Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2022

Nguyễn Văn Tuấn: Người tù cao tuổi nhứt trên thế giới

Theo RFA, “Toà án huyện Đức Hoà, Long An đã ký quyết định thi hành bản án hình sự với ông Lê Tùng Vân, người đứng đầu cơ sở tu tại gia Tịnh thất Bồng Lai (sau đổi tên Thiền am bên bờ vũ trụ). 

Truyền thông nhà nước trong ngày 16/12 cho hay bà Trần Thị Kim Thảnh, Chánh án Toà án nhân dân huyện Đức Hoà vừa ký ban hành quyết định về việc thi hành án hình sự đối với ông Lê Tùng Vân (90 tuổi, ngụ số 191A ấp Lập Thành, xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, Long An)…”( “Vụ Tịnh thất Bồng Lai: Thi hành án hình sự với ông Lê Tùng Vân”, RFA). 

Xin nhắc lại, trong phiên tòa phúc thẩm ngày 3.11.2022, tòa án Long An đã tuyên y án 6 thành viên tại Thiền am Bên bờ Vũ trụ tổng cộng 23, 5 năm tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, trong đó ông Lê Tùng Vân nặng nhất, 5 năm tù.

Nhưng ngày 19.12, báo chí nhà nước đưa tin “Ông Lê Tùng Vân xin hoãn thi hành án vì 'không đủ sức khỏe để đi tù': “…Trong đơn đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, ông Vân cho biết năm nay đã "91 tuổi tây, 92 tuổi ta, tuổi già, sức yếu, thân mang nhiều bệnh tật kinh niên: tăng huyết áp, đái tháo đường, thiếu máu mạn, hẹp mạch vành, viêm loét dạ dày…".


Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

Nguyễn Văn Tuấn (Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales): Chuyện của Thủ tướng Anh

Chúng tôi vừa có cuộc họp bàn về logo cho một trung tâm nghiên cứu mới. Vừa nhìn thấy, một Giáo sư buông bình luận gọn lỏn: “Too white” (Trắng quá!).

Trong khi mọi người đang tìm hiểu anh ấy nói gì, tôi nhận ra rất rõ. Logo được thiết kế tinh tế, có hình những người già trong nhà dưỡng lão, nhưng tất cả đều là người da trắng. Ý của Giáo sư (một người Australia da trắng) là logo này không đáp ứng tính đa dạng hóa mà chính phủ đang kêu gọi.

Đa dạng hóa ở đây nghĩa là ghi nhận, tôn trọng, và đánh giá đúng những đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng, mà không quan tâm đến các yếu tố như sắc tộc, tôn giáo, độ tuổi, hay giới tính của họ. Đa dạng hóa, nếu làm đúng, là một động lực quan trọng giúp phát triển xã hội, bởi vì mọi người đều cảm thấy mình thuộc về cộng đồng (chứ không phải người ngoài cuộc).

Ở các nước như Mỹ, Australia, Canada, Anh… trào lưu đa dạng hóa được đặt ra từ hơn 20 năm qua. Theo đó, chính phủ muốn có sự hiện diện bình đẳng của các thành phần xã hội trong tất cả thiết chế chính trị, xã hội, khoa học, giáo dục, và doanh nghiệp. Đa dạng hóa là một cách nói cho thế giới biết rằng "chúng tôi là một quốc gia văn minh và dung nạp".

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Nguyễn Văn Tuấn: Việt Nam có gì mới? Việt Nam có gì đáng ngạc nhiên? (*)

Nhiều bạn hỏi tôi Việt Nam có gì mới, và câu trả lời là Việt Nam lúc nào mà chẳng mới, nhưng ngạc nhiên mới là điều đáng nói.

Cái mới? Nhiều lắm và phải là như thế. Làng quê ngày nay có nhiều nhà mới, được xây dựng khang trang hơn xưa, và đó là tín hiệu cho thấy người dân làm ăn khấm khá hơn hay ít ra là điều kiện kinh tế khá hơn xưa. Hồi xưa, trong làng tôi, hễ nhà nào mới xây thì xác suất cao là có ‘yếu tố nước ngoài’ (tức tài trợ của Việt kiều). Ngày nay thì nhà mới xây có yếu tố nội địa, chủ yếu là tài trợ từ các công nhân ở Bình Dương và các khu công nghiệp. Có thể nói rằng sự đổi mới ở miệt quê miền Tây có sự đóng góp rất lớn của các ‘kiều dân’ ở Bình Dương.

Thời gian đi từ Sài Gòn về Cần Thơ chỉ còn 3 tiếng đồng hồ, hay từ Sài Gòn đi Rạch Giá nay còn 4 tiếng đồng hồ (xưa kia là 6-7 tiếng). Như vậy là mới rồi, là có tiến bộ rồi. Đáng lí ra, con đường Sài Gòn - miền Tây phải được ưu tiên xây dựng từ những 30 năm trước. Chẳng hiểu sao người ta làm chậm như thế, và hậu quả là kéo dài cái nghèo và sự thiệt thòi của người dân miền Tây. Tuy nhiên, người dân thì thường có kí ức ngắn hạn, nên ít ai nhớ đến ai đã làm cho miền Tây tụt hậu.

Đi khắp nơi Việt Nam, ai cũng có thể thấy đây là một đất nước ‘dynamic’ / năng động. Những dòng xe tải xuôi ngược khắp mọi nẻo đường cao tốc và quốc lộ là một tín hiệu tích cực rằng nền kinh tế phục hồi sau đại dịch Covid. Nhiều người ở vùng quê đã có thể mua xe hơi làm kinh doanh. Con lộ cao tốc đã mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế ở miền Tây.

Tính năng động còn thấy ở giới trẻ ngày nay: họ sáng sủa hơn thế hệ tôi, họ có nhiều thông tin hơn, họ nhanh nhẹn hơn, và họ tự tin hơn. Nếu có cái gì họ thiếu thì có lẽ là đạo đức xã hội và kiến văn. Họ lao vào kiếm tiền bằng mọi phương tiện và cơ hội, có khi làm tiền bất kể hậu quả ra sao. Họ có vẻ đọc nhiều nhưng hiểu không sâu. Một ‘bộ phận’ trong giới trẻ (kể cả bọn có học và cả sư sãi trong chùa) bị nhồi sọ quá nặng nề, không còn phân biệt được chánh tà trong lịch sử nữa. Những người này hay đổ thừa chiến tranh, Mĩ, Tàu, v.v. về sự yếu kém của mình, mà họ không nhìn lại cái thực tế là mình... dở.

Trong giáo dục tính năng động còn thể hiện rõ, nhứt là ở các trường đại học tư. Hôm gặp một anh lãnh đạo của Đại học Văn Lang, anh ấy nói một câu tôi ‘rất chịu’. Ảnh nói các đại học tư — chứ không phải đại học công lập — sẽ dẫn đầu trong việc cải cách giáo dục. Rất đúng. Tôi nghĩ các đại học công có lợi thế là ‘con ruột’ của Nhà nước, được ưu tiên đủ thứ, nhưng họ bị ràng buộc bởi những điều lệ rất buồn cười. Có đại học công muốn lót gạch một giảng đường mà phải xin phép từ… bộ chủ quản! Còn chuyện hợp tác với nước ngoài thì các đại học công nói chung rất chậm và khó làm gì thông thoáng được do nhiều qui định, mà mỗi nơi hiểu qui định theo cách của họ, chẳng ai giống ai. Các đại học tư không có những ràng buộc đó, nên họ năng động hơn các đại học công.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

Nguyễn Văn Tuấn: Đọc hồi kí "Sống và Viết ở Hải Ngoại" của Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc là một nhà phê bình văn học xuất sắc ở hải ngoại. Mới đây, anh cho xuất bản cuốn hồi kí nhan đề "Sống và Viết ở Hải Ngoại" với nhiều 'tiết lộ' mang tính chứng từ của một thời, kể cả tiết lộ về chuyện anh không được về Viêt Nam. Cái note này muốn giới thiệu cuốn hồi kí đến các bạn. 

Nguyễn Hưng Quốc (tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn) được biết đến như là một nhà phê bình văn học ở hải ngoại.Vào cuối thập niên 1980s, Nguyễn Hưng Quốc xuất hiện trên văn đàn hải ngoại một cách sáng chói vì anh đem lại một luồng gió mới trong phê bình văn học. Những ai đã chán với cách phê bình văn học theo cảm tính về một tác phẩm, nhiều sáo ngữ về bối cảnh, và  nghiêng về những câu chuyện cá nhân tác giả, đột nhiên tìm thấy một cách phê bình văn học mới mẻ, có phương pháp luận rõ ràng, có khoa học tính, và có khi cả định lượng. Trước đây, đã có một nhà phê bình nổi tiếng là Đặng Tiến ở Pháp, nay chúng ta có thêm một Nguyễn Hưng Quốc. Nhà văn Võ Phiến cho rằng "Người xứ An Nam ta chưa có nhà lí luận văn học nào mà viết đẹp như Nguyễn Ngọc Tuấn. Nhiều đoạn đọc mà mê." Quả đúng như vậy. 


Nhưng trong thế giới khoa bảng, Nguyễn Ngọc Tuấn còn là một nhà nghiên cứu và giảng viên môn Việt Học tại Đại học Victoria (Úc) và có nhiều đóng góp đáng kể cho việc duy trì môn Việt Học ở Úc. Anh từng được Hội đồng Nghiên Cứu Khoa học Úc (ARC: Australian Research Council) cấp tài trợ cho nghiên cứu về tiếng Việt và văn học Việt. Cần nói thêm rằng ARC chỉ tài trợ cho những nhà nghiên cứu có hạng và có tiềm năng. Sự thành công trong việc được ARC tài trợ là một minh chứng về khả năng học thuật của Nguyễn Hưng Quốc. 


Cho đến nay, Nguyễn Hưng Quốc đã xuất bản khoảng 20 cuốn sách, kể cả sách tiếng Anh. Có thể nói cuốn nào của anh ấy tôi đều đọc và rất thích. Những cuốn mà tôi rất tâm đắc (như Thơ, v.v… và v.v…, Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản), và từng có bài giới thiệu (nhưSống với chữ). Theo tôi biết cuốn "Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản" -- tuy cái tựa đề mang tính 'dữ dội' nhưng thật ra là một tổng quan rất công phu và tuyệt vời -- được các nhà văn và nhà nghiên cứu văn học trong nước rất thích. 


Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2022

Nguyễn Văn Tuấn: Ông Tô Văn Lai (1937 – 2022) ‘đi mang theo quê hương’

Ông Tô Văn Lai (1937 – 2022), người sáng lập Trung tâm Thuý Nga. Ảnh của báo Người Việt.

Ông Tô Văn Lai, một trong những người có ảnh hưởng lớn đến đời sống âm nhạc và văn hoá ở hải ngoại, mới qua đời ở tuổi 85. Ông để lại cho đời một sân khấu mang tên ‘Thuý Nga Paris by Night’ như là một tài sản tinh thần của hàng trăm triệu khán giả trong và ngoài nước.

