Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Thà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Thà. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Nguyễn Văn Thà: Ngày Xuân nhớ Song Thân


*Hai hình trên là hình mạ và bọ tôi chụp với các cháu.

Theo lời mạ tôi kể: 


Từ làng Mỹ Hoà, Quảng Bình bọ mạ tôi chèo một ghe mắm ngược lên mạn ngược sông Gianh bán và sau đó mua một thuyền cam chở về bán tết. 


Trên chiếc thuyền đầy cam vòng về, mẹ tôi sinh ra tôi vào lúc gà gáy canh hai, đêm 16, Tháng Chạp, Năm Giáp Ngọ, tức 2 giờ sáng, đêm 9.01.1955. Khi trốn Cộng sản mà vào Nam, thì cán bộ tiếp cư ghi đại là 02.10.1954.  Đêm đó là đêm 16, trăng rất sáng và đêm trăng thì rất lạnh. Mạ tôi tự sinh. Sinh được tôi là con trai đầu, sau 3 chị gái, bọ mạ tôi mừng quá sức. Khi về tới bến, bà nội nghe kêu, lấy mền chạy ra trùm cho cháu mới lọt lòng mẹ và bồng vào nhà. Cả nhà đều mừng.


Nguyễn Văn Thà: Tình mềm như nước

Enriquet Simonet, Những sân thượng ở Tangier (1914), Wikimedia, public domain

Những năm đầu mới đến Na Uy, tôi thích cái xứ lạnh, cực kỳ lạnh này vì tôi đã sống từ nhỏ đến 20 tuổi ở Việt Nam với cái nóng, lại còn phải sống với cái nghèo khổ, sự áp bức của chính quyền Cộng sản, những bức bối gây ra bởi những người chòm xóm gian ác, rình rập, tất cả làm cho cái nóng thành nóng hơn, nóng nung người, nóng ghê hồn, nóng điên lên được. Nhưng bây giờ, qua mấy mươi năm ở Na Uy tôi bắt đầu ngán lạnh, rồi sợ lạnh vì cả mùa hè mà cũng lạnh, cho nên người ta gọi mùa hè Na Uy là grønn vinter: mùa đông xanh, đến nỗi bây giờ tôi ghét lây qua tất cả xứ lạnh gắt đến xứ lạnh vừa. Tôi  thích những xứ nóng, dĩ nhiên xứ nóng ấy không phải là Việt Nam, quê hương tôi, mà những xứ nhiều mặt trời, ở đấy tôi là một người vô danh, một hữu thể số không nhưng có tiền để hưởng cái thú được là hư không, cái hư không loại này Đất Nước Na Uy đã ban cho tôi, và hư không càng trở nên hư không khi những người đàn bà mà những áng văn, những vần thơ, những dòng nhạc cổ kim tô điểm thành những nữ thần diễm lệ, đã từng làm cho tôi chìm ngập, mê mẩn, bây giờ những nữ nhân ấy đã biến mất, đã bốc hơi. Vô ảnh vô thanh. Tôi lâng lâng cùng những ngày du lịch tới, tôi phiêu diêu với những ngày mai cô quạnh. Tôi sinh ra là để ở một mình. Tôi đã biết thế từ những ngày mười tám đôi mươi, vậy mà vẫn lem nhem sự đời chi cho mệt, mệt thiệt mệt. Và từ nay khi thức dậy tôi chỉ thấy tôi, tôi với trời đất vô lượng.


Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Nguyễn Văn Thà: Thánh Nữ

 1. Dẫn ngôn

Hình một người nửa nam nửa nữ trên một bình gốm Hy Lạp cổ đại, Wikipedia

Thần thoại Hy Lạp về người tri kỷ, hay về chuyện một con người trở thành những con người và ngược lại

Người ta kể rằng vào thời hồng hoang, khi con người mới được tạo ra, con người có hình dạng khác với người ngày nay. Trong “The Symposium: Chuyện trà dư tửu hậu”, triết gia Platon mượn lời Aristophanes, một kịch tác gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ, kể truyện về những người tri kỷ như sau:

“Theo thần thoại Hy Lạp, con người ban đầu mới được tạo ra, có bốn tay, bốn chân và một cái đầu với hai khuôn mặt. Thần Chủ tể Zeus/Jupiter thấy thế, đâm lo sợ về sức mạnh của họ, và để ngăn ngừa tai hoạ về sau, thần đã chẻ dọc con người thành hai phần, và bắt họ phải trọn đời tìm kiếm nửa-kia của mình.” 

Quả thật, cũng theo thần thoại kể trên, trong Thiên nhiên có ba giới tính: Đàn ông, đàn bà và androgynous: nghĩa đen là đàn ông+phụ nữ hay là nửa nam nửa nữ, trong tiếng Hy Lạp. 


