, khiến người đọc không đủ kiên nhẫn đọc hết. Ít nhất một lần. Đọc để thấy được giá trị tự thân ẩn giấu bên trong và đàng sau công trình tri thức của anh và cũng để thấu rõ nỗi bất hạnh kinh hoàng về thân phận con người dưới chế độ cộng sản. Nhiều độc giả, trong số có các trí giả, những nhà văn, nhà thơ đã nói với người viết những giòng này về cảm giác kể trên khi đọc cuốn tiểu thuyết của Tạ Duy Anh.


Trong “Vài nét về tác phẩm” in ở đầu sách, Tiếng Quê Hương ghi nhận “Đi Tìm Nhân Vật là một tác phẩm hư cấu với những sự việc diễn biến trong một thời gian và ở một không gian hoàn toàn không xác định”. (tr. 19)

Với những sự kiện, những nhân vật xa xôi, mơ hồ, tuồng như nội dung sách không ăn nhập với bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại. Nói cho đúng, nó mù mờ, hư ảo như chuyện cổ tích, với đoạn cuối của một mối thù truyền kiếp từ thuở nào xa lắm, khiến người đọc rất dễ có tiên kiến về tính không xác định thời gian và không gian của những tình tiết trong tác phẩm. Và có lẽ đấy cũng chính là dụng tâm của tác giả họ Tạ, không ngoài mục tiêu để tác phẩm của anh thoát khỏi mạng lưới kiểm duyệt tinh vi và khe khắt của những ông quan văn nghệ nhà nước[2]. Tuy vậy anh cũng chỉ đánh lừa được họ trong một thời gian ngắn. Vì thế, khi tác phẩm vừa in xong, mặc dù u mê nhưng những tay bồi bút của chế độ đã phát hiện kịp thời để ra lệnh thiêu hủy toàn bộ công trình được làm nên bằng trái tim rỉ máu và khối óc linh mẫn, nhạy bén của anh.

Tác phẩm khởi đầu từ một nơi chốn Tạ Duy Anh gọi là khu phố G khi nhân vật chủ yếu trong tác phẩm là Chu Quý mải mê lao đầu vào cuộc săn tìm tông tích thủ phạm đã hạ sát một em bé đánh giầy. Ở ngay giòng đầu chương I, anh viết: “Chuyện này được kể lại thì nhiều năm tháng và sự kiện đã trôi qua” (tr. 19).

Mào đầu trên đây của câu chuyện cộng với cái bối cảnh hỗn mang không xác định về không gian, nhất là thời gian vận hành của những sự kiện xuyên qua các nhân vật trong tác phẩm, mà nếu chỉ đọc cho xong theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, khó ai nhận ra được thời sự tính và hàm ý kín đáo, sâu xa của tác giả. Anh muốn mượn cuộc truy lùng thủ phạm đâm chết một thằng bé đánh giầy vô danh vất vưởng bên hè phố để gợi nhắc người đọc suy nghĩ tới cuộc truy lùng thủ phạm bóp chết cuộc sống của cả một dân tộc – thậm chí là tìm cho ra những căn nguyên, cỗi rễ đã bóp chết cuộc sống của con người trong cái thời đại vẫn được biểu dương là thời đại của ánh sáng trí tuệ hiện nay.

Bốn nhân vật chính trong truyện là: Chu Quý, nhà báo; tiến sĩ N., một trí thức có danh vị trong xã hội đương thời; ông Trần Bân, nhà văn và Thảo Miên, một cô gái gọi hạng sang. Cũng cần kể tới một nhân vật không diện mạo, không danh tính được gọi tên là “hắn”, là bóng đêm, là sự ác, trùm lấp toàn bộ những sự kiện và những nhân vật trong tác phẩm. Xoay quanh bốn nhân vật sống, có những liên hệ nhân quả mật thiết làm nên không khí chuyện kể trên, là một loạt những nhân vật phụ.

Chu Quý, nhà văn kiêm nhà báo chuyên nghiệp và là thế hệ thứ tư của một giòng họ bị chi phối bởi một mối thù truyền kiếp từ đời cụ nội. Bị ám ảnh về cái chết của một em bé đánh giầy sống vất vưởng trên hè khu phố G, anh lao vào một cuộc truy lùng, săn đuổi vô vọng. Không phải chỉ săn đuổi thủ phạm đã giết em bé đánh giầy mà còn là kẻ đã sát hại cụ nội, ông nội rồi đến cha anh. Và nếu đường giây hận thù oan nghiệt không đứt đoạn thì cả chính anh cũng không thoát. Từ những cảnh ngộ và suy tư của Chu Quý, tác giả mở ra cho người đọc đi vào một thế giới mênh mông, với những sự kiện, lối sống, cách hành sử của hầu hết nhân vật tuồng như bị rập khuôn, như đã lập trình, đã mã hóa, khiến thân phận con người như bị mất hút trước những thế lực hung hãn, bạo tàn vây hãm chung quanh.

Tiến sĩ N., biểu tượng của tham vọng và quyền lực đương thời, một trí thức khoa bảng do thời thế đưa lên địa vị cao sang, quyền quý. Ông là đại biểu của những con người có hai khuôn mặt, hai cuộc sống, luôn bị giằng co bởi hai khuynh hướng đối nghịch: thật và giả, thiện và ác. Thân phụ tiến sĩ N. từng bị treo cổ tới hai lần bởi một thế lực không tên trong bóng tối. Và để tránh cho giòng họ khỏi bị tuyệt tự, ông và người em song sinh đã được đổi họ thay tên, mỗi người lưu lạc một phương. Vào những lúc khuynh hướng thiện trỗi dậy lấn lướt khuynh hướng ác, hơn một lần ông toan tính tìm cái chết như một giải thoát, ngay cả khi tình nguyện vào Nam chiến đấu cũng như lúc đang ở nấc thang tột đỉnh của quyền uy, danh vọng, nhưng đều thất bại. Cuối cùng ông đã toại nguyện. Giữa những giây phút phù du được sống lại với con người thực (mà tiến sĩ N. gọi là bản gốc[3] khác với bản sao), vào một buổi sáng tinh sương, ông đã xuống tay hạ nhát búa oan nghiệt vào vầng trán xinh xắn của người vợ mà ông hằng yêu thương quý trọng, trước khi dùng độc dược tự kết liễu đời mình.



Ông Trần Bân, một nhà văn trọn đời miệt mài săn tìm nhân vật cho một tác phẩm lớn đang thai nghén. Ngay từ lúc lên mười, ông đã biết yêu. Người yêu trong mộng của ông là một bé gái xuất thân từ một gia đình mang bệnh cùi. Và để tuyệt mầm chứng bệnh ghê khiếp này, cha ông, một người cả đời nhìn mọi sự chỉ là Láo Toét cùng đám bạn bè tối ngày lang thang, say sưa, đập phá, đã nhẫn tâm hùa nhau chôn sống cô bé. Mối hận đầu đời để lại trong ông một vết thương và đã khiến ông trở thành một nhà văn bất đắc dĩ. Cho đến khi gặp Chu Quý, ông nhận ra là đã tìm thấy nhân vật cho kiệt phẩm của mình: nhân vật đầy mâu thuẫn có một quá khứ mù mờ, bí ẩn, suốt đời lao đầu vào việc truy tầm những cái chết. Nhưng đấy cũng là lúc ông chợt ngộ là “nó quá mọi sức tưởng tượng của tôi. Tôi cố đánh lừa rằng nó chỉ là một dạng thức của quý Satan. Nhưng nếu nó có tính quý thì nó vẫn không phải là quỷ. Nó đích thị là nhân vật, là dấu ấn của một thời đại mà tôi không được chuẩn bị một chút gì để hiểu nổi nó. Điều đó còn thê thảm, nặng nề hơn cả cái chết…” (tr. 238)

Thảo Miên, cô gái ăn sương hạng sang, nạn nhân của tấn thảm kịch gia đình và xã hội trước sự xuống cấp đến tận cùng của những giá trị nhân luân và đạo lý. Chứng kiến cảnh ngoại tình bỉ ổi và trắng trợn của thân mẫu với một gã đào giếng vai u thịt bắp không tên tuổi, không lý lịch, cô thoát ly gia đình, tự hiến thân cho bất cứ ai để nhất quyết trở thành gái điếm, chỉ với một mục đích mơ hồ là trả thù. Trả thù ai? Trả thù cái xã hội mà cô đang sống nhưng luôn có cảm tưởng rằng mình chưa hề được sống. Trả thù những kẻ có quyền sinh sát sống phè phỡn đàng sau những khuôn cửa sắt nặng nề kiên cố mà mỗi lần mở ra đóng vào giống như miệng con quái vật sẵn sàng đớp, nuốt, nghiền nát kẻ hiền lương. Và dường như trả thù cả chính mình, vì cô luôn bị ám ảnh bởi cái cảm giác là kẻ “hút máu” đám lương dân vô tội. Do những tình cờ đưa đẩy, hai kẻ lạc loài Chu Quý và Thảo Miên gặp nhau. Và, như một định mệnh, họ yêu nhau bằng một mối tình trong suốt nhưng vô vọng. Giống như chính cuộc đời của họ. Giống như những gì đang diễn ra hàng ngày chung quanh đời sống. Cuối cùng Thảo Miên đã chọn cái chết bằng cách tự biến mình thành ngọn đuốc. Cô chọn con đường tự hủy với hy vọng thắp sáng niềm tin và để tìm lại cái giá của Tự Do cho chính mình, cho dù tiêu cực. Như tiến sĩ N. Như Trần Bân.

