Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tường Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tường Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

Nguyễn Tường Giang: Cái Ấm Đất Và Bộ Chén Trà Nguyễn Tuân Tặng Thạch Lam

C:\Users\Pham Phu Minh\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCache\Content.Word\Ấm chén 001.jpg

Trời mới vừa hửng sáng, đám sương mù dầy đặc từ đêm hôm trước như có linh hồn của một người yêu công việc thấy được ánh sáng đầu ngày đã vội vàng tản mát trên mặt nước Hồ Tây, như những người thợ cần mẫn vội vã đến nơi làm việc. Phía trong làng hoa Yên Phụ, những người trồng hoa đã bắt đầu gánh sản phẩm của những ngày lao động vội vã đi về phía đê Yên Phụ rồi tản mát đến các khu họp chợ để phân phát hương thơm và mầu sắc cho những thiếu nữ mộng mơ. Trên đê Yên Phụ lúc đó, người phu xe cũng vừa ngừng chạy, đặt hai cái càng xe xuống mặt đường. Một người đàn ông tầm thước mặc đồ âu tây trắng, đội mũ phớt trắng chậm rãi bước khỏi xe. Ông cẩn thận ôm trên tay một cái bọc vải mầu nâu gụ, dặn dò thời gian người phu xe trở lại đón rồi thong thả đi xuống đê, rẽ vào con đường làng nhỏ ngược chiều với những gánh hoa đủ mầu sắc. Qua cái đình có vẽ hình một con hổ vàng vằn đen, phía trước đình là một cái ao dài và nhỏ còn vương lại mấy lá sen tàn, ông nhẹ nhàng đẩy cánh cổng gỗ của căn nhà đầu tiên trên đường. Đó là một căn nhà tranh vách đất nằm bên cạnh Hồ Tây, một bụi tre khẽ lay động trước nhà và ông nhìn thấy phía bên nhà ngó ra hồ những cành liễu rủ xuống lấp lánh lá còn ướt sương. Ông đứng trước cửa nhà bằng tre, khẽ gọi: chị Lân, chị Lân. Cánh cửa hé mở, một người đàn bà nhỏ nhắn vấn tóc trần thò đầu ra: à anh Tuân, anh đến chơi sớm. Nhà tôi đang ở phòng viết, mời anh vào chơi. Người đàn ông bước vào nhà, để cái bọc vải trên mặt bàn bằng gỗ, cũng vừa lúc đó chủ nhân ở căn phòng nhỏ bước ra. Chủ nhân người gầy, cao, nét mặt thanh tú, đôi mắt sâu và lông mày rậm. Hai người bắt tay nhau: anh ngồi chơi, lâu không thấy anh tới tưởng anh lại đi giang hồ đâu xa. Hai người ngồi xuống hai chiếc ghế mây ở hai đầu bàn, người khách mở gói vải bầy ra mặt bàn một bộ đồ trà và một hộp trà nhỏ: xin chị cho một ấm nước sôi. Chủ nhà tò mò ngắm nghía bộ đồ trà: một cái ấm trà mầu đỏ chu sa, một cái đĩa bàn lòng chảo bằng sứ men trắng dưới lòng đĩa có vẽ hình những con kỳ lân với những cái đuôi dài quấn vào nhau, tựa như một tấm bản đồ cổ. Một cái chén tống và một chén quân có cùng một họa hình như cái đĩa bàn, còn một chén quân khác vẽ cảnh bốn người ngồi trong thuyền ngoạn cảnh bên bờ nước có những tảng đá lớn có một cái cây nhỏ vươn ra. Trên thành chén quân này có bẩy chữ Tầu, ắt hẳn là một câu thơ. Chủ nhân cười hỏi: không biết đây có phải là bộ đồ trà trong “những cái ấm đất” và “chén trà trong sương sớm” chăng. Tôi nào có nghi ngờ những điều anh viết đâu. Khách biết là chủ nhân chỉ hỏi đùa, ông vẫn cảm cái ơn tri ngộ của một người bạn văn cùng nòi tình khi viết những lời phê bình cảm động cuốn truyện ngắn ông mới in. Tôi cũng có việc sắp phải đi xa nên đến cùng anh uống vài chén trà từ biệt. Cũng xin để tặng anh bộ đồ trà của gia đình. Khi nào anh uống trà sẽ nhớ đến Nguyễn này. Một cái hỏa lò đã được mang lên cùng một cái ấm đồng, than trong hỏa lò đã đỏ lửa, bọt than nổ tí tách. Khách mở hộp trà Thiết Quan Âm mới tìm mua được hôm qua rồi khéo léo và từ tốn pha trà. Hai người im lặng thưởng thức trà rồi nhẹ nhàng nói những chuyện văn chương chữ nghĩa. Họ có nhiều chuyện để nói với nhau bởi đó là hai nhà văn cùng tuổi, cùng thời, cùng nổi tiếng vì những bài viết sâu sắc và tinh tế về nghệ thuật ẩm thực và những thú vui tao nhã xưa và nay. Cả hai cùng mới dứt bỏ được ả phù dung, một người vừa in Ngọn Đèn Dầu Lạc, người kia đã có trong tay bản thảo Mười Năm Đèn Lửa. Phải chăng họ là Bá Nha Tử Kỳ của Văn Chương.