Mỗi giới có hai bộ sinh dục, nghĩa là mỗi đàn ông có hai bộ sinh dục đàn ông và mỗi đàn bà có hai bộ sinh dục đàn bà, nằm đối xứng hai bên thân thể, trong khi người nửa nam nửa nữ có một bộ sinh dục nam ở một nửa dọc thân thể cộng với một bộ sinh dục nữ nằm đối xứng ở nửa dọc thân bên kia. 


Giới tính của con người có liên quan đến nguồn gốc của họ: đàn ông là con của Mặt trời và đàn bà là con của Trái đất, trong khi androgynous là con của Mặt trăng, được sinh ra từ sự hôn phối giữa Mặt trời và Trái đất. 



Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2021

Nguyễn Văn Thà: Kiếp Sau Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau

Tặng MH, một thoáng hương xưa

Chiều nắng hanh hao/ Ảnh của Hung Chi Le

1.

**

Chú thích điển tích trong bài thơ:

Theo truyền thuyết Phật giáo Trung Hoa:

Cầu Nại Hà: 奈何橋: Nại Hà Kiều: Cầu (hỏi) Phải Làm Sao Đây để khỏi té xuống sông có nhiều thuỷ quái, cua, cá to lớn và dữ tợn vì cầu trơn trượt, gập ghềnh, là cây cầu ở tầng địa ngục thứ 10, bắc qua Vong Xuyên 忘川: Sông Quên, và được xem như ranh giới cuối cùng trước khi tới Địa Ngục. Những linh hồn khi đi qua cầu Nại Hà sẽ phải lựa chọn hoặc là uống canh hay còn gọi cháo lú, chữ hán là vong thủy忘水: nước làm quên, hay vong tình thuỷ忘情水: nước làm quên tình, của bà Mạnh để quên đi mọi thứ từ kiếp trước và bắt đầu một kiếp mới, hoặc là không uống, nhưng những kẻ này sẽ phải chịu đựng nỗi dày vò nhiều năm dưới dòng Sông Quên đầy thuỷ quái, cua, cá ấy rồi mới được đầu thai. Mỗi người đều có một chén canh của chính mình được đặt sẵn tại đầu cầu; chén canh của bà Mạnh, thật ra chính là nước mắt chảy suốt một đời của mỗi con người khi còn sống trên đời: nước mắt vui, buồn, đau khổ, căm hận, và cả nước mắt yêu thương. Người không chịu uống là người còn muốn nhớ, còn muốn thương những giọt nước mắt ấy.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Nguyễn Văn Thà: Hoàng Lan Chiều Hoang

De la ira a la ternura: ”Từ sự giận dữ tới sự dịu dàng.”, Oswaldo Guayasamín, nước Ecuador
Tháng tư đi vào trong núi
Tìm con ngựa trận năm nào
Yên cương bây giờ mục nát
Hỏi chàng, chàng bặt âm hao

(TRẦN MỘNG TÚ, 
Ngày tháng ngậm ngùi, 1994)

Trong thành phố Sài Gòn, sau mấy năm bị đổi tên thành thành phố của người đã giết mình, nay đã bắt đầu thoang thoảng những câu hát như “Ngày rời Paris, anh đã để quên con tim.” từ hải ngoại bay về. Đương khi trong những xứ sở mà người Việt đã lại bắt đầu để quên con tim lại cho người mình thương một cách ỡm ờ dễ thương đến như vậy như những ngày Sài Gòn chưa bị bọn CS bóp họng, thì ở trong các trại tù dưới cái mỹ từ đểu cáng “trại cải tạo” có nhiều sĩ quan, viên chức của VNCH vẫn bị cộng đồng quốc tế hờ hững bỏ mặc, nhưng những bà mẹ, những bà vợ không quên con, chồng họ. Họ là lực lượng đáng kính nể nhất, đáng ghi vào sử sách nhất của xã hội miền Nam. Họ bương chải, họ ngược xuôi, họ nuôi con và chăm sóc bố mẹ già, và họ thăm nuôi. Cơ cực không thể tả xiết. Lan là một người vợ cũng như họ, nhưng nàng chỉ thăm nuôi chồng mình được mấy lần rồi đành dứt; nàng ray rứt khôn nguôi vì nàng không còn tiền để thăm chứ đừng nói chuyện nuôi. 

Cũng vào những tháng ngày này tôi từ Hàm Tân chạy vào Sài Gòn trốn vượt biên và ở trọ trong nhà của đứa em gái họ của tôi, mà chồng là một tay anh chị lại quen biết nhiều với công an khu phố ở Khánh Hội, quận Tư, nơi mà các công an khu phố người địa phương lẫn gốc Bắc Kỳ biết ngậm miệng ăn tiền hoặc an phận thủ thường, không dại gì mà sinh sự một cách không cần thiết trong một khu chuyện đâm chém xảy ra hằng ngày.

