Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Xuân Đài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Xuân Đài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2022

Phạm Xuân Đài: Đến với nước Nga (Phần 2)

Lời giới thiệu: Nhà văn Phạm Xuân Đài viết “Đến với nước Nga” vào khoảng năm 2000, tức đã hơn 20 năm trước. Khi đó Liên Xô vừa mới sụp đổ chưa đến 10 năm, và khắp nơi trên đất nước Cộng hòa Liên bang Nga (tức Cộng hòa XHCN Xô viết Nga cũ)dấu vết của một thời kỳ “xã hội chủ nghĩa” với nền kinh tế tập trung bao cấp quan liêu, trì trệ và tư duy, tiềm lực con người bị kìm hãm, hãy còn rất nặng từ trong đời sống kinh tế cho tới văn hóa, hành vi ứng xử của người Nga. Hơn 20 năm đã qua, nước Nga bây giờ có lẽ đã thay đổi nhiều, thật thú vị khi đọc lại bài tùy bút/bút ký này của nhà văn Phạm Xuân Đài để được nhìn thấy lại hình ảnh nước Nga những năm 2000…

***

Trời mùa hè dù đã năm giờ chiều nắng hãy còn cao, chúng tôi lại lấy xe điện ngầm để đi thăm nhà thờ Đấng Cứu Thế, một ngôi nhà thờ lạ, vừa mới xây dựng xong nhưng lại đã có từ rất lâu, sự tái sinh của nó là cả một câu chuyện ly kỳ về sự sống dậy của Con Người.

Ngay sau khi đánh đuổi quân Pháp ra khỏi của nước Nga vào năm 1812, Nga hoàng Alexandre Đệ nhất đã quyết định xây dựng một ngôi nhà thờ vĩ đại “để tạ ơn Đấng Cứu Thế”. Năm năm sau, công trình bắt đầu với một dự án rất đồ sộ, nhưng sau bảy năm thi công, người ta mới phát giác ra đó không phải là một dự án khả thi, mọi chuyện ngừng lại. Mãi đến năm 1839, 27 năm sau chiến tranh với Pháp, việc xây đại giáo đường để tạ ơn chiến thắng mới chính thức bắt đầu lại tại một địa điểm mới và với một ông vua mới là Nicolai Đệ nhất. Trong lễ đặt viên đá đầu tiên tổ chức ngày 10 tháng 9 năm 1839, người ta không quên chuyển đến viên đá đầu tiên do tiên vương đã đặt trong lần xây nhà thờ không thành mấy mươi năm trước. Bốn mươi bốn năm sau, vào năm 1883 nhà thờ được khánh thành, lại với một vị vua khác nữa là Alexandre Đệ tam. Từ đó, nhà thờ Đấng Cứu Thế đã trở thành ngôi Đại Giáo Đường chính của cả nước, và trở thành không chỉ là một trung tâm tôn giáo, mà còn là một công trình văn hóa, kiến trúc và lịch sử nổi tiếng của nước Nga.


Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2022

Phạm Xuân Đài: Đến với nước Nga (Phần 1)

Lời giới thiệu: Nhà văn Phạm Xuân Đài viết “Đến với nước Nga” vào khoảng năm 2000, tức đã hơn 20 năm trước. Khi đó Liên Xô vừa mới sụp đổ chưa đến 10 năm, và khắp nơi trên đất nước Công hòa Liên bang Nga (tức Cộng hòa XHCN Xô viết Nga cũ)dấu vết của một thời kỳ “xã hội chủ nghĩa” với nền kinh tế tập trung bao cấp quan liêu, trì trệ và tư duy, tiềm lực con người bị kìm hãm, hãy còn rất nặng từ trong đời sống kinh tế cho tới văn hóa, hành vi ứng xử của người Nga. Hơn 20 năm đã qua, nước Nga bây giờ có lẽ đã thay đổi nhiều, thật thú vị khi đọc lại bài tùy bút/bút ký này của nhà văn Phạm Xuân Đài để được nhìn thấy lại hình ảnh nước Nga những năm 2000…

***


Cho đến khi tôi được đến với nước Nga thì cảm tưởng của tôi về nước này rất trái ngược nhau, vừa thân thiện, vừa ác cảm. Thân với nền văn học, ác cảm với chế độ chính trị đã qua của nó. Đó là nói một cách rất tổng quát, ngoài ra tôi chẳng biết gì cụ thể về đất nước và con người tại đó. Nếu nước Nga không thay đổi chế độ chính trị cách đây gần một thập niên thì chắc tôi khó lòng đến với nó được. Nhưng dù sao Nga vẫn là một thế giới riêng biệt trong thế giới ngày nay, và đến với nước Nga vẫn là một điều đầy háo hức, thậm chí hồi hộp.



Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Phạm Xuân Đài: Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

 Một khẩu hiệu nổi tiếng của đảng Cộng sản Việt Nam, đã có từ thời đảng còn tranh đấu cho đến khi đã đoạt được quyền hành, là :

Trí Phú Địa Hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ

Vì câu khẩu hiệu này đi vào lịch sử đã lâu, thiết tưởng nên tìm hiểu lại nội dung muốn nói cái gì. Trí, Phú, Địa, Hào là bốn loại người trong xã hội Việt Nam xưa (trước khi có đảng Cộng sản). Trí là người trí thức; Phú là người giàu có; Địa là địa chủ, có nhiều đất ruộng; Hào là kẻ mạnh thế, có tài trí hơn người. Đào tận gốc, trốc tận rễ có nghĩa là phải tiêu diệt một cách triệt để, để cho những thành phần này không bao giờ có thể ngóc đầu lên được. Trong xã hội cộng sản tuyệt đối không còn sự hiện diện của bốn loại người này.

Đảng Cộng sản làm cách mạng xã hội, đem lại công bình cho mọi người về tài sản, về hưởng thụ nên mục tiêu của họ là phải tiêu diệt tất cả bất công của xã hội cũ. Họ phải tiêu diệt những kẻ giàu có, những kẻ có nhiều đất ruộng, thậm chí những kẻ có mạnh thế trong xã hội, cái đó có thể hiểu được, nhưng tại sao kẻ thù vào hàng số một, đứng hàng đầu trong các kẻ thù của cộng sản lại là người Trí thức ? Muốn hiểu điểm này của cộng sản thì phải biết Trí Thức là gì.

Theo Hà Sĩ Phu người Trí thức có những đặc điểm như sau :

TRÍ THỨC có ba đặc điểm, hay ba tính chất:

1/ Tính chất tự do và không ranh giới: Người Trí thức có thể đi sâu vào một lĩnh vực nhất định, nhưng không bị khoanh vùng trong lĩnh vực đó, trong quốc gia đó. Sự phân chia thành các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn hoá, văn nghệ, chính trị, đạo đức, kinh tế, quốc gia, quốc tế, con người, nhân loại… vân vân… đều chỉ là những sự phân chia tương đối, quy ước, tạm thời. Sự phát triển và liên tưởng của lô-gích tư duy sẽ vượt qua những ranh giới ấy.

