Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tường Thiết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tường Thiết. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Mối tình của đôi ta

Lời Tòa Soạn.- Sau đây là bài nói chuyện của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út của nhà văn Nhất Linh trong buổi Ra Mắt cuốn sách "Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ" tổ chức vào ngày hôm qua 9 tháng 11 năm 2019 tại thành phố San Jose, California.

Kính thưa quý vị, 

Cách đây khoảng mấy tuần lễ tôi nhận được một cú điện thoại của anh Nguyễn Hùng Tâm, trưởng nam của ông Nguyễn Hùng Trương, tức ông chủ nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn trước năm 1975. Anh Tâm mời tôi xuống San José nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút Hậu Duệ” mà anh là người đứng ra tổ chức và bảo trợ. Tôi toan từ chối vì với tuổi xấp xỉ 80 tôi rất ngại phải đi xa, nhưng tôi nghĩ đến cái công của ông Khai Trí đối với văn học miền Nam Việt Nam, tôi nhận lời. 

Tôi có một mối giao tình đặc biệt với ông Khai Trí, thân phụ của anh Tâm. Trước khi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, qua đời năm 1963, ông cụ có ủy thác cho tôi trông nom hai nhà xuất bản Đời Nay và Phượng Giang và quyết định xuất bản những tác phẩm của ông cụ. Với ủy thác ấy tôi đã liên lạc với ông giám đốc nhà sách Khai Trí để phối hợp việc tái bản không những sách của ông cụ tôi mà là sách của những tác giả khác trong Tự Lực Văn Đoàn. Nhu cầu tái bản sách TLVĐ rất cao vì TLVĐ nằm trong giáo trình giảng dậy môn Việt văn bậc trung học, nên tôi liên lạc với ông Khai Trí hầu như thường xuyên và kéo dài suốt 10 năm cho đến tận ngày Cộng sản cưỡng chế miền Nam. 

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Ngọn đèn trong căn lều nhỏ

Hình minh họa
Salkum, năm 1989. 

Luân đậu xe trước Andy’s Tackles Shop. Tiệm là một căn nhà gỗ nhỏ xây nhô cao hơn hẳn mặt đất. Luân nhìn quanh bãi đậu không thấy chiếc xe truck màu đỏ. Như vậy là Mark chưa tới. Anh bước lên mấy bực gỗ vén tấm mành mành nơi cửa chính vào tiệm. Tấm mành có gắn cái chuông. Khi bị động nó phát một tiếng kêu lớn “binh boong”. Luân nhìn khắp một lượt không thấy ai bên trong. Tiệm chia làm hai khu. Một bên bán đồ săn bắn với những khẩu súng săn đặt trong tủ kính. Trên tường phía sau tủ có gắn đầu một con hươu lớn với cặp sừng cong lên. Phía bên kia bán đồ câu. Những chiếc cần câu dài đặt thẳng đứng trên giá. Luân bước về phía bán đồ câu, đến gần một cái tủ kính dài và thấp có bầy lưỡi câu, giây câu, mồi giả, phao, chì… Đồ câu ở đây ít ỏi và thô sơ không thể nào sánh với các tiệm câu lớn ở Seattle. Luân đã mang theo đầy đủ đồ nghề, nhưng anh nghĩ chẳng lẽ đã vào đây mà lại không mua thứ gì? 

Anh đang phân vân lựa chọn thì ở phía sau tủ kính một người đàn ông từ phòng trong mở cửa bước ra. Ông ta cao gần bằng khung cửa, mặc áo ca-rô đỏ, quần jeans, khuôn mặt vuông, hàm bạnh, râu mép rậm. Luân thấy ông ta giống William Faulkner, nhà văn Mỹ anh đã một lần nhìn thấy hình in trên bìa của một tập san số kỷ niệm nhà văn này. Ông ta đi ra, đầu cúi xuống, một tay cầm cái dũa, vừa đi vừa dũa vào một vật gì bằng kim loại cầm ở tay kia. Một lát ông ngửng lên. Luân đọc trong con mắt ông ta một nét ngạc nhiên. 

