Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vy Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vy Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

Nguyễn Vy Khanh: Cung Tích Biền - Nhà Văn Việt Nam Hải Ngoại (Tiếp theo và hết)

Ở Hàn Chính Khúc phát triển thuyết lý “minh biện” về Mùi: “Có phải vì mùi mà có những cái chết kia không? Có phải vì thương yêu mà kẻ thân yêu bị tàn sát? Và muốn trọn vẹn nên phải nhai nuốt cái đau thương mang hình hài kia không?”. Nhân vật “tôi” thì nghĩ rằng: “Như thế, "không đành lòng" thì phải giết người sao? Tôi đồng ý rằng khác mùi thì khó thể hòa đồng, mùi vô sản hay tư bản? Tôi hiểu, tôi chia xẻ cái tang chế bất khả tư nghị của người cha giết vợ. Nhưng luân lý đã đóng đinh lên thuờng hằng, rắng anh có quyền tự hủy nhưng không có quyền hủy một con người. Cái quan điểm xem con người là phương tiện, hay giải pháp e rằng không nhân văn tí nào. Cứ lùa người vào chỗ chết hàng loạt, cứ cứu cánh biện minh cho phương tiện, cái đó chúng ta hình dung ra sức mạnh của một bọn dã thú” (tr. 164).

Theo Cung Tích Biền, “Nỗi đau đã biến thành Mùi”: “Mùi Mậu thân tre trúc che chắn. Nhưng chiếc mành thời gian không lọc được mùi. Tàn tật có thể hàn gắn. Chết chóc có thể giải thích. Mùi, nó nghìn thu”. Và “Mùi Tự do bị thiêu cháy” gây hoang mang “Tự do bị thiêu cháy. Nó là ánh-sáng-mùi tệ hại nhất trong vạn mùi. Nó ở mãi với bao la” (tr. 165, 167). 

Miền Nam đã trở thành “cái lồng cu ngột ngạt” và cuối chuyện thêm một xác người phân mảnh, được xem như một “cuộc trở về – không là tái sinh - của Nàng khá ly kỳ. Cái đầu, chỗ công viên, về trước. Hai cánh tay thiếu bàn tay về sau một chút. Một ngày rưỡi sau Nàng về tạm đủ nhưng còn thiếu quả tim. Hai bàn chân về sau cùng. Nàng chậm chạp và khiếm khuyết như Lịch sử. Cái được gọi là Lịch sử giống nòi tôi luôn là một bất toàn cho bất cứ ai, và luôn là một Mong Đợi Hạnh phúc cho tới giờ nhắm mắt mỗi đời người...” (tr. 180). 

Ở Cung Tích Biền, văn-chương về cái Chết là một thứ văn không yên ổn, vì con người bị bứng ra khỏi đất, từ một thế giới chuyển qua thế giới khác, cõi sống/cõi chết, từ một hiện hữu bình thường đổi sang một thể-trạng không thể định nghĩa, từ "to be" sang "not to be" ("đổi sang từ trần"). Cái Chết nói chung xưa nay vẫn là mối kinh hoàng, là nỗi sợ chính của con người : sợ cõi lạ, cõi hư vô không thể biết vì không thể có kinh nghiệm khi sống, khi còn ở một trạng thái trước, khác. Tuy từng được xem là một cấm-kỵ, nhưng tabou cái Chết không là một đối tượng, mà là một thứ trực giác, cảm nghiệm cá nhân. Cái Chết là một biểu tượng, là một chấm dứt; nhưng vì không phải là mục-đích tự thân, cái Chết không phải là hết, là kết thúc một cuộc đời hay cái gì, mà là một bắt đầu khác, một sự sống khác tùy theo cách cắt nghĩa của các tín ngưỡng, tin tưởng (Thiên đàng, Vương quốc trí tuệ, Trí huệ, Cõi sống đích thực!). 

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

Nguyễn Vy Khanh: Cung Tích Biền - Nhà Văn Việt Nam Hải Ngoại

Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Động viên học Trường Sĩ quan Thủ Đức năm 1963, ra trường đồn trú ở Cần Thơ, Bạc Liêu, Hậu Nghĩa và Tây Ninh. Giải ngũ năm 1973, cấp bậc Đại úy. Từng ký Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh và cuối cùng bút hiệu Cung Tích Biền - xuất hiện lần đầu trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 (truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi). 

Sau 1975, Cung Tích Biền ngưng viết 12 năm, năm 1987 ông sáng tác trở lại. Trong nước đăng truyện trên Cửa Việt, Sông Hương, và gửi ra ngoài nước đăng tác-phẩm đầu tiên với Hợp Lưu (Dị Mộng, Qua Sông, Thằng Bắt Quỷ 1991,..), rồi 20 truyện Xứ Động Vật đăng trên liên mạng Da Màu Văn chương Không Biên giới năm 2008, rồi Nhật báo Người Việt [California] tiểu thuyết Mùa Hạ đăng từng kỳ, 194 số nhật báo năm 2012, v.v. 

Từ 2007, lúc còn trong nước, trước khi dứt khoát định cư ở Hoa-Kỳ tháng 10-2016, ông đã tự xuất bản tác phẩm của mình - ông gọi là “đẻ chui”, qua hình thức in chụp dưới “bảng hiệu” Một Mình. 