 Kỉ niệm những ngày đầu xa quê

Dạo đó (đầu thập niên 1980s), tôi mới định cư ở Úc và quần quật làm lại cuộc đời ở quê hương mới, nên ít khi nào chú ý đến nhu cầu văn nghệ. Bạn bè gặp nhau ngày cuối tuần thì chủ yếu là ăn uống và ca hát theo kiểu ‘cây nhà lá vườn’. Người cầm đờn, kẻ nghêu ngao ca hát những ca khúc nổi tiếng thời trước 1975 hay những ca khúc thương nhớ về quê nhà mà chúng tôi nghe được từ bên trại tị nạn. Đời sống âm nhạc và văn hoá của người Việt xa xứ thời đó chỉ có vậy.

Video ca nhạc “Paris by Night” đầu tiên của Trung tâm Thuý Nga phát hành vào năm 1983.


Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn được vinh danh trong Nghị Viện tiểu bang New South Wales, sau khi được trao “Huân chương Australia”

 Qua lời trần thuật và bản dịch của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn

Tôi rất hân hạnh được biết rằng tháng vừa qua, trước Nghị Viện tiểu bang New South Wales, hai Dân biểu Tania Mihailuk và Wendy Lindsay có lời vinh danh những đóng góp của tôi cho đất nước này. Sự việc cũng rất là tình cờ (vì tôi không được báo trước) nhưng làm mình xúc động về tấm thịnh tình của hai bà dân biểu mà tôi chưa bao giờ gặp ngoài đời. 

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trong dịp được bầu vào Viện Hàn lâm Y học năm 2019. Bên trái là Gs Ian Frazer, Chủ tịch Viện Hàn lâm Y học.


Hôm 1 tháng 3, tôi nhận được một cú điện thoại từ cô thư kí của bà Tania Mihailuk nói rằng bà ấy đã có lời phát biểu gọi là “Statement of Recognition” trước Hạ nghị viện về những đóng góp của tôi cho y học và giáo dục đại học của Úc. Cô ấy còn nói thêm là bà ấy sẽ kí một bằng khen cho tôi. Nghe thật cảm động, và tôi cũng chẳng biết nói gì ngoài lời cảm ơn. Hôm sau, một ông phụ tá cho dân biểu Wendy Lindsay gọi điện báo cho biết là bà cũng đã có một phát biểu vinh danh tôi trước Hạ nghị viện về dịp tôi được trao Huân chương Australia. Lại thêm một giây phút cảm động và cảm ơn rối rít. Sự vinh danh này được ghi trong ‘Hansard’ (giống như biên bản vĩnh viễn của Nghị Viện). Lời phát biểu của hai vị dân biểu đã được tôi dịch sang tiếng Việt và đăng dưới đây.


Nguyễn Văn Tuấn: ĐIỂM SÁCH Tuyển tập II Chân dung Văn học Nghệ thuật và Văn hóa của Ngô Thế Vinh


"Tuyển tập II - Chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa" là một công trình mới của Nhà văn Ngô Thế Vinh, giới thiệu 15 văn nghệ sĩ và nhà văn hóa thành danh thời trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. Những tác phẩm, chân dung và chứng từ trong tuyển tập này minh chứng cho một nền văn nghệ nhân bản, năng động và đột phá đã bị bức tử sau biến cố 30/4/1975. Do đó, tuyển tập là một nguồn tham khảo quý báu về di sản của nền văn nghệ và giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa.


*


Để cảm nhận đầy đủ ý nghĩa của Tuyển tập này, cần phải điểm qua diễn biến của nền giáo dục và văn nghệ miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa trước và sau 1975. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chỉ tồn tại vỏn vẹn 20 năm. Nhưng trong một quãng thời gian tương đối ngắn ngủi đó, VNCH đã để lại một di sản quý báu về một nền giáo dục mà ngày nay có người 'tiếc nuối vô bờ bến'. Nền giáo dục VNCH được xây dựng trên ba trụ cột Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Nhân Bản là lấy con người làm gốc, là cứu cánh chứ không phải phương tiện của đảng phái nào. Trụ cột Dân Tộc là nền giáo dục đó có chức năng bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc. Trụ cột Khai Phóng là nền tảng để nền giáo dục tiếp nhận những thành tựu và kiến thức khoa học kỹ thuật trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ và các giá trị văn hóa nhân loại, giúp cho Việt Nam hội nhập thế giới.



Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2021

Nguyễn Văn Tuấn: Lịch sử “Dư luận viên”

Mạ Thủ 罵手


Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi, giống như “dư luận viên” ngày nay. Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

“Mạ Thủ” - Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có một việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhất nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

Tàu ngày xưa là nơi sản sinh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, nhưng họ mang một danh xưng văn hoa hơn: dư luận viên. Tiếng Hoa là "wumao". Báo chí phương Tây gọi họ là "50 cent Army" ("Lực lượng 50 cent"). Tại sao là '50 cent'? Tại vì mỗi mạ thủ được trả lương 50 cent cho mỗi 'bình luận' họ viết trên mạng.

Ai là những mạ thủ thời nay? Theo nghiên cứu của GS Gary King (ĐH Harvard), họ là những nhân viên, cán bộ của Nhà nước. Nhưng họ không phải cán bộ bình thường, mà phải qua một quá trình tẩy não sao cho họ không còn khả năng suy nghĩ một cách logic. Nói tóm lại, bọn mạ thủ là những kẻ không có khả năng đánh giá đúng sai, họ chỉ đơn giản là những cái máy phun ra những câu chữ mà có khi họ không hiểu.

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

Nguyễn Văn Tuấn: "Hiệu quả vaccine" là gì?

Thật ra, tôi đã trả lời câu hỏi này vào năm ngoái khi vaccine Pfizer mới công bố dữ liệu giai đoạn 3 [1]. Nhưng nhân vài bạn hỏi ý nghĩa của 'hiệu quả vaccine' (qua việc công bố của Nanovax) nên tôi xin chia sẻ thêm vài ý cho rõ.

Câu hỏi đặt ra là vì báo VNexpress có chạy bản tin "Nanocovax đạt hiệu quả bảo vệ 90%" [2].


Một ví dụ về hiểu lầm hiệu quả vaccine.

Vậy hiệu quả bảo vệ 90% có nghĩa là gì, có giống như hiệu quả vaccine của Pfizer hay Moderna không? Tôi nghĩ câu trả lời là 'không', bởi vì nhà báo (?) dùng chữ kém chính xác.

Chữ 'Hiệu quả vaccine' là lấy từ thuật ngữ 'Vaccine Efficacy' (VE) trong tiếng Anh. Để tính VE, người ta phải làm thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III. Còn nghiên cứu của Nanocovax hiện nay là giai đoạn II (giai đoạn III thì chưa xong). Mà, nghiên cứu giai đoạn II chưa cho phép chúng ta nói gì về 'hiệu quả vaccine' cả.

Hiệu quả vaccine là gì?

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2021

Nguyễn Văn Tuấn: Đọc “Sống Với Chữ” Của Nguyễn Hưng Quốc

Tôi rất hân hạnh giới thiệu đến các bạn cuốn sách 'Sống với chữ' của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc. Theo tôi, đây là một trong những cuốn sách hay nhứt về tiếng Việt và viết văn Việt.

'Sống với chữ' thật ra đã được xuất bản lần đầu vào năm 2004, nhưng tôi chưa có dịp đọc lúc đó. Mười bảy năm sau, trong lần tái bản này, sách đã có thêm nhiều bài mới và tôi may mắn đọc được. Trong mùa 'lockdown' này, ai cũng có thì giờ đọc sách một cách thanh thản để cảm nhận, và dưới đây là những gì tôi có thể chia sẻ cùng các bạn về 'Sống với chữ'.

Nội dung sách được chia làm 2 phần: phần đầu bàn về tiếng Việt, và phần hai viết về những nhà văn hay tác gia nổi tiếng như Phan Khôi, Mai Thảo, Võ Phiến, Võ Đình, Lê Thành Nhơn, Phạm Công Thiện, và Nguyễn Xuân Hoàng. Tôi thích cả hai phần. Tác giả là một nhà phê bình tinh tế, đưa ra những nhận xét làm cho người đọc cảm nhận được cái đẹp của tiếng Việt và cái hay của những người lao động chữ nghĩa. Đọc bài nào trong sách cũng thấy mình học được một điều mới, không chỉ mới mà còn thú vị, và nhứt là cách diễn giải cũng lạ và thách thức người đọc.

Đa số chúng ta (người Việt) viết và nói tiếng Việt một cách gần như mặc định. Chúng ta thốt ra những câu nói hay viết ra những chữ một cách tự nhiên. Chúng ta ít khi nào phân tích cái đẹp, cái hay, hay cái dở của con chữ. Tác giả nói rất đúng là chúng ta ít khi nào có một cuốn từ điển tiếng Việt trong tủ sách để tham khảo, có lẽ vì chúng ta nghĩ đã quá rành với tiếng Việt.

Chính vì sự chủ quan mặc định đó mà đa số chúng ta viết tiếng Việt không hay, nói tiếng Việt càng có nhiều vấn đề. Các bạn chỉ cần đọc những bài luận văn của học sinh, sinh viên sẽ thấy họ dùng chữ khá tuỳ tiện, còn cấu trúc câu văn đều có vấn đề. Ngay cả đọc những người cầm quyền cao nhứt trong nước (hay những kẻ viết diễn văn cho họ) cũng có vấn đề về tiếng Việt: câu văn dài dòng, câu văn 'đong đưa', phi logic, dùng chữ sai, và có khi vô nghĩa. Đó là chưa nói đến những cách sáng chế ra những cách nói kì cục (theo tôi) như 'điều khiển phương tiện giao thông', 'di chuyển', hay đổi ý nghĩa của động từ (như 'liên hệ' thay cho 'liên lạc'). Có thể nói không ngoa rằng chúng ta đang góp phần làm cho tiếng Việt nghèo nàn hơn.

Nhưng để viết tiếng Việt đúng, chúng ta cần phải hiểu nghĩa của chữ. Và, trong thực tế thì nghĩa của chữ Việt có khi không đơn giản chút nào. Trong bài 'Tiếng Việt, dễ mà khó', tác giả chỉ ra một sự phân biệt làm tôi giật mình: 'nín thinh' và 'làm thinh':

Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021

Nguyễn Văn Tuấn: Những cuộc xâm lăng mềm (đọc sách "Hidden Hand" của Clive Hamilton và Mareike Ohlberg)

Hai tác giả Clive Hamilton và Mareike Ohlberg mới xuất bản một cuốn sách nhan đề “Hidden Hand” (Giấu tay), nối tiếp cuốn Silent Invasion. Nếu Silent Invasion viết về cuộc xâm lăng của Trung Cộng vào Úc, thì Hidden Hand là một công trình sưu khảo công phu về những cuộc xâm lăng và khuynh đảo của Trung Cộng vào hệ thống chánh trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, và truyền thông ở các nước phương Tây. Có thể xem đó là cuộc xâm lăng mềm, với tiền là phương tiện chánh. Đây là một cuốn sách hết sức thú vị, cung cấp rất nhiều thông tin mang tính mở mắt cho những ai quan tâm đến thời cuộc và sự ảnh hưởng của Trung Cộng trên trường quốc tế, kể cả Việt Nam. Bài điểm sách này sẽ điểm qua những nội dung chánh, và chia sẻ vài thông điệp chánh trong cuốn sách.