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Ðội mưa mà đi


Vua Lý Thái Tổ nhìn xuống Hồ Gươm. Từ trên tầm cao 10 mét mắt ngài chiếu thẳng Tháp Rùa. Trước mặt ngài không phải cố đô Thăng Long mà là thủ đô Hà Nội một nghìn năm sau. 

Ngài uy nghiêm đứng giữa vườn hoa Chí Linh. Trước mặt ngài là phố Đinh Tiên Hoàng, tả hữu có hai phố Lê Thạch, Lê Lai, sau lưng có con phố mang tên ngài, Lý Thái Tổ. Nhà vua đảo mắt nhìn phía dưới chân. Ngài khó chịu thấy mình đang bị quan sát. Một thanh niên bận chiếc áo khoác có nhiều túi cúi xuống lôi trong bọc một vật gì màu đen rồi giơ vật ấy về phía ngài. 

Quang nhìn lên ngắm nghía pho tượng đồng cao. Anh tự hỏi lần về Hà Nội mấy năm trước không thấy bức tượng này đặt ở đây. Nếu có chắc chắn là phải hiện trong bộ phim ảnh của anh vì lần nào về Hà Nội anh cũng chụp mấy bức ảnh Hồ Gươm và Tháp Rùa đứng từ phía vườn hoa Chí Linh. Quang giơ chiếc máy ảnh về phía tượng và điều chỉnh ống kính. Anh đi tới đi lui. Rồi anh quỳ xuống ngước máy lên để chụp toàn bộ bức tượng có hàng chữ ở dưới bệ: Vua Lý Thái Tổ (974-1028). 

Nhà vua không nhìn thanh niên, ngó sang một thiếu nữ đứng cách đó chục thước mặc chiếc áo đỏ đội chiếc mũ trắng tay cầm một vật gì giống hệt như vật trong tay thanh niên và hướng nó về phía hai nguời đứng trước, hai người ấy trông như hai mẹ con. 

– Chị muốn chụp phông nào? Lấy vua hay lấy hồ. 

Vi hỏi người đàn bà. Người ấy nhìn chung quanh nói: 

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Một trăm ngọn nến

Làng Yên Phụ Hà Nội
Tên chủ nhà ghi trên tấm bảng đồng gắn phía trước cửa khiến tiếng gõ của tôi thêm mạnh dạn. Bên trong có tiếng giầy dép khua động. Rồi cửa mở. Chủ nhà, một người nhỏ thấp, giơ bắt tay tôi rồi ra hiệu mời tôi theo anh ta lên gác. Tôi bước lên một chiếc cầu thang gỗ. Ở đầu cầu thang nhìn qua một gian phòng rộng trên gác tôi thấy khoảng vườn cây xanh của một công viên nhỏ trước nhà sau một cánh cửa sổ mở rộng, khoảng trống tươi mát rất hiếm quí của Hà Nội bây giờ. 

Tôi bước vào một phòng lớn trông như một thư viện. Một tủ sách rất rộng và cao chiếm nguyên một vách tường dài. Tủ gỗ đánh véc-ni bóng, sau ngăn kính những cuốn sách dầy cộm xếp ngay ngắn, trang trọng. Nhìn qua gáy tôi thấy có rất nhiều sách chữ Hán.

Giữa phòng là hai cái bàn phủ khăn trắng đặt liền nhau, trên để những chai rượu bia và đĩa đựng trái cây. Chủ nhà xếp tôi ngồi nơi một chiếc ghế đặt ở đầu bàn. Tôi nhìn hai dẫy ghế trống dài ở hai bên bàn, nói với chủ nhà:

– Anh bắt đầu làm tôi lo đấy. Tưởng đến thăm anh nói chuyện một lát thôi, không ngờ anh làm to chuyện quá.

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Hai lần gặp Huy Cận

Huy Cận và tác giả chụp ởnhà Huy Cận (1998). (Hình: Tác giả cung cấp)
Ở đầu giây:

–Thưa... tôi xin được tiếp chuyện với ông Huy Cận.

Ở cuối giây:

–Tôi đây.

–Thưa chú... cháu là con của nhà văn Nhất Linh. Cháu vừa từ nước ngoài về xin được đến thăm chú.

–À, anh có phải tên là Triệu không?