Tác-phẩm đã xuất-bản sau 1975 và ở hải ngoại: Thằng Bắt Quỷ (Tân Thư, 1993), gồm 11 truyện ngắn trước và sau năm 1975; Xứ Động Vật “tân truyện” (Nhân Ảnh, 2018) và tập truyện ngắn Mùa Xuân Cô Mơ Bay (Thao Thao, 2019).

*

Cung Tích Biền, công dân của miền Nam với thân phận đi giữa hai lằn đạn - ông có hai người anh, một “anh là Cộng sản chết không mồ, em là Quốc gia chết không tìm ra xác” (người tập kết, người bị tù “cải tạo”, hai cái chết đều do Cộng sản Hà-Nội gây ra!). Trước 1975, ông từng bị nghi ngờ nếu không vì xuất thân từ vùng kháng chiến chống Pháp thì cũng vì gia đình ông, cũng như nhiều người khác có anh em ở chiến tuyến đối nghịch; đời sĩ quan của ông không hanh thông, từng bị chỉ định nơi cư trú và giải ngũ sớm. Nạn nhân cả sau biến cố 30-4-1975, ông đã phải chịu đựng và câm lặng hơn 30 năm. Nhưng dù muốn dù không, Cung Tích Biền cũng đã chứng kiến nhiều cảnh bạo lực, “nhân tình éo le” và chướng tai gai mắt. 

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Nguyễn Vy Khanh viết về Trần Văn Nam

Nhà thơ và lý luận văn học sinh ngày 18 - 11 - 1939 tại Bến Tre, trước 1975 là giáo sư Việt Văn và Triết tại miền Tây, Trần Văn Nam sớm có bài đăng trên Nhân Loại (thơ Phương Ấy, về Thị Thành, Sơn Cước, ...), rồi Văn, Văn-Học, Nghệ Thuật, Khai Phá, Văn Khoa, Đối Thoại, Trình Bầy, Vấn-Đề, Thời Tập,báo Dân Chúng, ...Tác-giả tập nhận định Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ - Phụ Tập: Thơ Và Triết Học- Trường Ca Của Dòng Sông Xuyên Á (TGXB, 1966 - 32 tr.). Tư tưởng, lý luận theo khuynh-hướng hiện sinh: Tập Thơ Độc Nhất (thơ và triết học; Trình Bầy 1963) và Tập Thơ Bổ Khuyết (TGXB, 1963) - trong cả hai tập, Trần Văn Nam đã áp dụng triết-học Hiện-sinh vào thi ca và văn-chương, thi ca ở đây được xem như là phương tiện đến với triết lý đồng thời như là mục-đích của cả triết lý lẫn thi ca đồng thời ông đã thử đưa vào thi ca những ý niệm/nhận thức siêu hình về con người[X. Chương Thi Ca).

Trong Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ, ông đã đặc-biệt có những quan sát và nhận định về sinh hoạt văn-học ở miền Nam: Dư vang văn-nghệ lãng-mạn tiền chiến và văn-nghệ chiến khu, Văn-nghệ khởi lên từ cuộc di cư, Văn-nghệ mới với nhóm Sáng-Tạo, Thời kỳ văn-chương và siêu hình học, Văn-nghệ sau ngày 1-11-1963 và cuối cùng, Đường đi của hơn 10 năm văn-nghệ. Ông đã sớm có cái nhìn về giá trị văn-chương của các sản phẩm xuất-bản và đã nhận định về thời 1965- 66: ”... văn-chưong đang tìm về nghệ-thuật muôn đời, văn-chương đang tìm vềước vọng của con nguời ngàn năm, văn-chương đang tìm về Viễn Mơ thanh bình chứ không phải hiện thực xã-hội...” và ông đã khẳng định rằng “không” cho câu hỏi “tác-phẩm vị nhân sinh nào tồn tại đến bây giờ?”.Và Triết học Tây phương đã và đang hướng về phía Đông, “trở về tâm giới, được coi nhưmột cuộc hành hương trở về quê nhà”, thì nghệ- thuật cũng vậy, “sau những quyến rũ của danh nghĩa viết bằng chữ hoa; những danh từ kêu lới: Vị nhân sinh, nhân bản, Dấn thân, Đầu thế, Triết lý, Siêu hình, văn-nghệ đã trở về ngôi nhà đích thực của mình đã bỏ quên là nghệ-thuật thuần túy. Nghệ-thuật là cái Đẹp sau những phong ba của thực tế; cũng nhưcon chim kêu ghềnh núi không hẳn là tiếng kêu thương thảng thốt mưusinh, mà có khi là tiếng kêu ca ngợi cuộc đời. Hành trình trở vềnhà của văn-nghệ không phải là một con đường vạch sẵn do một lý thuyết hướng dẫn, mà là con đường lần mò do sự kiện văn-nghệ diễn tiến phô bày lần lượt trong hơn 10 năm văn-nghệ ...”(tr. 15-16) - đó cũng là lý do mà bản đăng tạp-chí Văn Họccó tựa “Văn Nghệ Đã Đi Về Đâu? Lược trình văn-học sử kể từ 1954, và viết theo lập trường vị nghệ-thuật”!