Ở Úc, tuần vừa qua xảy ra một biến cố chánh trị làm cho cuốn sách này trở nên tâm điểm của thời cuộc. Một Thượng nghị sĩ Úc tên Shaoquett Moselmane (gốc Lebanon) bị cảnh sát xét nhà riêng sau một thời gian bị cơ quan tình báo Úc ASIO điều tra về những mối liên hệ giữa ông với Đảng Cộng sản Tàu. Ông dân biểu đã là đối tượng được báo chí theo dõi về mối liên hệ giữa ông và Đảng Cộng sản Tàu. Từ năm 2018, ông và người phụ tá là John Zhang (gốc Tàu [Trương Ước Hàn 张约翰] [4]) có những phát biểu ủng hộ nhà cầm quyền Trung Cộng và chỉ trích những chánh sách cứng rắn của Úc đối với Trung Cộng.

Báo chí Úc cho biết nếu chứng cớ từ cuộc điều tra đầy đủ, ông dân biểu này có thể bị truy tố ra toà về tội giúp cho thế lực nước ngoài can thiệp vào chánh trường Úc. Nếu bị truy tố thì đây là trường hợp đầu tiên trên thế giới về sự can thiệp của nước ngoài vào chánh trường địa phương. Những gì diễn ra trong trường hợp của vị dân biểu này có thể nói là rất phù hợp với những chiến lược gây ảnh hưởng của Trung Cộng trong các thể chế dân chủ ở phương Tây.

Chiến tranh Lạnh


Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Nguyễn Văn Tuấn: Đọc sách "Mặt trận ở Sài Gòn" của Ngô Thế Vinh

Mặt trận ở Sài Gòn là một tuyển tập 12 truyện ngắn của Nhà văn Ngô Thế Vinh viết về kí ức thời chiến tranh vào thập niên 1970s, chủ yếu ở vùng núi rừng Tây Nguyên. Tuy có nhiều chứng nhân trong cuộc chiến, nhưng tác giả là một chứng nhân hiếm hoi ghi lại một giai đoạn chiến sự khốc liệt qua các câu chuyện được hư cấu hoá. Điểm đặc biệt của tập truyện ngắn này là có phiên bản tiếng Anh do một học giả ẩn danh dịch, có lẽ muốn chuyển tải đến độc giả nước ngoài về cái nhìn và suy tư của người lính phía VNCH.

Hình bìa sách "Mặt trận ở Sài Gòn"
(có thể đặt mua qua amazon.com)

Tập truyện ngắn được sáng tác từ những năm chiến tranh trong thập niên 1960s và 1970s, và thập niên 1990s sau khi tác giả đã định cư ở Mĩ. Có truyện viết từ trước 1975, nhưng sau này ra hải ngoại tác giả viết tiếp. Đó là những câu chuyện về những lần giáp trận với những người anh em bên kia chiến tuyến, những trận mưa bom đạn từ trên không, và những cái chết không toàn thân của biết bao người lính của cả hai bên chiến tuyến. Đó là những câu chuyện về những người lính khi ra trận thì gan dạ, can trường, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng sâu thẳm trong nội tâm thì đầy trăn trở về thời cuộc và giàu nhân văn tính. Ngay cả trong bộ đồ rằn ri xem ra dữ dằn, nhưng qua hành vi và cách nói thì họ chỉ là những thư sinh nho nhã, đôn hậu. Hay như người y tá trưởng được lưu dung sau 1975 trong Tổng Y Viện Cộng Hoà vẫn cần mẫn chăm sóc cho những người lính bên kia chiến tuyến để rồi cũng bị sa thải về quê và sống trong nghèo nàn, đau khổ. Trong tác phẩm này, Ngô Thế Vinh viết về những cuộc hành quân trên vùng rừng núi Cao Nguyên, qua Campuchia, về thành phố Sài Gòn. Những nơi họ đã đi qua để lại nhiều kí ức và những suy tư về thời cuộc và quê hương, về thân phận tuổi trẻ và tương lai.

Có những suy tư được bộc lộ rất thật, như trong truyện Mặt trận ở Sài Gòn mà tác giả lấy làm tựa đề quyển sách. Thật ra, truyện này đã được đăng trên tạp chí Trình Bầy số 34 trước 1975, và đã làm tác giả gặp rắc rối với chánh quyền VNCH lúc đó. Trong Mặt trận ở Sài Gòn, tác giả thuật lại một nhóm lính biệt cách từ rừng núi Tây Nguyên về nơi phồn hoa Sài Gòn, như là những kẻ về từ 'cõi chết'. Họ phải đối diện với những phong trào sinh viên biểu tình phản chiến, và bị dằng co một bên là lí tưởng xã hội và một bên là nhiệm vụ bảo vệ sự ổn định của xã hội. Người lính chợt nhận ra rằng họ không chỉ đối diện với cái chết trong rừng sâu núi thẩm, mà còn trực diện với một trận tuyến xã hội với quá nhiều bất công và thối nát. Đó là một "xã hội trên cao, lộng lẫy sáng choang và thản nhiên hạnh phúc" ở những người miệng thì kêu gào chiến tranh nhưng họ lại đứng ngoài cuộc chiến. Vậy thì người lính bảo vệ cái gì đây. Không lẽ bào vệ "cho một con thuyền xã hội xa hoa ngao du trên dòng sông loang máu, nổi trôi đầy những xác chết đồng loại." Chiến trường của người lính bây giờ là ngay tại Sài Gòn này, nhưng họ là những chiến binh

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

Nguyễn Văn Tuấn: Những cuộc xâm lăng mềm (đọc sách "Hidden Hand" của Clive Hamilton và Mareike Ohlberg)

Hai tác giả Clive Hamilton và Mareike Ohlberg mới xuất bản một cuốn sách nhan đề "Hidden Hand" (Giấu Tay). Cuốn sách là một công trình sưu khảo công phu về những cuộc xâm lăng và khuynh đảo của Trung Cộng vào hệ thống chánh trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, và truyền thông ở các nước phương Tây. Có thể xem đó là cuộc xâm lăng mềm, với tiền là phương tiện chánh. Đây là một cuốn sách hết sức thú vị, cung cấp rất nhiều thông tin mang tính mở mắt cho những ai quan tâm đến thời cuộc và sự ảnh hưởng của Trung Cộng trên trường quốc tế, kể cả Việt Nam. Bài điểm sách này sẽ điểm qua những nội dung chánh, và chia sẻ vài thông điệp chánh trong cuốn sách.

Ở Úc, tuần vừa qua xảy ra một biến cố chánh trị làm cho cuốn sách này trở nên tâm điểm của thời cuộc. Một thượng nghị sĩ Úc tên Shaoquett Moselmane (gốc Lebanon) bị cảnh sát xét nhà riêng sau một thời gian bị cơ quan tình báo Úc ASIO điều tra về những mối liên hệ giữa ông với đảng cộng sản Trung Cộng. Ông dân biểu đã là đối tượng được báo chí theo dõi về mối liên hệ giữa ông và đảng cộng sản Trung Cộng. Từ năm 2018, ông và người phụ tá là John Zhang (gốc Tàu) có những phát biểu ủng hộ nhà cầm quyền Trung Cộng và chỉ trích những chánh sách cứng rắn của Úc đối với Trung Cộng.

Báo chí Úc cho biết nếu chứng cớ từ cuộc điều tra đầy đủ, ông dân biểu này có thể bị truy tố ra toà về tội giúp cho thế lực nước ngoài can thiệp vào chánh trường Úc. Nếu bị truy tố thì đây là trường hợp đầu tiên trên thế giới về sự can thiệp của nước ngoài vào chánh trường địa phương. Những gì diễn ra trong trường hợp của vị dân biểu này có thể nói là rất phù hợp với những chiến lược gây ảnh hưởng của Trung Cộng trong các thể chế dân chủ ở phương Tây.

Chiến Tranh Lạnh


Từ điển tiếng Anh định nghĩa Hidden Hand là thế lực gây ra những tác động tiêu cực. Hidden Hand cũng có thể hiểu là những người ở vào vị trí quyền lực cao nhứt nhưng giấu mặt. Hidden Hand cũng có thể là một hội ái hữu kiểm soát một mạng hội kín, và những hội kín này thực hiện những mệnh lệnh của thế lực cấp trên. Thường, những người thực hiện mệnh lệnh không biết ai là người ra lệnh.

Có lẽ mượn ý nghĩa đó, nên hai tác giả Clive Hamilton và Mareike Ohlberg (H&O) đặt tựa đề cho cuốn sách mới là Hidden Hand [1] để mô tả những hoạt động của Đảng cộng sản Trung Cộng (CCP) nhằm lũng đoạn chánh trường phương Tây và thiết lập một trật tự thế giới mới theo ý tưởng của những kẻ điều hành CCP, mà người đứng đầu hiện nay là Tập Cận Bình.

Tại sao Hidden Hand? Thật ra, đây là cuốn sách nối tiếp cuốn Silent Invasion (Cuộc xâm lăng thầm lặng) công bố vào năm 2017 mà tôi có điểm sách [2]. Silent Invasion viết về những chiêu trò xâm lăng vào Úc của CCP, còn Hidden Hand thì viết về cuộc xâm lăng của CCP vào các nước phương Tây. Cuộc xâm lăng này diễn ra trên tất cả lãnh vực, từ chánh trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, gián điệp, đến văn hoá.

Cứ mỗi lần Mĩ hay Úc nêu những hành động hung hãn của Trung Cộng ở Biển Đông (hay bất cứ nơi nào trên thế giới), thì phía Trung Cộng đều cho viên phát ngôn than phiền rằng Mĩ dùng ngôn ngữ thời Chiến Tranh Lạnh, là khơi dậy chủ nghĩa McCarthy. Mới đây, trong lúc mối quan hệ ngoại giao giữa Úc và Trung Cộng hơi căng thẳng, viên phát ngôn Tàu cũng nói rằng Úc hành xử như thời Chiến Tranh Lạnh.

Ngoài miệng thì than phiền như thế, nhưng về thực chất thì Trung Cộng đã thực hiện Chiến Tranh Lạnh từ … 30 năm trước. Theo H&O, Trung Cộng sau thời chế độ Xô Viết sụp đổ tự xem mình bị vây hãm bởi các kẻ thù, và những kẻ thù này cần bị đánh bại và vô hiệu hoá. Để đánh bại kẻ thù, CCP đã phát động một cuộc Chiến Tranh Lạnh từ thập niên 1990!

Trong Lời nói đầu, tác giả cho biết nhiều người trong giới trí thức ở phương Tây đánh giá thấp hay bác bỏ sự đe doạ của Trung Cộng đối với nền dân chủ phương Tây. Hai tác giả cho rằng đó chính là lí do tại sao họ viết Hidden Hand. Nói cách khác, tác giả muốn 'giáo dục' những ai còn ngây thơ với mối đe doạ từ Trung Cộng.