–Thưa không ạ... Cháu tên là Thiết, em của anh Triệu.

–Anh về hồi nào? Anh hiện ở đâu? Ở nhà hay ở khách sạn?

–Dạ... cháu đang ở khách sạn.

–Khách sạn nào? Buồng số mấy?

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Chuyến tàu trong đêm


Tôi đi vào giấc ngủ chập chờn. Trong giấc mơ có những ánh đèn lồng dài dặc. Rồi một lúc nào đó của giấc mơ những đóm đèn lồng biến thành đàn đom đóm bay la đà chớp tắt trên những ngôi mả thuộc nghĩa trang dòng họ ở Hội An. Nói là giấc mơ thì không hẳn. Phải nói là đêm hôm đó đêm 27 tháng Tư năm 2001 trên chuyến xe lửa đi từ Sài Gòn ra Hội An là hỗn độn của rất nhiều mảnh hồi ức, của những giấc mơ ngắn và cũng là của thực tại. Chúng hòa trộn vào nhau hầu như không tách rời ra được. Bởi ngay cả trong giấc mơ hay những lúc đắm mình trong hồi tưởng tôi luôn luôn nghe rùng rình tiếng nghiến bất tận của con tàu trong đêm và cái cảm giác bay trôi như con tàu không di chuyển theo hướng của con đường sắt mà cứ tịnh tiến ngang ngang như xê dịch của loài cua. Về đêm toa tàu ướp lạnh như một ngăn đá khổng lồ. Cái lạnh khiến tôi nhiều lần thức giấc kéo cái chăn bông lên cằm và qua hành động đó tôi thấy lóe sáng ánh đèn duy nhất còn bật trong căn phòng tối. Dưới ánh đèn đó Jean-Francois Bernardet miệt mài ngồi viết trong đêm. Rồi hình ảnh Bernardet nhòe lẫn hình ảnh một đêm nào ở Ðà Lạt, lạnh lẽo và xa xôi, tôi sực thức giấc nửa đêm mơ màng kéo cái chăn bông lên cằm và qua tấm màn tuyn tôi thấy bóng mờ của bố tôi đang cặm cụi ngồi viết văn trong đêm khuya khoắt dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn chụp.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Nguyễn Tường Thiết: Thanh Ngọc Đình - Tết Xưa

Thương nhớ chị tôi,
Nguyễn Kim Thoa (1938-2006)

Hàng năm mỗi lần Tết đến khi tôi hồi tưởng về những cái Tết đã đi qua trong đời mình thì hình ảnh Tết Kỷ Hợi bao giờ cũng hiện lên trước nhất. Nó nổ trong ký ức tôi tiếng pháo đùng đón giao thừa từ Thanh Ngọc Đình vọng vào đêm rừng. Nó lóe trong trí nhớ tôi hình bóng căn nhà chập chờn ánh lửa tỏa từ đám củi cháy dưới nồi bánh chưng sôi sục và tiếng kèn của cha tôi lan đi trên dòng suối Đa Mê. Suối mơ! Bên rừng thu vắng. Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng...

"Mẫu ngôi nhà mà Nhất Linh tự vẽ và đặt tên Thanh Ngọc Đình. Ngôi nhà mà đến cuối đời ông vẫn chưa có được".

Thanh Ngọc Đình là tên cha tôi đặt cho một căn nhà ông xây cất ở giữa rừng Fim Nôm vào những năm cuối đời, để thưởng cho một loài hoa ông cho là tiên cách nhất. Căn nhà do chính cha tôi vẽ họa đồ, được xây toàn bằng vật liệu nhẹ, tọa lạc bên dòng suối Đa Mê, cách Quốc L 20 Sài Gòn-Đà Lạt khoảng một nghìn thước, ngang cây số 27 tính từ thành phố Đà Lạt, và thuộc xã Fim Nôm.

Thực ra đó chỉ là một căn nhà trong mộng. Bởi vì Thanh Ngọc Đình không bao giờ được hoàn thành. Năm 1959 căn nhà bị sụp đổ hoàn toàn sau một đêm giông gió, chỉ còn trơ lại cái nền nhà trống. Cũng may là nó sụp đổ sau Tết Kỷ Hợi (ngày 8 tháng 2 năm 1959), là năm mà đông đủ chúng tôi đã ăn cái Tết sau cùng ở Fim Nôm. 