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

Nguyễn Tường Giang: Nghe Tiếng Sóng, Nhớ Khi Ở Thị Nghè

tặng một người, nhớ một thời

Ngõ khuất khúc đêm tàn hơi ẩm
Mùi dạ lý hương thấp thoáng đầu hè
Em phấn son nụ cười thấm mệt
Giọng jazz buồn còn vọng dư âm

Trời nóng ẩm mồ hôi ướt áo
Gió ngoài sông thổi lạnh hơi nồng
Đêm im lặng đêm ngời đồng thiếp
Giữa thịt da cháy lửa điên cuồng

Chân bước xa môi còn hơi ấm
Mùi của hương, của áo, cuả hoa
Sợi tóc vướng dài như tơ liễu
Gót giầy đêm âm vọng biệt ly

Có tiếng sóng từ xa vọng lại
Mơ hồ nghe mộng tưởng năm xưa
Còn chút dư âm đời đã tận
Hương đã tàn,
hoa đã rụng
môi ai héo khô

Em ơi một giấc mộng hờ
Mà sao nhớ lại vẫn ngơ ngẩn lòng

08/05/95

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Nguyễn Tường Giang: Ở Thủ Đô Nhớ Về Tháng Tư

Hình minh hoạ, Spencer Platt/Getty Images

không có tiếng súng nổ
không nghe tiếng đạn bay
không có bom rơi trên đường trên phố
không nhà cháy tan hoang gạch ngói
B52 dải bom dọc xương sống Trường Sơn
chỉ thấy mây mù bay thấp
trên khắp nẻo quê hương
ngày nào
tôi đứng một mình trong một thành phố chết
không người
ngó ngọn cờ hoa bay phập phồng
trong gió
lạnh người

quanh hồ Thủy Triều hoa vẫn nở
anh lính vệ binh đứng gác bên cầu
hình bóng cũ
đôi mắt em đen láy bên hoa
giọt máu loang trên má
bây giờ em đã ở đâu


Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Thơ Nguyễn Tường Giang

Hình minh hoạ, Christopher Furlong/Getty Images

THU


bạn bè ngồi uống rượu
nóng mùa hè đã tan
một người bâng quơ nói
vườn sau chiếc lá vàng

ở nhà N.M.H
08/23/2019
Nguyễn Tường Giang


MỘT MÌNH…


Bỗng nhiên tôi nhớ về Hà Nội
bỗng nhiên tôi nhớ phố Hàng Than
bỗng nhiên lòng tôi sầu vô hạn
và một mình, tôi khóc trong đêm

Có những nỗi buồn không nói được
những thì thầm không biết tỏ cùng ai
như buổi sáng nay tôi nhớ về Hà Nội
vì ngoài trời có mưa bụi bay

