Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trọng Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trọng Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2023

Phạm Trọng Chánh: Hàn Mặc Tử, Mộng Cầm, Bích Khê và Lầu Ông Hoàng – Phan Thiết

Hàn Mặc Tử trong bài thơ Phan Thiết Phan Thiết, có địa danh Lầu Ông Hoàng, nhà thơ gợi thi hứng tạo nên một huyền thoại nửa hư nửa thực về mối tình của mình với Mộng Cầm. Lầu Ông Hoàng do ai xây dựng? Ông Hoàng là ai? Hàn Mặc Tử làm gì khi đến Phan Thiết, mối quan hệ Hàn Mặc Tử–Mộng Cầm, tình bạn tri âm tri kỷ với thi sĩ Bích Khê?  Mộng Cầm là cháu của Bích Khê. Hàn Mặc Tử bệnh phong cùi mất năm 28 tuổi, và Bích Khê bị lao phổi mất 30 tuổi, hai thi sĩ chết khi nửa đời chưa qua hết, những ngày cuối đời trong đau đớn nghiệt ngã bệnh tật nhưng để lại những vần thơ tuyệt đẹp và lạ lùng, bao thế hệ sau còn bàn tán xôn xao. Thơ Điên, thơ Loạn hay thơ của những thiên tài, hai vì sao băng lóe sáng trên bầu trời thi ca Việt Nam rồi chợt tắt.


Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2023

Phạm Trọng Chánh : Ngô Vi Quý, Đoàn Nguyễn Tuân, Phan Huy Ích và Nguyễn Du năm 1789-1790 trên đất nhà Thanh, dưới triều Tây Sơn

Sau chiến thắng Đống Đa quét sạch 300 000 quân Thanh ra khỏi bờ cõi, vai trò các dũng tướng trên chiến trường nhường bước cho các thi tướng đối mặt trên mặt trận văn hoá, ngoại giao, nhằm chấm dứt chiến tranh và mang lại thanh bình lâu dài cho đất nước. Dưới triều Tây Sơn việc bang giao với nhà Thanh có nhiều cuộc đi sứ :

Năm 1789 sứ giả Tây Sơn Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ đưa Nguyễn Quang Hiển cháu vua Quang Trung (con người anh cả) đi sứ.

Năm 1789. Ngô Vi Quý, làm Chánh sứ sang gặp đại thần Hòa Thân để dàn xếp việc vua Càn Long đòi hỏi : vua Quang Trung vào chầu, làm lễ ôm gối nhận tình cha con và cống voi để vua Càn Long xem voi là con vật thế nào mà quân Thanh thấy sợ bỏ chạy.

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803) - CÚC THU BÁCH VỊNH - 50 Bài thơ đối thoại với Phan Huy Ích(1751-1802)


 (Tiếp theo và hết)



25. GẶP NGÀY SINH NHẬT CHA KÍNH VIẾNG

Không phải mặc áo màu để múa trước thềm. Lão Lai trong Nhị Thập Tứ Hiếu, 80 tuổi cha mẹ vẫn còn sống, nên mặc áo màu như trẻ thơ múa mua vui cho cha mẹ, ý  câu thơ nói cha mẹ không còn nữa. Xum xuê hoa hạnh nở bên ao biếc. Ý nói con cháu giờ đông vui đầy nhà. Nơi nao mây núi theo hầu người cầm hạc. Ý cha mẹ đã cỡi hạc qui tiên. Tích Triệu Biện đời Tống làm quan Tham Tri khi vào đất Thục cỡi ngựa và đem theo cây đàn cùng chim hạc tỏ v giản dị vui thú tiêu dao. Câu thơ nhắc lại chuyện cha Ngô Thì Sĩ khi làm Đốc Trấn Lạng Sơn thường ngao du nơi động Nhị Thanh. Nay làm quan to  gấm vóc dư thừa, mà xót xa không mẹ cha để phụng dưỡng. Cổn chương là người làm quan to. Đứa con lênh đênh chẳng phải nói đến cây nga, thẹn với tóc bạc như tuyết. Kinh Thi thơ Lục Nga : ”Lục lục giả nga, phỉ nga y cao, ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao“ Cây nga xinh tốt kia, không phải là cây nga mà là cây cao, thương cha mẹ ta sinh ta vất vả. Thương cha mẹ quá cực khổ sinh dưỡng ta nay nay mắt lòa, không phân biệt rõ  cây nọ với cây kia. Không cần nói cây nga nữa vì cha mẹ đã mất. Từ đường chốn quê nhà tịch mịch trong nắng thu. Nhị Thanh mờ mịt đây động thần tiên. Không kế gì tìm lại được cha mẹ để phụng dưỡng.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803) - CÚC THU BÁCH VỊNH - 50 Bài thơ đối thoại với Phan Huy Ích(1751-1802)



Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm :   50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792, Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền đày quân sư Trần Văn Kỷ. Tướng Vũ Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở. Tình hình nội bộ Tây Sơn mâu thun, Ngô Thì Nhậm lui về nhà cũ tại Bích Câu cạnh hồ Kim Âu, thành Thăng Long, mở Trúc Lâm thiền viện xưng danh Hải Lượng thiền sư viết Trúc Lâm Tông Ch Nguyên Thanh, Phan Huy Ích cũng mở Bảo Chân quán xưng danh Bảo Chân đạo sĩ tu đạo Lão.

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

Phạm Trọng Chánh: CÚC THU BÁCH VỊNH. PHAN HUY ÍCH (1751-1822) (Tiếp theo và hết)

* Tập thơ nhật ký đối thoại giữa Hải Lượng thiền sư (Ngô Thì Nhậm) và Bảo Chân đạo sĩ (Phan Huy Ích)

BÀI 24

Không còn sức đùa hoa, đứng tựa bên nhà; Để hít thở hương thơm thoảng trên ao nước tràn. Hồng non, lục trẻ dậy mùi khuê các; Lý đẹp, đào giòn rạng vẻ thất gia. Giấc hải đường mê mệt đáng thương Dương Quý Phi. Vua Đường Minh Hoàng gọi  Quý Phi. Phi say rượu chợt thức, vua bảo : ‘Đóa hoa hải đường ngủ chưa đủ giấc hay sao ?’. Kiểu trang sức hoa mai đơn sơ tô điểm vẻ đẹp Thọ Dương. Công chúa Thọ Dương con vua Tống Vũ Đế, một hôm ngủ dưới gốc cây hoa mai, hoa rụng trên trán lúc ngủ dậy phẩy không đi. Sao được bạn đồng tâm như hoa lan, hoa tình bạn anh em thân thiết. Nhờ gió đưa mùi hương ngát vào cuộc sống.

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

Phạm Trọng Chánh: CÚC THU BÁCH VỊNH. PHAN HUY ÍCH (1751-1822)

* Tập thơ nhật ký đối thoại giữa Hải Lượng thiền sư (Ngô Thì Nhậm) và Bảo Chân đạo sĩ (Phan Huy Ích)
Cuối triều Tây Sơn, sau khi vua Quang Trung mất năm 1792, vua Cảnh Thịnh lên ngôi năm 10 tuổi, quyền hành trong tay cậu là Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, họ Bùi chuyên quyền đày quân sư Trần Văn Kỷ làm lính thú, đến Hoàng Giang thì gặp Vũ Văn Dũng từ Bắc  trở về Phú Xuân bèn bàn mưu. Tướng Vũ  Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở, nhưng tướng Trần Quang Diệu và tướng Vũ Văn Dũng kình địch nhau. Phan Huy Ích theo lệnh vua Cảnh Thịnh viết chiếu giảng hòa hai phe, nhưng sau đó chúng ta chỉ còn biết từ 1796, Phan Huy Ích lui về Bích Câu, thành Thăng Long mở Bảo Chân Quán, lập nhà Học, xưng là Bảo Chân đạo sĩ  tu đạo Lão. Bảo Chân có ý nói là tu dưỡng giữ nguyên cái chân tính của mình. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) lập Trúc Lâm thiền viện, có đình Thưởng Liên cũng gần đó lấy Phật hiệu Hải Lượng  thiền sư, viết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, được xưng tụng là Trúc Lâm Đệ Tứ Tổ.
Phan Huy Ích trong thời gian từ 1796, viết Cúc Thu Bách Vịnh gồm 50 bài thơ Đường luật không đề tựa. Điều đáng quý là Phan Huy Ích viết những lời nguyên dẫn từng bài thơ, cho ta biết cuộc trao đổi của hai người anh và em  rể, Phan Huy Ích là học trò và con rể cụ Ngô Thì Sĩ nên  gọi Ngô Thì Nhậm là ‘thai huynh’, hai nhà tư tưởng lớn Việt Nam, một thiền sư, một đạo sĩ thật thú vị, điều này hiếm hoi trong lịch sử Việt Nam.