Năm ấy là năm đầu tiên cha tôi tổ chức ăn Tết trong rừng. Một phần để ăn mừng căn nhà xây gần xong, phần khác chắc là ông muốn làm sống dậy không khí những cái Tết xưa ở trại Cẩm Giàng. Hồi đó chúng tôi đều ở Sài Gòn. Năm trước cha tôi đã bỏ Đà Lạt về Sài Gòn làm báo. Tháng giêng năm 1959 ngay sau khi số báo Văn Hóa Ngày Nay số Xuân Kỷ Hợi được phát hành, cha tôi lên Fim Nôm đôn đốc việc xây nhà và sửa soạn đón xuân. Ông mời một số thân hữu và gia đình của họ lên Fim Nôm ăn Tết. Tôi nhớ có gia đình các bác Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Sĩ Dinh, Bùi Khánh Đản, Lê Đình Gioãn... Thời gian đó tại Fim Nôm bà nội tôi ở chung với người em trai của bà là cụ Nghị Biên trong một căn nhà gỗ sơ sài ở cây số 27 ngay sát quốc l. Bà nội tôi tu ở đó, mẹ tôi thuê một con bé giúp việc tên là Tình lên ở Fim Nôm trông nom bà nội tôi. Bà lúc này đã yếu nên không muốn bầy vẽ tổ chức Tết lớn. Nhưng cuối tháng chạp cha tôi khẩn khoản bà nội đứng ra phụ trách nấu nồi bánh chưng. Ông nói:

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

Nguyễn Tường Thiết: Ông Siu Siu và Chú Tiều

Hình minh hoạ, Internet
Ông Siu Siu và chú Tiều là hai người Hoa sinh sống ở gần nhà tôi trong khu chung cư chợ An Đông Chợ Lớn. Ông Siu Siu là chủ một tiệm cơm gà rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Còn chú Tiều là một người làm công cho mẹ tôi.

Năm di cư 1954 mẹ và các anh chị tôi kẻ trước người sau lục tục vô Nam. Mẹ tôi mua một đơn vị trong chung cư chợ An Đông để ở và lấy chỗ buôn bán. Đơn vị ấy hai từng, từng dưới mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, tên hiệu là Cẩm Lợi, từng trên mẹ con chúng tôi ở khá chen chúc vì diện tích căn nhà không rộng bao nhiêu. Bố tôi chê nhà vừa chật lại vừa gần chợ ồn nên không ở, chỉ thỉnh thoảng lắm mới tạt về. Trên đầu chúng tôi là lầu ba. Lầu ba thuộc một đơn vị gia cư khác. Tất cả những đơn vị ở trên lầu ba đều đi chung một cầu thang riêng, nằm bên hông đường Nguyễn Duy Dương. Căn nhà chúng tôi ở một góc trông ra hai mặt đường nên rất thuận tiện cho việc buôn bán của mẹ tôi. 

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Nguyễn Tường Thiết: Mưa Đêm Cuối Năm

Nhà văn Võ Phiến
1975- Năm đó tôi gặp lại anh thật bất ngờ. Đúng vào cái buổi sáng đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ. Chiều hôm trước chúng tôi được chuyển đến một trong bốn trung tâm tiếp cư cho nguời tỵ nạn, trại Indiantown Gap thuộc tiểu bang Pennsylvania. Sáng sau tôi đến Processing Center lập thủ tục nhập trại. Chúng tôi ở barrack số 8. Từ đó đến khu Trung Tâm tôi phải cuốc bộ khá xa, trên một con đường có hàng cây phong thâm thấp trồng rất thẳng hàng. Bên trái là dẫy mess halls một từng nền xi-măng nhô cao mái màu xanh lá cây dùng làm phòng ăn cho dân tỵ nạn. Bên phải là bãi cỏ trống rất rộng hình như là sân banh của trại lính. Tuy là tháng sáu mùa hè nhưng sáng hôm đó trời cũng lành lạnh như đã vào thu. Khi đi qua cánh đồng cỏ trống tôi hít thở không khí của nước Mỹ và cảm thấy không khí nhẹ tênh. Một con sóc từ trên đùm lá phong thoăn thoắt đổ dọc thân cây, chạy băng mặt đường. Một con khác đứng cạnh thùng rác của barrack, nó đứng thẳng trên hai chân sau đang gậm nhấm thức ăn bằng hai chân trước, đôi mắt lơ láo nhìn tôi thách đố. Hồi đó tôi không quen thấy cái dạn dĩ của những con thú hoang nên rất đỗi ngạc nhiên.

