Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Thực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Thực. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

Tùng Duy Hi: Người Dắt Lạc Đà (Nguyễn Văn Thực dịch từ tiếng Hoa) (Kỳ cuối)

Người Dắt Lạc Đà

Tùng Duy Hi

*3*

Liễu cát

Từ sau khi ông mua con lạc đà già này, thì ông đã đốt trên mông lạc đà ba chữ ”Hồng Đức Chương” rõ lớn, thứ nhất ông ta sợ mất, thứ hai ông cảm thấy cuộc đời của ông ta và con lạc đà giống nhau ở chỗ cả hai cũng đều có cuộc đời của những con thú tải hàng nặng. Khi đi sau lạc đà, chuyện luôn luôn thấy được ba chữ ”Hồng Đức Chương” làm cho lòng ông sầu khổ bội phần. Do đó vừa đi gần được hai bước, ông ta lại chạy lòng vòng đến phía trước lạc đà. Nghiêng nghiêng cổ nhìn mặt trời, mặt trời đã lên cao một con sào; ngóng đầu nhìn Chùa Lạt Ma, lúc này khoảng cách cũng đã rút ngắn. Rõ ràng đây là cái cổng quái dị của vợ anh, ông chạy trước lạc đà, cố vứt đi khỏi tâm trí những chuyện ”lừa què” ”thớt xay bể” mà không vứt được. Đột nhiên ông giải thoát được muộn phiền: Vợ ông linh hiển! Vợ ông còn nằm bên cây liễu cát, vào lúc này, vợ ông đang nhìn chồng mình đang dẫn lạc đà tới, ông không rành lắm ngôn ngữ ký hiệu thì làm sao bây giờ!

”Anh sống một mình được lắm.”

”Cái con lạc đà già này đi với anh rất thân thiết.”

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Tùng Duy Hi: Người Dắt Lạc Đà (Nguyễn Văn Thực dịch từ tiếng Hoa) (Kỳ 2)

Gai lạc đà

Tục ngữ: Nhìn núi, phi ngựa chết 

Vòng tường đỏ thắm của chùa Lạt Ma, mặc dầu hiện ra trước mắt, nhưng tính theo bước đi theo “nhịp bốn bước chậm”của con lạc đà già, thì con đường còn dài lắm! 

Ông ngừng lại, muốn quất roi con lạc đà, thúc nó đi nhanh, cứ tung dây cương lên, rồi giật lại. Hồng Đức Chương không tìm ra được lý do gì để đánh nó. Sau cuộc “Cách mạng văn hoá” cũng là lúc dân-chính-sảnh cởi giùm ông chiếc mũ “gián điệp” bằng thép mà ông bị chụp bấy nay, và giúp ông một chút tiền, ông mua con lạc đà tải hàng này. Lương thực cũng nhờ nó, áo quần cũng nhờ nó, rồi ngay khi chôn cất vợ mình, thì cả cái quan tài mỏng làm bằng liễu đỏ màu son môi cũng nhờ nó, cũng nhờ nó mà kiếm ăn được. Lại nữa, cái tờ giấy bạc mười mỹ kim, không có con lạc đà thì làm gì mà thằng cha Tây mũi lớn ấy cho ông. Người ở sa mạc nói: lạc đà trắng là lạc đà thần, trong mắt của Hồng Đức Chương thì chẳng có thần ngựa, thần lạc đà nào trong sa mạc, ông, kẻ cầm cương gắn nơi đỉnh đầu lạc đà, xoa bóp làn da trời cho của nó, chính là thần lạc đà vậy. 

Cát thì rất mềm 
Đường thì rất xa 

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Tùng Duy Hi: Người Dắt Lạc Đà (Nguyễn Văn Thực dịch từ tiếng Hoa) (Kỳ 1)

Người Dắt Lạc Đà
牵骆驼的人


Tùng Duy Hi


LND: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong Lời Nói Đầu của tập thơ Hạt Máu Thơ có viết: ”Sự tàn bạo man rợ của Cộng sản tôi hiểu. Thế mà khi đọc truyện ngắn ’Người dắt lạc đà’ của Tùng Duy Hi người Trung Quốc viết về Cách mạng Văn hoá, về tội ác của chế độ Mao, của Hồng vệ binh, tôi vã mồ hôi trán vì xúc động, vì phục tài người viết.” 
Cũng cần nói thêm, theo sự tìm tòi của người dịch, và nhờ sự chỉ dẫn của trưởng ban Hán, Hàn, Nhật, thuộc NXB Nhã Nam, thì truyện này chưa từng được dịch ra tiếng Việt. Điều này có nghĩa là Nguyễn Chí Thiện biết cả tiếng Hoa, biết thành thạo.  
Người dịch giữ lại lối chấm câu của tác giả. 