2/ Tính chất tiên phong và phát hiện, dự báo: Bởi được trang bị bằng hai công cụ đặc biệt là kho tri thức ngàn đời của nhân loại đã đúc kết thành các khoa học và sức nhạy cảm chủ quan của bộ óc cá nhân, những người Trí thức như những “bộ máy dò” tiên phong vô cùng nhạy cảm, nó bay về muôn phương, nó cảm ứng lập tức với những cái mới, cái bất thường, nó xâu chuỗi lập tức những quan hệ tuyến tính, những quan hệ thuận quy luật và trái quy luật. Học vấn tuy là điều kiện cần thiết tất yếu cho đặc điểm này, nhưng cũng chỉ là những điều kiện làm nền, điều kiện ban đầu thôi, chưa hề đầy đủ để tạo nên Trí thức.


Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

Phạm Xuân Đài: Cái Chết Trong Ca Khúc Phạm Duy

Trong buổi lễ tưởng niệm Đỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Đình Điểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:


1.

Hồn xuân vừa tàn hơi

Hay nắng ấm lung linh qua đời

Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời

Người yêu dù xa xôi 

Xin nhớ tới quê hương u hoài

Trong giá rét đêm đông đang trông vời


Một lần người đưa tiễn nhau

Như vẫn cầu lời hứa năm nào

Đằm thắm cho vui lòng nhau

Một lần người xa cách nhau

Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu

Vì đó... không ai quên đâu...


2.

Người đi về mai sau

Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu

Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu

Người đi vào không gian

Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn

Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn


Người về dần trong cõi mồ

Như lúc nào vừa mới ra đời

Chào đón xuân tươi ngày mới

Cuộc đời từ trong chiếc nôi

Đã quay về cùng với gió bụi

Về chốn không tên, xa xôi...

(*)


Bài hát nói về cái chết, Phạm Duy dựa vào điệu nhạc Chanson de Solvejg viết lời lâu rồi, đã trên nửa thế kỷ, ít người biết, nhưng chạm sâu xa đến một vùng mà không mấy người có khả năng nói tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ hiếm hoi nhiều lần nói về cái chết, và Khúc Ca Ly Biệt trên đây là bài hát hoàn toàn về sự biệt ly của chết chóc, một cách toàn diện, trong không gian, trong thời gian, trong thân phận kẻ lìa trần cũng như trong lòng người ở lại.

Phạm Duy là một nhạc sĩ sáng tác mãnh liệt về khắp các mặt của cuộc đời, nhưng lại luôn luôn nhắc đến cái chết, tuồng như ông thấy chết cũng là một hình thái biểu hiện sự sống. Ngay từ khi còn rất trẻ, trong khi say sưa viết lên cái khí thế bừng bừng đánh quân ngoại xâm giữa thời điểm 1945, ông cũng đã mường tượng đến sự chết rồi. Ông vừa viết xong bài Xuất Quân lẫm liệt Ngày bao hùng binh tiến lên thì đã nghĩ ngay đến hình ảnh ma quái của những Chiến Sĩ Vô Danh


Mờ trong bóng chiều 

Một đoàn quân thấp thoáng


Quân này là quân ma, họ đã ra đi chiến đấu và đã ra người thiên cổ, ông dùng ngay hình ảnh ấy để lay động lòng người đang đứng trước cuộc chiến giữ nước


Ra biên khu trong một chiều sương âm u

Âm thầm chen khói mù

Bao oan khiên đang về đây hú với gió

Là hồn người Nam nhớ thù.


Một thanh niên đang ở độ tuổi ngoài hai mươi, mang bầu máu nóng phụng sự cho đất nước mà đã sớm nhìn ra những hình ảnh của “cõi bên kia” như thế thì cũng là chuyện lạ. Bài Nợ Máu Xương lại càng lạ hơn nữa, vừa hiện thực vừa siêu thực, tả toàn cảnh chết chóc vì chém giết


Ai nghe không sa trường lên tiếng hú?

Tiếng lầm than, những tiếng người đời quên.

Đi lang thang tiếng cười vang tiếng hú

Xác không đầu nào kia?


Nghe phảng phất như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du! Phải chăng linh cảm mẫn nhuệ của một nghệ sĩ lớn đã khiến Phạm Duy nhìn thấy trước cảnh chiến tranh tàn phá kinh hoàng trên đất đước Việt Nam suốt ba mươi năm sắp tới, dù thời điểm viết Nợ Xương Máu là vào năm 1946, trước khi toàn quốc kháng chiến với Pháp. Ông đã dùng những hình ảnh cổ điển của thi ca thời đó để vẽ nên sự chết chóc, nhưng bản chất của tấn thảm kịch chiến tranh thì thời nào cũng thế


Lá rụng tơi bời

Đoàn quân tiến qua làng.

Từng thanh kiếm đứt ngang, 

Từng lớp áo rách mướp,

Từng cánh tay rụng rời!

Qua làn mây trắng

Đoàn quân tiến về trời

Ầm rung tiếng sa trường...


Tiếng ầm rung chết chóc đó còn vang mãi trong lòng người không biết bao nhiêu thế hệ nữa khi họ có dịp ôn lại những trang sử xưa, không phải những trang chính sử ghi lại một cách vô cảm các biến cố, mà là những trang sử như của Phạm Duy viết khi “đoàn quân tiến qua làng” với những chiếc áo rách mướp, những thanh kiếm gãy ngang, những cánh tay không còn nguyên vẹn... và nói rõ họ đang “tiến về trời.” Lịch sử một dân tộc không thể không ghi những trang như thế, cũng như mấy năm về sau khi sáng tác ông đã đóng vai một ký giả chiến tranh tả thực cái cảnh dã man rùng rợn “quân thù đã bắt được con đem ra giữa chợ cắt đầu” từ một thảm cảnh của làng Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Hoặc một cách gián tiếp, chỉ dùng một số hình ảnh ước lệ, nhưng hiệu quả gợi cảm thương về sự chết chóc vẫn lớn:


Người đi không về

Chắc rằng có người nhớ

Hương khói chiêu hồn

Hiu hắt những chiều trận vong.