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2019

Nguyễn Tường Giang: Nghe Tiếng Sóng, Nhớ Khi Ở Thị Nghè


tặng một người, nhớ một thời

Ngõ khuất khúc đêm tàn hơi ẩm
Mùi dạ lý hương thấp thoáng đầu hè
Em phấn son nụ cười thấm mệt
Giọng jazz buồn còn vọng dư âm

Trời nóng ẩm mồ hôi ướt áo
Gió ngoài sông thổi lạnh hơi nồng
Đêm im lặng đêm ngời đồng thiếp
Giữa thịt da cháy lửa điên cuồng

Chân bước xa môi còn hơi ấm
Mùi của hương, của áo, cuả hoa
Sợi tóc vướng dài như tơ liễu
Gót giầy đêm âm vọng biệt ly

Có tiếng sóng từ xa vọng lại
Mơ hồ nghe mộng tưởng năm xưa
Còn chút dư âm đời đã tận
Hương đã tàn,
hoa đã rụng
môi ai héo khô

Em ơi một giấc mộng hờ
Mà sao nhớ lại vẩn ngơ ngẩn lòng

08/05/95

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

Nguyễn Tường Giang: Biển Trầm



Vào buổi sáng bãi cát có một hình vuông rất đều đặn. Từ trên đường vòng quanh núi nhìn xuống, bãi phía trái được giới hạn bởi thân một con tầu lớn đã cũ và rỉ sét cả đến những móc xích nối với mỏ neo. Bên tay phải, một mũi đất nhô ra biển, đầy cỏ lau và những bông hoa tím lấm tấm. Cạnh còn lại của hình vuông được vẽ bởi mặt biển, những làn sóng chạy từ ngoài khơi vào bãi, tung lên và sả vào lòng cát, vẽ một đường thẳng rất linh động trên bãi. Bấy giờ vào khoảng một giờ trưa, sóng đã bắt đầu lớn và nước biển lên rất cao. Bãi cát dần dần dài ra trở thành một hình chữ nhật, đôi khi dẹp đến độ người ta không nghĩ là có một bãi cát ở phía dưới làn nước ào ạt. Những chiếc dù đủ mầu dựng đầy trên bãi, gió thổi lướt qua nghe sào sạc, trông xa và ở cao như những mũ nấm dại lung lay theo làn gió. Đó là một ngày thường trong tuần, một ngày thứ hai thứ ba hoặc một ngày tương tự. Từ trên các bực thang bằng đá dẫn xuống bãi, một người đàn ông đang chậm chạp bước xuống. Ông ta có một dáng người rất thanh và cao, cử chỉ uể oải buồn nản. Một điếu thuốc lá cháy trên môi, không nhìn thấy khói vì ánh nắng chói chang quá. Tay trái mang một túi sách mầu xanh nước biển, loại sắc tay của các hãng hàng không tặng cho hành khách. Tay phải người đàn ông để trong túi quần, cánh tay lẫn với mầu áo. Sau người đàn ông hai ba bực đá là một cô gái. Khoảng cách giữa hai người vừa làm như họ đi chung với nhau, vừa làm như tình cờ họ gặp nhau vì cô gái có vẻ bước nhanh. Cô gái còn rất trẻ, ánh nắng lấp lánh trên cặp mắt kính lớn mầu hồng, loại kính rất được ưa chuộng. Chiếc mũi nhỏ xinh xắn hỉnh lên, tóc cắt ngắn đến cổ mịn và nâu. Cô ta mặc một chiếc áo thung dài tay mầu mỡ gà, phía trước ngực có vẽ một con thỏ với hai cái tai lớn. Chiếc váy ngắn trên đầu gối một khoảng dài, mầu nâu đỏ hòa lẫn với mầu da. Gần đến dẫy nhà để thay quần áo, hai người bị chặn lại bởi những đứa trẻ cho thuê dù. Người đàn ông chỉ tay vào chiếc dù ở ngoài cùng, dù có những ô xanh đỏ thật đẹp mắt. Một đứa nhỏ chạy lại, tiếng nói bay trong gió:
-    Dù đó của cháu, để cháu dẫn ông bà xuống