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

Nguyễn Văn Thà: Mây Vàng Âu Yếm Giăng Ngang

Tặng Suối Ngọc

Hình minh hoạ, Andrew Redington/Getty Images

Bergen là thành phố của hoa đỗ quyên và của mưa, mưa chiếm bốn phần ba ngày của năm. Mưa giam chân người trong nhà, nên người ta sinh con nhiều hơn và cũng làm ra nhiều mê say, nhiều nghệ sĩ, và nơi đây cũng nổi tiếng có nhiều đàn bà đẹp vì trời mưa vuốt má các nường nhiều hơn những nơi khác. Đấy là lời bàn vô của bạn Nam khi Nam nói là Nam sẽ từ Oslo dời lên đó. Không lên không được, không còn có sự chọn lựa nào khác, bây giờ nhìn lại thì buồn cười, nhưng vào cái tuổi bốn mươi nhựa sống vừa căng vừa chạy loạn xạ, phi như ngựa chứng, húc như dê càn – trong đầu, thì đấy là một chân lý. Giòng nhựa sống ấy trôi âm thầm trong cuộc sống êm ả có căn nhà ấm, có một bà vợ đẹp không đủ để Nam làm thơ say mê dữ dội như thơ Đinh Hùng, nhưng đủ để cảm những bài thơ hiền lành của Nguyễn Bính, có đủ cái ăn, thậm chí ăn ngon, và vô số sách hay để đọc, có một công việc để làm, có nhà thờ để ở đó được nghe những lời răn dạy.

Mùa xuân là mùa cưới. Cái phong tục hay hay này ông Đạo, cậu của Nam, đã nghĩ tới khi cậu ấy tổ chức đám cưới cho con trai út vừa đẹp trai lại vừa tốt nghiệp kỹ sư điện toán vào cái thời đầu của kỷ nguyên điện toán; con trai của cậu Nam lại lấy một cô gái người Bắc ăn nói có phép có tắc. Ông cậu của Nam chuộng người Bắc là chuộng chỗ đó. Ông là chủ tịch hội đồng giáo xứ Sankt Paul nên cái lối ăn nói kiểu cách, dè dặt ấy rất thích hợp khi họp một năm đôi lần ông phát biểu trước cộng đoàn giáo xứ. 

Khi ở trong một Đất Nước mà mỗi người, nói chung, đều có thể có một cái vi la hay một căn hộ đàng hoàng và một cỗ xe hơi khá tốt, thì chuyện môn đăng hộ đối về của cải không còn là chuyện quan trọng, nhưng chuyện môn đăng hộ đối về cái danh vẫn còn đó đối với kẻ có cái chức chủ chủ tịch hội đồng giáo xứ như cậu của Nam, và với những ông bà có danh giá, chức tước mang từ Việt Nam qua, trong đó có ông Bằng là cựu quận phó hành chánh, tốt nghiệm ưu hạng trường Quốc gia Hành chánh, người sẽ thay mặt cho bên nhà gái nói vài lời trong đám cưới.

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

Nguyễn Văn Thà: Mê Lộ

Thành phố Toledo; Hình GERARD JULIEN/AFP/Getty Images

Nếu, ở Tây Ban Nha hoặc nói rộng ra cả thế giới, tôi buộc phải chọn một thành phố mà thôi, tôi hẳn chọn Toledo. Ngay từ giây phút đầu có cái gì đó nơi thành phố này làm tôi say đắm, cái gì đó chạm tơ hồn tôi — biết đâu chừng từ kiếp trước.

Toledo cách thủ đô Marid khoảng một giờ lái xe, và nhiều du khách từ Marid đến đó dạo chơi trong ngày. Toledo là một thành phố được đan dệt bằng lịch sử, có những nét quyến rũ độc nhất vô nhị, và vẻ cổ kính khơi nguồn mọi trí tưởng. Bạn có thể đi ngược lại thời gian và đắm mình trong bầu không khí Trung cổ, lắng nghe lời sông Tajo cùng tiếng đồng vọng của những xa xưa, hít đầy buồng phổi không khí khô ấm đã từng gợi hứng cho họa sĩ El Greco, và đi trên những viên đá lát đường văn hào Cervantes đã bước lên. 

Toledo được người Hi Lạp đặt nền móng, người La Mã xây dựng và các vua người Tây Goths dùng làm thủ đô, bị người Ả Rập chinh phục, rồi người Kitô giáo chiếm đóng, thành phố này với hàng ngàn năm lịch sử ấy nằm trên một ngọn đồi rộng có giòng sông Tajo bao quanh. Rồi những phế tích La Mã, dinh thự Ả Rập, các nhà nguyện Hồi giáo và hội đường Do Thái, những ngôi nhà Trung cổ, giáo đường và tu viện. Thật khó mà nói đã có bao nhiêu đổi thay từ thời mà người Tây Ban Nha, người Ả Rập, Do Thái và người Kitô giáo sống chung an bình, thân ái với nhau. Chúng ta có thể cam cảm những bóng dáng vô hình của họ và nghe họ thì thầm đâu đây. Những con đường nhỏ, khuất lánh. Các cửa hàng bày bán đầy những đồ kỷ niệm, gì cũng có, từ những thanh kiếm Toledo, đồ trang sức, cho đến những mẫu tượng Don Quijote và những bức tranh nhái El Greco. Viện bảo tàng, tiệm ăn, người người tấp nập. Tuy nhiên, dù bầu không khí có mang tính thương mãi như thế, thành phố vẫn giữ được vẻ quyến rũ, nét độc đáo. Những con đường nhỏ, những ngỏ hẻm khuất lánh. Ban đêm, khi đường phố vắng người, là thời gian tốt nhất để đi khám phá những bí mật của thành phố. Lúc mặt trời đã khuất, ánh sáng biến mất, người ta liền cảm thấy như mình đang trở lại thời Trung cổ, thời mà Đức Mẹ Maria có thể xuống với trái đất này, thời mà những phép lạ vẫn xảy ra nhưng không.