Hắn, nhân vật không diện mao, không danh tính nhưng lại là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm ĐI TÌM NHÂN VẬT. Hắn bám riết nhân vật chủ là Chu Quý, tạo nên một nỗi ám ảnh khôn nguôi về một mối thù truyền kiếp từ đời nội tổ. Đến nỗi mới vừa nghe tâm sự của gã thợ săn, Chu Quý nghĩ ngay đến chuyện của mình “…câu chuyện gã kể dường như liên quan mật thiết tới câu chuyện của gia đình tôi…Có thể vẫn là hắn, kẻ tôi truy lùng không mệt mỏi… Có thể vẫn là hắn, dưới bộ mặt khác, đã hạ sát thằng bé đánh giầy. Tất cả hiện vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đối với tôi. Hồi đó hắn xuất hiện trước mặt tôi như một khối đen khổng lồ. Từ cái buổi tối định mệnh ấy, tuổi thơ của tôi vĩnh viễn bị chôn sống. Tôi thấy cha tôi bị cùm giải đi…” (tr. 48)

Trong văn mạch và ở những chương đầu, người đọc khó thấy sự kiện người cha “bị cùm giải đi” có liên quan tới những cơ chế, những chuyện thời sự trước mắt, mà chỉ coi là tiến trình, là hệ quả, là di sản của một cơn ác mộng, một mối oan cừu trong quá khứ. Trong những đoạn tiếp theo, tác giả đã đẩy những suy tư của Chu Quý vào giòng hồi tưởng với không khí âm u, hoài niệm mà căn nguyên tạo nên vẫn không ngoài hắn.

“Trong căn nhà bỗng trở nên rộng mênh mông, tôi nhớ nhất màu hiu hắt của bốn bức tường ẩm mốc… Và tôi có cảm giác mọi bí mật của giòng họ đều đã bị mã hóa… Dường như mẹ đang lo sợ… chỉ còn điểm tựa vững chắc nhất là trông chờ vào sự linh thiêng của những người đã chết –tất cả đều bị giết- khi bà nhìn vào từng tấm ảnh. Nhờ thế mà tôi định hình được khuôn mặt những người thân quá cố của mình. Cụ nội tôi ngồi ở điểm cao nhất, gương mặt như chìm sâu vào nỗi buồn rất khó diễn tả. Trong khi đó, ở vị trí thấp hơn, ông nội tôi thảng thốt nhìn vào một thế giới mờ mịt, như tự hỏi: ‘vì sao ta lại sinh ra làm người để rồi sẽ có lúc mất hút?’ Trong màu đen của áo dài, vết nám của khói hương và màu vàng úa của nền giấy, tôi cảm được chiều sâu thăm thẳm của thời gian”. (tr. 48-49)

Với không khí thâm u, huyền hoặc trong cách thuật chuyện, người đọc dễ dàng ngộ nhận tính bất định về không gian và thời gian của câu chuyện. Và nhất thời, cả bộ máy kiểm duyệt khổng lồ, tinh quái của nhà nước cũng bị “mù lòa” để cho tác phẩm được đưa lên khuôn máy in. Nhưng, giống như những con chó được dày công huấn luyện để săn tìm kẻ đào tẩu, những ngôn từ thời thượng như “dân quân”, “du kích”, “vu cáo chính trị”, “cải cách ruộng đất”, “công an, mật vụ”, “thiết chế quyền lực”, “tình nguyện vào Nam chiến đấu”…, cộng với chi tiết mang tính phản động tản mác trong tác phẩm, ngay lập tức đã khiến những kẻ mà khối óc u mê đã được mã hóa bởi kinh điển Mác-xít “thà giết oan một ngàn mạng còn hơn tha lầm một người” kịp thời thấy được những độc tố đối với chế độ đương quyền hàm ẩn trong tác phẩm “Đi Tìm Nhân Vật” của nhà văn họ Tạ0.

“Tôi không thể nào quên được ngày cha tôi bị dẫn đi. Cha tôi mảnh khảnh như một nho sinh, vì thế tôi có cảm giác cơ thể ông bị bẻ nát vụn dưới sức mạnh của mấy gã dân quân”. (tr. 50)

“Cha tôi bị vu cáo chính trị -hồi đó người ta thà tin kẻ vu cáo còn hơn để lọt một kẻ có tư tưởng bất mãn. Ông có đủ tiêu chuẩn để thành một tên nguy hiểm: biết cả tiếng Pháp lẫn chữ Nho, trên kệ sách có Tứ Thư, Ngũ Kinh, Tân Ước… Chính những thứ này trở thành vật chứng chống lại ông tại một cuộc xét hỏi do gã mắt toét tiến hành”. (tr. 107-108)

“Tôi cho rằng cuối cùng thì cái hạt nhân minh triết trong tư tưởng của người Việt đã loé sáng. Một khi nó loé sáng thì mọi thiết chế quyền lực sụp đổ, mọi mưu toan độc ác, lừa dối đều vô nghĩa… Ở đó chỉ còn là chân lý tối thượng, biểu hiện ra bằng tình yêu…đánh dấu con đường đi đến vĩnh cửu”. (tr. 112-113)

“…khi bố tôi bị toán du kích treo cổ, ông nói ngay rằng ông sẽ bị treo cổ lần nữa… Lần treo cổ thứ hai, sợi giây lút qua lớp thịt đã thối vào tận xương, để cha biết rõ tội trạng do một chị mắt toét vừa khịt mũi vừa đánh vần bản tuyên án”. (tr. 122)

“…theo tôi, Cải Cách Ruộng Đất là một dị bản của truyện Tấm Cám, đúng hơn là một chương nối dài. Và như vậy, những vận đen của lịch sử có điểm bám rễ rất sâu”. (tr. 115)

“… ít ngày tháng sau, như một kẻ mang bệnh tâm thần… tôi nộp đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu”. (tr. 127)

Là nhân vật chính, luôn bị cái bóng đen huyễn hoặc của hắn ám ảnh từng phút giây, qua những đưa đẩy của tình cờ, của định mệnh, Chu Quý trở thành tác nhân lôi ra ánh sáng tất cả những bí ẩn của tiến sĩ N., của Trần Bân, Thảo Miên. Dĩ nhiên bao gồm cả những nhân vật phụ. Như Mặt Đen, một con người hiểm độc chuyên theo dõi, rình mò chuyện riêng tư của người khác để hãm hại và để lập công. Như gã thợ săn, kẻ bị án tử vì đã nổ súng hạ sát ông già gác rừng, nhưng trước tòa luôn miệng xác quyết anh ta không phải là kẻ sát nhân, mà do một thế lực vô hình nào đó đã xui nên sự thể.

Mở vào nội dung tác phẩm, Tạ Duy Anh không gợi nhắc qua lý lẽ mà bằng những sự việc, cảnh ngộ, tai ương, tâm trạng... gắn liền với từng con người tiêu biểu kể trên được lọc lựa từ cuộc sống bi thảm đượm đầy chua cay và cũng không thiếu tính hài hước của xã hội Việt Nam suốt thế kỷ qua. Tác giả dẫn người đọc bước vào một cuộc sống ngột ngạt, nhầy nhụa và nhố nhăng, trong đó con người luôn bị buộc phải đứng trước lựa chọn duy nhất: “Bán linh hồn để giữ thể xác hoặc ngược lại”.   (tr. 108)

Bản năng ham sống đã đẩy con người tới thế sẵn sàng chối bỏ chính linh hồn mình và từ đó mọi nhơ nhuốc, mọi sa đoạ đã trở thành những hình ảnh huy hoàng được tô vẽ bằng các màu sắc rực rỡ nhất do thuộc tính dối trá, gian ác và đê tiện luôn tiềm ẩn nơi mỗi con người trong một xã hội vô cảm, phi lý, phi lịch sử. Quá trình vong thân vì tham lam, ích kỷ và vì sợ hãi, ngu dốt đã biến con người từ nạn nhân của tha nhân, của quyền lực và thời thế thành nạn nhân của chính mình.

Bởi vì “lừa dối trở thành phương tiện đạt mục đích và được sự cổ vũ của dốt nát” để cuối cùng tạo ra một khối liên minh “lừa dối và dốt nát” với uy thế của một thiết chế quyền lực chi phối con người mà “muốn duy trì nó buộc phải bưng bít sự thật và kẻ nào hoài nghi chân lý do nó ban phát, kẻ đó lập tức lên dàn hỏa thiêu”. Kết quả tất yếu của thực tế này là một cuộc sống đầy mâu thuẫn, giả trá trùm lấp lên thân phận con người, trong đó “cái thiện bị nhân danh và trở thành thảm hại trước cái ác”. (tr. 112)

Khi cuộc sống đó tiếp tục theo năm tháng đủ để tạo nên những thói quen, hình thành một nếp sống thì con người không chỉ còn là diễn viên trong màn kịch che giấu chân tướng mà đã hóa thân thành một bày lũ cuồng tín của những “cái thiện bị nhân danh” để tự trở nên một loại Satan lần đầu có mặt bằng xương bằng thịt.