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

nguyễn tường giang: một ngày như mọi ngày



tôi mỗi ngày nhìn hàng vạn tấn bom
đổ lên đầu những người dân vô tội
ở Beirut, ở Qana
những trẻ em ánh mắt ngỡ ngàng
tay, chân bạn bè rải rác
máu không kịp chẩy
đã cháy thành than

đàn máy bay tự do bay lượn
như một bầy diều hâu
những sáng tạo văn minh nhân loại
mỗi ngày một tiến bộ
giết người

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

NGUYỄN TƯỜNG GIANG: THANH XUÂN



Photo: Phạm Tử Trước

(Đêm nghe ca sĩ trẻ hát nhạc tình)
tặng NMH

Em còn trẻ và em má đỏ
Em còn trẻ và em môi hồng
Em còn trẻ và em nhún nhảy
như chưa từng biết có ai.

Em còn trẻ và rất thơ ngây
liếc mắt đưa tình
vào trái tim tôi
tan nát

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

Nguyễn Tường Giang - Như Phong, Giấc Mộng Không Thành


Tới Thăm Vietnam Veterans Memorial, Washington D.C, 
từ trái: Nguyễn Tường Giang, Như Phong, Ngô Thế Vinh
[nguồn: photo 
by Phạm Bội Hoàn] 


Khi tôi đến thì ông đã đi rồi, khoảng 15 phút trước đó. Trong phòng bệnh chỉ có ba người, một thanh niên Mỹ còn trẻ đi qua đi lại với chiếc điện thoại cầm tay nhưng không nói, một người ở vùng này tôi có quen biết, trước làm chủ một cửa hàng bán sách và hoạt động trong nhiều lãnh vực văn hóa xã hội, và anh Ẫn, người em cùng cha khác mẹ của ông mới bay qua từ California. Chúng tôi trao đổi những chuyện bâng quơ, bàn tán về chuyện cô gái nuôi của ông hình như đang ở Nhật Bản với người bạn trai đã không về kịp, nhưng không ai nhắc nhở gì về ông. Ông nằm  lặng lẽ trên giường với tấm chăn trắng mỏng kéo lên tới cổ, mắt đã khép, không biết ai là người vuốt mắt cho ông, đôi má gầy hóp lại và miệng còn mở ra như muốn tìm chút dưỡng khí cuối cùng. Những người chết già vì bệnh tật đều có dáng vẻ giống nhau như nhưng thiền sư fakir chỉ sống bằng sương cỏ, mà có lẽ ông đã là đệ tử trong thời gian dài ở trong tù. Con người, cuối cùng lại trở về nguyên vẹn hình hài là một bộ xương khô mà khi còn sống được tô điểm thịt da và giao phó một nhiệm vụ nào đó trên chốn trần gian muôn hình vạn trạng này. Mới hơn một tuần lễ trước đây, khi nghe tin ông bị bệnh hiểm nghèo từ nhà thương về, tôi vội vã đến thăm ông. Cô con gái nuôi mở cửa cho tôi vào, ông đang ngồi chờ tôi trước một chiếc bàn viết nhỏ làm bàn tiếp khách, một đường dây kéo dài từ hai hốc mũi đến một bình dưỡng khí lưu động trên sàn nhà, khuôn mặt gầy gò và hai má đã mất sắc, đôi mắt ông đã mất hẳn vẻ linh động và tinh anh  đặc thù khi trước, tôi biết ông đang ở những ngày cuối cùng. Ông mời tôi uống trà từ một bình trà Nhật có những mấu nhọn ở ngoài và mời tôi ăn bánh đậu xanh một người quen nào mới mang đến tặng. Trên mặt bàn, phía bên tay phải của ông, là một chậu lan với những cánh hoa vàng nhạt tựa như những cánh bướm nhỏ, tôi nghĩ là lan Hồ Điệp và chợt nhớ tới Nhất Linh. Ông hỏi thăm gia đình tôi và tôi hỏi thăm sức khỏe ông, vẫn như những lần trước tôi đến thăm ông khi ông còn khỏe. Tôi vẫn nhắc tới dự tính của ông khi muốn viết lại giai đoạn lịch sử những năm 1940-1950, những năm đầy biến cố sôi động ở Việt Nam mà ông có tham dự, những chuyện bên lề mà ông có dịp may chứng kiến, những annecdotes mà tôi hay gọi đùa là Dị Sử. Những năm gần đây ông lặn lội nhiều chuyến qua Aix en Provence khi Văn Khố Pháp Quốc Hải Ngoại giải mật những tài liệu ở Việt Nam với dự tính thu thập tài liệu để viết “Chính Sử” về thời kỳ kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến Quốc-Cộng 1945-1946, như trong thư ông viết cho Lê Mạnh Hùng (tác giả bộ Nhìn Lại SỬ VIỆT) ngày 09 tháng 06 năm 1995:”Hãy để dành vốn để cùng nhau viết một pho sử giai đoạn 1935-1945 cho hậu thế”. Ông vẫn vui vẻ bông đùa, tôi còn phải sống lâu để hoàn thành một số chương trình. Ông không trả lời tôi về những gì ông đã viết được sau khi thu thập tài liệu ở Pháp, và những bài viết nếu có và tài liệu hiện được lưu giữ ở đâu. Khi ông cố gắng đứng tiễn tôi ra cửa, tôi nhìn qua vai ông, căn phòng đơn giản với những bức tường trắng, một bức họa vẽ chì của họa sĩ Nguyễn Gia Trí treo ở mặt tường và những bông hoa lan lung linh như bay trong gió, tôi biết đó lá lần cuối cùng tôi gặp ông.