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

Nguyễn Văn Thà: Người Con Gái Quốc Mẫu 2



Đêm nay, đi làm khuya về, ăn qua loa, tắm nước ấm, bận áo thơm, trèo lên tầng ba sát mái, chui vào chăn êm, nhìn vầng trăng phơi phới nằm trinh trong trong bầu trời trong thật trong và tưới vàng lai láng xuống mặt đất thanh sạch sau trận tuyết sung mãn đầu hôm. Trăng tâm tư chập chờn những thoáng mây vàng kim cổ, không như những năm trước, giờ nầy người thân từ Việt Nam hay gọi qua: chuyện thương nhớ thân tình, chuyện nhọc lòng, hay tin báo tử. Chuyện thân tình thương nhớ dần phai, chuyện nhọc lòng Nam chẳng làm gì được, nên điện thoại từ Việt Nam hầu như ngưng hẳn, chỉ còn chuyện báo tử chẳng đặng đừng. Mới năm ngoái đây tin báo thằng cháu, con của em gái nghèo nhất mà Nam thương nhất, học đại học sắp ra trường bị xe tắc xi đụng cán chết. Mấy tháng sau lại có tin con của chị gái đi biển, gặp bão, mất tích. Rồi tin mẹ anh chết. Toàn tin báo tử nửa đêm. Anh đâm sợ chuông điện thoại nửa đêm; cha Nam nay cũng yếu lắm rồi. Anh chẳng những chưa đền đáp được gì, mà còn là nỗi thất vọng dài lâu cho các ngài. Nhưng đêm nay trăng khuya sáng khác thường giữa trời thủy tinh, đất tịnh tâm, làm anh quên hết cơn mệt nhọc, chuyện buồn phiền hằng ngày. Anh ngẫm nghĩ: nghĩ cho cùng phải đi làm cực nhọc, nhờ những lúc như thế nầy, anh cảm thấy đời này có chút gì đáng sống, nếu không, mình chỉ như cái máy nổ nổ, chạy chạy, nổ nổ, chạy chạy, rồi hao, rồi hư, rồi cuối cùng bị quăng vào đống phế thải, đó là chưa kể còn bị khục khà khục khặc trước khi sụm vì đủ mọi chuyện. Anh may mắn hơn vì còn có vầng trăng từ thiên cổ cho anh muôn hộc mỹ cảm đủ để trung hoà phần nào cái cuồng lưu ác độc của cuộc đời đầy dẫy những con người Thượng Đế dựng nên chẳng qua để dùng như những tay giác đấu giết nhau trong hí trường của Ngài. Đang nghĩ lan man như thế thì có chuông điện thoại. Nam giật mình, lòng trĩu nặng chờ tin báo thương, báo tử. Nhưng là thằng Nam Nhỏ, cháu gọi Nam bằng cậu, nó cười vui vẻ:

”Cậu ngủ chưa cậu?”

”Chưa, cậu đang ngắm trăng.”

”Đúng là cậu!”

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Nguyễn Văn Thà: Người Con Gái Của Quốc-Mẫu



Văn đã hứa với Nga một hôn lễ, Nga bảo, không cần lắm, Văn hứa với Nga một đám cưới, Nga bảo, cũng không cần lắm, chỉ cần hai đứa được sống chung với nhau. Sao lại không, khi hai người yêu nhau đến mức ấy?

Văn ra tù. Về tới nhà, mấy đứa cháu reo lên: Cậu về, cậu về bà ngoại ơi! Những đôi mắt hàng xóm từ trong nhà họ nhìn ra ái ngại, và anh cũng không thấy mẹ ra đón đầu ngõ, líu ríu cầm tay dẫn anh vào mái ấm nhà xưa như trong những tháng ngày tù tội anh vẫn hình dung. Anh hơi ngạc nhiên vì hồi ở tù, ngoài gia đình thăm nuôi đã đành, Văn còn nhận được những lời hỏi thăm của bà con chòm xóm và những món quà nho nhỏ kèm theo: bình dầu tràm, hủ ruốc sả, túi khoai deo..., có anh hàng xóm còn gởi tặng cuốn từ điển Nga - Việt, tuy nhiên từ hồi mấy người cùng làng được thả, cô em gái, như những lần trước vẫn thay gia đình lên thăm, nhưng qua vẻ mặt buồn buồn của nó, anh biết có cái gì đó không ổn, nhưng Văn không dám hỏi, và cũng không muốn hỏi. 