Nguyễn Tường Thiết: Mưa Đêm Cuối Năm (Tiếp theo và hết)

Ông bà Võ Phiến

1976- Hôm đó nhân rạp hát gần nhà có chiếu phim cũ Cuốn Theo Chiều Gió ấn bản mới vợ chồng tôi kéo đi xem, nhân thể cho biết mặt mũi rạp xi-nê ở nước Mỹ ra sao. Hồi còn ở Sài Gòn chúng tôi mê xem xi-nê lắm. Rạp Rex, rạp Eden, rạp Vĩnh Lợi, rạp Đại Nam... Lần nào cũng thế hết phim ra khỏi rạp là cảnh vật bên Mỹ đứt rụp, đối diện ngay với thực tại là cái trưa hè nắng chói chang, cái bùng binh Sài Gòn đông ngụt người. Lần này ra khỏi rạp, đứng trên thềm cao đảo mắt tìm chiếc xe hơi của mình đậu trong khu parking vắng hoe của Lakewood Mall, thốt nhiên tôi lặng người. Thoáng cái tôi không biết là mình đang ở Mỹ vừa đi ra khỏi rạp xi-nê hay là tôi đang ở Việt Nam vừa bước vào trong rạp! Cứ như thế... như thế... năm đầu tiên của tôi ở Mỹ đời sống trôi đi mơ màng như không thực. Đầy những khắc giây những giấc mơ Trang Tử thời đại!

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Nguyễn Tường Thiết: Người học trò của hoạ sĩ


Đám cưới tổ chức trong căn phòng rộng trên lầu cao chót của nhà hàng Majestic. Giữa phòng mấy chục chiếc bàn phủ khăn vải trắng tinh. Trên bàn những đóa hồng đỏ thắm cắm trong những lọ thủy tinh cổ cao. Cạnh mỗi bình hoa là một liễn pha lê đựng rượu sanglia màu đỏ bordeaux có lẫn những lát cam, táo, nho màu vàng, xanh. Một người đàn ông hầu bàn mặc đồng phục thắt nơ đen bê chiếc bình giỏ mây lớn đựng rượu chát rót thêm rượu vào liễn. Trừ những người già ngồi ghế cùng với đám phụ nữ đa số những người đàn ông đứng tụm lại nói chuyện, trên tay mỗi người một cốc rượu vang. Lúc đó thực khách đã đến đông đủ và bữa tiệc cưới sắp bắt đầu. Ánh đèn lộng lẫy từ những chùm đèn pha lê ở trên trần cao toả xuống căn phòng của nhà hàng màu đỏ rực rỡ của tấm thảm sàn và của các bức màn nhung ở chung quanh. 

Có tiếng gõ gõ vào micro tiếng testing một, hai, ba rồi tiếng giới thiệu cô dâu chú rể và song thân. Bốn người bước lên bục. Ngoài cô dâu chú rể hai người đàn bà được giới thiệu là những người mẹ của dâu rể. Người ta có thể thấy ngay được sự chênh lệch về tuổi tác hai bên nhà gái và nhà trai. Cô vợ nom trẻ măng so với người chồng mà bà mẹ của cô lại càng trẻ hơn so với bà mẹ chàng rể. Ở một bàn ăn gồm những thực khách đứng tuổi, hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí vẫy người anh của chú rể lại gần. Người ấy cúi xuống. Ông Trí hỏi nhỏ vào tai: “Ông Nguyễn Xuân Thực đâu không thấy ở đây?” Hỏi xong họa sĩ giơ tấm thiệp cưới có ghi bà quả phụ Nguyễn Tường Tam ở một bên và bên kia là ông bà Nguyễn Xuân Thực. Người anh của chú rể trả lời: “Ông Thực còn ở ngoài Bắc. Năm năm tư ông chọn ở lại Hà Nội. Bà Thực một mình dẫn theo bốn đứa con nhỏ đi Hải Phòng theo đoàn người di cư lên tàu vào Nam.”