Thế giới tiểu thuyết Tạ Duy Anh không chỉ có sự sa đoạ dục tình dưới bộ áo giả dối của Tartuffe, không chỉ có những quật quã cá nhân dưới đáy vực đạo lý suy đồi của Raskolnikov hay Karamazov, không chỉ có thái độ khước từ bướng bỉnh phảng phất nét hồn nhiên của nhân vật thần thoại Protee, mà chính là những vết hằn nhức nhối ghi lại tình trạng đổ vỡ toàn diện vô phương cứu vãn của cuộc sống. Đó là cái thế giới mà trong đó con người phải tuân hành tuyệt đối những đòi hỏi phải phủ nhận chính mình, đoạn tuyệt với chính mình, phải thực sự biến thành một loại bột sẵn sàng chịu nhào nặn cho phù hợp với một khuôn mẫu do các cơ chế quyền lực đúc sẵn. “Kinh khủng lắm chú ơi! Rồi còn mật vụ, cảnh sát, guồng máy quyền lực luôn luôn đói khát. Nó có thể nghiền nát tôi và chú thành một thứ bùn rồi nếu cần nặn lại thành chó, thành chuột, thành bọ chét, thành giun dế...” (tr. 125)

Đó là cái thế giới không tồn tại tình ruột thịt, không chấp nhận cảm nghĩ hay ước vọng riêng tư và mọi giá trị thiêng liêng, kể cả tình yêu, không còn đất sống dưới sự khống chế của tham lam, hận thù, chém giết, vì “ Ở xứ ta, dường như không tụ họp để cùng đem một kẻ nào đó ra ‘ăn sống nuốt tươi’ thì chẳng khác nào người Pháp không uống rượu vang, người Tây Ban Nha không đấu bò, người Anh ra đường không đội mũ phớt”. (tr. 110)

Lần theo dấu vết những nhân vật trong tác phẩm, người đọc khó tránh tâm trạng hoảng loạn do cái không khí âm u đe dọa luôn bao trùm khắp các ngả đường tối tăm mù mịt. “…tiếng chân bước rất mơ hồ, vẳng lại từ đâu đó cho tôi cảm giác bị con thú nào đó đang rình từng li từng tí. Chỉ cần tôi ló cổ ra là nó chồm tới xé tan ra từng mảnh trước khi nhai nuốt”. (tr. 68) “…ngay tức khắc một nỗi sợ vô hình lại bủa vây lấy tôi. Bất cứ chỗ nào tôi cảm thấy cũng có thể xổ ra một con thú hoặc một tai họa nào đó, trong khi tôi như bị tước toàn bộ vũ khí và quyền được cầu viện chân lý…” (tr. 97).

Cảm giác bơ vơ cô độc hoà trộn với những khắc khoải vì các nỗi niềm riêng, rồi sự băn khoăn ngờ vực dâng lên như thác lũ với hàng loạt câu hỏi hoàn toàn bế tắc về từng bước đi, từng cử chỉ, từng lời nói của chính bản thân để cuối cùng là cảnh huống chìm nghẹt trong tâm trạng ghê tởm và phẫn nộ.

Qua ngôn ngữ và cách hành sử của nhân vật, ngòi bút Tạ Duy Anh luôn chĩa ra trăm ngàn mũi nhọn thọc sâu vào tận đáy tim người đọc nỗi đau cùng tột. Từng dòng, từng chữ như đồng loạt hét lên tiếng hét thất thanh của con người đang bị chôn sống, bị băm vằm, bị mất hút trong một xã hội điên loạn, toàn những lọc lừa, bất nhân, gian trá. Dưới đây là mẩu đối thoại giữa Chu Quý và Thảo Miên, hai kẻ lạc loài, “cùng một lứa bên trời lận đận”, vừa gặp nhau đã yêu nhau để rồi kẻ tự tìm cái chết, người tiếp tục kéo dài kiếp sống lạc loài, cô quạnh với những ước mơ không bao giờ đạt.

“– Em không đi đâu ra khỏi đây à?

– Anh bảo em nên đi đâu, (nàng cười bẽ bàng) khi mà chỉ có một lối hợp với em, ấy là xuống địa ngục.

– Chỗ người bà con nào đó chẳng hạn?

– Em chỉ có một người bà con, ấy là quỷ Satan”. (tr. 204)

Và đây là đoạn nhật ký của tiến sĩ N. ghi lại cuộc đối đáp giữa ông và người em song sinh sau bao nhiêu năm dài lưu lạc:

“(Tôi bảo ông em tôi): - Chú thông cảm cho tôi! Bàn tay thời cuộc đã nặn chúng ta thành những người khác xa nhau. Nếu còn giữ tình ruột thịt, mong chú giữ tuyệt mật cho.

- Được. Đương nhiên tôi không thể hại bác. (Ông em tôi nói). Nhưng còn nhớ tình ruột thịt mà tại sao ngần ấy năm bác không đi tìm tôi trong khi bác có điều kiện hơn?

- Thật tình tôi cứ ngỡ là chú khó mà thoát khỏi họ…


(Ông em tôi ngửa cổ cười). - Khi bác đã mong cho tôi chết thì dù tôi có sống nhăn ra đó cũng là chết rồi! Cái lý của bác lạnh tình lắm.

- Tùy chú thôi. (Tôi bảo). Nhưng tôi và chú mỗi người đã có số phận riêng, không thể nào lại có ‘chung’ nguồn gốc được. Mà giả sử chính tôi nói ra cũng không ai tin. Chỉ cần chú biết cho cái khó của tôi là được.

(Ông em tôi nói bằng giọng xa vắng): - Bác nghĩ đơn giản thế! Bố thì bị treo cổ hai lần, không biết giờ vong linh lang thang về đâu? Cơ nghiệp thì tan nát hết! (Ông ta nuốt nước mắt). Bác có biết vì cái gì mà tôi đến nông nỗi này không? Vì tôi nghĩ sẽ đến ngày gặp lại bác. Thôi thì tất cả do số phận. Nhưng còn lương tâm nữa chứ.

- Vậy chú muốn tôi phải làm thế nào? Hay chú muốn tôi thú nhận mình là một kẻ giả mạo để… Chú không thể hình dung nổi đâu. Nó còn kinh sợ hơn cả việc treo cổ hai lần. Chú phải đứng ở vị trí của tôi như hiện nay, tức là có cha mẹ hy sinh, có công lớn, nhưng tôi không chỉ thừa hưởng mà còn có nghĩa vụ tôn vinh danh dự của các cụ, mới thấy tôi sống đâu phải do tôi muốn. Tôi chỉ là con rối bị thời thế giật giây thôi chú ạ.

(Ông ta đang ngồi nghe bỗng cười ầm lên, cười như điên như dại khiến tôi mất hết cả bình tĩnh).

- Chú làm cho tôi sợ.

(Ông em tôi hỏi) - Bác sợ cái gì?

– Phải biết sợ mới thành người được chú ạ. Có cả ngàn thứ đáng sợ: Tai mắt ở đời (tôi nói da diết) toàn loại tai mắt rắn độc cả đấy? Kinh khủng lắm chú ơi! Rồi còn mật vụ, cảnh sát, guồng máy quyền lực luôn luôn đói khát. Nó có thể nghiền nát tôi và chú thành một thứ bùn rồi nếu cần nặn lại thành chó, thành chuột, thành bọ chét, thành giun dế... Chú có ở cạnh con quái vật ấy đâu mà biết nó đáng sợ như thế nào. Chúng ta chỉ là bánh xe, là đinh ốc thôi, bất cứ lúc nào cũng có thể ra sọt rác hoặc vào lò nung để đúc lưỡi cày, đúc nòng súng. Nhưng đấy là chân lý đang ngự trị, liệu tôi và chú có thể thay đổi được gì? Chú có hiểu điều tôi nói không?

– Tôi có được học hành gì đâu mà hiểu (ông ta tỏ ra cay đắng) toàn bộ kiến thức của tôi chỉ đủ cho tôi gí buồi vào những thứ bác vừa kể.

- Chú cứ gí buồi đi, vào giữa mặt tôi đây này. Nhưng xin chú, (tôi quỳ xuống) xin chú, vì tình con người mà buông tha cho tôi.

(Ông em tôi ngồi im, mắt khép hờ khiến tôi kêu lên).

- Tôi sợ quá! Tôi sợ! (Tôi hét to) Tôi sợ! Chú có nghe tôi nói gì không?

-Tôi có nghe! (Ông ta cười khẩy) Tôi nghe thấy tiếng hú hoan lạc của ma quỷ. Tôi về đây. Tôi thấy phải sống như anh, tôi thà chết còn hơn.

- Thế là chú hiểu ra rồi đấy!

(Tôi run lập cập chìa tay ra). Thôi nhé, cứ thế nhé! Coi như tôi đã chết từ hồi đó. Nếu thân thể tôi chưa thối rữa là do tôi đã được đầu thai trở lại. Chúng ta là anh em từ kiếp trước và sẽ là anh em ở kiếp sau. Còn kiếp này…(tr. 124-125-126)

Tính vô luân, vô cảm, giả trá và bịp bợm đến mòn nhẵn, chai lỳ của xã hội còn bộc lộ cách trắng trợn qua những lời đối đáp giữa Chu Quý và gã bán thuốc dạo trên đường phố:

“– Thôi, em chuyện tếu cho vui chứ biết tin vào cái gì bây giờ (gã lấm lét nhìn tôi). Bây giờ chuyện thật là bịa còn chuyện bịa thì là thật. Em cũng chịu không biết chuyện nào mình bịa, chuyện nào có thật. Đại loại bịa mãi thành thật. Còn thật mà kể mãi thì thành bịa.

– Nhưng phải có cái gì không bịa chứ?

– Ông anh cho em thấy ngay thứ ấy đi.

– Chẳng hạn cái mặt tao, cái mặt mày?

- Mặt ông anh thì còn phải xét, chứ mặt em thì bịa một trăm phần trăm. Làm gì còn của thật. Vả lại, chỉ đáng tin vào cái gì bịa ra thôi.