(Đường Ra Biên Ải)


Một số năm về sau ông rời khỏi các ám ảnh chiến tranh, đề tài sáng tác càng phong phú, nhưng cái chết vẫn không rời ông. Ông đã viết về việc sáng tác của ông vào khoảng đầu thập niên 1960: “Đối với tôi chỉ có ba điều quan trọng: Tình Yêu, Sự Đau Khổ và Cái Chết.” Nhưng cái chết vào thời điểm này đã được trừu tượng hóa thành một loại tư tưởng, không còn cụ thể có khi đầy ghê rợn như trong thời kháng chiến Pháp. Như về bài Đường Chiều Lá Rụng, tác giả đã tâm sự như thế này: “Lúc này tôi đang yêu đời lắm, nhưng tôi vẫn nói tới cái chết, chẳng hạn, qua những kiếp lá trong đường chiều. Lá đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về, lá rơi xuống đất để trở thành những ngôi mộ úa trên con đường chiều, nơi đó có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.”


Lá vàng bay! Lá vàng bay!

Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!

Như chút hơi người giã ơn đời trên nẻo đường hấp hối!


Khi một người lên tiếng Tạ Ơn Đời thì tâm hồn hẳn đầy sung sướng vì những gì đời đã cho mình. Quả thế, tác giả ca ngợi “bao nhiêu là thương mến, bao nhiêu là quyến luyến,” rồi “tay hái biết bao niềm yêu,” và “đời vẫn cho ta ngọt bùi”... nhưng cuối cùng vẫn không quên cái chết đang chờ ở cuối đường


Mang ơn đời nâng đỡ

Dâng nấm mồ thô sơ

Với dâng hương hồn thương nhớ

Còn vấn vương trong chiều tà.


Bài Một Bàn Tay là một bài hát triết lý, qua hình ảnh bàn tay mà thấy ra toàn diện cuộc đời, từ bàn tay bà mụ “đưa anh ra khỏi lòng người” đến bàn tay làm lụng, bàn tay  yêu đương..., nhưng cuối cùng, cũng sẽ bàn tay ấy làm động tác giúp kết thúc một đời người


Một mai đưa anh thăm thẳm lìa đời

Mùa đông khăn tang mây bỏ đường dài

Bàn tay thương nhớ, ôi gặp anh băng giá

Lạ lùng, tay khép làn mi.


Suốt cuộc đời sáng tác của mình, kể cả khi còn rất trẻ, Phạm Duy không bao giờ quên cái chết, và ông diễn tả nó một cách tài tình, khiến ta khi hát lên cảm thấy như vừa chạm vào cái cõi bi thương đáng sợ ấy. Thật ra ông không đi sâu vào chính cái chết như Tolstoi tả phút hấp hối của André trong Chiến Tranh và Hòa Bình, ông chỉ nói về tình huống bề ngoài, nhưng cách nói nghệ thuật của ông khơi dậy gần như đầy đủ “kinh nghiệm chết” hình như vẫn luôn luôn có sẵn trong mỗi chúng ta. Đó có thể là kinh nghiệm tử biệt sinh ly về cái chết của bao người khác ta hằng chứng kiến, nhưng cũng rất có thể là của chính ta, lưu trữ bằng một cách nào đó sâu trong tâm thức sau hàng vô số kiếp luẩn quẩn trong vòng tử sinh. Đôi khi ta vẫn có cảm tưởng “nhớ” lại một cái gì đó không hề được kinh nghiệm trong đời này.

Tương truyền bản nhạc Sombre Dimanche (Chủ nhật buồn) là một bản nhạc gây chết chóc, vì không hiểu sao nhiều người nghe nó đã tự tử. Quả là thỉnh thoảng vẫn có những tác phẩm mang cái ma lực kỳ dị như vậy. Bản nhạc ấy vào tay Phạm Duy đã mang lời Việt Nam như sau:


Chủ nhật nào tôi im hơi

Vì đợi chờ không nguôi ngoai

Bước chân người nhớ thương tôi

Đến với tôi thì muộn rồi

Trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời

Dẫu qua đời mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người

Hồn lìa rồi nhưng em ơi tình còn nồng đôi con ngươi

Nhắc cho ai biết cuối đời có một người yêu không thôi

Ơi hỡi... ơi... người!...

(Chủ Nhật Buồn)


Đó là luyến tiếc, vướng víu, là không siêu thoát, phải không?

Khi chúng ta còn nhỏ, sự chết đối với chúng ta là chuyện... của người lớn. Khi vào đời ở tuổi thanh niên thì đó là chuyện của... người già. Chính mình thì chối hết. Nhưng khi bắt đầu vào tuổi già thì như một khả năng tự nhiên, càng ngày ta càng cảm nhận được trong thân tâm mình cái “khả năng chết” một rõ hơn, mãi đến một lúc, hết chối nữa, đành nhận nó là của mình. Nó dần dà, tự nhiên biến thành một phần của sự sống. Phạm Duy là một người hiếm hoi “biết” cái chết, “sống” với cái chết ngay từ tuổi thanh niên. Tại sao? Để làm gì? Trong nhân loại, thỉnh thoảng nẩy ra một người có khả năng trình bày hộ cho mọi người khác ý nghĩa toàn bộ cuộc nhân sinh mà thông thường người phàm mắt thịt chỉ thấy rất ngắn, toàn là chuyện eo sèo trước mắt. Chứ sao, phải nói về cái chết chứ, làm sao có sự sống nếu không có sự chết? Cái chết chờ bên đầu kia cuộc đời mỗi người, nào có xa xôi gì, trong chớp mắt của thời gian đã tới nơi, để bắt đầu một chuyển hóa mới, một cuộc du hành mới


Người là ai? Từ đâu tới?

và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao?

Người vì sao mà chớm nở?

rồi sớm tối cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa?

Người là chi? là cơn gió? là giọt mưa?

là cát trắng hay bụi xanh lơ? 

Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ?

Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô?

(Xuân Hành)


Một loạt câu hỏi từ muôn đời của loài người nhưng không bao giờ cũ, vì ngày nào con người không còn biết đặt ra những câu hỏi như thế về thân phận mình thì cũng có nghĩa là đã dừng lại trên con đường hoàn thiện chính mình.


*


Chết là cái mà không ai có kinh nghiệm, nhưng không phải vì thế mà người ta hoàn toàn không thể viết gì về cái chết. Đang sống mà “chuyển sang từ trần” là một sự bí nhiệm, từ ngàn xưa con người vẫn suy nghiệm, vẫn cảm xúc đau đớn và vẫn... thờ phượng cái chết. Đặc biệt các tôn giáo và các tín ngưỡng lo săn sóc đến cái chết một cách kỹ lưỡng nhất, vì biết rõ đó không phải là một cái gì  có thể đối xử một cách bình thường theo cung cách cuộc sống trần thế. Trước sự chết, con người bàng hoàng và sợ hãi, phải tìm mọi cách trấn an nỗi sợ. Đông hay Tây đều đặt ra sự tự kỷ cho mình về một cõi sau khi chết: sinh ký tử quy, sống gửi thác về, về với ông bà, về ngôi nhà Cha, về miền Cực lạc... cố dẫn dụ mình rằng cuộc sống trần thế này tuy ai cũng tưởng là quan trọng cần hết sức bám víu lấy, nhưng thực chất chỉ là cái rất phụ, chỉ là một sân khấu tạm bợ để múa may trong một thời gian thoáng qua, rồi sau đó thì “về” với cái đích thực. Lời hứa hẹn và giải thích thì rất nhiều, người ta nghe theo lời này hay lời kia, hoặc chẳng nghe lời nào cả, là tùy khuynh hướng và căn cơ của mỗi người, nhưng nhìn chung mọi tín ngưỡng đều nhằm khuyên làm tốt khi sống để được an ổn khi chết, làm như cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài chuẩn bị cho cái giây phút không còn cuộc đời nữa. Thế mới biết cái chết nó ám ảnh con người đến thế nào. Ám ảnh đến gần như biến thành một mục tiêu của sự sống.