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

PHẠM TRỌNG CHÁNH: CẢNH ĐẸP THÀNH THĂNG LONG THỜI TÂY SƠN QUA THI CA ĐOÀN NGUYỄN TUẤN (1750- ? )

Chùm thơ Đoàn Nguyễn Tuấn viết về cảnh vật thành Thăng Long, là một kiệt tác trong kho tàng văn học chữ Hán nước ta.  Tập thơ gồm 28 bài, như 28 vì sao khuê, nhị thập bát tú,  tiếc thay trong Hải Ông Thi tập, nxbKHXH. 1982 chỉ in lại có 23 bài, tôi xin dịch thơ đường luật  hết 23 bài ấy để giới thiệu những hạt ngọc trong thi ca Việt Nam chưa được lưu ý đến.

Đoàn Nguyễn Tuấn hiệu là Hải Ông, quê làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, là con trai Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775) con rể Quốc lão Nhữ Đình Toản (1703-1774) triều Lê, và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1766-1820).

Thuở nho sinh ông kết thân cùng Nguyễn Nể, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Vũ Huy Tấn, Ngô Vi Quý, Ninh Tốn, Võ Tá Định, Nguyễn Gia Cát... và nhóm bạn hữu này về sau nhiều người cùng tham gia giúp triều Tây Sơn.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: NGUYỄN DU QUA MỘ TỶ CAN

Trên đường đi sứ năm 1813 từ 9-8 đến 22-8 năm Quý Dậu, Nguyễn Du đi qua địa phận huyện An Dương tỉnh Hà Nam. An Dương là kinh đô cuối cùng nhà Thương. Mộ Tỷ Can ở ngoài thành Vệ Huy năm dậm, bên đường có tấm bia đá lớn khắc bảy chữ : Ân Thái Sư Tỷ Can chi mộ. Trước mộ bậc  hiền nhân trung thần, Nguyễn Du đã xúc động không ngăn dòng lệ, viết bài thơ  Mộ Tỷ Can .

Tỷ Can là chú vua Trụ, là vị vua cuối cùng nhà Thương rất tàn bạo. Trụ Vương giết chú là trung thần, làm Thái Sư thường can gián nên bị vua Trụ ghét.Tỷ Can can gián luôn ba ngày Trụ cả giận nói : Tỷ Can tự cho là thánh nhân, ta nghe nói tim thánh nhân có bảy lỗ bèn ra lệnh mỗ tim Tỷ Can ra xem.  Chuyện Tỷ Can trung thần là một đề tài lớn trên sân khấu Kinh Kịch của Trung Quốc, Hát Bội và Cải Lương của Việt Nam. Ngày nay cũng đã được Đài Loan, Trung Quốc dựng thành phim truyện.
Nhà Thương còn gọi là nhà Ân, hay Ân Thương, là triều đại  nối tiếp nhà Hạ và trước nhà Chu, theo Trúc Thư niên kỷ khoảng 1556 TCN và 1046 TCN, nhưng theo tính toán của Lưu Hâm thì khoảng 1766 TCN tới 1122 TCN, bắt đầu từ Vua Thành Thang và kết thúc là Vua Trụ. Nổi lên phía Tây châu thổ sông Vị và thống nhất đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Xây dựng một đế chế, chinh phục các nước chư hầu, biến vua các nước đó thành đồng minh phụ thuộc, kiểm soát công việc cai trị và thu thuế. Văn minh nhà Thương đạt mức cao thời đại đồ đồng, kiểm soát các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam. Thủ đô khởi đầu ở đất Bạc, 7 lần dời đô, thủ đô cuối cùng thời Trụ Vương ở An Dương tỉnh Hà Nam.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