Thực khách ở những bàn tiệc phía cuối phòng có thể nhìn thấy màn đêm đen của thành phố Sài Gòn qua một tấm cửa kính thật lớn. Cuối bữa ăn một vài người đàn ông tay cầm cốc rượu rời bàn đứng sát cửa sổ nhìn ra phía ngoài. Từ trên từng cao của nhà hàng khách sạn dưới đường Bạch Đằng những chiếc taxi nhỏ như món đồ chơi êm êm chạy trên mặt nhựa. Trên sông Sài Gòn dăm ba nhà hàng nổi tỏa rực ánh đèn. Giữa dòng hai chiếc chiến hạm nằm im lìm đậu. Bên kia sông bóng tối mênh mang của vùng trời Thủ Thiêm. Nơi đó ở chân trời lâu lâu lóe sáng một trái hỏa châu vàng rực. Ánh vàng nở ra rồi lụi vào bóng đêm. Đêm đó mồng 7 tháng giêng năm 1973.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Nguyễn Tường Thiết: ĐẸP NHƯ KIẾP BOHÉMIEN



Người đẹp thành Vienne 
Trước mặt tôi là một tờ giấy nhỏ. Tất cả còn lại ghi dấu kỷ niệm của tôi với nàng. Tờ giấy chỉ là một phiếu tính tiền, mặt trước in hình màu vàng óng của một cốc bia sủi bọt. Cắt ngang cốc một hàng chữ lớn EDELWEISS. Phía dưới là một hàng chữ nhỏ Das edle weisse aus den alpen. Dưới nữa là những cột và hàng kẻ của phiếu tính tiền với những hàng chữ nhỏ mà vị trí trên cột cho tôi phỏng đoán ý nghĩa của chúng. Rechnung Mr. (Liệt kê?), Rechnungsbetrag (Tổng cộng hay Giá thành?). Tôi lật mặt sau. Mấy nét vẽ và nét chữ của nàng. Hai đường kẻ sát nhau song song có vạch những nét xéo ngắn ngắn tượng trưng cho con đường tàu điện (Tram). Hai chữ thập bên cạnh đường tàu ghi dấu hotel nơi tôi ở và quán rượu nơi chỗ chúng tôi gặp nhau. Trạm số 52. Tuyến metro N3. Trạm Westbannhoff. Và địa chỉ e-mail của nàng. Anita_kurzydlak@.

Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

Nguyễn Tường Thiết: Chai Rượu Khai Xuân


Mùa hè vừa qua nhân ghé tỉnh Vancouver BC bên Canada để thăm một người quen tôi tình cờ được đọc một tờ tạp chí cũ in từ Việt Nam. Đó là số báo Xuân Đinh Hợi 2007 với chủ đề Chơi Xuân của tạp chí NHÀ ĐẸP do Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam thực hiện. 

Số báo Xuân này là một bộ sưu tập giới thiệu những “quán đẹp” của ba miền Trung Nam Bắc với những hình ảnh màu tuyệt mỹ được in với kỹ thuật tinh xảo không thua bất cứ một magazine quảng cáo nào của các hãng máy bay mà ta thường thấy trên các chuyến phi cơ bay đường quốc tế. 