Riêng Phạm Duy chấp nhận hết trong sáng tác của mình: Tình Yêu, Khổ Đau và Cái Chết. Đó là thái độ của một nghệ sĩ lớn, sống tận cùng từng phút giây của cuộc nhân sinh. Và, nghe như có vẻ mâu thuẫn, cũng “sống” tận cùng với phút giây không còn sự sống nữa, là lúc Cõi Chết bắt đầu.


(2006)


(*) Viết thêm :


Trước khi Phạm Duy mất một thời gian không dài lắm, anh có gửi một email cho tôi cho hay anh sửa một ít lời trong bài Khúc Ca Ly Biệt (lời Việt cho Chanson de Solvejg của Grieg). Bài viết về cái chết tuyệt hay, tôi mê từ hồi còn trẻ. Ở phân đoạn 2 có câu

 

Người đi về mai sau

Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu

Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu...

 

Phạm Duy bảo thay hai chữ khóc lóc thành lóc cóc

 

Nghe lóc cóc xe tang đưa sầu 

 

tôi điếng cả người.

 

Cách đó mấy dòng có câu

 

 Người về dần trong cõi mồ

Như lúc nào vừa mới ra đời

Chào đón xuân tươi ngày mới

 

Anh dặn sửa chữ mồ thành chữ 

 

Người về dần trong cõi

 

Đến đây thì tôi hiểu tâm trạng của ông già ngoài chín mươi, ông nhìn cái chết thản nhiên rồi, không khóc lóc nữa mà chỉ có tiếng lóc cóc của chiếc xe ngựa đưa tang, có thể nghe cũng vui tai ! Và cõi mồ thành cõi mơ, diễn tả một tâm thức nhẹ nhõm thảnh thơi lắm rồi...

Rõ ràng đó là lời nhắn gửi cuối cùng của Phạm Duy cho tôi : Tôi đã nhìn ra cõi đó rồi, chẳng sao cả, thích lắm...


(Ghi thêm vào ngày 3 tháng Năm, 2022)


Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2022

Phạm Xuân Đài: Bài Thuyết Trình Không Đọc

 Một phần của bài dưới đây được tác giả soạn để nói tại buổi sinh hoạt “Đêm nhớ về Sài Gòn,” một chương trình có chủ đề Sài Gòn do một số  anh em văn nghệ ở Boston dự trù tổ chức vào ngày 6 tháng Mười Hai, 2003,  nhưng vào giờ chót phải hủy bỏ vì một trận bão tuyết bất ngờ. Cũng vì trận bão, tác giả đã phải quay trở về lại California sau khi đã đi được quá nửa đường đến Boston.

*

 

Ý  định hát về Sài Gòn, viết về Sài Gòn, nói về Sài Gòn tự nhiên nảy ra cùng một lúc nơi nhiều người làm văn nghệ. Riêng tạp chí Thế Kỷ 21 thì gần đây đã được một độc giả ở Chicago viết thư về trách sao quý vị không làm một số báo về Sài Gòn mà lại làm số báo về Hà Nội.  Bức thư ấy làm chúng tôi giật mình, mới thấy ra sự vô tình của mình đối với một thành phố mà mình quá nặng nợ. Đúng thế, Sài Gòn đối với chúng ta như một kẻ rất thân yêu và  gần gũi, đến nỗi chúng ta thấy không cần nhắc nhở đến, kiểu như con cái thì không hay nói nhiều về cha mẹ của mình, mà chỉ nói về thiên hạ.

 

Đường phố Sài Gòn thời 1960

  
Từ đầu thế kỷ 20, Sài Gòn đã là một nỗi quyến rũ người cả nước. Đó là một đô thị văn minh đích thực trước bất cứ một thành phố nào của Việt Nam. Tổ chức đô thị có những quy luật riêng của nó, không cứ hễ dồn dân lại ở đông đúc một nơi mà có thể gọi là đô thị. Hà Nội chưa hề có một nếp sống đô thị, yếu tố nông thôn, yếu tố tùy tiện hãy còn đầy rẫy nơi ấy. Các thành phố khác của Việt Nam thì đều có kích thước nhỏ. Chỉ có Sài Gòn, nhờ vị thế đặc biệt về địa lý và lịch sử của nó, đã rất sớm xứng đáng gọi là một đô thị đúng nghĩa của Việt Nam.

 

Vài nét lịch sử


Năm 1998 vừa qua, Sài Gòn tròn 300 tuổi. Năm 1698 lần đầu tiên địa danh Sài Côn được ghi vào bản đồ hành chánh xứ Đàng Trong nước Đại Việt khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính, tức Nguyễn Hữu Cảnh, thừa lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu đặt nền cai trị trực tiếp phần đất Nam Tiến, phân chia  lãnh thổ Đồng Nai – Gia Định thành hai dinh trấn: Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Định), lấy đất Nông Nại (Đồng Nai) làm huyện Phước Long và xứ  Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình.


Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2022

Phạm Xuân Đài: “Ông Khai Trí” Và Giấc Mộng Sách Vở (Trích báo Thế Kỷ 21 tháng 12, 2004).

Ông Nguyễn Hùng Trương tại nhà sách Khai Trí
(hình Người Việt)
Tháng Tám năm 2004, chúng ta đã đưa tiễn ông Thanh Tuệ giám đốc nhà xuất bản An Tiêm về bên kia thế giới, nay lại vừa hay tin ông Nguyễn Hùng Trương, giám đốc nhà sách, nhà xuất bản Khai Trí qua đời ngày 11 tháng Ba 2005 tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Đối với một lớp người ở miền Nam trước 1975, những cái tên An Tiêm hay Khai Trí có một ý nghĩa đặc biệt, nó gợi một cảm giác trong sáng của trí tuệ, cái vui sướng của sinh hoạt tinh thần, văn hóa. Riêng Khai Trí đối với thành phố Sài Gòn qua bao nhiêu năm như là một pháo đài của chữ nghĩa, suốt một thời hai mươi năm Việt Nam Cộng Hòa nhà sách kiêm nhà xuất bản ấy đã phát hành, phổ biến, bày bán không biết cơ man nào là ấn phẩm, đã “khai tâm mở trí” cho biết bao nhiêu tâm hồn và trí óc Việt Nam.