Sách bao gồm 13 chương, bàn những vấn đề về sự vận hành và tổ chức của CCP, cách thức mà nó tranh thủ vận động trong và ngoài nước qua mạng lưới công an và gián điệp, các biện pháp kiểm soát hệ thống truyền thông, các chương trình lũng đoạn thông tin ở phương Tây, và ý tưởng thay đổi trật tự thế giới. Nội dung chánh của sách chỉ chừng 270 trang, nhưng phần tham khảo và bị chú chiếm 130 trang, chứng tỏ tác giả đã đầu tư rất nhiều công sức và thời giờ vào việc soạn thảo cuốn sách.

CCP và những người bạn


CCP đã xây dựng hẳn một mạng lưới ảnh hưởng trên đất Mĩ từ thập niên 1970. Họ có khả năng và đã mua chuộc rất nhiều kí giả, nhà khoa học, học giả, thậm chí chánh trị gia và những nhà vận động làm việc cho họ. Cả Joe Biden và Donald Trump đều xem mình là "bạn" của Tập Cận Bình. Dưới thời Obama, Mĩ đã đứng khoanh tay nhìn Trung Cộng xây dựng những công trình quân sự trên Biển Đông, vì Obama cũng đánh giá thấp mối đe doạ của Trung Cộng. John Bloomberg, ứng cử viên phó tổng thống Mĩ, cũng có thể xem là một người bạn thân của Tập. Chẳng những các chánh khách, mà gia đình của họ (như gia đình của Donald Trump, con rể Jared Kushner và con gái Ivanka Trump) cũng là bạn thương mại với Trung Cộng. Trung Cộng đã có những người bạn như thế giúp cho họ đạt được những mục tiêu dài hạn.

Nhưng đừng tưởng rằng Trung Cộng xem mọi người bạn như nhau. Đối với CCP, cái gì cũng được phân nhóm, và bạn bè cũng được phân nhóm. Phân nhóm để có chánh sách đối phó và đối xử. Đối với người ngoại quốc, CCP chia thành 4 nhóm như sau:

· Nhóm 1 là những người bạn. Đây là những người đồng ý với và ủng hộ chủ trương của CCP hết mình. Họ thường được trích dẫn trên hệ thống truyền thông của TC;

· Nhóm 2 là những người bạn có thể tin được. Họ thường là những người trong giới doanh nhân mà CCP có thể dựa dẫm vào, nhưng không thể tin tưởng;

· Nhóm 3 là những học giả và giới kí giả. Đây là những người yêu Trung Cộng, nhưng biết rõ những chiêu trò xấu và bẩn của cộng sản và CCP;

· Nhóm 4 là 'kẻ thù'. Đây là những người yêu Trung Hoa và văn minh Trung Hoa, nhưng ghét cộng sản. Đây là những kẻ mà CCP sẵn sàng bôi nhọ mỗi khi có dịp;

· Nhóm 5 là 'thờ ơ'. Đây là những người không biết và không cần biết về Trung Cộng. Trong cái nhìn của CCP, đây là những người có ích và có thể gây ảnh hưởng bằng cách mời họ xuất hiện trong các dịp lễ lạc để tạo ra ấn tượng tốt.

Trong một chương viết về cách CCP lũng đoạn các quan chức ngoại giao nước ngoài, H&O cho biết các đại sứ khi mới tới Trung Cộng, họ trước hết bị 'cách li' với các nhân vật cao cấp trong CCP. Sau đó một thời gian, họ sẽ nhận được tin nhắn rằng một quan chức cao cấp trong CCP muốn gặp họ. Mục tiêu là làm cho người được mời đến gặp cảm thấy mình 'đặc biệt', được tin cẩn, và có thể tiếp cận những thông tin mà người khác không có. Tuy nhiên, đó chỉ là một chiêu trò tâm lí để khai thác đối phương!

Khi cần đe doạ, Trung Cộng dùng ngôn ngữ mơ hồ, mù mờ, để cho đối tượng tha hồ đoán. Thật ra, đây là một chiêu trò của người cộng sản Tàu, vì sự mơ hồ có tác dụng gây sợ hãi nhiều người, và ai cũng có thể là những kẻ thù của chế độ.

Đảng và doanh nghiệp: hôn phối chánh trị


Trong chế độ Trung Cộng, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đảng là một cuộc hôn phối chánh trị. Mối liên hệ giữa các cán bộ cao cấp trong đảng và doanh nghiệp diễn ra 2 chiều: cá nhân và chánh trị. Các cán bộ cao cấp trong đảng hoặc gia đình của họ đều đứng đằng sau hay có quyền lợi tài chánh với doanh nghiệp, và họ hưởng lợi từ doanh nghiệp. Trong mỗi doanh nghiệp cấp trung và lớn đều có chi bộ của CCP, và chi bộ chính là nhóm người định hướng, thậm chí điều hành, doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có cán bộ của đảng 'bảo trợ' thường làm ăn khấm khá, và họ được ưu tiên nhiều lãnh vực, kể cả đóng thuế ít hơn các công ti ngoài đảng. Công cuộc chống tham nhũng mà Tập Cận Bình phát động thật ra chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể đến các doanh nghiệp do CCP bảo trợ.

Có thể nói tất cả các nhân vật đứng đầu các tập đoàn lớn (như Alibaba, Baidu, Huawei, Tencent, v.v.) đều là đảng viên của CCP hay tỏ lòng trung thành tuyệt đối với CCP. Richard Liu (được xem là một Jeff Bezos của Trung Cộng) từng nói rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ thành hiện thực trong thế hệ này. Xu Jiayin, một đại gia bất động sản tuyên bố rằng "tất cả những gì tập đoàn sở hữu là do Đảng cho". Đại gia kĩ nghệ nặng Liang Wengen thì cảm tính hơn khi nói "cuộc đời của tôi thuộc về Đảng".

Trong quan hệ doanh nghiệp nước ngoài, CCP còn cài đặt người vào các thiết chế kinh tế của Mĩ và Âu châu. Một trong những thiết chế mà CCP nhắm tới để gây ảnh hưởng là Wall Street. Trong chuyến viếng thăm Mĩ, thủ tướng Trung Cộng không tới Washington trước, mà đến New York, nơi mà ông có những cuộc hội kiến bận rộn với các nhân vật trong hệ thống tài chánh Mĩ. Những sếp của các tập đoàn lớn như JP Morgan, Merrill Lynch, Morgan Stanley, Dow Jones, Goldman Sachs, Citigroup, Bank of America, v.v. đều được tiếp đón trọng thị. Sau lần tiếp đón là hàng loạt hợp đồng thương mại trị giá tỉ USD được kí kết.

Nhưng CCP còn nghĩ đến thế hệ tương lai, và các thiết chế tài chánh Mĩ là mục tiêu. Câu lạc bộ công tử và tiểu thơ (princelings) là một nhóm trong chương trình này. Chẳng hạn như tập đoàn JP Morgan có một chương trình có tên là "Sons and Daughters Program" (nhưng các tập đoàn Mĩ lớn đều có những chương trình tương tợ) nhằm nâng đỡ các con cháu của các cán bộ cộng sản cao cấp từ Trung Cộng. Chẳng hạn như Goldman Sachs chỉ riêng năm 2013 đã có 25 con cháu cộng sản, trong đó có cả cháu nội của Giang Trạch Dân (Jiang Zemin). Merrill Lynch và Citigroup cũng có nhiều nhân viên là các công tử và tiểu thơ của CCP, kể cả con dâu của Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang). Morgan Stanley thì mướn con trai của Chu Dung Cơ (Zhu Rongji) và con gái của Chủ tịch của Ngân hàng Phát Triển Chen Yuan. Đây là những công tử và tiểu thơ đã hoặc đang theo học tại các trường hàng đầu của Mĩ. Có thể nói [chương trình] "Sons and Daughters Program" hoặc tương tợ là nơi ươm mầm cho thế hệ elite tài chánh tương lai của Trung Cộng.

Hoa kiều vụ


Hiện nay, có khoảng 50 đến 60 triệu Hoa kiều ở nước ngoài. CCP xem đây là một nguồn lực rất quan trọng trong chiến lược ảnh hưởng thế giới. Trong 3 thập niên qua, Trung Cộng đã có nhiều biện pháp và chương trình nhằm kéo những Hoa kiều về 'đất mẹ' bằng cách này hay cách khác. Một trong những tổ chức quan trọng nhứt của CCP là "Mặt Trận Đoàn Kết" (United Front), với nhiệm vụ chánh là quản lí Hoa kiều và cái mà họ gọi là "qiaowu" (Hoa kiều vụ). Hai cơ quan phụ trách việc hiện các chánh sách là Cục Người Hoa ở Nước Ngoài, viết tắt là OCAO (rất giống với "Uỷ ban Người Việt ở nước ngoài" của Việt Nam). Tuy nhiên, mạng lưới tổ chức thì phức tạp hơn nhiều so với những gì tôi mô tả (có thể xem trang 124-125 để thấy sơ đồ tổ chức nhằm khuynh đảo Hoa kiều).

Một số trong cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài trở thành không chỉ là những tiếng nói của CCP, mà còn một lực lượng đe doạ những ai dám thách thức sự đàn áp của Trung Cộng. Những thành viên của Pháp Luân Công bị xách nhiễu và đe doạ bởi những "Hoa kiều" ở New York là một ví dụ. Sinh viên gốc Duy Ngô Nhĩ nói về sự tàn ác của CCP cũng bị sinh viên Trung Cộng đe doạ. Một số Hoa kiều 'độc lập' (tức không dính dáng gì đến CCP) cũng bị đe doạ và cô lập. Ở Đức, sự lộng hành của các Hoa kiều thân cộng nghiêm trọng đến nỗi có Hoa kiều độc lập cho rằng họ xem Đức như là một sân vườn của đảng cộng sản Trung Cộng!

Một chiến lược của CCP và khuyến khích và hỗ trợ cho Hoa kiều tham chánh trong chánh trường địa phương, họ gọi chương trình này là "huaren canzheng" (Hoa kiều tham chánh). Qua chương trình này, CCP giới thiệu những ứng viên gốc Hoa nhưng thân cộng (dĩ nhiên) ra ứng cử cấp địa phương, bang, và thậm chí liên bang. Họ đã thành công đưa Hoa kiều vào những vị trí quan trọng ở Anh, Úc, và vài địa phương ở Mĩ.

Mạng lưới gián điệp: phi chánh thống


Các trung tâm gián điệp phương Tây thường chỉ tập trung vào những việc như đánh cắp tài liệu mật của chánh phủ và quân sự, bằng cách tuyển mộ những điệp viên hay cài điệp viên vào chánh phủ và cơ quan quân sự. Nhưng hoạt động gián điệp của Trung Cộng vượt ra ngoài biên giới truyền thống đó và bao gồm luôn cả đánh cắp thông tin mật từ các công ti kĩ nghệ, tập đoàn kinh tế, và cả tổ chức dân sự.