*1* 


Mồng 3 tháng 3, chùa mở cửa. 

Cái thị trấn nhỏ bị bụi, khói sa mạc bao phủ, đột nhiên trở nên sống động khác thường. Khách đến thắp hương vãn chùa chân nối chân, du khách, du khách lũ lượt. Người thổi kẹo đường, phướn trên đỉnh sào tre, người bán kẹo bông đường, những màn trò khỉ, trống thì thòm, những tay bán ma tuý rong, tất cả tụ tập trước sân Chùa Lạt Ma của thị trấn nhỏ. ”Con phe”từ phương Nam tới treo bán xung quanh sân chùa những cái áo khoác ngắn đủ màu, đồ lôcan cũng có, đồ nhập cũng có, đồ nửa lôcan nửa nhập cũng có luôn. Bán những đồ đại loại như thế mỗi năm một lần ở hội chợ chùa và đi lòng dòng trong đó, thì thiệt là không thích hợp với chốn tôn nghiêm, nhưng màu sắc và lạc thú của sức sống thì tràn trề và tuyệt vời. 

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Trần Mộng Tú: Ngày Tháng Ngậm Ngùi (Nguyễn Văn Thực dịch sang tiếng Nauy)

Nguyễn Văn Thực; Lời người dịch: Trần Mộng Tú làm rất nhiều thơ, có nhiều bài hay, nhưng bài Ngày ThángNgậm Ngùi là một bài đạt tới mức thượng thừa. Tôi chuyển ngữ bài này ra tiếng Na Uy với chút ít hiệu đính bởi Lill Eilertsa. Hy vọng độc giả Na Uy một ngày nào đó sẽ biết đến tài thơ của nữ sĩ không thua gì các thi sĩ nổi tiếng Na Uy mà tôi đã đọc, có khi còn hơn.– Nguyễn Văn Thực
Hình minh hoạ, FreePik

SØRGMODIGE DAGER 

Trần Mộng Tú
Gjendiktet av Nguyễn Văn Thực og Lill Eilertsa

I januar kjøpte jeg blomster, stearinlys.
Tente røkelsespinner for å invitere forfedrene tilbake.
Røykduft i svevende skyer. 
Hvilken tråd bandt en landlig sjel

Februar kom til hagen, lyttende til vinden
Vekket hver tynn blomsterbusk
Spurte fuglen dypt i reiret
Hva den ønsker på vingene

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Nguyễn Văn Thực: Cuối Năm Nhớ Mẹ Cha Ta



Cuối năm nơi đây tuyết tuyết đổ
Nhà ấm, ghế êm làm thơ tình
Nhà ấm, bàn đẹp thảo tình khúc
Bao năm tụng đàn bà yêu tinh

Cuối năm pháo thăng thiên nổ nổ
Đèn giăng, hoa thơm, đồ ăn ngon
Rập rình nhạc xuân, rượu chảy chảy
Đầu óc ngầy ngầy, môi ai son

Mẹ cha ta héo một dòng thơ không có
Mẹ cha ta héo nửa nốt nhạc cũng không
Mẹ cha ta cho ta ăn và học
Bán nhà cho ta vượt Biển Đông

Mẹ cha ta gầy trăm đô chuyện hiếm
Mẹ cha ta buồn thăm hỏi dường không
Mẹ cha ta cho ta ăn và học
Đầy đủ, mẹ cha ôm bụng không

Cuối năm năm nay nước mắt nhỏ
Vợ nhằn vợ nhẳn, ta làm thơ
Con lơ con láo, ta làm nhạc
Thương mẹ cha ta ngày ấu thơ

Mẹ cha ơi, trong thư phòng nhỏ
Thơ sầu, nhạc muộn con xin dâng
Mẹ cha quê nhà nằm dưới mộ
Mẹ cha vì ta, đồ chết đâm

Tết 2019

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Nguyễn Văn Thực: Vài Lời về Truyện Ngắn của Hoàng Quân