Ra đời từ năm 1952 tại số 62 đường Lê Lợi Sài Gòn (lúc đó hình như còn tên Bonard) cho đến tháng Tư năm 1975, không biết Khai Trí đã đón tiếp bao nhiêu lớp người bước vào cửa hàng sách to lớn của mình. Nhưng cần phải ghi nhớ rằng từ lâu trước khi hiệu Khai Trí chính thức mở cửa, chủ nhân của nó, vốn người Thủ Đức, đã làm công việc buôn bán văn hóa phẩm tại một quầy sách trên lề đường Lê Lợi. Và trớ trêu thay, tháng Năm 1975, trước khi bị bắt, chính ông chủ ấy lại trải một tấm ny lông lớn trên lề đường ngay trước hiệu sách của ông để bán nốt những số báo Thiếu Nhi và một ít sách khác còn lại do nhà Khai Trí xuất bản. Có vẻ như là ông khởi nghiệp và kết thúc sự nghiệp ở ngoài lề đường, còn hiệu sách Khai Trí do ông tạo lập ra và hoạt động suốt hai mươi mấy năm sung sức nhất của đời ông thì thuộc về lịch sử chứ không thuộc về ông nữa.

Một người bạn cũ thời học trung học của chủ nhân nhà Khai Trí, ông Phụng Nghi, đã có những dòng viết về người bạn của mình như sau:

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Phạm Xuân Đài: Vui Ca Xang

Tác giả xin cám ơn Giáo sư Trần Huy Bích đã giúp nhiều tài liệu cần thiết cho bài viết này.

Hình minh họa Chinh Phụ Ngâm do tác giả, 
nhà văn Trùng Dương cung cấp.

Gần đây tôi có dịp xem video của Thúy Nga Paris trình diễn ba bài Hòn Vọng Phu 1, 2 và 3 của Lê Thương. Sự dàn dựng cảnh trí, các màn phụ diễn đều công phu, tạo nên một không khí chinh chiến ngày xưa, và nhất là giọng hát của các ca sĩ đều hay, diễn tả thành công chủ đề mà mình trình diễn.

Tiếc thay trong bài Hòn Vọng Phu 1, lời hát có sai một chữ, nhưng chữ đó lại rất quan trọng, làm biến đổi cả không khí của bài hát mà nhạc sĩ Lê Thương đã cố công dựng nên khi sáng tác Hòn Vọng Phu. Đó là câu nguyên văn của tác giả :

Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn

đã được ca sĩ Thế Sơn hát là :

Vui ca xong rồi đi tiến binh ngoài ngàn

Thật là một sai lầm đáng tiếc.

Chúng ta đều biết Lê Thương thuộc vào hàng nhạc sĩ kỳ cựu của nền tân nhạc Việt Nam, đã bắt đầu sáng tác từ những năm cuối của thập niên 1930 những ca khúc như Bản Đàn Xuân, Thu Trên Đảo Kinh Châu…, và từ đó tiếp tục sáng tác và để lại cho đời một di sản âm nhạc to lớn sau khi ông từ trần năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 82 tuổi.

Riêng liên khúc Hòn Vọng Phu 1, 2 và 3 sáng tác trong thập niên 1940 là một tác phẩm rất quan trọng của ông, chất chứa mênh mang âm hưởng và tình cảm dân tộc, được xem như một trường ca đầu tiên của Việt Nam. Có thể nói không ngoa rằng nhạc điệu lẫn lời ca của liên khúc Hòn Vọng Phu đã thấm nhuần trong tình cảm người Việt Nam một cách rộng rãi và sâu xa nhất, có lẽ trong lịch sử của nền tân nhạc chưa dài lắm của đất nước chúng ta chưa có tác phẩm nào đạt được vị trí ấy.

Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

Phạm Xuân Đài: Đọc 'Gọng Kìm Lịch Sử' của Bùi Diễm

Tác giả Gọng Kìm Lịch Sử Bùi Diễm (trái) và Phạm Xuân Đài (hình Trần Triết, tháng 5-2015 tại Quận Cam, Nam California)

Nếu Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên là một cuốn Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị từng sống trong lòng chế độ cộng sản, thì Gọng Kìm Lịch sử đích thực là hồi ký của một chính trị gia, đứng trong phía quốc gia. Năm 1987 ông đã cho xuất bản cuốn In the Jaws of History viết bằng tiếng Anh, và Gọng Kìm Lịch sử, viết xong vào đầu năm 1999, là hậu thân của cuốn In the Jaws of History, hoàn toàn viết lại bằng tiếng Việt với các tình tiết Việt Nam và thêm một số tài liệu mới tìm thấy.

Ông Bùi Diễm, sinh năm 1923, con trai thứ của học giả Bùi Kỷ, cháu của học giả Trần Trọng Kim, từ tuổi thanh niên, vào đầu thập niên 40, đã tham gia vào phong trào dành độc lập cho Việt Nam. Từ đó ông đi vào cuộc đời hoạt động chính trị, chứng kiến các trôi nổi của lịch sử từ nhiều vị trí đặc biệt: có mặt tại Huế khi nội các Trần Trọng Kim thành lập, yết kiến Quốc trưởng Bảo Đại năm 1949 tại Đà lạt, theo dõi Hội nghị Genève 1954, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng 1965, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ từ 1967 đến 1972, Quan sát viên đặc biệt tại Hòa đàm Paris 1968, Đại sứ Lưu động 1973-1975.

Tác giả bắt đầu các hồi ức về đời mình ở Chương 2, lúc còn là một học sinh tiểu học nhưng đã “mơ tưởng đến những chuyện đi xa, đến những nơi mới lạ để tìm hiểu thế giới rộng lớn,” và kết thúc ở Chương 37 với nhan đề “Thay lời kết, Lịch sử còn dài...” Ngay ở Chương 2, ông đã cho thấy ảnh hưởng chính trị đã đến với ông rất sớm khi ông vào học trường trung học tư thục Thăng Long, nơi mà ban giáo sư gồm những tên tuổi như Phan Thanh, Đặng Thái Mai, Hoàng Minh Giám, Trần Văn Tuyên, Võ Nguyên Giáp... và “tôi lớn lên trong bầu không khí đó, và dần dần ý thức được rằng dưới bộ mặt phẳng lặng của đời sống học đường là những đợt sóng ngầm đang chuyển động mạnh.” Lúc bấy giờ là cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, những người yêu nước Việt Nam, dưới nhiều khuynh hướng khác nhau, đang vận động để thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Và từ đó, ông đã từ từ được dắt dẫn tham gia vào một đảng phái quốc gia, đối lập với khuynh hướng cộng sản vào thời đó cũng đang phát triển mạnh.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Phạm Xuân Đài: Cái Chết Trong Ca Khúc Phạm Duy

Trong buổi lễ tưởng niệm Ðỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:

1.