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

Nguyễn Tường Giang - Bên Bờ Sông Ðáy


Sông rộng đò chừng như ngại sóng
Lửa chài heo hắt bến đò xa
Đứng ở bên bờ làng quê cũ
Tưởng chừng như kẻ ở rất xa

Đêm lạnh thu sầu trăng vàng quạch
Nhà ai đỏ lửa ấm mùi rơm
Tiếng gọi đò nghe chừng cô quạnh
Hồn tôi về đã bốn mươi năm

Tôi về đứng ở bờ sông cũ
Đứa bé nào bơi giữa lòng sâu
Thuở ấy thân trôi ra cửa biển
Còn gì đâu những chuyện trước sau

Thì cũng như hồn ma năm cũ
Thảnh thơi nằm dưới đất quê hương
Tôi đứng mà lòng như kẻ lạ
Một hồn ma đắm mấy đoạn trường

Đêm nghe tiếng vạc kêu sương
Về đây rửa nốt vết thương cuối đời

         12/26/97



Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Nguyễn Tường Giang - Cảm Nghĩ Tháng Mười

Nguyễn Tường Giang - 


Tặng Oanh, bạn đời.


  1. Tháng mười - Buổi sáng trở dậy ngó ra ngoài cửa sổ, những lá phong đã đổi mầu phơn phớt đỏ. Chút lạnh của không khí trong phòng làm ấm một chiếc áo len -mùa thu - thèm một chút cà phê và bước ra ngoài trời. Đâu đó dưới bầu trời chập chùng của mùa thu – sous le ciel agité de l’autome - bầu trời chập chùng hay lòng người xao động. Anatole France của thời trẻ dại – và những ước mơ.
  1. Tháng mười - Thức dậy trong một căn phòng nhỏ - 1975 –mùa thu đầu tiên nơi xứ lạ - West Orange, New Jersey - một địa danh mới - chiếc lá đầu thu vàng óng ánh. Như một cậu học trò trường làng lên tỉnh - những cuốn sách với danh từ xa lạ - trên ba mươi tuổi đầu vẫn đèn sách đi thi - giảng đường ồn ào trước giờ học - nỗi lo sợ của một tình thế mới - điếu thuốc lá trên môi trở nên đắng ngắt - biết đến bao giờ ?
  1. Tháng mười - Trận gió thu phong rụng lá vàng (Tản Đà ) – căn nhà nằm trên một triền dốc cạnh hồ - lá năm đó rụng sớm đã dầy trên mặt cỏ - những mầu nâu đỏ xen lẫn với lá vàng tươi - bức tranh ấn tượng mùa thu của Jackson Pollock – lò nướng bốc khói và những mùi vị thơm ngon giữa khí trời lạnh - những bạn hữu mới khác xứ nhưng cùng một nhịp đập trái tim - những con người - lời hỏi thăm giã từ - đứa em trai theo người con chủ nhà xuống mặt hồ loay hoay nổ máy chiếc tầu nhỏ - mặt nước hồ im lặng - lắng đọng - mặt hồ cuả một ngày bình yên – tìm đâu một cánh bướm vàng mỏng trong sương mờ.