Khi giở đến trang báo giới thiệu quán cà phê La Poste của thành phố Đà Lạt tôi ngẩn ngơ xúc động và vội xin chủ nhà số báo đó để mang về cất giữ làm kỷ niệm. Bởi vì quán cà phê này chính là căn nhà xưa mà chúng tôi đã từng ở 52 năm trước và là nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm êm đềm của tôi với cha tôi.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Nguyễn Tường Thiết: Ðêm Vang


Viết cho Đặng Thơ Thơ.NTT 
một bên bờ nơi vòng cung uốn khúc của dòng Cowlitz bãi cát lài xuống lổn ngổn những hòn đá cuội tròn và trơn rêu. Một người đàn ông ngược từ phía sông đi lên. Ông ta vừa đi vừa xếp lại chiếc cần câu, đặt cần ngay ngắn trên một mô đá rồi cởi đôi găng ướt hơ hai bàn tay lạnh cóng trên ngọn lửa. Ánh hồng của đám củi cháy soi bóng hai người trên bờ sông vắng. Bóng hai cha con. Lát sau người đàn ông ngước lên nhìn trời. Lúc ấy không gian vừa hừng một chút ánh sáng yếu ớt đầu ngày, thứ ánh sáng màu đục nhờ nhờ không đủ sức xuyên qua màn sương đêm dầy đặc giăng tỏa mặt sông. Gần chiếc mô đá nơi đặt chiếc cần câu, đứa bé con đang đùa nghịch với con cá nằm thoi thóp trên bãi sỏi. Một con cá thật to và thật đẹp. Nó chưa bao giờ thấy bố nó câu được một con cá to thế. Con cá mình thon dài, nửa sống lưng trên màu xám rêu, nửa phần bụng dưới màu thép bạc, ở chỗ cái mang lớn hai bên má lại có cái màu hồng hồng. Nó lấy ngón tay chọc chọc vào mang con cá. Rồi nó xòe bàn tay đo bề ngang con cá dài hơn một gang tay. Trong khi đó bố nó lục trong ba-lô lấy ra một cái phích nhỏ rót cà-phê vào nắp phích. Cà-phê nóng bốc khói. Ông ta cúi xuống nhặt một cọng cây có tàn lửa, lục túi lấy bao thuốc lá nhón một điếu dí vào tàn lửa châm hút rồi đi ra mé bờ ngồi trên mô đá. Bên kia sông tối đen mơ hồ như có ánh lửa. Hình như từ xa lại có âm vang của núi rừng vọng về ... O.. O... ON... o... on... on.

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Nguyễn Tường Thiết: Bãi Ô Quắn

Đại lộ Trần Phú chạy dọc bờ biển Nha Trang ngăn đôi bãi cát với một dẫy những khách sạn cao tầng. Chiều xuống. Nắng còn gắt lóa trên mặt biển phía xa sau dẫy cây bàng rậm lá. Từ khách sạn Hải Yến đi ra có hai người bận đồ tắm, một đứa bé con giắt tay một ông già đi về hướng biển. Đến chỗ giữa đường nơi có lề đất ngăn đôi thằng bé đưa tay cản ông già đứng lại chờ đoàn xe máy chạy qua. Xe vãn. Ông già lụm khụm ôm bọc khăn tắm theo thằng bé bước qua đường.
Dưới tàn lá dừa trên hai chiếc ghế gỗ xếp thoải trên cát hai người đàn bà ngả lưng tay vòng sau gáy nhìn biển. Thằng bé con tiến lại chiếc bàn nhỏ đặt trước ghế hai người đàn bà quơ tay bốc một nắm kẹo vừng bỏ miệng rồi vùng chạy ra bãi cát mịn. Một trong hai người đàn bà nói:
– Cẩn thận sóng to đó con.

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Nguyễn Tường Thiết: Những lá thư Võ Phiến

Từ trái: Trùng Dương, Võ Phiến, Nguyễn Tường Thiết, Trần Huy Bích 
Đầu tháng 9 vừa qua tôi nhận được email của anh Phạm Phú Minh, trong đó anh viết: “Ngày 28/9 sắp tới là ngày giỗ đầu của anh Võ Phiến, tôi có ý định làm một số tưởng niệm trên Diễn Đàn Thế Kỷ vào ngày 25/9. Muốn xin anh một bài về Võ Phiến để đăng trong số đó. Cám ơn anh Thiết”.
Biết tôi là chỗ thân tình với anh Võ Phiến từ rất lâu, ngay từ thủa chúng tôi còn ở VN trước năm 1975, nên tôi đoán là anh Minh muốn tôi viềt về những kỷ niệm mà tôi có với anh Võ Phiến, và bài viết có nội dung như thế hẳn sẽ thích hợp với số báo tưởng niệm anh.
Tuy nhiên vào năm 2003 tôi có viết một hồi ký tựa đề “Mưa đêm cuối năm”, trong đó tôi viết về mối giao tình giữa anh Võ Phiến và tôi, cùng rất nhiều kỷ niệm giữa hai người, bài này tôi có in trong cuốn sách “Nhất Linh Cha Tôi” ấn hành năm 2006.