Hồn xuân vừa tàn hơi
Hay nắng ấm lung linh qua đời
Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời
Người yêu dù xa xôi
Xin nhớ tới quê hương u hoài
Trong giá rét đêm đông đang trông vời

Một lần người đưa tiễn nhau
Như vẫn cầu lời hứa năm nào
Ðằm thắm cho vui lòng nhau
Một lần người xa cách nhau
Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu
Vì đó... không ai quên đâu...

2.

Người đi về mai sau
Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu
Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu
Người đi vào không gian
Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn
Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Phạm Xuân Đài: Nhà văn Võ Phiến an hưởng tuổi già

Ở tuổi 86, hiện nay nhà văn Võ Phiến đang sống những ngày an hưởng tuổi già trong tình thân của gia đình và bạn bè. Từ năm 1980 làm việc và cư ngụ tại Highland Park City thuộc Los Angeles, nhưng vào năm 2003 ông bà Võ Phiến đã mua nhà tại Santa Ana và dời hẳn về đây, để gần gũi con cháu và bạn bè người Việt Nam.

Họp mặt tại nhà ông bà Võ Phiến dịp Tết Kỷ Sửu 2009. Từ trái : Hà Dương Thị Quyên, Thái Vân, Trần Mộng Tú, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Tường Thiết, Phạm Phú Minh, Võ Phiến-Viễn Phố, bà Đỗ Ngọc Yến.

Ngôi nhà cũng êm đềm như cuộc sống của ông bà. Trong một cư xá yên tĩnh cuối đường số 5 thuộc thành phố Santa Ana, ngôi nhà hai tầng nhỏ nhắn xinh xắn, có một mảnh vườn be bé bên cạnh với những cây hoa hồng ở bờ dậu, cây quít, cây hồng dòn, cây thanh long và những cây hoa khác chạy vòng ra đến sân sau. Đó là nơi để bà Viễn Phố (tức bà Võ Phiến) săn sóc cây cỏ hàng ngày, và là nơi mỗi buổi sáng nhà văn Võ Phiến đi tha thẩn ngắm lá, ngắm hoa, tức là thưởng thức tài chăm nom vườn tược của bà.

Nếu căn nhà ở Los Angeles là nơi sống để làm việc, thì ngôi nhà hai tầng ở Santa Ana là nơi để an hưởng tuổi già. Cả hai căn nhà đều có đặc tính chung gọn gàng, văn vẻ, một chút gì có thể gọi là thơ mộng. Nhà ở Los Angeles tuy xa Little Saigon nơi tập trung đông đảo người tị nạn Việt Nam, nhưng các văn hữu xa gần vẫn thường lui tới thăm ông bà, và ai cũng ưa thích vẻ thanh tao và mỹ thuật của ngôi nhà lẫn vườn cây. Trong khu vườn khá rộng trồng nhiều loại cây ăn trái, có dựng bức tượng bán thân bằng đồng của nhà văn Võ Phiến, tác phẩm của điêu khắc gia Ưu Đàm, một nghệ sĩ di dân thuộc thế hệ thứ hai. Trong khung cảnh của căn nhà Los Angeles, nhà văn Võ Phiến đã viết các tác phẩm quan trọng của ông tại hải ngoại: Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, Thư Gửi Bạn, Nguyên Vẹn, Truyện Thật Ngắn, Đối Thoại, bộ Văn Học Miền Nam v.v... Võ Phiến đã sống tại đây từ năm 1980, và sau 15 năm đi làm công chức cho thành phố Los Angeles ông nghỉ hưu vào năm 1992, vẫn tiếp tục sống và viết tại đây 11 năm nữa. Đến năm 2000 khi bà Võ Phiến nghỉ hưu, không còn nhu cầu ở gần sở làm nữa, thì hai ông bà mới dần dần có ý định dời về vùng Orange County để gần con cái và bạn bè hơn. Việc đó đã được thực hiện năm 2003, sau 23 năm cư ngụ tại Los Angeles.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2021

Phạm Xuân Đài: Ta Đây Trâu Đấy…

Hình : Quốc Văn Giáo Khoa Thư

Con trâu, với những bước chân chậm rãi nhưng vững chắc, đang mang năm Tân Sửu về với chúng ta. Người Việt Nam đón nhận con trâu với một tâm tình khác hơn những con giáp khác. Những con gà, con chuột, con khỉ, con dê, con mèo, con chó v.v... đều không thể so sánh với con trâu trong đời sống Việt Nam. Không thể so sánh về tầm vóc thân thể, vì so với trâu thì những con vật kia đều quá nhỏ bé, lại càng không thể so sánh về vai trò quan trọng của trâu trong đời sống dân tộc chúng ta từ nghìn xưa. “Con trâu là đầu cơ nghiệp, ” người Việt Nam nào cũng biết điều đó, vì dân ta vốn sống về nghề nông từ hàng ngàn năm qua, mà nói đến nông nghiệp với nghề trồng lúa thì không thể không nói đến con trâu, vì :

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Cái bộ ba này đã cùng đồng lao cộng khổ miệt mài trên mảnh đất hình chữ s ở Đông Nam Á từ biết bao đời để sống còn, và xây dựng nên làng, xóm, rồi cộng đồng quốc gia. Chồng, vợ, và con trâu là đơn vị cơ bản sản xuất ra lúa gạo nuôi sống cả dân tộc. Con trâu, với sức mạnh gấp nhiều lần con người, đã là sức kéo chính trong các công việc đồng áng như cày, bừa, quay guồng đem nước tưới ruộng, quay che ép mía, rồi còn bao việc khác như kéo gỗ, kéo xe... Người nuôi trâu, trâu giúp người, quan hệ ấy đã trải qua bao thế kỷ, đã làm nảy sinh một mối cảm tình khắn khít của con người đối với con trâu, không phải chủ-tớ, không phải chủ-nô, mà là như người bạn, như kẻ cộng tác chân tình thân mật :

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Phạm Xuân Đài: Về tập thơ Ở Đây của Khánh Hà

Khánh Hà giống như câu thơ của Huy Cận:

Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu

"Sầu" không hẳn là buồn, mà là sự rung động của thi nhân. Và cái "mang mang thiên cổ" chính là những khoảnh khắc không-thời-gian mà tâm hồn thi nhân nắm bắt được, những chiều kích đặc biệt chỉ có cảm hứng thi ca thỉnh thoảng thấy ra và diễn tả bằng ngôn ngữ riêng của mình. Nói một cách khác, hai câu thơ trên của Huy Cận chính là định nghĩa của sự làm thơ. Ít ra đối với tập thơ này của Khánh Hà.