  1. Tháng mười – Lá thư nhận được từ quê nhà - người anh rể và lũ cháu đã vượt biên - sóng chập chùng và hung hãn - mặt biển không phải là mặt hồ - và những chiếc lá đầu mùa thu đã rụng – chìm sâu trong lòng biển. Người vợ lặng nhìn ra khung cửa - nước mắt ở trong lòng – và ngoài kia là hư vô. Nước mắt chúng sinh nhiều như nước biển – thêm một giọt nước mắt nữa – thêm một giọt máu nữa cho quê hương. Đóa hoa hồng đã tàn – nhưng đầu nhọn của gai còn cắm trong tim.
  1. Tháng mười - Buổi sáng còn chập chờn vẻ u ám của bóng tối – sương mù phủ kín mặt đường – trên đầu ngọn lá cây. Con chim thức sớm vẽ một đường bay nhỏ - theo một người bạn lên thăm trại - những con đường làng nhỏ bé - những con đường làng của quê hương – mùi cỏ dại - Người bạn nói: chỗ này là trại của ông nội tôi – phía xa kia cuối tầm nhìn là một mặt hồ - căn nhà nhỏ đã cháy đang dựng lại – Cây táo trước nhà tôi đã bao lần leo trèo – Bánh cao su đen lay động dưới đầu thừng - Rất nước Mỹ miền Nam - Mỗi người cần có một quê hương - để về.
  1. Tháng mười - Trời là trời của một mùa thu - Nắng đã vàng lên rực rỡ - Đi theo con suối nhỏ dưới chân đồi – nghe róc rách niềm hiu quạnh - Đất ẩm và mốc dưới bóng lá thay mầu - vỏ một chiếc xe hơi cũ nằm chênh vênh trên đá – Ai đã ngồi đó và ai đã bỏ đi – Còn ai tiếc thương ai.
  1. Tháng mười - Chiếc xe bus trở về thành phố - New York đã lên đèn – Kinh thành rực sáng – Đêm mơ Hà Nội giáng Kiều thơm ( Quang Dũng ) – Còn ai ở lại bên kia sông.
  1. Tháng mười - Mở cửa vào trong nhà – căn phòng ấm cúng - người vợ ngồi đan áo len mỗi mùa thu dưới chụp đèn ánh sáng vàng ấm - sợi len nhẹ như tơ màu cỏ úa - chiếc cassette nhỏ bên cạnh - lời ca huyền dụ và tiếng hát lênh đênh – Tôi xin làm sao đêm hay là cây đèn nhỏ, em bên đèn sẽ nhớ nắng trên những đường đi ( T.C.S. ) - lời ca thanh bình - chợt thấy ngọt ngào đời sống - Hạnh phúc ở đâu xa - Hạnh phúc là làm ấm lòng một người - bạn đời.
  1. Tháng mười - Mùa thu - Câu thơ của một người bạn còn ở lại - Joseph Huỳnh Văn: Tìm trên đá - Cọng cỏ vàng run rẩy - Cỏ nào - và đá nào - Nỗi cô đơn như một đường kiếm bén - Lạnh trong tim.
  1. Tháng mười - Một chín tám hai - Nguyễn Tường Giang.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Nguyễn Tường Thiết - Hai đứa tôi...