TS PHAM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU VIẾT VỀ HÀN TÍN

Hàn Tín là một nhân vật lịch sử Trung Quốc, được người đời  các nước Á Đông bàn luận nhiều nhất. Hàn Tín đem tài trí giúp Lưu Bang thu đoạt thiên hạ. Một  vị Nguyên soái mưu trí bách chiến bách thắng, đánh bại Hạng Vũ, bậc anh hùng sức mạnh vô song,  không ai không bảo Hàn Tín  là một nhân tài. Nhưng người thì biện luận Hàn Tín là bậc anh hùng, kẻ thì gọi là bậc cơ xảo. Làm nên cơ nghiệp cho Hán Cao Tổ nhưng khi thành công rồi thì bị vu cáo làm phản, tội danh vu vơ, bị giáng chức, bị Lưu Bang mượn tay  vợ Lã Hậu  giết cả ba họ, bị xẻ thịt cho chó ăn. Mọi người đều  ngậm ngùi cho số phận bi thảm của Hàn Tín và các công thần gầy  dựng nhà Hán.
Nguyễn Du có hai bài thơ viết về Hàn Tín, Lê Quý Đôn cũng viết một bài, vua Trần Anh Tông cũng nói về Hàn Tín. Ta thử tìm xem các bậc thi hào nước ta luận bàn thế nào về nhân vật Hàn Tín.
Nguyễn Du trên đường đi sứ qua sông Hoài, có viết  bài thơ Qua sông Hoài nhớ Hoài Âm Hầu. Sông Hoài  là sông  lớn thứ ba  của Trung Quốc dài 1078 km. Sông Hoài và dãy núi Tần Lĩnh  được xem là địa giới tự nhiên Hoa Bắc, Hoa Nam. Phát nguyên từ tỉnh Hà Nam, chảy qua phía bắc thành Tín Dương, chảy vào tỉnh An Huy và đổ vào Dương Tử Giang. Hoài Âm Hầu  tước cuối cùng của Hàn Tín,  vì có người tố cáo Tín làm phản, Hán Cao Tổ, lập mưu đi chơi đất Vân Mộng, ghé thăm bắt Hàn Tín, bỏ tù rồi lại tha, giáng xuống hai cấp từ Sở Vương xuống còn tước hầu. Lữ Hậu về sau nhân loạn Trần Hy, vu cáo  bắt Hàn Tín giết cả ba họ.

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - TỬ XUÂN HÀM NGHI (1872 -1944), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ

Vua Hàm Nghi
Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917) Hotel Biron 79 rue de Varenne. Paris 7è, năm 1916. Rodin nhà điêu khắc vĩ đại của thế kỷ 19, 20. La Porte d’Enfer, Cửa Địa Ngục tác phẩm vĩ đại của Rodin lấy cảm hứng từ Divine Comédie (Thần Khúc) của Dante Aligrierie và Fleur du Mal (Hoa Thương Đau) của Charles Baudelaire đã được đúc thành đồng cao 7m nặng 8 tấn. Cùng trong buổi kỷ niệm này các học trò, phụ tá, thân hữu của Rodin tham gia trưng bày triển lãm. Các cuộc triển lãm kỷ niệm Rodin từ Dépôt des Martres số 182 rue l’Université Paris 7è, nơi xưởng điêu khắc nhà điêu khắc lúc sinh thời, đến trường Mỹ Thuật Paris 11 quai Malaquais Paris 6è nằm trên bờ sông Seine, đến các Galerie  Hội Họa, Điêu Khắc tại Paris, đến Villa des Bridarts số 19 Avenue Auguste Rodin, ngoại ô Meudon nơi Rodin sinh sống và chôn cất tại đây. Giữa các buổi triển lãm  tưởng niệm Rodin  đó người ta chú ý đến một nhà điêu khắc, họa sĩ  không phải người Âu Châu, mà mọi người đều thân mật gọi là « Hoàng Tử An Nam », người đó là Tử Xuân Hàm Nghi triển lãm tại Galerie Mantelet,  phố La Boétie, Quận 8 Paris. Người giúp đỡ tổ chức buổi triễn lãm này là bà Suzanne Meyer Zundel (1882-1971) nghệ sĩ tạo hình, bạn nhà văn Judith Gauthier. Năm đó Vua Hàm Nghi 54 tuổi, bạn thân của Rodin, đã từng học Điêu Khắc với Rodin từ năm 1893, cứ mỗi hai năm mỗi lần nghỉ hè ông được mời sang Paris hàng tháng. Ngoài việc du lịch, ông bị theo dõi thường xuyên. Nhà cách mạng Kỳ Đồng có gặp được nhiều lần kín đáo, nhưng cuối cùng cũng bị trục xuất. Vì thế ông ít gặp ai trừ vài người như Bùi Quang Chiêu, Trần Văn Thông, Thân Trọng Huề... được phép của chính phủ Pháp, ngoài các viên chức thuộc địa bó buộc phải gặp, ông dành thì giờ học điêu khắc với Rodin. Rodin khi còn sống đã được mọi người công nhận là một tài năng lớn. Rodin được nhiều đơn đặt hàng khắp các nước. Nơi sáng tác điêu khắc của ông trở thành một  xưởng lớn luôn luôn có từ từ 5 đến 25 nhà điêu khắc phụ tá và hàng chục học trò, thi sĩ danh tiếng Rainer Mania Rilke cũng từng  là thư ký riêng của ông. Và nhiều người cộng tác với ông trở thành những nhà điêu khắc danh tiếng như Antoine Bourdelle, Camille Claudel, Jean Escoula, Bertrand-Jacques Barthélemy, Louis Mathet, Victor Péter, David Lasksine... Năm 1901 nhân L’Exposition Universelle de Paris, Hội Chợ Triễn Lãm Hoàn Cầu tại Paris, người ta đã dành một cung văn hóa riêng Pavillon Rodin tại gần cầu Alma, để chưng bày toàn tác phẩm của ông. Mối quan hệ giữa Rodin và Hàm Nghi được trân trọng gìn giữ tại khu lưu niệm các kỷ vật Rodin có bức ảnh le Prince d’Annam của chính nhà vua tặng Rodin, đó là bức ảnh chúng ta thường thấy nhà vua khoảng 30 tuổi mặc áo dài khăn đóng. Mỗi lần có thân hữu từ trong nước sang như nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu... sang chơi Paris tôi thường đưa đến xem nơi này.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