- Vậy thì để tao phải đấm vỡ cái mặt bịa của mày mới được.

- Thì em bịa nó ra chỉ để ăn đấm thôi mà. Đúng ra thì ăn đấm mãi nên không còn của thật nữa. Ông anh thưởng cho em vài trái đi. Sau đó cho em thử vào cái mặt gin của ông anh nhé. (Rồi gã ê a đọc) ‘Chúng ta sống một thời giun dế. Những giấc mơ dính bết nhựa sên’ (Và bảo tôi) Quốc hồn đấy ông anh ạ!

Tôi chăm chăm nhìn vào mặt gã rồi sờ mặt tôi và cảm thấy gã nói đúng. Có thể mặt của tôi cũng chỉ là cái mặt bịa!” (tr. 197-198)

Và cũng trên đoạn đường phố ấy còn cất lên lời lẽ của một bà già bán xôi:

“– Mời chú xơi quà!

– Cám ơn bà, tôi không đói.

Bà già rít nước dãi trở vào, nói:

– Quái lạ? Ai cũng bảo không đói. Không ai đói mà ở đâu đâu cũng nghe chuyện cướp giật, ăn cắp, giết người...” (tr. 21-22)

Các lời lẽ đó không do người viết tạo ra từ một nỗ lực hư cấu theo cách thế cường điệu để bi thảm hóa sự việc mà chính là lời lẽ bắt gặp hàng ngày trong đời thường từ thực tế xã hội Việt Nam ở thời điểm hiện nay với những hoạt cảnh “thiếu gì nơi diễn ra những trò ô uế lại vô cùng sang trọng. Cũng như nó từng không thành vấn đề khi một kẻ bán khí đốt là một thi sĩ đích thực, trong khi một thi sĩ tầm cỡ, mà vì thế anh ta có quyền đun gas, lại chỉ là một chú thợ cắt gọt”. (tr. 232).

Từ cuộc sống đó, tiến sĩ N. kẻ từng bán rẻ lương tâm, vào một phút sống thực với con người “bản gốc” của mình đã ghi lại trong nhật ký những dòng kết thúc sau đây, trước khi tự tìm cái chết:

"Tôi không biết mình viết lại những dòng này cho ai và để làm gì? Chỉ biết rằng đó là cách duy nhất giúp tôi đoạn tuyệt với phương pháp từng thất bại nhiều lần: Tìm một cái chết. Tôi không nghĩ mình đã gột rửa được lương tâm mình. Nhưng ít ra tôi cảm thấy mình đã có cái để chống lại sự kính trọng mà người đời mù quáng dành cho tôi. Bởi vì sự kính trọng ấy, chính là hình phạt khủng khiếp nhất giáng lên đời tôi. Chính nó đã tước của tôi khả năng cuối cùng nói ra sự thật. Tôi biết có nhiều người như tôi, không được quyền nói ra sự thật của đời mình. Bởi vì xóa bỏ trong ký ức người khác một thần tượng, còn báng bổ hơn cả việc lừa dối họ. Họ cần sự lừa dối như kẻ đi giữa sa mạc cần ảo ảnh về một con suối. Do đó, lịch sử thường không bao giờ đúng như bản thân lịch sử..." (tr. 138-139)

Còn đây là cuộc đối đáp giữa Trần Bân và Chu Quý, hai người cầm bút:

“– Tôi sợ phải đối mặt với sự thật. Giả dụ nếu cụ, ông, bố tôi từng giết người và việc các vị bị giết chỉ là báo ứng của số phận, thì sao? Tôi sẽ chạy trốn vào đâu? Lịch sử nhiều khi nham hiểm lắm!

– Hẳn là thế! (Ông Bân gật gù): Tôi cũng nghĩ như anh là không nên hiểu quá kỹ về lịch sử. Nó là chiếc bình quý nhưng đừng có thò tay vào bởi rất có thể một con rắn nào đó sẽ đớp cho anh một phát. Vả lại, bản thân nó chỉ thiêng liêng khi tù mù..”. (tr. 153-154)

Vong thân, lạc hướng, mất niềm tin, vô tư cách là những nét xuống cấp nhẹ nhất của con người trong thế giới ĐI TÌM NHÂN VẬT của Tạ Duy Anh. Bởi vì kẻ thắng ở đây chỉ là ác quỷ, ngu dốt, trâng tráo, lỳ lợm và sự lừa dối. 

Trong những năm qua, người đọc đã hơn một lần đối diện với bức chân dung Việt Nam được ghi nhận từ nhiều góc độ. Với Dương Thu Hương là thảm cảnh đày đoạ do một cuộc chiến thúc đẩy bởi sự lường gạt. Với Vũ Thư Hiên là sự dãy dụa quyết liệt nhưng vô vọng giữa những thủ đoạn độc ác và xảo trá của một cơ chế thống trị tham tàn. Với Bùi Ngọc Tấn là gông cùm của tù ngục vốn đã trở thành thứ quen thuộc với những con người bình thường. Với Văn Quang là sự tan rã đương nhiên của đạo lý dưới sức tàn phá của nghèo đói, tham nhũng, bất công ...

Tạ Duy Anh góp thêm vào đó một bức chân dung nữa, nhưng từ góc nhìn hoàn toàn cách biệt. Khác với tất cả các tác giả đã kể luôn đặt cảnh ngộ vào vị thế trọng tâm của tác phẩm, Tạ Duy Anh không dựng lại những cảnh ngộ vây hãm, thúc ép, chi phối con người để mổ xẻ, phân tích hay phê phán. ĐI TÌM NHÂN VẬT đã đồng hoá cảnh ngộ với con người, coi cảnh ngộ cũng chỉ là kết quả tất yếu khởi từ một động cơ để dọi ánh sáng về phía nguyên ủy hình thành động cơ đó. Những day dứt, những đau xót, những hãi hùng vì các cảnh ngộ chiến tranh, ngục tù, áp chế... với tác giả họ Tạ, gần như chỉ là những nét mờ nhạt trước nỗi băn khoăn về nguồn cỗi của một xã hội ghê tởm tột cùng – cái xã hội gồm chứa những cảnh ngộ đó cùng với sự vong thân nhơ nhuốc chưa từng có trong lịch sử loài người. Giữa vòng xoay chóng mặt của các tuyến sự việc, giữa mối đan kết chằng chịt tình cờ của các nhân vật, luôn nổi bật lên một nghi vấn của những ai còn một chút tỉnh táo: “Tôi là ai? Là tôi? Là hắn? Hay không phải là tôi?” (tr. 181). “Cái ý nghĩ: ‘thực ra tôi có phải là tôi không?’bám riết lấy tôi như một điều phi lý nhất cứ tồn tại”. (tr. 209)

Hơn hai mươi thế kỷ qua, con người đã có dịp bâng khuâng với giấc mơ hoá bướm khi phải xác định về bản thân. Nhưng lúc này không phải là giấc mơ của Trang Tử mà là một hiện hữu, một thực tại, một nghi vấn hừng hực sức nóng của lửa thiêu.

Tuy nhiên, sự nổi bật của nghi vấn gần như không cần lời giải đáp mà chỉ có tác dụng thúc đẩy tập trung vào cái nguồn cỗi đã dẫn đến – cũng như cái hướng nỗ lực để vượt qua – cuộc sống khiến con người bị vò xé, bị vây hãm bởi chính nghi vấn đó. Hầu hết các nhân vật còn một chút tỉnh táo của Tạ Duy Anh đều lâm vào mạt lộ, không còn chọn lựa nào khác ngoài sự tự kết liễu đời mình. Bởi lẽ, đối mặt trước một thực tại hoàn toàn bị tắc nghẽn, đây là việc duy nhất còn có ý nghĩa mà họ có thể làm. “Tiến sĩ N. suốt đời chỉ làm được một việc có ý nghĩa: ấy là tự sát!” (tr. 144)

Cũng có thể nói thế với mọi nhân vật khác. Như cô gái gọi cao cấp Thảo Miên. Như nhà văn Trần Bân, Như gã thợ săn đã hạ sát người gác rừng vv… Chính nhân vật nhà văn Trần Bân đã từng tâm sự với người đồng nghiệp trẻ, Chu Quý:

“Tôi sắp có quà cho cậu. Tôi tin đó sẽ là món quà có ý nghĩa với cậu bởi vì đó chính là cái chết của tôi. Tôi sẽ tặng cậu cái chết của tôi như một tặng vật ghi dấu tình bạn của chúng ta”. Tr. 215)

Vì còn nỗi nhơ nhuốc nào lớn hơn sự tiếp tục cầm bút khi nhà văn phải cay đắng với ý nghĩ đã thành khuôn: “Ở xứ ta, muốn viết lách gì cũng được miễn là đừng biến thành nghệ thuật”. (tr. 200) và thâm cảm thấy tác phẩm của mình chỉ là rác rưởi: Cậu thì có bộ sưu tập kinh tởm còn tôi là những trang giấy chùi đít không đáng!” (tr. 214)

Nhưng, nếu tự sát là hành vi ý nghĩa nhất mà con người có thể làm thì tự sát vẫn thể hiện sự tuân phục cái kỷ luật mà cơ chế quyền lực đã áp đặt. Tự sát chỉ giúp con người chấm dứt kiếp ngựa trâu chứ không mở được lối phục sinh, khi cuộc sống nhầy nhụa kia tiếp tục tồn tại. Bởi nói cách nào thì tấn tuồng phiêu lưu mang con người ra thể nghiệm dưới ánh sáng của thứ lịch sử bịa đặt nhuốm đầy nọc độc của loài rắn sẽ chỉ đẩy con người tới vị thế kẻ thù không đội trời chung với cuộc sống tương lai mà thôi. Tấn tuồng đó chưa chấm dứt thì cuộc sống tương lai chưa thể gọi là cuộc sống của con người – vì con người vẫn tiếp tục bị thúc đẩy phải tiêu diệt nó. Cho nên tiến sĩ N. đã quả quyết rằng việc tự đi tìm cái chết không thể giúp ông gột rửa nổi cái lương tâm ô uế mà chỉ là hành vi chạy trốn cái hình phạt phải đối diện với nỗi vò xé khi nhận ra chính mình đã cúi đầu tuân thủ các lệnh truyền để tự làm ô uế lương tâm mình. Ông có một phút giây giành lại tự do, nhưng con người trong bản thân ông không tìm được lối phục sinh vì vẫn thực sự bị tiêu diệt, hoặc tự nguyện để bị tiêu diệt, theo cái hướng mà cơ chế đã nhắm, giống như một cái gì đã lập trình, đã bị mã hóa theo kiểu nói của tác giả.