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Nguyễn Tường Thiết: Chú Bẩy

Hình chú thím Bẩy (giữa) và các cháu, từ trái: Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Thái Vân, 2004.
Quẳng chiếc xe đạp lên một toa chở hàng của chuyến tàu đêm chàng thanh niên họ Lý phóng mình lên toa trước khi con tàu hụ còi rời bánh chạy về hướng biên giới.
 Đó là khung cảnh nhà ga Hàng Cỏ Hà Nội vào buổi chiều một ngày tháng năm năm 1978, khung cảnh tuyền một màu xám, nhà ga trông ảm đạm và hoang tàn với những toa tàu cũ han rỉ nằm ngổn ngang trên các tuyến đường sắt.
 Chàng thanh niên nom còn trẻ lắm. Anh ta mới 25 tuổi đáp chuyến tàu đi Lào Kay để rồi từ đó sẽ vượt biên giới sang Trung Quốc.
Lúc ấy anh không thể ngờ rằng chuyến đi đầu tiên của đời mình mở màn cho một cuộc hành trình dài nửa vòng trái đất mà nơi đến sau cùng là miền nắng ấm của quận Cam thuộc tiểu bang California đất Hoa Kỳ.

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Nguyễn Tường Thiết - Gió cuốn về đâu (Where the wind leads)




Đây là một câu chuyện quá lớn để cho một người thuật lại.

Câu chuyện trải dài mười thập niên, qua hai lục địa, vượt mười một ngàn dặm. Đó là chuyện về một gia sản bị tước đoạt và một kho báu được tìm thấy, chuyện của hai người đàn ông bị mất hướng và ba người đàn bà phi thường đã làm thay đổi đời họ.

Tên tôi là Vinh Chung. Tôi sinh ra trên một đất nước nay đã mất tên và lớn lên trên một xứ sở tôi không hề biết là hiện hữu.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Nguyễn Tường Thiết - Chiếc áo choàng của Nhất Linh

Nhất Linh mặc chiếc áo choàng
Khoảng mấy năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước cha tôi sinh sống trên Đà Lạt.  Nơi đó cha tôi có hai người bạn thân: ông Lê Văn Kiểm chúng tôi gọi là chú Kiểm (vì chú nhỏ tuổi hơn cha tôi) và bác sĩ Nguyễn Sỹ Dinh chúng tôi gọi là bác Dinh.

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Nguyễn Tường Thiết - Sầu Ðông

Hình: Internet
Tôi trở vào bàn cầm lấy bao thuốc. Ông Vượng bỏ ghế đứng dậy tới nơi cửa gỗ. Hai người đứng yên một lát nhìn ra khu vườn cây. Ánh nắng buổi trưa rót qua đám lá nhãn dầy xanh đen trải xuống nền đất những đốm sáng rõ nét. Tôi bước xuống thềm vượt qua chiếc bể cá xây khuất dưới một giàn hoa leo – nước trong bể thẫm xanh như màu lá những cụm bèo – hai người dừng lại sát hàng dậu. Tôi dơ tay toan gỡ chiếc quai sắt trên chiếc cổng gỗ thấp sơn xanh nhưng ông Vượng lại tưởng lầm cử chỉ đó, ông đưa bàn tay cho tôi bắt và nói, giọng ôn tồn: “Ngày mai cháu đi may mắn. Ra ngoài đó chú sẽ biên thư giới thiệu cháu với Thiếu tá Dự là bạn học cũ của chú. Ông ấy có thể giúp cháu được”. Ông Vượng dừng lại, bàn tay lớn và chắc của ông vẫn nắm lấy tay tôi. Tôi muốn ngỏ vài lời với ông về sự ân cần mà ông đã dành cho tôi trong những ngày qua, nhưng tôi không biết nói sao.