Văn vừa vào nhà đã thấy mẹ mình ngồi trên sập gụ, nghiêm trang khác thường, và bà đanh mặt lại:”Mi không được lấy cái con đầu trộm đuôi cướp đó. Mi mà lấy, tau cắn lưỡi tau chết!”

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Nguyễn Văn Thà: Tổ Phụ


Tổ phụ Abraham, theo Kinh Thánh Cựu Ước, là tổ phụ của dân Israel: Do Thái, đã nghe lời Đức Chúa Trời truyền dạy và đưa cả gia đình, tôi tớ, sản nghiệptừ thành phố quê hương Ur, vùng Kaldea, nay là miền Nam của Irắc, tới Haran, Thổ Nhĩ Kỳ, và sau đó tới Canaan, nay là Israel: Do Thái, ”miền đất hứa chảy sữa và mật ong” mà ĐCT hứa ban cho ông và con cháu ông. Lịch sử cổ trong Kinh Thánh Cựu Ước cũng là lịch sử của các giáo hội Kytô giáo, trong đó có giáo hội Công giáo. Tổ phụ Abraham của Do Thái, cũng là tổ phụ của cha tôi, người Công giáo, theo nghĩa thiêng liêng.

Không ai quên được quê hương mình dù quê nghèo, cũng như không ai quên được cha mẹ dù cha mẹ khổ. 

Tôi nay đã khá già, nghĩ lại quãng đời đã qua của mình, thấy mình sinh dưới một ngôi sao khá tốt. Tuy ở nhà quê, đất đai không được mầu mỡ cho lắm, đất pha cát, nhiều rừng, nhưng nếu biết khai phá, vẫn có đất: đất thịt pha cát để trồng lúa, đất cát trồng khoai; làm đủ ăn, có năm còn dư chút đỉnh. Lại còn có biển, bờ biển đẹp, rất đẹp với những đồi cát trắng tinh, mượt mà lượn theo gió, lung linh sáng theo mặt trời và huyền hoặc, thần tiên đêm trăng. Biển đẹp và còn có rất nhiều cá những năm mới đến lập cư, và còn đủ để ăn những năm sau này, nhưng cho tới ngày Việt Cộng vào cá mú hầu như tiệt. Lạ thiệt! Củi đuốc thì đã có rừng sát sau nhà. Có một ngôi thánh đường xinh xinh, xây theo kiểu một ngôi nhà thờ ở Pháp, do các sinh viên, học sinh quê của linh mục thừa sai

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Nguyễn Văn Thà: Người Thích Nghe Chuông

Khoảng tháng mười gió bấc bắt đầu thổi mang theo cái lạnh phương Bắc; thổi rền rĩ ngày đêm. Lá cỏ héo dần rồi tan nát. Gió đưa cát bụi len vào từng lỗ chân lông; người lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, bứt rứt. Được cái những ngày như thế, chuông nhà thờ vang xa.

Khi mấy ổng chưa vào tôi chẳng để ý đến gió bấc cho lắm. Mùa gió nồm mát mẻ hay mùa bấc khô khốc vẫn hai ngày cắp sách đến trường, có cơm ăn no, có áo lành mặc. Nhưng rồi từ độ hai miền hết đánh nhau, gió bấc làm tôi phải chú ý đến nó nhiều hơn, vì cờ bay mạnh, bay nhiều, và cũng là lúc khởi đầu cho những năm tháng tơi tả. Người và gió bấc, cờ xí cùng vó ngựa, văn hoá với những luồng tư tưởng bóp miệng. Những người dân miền Bắc như những người từ cõi âm, bắt đầu xuất hiện trước lẻ tẻ, sau đó ào ạt vào Nam để ráng kiếm cho mình một mảnh đất sống. Họ là những người ngàn đời đói đất; và vào cái thời cái gì cũng nhân dân làm chủ thì sự thèm khát đất đai lại càng mãnh liệt. Chẳng có gì quý hơn đất. Đất nào cũng được miễn là có đất, dù chỉ tạm thời. Đất rừng bạc màu chằng chịt cỏ tranh người trong làng tôi không ai thèm làm, cũng đã là quá tốt đối với họ. Nhưng chẳng dễ gì moi được miếng ăn từ những đám cỏ tranh lì lợm, rễ đan tầng tầng địa võng ấy. Dần dà mộng ước đất đai của họ bị cỏ tranh bóp nghẹt; thân xác héo quắt dưới nắng đỏ. 

Chúa HCM độ ấy cũng đã theo gươm giáo vào ngự trị trong mọi nhà xứ Đàng Trong. Thực ra, đối với số đông, cái mặt của chúa như một lá bùa gớm ghiếc mà những thầy pháp, bà bóng của chúa, cứ gióng phèng la, cứ hô âm binh đe dọa, nên cực bằng đả phải dán trong nhà, vì ai mà biết được lúc nào ma tha quỷ bắt.