Quá trình đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, cuối cùng, đã hiện hình là quá trình đi tìm hướng phục sinh cho con người, cho cuộc sống. Và người đọc có thể bắt gặp cái ánh sáng mà anh muốn thắp lên: Ánh Sáng Tự Do, không phải đâu xa mà ngay ở những kẻ đã và đang ngụp lặn trong vũng bùn của cơ chế. Chẳng hạn như tiến sĩ N. “Cuối cùng, một hôm, trong lúc y tin chắc mình bị đẩy đến đáy của các thang biểu địa vị và giá trị, thì y nhìn thấy một thứ ánh sáng rất lạ. Nó xanh lơ, le lói mà êm dịu, lung linh kỳ ảo nhưng siêu thoát. Thứ ánh sáng, nếu không là nguyên khởi thì cũng chưa từng có. Y choáng ngợp, ngây ngất, và thấy không còn một nỗi sợ nào hết. Tâm hồn y mở toang ra đón nhận niềm hoan hỉ mà y chưa từng trải qua. Cuối cùng, nhờ lục lọi trong kho ngôn ngữ, y tìm thấy từ đích đáng có thể diễn tả được trạng thái tinh thần mà y đang tận hưởng. Nó chính là Tự Do.

Y đã thấy tự do, thứ mà y hằng khao khát. Trong tích tắc, mọi bí nhiệm đều hoàn kết. Y thấy mọi thang bảng giá trị trước kia bị lộn ngược, theo đó kẻ đi cuối thì nay lên đầu. Những gì bị xua đuổi thì nay được đón nhận. Những gì trước kia là thiêng liêng thì giờ đây giống như một trò hề… Ngài X, ngài Y, ngài F... bị nhốt ở nơi dành cho cầm thú...” Và thay cho những chiếc bệ đặt xác người phải là “nơi chứa xác các loại tư tưởng. Hầu như tất cả đều được gom về đây dưới dạng xác chết”. (tr. 230-231)

Dĩ nhiên trên đây chỉ là viễn mơ, là khát vọng thẳm sâu tiềm ẩn bên trong con người thực, con người “bản gốc” của tiến sĩ N. Trên thực tế, thứ ánh sáng nhiệm màu kỳ ảo ấy đã hoàn toàn tắt ngúm khi khối liên minh lừa dối và dốt nát lên ngôi để “cái thiện” chỉ còn là “cái thiện bị nhân danh” và con người hoá thân thành quỷ dữ. Muốn thắp lại thứ ánh sáng đó, tất nhiên không thể kéo dài cảnh khép mình giữa vòng vây sợ hãi để tiếp tục cúi đầu trước cái khối liên minh lừa dối và dốt nát kia. Trong điều kiện ấy sẽ không thể không có phản kháng, cách này hay cách khác.

Tính phản kháng được lộ ra rõ rệt qua bài tham luận của Chu Quý với đề tài: “Đọc lại bốn truyện cổ tích đem ra dạy trẻ con” trong một cuộc hội thảo khoa học tầm cỡ quốc gia với chủ đề “Sự uyển chuyển trong tính cách của người Việt” (tr. 110-111-112-113), và qua những câu trao đổi âm thầm sau đây giữa hai người cầm bút:

“– Chu Quý này, cậu đã xem bộ phim Bạch Tuộc chưa? Mình muốn cậu lưu ý đến một câu trong đó, đại thể: ‘Lịch sử là những gì người ta tin, hơn là những gì diễn ra’.

Tôi không trả lời ông, chỉ nhắc lại:

– Bộ phim ấy còn có tên là “Một mình chống lại Mafia”. Tôi thích cái tên đó hơn. (tr. 114)

Tạ Duy Anh không đưa ra lời giải đáp nào cho hàng loạt nghi vấn trên đường tìm kiếm của anh, nhưng người đọc có thể nhìn thấy khá sáng tỏ cái điều mà tác giả muốn nói lên: Chính sự hèn nhát và ngu dốt của con người đã khiến cho quỷ dữ trở thành kẻ thắng trong cuộc sống –cụ thể hơn là những động cơ tệ hại kia đã hình thành cái cuộc sống vong thân hiện nay của cả dân tộc Việt Nam. Vấn đề chủ yếu được đặt ra không phải là trò lẩn tránh của thứ đầu óc khôn lỏi vị kỷ, cũng không phải là sự chạy trốn –kể cả chạy trốn chính mình, chạy trốn vào cõi chết.

Chính trong cái hướng này mà tác giả đã để cho Chu Quý nhận từ một lá thư bí mật những dòng chữ có thể coi như bức thông điệp cuối cùng của sự sống: “Lý trí tỉnh táo và chắc chắn là sáng suốt của tôi muốn tôi khuyên ông nên tránh xa cô gái mà ông vẫn đem lòng tơ tưởng. Một ngàn lần cô ta không xứng với ông! ”. (tr. 282)

Có lẽ điểm bất xứng cao nhất của cô gái, theo tác giả lá thư, chính là hành vi nổi lửa hoả thiêu cái thân xác nhầy nhụa của mình. Hiển nhiên đây là một hành vi can đảm tuyệt vời. Nhưng rốt ráo nó cũng chỉ là một hành vi hèn nhát, vì không vượt khỏi ý đồ chạy trốn.

Vì thế, ý nghĩ đến với nhà báo họ Chu lúc đó là sự nhớ lại những dòng nhật ký của cha mình trước khi từ giã thế gian, để chợt nghe vẳng xuống từ trời cao lời nhắc nhở:

– Can đảm lên con, đừng sợ!” (tr. 282)

Đây là cụm từ cuối kết thúc tác phẩm. Nó giống như lời khích lệ, một lệnh truyền.

Phải chăng Tạ Duy Anh muốn gợi nhắc đến cái truyền thống bất khuất từng thể hiện qua nhiều giai đoạn lịch sử hào hùng của cha ông? Từ đấy liệu chúng ta có thể coi ĐI TÌM NHÂN VẬT là một thông điệp gửi cho mọi người dân Việt với tiếng gào bi thiết: Hãy đương đầu, hãy vượt thắng chính mình, hãy đứng dậy, thay vì hèn nhát cúi đầu bởi sợ hãi và ngu dốt để chỉ biết tiếp tục than van hay chạy trốn trước sự lộng hành của loài quỷ dữ!

Người đọc và cả người viết tại Việt Nam khoảng mười năm trở lại đây chắc chắn khá quen thuộc với những tác giả hiện đại Trung Hoa như Cao Hành Kiện, Giả Bì Ao, Mạc Ngôn … Nhưng trên thực tế, những Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn … đã tỏ ra hoàn toàn tự chủ khi sáng tác, dù đề tài thường có những nét tương hợp và tên tuổi của những tác giả trên luôn như một vừng sáng chói loà.

   Với ĐI TÌM NHÂN VẬT, Tạ Duy Anh cũng tự chứng tỏ sự vững vàng của một ngòi bút tự tin và đầy bản lĩnh. Trong từng khoảnh khắc, người đọc có thể gặp ở Tạ Duy Anh một nét mỉa mai cay độc của Vũ Trọng Phụng, một sự ví von bay bướm của Hoàng Hải Thuỷ, một cảnh ngộ u uất nào đó từng có với Bùi Ngọc Tấn, với Dương Thu Hương hay những nhà văn Trung Hoa đang nổi tiếng như cồn. Nhưng đây chỉ là gặp gỡ tự nhiên khi mà xã hội Trung Hoa và xã hội Việt Nam vẫn chỉ là một kịch bản với nhiều biến cố tương đồng và giọng văn châm biếm trong nhiều trường hợp vẫn là cách thế diễn tả tuyệt vời nhất.

ĐI TÌM NHÂN VẬT không thể bị rơi vào quên lãng.

Công trình tim óc này của tác giả họ Tạ cần được đặt vào một vị thế xứng đáng bên cạnh các tác phẩm giá trị hiện nay của văn học Việt Nam.

Trần Phong Vũ

Nhân một lần đọc lại.

Nam California, một ngày năm 2008


(Hôm nay, một ngày cuối năm 2013, bên cạnh tập bản thảo đồ sộ của Đặng Chí Hùng, -một người trẻ xuất thân trong một đại gia đình miền Bắc từng gắn bó sâu đậm với chế độ, với đảng CSVN-. vừa gửi cho tủ sách Tiếng Quê Hương, đọc lại bài viết 5 năm trước, tôi thoáng nghĩ tới thứ “ánh sáng” trong mơ của Tiến sĩ N.)