PHẠM TRỌNG CHÁNH - HOÀNG HẠC LÂU, QUA THI CA CÁC SỨ THẦN NƯỚC NAM: NGUYỄN DU, PHẠM SƯ MẠNH, LÊ ANH TUẤN, NGUYỄN TÔNG KHUÊ, LÊ QUÝ ĐÔN, PHAN HUY ÍCH, ĐOÀN NGUYỄN TUẤN, NGÔ THỜI VỊ, PHAN THANH GIẢN.


Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam có bờ đá lớn, ông cho xây lầu cao làm đài quan sát. Về sau đời Đường có chuyện Phí Vân Vi cỡi hạc về đây nghỉ nên lầu có tên là Hoàng Hạc Lâu và trở thành một thánh tích của Đạo Lão. Lầu xưa chỉ có 3 tầng cao 20 mét rộng 30 mét. Lầu trải qua 12 lần tu sửa qua các triều đại, năm 1884 đời Quang Tự thứ 10 bị phá hủy. Năm 1957 cầu Trường Giang xây dựng, chân cầu chiếm vị trí này. Năm 1981, lầu Hoàng Hạc được xây dựng lại, nguy nga 5 tầng lầu cao 51, 4 mét dời cách vị trí cũ một cây số. Trước lầu có hai câu  đối : Sảng khí tây lai, vân vụ tảo khai thiên địa hám. Đại ngư đông giang khứ, ba đào tẩy tịnh cổ kim sầu. dịch : Hơi mát từ hướng Tây đến, mây mù quét sạch mở ra lay động đất trời. Sông lớn chảy về đông, sóng gió theo dòng rửa sạch cả nỗi sầu kim cổ. Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thi ca Trung Quốc, lại càng nổi tiếng hơn khi Thi hào Lý Bạch viết : « Trước mắt có cảnh không tả được. Vì thơ Thôi Hiệu ở trong đầu. »

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH - NGUYỄN DU TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐỖ PHỦ


Khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, Nguyễn Du đang thăm mộ Đỗ Phủ tại Lỗi Dương, Trung Quốc, khi Nguyễn Du đến Tín Dương, Hà Nam thì « Ngọn gió Tây Phong làm rung động cả đất Bắc », câu thơ « Tây phong biến dị hương » bài Tín Dương tức sự cho ta biết sự kiện này. Một đoàn quân 290 000 người bại trận của Tôn Sĩ  Nghị, bao nhiêu người không về, bao nhiêu vợ góa, con côi. Nhân dân Trung Quốc đang lầm than khốn khổ vì nạn vơ vét lính tráng ra chiến trường, thóc lúa dành cho ngựa tốt, cho đội quân viễn chinh, dân chúng phải ăn cám, nay bao nhiêu xương trắng nơi chiến trường Đống Đa, Ngọc Hồi, Hà Hồi, cầu phao đứt, xác quân  Thanh làm tắc  nghẽn cả sông Hồng. Nguyễn Du từ Trung Quốc đang sống với tâm sự giống như thời đại của Đỗ Phủ.