Vậy mà có người đàn bà không thèm dán lá bùa ấy. Một người đàn bà Đàng Ngoài.

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Nguyễn Văn Thà: Khất Giả


Kính dâng đại uý TPB quá cố Lê Hùng Long,
sinh năm 1946, khóa K20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt,
số quân: 69/161061, KBC 4143,
Sư Đoàn 1, Trung Đoàn 1, Tiểu Đoàn 2.*

Đêm đêm vét mộng trải nơi nằm 
Thượng Đế chiều ta, không hiện hữu 
Mặc ta rộng rãi tùy nghi ta 

Tô Thuỳ Yên, Khất giả


Cuộc chiến đã qua lâu, hơn bốn mươi năm rồi, nhưng vẫn còn lớp lớp những oan hồn. Những oan hồn lẽo đẽo bị gậy lẫn những oan hồn áo xống đẹp đẽ, da thịt thơm lừng; những con phố hiền lành xưa cũng biến thành những giòng sông linh hồn nhầy nhụa chung với những ngôi nhà trầm lặng lá hoa xưa bị vùi dập dưới những màu sơn sặc sỡ; oan hồn trùng điệp giữa Sài Gòn, thành phố của cha mẹ tôi, của một Nam Việt Nam xưa. Tôi là một cô gái sinh ra và lớn lên ở Na Uy. Tôi yêu mến nước Na Uy của tôi. Tôi cũng yêu mến nước Việt của cha mẹ tôi. Hồi nhỏ yêu ít, nhưng lớn lên càng yêu nhiều hơn. Tôi không rõ tôi yêu nước Việt vì tôi yêu cha mẹ tôi hay vì có cái gì đó trong dòng máu, hay vì phương tiện truyền thông kỳ diệu của thế kỷ 20, 21 đã mang Việt Nam lại gần tôi hơn. Tôi đã du lịch nhiều nơi và thấy rằng Việt Nam không phải là một đất nước đẹp cho lắm, đàn ông Việt cũng vậy, nơi dáng dấp của họ có một vẻ gì đó nhàn nhạt, tầm thường, nhưng đàn bà Việt thật đẹp, đẹp đến mê hoặc như Graham Green đã có lần nói đến trong tiểu thuyết của ông. Những thiếu nữ áo dài. Người ngọc áo dài như là niềm an ủi duyên dáng cho vô số thất vọng đang phơi ra ngoài đường. Họ là những nàng tiên dịu dàng giữa những oan hồn, đưa tôi vào mộng một thời thanh bình cũ. Tôi nhìn mãi, tôi đi mãi không chán. Bây giờ chỉ còn những tà áo dài vờn vờn quanh tôi. ”Mời cô mua vé số.” – Có tiếng người đàn ông từ lòng đường vọng lên. Tôi thảng thốt như vừa bị rứt ra khỏi cơn mộng.

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Nguyễn Văn Thà: ĐÊM MỘT MÌNH NGHE ”NGÀY XƯA HOÀNG THỊ”


Một khuya Thứ Bảy, ngồi một mình trong phòng sách nghe băng nhạc tuyệt phẩm Julie Quang hát, trong đó có bài Ngày Xưa Hoàng Thị. Tôi vốn rất thích bài thơ này ở chỗ thơ mộng, mang mang về một mối tình học trò. Và bài nhạc phổ của Phạm Duy rất ăn ý với bài thơ. Người viết đọc bài thơ này lần đầu tiên là thời còn là sinh viên Văn Khoa, được yên ổn tiếp tục học trong khi bao nhiêu người lính trẻ VNCH, trẻ như mình phải nằm xuống. Bài thơ sau đây như một cảm tác từ bài NXHT và cũng là một chút tưởng niệm. 

Ngày Xưa Hoàng Thị
- Phạm Thiên Thư -
Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

Nguyễn Văn Thà: Trước Vực. Sau Khe.


Trước vực 
Sau khe
Thòng lọng tơ gì quấn gót
Tua khăn buông còn buộc búp hoa lan
- Thơ HOÀNG CẦM, bài Cỏ Bồng Thi.

 Có những thiếu nữ đi qua đời để lại những dấu hoa mà các nàng không hay. Màu sắc cùng hương phấn. Người một lần vướng phải, cứ vấn vương hoài, cứ lay lắt mãi trong những hóc hách lòng tình. Không có dấu chân nào hằn sâu như dấu chân thiếu nữ. Chẳng có sắc hương nào trói mộng chắc hơn sắc hương hoa.

Có chàng trai mang trên vai mình những món nợ sinh tử, rướm máu rách vai qua rừng rậm rịt Bỗng một nhành lan hiện ra như từ cõi hỗn mang xanh thẳm, như dành riêng cho chàng giữa những dằng dặc mưu đồ.