[1] Mùa thu năm 2002, khi vừa in xong ở quốc nội, tác phẩm này đã bị nhà nước tịch thu toàn bộ. Qua trung gian ông Nguyễn Minh Cần ở Nga, tủ sách Tiếng Quê Hương có được bản thảo và đã ấn hành tại hải ngoại đầu năm 2003. Nhưng tiếc thay, đa số độc giả vẫn không nhận ra giá trị ẩn sâu trong tuyệt phẩm này. Nó lý giải vì sao cuốn tiểu thuyết “Đi Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh đã thoát khỏi những cặp mắt cú vọ trong hệ thống kiểm duyệt tinh vi và khe khắt của đảng và nhà nước lúc ban đầu. Nhưng ngay sau khi cuốn sách ra khỏi nhà in họ đã kịp thời phát hiện tính “phản động” tiềm tàng trong cách dựng truyện và những suy tư thâm trầm sâu sắc của anh và đã chọn giải pháp tịch thu để hỏa thiêu toàn bộ. Khoảng năm 2007, ĐTNV lại được ấn hành chung với một kịch bản ngắn của Tạ Duy Anh dưới tiêu đề của kịch bản. Nhưng sau khi in xong, một lần nữa lại bị đám “công an văn hóa” nhà nước tịch thu và thiêu hủy không thương tíếc.

[2] Trong một Email gửi anh em trong tủ sách TQH những ngày cuối năm 2007, Tạ Duy Anh viết “Như có lần em nói về cuốn tiểu thuyết “Sinh ra để chết”, rằng em muốn đòi bằng được cái quyền được công bố tác phẩm như Hiến pháp qui định. Nhưng hóa ra HP chỉ là những gì ghi trên giấy vì suốt ba năm qua, sau khi đưa đến khoảng 20 nhà xuất bản thì em không còn muốn đòi cái quyền không hề có ấy nữa. Mà em cũng đã chấp nhận đổi tên, tự biên tập một vài chỗ, tức là cố gọt chân cho vừa đôi giầy, tức là cũng đã toan hèn hạ đi vài phần…” Tác phẩm này đã được TQH ấn hành trong năm 2008. Dĩ nhiên, nội dung và bút pháp được phục hồi nguyên trạng lúc chưa bị “gọt chân cho vừa đôi giầy”.

[3] Thằng tôi, bản gốc, đang chìm vào thế giới của y mới đáng giá, mới có cuộc sống đích thực. So với những gì y đang chiếm lĩnh, thì cuộc sống trước đó giống như cái chết. Thời gian chết chồng đống nơi các công sở, tòa án, viện nghiên cứu, nơi những ban bệ bí mật chuyên săn người, nơi những tòa cao dãy dọc, những công đường có cái vẻ thâm nghiêm và lừa đảo bề ngoài. Mọi ý tưởng chết đông cứng trong triệu triệu cái đầu. Ngôn từ chết, xác phơi khắp nơi, hóa thạch bởi lịch sử. Cái chết hiện hình ngay khi người ta bàn về tiến bộ, gào thét dân chủ, cổ vũ bóng đá. Bởi vì làm gì có ai nghe thấy để hiểu rằng, mỗi người đang kêu cứu một cách tuyệt vọng, hướng về phía tự do như con thú trong sa mạc hướng về nguồn nước. Tất cả đang bốc mùi, thối rữa, tan biến thành bụi… Tôi cảm thấy rất rõ sự bi tráng sâu thẳm của câu hỏi: Tôi là ai? Tôi hiện tồn chỉ là bản sao, vậy bản gốc của tôi có hình dạng ra sao? (tr. 141 ĐTNV)


Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Tạ Duy Anh - Lý luận kiểu cái ách


Tạ Duy Anh

Lâu rồi tôi không đọc báo chính thống mà dân mạng gọi là báo lề phải. Lý do đơn giản là người ta không thể cứ ăn mãi một món, lại là những món chẳng có gì đặc sắc và đều biết trước khi ngồi xuống mâm. Vì thế khi một hôm, qua các trang mạng lề trái (lại theo cách gọi của dân mạng) tôi vô tình đọc được bài của ông Nguyễn Đức Bình, nhà lý luận số một của chính thể ta, thì tôi bỗng toát mồ hôi nhưng người cứ ớn lạnh, gai gạo nổi toàn thân… đúng như triệu chứng của người bị ngộ độc! Hay là mình đang gặp lại ác mộng của hơn bốn chục năm về trước?


Tôi sẽ giải thích ngay vì sao lại có cái cảm giác ấy. Chả là hồi đó tôi độ 12 tuổi, bắt đầu có những “quan sát chính trị” – như lời cha tôi là “tổng bí thư xã” khoe với bạn chiến đấu của ông. Do nhận ra ở đứa con trai còi cọc cái khả năng quan trọng ấy mà ông nuôi ý định đào tạo tôi thành nhà chính trị ngay từ thuở bé. Với ông chính trị là nghề đáng làm nhất, bởi đơn giản nó biến mọi nghề khác thành tay sai cho nó nếu một khi nó đủ mạnh. Học lớp ba bổ túc như ông mà còn hiểu Mác, Lênin, Mao… làm tới Bí thư xã, dưới ai không biết chứ ở trên 15.000 dân (số dân xã cấp I, tức là xã lớn lúc ấy) là điều không phải bàn cãi. Bàn cãi ông tống vào nhà giam của thôn tức khắc và ông đã làm thế vài lần với chính cả người bà con của mình, khi anh ta hay chị ta dám nói bóng gió về những thứ mà họ không bằng lòng, dám xa xôi xỏ xiên một trong những ông lãnh tụ nào đó có ảnh treo kín cả một bức tường nhà tôi.

Vì có ý hướng tôi theo nghiệp chính trị, tức là làm lãnh đạo, mà ngày ngày ông tranh thủ giảng giải cho tôi về lý thuyết Mác-Lênin. Những kiến thức này ông học từ những lớp bồi dưỡng lý luận ngắn ngày, khi thì mở ở tỉnh, khi thì mở ở huyện, giảng viên cũng phần lớn tốt nghiệp lớp 3, lớp 4; hoặc ông nghe lỏm được mỗi khi ngồi chầu rìa mấy bậc đàn anh khi lên huyện, lên tỉnh báo cáo thành tích. Số còn lại ông bê nguyên xi từ cuốn sách duy nhất ông đọc, có tên là Chủ nghĩa xét lại hiện đại Nam Tư-Tito, của một tác giả Trung Quốc, trong đó có chỗ  ông tác giả người Tàu gọi Tito là con chó của chủ nghĩa tư bản. Sau này, khi bắt đầu phải học môn chính trị, điều tôi lấy làm kinh ngạc là từ những lời giảng của thầy dạy chính trị lớp 10 (lớp cuối cấp III hồi ấy), đến những lời giảng của thầy dạy chính trị cho lớp trung cấp, rồi lớp đại học tại chức mà tôi bỏ dở, sau này là Trường Viết Văn… vẫn không hơn gì về mặt “kiến thức chính trị” so với những lời bố tôi nhét vào đầu tôi từ tấm bé. Nó vẫn nội dung ấy, những thuật ngữ ấy, những quan niệm ấy, những luận điểm ấy, những khẩu hiệu ấy, những lời tiên đoán hồ đồ ấy và người giảng thì cũng bằng những cung bậc tình cảm ấy… thậm chí họ giống nhau cả từ cách mở miệng, uốn lưỡi, nhấn nhá những từ quan trọng, thì thầm xuống giọng khi nhắc tới tên những lãnh tụ, mặt rạng rỡ khi nói về tương lai của nhân loại lúc mà thế giới đã vào giai đoạn đại đồng, hằn học, chế nhạo khi nói về luận điệu xã hội dân chủ, nhân quyền mà bọn tư bản bám vào để chống lại quan điểm chuyên chính vô sản của những người cộng sản. Và từ bố tôi cho tới những ông, bà “thợ nói” kia có thêm điểm chung là nói không biết mệt, không biết chán và không biết ngượng, bọt mép đều vón cục hai bên (sau này tôi thấy họ còn có điểm chung nữa là đều khổ cực, bị xa lánh và vỡ mộng lúc cuối đời, như một thứ quả báo nhãn tiền!).

Những bài giảng nhanh nhách và vô bổ ấy, kéo dài suốt hàng chục năm với mỗi đời người của thế hệ chúng tôi (với những người theo học cao cấp chính trị thì thời gian còn dài hơn), thực sự trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của một thời tuổi trẻ. Trên thực tế, những năm tháng u buồn ấy, hình ảnh minh hoạ sống động của cái lý thuyết ấy, với chúng tôi chính là một cơn ác mộng dài dằng dặc về sự đói khát, nỗi sợ hãi, sự lừa dối. Nó khiến không ai trong chúng tôi dám nói công khai điều mình nghĩ trong đầu, dám sống như mình muốn…

Chẳng hạn những nội dung như thế này thì từ bốn mươi năm trước tôi đã nghe từ miệng bố mình:
“Lịch sử thế giới không gì khác là lịch sử ra đời, phát triển, rồi suy vong của các hình thái kinh tế – xã hội, là lịch sử thay thế lẫn nhau hợp quy luật giữa các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp lên cao”.