Diễn Đàn Thế Kỷ hân hạnh giới thiệu cuốn Thơ và Văn

KHÓI HỒ BAY

của nhà văn, nhà thơ NGUYỄN TƯỜNG GIANG. Sách do Thạch Ngữ xuất bản 2012, họa sĩ Nguyễn Đồng trình bày, Nguyễn Tường Thiết viết bài giới thiệu phần Văn (Hai Đứa Tôi), Phạm Phú Minh giới thiệu phần Thơ (Tĩnh lặng, khói hồ bay).

Khói Hồ Bay dày 384 trang, không ghi giá bán và địa chỉ liên lạc.


Nguyễn Tường Thiết

Hai đứa tôi...

... tản bộ buổi sáng một ngày đầu thu trên con đường vòng hồ Green Lake của thành phố Seattle. Trời se lạnh. Co mình trong chiếc áo ấm hai tay thủ túi chúng tôi im lặng đi bên nhau cùng hồi tưởng về một năm nào xa xưa cũng buổi sớm mù sương hai đứa tôi trong tuổi đôi mươi co ro trong chiếc áo len sánh vai đi trên con đường vòng hồ Xuân Hương của thành phố Đà Lạt.
Hai đứa tôi giống nhau ở nhiều điểm. Cùng là con út trong nhà. Cùng chạc tuổi nhau do đấy thân nhau từ hồi còn bé. Hai đứa tôi cùng mang nghệ sĩ tính thừa hưởng từ hai nhà văn nổi tiếng. Cùng ôm giấc mộng viết văn từ nhỏ nhưng vì bản chất lười lĩnh và thiếu đam mê cả hai chúng tôi đều không theo được nghiệp bút của cha.

Khi chú Sáu của tôi qua đời năm 1942 tuổi của Giang lúc ấy vỏn vẹn ba ngày. Khi bác Tam của Giang mất năm 1963 tuổi tôi hai mươi ba.
Với Giang, Thạch Lam là cái bóng trong tâm tưởng. Với tôi, Nhất Linh là cái hình trong hồi ức.
Giang mở đầu một bài hồi ký viết về cha mình bằng một cái chết:
Chết là giải thoát một đời. Chết là đầu bên kia của sợi giây ngày tháng. Một sớm kia, một tối nào. Tôi hay anh, cũng thế. Bên kia cái chết là nội cỏ ngàn cây hoa mộng hay bên kia cái chết là thảng thốt khổ đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết, nhiều khuôn mặt chết. Quá nhiều. Nhưng không bao giờ, mãi mãi, tôi có thể hình dung được một cái chết, một khuôn mặt chết thân yêu nhất và buồn bã nhất của đời tôi. Cái chết của cha tôi, Thạch Lam.” (Khói Hồ Bay - Thạch Lam, cha tôi trong tâm tưởng).

Giang kết thúc cũng một hồi ký về cha mình bằng một cái bóng:
Tôi vẫn mơ tưởng đến cái thời ông sống, vẫn hoài hủy đi tìm kiếm ông, bởi vì, tôi chưa bao giờ có ông. Còn ông, ông có nhớ chăng đến đứa trẻ ông chỉ để mắt nhìn thoáng qua, rồi gạt tay cho mẹ tôi mang đi chỗ khác, truớc khi ông làm một chuyến đi xa, rất xa. Tôi nói với ông: “không, con không có điều gì bận tâm cả”. Ông giơ tay định vỗ vai tôi, rồi chợt ngừng lại: “chiều rồi, chắc con phải về Hà Nội kẻo tối”. Đến bây giờ tôi chợt nhớ ra là tôi lại sắp mất ông, tôi bật khóc và ôm chặt lấy ông.
Hai tay tôi ôm vào khoảng không. (Khói Hồ Bay - Một buổi chiều đi chơi với Thạch Lam)

Năm mươi năm qua...
Tôi bất chợt lùi lại mấy bước nhìn phía sau lưng hai người. Giang, cao hơn tôi, nặng nề hơn, tóc bạc xóa, trắng như tuyết. Tôi, tóc hoa râm, ở gần đỉnh đầu phía sau lộ một khoảng da đầu hói. Tôi nói:
– Chúng mình gìa đi thấy rõ...