Những chàng trai xứ Việt nợ nhiều lắm: nợ non sông, nợ sinh thành, lại còn nợ những đêm trăng, nợ những ngày nắng, những cơn mưa, nợ cả gió hắt hiu... Cả bốn ngàn năm những nợ như thế vẫn trả chưa xong.

Mà nước Việt là đất Mọi, nước Việt là xứ Hời. Điêu tàn và Phiêu tán. Ngay trên đất nước mình. Bởi nó liều lĩnh làm những cuộc chinh phục chính dân tộc mình. Nó cỡi trên những con ngựa điên, những thớt voi cuồng bị những tay phù thủy thuần hoá bằng những cỏ độc, khói ngãi, bằng những tờ kinh, bùa chú cần sa.
Có người nhìn Điêu Tàn, Phiêu Tán mà khóc. Nhưng có kẻ lại vỗ ngực vênh vang những màu huy chương sáng màu mông muội, nhưng thực ra kẻ ấy đang quờ quạng như những bóng ma ơi hời giữa những thành quách đổ nát của mình.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Thơ Nguyễn Văn Thà: Ngày Ta Yêu Nhau


Một ngày anh yêu em
Có con chim vườn sau
Một ngày em yêu anh
Có đôi chim tìm sâu
Và ngày ta yêu nhau
Xôn xao ngọn cỏ lả lơi
Hương hoa nồng ấm còn vương quanh giường

Thầm thì em yêu anh
Lá lay trong vườn trăng
Ngập ngừng làn hương em
Mới len qua lòng anh
Ngọt ngào anh yêu em
Hoa sen tỉnh giấc thả hương
Thơm thơm ngực mới lại khơi suối nguồn

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

Nguyễn Văn Thà: Giòng Sầu Lả Xuống Bờ Vai*


Le bonheur est
la plus grande des conquêtes,
celle qu'on fait contre
le destin qui nous est imposé:

Hạnh phúc là cuộc chinh phục
 lớn nhất trong các cuộc chinh phục,
là điều người ta làm nhằm
chống lại định mệnh đã áp đặt lên chúng ta.

L'héroïsme est peu de chose, le bonheur est plus difficile:
Làm anh hùng chỉ là chuyện nhỏ, có hạnh phúc mới là chuyện khó nhất.
-Albert Camus

Sáng mồng một tết, các con đứa đến trường, đứa đi nhà trẻ, hai vợ chồng mới thực sự được ăn tết, có thì giờ đủ dài, có không gian yên ắng để hít vào lòng cái quê hương yêu mến xa xưa xuân về, và cười nụ cười hạnh phúc về một thủa sum vầy. Lòng ấm dần và tuyết cũng ấm dần. Phòng khách lâu nay thanh nhã với những bức tranh trừu tượng đơn nét tây phương nhàn nhạt, nay có bạn phương đông đỏ chói đến chơi: Xuân phong, đắc ý, tài nguyên quảng// Hoà khí, trí tường, gia nghiệp hưng. Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi rộn ràng của ban hợp ca Thăng Long chen với Trái tim anh chỉ đập cho em/ Ngày mai có đáng gì khi một thế giới mới lát nữa sẽ tái sinh/ Con đường xuân hoa thêu, sao dệt –  Ella Enlich thì thầm tiếp: - Küss mich, halt mich, lieb mich!: Hôn em, ôm em, yêu em!

- Chỉ có động từ ”küss” của tiếng Đức là diễn tả được cái êm dịu, sung sướng tuyệt đỉnh nụ hôn. – Nhung thì thầm và nép gần hơn vào chồng mình.

- Ừ, nghe như muốn hút cả thể xác lẫn linh hồn người mình hôn…

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Nguyễn Văn Thà - Vương Quốc của Hoàng Gia Hoa

Kính tặng anh Phạm Phú Minh.

Lời giới thiệu bức tranh từ máy huớng dẫn cá nhân: Bức tranh này được gọi là ”Vương quốc của nữ thần Flora”, của Nicolas Poussin (1594-1665),Ý, còn được gọi là ”Primavera: Mùa xuân” ngay từ năm 1631. Chính Poussin khẳng định đề tài mùa xuân khi ông gọi bức tranh là ”un giardino di fiori: Vườn hoa”. Thực vậy, trong tranh xuất hiện Apollo (thần mặt trời, thi ca, chân lý…) cỡi xe tứ mã trên trời, Flora (nữ thần hoa, nữ thần mùa xuân) đứng giữa và Pripaus (thần của phì nhiêu ruộng đồng và của nam sinh thực khí, trong các tranh tường cổ người ta hay vẽ ông với sinh thực khí dài quá khổ và lúc nào cũng căng cứng) nền sau bên trái bức tranh, dưới hình thức tượng đá. Sự xuất hiện trong bức tranh của ba vị thần, cùng với những con người khả tử trong tranh, lấy từ tác phẩm ”Hoá thân” của Ovidius; những sinh linh khả tử này sẽ biến thành hoa; và tất cả hoa, người, thần thánh xuất hiện theo từng mùa. Với đôi môi mỉm cười trong khi nhảy múa, Flora tượng trưng cho lực tái sinh của thiên nhiên. Phong thái hân hoan của nàng tương phản lại bầu khí bàng bạc buồn nơi các sinh linh khả tử bao quanh nàng.