Người ta bình phẩm những tác phẩm, những văn bản, người ta suy nghĩ về một bài thơ, một vở kịch, một nhân vật… Về --giới từ này cho thấy người ta đang tạo ra một bài văn thứ hai, người ta quan sát, bình luận, đánh giá và người ta tạm đưa ra một phán quyết tương đối về công trình chữ nghĩa nào đó.
Như vậy phê bình có ba bước: diễn tả ra những gì mình biết, bình phẩm và định giá. 
Có những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp, cũng có những nhà phê bình tài tử vì tuy không được đào tạo trường lớp nhưng được soi sáng thiên bẩm hay vì nhờ đọc nhiều tác phẩm qua nhiều năm. Các phê bình tài tử này bình luận về các tác phẩmvăn chương trong những lúc trà dư tửu hậu với bạn bè hoặc những khi êm ả một mình đọc một tác phẩm và tự đâu đâu những ý tưởng về tác phẩm nổi lên trong đầu, chạy rần rần trong huyết quản và đôi khi khơi cửa tuyến lệ, thốt thành lời tán thán.* 
Hoàng Quân tên thật là Hoàng Thị Ngọc Thuý. Gia đình người Huế. Sống ở Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Sài Gòn. Từ 1982, định cư ở Đức, tốt nghiệp ngành Chính trị Kinh Doanh. Và từ đó công tác và làm việc trên 30 nước Á, Âu, Phi Châu. 

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Nguyễn Văn Thực: Vài lời về truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh*

LTS: Đây là bài thuyết trình của Nguyễn Văn Thực trong ngày Văn Hoá & Thể Thao 29.10.2016, tổ chức ở Oslo, Na Uy. 

Trong bài thơ Thư Gửi Ban Mê Thuột, nhà thơ nữ Đặng Thị Quế Phượng hỏi người ở núi, hỏi núi, hỏi cỏ dại, hỏi hoa cà phê có thoát hồn những đêm trăng, rồi cuối cùng:

Tôi vẫn nhớ chỗ người yêu tôi ngủ
Trên đồi cao cỏ mọc rất thong dong
Tôi muốn hỏi những con đường đất đỏ
Ngõ lên trời chẳng biết có gần không?

Người yêu cũ ấy là ai?

Chắc chắn không phải là người yêu ”đồi thông hai mộ”.

Thưa quý vị, cứ nhìn văn cảnh của khổ thơ, nhìn vào hoàn cảnh của nước mình, ta sẽ thấy người yêu ấy là một người lính, chết, chết trên những ngọn đồi trong những trận đánh ở Tây Nguyên mà Ban Mê Thuột là một thành phần; // và chết đã lâu, vì cuộc chiến đã tàn từ lâu “cỏ mọc rất thong dong”, nhưng những uất nghẹn vẫn còn đó, nơi người yêu của cô đã nằm xuống, và uất nghẹn vẫn còn đó nơi người còn ở lại, nên cô muốn hỏi những con đường đất đỏ, nhưng thực ra là muốn hỏi Trời về nỗi oan khiên mà đôi lứa yêu nhau phải chịu, nỗi oan khiên nơi đôi kẻ yêu nhau ấy cũng là nỗi oan ức đang phủ chụp lên con dân Miền Nam Xứ Việt.

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Tam-Ðảo Do-Kỷ-Phu (Mishima Yukio) - Mối Tình của Thầy Tăng Chùa Chí Hạ (Chí Hạ Tự Thượng Nhân chi Luyến)

Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Ảnh minh họa truyện này, do Plamya Koldovski vẽ.

Lời người dịch: Tam-Ðảo Do-Kỷ-Phu, sinh năm 1925, trong một gia đình công chức. Cha của ông không thích thú gì chuyện văn chương. Ông tốt nghiệp trung học vào hạng ưu. Học đại học Ðông Kinh. Tốt nghiệp, làm việc ở bộ tài chánh, nhưng chỉ một năm sau, ông bỏ hẳn nghề và dành toàn thời cho việc làm văn chương. Ông may gặp nhà văn lớn Xuyên-Ðoan Khang-Thành (Kawataba Yasunari) và được nhà văn này giới thiệu các truyện ngắn của ông cho các tạp chí lớn.Tác phẩm khẳng định tài năng của ông là cuốn ”Lời tự thú của cái mặt nạ”, (1949); nói về chuyện đồng tính luyến ái của chính ông và về những gai góc khi phải sống trong xã hội với tính cách tính dục như thế.Tác phẩm nổi tiếng khác như ”Chùa Kim Các”, viết về một chuyện có thật xảy ra năm 1950: Một sa môn trẻ tu ở chùa Kim Các, vì giận mình quá xấu xí, và để ngăn cho chùa khỏi rơi vào tay ngoại nhân trong thời kỳ Mỹ chiếm đóng nước Nhật, sa môn ấy đã đốt chùa. Ngoài ra còn có bộ tiểu thuyết trường thiên ”Sự giàu có của biển” gồm 4 cuốn. Các tác phẩm khác: ”Tiếng sóng”, ”Khát tình”, ”Sau bữa tiệc”... Tất cả gồm 40 cuốn tiểu thuyết và nhiều truyện ngắn. Ngoài ra, ông còn làm thơ; viết văn nghị luận; viết kịch theo lối Tây, và viết lại các tuồng tích cổ điển lại thành kịch loại mới.Toàn tập của ông gồm 35 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, Ðông Kinh, 1973. Truyện ngắn sau đây lấy từ Toàn tập này. Tôi cũng thử dùng tiếng nôm na để dịch các thuật ngữ Phật học ông dùng trong truyện, nhưng vẫn ghi phần chữ Hán-Việt cho quí bạn đọc, vì quen dùng hay vì lý do nào đó, thích thuật ngữ Hán-Việt hơn.Văn ông giàu hình ảnh, trau chuốt, hoa mỹ, đôi lúc quá tay, đâm ra tối nghĩa, hoa hoè hoa sói; lại viết văn mà như làm thơ, ít theo qui tắc văn phạm thông thường, nên đòi hỏi những người đọc, người dịch phải đóng góp phần mình khi đọc, khi dịch.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Tonny Vorm, Nguyễn Văn Thực dịch - Lời Nói Dối Đầu Tiên của Hemingway