“Rõ ràng, cái vỏ tư nhân tư bản chủ nghĩa đã quá chật chội so với nội dung sức sản xuất đồ sộ mà nó chứa đựng; thậm chí quá chật chội cả với hình thức sở hữu tư bản độc quyền tư nhân. Chính chủ nghĩa tư bản –một cách khách quan – đang tự phủ định mình và đang “làm việc” chuẩn bị cho tương lai chủ nghĩa xã hội”.
“Đó là mâu thuẫn ngay giữa các nước tư bản chủ nghĩa, giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng của cải với phân phối không công bằng dẫn tới phân cực giàu nghèo ngày càng tăng giữa các quốc gia và trong mỗi nước, giữa trung tâm với ngoại vi, giữa phương Bắc với phương Nam, phân cực giàu nghèo ngày càng tăng ngay trong lòng các nước tư bản phát triển. Đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tình trạng xuống cấp của văn hóa, đạo đức xã hội”.

“Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1930 đến nay và mãi từ nay về sau là chủ thuyết cách mạng nhất quán của Việt Nam, dứt khoát không thay đổi và không ai có thể thay đổi”.

Những gì vừa dẫn từ bài viết của Nhà lý luận số một của chế độ – ông Nguyễn Đức Bình – thực ra đều được ông chép ra – với chút ít xào xáo lại – từ chỗ nọ chỗ kia trong những cuốn sách [sơ giản] của Mác, Lênin, Ăng-ghen, vài người khác và của chính ông Bình. Chẳng hạn như đoạn sau đây là lấy từ Tuyên ngôn của đảng cộng sản được cắt dán qua loa và kém hay hơn rất nhiều so với những lời của Mác, Ăng-ghen.
“Với nền đại công nghiệp, nó đã tạo ra thị trường thế giới thay cho tình trạng biệt lập trước đó của các địa phương và các dân tộc vốn trong nền kinh tế tự cung tự cấp. Do xâm chiếm thuộc địa, bóp nặn thị trường thế giới, chủ nghĩa tư bản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính thế giới. Chính chủ nghĩa tư bản đã có công làm cho lịch sử biến thành lịch sử thế giới” (Nguyễn Đức Bình).

Để có sự đối chứng, tôi xin chép nguyên văn một đoạn trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản:
“Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt. Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc thu nhập chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa. Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế. Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới”.

Nhưng tôi không có thời gian và hứng thú để nói về thói quen làm việc theo kiểu rất Việt Nam ấy của các lý thuyết gia chính trị nước nhà. Họ có muốn nói khác đi, có muốn đưa sự sáng tạo của mình bằng vài chủ ý riêng cũng không được, kể cả phát hiện ra ai đó dịch sai tài liệu nước ngoài du nhập vào cũng không được phép dịch lại, khi mà ý dịch sai đó đã thấm nhuần vào quần chúng và “trở thành sức mạnh vật chất”? Kẻ nào làm thế sẽ bị coi là xét lại, một trọng tội, có thể khiến tàn đời. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nói lên tâm trạng của mình trước những gì tôi đọc được từ bài của ông Nguyễn Đức Bình.

Khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ – phần lớn vì vấn đề đạo đức [và quản lý kinh tế xã hội quá yếu kém] –, khi Trung Quốc chuyển sang chế độ tư bản (trước đó nữa là khi chính quyền của các đồng chí cộng sản Pôn-pốt, học trò cưng nhất của Mao, hàng cháu của Staline ăn ghém 2 triệu dân Campuchia chỉ trong vòng chưa đầy 4 năm, tốc độ nhanh hơn cả các bậc thầy xét về tỉ lệ dân số – bị tiêu diệt mà Việt Nam chúng ta góp công lớn)… người ta có lẽ tin rằng chỉ còn Chủ nghĩa xã hội thực sự ở Bắc Triều Tiên – địa ngục trần gian cuối cùng của nhân loại và một phần nào Cu-ba (Nói phần nào Cu-ba vì đất nước này đang thay đổi, sẽ vụt một cái quá độ lên chủ nghĩa tư bản dân chủ nay mai).

Thôi thì cũng đáng để mặc niệm cho cái mô hình ấy một phút vì công bằng mà nói thì nó đã tạo ra sự thay đổi lớn cho thế giới, ít nhất cũng khiến Chủ nghĩa Tư bản bớt dã man hơn, phải chủ động điều chỉnh nhanh hơn để được như ngày nay. Những người sáng tạo ra nó, về cơ bản là những nhà nhân đạo chủ nghĩa – xứng đáng được nhân loại ghi nhớ theo một cách thức nào đó. Nhưng đó là chuyện khác không bàn ở đây. Nhờ cú huých từ những sự kiện động trời ấy của nhân loại như đã kể trên kia, nhờ sự thức tỉnh đầy lương tri của một số lãnh đạo Cộng sản có đầu có thực tế và tinh thần dân tộc mà nước Việt Nam quyết tâm Đổi Mới, thực chất là từ bỏ mô hình kinh tế cũng như một phần những giáo điều chính trị cũ kỹ. Và cho dù những bước đi còn rất chập chững, đầy cảnh giác thì, nhờ nội lực dân tộc vốn rất mạnh nhưng bị nén xuống quá lâu bởi sự lạc hậu của cơ chế nay được tự do bật dậy với khát khao làm giàu, cũng đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc về kinh tế (điều này không cần bàn cãi). Ngoài ra, có thể nói Đổi Mới ở Việt Nam là quá trình gia nhập dần dần vào con đường chung của nhân loại, con đường không nước nào muốn được công nhận văn minh lại có thể bỏ qua (mà trước đó chúng ta vẫn kiên định từ chối) như chấp nhận thị trường, chấp nhận quy luật giá trị, từ bỏ kinh tế kế hoạch, chấp nhận nhiều dạng sở hữu cùng hàng loạt luật lệ nhân bản khác ở những mức độ khác nhau. Quá trình này có lúc nhanh, lúc chậm, lúc lưỡng lự, do dự, dậm chân tại chỗ… nhưng cho đến nay nó chưa cho thấy dấu hiệu nào sẽ quay lại thời kỳ mông muội trước Đổi Mới.

Theo cùng với nó là việc từng bước giải chính trị hoá đời sống. Tức là đời sống được thể hiện nhiều mặt tự nhiên, hài hoà như nó vốn có, chứ không còn bị đóng vào cái khung chính trị và bị điều khiển như trước. Nhờ thế mà chúng tôi cũng thoát cái nạn ngày ngày, tháng tháng phải nghe ra rả những điều khiến mụ mị đầu óc. Bộ môn chính trị vẫn là bộ môn bắt buộc trong chương trình đào tạo đại học, nhưng cả thầy lẫn trò đều hiểu ngầm nó là thứ học làm phép, học chẳng để làm gì, bởi trước sau nó cũng bị gạt ra lề và để đến cái ngày ấy thì cần có một thời kỳ quá độ. Ai cũng hiểu như vậy, không thể tước bỏ ngay lập tức sự sỹ diện chính trị. Ngay cả đứa trẻ con thì cũng hiểu rằng, không có bất cứ lý do và động cơ nào đòi xã hội quay trở lại thời kỳ “làm chủ tập thể, kinh tế quốc doanh”, mọi của cải lại sung công, lại quốc hữu hoá để nó có vẻ mặt xã hội chủ nghĩa như trước kia, ngoại trừ cả dân tộc đồng lòng tự sát.

Không ai, không lực lượng nào làm nổi điều đó nữa, nhất là khi đã có bài học kinh hoàng từ Campuchia, từ Liên Xô, Đông Âu và tấm gương nhãn tiền Bắc Triều Tiên còn lù lù ra đó. Trong khi khắp nơi ở Đông Âu dân chúng kéo đổ tượng Lenine, ném cả dép vào mặt ông (như mới đây tại Mông Cổ), trong khi ở chính quê hương ông trên mọi con đường ngõ phố phần lớn mọi người, kể cả những người không chấp nhận thể chế chính trị hiện hành, đều tìm cách tẩy sạch bất cứ thứ gì gợi nhớ đến thời Xô-viết, thì ở ta thỉnh thoảng đọc báo, nghe đài, vẫn thấy cụm từ “sức sống mãnh liệt chưa từng có của tư tưởng Lenine”. Nghe còn hơn nghe chuyện cười. Nhưng hoá ra vẫn còn có những chuyện đáng cười hơn, đến cấp hài, chẳng hạn như lý luận kiểu cái ách sau đây của ông Nguyễn Đức Bình:
“Bởi vì, nếu thời đại hiện nay không còn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới nữa, thì đất nước Việt Nam chúng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam từ nay sẽ đi theo con đường nào?”

Đúng là, cứ theo giả thiết trên, không có cái ách thì con vật tên là trâu không thể đi lại, ăn uống, ngủ nghê, sinh đẻ! Có đáng cười phá lên không? Chả lẽ cứ phải có yếu tố thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thì dân tộc Việt Nam mới có lý do để phát triển hay sao? Vậy mấy ngàn năm qua ông bà ta theo con đường nào mà đất nước thuộc loại hùng mạnh nhất nhì khu vực? Tại sao lại đặt cho đất nước cái điều kiện oái oăm ấy, theo kiểu mua dây buộc mình, mà ở đây là cái ách mang tên thời đại do vài người chủ quan tưởng tượng ra? Những nước khác xung quanh họ đâu cần tới Thời đại quá độ kia mà vẫn tiến ầm ầm, không những dân họ giàu, nước họ mạnh mà họ lại rất ít kẻ thù.