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Nguyễn Văn Thà - Cái Trống Cơm


Lời trần tình
: Dưới đây là một truyện ngắn không phải về nhà văn Tâm Thanh như chủ đề của số báo này, mà nhân đám tang của anh viết về một chủ đề khác. Chỉ mong nó được là một tia nắng nháy trong khu vườn tưởng niệm ủ ê nhớ thương. 

L'extrême félicité à peine séparée par
une feuille tremblante de l'extrême
désespoir, n'est-ce pas la vie?
Sự sung sướng tuyệt đỉnh mới bị chia lìa
bởi một chiếc lá run rẩy vì tuyệt vọng,
 cuộc đời há chẳng phải như thế hay sao?
Sainte-Beuve

Khổ hết rồi âu phải cam lai
Thôi thì thôi tiền định an bài
Sầu cho nát lòng người chi nữa.
Cao Bá Quát

Ông Cao Sơn mới mất. Ông đã có và đạt được những cái mà tôi không có và sẽ chẳng bao giờ đạt được nữa: giàu có, vợ đẹp con khôn, địa vị, và nhất là được nhiều người kính trọng. Ở Na Uy chuyện giàu có không quan trọng lắm vì không ai nghèo. Vợ đẹp, con khôn đó là chuyện riêng tư, càng riêng tư ở cái xứ chỉ có hai mùa đông: mùa đông xanh và mùa đông trắng, nhà ai nấy ở, cửa ai nấy đóng kỹ, nên chẳng mấy khi gặp nhau mà khoe vợ, khoe con. Vợ miễn sao tử tế, con đừng xì ke, ăn cướp là được. Trong một cảnh sống đóng kín như thế, lỡ có con cái hoang đàng đi nữa thì ít nhất bà vợ phải tử tế thì mới sống qua được những mùa đông dài đằng đẵng. Vợ ông đẹp lại tử tế, lại còn ngâm thơ hay. Câu thơ tổ ấm chén trà tay hương. Mùa đông dài mấy cũng thành ngắn. Chuyện được kính nể lại là chuyện hiếm, vì chẳng mấy khi gặp nhau để ra oai với nhau nhưng ông Sơn vẫn là người được kính trọng vì ông là một hoạ sĩ nổi tiếng. Có nhà phê bình nghệ thuật của tờ báo lớn nhất Oslo ví ông là một phù thuỷ của màu sắc. Tranh ông đã được viện bảo tàng quốc gia Na Uy mua. Ông còn là một nhà biện luận hóm hỉnh mà sâu sắc, như một đại diện của nền minh trí Đông phương, trong nhiều chương trình thảo luận về văn hoá, chính trị trên TV; và trước đó là một nhân viên xã hội có tiếng là khôn khéo. Tóm lại ông là niềm hãnh diện của những người đồng hương.

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

TA CHẲNG TÌM CŨNG THẤY TA

Nguyễn Văn Thà 
Vườn Thương Nhớ: Minnelund, tại nghĩa trang Alfaset
LTS: Nguyễn Văn Thà đã có nhiều truyện trước đây xuất hiện trên Thế Kỷ 21 và hiện nay trên Diễn Đàn Thế Kỷ. Nhiều người thấy truyện của tác giả viết kiểu liêu trai, hay kiểu hiện thực huyền ảo, nhưng chúng tôi trộm nghĩ: xem ra tác giả nghiêng theo kiểu tạo nhân vật nhiều tầng. Mời quý độc giả đọc truyện này và thử xem nhân vật chính được cấu tạo bằng bao nhiêu tầng. 
I hope it is true that a man can dieand yet not only live in othersbut give them life,and not only life,but that great consciousness of life.Jack Kerouac, nhà thơ 
(Tôi hi vọng có chuyện thiệt là khi ai đó chết, chết mà không những chỉ sống trong những người khácmà còn cho họ cuộc sống,và không những cho cuộc sống,nhưng còn cho cả sự đại giác ngộ về cuộc sống.)

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Nguyễn Văn Thà - Bài Thơ Cố Thổ

Nhà văn Tâm Thanh (phải) và nhà thơ Khánh Hà (trái)
chụp hình với Phạm Xuân Đài tại Little Saigon cách đây khoảng 15 năm.

Tặng Tâm Thanh và Khánh Hà

Tôi gởi tặng người cái gì đây?
Thế giới còm cõi
Trí tôi mòn mỏi
Thân tôi rã rời
Tôi hiến dâng người cái gì đây?
Những ngày nắng đầy
Hương hoa ngất ngây
Những mùa tuyết dày
Thơ thấm vai gầy cố thổ?
Người ơi ghé tai tôi nói nhỏ
Tôi thương người
Chỉ có vậy mà thôi

Giáng Sinh 2014
Nguyễn Văn Thà