Chiếc linh hồn nhỏ của Khánh Hà đã đi vào biết bao là mang mang thiên cổ, và quần tụ vào một nơi chốn và một thời điểm gọi là Ở Đây.

Ở đây một góc trong đời
Nhìn ra hình tướng cõi người lao xao
Nhìn lên trăng vẫn nguyên màu
Cõi hư, cõi thực, cõi nào, cõi ta?

"Góc trong đời" có thể là mảnh đời tị nạn của tác giả ở Na Uy vùng Bắc Âu, hoặc rộng hơn, là chỗ đứng ở bất cứ đâu đó của một người giữa cuộc đời này. Sống với những hình tướng của đời sống chung quanh và của chính mình, đồng thời tâm hồn cũng vươn tới những cõi xa xôi, mang tính chất vĩnh cữu "vẫn nguyên màu" mà dấy lên những thắc mắc siêu hình. Bốn câu thơ ấy có thể xem là bản tổng kết những gì chiếc linh hồn nhỏ của chúng ta đã sầu với mang mang thiên cổ.

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2020

Phạm Xuân Đài: Montmartre - ngôi chợ (trên) trời

Nhà thờ Sacré Coeur, Hình Kiran Ridley/Getty Images

Trước hết lên thăm nhà thờ Sacré Coeur, phải leo lên những bực cấp rộng và dài dằng dặc mới đến nhà thờ ở đỉnh đồi. Đó là những bực cấp đi lên vui nhất thế giới, ta gặp trên đó vô số thanh niên nam nữ đang ngồi chơi bất kể vào thời khắc nào trong ngày. Họ nhìn xa xăm ra thành phố trải dài dưới chân đồi, ban ngày nhìn nắng nhảy múa, ban đêm nhìn đèn và sao nhấp nháy, họ chia nhau điếu thuốc, họ trò chuyện to tiếng hay thủ thỉ, họ hôn nhau…Đám người ấy luôn luôn có đấy như một hình ảnh bất biến, gắn liền với cảnh trí nhà thờ và báo hiệu cho cái không khí đặc biệt của Montmartre mà sau khi thăm nhà thờ, ta sẽ ghé qua ngay trên khu đất bên cạnh. Tại sao họ đến và ngồi đó? Đơn giản chỉ là “ngồi chơi,” nhưng nơi đó có một cái gì đó thu hút họ, và sự hiện diện của họ ngược lại cũng đem lại một không khí không bao giờ có trong đời thường, vừa trần tục vừa thượng giới, vừa là của tuổi trẻ hôm nay vừa là cái thanh xuân bất biến của bao đời người trẻ tuổi đã lui tới chốn này. Họ chỉ ngồi chơi, không vẽ tranh không ca hát, nói chung không làm một hình thức nghệ thuật nào, nhưng đám người ấy toát ra một vẻ nghệ sĩ miên viễn rất lạ, tuồng như chỉ sự ngồi chơi của họ trên các bực cấp nhà thờ ấy đã là một hành vi nghệ thuật, đã là một chất men cần thiết cho bầu khí quyển riêng biệt của hành tinh Montmartre.

Từ bên hông nhà thờ ta băng ngang vài con đường và bỗng dưng đã thấy mình đang ở giữa một thế giới khác. Một khu phố xá vây quanh một miếng đất vuông vức mỗi chiều độ vài trăm thước trong đó che lều bán tranh và nghệ phẩm, kê bàn để nhậu nhẹt ăn uống, và đặc biệt la liệt là các khung giá vẽ của các họa sĩ. Người đi như trẩy hội. Đúng Montmartre là một loại hội hè thường trực bất kể ngày đêm, vui không thể tả. Đến đó tinh thần của ta sẽ luôn luôn hớn hở như khi tuổi nhỏ được sống trong ngày Tết. Tết vui vì đang trong không khí chớm sáng tạo của mùa xuân. Montmartre vui vì bao trùm một không khí sáng tạo bất diệt, với một đám đông người không dứt, lượn tới lui, ăn nhậu, mua sắm, xem tranh và vẽ tranh… Đó là một chốn đào nguyên quanh năm không có buồn

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

Phạm Xuân Đài: Trần Mộng Tú Và Mùa Thu

Hình minh hoạ, Buddhika Weerasinghe/Getty Images

Một năm có bốn mùa, nhưng có hai mùa thu hút sự chú ý của văn nhân thi sĩ nhất, là mùa Xuân và mùa Thu. 

Mùa Xuân là mùa hồi sinh của vạn vật sau mùa đông mưa gió, rét mướt, mùa của tàn lụi. Mùa Xuân mang lại sức sống mới, với khí hậu ấm áp dần lên, cây cối nảy lộc non, bầu trời trong xanh không còn mưa gió phũ phàng. Chữ Xuân tượng trưng cho sự tươi đẹp, sự trẻ trung, những từ ngữ như Hoa Xuân, Gái Xuân… tự nó như hứa hẹn một quãng đường đầy tích cực của cuộc sống trong mùa Hè tưng bừng sẽ đến.

Sau mùa Hè là mùa Thu với một tiết tấu êm dịu cho khắp vũ trụ quanh ta. Khí hậu đang nóng bức bỗng trở nên mát mẻ. Mùa màng, thảo mộc từ các hoa lá tươi thắm của mùa Xuân, kết quả trong mùa Hè đã vừa chín trong mùa Thu. Lá cây xanh tươi đóng vai trò nuôi nấng từ hoa đến quả qua hai mùa Xuân Hè, bây giờ đã hết nhiệm vụ, bắt đầu trở mình báo hiệu một nhiệm kỳ sắp chấm dứt. Con người trong mùa Thu có cái tâm lý mãn nguyện được thu hoạch mùa màng mình đã chuẩn bị từ mùa Xuân, chăm bón suốt mùa Hè và biết là mình có quyền được thư thái nghỉ ngơi sau những tháng bận bịu mệt nhọc.

Trong trạng thái chung đó từ thiên nhiên đến con người, Thu đã trở nên một mùa có cái đẹp u nhã  êm đềm tác động sâu xa đến tâm hồn người. Văn thơ sáng tác trong mùa Thu rất phong phú và thâm trầm từ Đông sang Tây, từ thời xưa cho đến thời nay, trong đó thi sĩ Việt Nam đóng góp không phải là ít.

Thời đương đại, tại hải ngoại, thi sĩ Trần Mộng Tú đã viết khá nhiều thơ về mùa Thu. Nhân mùa thu năm 2020 đang tới chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc Diễn Đàn Thế Kỷ một số bài mà chúng tôi đang có.