Hệ thống tổ chức gián điệp và tình báo của Trung Cộng phức tạp hơn nhiều so với các chánh phủ phương Tây. Ở cấp trung ương có 2 cơ quan tình báo quan trọng là Tổng Cục I (trực thuộc Bộ Công An) và Tổng Cục II (còn gọi là 2PLA, thuộc Bộ Quốc Phòng). Tổng cục I về chức năng thì tương đương với CIA và FBI cộng lại, nhưng còn có quyền lực chánh trị. Tổng cục II dùng nhà báo, học giả, và nhà ngoại giao làm bề mặt để hoạt động, và cũng có quyền lực chánh trị. Ngoài hai cục đó, Trung Cộng còn có những Cục khác như Cục 10 (lo các vấn đề ở nước ngoài), Cục 11 (liên quan đến các 'think tank', viện nghiên cứu), Cục 12 (lo về các vấn đề xã hội), v.v. Theo FBI, chỉ riêng Cục 12 đã thành lập hơn 3000 công ti làm bình phong cho những hoạt động gián điệp trên thế giới.

Các 'ổ' gián điệp Trung Cộng không chỉ tuyển dụng người trong nước, mà còn tuyển dụng người nước ngoài và áp dụng các thủ thuật tâm lí để gây áp lực đến nạn nhân. Vào thập niên 1990, cẩm nang của MI5 (cơ quan tình báo Anh) dành cho các doanh nhân làm ăn ở Trung Cộng có cảnh báo rằng không nên nhận những món quà quá mức, và cảnh giác với những lời tâng bốc tận mây xanh. Chiến thuật của tình báo Trung Cộng là làm cho nạn nhân mang nợ bằng những món đắt tiền hay mĩ nhân kế, để nạn nhân tự cảm thấy có nghĩa vụ phải đáp nghĩa. Hình thức đáp nghĩa có thể đưa nạn nhân vào vòng tay của các ổ gián điệp Trung Cộng.

Cục tình báo Úc (ASIO) cũng hay cảnh báo giới ngoại giao và doanh nhân Úc về những chiêu trò theo dõi của an ninh Trung Cộng. ASIO khuyên tất cả các thành viên trong đoàn không dùng charger điện thoại của khách sạn, không dùng bất cứ USB nào được cho làm quà, không bao giờ để máy tính cá nhân trong phòng khách sạn, v.v. Một hình thức hăm doạ khác là meinren ji, dùng hình ảnh của nạn nhân trong những tình huống khó xử (có khi là hình ảnh ghép, sửa) làm cho nạn nhân rơi vào vòng kìm toả của gián điệp Trung Cộng.

Truyền thông: "Họ của chúng tôi là Đảng"


Chương 9 của cuốn sách là một trong những chương thú vị, vì trong đó tác giả bàn về hệ thống truyền thông của CCP. Đây là chương 'mở mắt' cho nhiều người phương Tây, nhưng có lẽ chẳng làm ngạc nhiên ai đã quen với sự kiểm soát hệ thống truyền thông của đảng cộng sản. Nói ngắn gọn và ví von, tất cả nhà báo Trung Cộng chỉ có một họ duy nhứt: Đảng.

Ai cũng biết CCP kiểm soát hệ thống truyền thông một cách toàn diện, không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Sự trung thành của giới báo chí đối với CCP là tuyệt đối. Ban Tư Tưởng của CCP thường xuyên gởi chỉ thị cho tất cả các báo và đài mỗi tuần, hướng dẫn vấn đề gì cần được đề cập và đề cập như thế nào, ai cần được nhắc đến hay không nên nhắc đến, và hệ thống phải tuân thủ tuyệt đối; họ không có lựa chọn.

Nếu hệ thống truyền thông không tuân thủ, thì họ sẽ bị phạt. Hình phạt có thể chỉ là cảnh cáo, nhưng cũng có khi cả 'sanh mạng chánh trị'. Chẳng hạn như năm 2015, 4 kí giả Trung Cộng bị phạt vì họ đánh vần sai vài chữ trong bài diễn văn của Tập Cận Bình làm cho người đọc hiểu rằng Tập Cận Bình sắp từ chức. Trong cùng năm, một kí giả chuyên về tài chánh bị bắt vì anh ta công bố những con số thật (nhưng đối với CCP thì đó là những thông tin nguỵ tạo).

Ngay từ 1955, Mao Trạch Đông đã huấn thị cho Tân Hoa Xã rằng phải "quản lí toàn cầu", và phải "làm cho cả thế giới nghe tiếng nói của Trung Cộng". Thời của Mao thì Tân Hoa Xã tập trung vào việc tuyên truyền ở Á châu và Phi châu, nhưng dưới thời Tập Cận Bình thì cánh tay của Tân Hoa Xã vươn ra Âu châu và Mĩ châu. Tính từ năm 2009 đến nay, Tân Hoa Xã đã có 180 văn phòng ngoài Trung Cộng, với tổng hành dinh vùng đặt ở New York, Brussels, Hồng Kong, Moscow, Cairo, Vạn Tượng (Lào), và Mexico City. Từ 2010, Tân Hoa Xã có hẳn một kênh CNC World (cạnh tranh với CNN?) truyền tin bằng tiếng Anh đến thế giới.

Ngoài Tân Hoa Xã, Trung Cộng còn có tờ nhựt báo China Daily (tiếng Anh). China Daily được thành lập vào năm 1981, với sự giúp đỡ của nhựt báo "The Age" của Úc và tài trợ từ Chánh phủ Úc. Tờ China Daily nhận chỉ thị từ CCP qua Cục Thông Tin Quốc Gia để quảng bá quan điểm của CCP và thông tin từ Trung Cộng đến thế giới.

CCP còn tích cực huấn luyện kí giả từ các nước đang phát triển. Theo "Reporters without Orders" hàng vạn kí giả từ các nước nghèo (như Việt Nam) được Tân Hoa Xã tài trợ để tham dự các lớp tập huấn do Ban Tư Tưởng của CCP tổ chức. Những kí giả này sẽ là những "sứ giả" cho CCP và qua đó phát huy 'quyền lực mềm' của Trung Cộng.

Một chiến lược truyền thông khác của Trung Cộng có tên là "Mua tàu đi biển" (Buying a boat to sail the sea). Theo chiến lược này, Trung Cộng tung tiền ra mua cổ phần những tập đoàn truyền thông nổi tiếng ở phương Tây. Nếu mua không được, họ áp dụng chiến lược "Mượn tàu đi biển" ("borrowing a boat to sail the sea"), mà theo đó, Trung Cộng thương lượng với các tập đoàn truyền thông nổi tiếng ở phương Tây (như New York Times, Wall Street Journal, Washington Post, Daily Telegraph, Sydney Morning Herald, Le Figaro, El Pais) để thêm một phụ chương có tên là "China Watch" do China Daily sản xuất. Ngay cả tập san khoa học lừng danh Nature cũng có phụ chương chỉ dành cho Trung Cộng.

Trong khi Trung Cộng nâng cao nỗ lực quảng bá quan điểm của CCP ra nước ngoài, thì cái cơ chế này lại hạn chế, thậm chí ngăn chận, luồng thông tin từ ngoài vào Trung Cộng. Từ năm 2009 Trung Cộng đã chận hầu hết các mạng xã hội từ phương Tây (như facebook, google, twitter). Chỉ có mạng LinkedIn của Microsoft thì không bị chận vì LinkedIn sẵn sàng theo đường lối hay làm theo chỉ thị của CCP.

Nhưng CCP lại dùng mạng xã hội phương Tây để quảng bá các tin giả (fake news). Theo H&O, Trung Cộng có hẳn một đội quân dư luận viên (có tên là "Đảng 50 xu" hay "50 cent Party) vốn là những nhân viên trong hệ thống chánh quyền của Trung Cộng. Đội quân dư luận viên này chỉ có một nhiệm vụ duy nhứt là tung tin giả, đe doạ, và khủng bố những người nào có quan điểm khác với CCP. Mỗi năm, đội dư luận viên này tung ra 450 triệu bình luận trên các mạng xã hội phương Tây, với đa số là nguỵ biện và chửi bới, hay nói chung là 'misinformation'. Đối tượng của họ là Đài Loan, Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, Đức Đạt Lai Lạt Ma. Năm 2019, Twitter phải khoá hơn 1000 tài khoản, và sau đó hơn 200,000 tài khoản mà họ nghi là do nhà nước Trung Cộng bảo trợ.

Chánh trị hoá văn hoá


Đối với CCP, văn hoá là một mặt trận, nên Trung Cộng rất quan tâm đến việc chánh trị hoá văn hoá. Tập Cận Bình không giấu diếm gì khi muốn CCP là chủ nhân, là bảo hộ nhân văn hoá Trung Hoa. Đảng cộng sản tự cho mình cái quyền phán xét cái nào là văn hoá chánh thống, và cái nào không phải là văn hoá Trung Cộng. Một ví dụ tiêu biểu là áo sẩm (qipao hay cheongsam) vốn được xem là trang phục truyền thống của phụ nữ Trung Hoa, nhưng thật ra nó có nguồn gốc từ Mãn Châu và được phụ nữ Trung Hoa mặc lần đầu vào những năm 1910. Trong thời Mao, áo sẩm được xem là trang phục của giới tư sản, nhưng gần đây thì nó được xem là một biểu tượng văn hoá của Trung Cộng. Và, CCP nhứt định dành quyền quảng bá áo sẩm, không có bất cứ một tổ chức tư nhân nào liên quan.

Dĩ nhiên, trong một xã hội mà CCP kiểm soát tất cả lãnh vực, thì văn học cũng không thể thoát khỏi vòng kim toả. Một ví dụ tiêu biểu là chủ trương và tầm nhìn của Hội Nhà Văn Trung Cộng. Hội này tuyên bố nhiệm vụ số 1 là "tổ chức các nhà văn học tập về chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng của Mao Trạch Đông, và lí thuyết của Đặng Tiểu Bình, và học tập đường lối chánh sách của đảng." Thỉnh thoảng cũng có nhà văn tự trọng xin ra khỏi Hội, nhưng đa số nhà văn thì muốn lưu lại trong Hội để hưởng phước lợi và có dịp đi nước ngoài để 'giao lưu' cùng các đồng nghiệp phương Tây.

Năm 2011, CCP lưu hành một tài liệu nhan đề "Culture Going Global", mà trong đó họ vạch ra những chiến lược để quảng bá văn hoá Trung Cộng đến thế giới, và CCP muốn dùng văn hoá để kết nối tất cả Hoa kiều ở nước ngoài. Một tập đoàn có tên là "Poly Culture" được ra đời vào năm 2000, và nhanh chóng trở thành một 'thương hiệu' trong giới elite phương Tây. Theo đánh giá của các chuyên gia phân tích, Poly Culture có giá trị 140 tỉ USD. Poly Culture còn là sân chơi của các công tử và tiểu thơ đỏ, là con cháu của các cán bộ thượng tầng trong CCP.

Hoạt động của Poly Culture rất đa dạng. Họ tổ chức hàng loạt chương trình hoà nhạc tại các hí viện lừng danh nhứt và lớn nhứt ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha, v.v. Họ bảo trợ các cuộc triển lãm tranh ảnh về Trung Cộng, và thiết lập các viện bảo tàng quảng bá văn hoá Trung Cộng tại các nước phương Tây. Nhưng thay vì hoạt động văn hoá thuần tuý như là một phương tiện ngoại giao, thì Poly Culture lại đem chánh trị vào văn hoá và gây áp lực lên những nhóm mà họ bảo trợ. Ở Canada và Âu châu, họ ép buộc ban tổ chức triển lãm không được dùng hình ảnh của Pháp Luân Công, và những hình ảnh mà họ xem là có yếu tố chánh trị. Thế nhưng trớ trêu thay, họ lại chánh trị hoá triển lãm bằng những hình ảnh của Tập Cận Bình!