Ông Nguyễn Đức Bình không phải lo đất nước của chúng ta sẽ không có con đường nào để đi (ông lo cho đảng của ông thì có thể hiểu được). Bởi vì thưa ông Nguyễn Đức Bình, chúng ta chỉ việc đi theo con đường khôn ngoan mà nhân loại đang đi, đó là con đường tiến tới một xã hội dân chủ. Mọi cái đích đều phải đến đó, ngoại trừ người ta không thích sống cho ra sống. Ngoài con đường này ra, có lẽ lại phải chờ Mác tái thế để chỉ tiếp, sau 5 hình thái xã hội, thì hình thái thứ 6 là gì? Bởi theo học thuyết mà ông tôn thờ, thì nhất định phải có hình thái xã hội sau chủ nghĩa cộng sản, như chính quy luật ông nhắc bạn đọc nhớ lại: “Lịch sử thế giới không gì khác là lịch sử ra đời, phát triển, rồi suy vong của các hình thái kinh tế – xã hội, là lịch sử thay thế lẫn nhau hợp quy luật giữa các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp lên cao”.

Bố tôi cũng thuộc thế hệ ông Nguyễn Đức Bình nhưng sự cuồng tín của ông thì khủng khiếp hơn bất cứ kẻ cuồng tín nào. Tôi có thể khẳng định bố tôi yêu lý tưởng cộng sản hơn ông Nguyễn Đức Bình nhiều lần, ít ra thì cũng vô vụ lợi hơn. Bằng chứng là ông đã hiến nhà cửa cho tập thể, bắt chúng tôi sống trong ngôi nhà ông nội tôi định xây làm chuồng trâu, y như cái hang, ban ngày tối như ban đêm, suốt cả thời thơ bé. Ông sẵn sàng hy sinh nốt con cái nếu được tổ chức yêu cầu. Bố tôi không chỉ nói ra miệng điều đó, rằng đảng là quan trọng, chủ nghĩa cộng sản là quan trọng chứ mạng sống của vài người thân là cái gì, gia đình, dòng họ càng chả là cái gì! Bố tôi tuyệt đối tin vào lý tưởng, thông qua những gì ông nghe người khác nói. Họ bảo sao ông cũng tin. Chúng tôi được ông truyền cho niềm tin rằng, đến năm 1980 chủ nghĩa xã hội sẽ hoàn thành ở miền Bắc. Đơn giản vì một lãnh tụ của Đảng, thế hệ đàn anh của bố tôi và ông Nguyễn Đức Bình, đã nói chắc hơn đinh đóng cột như vậy, rằng sau 3 năm khôi phục kinh tế và sau ba kế hoạch 5 năm, là miền Bắc hoàn thành việc xây dựng chủ nghĩa xã hội! Đố ai dám nghi ngờ! Nhẩm tính nhanh thì cái thời điểm đó là năm 1980, đúng vào thời điểm ông Kim Ngọc phá rào, chấp nhận chết oan ức để hàng vạn người dân đồng bào ông không chết đói, còn với ngôn ngữ ác khẩu của bố tôi thì “năm đó đúng vào năm đến cái quần đùi cũng đ. có để mặc”.

Nhưng bố tôi khác ông Nguyễn Đức Bình là ông không được học những lớp chính trị quy mô –  có lẽ vì thế mà ông sớm tiệm cận chân lý hơn chăng – nên còn có thêm điều khác thứ hai của bố tôi so với ông Nguyễn Đức Bình, khi vào những ngày cuối đời, bố tôi ngộ ra rằng, ông đã sai và muốn xin lỗi những người vì tin ông mà khổ. Những người đó nhiều lắm cũng chỉ đến con số vài trăm hoặc vài ngàn.

Tôi tin rằng, bằng lời sám hối muộn ấy, ở thế giới bên kia ông đã được tha thứ.

Thế còn ông Nguyễn Đức Bình, bao giờ thì ông mới ngộ như bố tôi. Đọc những điều ông viết cho thấy không nên mong chờ ở ông điều ấy. Nhưng tôi vẫn muốn nhắc ông bây giờ không còn là thời: “Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời” như Tố Hữu viết cách đây nửa thế kỷ. Bây giờ là thời mỗi dân tộc cần có một sự lựa chọn uyển chuyển và thông minh để trở nên giàu có, văn minh và bảo toàn cương vực cũng như nòi giống mình. Không ai lo giúp chúng ta điều đó đâu. Cũng không ai khiến chúng ta phải chiến đấu với mục tiêu giải phóng cho họ, khi mà chính họ đang sung sướng, hạnh phúc, tự do hơn chúng ta cả trăm lần. Người dân Việt Nam phải có nghĩa vụ bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, bảo vệ lãnh thổ ông bà từ ngàn đời để lại – là điều không phải bàn cãi, chứ không thể bắt họ phải bảo vệ bức tường Bec-lin chẳng liên quan gì đến họ. Càng không thể đóng ách lên cả dân tộc rồi cứ bắt họ mang theo mà không biết sẽ đi đâu. Các nước xung quanh chúng ta, với điểm xuất phát còn thua kém chúng ta, vậy mà giờ đây họ luôn cách chúng ta hàng chục năm, thậm chí hàng vài chục năm.

Chủ nghĩa Tư bản giờ đây so với nửa thế kỷ trước là cả một trời một vực về mặt tử tế. Họ là ai không quan trọng, mà quan trọng hơn là những gì thuộc về thành tựu lớn nhất của nhân loại, cả trong lĩnh vực khoa tự nhiên lẫn khoa học nhân văn đều xuất phát từ họ. Theo cái biểu đồ đó thì bao giờ chúng nó mới diệt vong như tiên đoán mà ông Nguyễn Đức Bình tin theo? Hãy nghĩ cách bằng họ, hoặc kém thì cũng kém ít thôi, chứ đừng mơ hão đưa thế giới đến đại đồng. Nguy hiểm hơn lại còn bắt hàng triệu người cũng phải mơ theo mình. Giờ đây là lúc đất nước cần lương tri, lòng trung thực, sự can đảm chứ không cần những pha biểu diễn lập trường vô bổ. Đôi khi tôi tự hỏi, ông Nguyễn Đức Bình thiếu thực tế hay tự bịt mọi cánh cửa mở ra thế giới? Bởi chỉ cần ông nhấn chuột một cái thôi ông cũng có đủ thông tin cần thiết để thấy mấy nước Đông Âu đang sống và phát triển thế nào sau khi họ từ bỏ chủ nghĩa xã hội, thoát khỏi cái ách ý thức hệ.

Người viết bài này ghi nhận ở ông Nguyễn Đức Bình hai điều. Thứ nhất là ông đã không còn coi Lão Tử là kẻ hư vô (và phản động) khi trích dẫn: “Biện chứng “vật cực tắc phản” (Lão Tử) tất sẽ đưa chủ nghĩa tư bản đến chỗ diệt vong, đến chỗ được thay thế bằng chế độ xã hội mới tiến bộ, văn minh hơn”. Điều đó cho thấy những bậc thầy toàn năng, không bao giờ sai, bất khả xét lại của ông đã không còn đủ cho ông.

Thứ hai, ông chỉ giúp cho những ai chưa đọc Lenine, Staline thấy rõ điều phát hiện rất chính xác sau đây, chính xác bởi “đã là nước phát triển” thì chẳng ai dại dột quay lại bắt đầu quá trình tiến tới “cái đích” làm nước kém phát triển vĩnh viễn:
“So với các nước phát triển, ở các nước kém phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa bắt đầu có thể tương đối dễ, nhưng để đưa đến đích cuối cùng, trọn vẹn chủ nghĩa xã hội, thì khó khăn hơn rất nhiều”.

Nhân đây, người viết bài này cũng muốn hỏi ông hai câu:
Một là: ông căn cứ vào đâu khi kết luận:
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1930 đến nay và mãi từ nay về sau là chủ thuyết cách mạng nhất quán của Việt Nam, dứt khoát không thay đổi và không ai có thể thay đổi.

Và hai là:
“Chuyển đổi” sang con đường tư bản chủ nghĩa chăng? Đã có “kiến nghị” như thế. Tuy nhiên, nhân dân không thể đồng tình.

Tại sao ông biết Mãi từ nay về sau và Nhân dân không thể đồng tình?

Đoán mò cũng không nên nói lấy được như vậy. Bởi vì có ai hỏi nhân dân đâu mà biết họ không thể đồng tình? Có cho họ nói thật đâu mà biết họ nghĩ gì? Những gì xảy ra ngay trước mắt mà còn không đoán được, nữa là mãi về sau? Tốt nhất là chỉ nên một mình mình mang lấy thứ mà không ai muốn, ấy là đạo của người tử tế vậy.

Cũng may cho ông Nguyễn Đức Bình, ngày nay những người trẻ tuổi mới là những người sẽ quyết định tương lai của họ. Và nếu như thế là dân tộc ta còn có phúc. Tôi tin rằng họ sẽ rộng lòng tha thứ cho lỗi lầm của cha anh, điều mà chính cha anh của họ, vì những tín điều nguỵ tạo ngăn trở không thể làm được. Đọc xong bài của ông, quả thật có độ vài giây tôi cứ ngỡ mọi chuyện lại quay về như cách nay mấy chục năm từ lúc nào mà mình không biết. Nhưng tôi chỉ giật mình theo bản năng thôi, một phần xuất phát từ nỗi lo cho con cháu mình, phần khác là phản ứng thuần tuý thói quen do hoàn cảnh tạo nên, chứ tôi biết rất rõ, bằng một lý trí hoàn toàn sáng suốt, rằng những điều ông Nguyễn Đức Bình nói, và cả chính ông, ĐÃ VĨNH VIẾN THUỘC VỀ QUÁ KHỨ.

Hà Nội ngày 8  tháng 11-2012

T.D.A.
(Rút từ cuốn Nghĩ mãi không ra)
Nguồn: Bauxite Việt Nam