Tác giả Trần Mộng Tú từ nhiều năm nay cư ngụ tại Seattle, thuộc thiểu bang Washington nằm trên góc Tây Bắc thuộc “vùng lạnh” của nước Mỹ. Đó là một địa phương thuộc hạng thơ mộng nhất của Hoa Kỳ, thảo mộc đa dạng, có đồng bằng, núi non, ao hồ và biển cả. Và khi mùa Thu về :

Em đi dưới bầu trời tháng mười  

ngửa mặt, hàng phong chấp chới đỏ  

như những cây đuốc thắp trong mưa  

mùa thu về nhuộm hồng con phố  

 


Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2020

Phạm Xuân Đài: Nhà văn Võ Phiến an hưởng tuổi già

Ông bà Võ Phiến trong vườn nhà

Ở tuổi 86, hiện nay nhà văn Võ Phiến đang sống những ngày an hưởng tuổi già trong tình thân của gia đình và bạn bè. Từ năm 1980 làm việc và cư ngụ tại Highland Park City thuộc Los Angeles, nhưng vào năm 2003 ông bà Võ Phiến đã mua nhà tại Santa Ana và dời hẳn về đây, để gần gũi con cháu và bạn bè người Việt Nam.

Ngôi nhà cũng êm đềm như cuộc sống của ông bà. Trong một cư xá yên tĩnh cuối đường số 5 thuộc thành phố Santa Ana, ngôi nhà hai tầng nhỏ nhắn xinh xắn, có một mảnh vườn be bé bên cạnh với những cây hoa hồng ở bờ dậu, cây quít, cây hồng dòn, cây thanh long và những cây hoa khác chạy vòng ra đến sân sau. Đó là nơi để bà Viễn Phố (tức bà Võ Phiến) săn sóc cây cỏ hàng ngày, và là nơi mỗi buổi sáng nhà văn Võ Phiến đi tha thẩn ngắm lá, ngắm hoa, tức là thưởng thức tài chăm nom vườn tược của bà.

 

Nếu căn nhà ở Los Angeles là nơi sống để làm việc, thì ngôi nhà hai tầng ở Santa Ana là nơi để an hưởng tuổi già. Cả hai căn nhà đều có đặc tính chung gọn gàng, văn vẻ, một chút gì có thể gọi là thơ mộng. Nhà ở Los Angeles tuy xa Little Saigon nơi tập trung đông đảo người tị nạn Việt Nam, nhưng các văn hữu xa gần vẫn thường lui tới thăm ông bà, và ai cũng ưa thích vẻ thanh tao và mỹ thuật của ngôi nhà lẫn vườn cây. Trong khu vườn khá rộng trồng nhiều loại cây ăn trái, có dựng bức tượng bán thân bằng đồng của nhà văn Võ Phiến, tác phẩm của điêu khắc gia Ưu Đàm, một nghệ sĩ di dân thuộc thế hệ thứ hai. Trong khung cảnh của căn nhà Los Angeles, nhà văn Võ Phiến đã viết các tác phẩm quan trọng của ông tại hải ngoại: Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, Thư Gửi Bạn, Nguyên Vẹn, Truyện Thật Ngắn, Đối Thoại, bộ Văn Học Miền Nam v.v... Võ Phiến đã sống tại đây từ năm 1980, và sau 15 năm đi làm công chức cho thành phố Los Angeles ông nghỉ hưu vào năm 1992, vẫn tiếp tục sống và viết tại đây 11 năm nữa. Đến năm 2000 khi bà Võ Phiến nghỉ hưu, không còn nhu cầu ở gần


Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2020

Phạm Xuân Đài: Phân Vân Giữa Nhiếp Ảnh Và Viết Văn

Đọc sách Tuổi Thơ của Tôn Nữ Thu Nga

Theo tôi, Huế mà thuộc hoàng phái là Huế đến hai lần. Ý tôi muốn nói Tôn Nữ Thu Nga là một cây bút rất Huế, mặc dù cho tới nay thời gian sống ở hải ngoại của cô thì nhiều hơn tại Việt Nam, và ngay khi còn sống tại Việt Nam thì thời gian ở Nha Trang và một số nơi khác có lẽ nhiều hơn ở Huế. Thế mà nếu hỏi đặc tính nổi bật trong văn chương của Thu Nga là gì, thì tôi trả lời ngay, là Huế.

Kể ra, tôi chỉ có một tiêu chuẩn rất chủ quan để khẳng định tính chất Huế: thanh cảnh. Đối với bản chất khá thô thiển của dân Quảng Nam nơi tôi thì việc nhận ra sự thanh cảnh của người Huế rất dễ dàng. Giọng Huế nhiều âm điệu và dịu dàng, thái độ Huế tế nhị, thức ăn Huế đi rất sâu, rất tinh tế vào nghệ thuật thưởng ngoạn ẩm thực, nhà ở của người Huế, dù là ở Huế hay ở Đà Nẵng, Sài Gòn hay tại nước ngoài đều có một cái “gu” mỹ thuật riêng... Từ đó, văn chương nghệ thuật dĩ nhiên cũng có nét riêng, vừa bác học vừa tao nhã. Nói chung, Huế có một nền văn hóa đặc thù, bắt nguồn từ triều đình nhà Nguyễn cai trị một thế kỷ rưỡi tại đất Thuận Hóa. Chính vì thế mà tôi nói là người hoàng phái “Huế đến hai lần”. 

Tôn Nữ Thu Nga là một chuyên viên về y tế ở Mỹ, thế mà cô rất ham thích nghệ thuật, thoạt tiên là nghệ thuật tạo hình bằng nhiếp ảnh, rồi sau đó, viết văn. Có lẽ cái trước làm nảy sinh cái sau. Chụp hình thì phải biết tìm ra những góc đẹp của sự vật, phải lên đường đi đến những nơi danh lam thắng cảnh, đi rất nhiều nơi, trong nước Mỹ, tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới, chính hành trình đi tìm cái đẹp hình thể ấy tạo ra nhu cầu viết để ghi lại những vẻ đẹp khác không thể thể hiện bằng môn nhiếp ảnh. Xung quanh một tấm ảnh đẹp có thể là cả một câu chuyện nhiều tình tiết (một cuộc hành trình gian nan mà lý thú, những lần gặp gỡ ly kỳ, những cái duyên may không thể ngờ trước v.v...) mà khi ngắm bức ảnh người ta không thể thấy được, người chụp ảnh thấy rằng nếu không viết ra thì... tiếc lắm. Tôi đoán đó là một trong những động lực khiến Thu Nga cầm bút viết. Dĩ nhiên tiềm năng nghệ thuật đa dạng của cô đã có sẵn từ lâu, khi cái duyên nợ văn nghệ chằng chịt đã buộc trói thì cái này làm nảy sinh và bổ túc cho cái kia thôi.