Khoa học và công nghệ


Có lẽ lãnh vực khoa học và công nghệ là món mà CCP thèm thuồng nhứt. Điều này cũng dễ hiểu, vì để hiện đại hoá đất nước, Trung Cộng cần đến nhân tài "knowhow" về khoa học và công nghệ. Để thu hút nhân tài, CCP đề ra kế sách "Ngàn Nhân Tài" (Thousand Talents Plan). Theo kế sách TTP, nhà khoa học sẽ được cung cấp tài trợ và cơ sở vật chất để làm nghiên cứu tại Trung Cộng. Số tiền tài trợ rất hấp dẫn, và dễ làm xiêu lòng những nhà khoa học đang bị khó khăn về tài trợ ở các nước phương Tây. Do đó, Trung Cộng đã thu hút hàng vạn nhân tài từ các nước phương Tây. Đa số những người tài này là các nhà khoa học gốc Hoa, nhưng chương trình Thousand Talents Plan còn tuyển cả giới khoa học không phân biệt quốc tịch.

Không chỉ tuyển dụng nhân tài về Trung Cộng, CCP còn tích cực đánh cắp kĩ thuật và dữ liệu khoa học từ các nước phương Tây, đặc biệt là Mĩ. Ỡ Mĩ, có khá nhiều nhà khoa học gốc Hoa, và một số giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống khoa học. Chẳng hạn như Bộ Năng Lượng (Department of Energy) có đến 35,000 nhà khoa học nước ngoài đang làm việc tại các trung tâm nghiên cứu (kể cả nghiên cứu về vũ khí), và trong số này có chừng 10,000 người gốc Hoa hay từ Trung Cộng. Qua các chương trình giao lưu, CCP dùng các nhà khoa học gốc Hoa ở Mĩ để thu thập dữ liệu khoa học đem về Trung Cộng.

Một số nhà khoa học đã trở thành nạn nhân của 'chương trình' đánh cắp khoa học này. Năm ngoái, trung tâm nghiên cứu và điều trị ung thư MD Anderson (Mĩ) phát hiện một số nhà khoa học gốc Hoa chuyển tài liệu cho Trung Cộng, và những người này đã bị sa thải. Năm nay (2020), một nạn nhân nổi tiếng khác là Giáo sư Charles Lieber (Đại học Harvard) bị FBI bắt vì có cáo buộc rằng ông được tuyển vào chương trình Thousand Talents Plan và nhận lợi lộc (lương 50,000 USD mỗi tháng [?] và chuyển giao công nghệ cho Đại học Công nghệ Vũ Hán) nhưng ông không khai báo với phía Mĩ về những hoạt động đó. Nhưng trong thực tế thì có hàng trăm vụ đánh cắp khoa học khác ít khi nào được đề cập trên báo chí.

Nhiều nhà khoa học Trung Cộng mang chức danh khoa học (giáo sư) sang các nước phương Tây để hợp tác nghiên cứu, nhưng trong thực tế họ là những sĩ quan quân đội cao cấp. Theo Alex Joske (một chuyên gia nghiên cứu về Trung Cộng), tính từ 2007 đến nay (2020), quân đội Tàu đã gởi ra nước ngoài hơn 2500 nhà khoa học nhưng thực chất là những sĩ quan cao cấp. Họ hợp tác tại các đại học hàng đầu của các nước phương Tây. Ở Úc, hai trường đại học được đề cập đến là Đại học New South Wales và Đại học Công nghệ Sydney.

* * *

Trong khi các chánh khách phương Tây đặt câu hỏi có phải họ đang ở vào thời Chiến Tranh Lạnh với Trung Cộng, thì Trung Cộng đã có câu trả lời từ 30 năm trước. Không chỉ có câu trả lời mà họ còn chủ động phát động một cuộc chiến tranh như thế dưới nhiều hình thức khác nhau. Qua Hidden Hand, bạn đọc có thể thấy rõ những lãnh vực mà Trung Cộng dưới sự điều hành của CCP đã xâm nhập vào hệ thống các thiết chế chánh trị, kinh tế, khoa học và công nghệ, truyền thông, và văn hoá của các nước phương Tây. Gần như các nước giàu có như Mĩ, Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada, Úc, v.v. đều không 'thoát' khỏi sự xâm nhập của CCP. Do đó, câu chuyện về ông dân biểu Úc được đề cập trong phần đầu của bài điểm sách này chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm.

Đối với chúng ta, người Việt Nam, đọc cuốn sách này rất 'thấm' và học được rất nhiều điều. Nhìn những nước phương Tây bị ảnh hưởng, thì câu hỏi Việt Nam có bị ảnh hưởng hay không là câu hỏi thừa thãi. Thỉnh thoảng người nước ngoài đọc báo chí Việt Nam bắt gặp những danh từ mới như "Thế lực thù địch", "Quyền lực mềm", "Trỗi dậy trong hoà bình", hay tên của những cơ quan như "Tổng cục II", "Mặt trận đoàn kết", mà không biết đến từ đâu, thì cuốn sách này cho chúng ta một câu trả lời về xuất xứ: Trung Cộng.

Trong phần mở đầu sách, Hamilton và Ohlberg quan sát rằng giới kí giả và học giả khi mới tới Trung Cộng (qua những chuyến đi do CCP tài trợ) thường có ấn tượng rằng đó là một đất nước phát triển thần kì, với tốc độ phát triển kinh tế cao nhứt nhì thế giới. Họ kinh ngạc trước những công trình kì vĩ, những công nghệ chẳng thua kém gì so với phương Tây. Tuy nhiên, họ quên rằng các nước khác cũng phát triển như vậy, thậm chí còn cao hơn Trung Cộng. Họ cũng quên rằng CCP chính là thế lực làm cho Trung Hoa lạc hậu cả 1 thế kỉ. Họ ca ngợi rằng 700 triệu người Hoa đã thoát khỏi cái nghèo, nhưng họ quên rằng từ 1949 đến nay, chính CCP là thủ phạm làm cho hàng trăm triệu người Hoa nghèo đói. 

Tóm lại, Hidden Hand là một cuốn sách hay và đáng đọc như cuốn trước (Silent Invasion). Có thể xem cuốn sách là một cảnh báo -- có lẽ hơi muộn -- về mối đe doạ của Trung Cộng đến trật tự thế giới do phương Tây lãnh đạo. Chiến lược "Một Vành Đai, Một Con Đường" mà Trung Cộng đang quảng bá, khi đặt trong bối cảnh chung, có lẽ chỉ là một con ngựa Troia mà thôi. Trong khi nhiều người vẫn còn rơi vào những "bẫy mật" của Trung Cộng, thì cũng có nhiều người trong giới trí thức phương Tây đã ngộ ra mối đe doạ và có những hành động ngăn chận. Cuốn sách này có lẽ sẽ giúp cho những ai còn thờ ơ (nhóm 5, theo cách phân loại của CCP) hiểu được những hình thức xâm lăng mềm, và hi vọng sẽ không rơi vào những cái "bẫy mật" được trải thảm bằng tiền.

___________

[1] Sách Hidden Hand của Simon Hamilton và Mareike Ohlberg, do Nhà xuất bản Hardie Grant phát hành vào tháng 5/2020. Sách có 402 trang, bao gồm 270 trang nội dung chánh và 132 trang bị chú và tài liệu tham khảo.

Tác giả Simon Hamilton là giáo sư về đạo đức công chúng (Public Ethics) thuộc Đại học Charles Sturt (Canberra). Tiến sĩ Mareike Ohlberg là một nhà nghiên cứu gốc Đức chuyên nghiên cứu về các chánh sách và ảnh hưởng của Trung Cộng.



Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Nguyễn Văn Tuấn: Giới thiệu sách quan trọng: "Vietnam, Territoriality and the South China Sea"

Tôi hân hạnh giới thiệu một cuốn sách rất quan trọng liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Sách có tựa đề là "Vietnam, Territoriality and the South China Sea" (1) của tác giả Hàn Nguyên Nguyễn Nhã, với biên tập và dịch thuật của Lâm Vĩnh Thế. Sách được nhà xuất bản Routledge xuất bản vào tháng 10 năm nay (2018).

Tác giả Tiến sĩ Nguyễn Nhã
Tiến sĩ Nguyễn Nhã là một trong những nhà nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa, với những đóng góp bền bỉ suốt hơn 50 năm. Nguyên là một nhà giáo, ngay từ những năm trước năm 1975, ông đã có những bài khảo cứu về Hoàng Sa và Trường Sa công bố trên tập san Sử Địa ở Sài Gòn. Sau 1975, ông vẫn miệt mài và thầm lặng nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một trong những thành quả khảo cứu đó là quyển sách "Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa" do Nhà xuất bản Giáo Dục phát hành vào năm 2013. Cuốn sách khảo cứu đó được đánh giá rất cao của giới sử học 'cung đình' và giới sử học chuyên nghiệp. Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, viết rằng “Đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, dựa trên những tư liệu phong phú, chứng cứ và lập luận rất khách quan. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Tôi cũng hy vọng từ cuốn sách này, nội dung về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa sẽ được đưa vào trong sách giáo khoa lịch sử các trường phổ thông”.

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Nguyễn Văn Tuấn (*): Kỉ niệm 100 năm nghệ thuật cải lương ở Sydney

Nghệ sĩ Kim Phượng trình diễn một bài vọng cổ mở đầu buổi sinh hoạt

Hôm qua, một nhóm nghệ sĩ gốc Việt tổ chức buổi sinh hoạt kỉ niệm 100 năm nghệ thuật Cải Lương tại Bryan Brown Theatre, thành phố Bankstown. Đó là một buổi sinh hoạt văn nghệ rất có ý nghĩa về sự duy trì văn hóa Việt Nam ở hải ngoại, và công lớn thuộc về những nhạc sĩ, nhạc công và nhất là các nghệ sĩ Cải Lương thuộc thế hệ lớn lên ở Úc. 

Một sinh hoạt văn hóa có ý nghĩa 


Cộng đồng người Việt ở Sydney tương đối nhỏ, nhưng những sinh hoạt mang tính văn hóa thì ý nghĩa không hề nhỏ. Tiêu biểu cho sinh hoạt giàu ý nghĩa đó là buổi lễ kỉ niệm 100 năm nghệ thuật cải lương ngày hôm qua. Đó là một dịp để không chỉ ôn lại hành trình hình thành và phát triển nghệ thuật Cải Lương, mà còn là một buổi lễ vinh danh bộ môn nghệ thuật truyền thống. Đó cũng là một buổi "seminar" để quảng bá lịch sử và nghệ thuật Cải Lương đến người nước ngoài. Hơn 80 năm trước, đoàn cải lương Phước Cương đã đem nghệ thuật Cải Lương đến khán giả Paris, thì hôm nay một nhóm nghệ sĩ trẻ gốc Việt chẳng những làm công việc quảng bá đó mà còn làm sống lại và giới thiệu sân khấu cải lương đến người Úc.