Lời dẫn: Trong những tác phẩm của mình, Ernest Hemingway cho thấy mình là kẻ luôn tìm kiếm sự thật. Nhưng khi đụng đến những chuyện anh hùng của đời mình, thì ông lại hay cố ý tô vẽ.


Hemingway được tuyên dương anh hùng, khi ông ta bị thương ở Âu Châu trong Đệ Nhất Thế Chiến. Nhưng đây có phải là hình ảnh trung thực? Ảnh này, chụp ông trước Bệnh Viện Hồng Thập Tự Mỹ ở Milano năm 1918.  (The Granger Collection, New York).

Máy định vị chẳng giúp được gì, và tôi coi như bị lạc. Những hương lộ, đường dành cho xe đạp, những đường dọc theo đồi nương, kinh rạch, sông ngòi chằng chéo nhau như những mạch máu quanh sông Piave, và dù tôi có đánh vào máy cái gì đi nữa, thì cuối cùng tôi cũng lại lộn trở lại một con đường lởm chởm sỏi đáhoặc lạc vào ngõ vào xa lộ nhiều xe cộ giữa Venezia và Trieste.

Cuối cùng tôi phải hỏi thăm một người nông dân địa phương. Tôi đã chạy xe qua ngõ nhà ông ta mấy lần rồi. Ông ta chống tay lên cằm nhìn tôi dò hỏi. Và nhếch mép cười. ”Hemingway?” - Ông ta hỏi với giọng đầy mùi thuốc lá. Tôi gật đầu. Ông ta nói cái gì đó bằng tiếng Ý và hất cằm về phía vườn nho bên kia đường. Phía chân trời tôi nhìn thấy một tháp chuông nhà thờ, và tôi nhận ra những hình ảnh mà tôi đã google được.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Nguyễn Văn Thực - Đôi Lời về Lệnh Triệu Ban Rồi của Tâm Thanh (& Khánh Hà)

Từ phải sang trái: Tâm Thanh, Khánh Hà, Nguyễn Văn Thực, Đinh Ngọc Cần, hè 2013, tại vườn nhà của Tâm Thanh & Khánh Hà, Skedmoskorset, Na Uy.
Tôi, một chiều Thu 2013, vội vã mở thùng thư trước khi đạp xe đi làm, vội vã và nản nản trước công việc nặng nhọc đang chờ mình, thì thấy một phong bì, tôi đoán là có sách mà tôi đã đặt mua, mừng, nhưng khi mở ra lại mừng hơn vì đấy là tác phẩm mới của Tâm Thanh gởi tặng. Mừng là vì mỗi tác phẩm Tâm Thanh ra đời là một biến cố quan trọng trong trong đời sống văn học của tôi. Truyện ngắn của anh đã nâng nghệ thuật viết truyện ngắn Việt Nam lên thêm một bậc. Anh đã cho ra đời ba tập truyện ngắn như thế. Nhưng tôi chững lại khi đọc tựa đề cuốn sách: LỆNH TRIỆU BAN RỒI, chữ in hoa, mẫu chữ chững chạc, uy nghiêm công đường, chữ lại màu đỏ, cái uy nghiêm công đường lại càng hiện rõ thêm, hàng chữ còn nằm trên nền đen. Và cái nền đen với hàng chữ kể trên lớn gấp hai cái nền dưới màu xám hư hao bị đè bẹp thấy rõ, với hàng chữ thường cở chữ nhỏ ốm yếu phận người, bằng một phần ba cở chữ của hàng chữ uy nghiêm trên kia: một trường hợp ung thư. Vẽ bìa như thế mới là vẽ bìa chứ! Thằng cha nào vậy? Tôi tò mò lật vào trang trong thấy ngay: Bìa: Tiêu Dao.