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Nguyễn Văn Tuấn: Cuộc giải cứu ở hang động Tham Luang: bài học từ người Thái



Tôi nghĩ các bạn, cũng như tôi, cảm thấy rất 'ấn tượng' về cuộc giải cứu đội bóng nhí trong hang động Tham Luang (tỉnh Chiang Rai) vừa qua. Trong số hàng chục nước gửi chuyên gia cứu hộ, không có Việt Nam. Tôi tự hỏi nếu một sự kiện như vậy xảy ra ở Việt Nam thì diễn biến sẽ xảy ra theo chiều hướng nào... 
Vậy là sau 18 ngày với hàng trăm nỗ lực từ các chuyên ngành khác nhau, người Thái đã có thể nói rằng họ đã thành công trong một "Mission Impossible". Đúng như một tin nhắn mà người đại diện đội hải quân biệt nhiệm SEAL Thái Lan viết "Chúng tôi không chắc đây là một phép mầu, là khoa học, hay gì đó. Tất cả 13 cậu 'Heo Rừng' bây giờ đã ra khỏi hang." Các em này tuổi từ 11 đến 16, đã bị mất tích vào ngày 23/6 sau khi họ thám hiểm hang động Tham Luang dài đến 10 km, giáp biên giới Miến Điện… 

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

Nguyễn Văn Tuấn: Những mảnh đời qua bút kí của Đinh Quang Anh Thái


Có những bài tuỳ bút và bút kí mà khi đọc xong chúng ta tự hỏi sao tác giả 'hay chữ' thế, sao mình không nghĩ ra được những chữ đẹp lộng lẫy như tác giả. Nhưng cũng có những bài bút kí làm chúng ta trầm trồ khen tác giả về những câu chuyện độc đáo, những vốn sống, về sự phong phú trong trải nghiệm xã hội, và những mối giao hảo đúng người, đúng địa chỉ. Tôi gọi hai loại bút kí là kí của nhà văn và kí của nhà báo. Trong những bài kí của nhà văn, ý tưởng có thể lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia, nhưng văn chương và chữ nghĩa lại là cả một sáng tác. Nhưng kí của nhà báo có cái khó vì tác giả phải sắp xếp và lồng những trải nghiệm của mình trong câu chuyện về một nhân vật sao cho độc giả thẩm thấu câu chuyện và ý nghĩa của nó; đó là loại bút kí biến dữ liệu thành thông tin.

Đinh Quang Anh Thái là một tác giả của loại kí thuộc nhóm hai. Qua 12 bài kí sự trong cuốn sách, tác giả đã kể lại những cuộc tiếp kiến với những văn nghệ sĩ và nhà hoạt động nổi tiếng như Bùi Bảo Trúc, Đỗ Ngọc Yến, Đoàn Kế Tường, Hồ Hữu Tường, Hoàng Cơ Trường, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tất Nhiên, Lê Văn Tiến, Nguyễn Chí Thiện, Trần Văn Bá. Tất cả những nhân vật vừa kể đều đã ra người thiên cổ, sau một lần ở trọ trần gian. Thời gian 'ở trọ' của họ đã để cho thế hệ sau những bài học nhân thế, tình yêu quê hương, và niềm hi vọng về một ngày quê hương sẽ sáng chói. Quyển kí này là một lời giới thiệu tổng quan về những nhân vật trên mà thế hệ sau có thể tìm hiểu sâu hơn.

Chiến tranh và hệ quả của nó trong thời hậu chiến là môi trường cho những chất liệu phong phú cho bút kí. Có biết bao câu chuyện bi hùng cần được kể lại. Thế nhưng trong thực tế có rất ít bút kí trong văn học Việt Nam, có lẽ người Việt chúng ta không quen với kí và hồi kí. Cũng có những cuốn kí từ một phía của cuộc chiến, nhưng hình như đó là những tập kí có mục tiêu tuyên truyền kèm theo những thậm xưng mang tính thần thánh là chính. Còn ở đây bạn đọc sẽ gặp những con người thật, những sự việc thật, và cái chất thật được thể hiện qua những thành bại, hỉ nộ ái ố của các nhân vật. Không có thần thánh. Chẳng có tuyên truyền. Tất cả là sự thật.

Tôi gọi tập bút kí này là những mảnh đời. Đó là mảnh đời lưu vong của những văn nghệ sĩ như Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Tất Nhiên, và những đồng hương ở Nga và Tiệp. Họ là những người trong giới tinh hoa (elite) của miền Nam, của dân tộc như Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Bảo Trúc, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Tiến. Họ là những nhà hoạt động nổi danh một thời như Trần Văn Bá, Đoàn Kế Tường và Hoàng Cơ Trường. Họ là những du học sinh và những người lao động chân tay ở xứ người. Như DNA của 6 tỉ người trên hành tinh này chẳng ai giống ai, nhưng ai cũng có 23 nhiễm sắc thể, mười hai nhân vật trong quyển kí này có những chất liệu hoàn toàn khác nhau, nhưng có cùng chung thân phận: long đong. Tuy long đong ở nước ngoài nhưng tất cả đều có một mẫu số chung về lí tưởng: mong cho quê hương sáng chói.

Người đọc kí thường trông chờ những thông tin "độc" từ những nhân vật và sự kiện sẽ không thất vọng với tập kí này. Ví dụ như những câu chuyện độc đáo đằng sau một cây bỉnh bút nổi tiếng Bùi Bảo Trúc. Những ai từng yêu mến kiến văn uyên bác và cách viết dí dỏm của Bùi Bảo Trúc sẽ thấy thích thú khi biết rằng ông từng là một phát ngôn viên của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Bùi Bảo Trúc là người mà trình độ tiếng Anh có thể ngang hàng trình độ tiếng mẹ đẻ, người mà "giá nhắm mắt thì có thể nhầm là một người Anh chính cống đang phát biểu", và người đã "dùng ngoại ngữ đối đáp và tạo được sự nể trọng của giới kí giả nước ngoài." Một người giỏi tiếng Anh khác là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích (từng là giám đốc chương trình Việt ngữ của Đài Á Châu Tự Do), người mà tác giả mô tả rằng "[...] mỗi khi chú chấp bút viết một bản văn bằng Anh ngữ, Phó tổng giám đốc đài là nhà báo Dan Southerland phải thốt lên rằng, không thể sửa, dù một dấu phẩy bài chú viết." Đọc đoạn này chúng ta có thể so sánh với những phát ngôn viên ngày nay của Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì chỉ biết ngậm ngùi.

Hay những câu chuyện làm chúng ta phải chạnh lòng về cuộc đời của các nghệ sĩ. Ai yêu nhạc đều biết đến cái tên Nguyễn Tất Nhiên, nhưng có lẽ ít ai biết đằng sau những vần thơ tình tươi tắn và nghịch ngợm đó lại là một cuộc đời bị ám ảnh bởi cái chết và ... muốn chết. Nguyễn Tất Nhiên thường hay tâm sự với người bạn mình là Đinh Quang Anh Thái rằng "chắc có ngày tui tự tử quá ông ơi", và quả thật ngày đó đã đến vào năm 1992 khi Nguyễn Tất Nhiên tự kết liễu đời mình trong một chiếc xe cũ kĩ đậu trong sân một ngôi chùa ở Little Sài Gòn. Trước ngày chết một tuần, khi được mời đi ăn trưa, Nguyễn Tất Nhiên thản nhiên nói "thằng sắp chết không ăn, không hút thuốc." Có ai nghĩ tác giả của Thà như giọt mưa, Trúc đào, Cô Bắc kì nho nhỏ lại từ giã cõi đời trong hoàn cảnh như thế.

Tác giả còn kể lại hai chuyến đi sang Tiệp và Nga, với những câu chuyện hết sức thú vị về du học sinh và những người đi lao động bên đó. Những câu chuyện về sự bưng bít thông tin ở trong nước, những khát vọng của các sinh viên và người lao động về một nước Việt Nam mới được Đinh Quang Anh Thái viết ra rất thật và chân tình. Câu chuyện đi Nga với hãng hàng không Aeroflot có thể làm cho những người sống ở phương Tây như chúng ta phải mở mắt kinh ngạc. Tác giả kể "Thảm lót sàn rách nát, có chỗ cộm lên từng cục, nhất là ngay cửa vào, chỗ để mấy xe thức ăn, thảm rách được lấp liếm qua loa như một đống giẻ dơ bẩn khiến tôi suýt vấp ngã. Chưa hết, chỗ để hành lý trên đầu hành khách không có nắp đậy an toàn, nó chỉ là một loại kệ chạy dài gắn vào thân phi cơ." Nhưng câu chuyện trên máy bay thì có thể làm cho chúng ta đắng lòng. Khi tác giả hỏi một cô người Nga ngồi cạnh trong chuyến bay "có bao giờ cô gặp người Việt Nam ở Nga chưa", cô nói "Có chứ, chẳng có gì tốt đẹp về họ cả, buôn chui bán lận, gấu ó lẫn nhau là tất cả chuyện về họ." Đến ngay rời Nga cũng có một câu chuyện giống với trải nghiệm của hầu hết người Việt ở các phi trường lớn của Việt Nam: "Sáu ngày với cái lạnh và đói ở Mockba rồi cũng đến lúc chia tay. [...] Qua cổng hải quan, kỷ niệm chót của chúng tôi tại xứ này là mỗi đứa phải 'thông cảm' 20 dollars cho nhân viên di trú kiểm soát thông hành. Nếu không, người 'anh em' gây khó dễ thì 'làm gì nhau.'"


Và, còn nhiều câu chuyện hay như thế, nhưng tôi để cho bạn đọc từ tìm đọc và suy nghiệm. Những câu chuyện về Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nhật báo Người Việt, tờ báo lớn nhất của người Việt ở nước ngoài; về Nguyễn Ngọc Bích, từng là Giám Ðốc Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do; về Như Phong Lê Văn Tiến, một nhà báo lừng danh mà tác giả gọi một cách thân thương là "Cậu Tiến". Tất cả đều được Đinh Quang Anh Thái phác họa bằng một văn chương dễ đi vào lòng người: đó là văn chương mang tính hình tượng.


Tôi biết Đinh Quang Anh Thái khá lâu. Những năm trong thập niên 1990s tôi hay đóng góp bài vở cho Tạp chí Thế Kỷ 21, một tạp chí của Người Việt, nơi anh làm việc. Biết qua những bài viết, chứ ít khi nào gặp và nói chuyện. Lần đầu tiên tôi có dịp gặp và nói chuyện với anh là qua một anh bạn khác, và anh để lại trong tôi ấn tượng của một người thẳng thắn, cương trực, nhưng hài hước -- một tố chất rất cần thiết trong những buổi đàm đạo trên bàn cà phê. Nhìn bề ngoài anh trông giống một gã giang hồ hơn là một kí giả, nhưng khi anh nói chuyện thì mới thấy cái duyên chất của một kí giả. Sau 1975 anh từng ở tù ở Việt Nam (tôi không hỏi vì lí do gì) nhưng anh kể chuyện trong tù hết sức dí dỏm, có khi cười ra nước mắt, y như một cuộc du ngoạn, chứ không phải đi tù. Bùi Ngọc Tấn đi tù và 'chưng cất' những nỗi đau khổ thành chữ, nhưng đối với Đinh Quang Anh Thái nhà tù có vẻ như là nơi anh chắt chiu những câu chuyện hài đen về xã hội chủ nghĩa. Những gì anh trải nghiệm ở Nga mang đậm chất hài đó, và chắc chắn sẽ đem đến cho bạn đọc nhiều nụ cười mỉm.

Đinh Quang Anh Thái là một kí giả, nên anh có một vốn sống rất phong phú. Những bài bút kí này chưa phản ảnh hết những gì anh biết về nhiều nhân vật khác. Phải nghe anh nói về những lần tiếp kiến với văn thi nhạc sĩ lừng danh, những chính khách lừng danh lẫn chính khách nửa mùa mới thấy anh có cái tài kể chuyện. Đó là những thông tin "độc" -- theo cách nói thời nay ở trong nước. Lúc nào cũng bằng một lối nói sôi nổi và hào hứng. Lúc nào anh cũng kết thúc câu chuyện bằng một câu kết như là một bài học ở đời. Câu kết thường là trắng đen, dứt khoát, không có vùng màu xám. Nhưng trong loạt bài bút kí này, những câu kết của anh thường là những câu buồn và vương vấn. Viết về Hồ Hữu Tường, tác giả kết thúc bằng câu "[...] thương bác những ngày nghiệt ngã trong trại giam, bưng chén canh chung lên môi, nuốt cùng bao nỗi cay đắng khổ cực của một phận người suốt đời mưu cầu cái chung cho dân tộc", hay viết về Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả nhận xét "Bây giờ thì cậu không còn nữa, nhưng đó chỉ là phần xác thôi, chứ tinh anh của cậu vẫn còn và sẽ còn mãi trong lòng nhiều người, nhiều thế hệ."

Nói như Nhạc sĩ Tuấn Khanh, Việt Nam là một "phác đồ của nghịch cảnh, phác đồ của mỗi cá nhân bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho các nền chính trị đã điều khiển dân tộc này, chưa thấy yêu thương đã ngập hận thù. Tất cả chúng ta đã hoặc đang là nạn nhân của chính trị." Mười hai bài bút kí trong tập sách này nói lên thân phận của những nạn nhân đó. Đáng lí ra tôi sẽ 'bật mí' cho bạn đọc những câu chuyện hay khác về học giả Hồ Hữu Tường và thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhưng tôi nghĩ các bạn không muốn tôi làm như thế vì cần phải để dành một số ngạc nhiên. Những câu chuyện trong tập sách, nói theo khoa học, chỉ là dữ liệu; cái quan trọng hơn là thông tin. Người viết bút kí hay là người biết chuyển hóa dữ liệu thành thông tin. Qua tập bút kí này các bạn sẽ thưởng thức những thông tin để đời mà các nhân vật và sự kiện đã đóng góp qua tài chuyển hóa của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

NVT


MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC CỦA BẠN BÈ
(đã được đăng từ trang 11 đến 14 của quyển KÝ) 

Nếu họa sĩ vẽ chân dung bằng cọ thì với tác phẩm này Đinh Quang Anh Thái đã hoàn tất được những bức chân dung bằng ngòi viết của mình qua nhiều nhân vật danh tiếng thuộc các lãnh vực chính trị, xã hội cũng như văn hóa. Để làm được công việc này, hẳn không phải dễ. Bởi điều trước hết là người viết phải thật trung thực khi cầm bút, nếu không, tác phẩm sẽ dễ rơi vào tình trạng viết ra để thù tạc. Rồi thứ đến, tác giả phải có liên hệ mật thiết với những nhân vật mình viết để mang lại cho chân dung những đường nét hiếm hoi, bất ngờ, khám phá. Và sau cùng, viết ra không phải chỉ là để đọc qua rồi bỏ mà còn là một sự gửi gấm những tâm tình, ghi gói những niềm ước mơ về tương lai còn ấp ủ của những nhân vật được khắc họa và gửi lại cho thế hệ sau những mảnh gương sáng ngời của thế hệ đi trước. Tất cả những điều kể trên, Đinh Quang Anh Thái đã thực hiện được trong tác phẩm này. ~ Nhật Tiến

Ngoài đời Đinh Quang Anh Thái có dáng vẻ của một tay giang hồ, nhưng cũng rất kỷ luật và nguyên tắc. Bấy lâu, thính giả đã quen thuộc với một Đinh Quang Anh Thái có giọng nói nội lực, khúc triết qua các bản tin, phóng sự, phỏng vấn nhân vật bên trong và ngoài nước, cả với vai trò của một MC điều hợp chương trình trong các buổi lễ hội. Nay qua tập Ký, là hợp tuyển những bài viết mới được xuất bản, độc giả sẽ khá ngạc nhiên khi tiếp cận với một Đinh Quang Anh Thái khác. Ký vốn là một thể văn rộng rãi, nhưng với Đinh Quang Anh Thái chủ yếu là những ghi chép về nhân vật và sự kiện, qua những hoàn cảnh và các giai đoạn mà Đinh Quang Anh Thái có dịp tiếp xúc, trải qua và sống với. Chân dung các nhân vật được lột tả sống động, các sự kiện phong phú được ghi lại với một trí nhớ dễ nể và được viết với một văn phong bộc trực thô nhám nhưng không thiếu phần tinh tế. ~ Ngô Thế Vinh

Đây là một cuốn sách với nhiều mẩu chuyện thú vị, bao gồm nhiều chủ đề vì tác giả là người đi nhiều, quen biết nhiều, và sống rất nhiều.  Đọc để trải nghiệm về một nước Nga kinh hoàng trong thời kỳ Cộng Sản tan rã; để thương cảm cho những thân phận tù; để biết lòng vị tha của Nguyễn Chí Thiện, đa tài của Đỗ Ngọc Yến, tâm bất an của Nguyễn Tất Nhiên, v.v.  Và cuối cùng, đọc để nhận ra tấm lòng đối với quê hương, đất nước và con người Việt Nam của Đinh Quang Anh Thái. ~  Nam Phương  

“Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu …”

Biết Đinh Quang Anh Thái, nên khi đọc xong tập bút “Ký” của anh, tôi hình dung ra chàng tuổi trẻ một thoáng dừng bước giang hồ, ghi vội những điều mình đã trải nghiệm, những con người có lần gặp gỡ từ những cơ duyên bất chợt trong suốt cuộc ruổi rong. Thái bắt đầu cuộc phiêu lưu từ thuở chưa đến tuổi hai mươi, mỗi bước đi anh mang theo ngọn lửa của lý tưởng của thương yêu. Ngọn lửa đã theo Thái đi bốn phương tám hướng, từ Việt Nam qua Mỹ, rồi sang Âu sang Á, đi vòng hết tinh cầu, đi từ những vùng sáng tự do đến những góc tối đen tù ngục. Chính ngọn lửa đó đã khơi lên tình bằng hữu giữa những người khác chủng tộc, hoặc không cùng thế hệ, giữa những người đã có lần thuộc về hai bờ bến khác nhau của dòng Bến Hải; ngọn lửa nóng đủ để làm tan chảy giá băng cách biệt và nối kết những tâm tư có cùng chung mẫu số. Và tôi cũng biết Đinh Quang Anh Thái, để hình dung ra gã trung niên giang hồ phiêu lãng sẽ vẫn còn tiếp tục cuộc viễn du, vang vang lời hát:
Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mài
Đời tôi sao vẫn còn biên giới …
(Bên Cầu Biên Giới – Phạm Duy)
~ Nguyễn Hoàng Duyên 

Tôi đã sống với những giấc mơ nhỏ bé bên người yêu như “ta muốn cùng em say… ”, cho đến những ước vọng ngoài tầm tay cho quê hương như “có bao giờ máu xương tàn, núi rừng ươm nắng… ” Những ước vọng cho quê hương đó tôi đã nhiều lần tiếc nuối vì không có cơ hội đóng góp tích cực hơn. Nay đọc tập Ký này của Đinh Quang Anh Thái, anh đã cho tôi cùng anh bước lại các đoạn đời đấu tranh của chính anh trải dài theo lịch sử đất nước từ khi anh 20 tuổi và vẫn tiếp tục trong những năm tháng xa xứ.

Qua các sinh họat đấu tranh của anh và các bạn đồng chí hướng được ghi lại trong cuốn Ký, tôi đã được “gặp và sinh hoạt” với một Trần Văn Bá của Tổng Hội Sinh Viên Viêt Nam tại Paris mà tôi rất ngưỡng mộ; gặp Đỗ Ngọc, Hoài Hương, Hồ Huy và các sinh viên, công nhân Đông Âu tranh đấu cho một Việt Nam dân chủ, tự do. Tôi còn được biết một Đoàn Kế Tường, một Bùi Bảo Trúc, một Đỗ Ngọc Yến, một Nguyễn Ngọc Bích và rất nhiều sĩ phu Việt Nam khác đã hết lòng với quê hương dân tộc mà lòng tôi luôn luôn kính phục.

Riêng cá nhân tôi, với ước vọng được nhìn thấy một quê hương Việt Nam an bình, người người hạnh phúc, tôi trân trọng cám ơn Đinh Quang Anh Thái đã cho tôi được chia sẻ những kinh nghiệm dấn thân của anh trong hơn 40 năm qua cho quê hương thân yêu của chúng ta. ~ Đăng Khánh 

Hầu hết các bài trong tập sách được viết khi nhân vật vừa qua đời. Thấy nước mắt, nghe lời ai điếu, đôi khi cả lời xin lỗi kín đáo và muộn màng từ tác giả gởi người vừa nằm xuống. Tập sách như nén hương lòng thắp tạ những nhân vật của một thời!  ~ Phạm Phú Thiện Giao 

Những câu chuyện thật, những con người thật, những nơi chốn thật, nhưng trên hết là tình người và những tấm lòng chân thật đã ở lại cùng tác giả xuyên suốt những cuộc hành trình, trở thành những mảng lịch sử sống được ghi vào trang giấy. Mai này, nếu có ai muốn tìm lại hình ảnh những nhân vật, những cộng đồng, những câu chuyện tranh đấu Việt cùng khắp năm châu, cuốn Ký này có lẽ là một trong những cuốn sách gối đầu. Hiện tại, theo lời tác giả, Ký có được là nhờ những đêm tỉnh giấc chơi vơi...  ~ Hòa Bình 

Hồi làm ở nhật báo Người Việt, tôi thường bị anh rầy, thậm chí kỷ luật. Nhưng làm sao khi anh kỷ luật ai đó, lại mang đến cho họ cảm nhận của sự quan tâm ân cần. Những bài ký của anh cũng vậy, khi kể về mỗi sự kiện-nhân vật, đã thực tả không nhân nhượng ngay khi phải đề cập đến những "tính hư, tật xấu", nhưng qua đó người đọc dễ nhận ra sự tinh tế trong bất kỳ mối giao hảo nào của anh trong đời sống lịch nghiệm, đầy tính nhân văn. Anh viết với tất cả sự ân cần không chỉ đối với những nhân vật được nhắc trong tập Ký, mà còn đối với tất cả độc giả đang cầm quyển sách trên tay. ~ Uyên Nguyên