Tôi nhìn ra phiá sau ông, bầu trời hơi đục, có vẻ hiu hắt của mùa thu. Một dải núi thấp nhấp nhô cắt những đường viền mờ ảo, tím nhạt. Tôi hơi rùng mình, một cơn gió lạnh lùa qua. Ông đứng sững giữa khoảng không, trống và rộng, bàn tay phải để trên cằm, một ngón tay, ngón tay trỏ, tựa trên đầu mũi cao và thẳng. Đôi mắt sâu và đen nhìn bâng quơ ra phía trước, nhưng không chủ đích, tựa như ông nhìn một hình ảnh nào rất xa xôi trong quá khứ, không có ở nơi này. Tôi cúi xuống loay hoay gỡ những bông cỏ may bám vào gấu quần, đã lâu lắm, có thể hơn năm mươi năm, tôi mới gặp lại những bông cỏ may trên cánh đồng - thời thơ ấu nghèo nàn của những năm tản cư cùng anh chị và mẹ, như những nhân vật không có thật ở một xóm Đìa xa xôi vùng Nhã Nam, Yên Thế - thời đó ông đã chết rồi”. (Khói Hồ Bay - Buổi chiều đi chơi với Thạch Lam)

Giang cũng quay lại nhìn. Hai đứa tôi có vài nét giống nhau như tạc. Mắt sâu, mũi cao, lông mày rậm. Đó là tướng của bà nội chúng tôi. Với đôi mắt sâu sâu, sống mũi cao, lông mày rậm, bà mang nét lai của người tây phương và truyền cho dòng Nguyễn Tường ba đời chúng tôi những nét tây tây ấy. Giang nói:
– Hôm nọ xem cuốn video kịch Đoạn Tuyệt tôi thấy ông trông giống chú Bách quá. Ông có nhận thấy không, chú Bách càng già trông càng giống tây lai.

Qua những đối thoại bâng quơ như thế chúng tôi mở đầu câu chuyện về dòng họ. Một chuyện mà chúng tôi vẫn thường bàn trong lúc trà dư tửu hậu. Chúng tôi mặc sức thả lỏng cho óc tưởng tượng.
Tưởng tượng một câu chuyện hư cấu xẩy ra từ lâu lắm trong thế kỷ 16 tại thành phố Hội An, sau này người Pháp còn gọi là Faifo. Hồi đó Hội An là một nơi buôn bán quốc tế phồn thịnh, nhiều thương nhân người Tây phương như Hoà Lan, Pháp, Tây Ban Nha đã đến mở thương hiệu ở đó. Ngoài ra Hội An cũng là cửa ngõ mà các cố đạo người Bồ Đào Nha đến truyền giáo. Một mối tình dị chủng hay một vụ cưỡng bách tình dục xẩy ra giữa một thương nhân hay một ông cố đạo nào đó với một người đàn bà bản xứ đưa đến một đứa con lai. Rồi từ đó cái “gien” của đứa con lai truyền qua nhiều đời, càng về sau nét lai càng nhạt, chỉ giữ lại ở đôi mắt và sống mũi. Tôi hỏi Giang:
– Ông là bác sĩ ông nghĩ liệu mình có thể chứng minh câu chuyện tưởng tượng đó bằng DNA?
– That’s possible! Tôi nghĩ đây là một cái thèse tiến sĩ y khoa rất hay cho con cháu của chúng mình sau này.

Bên hồ tây, một đêm đầu mùa thu, hai người đứng bên một cây liễu. Trời cao xanh thẳm, gió hiu hắt. Bên trái hai người là một bụi tre nhỏ, cành hơi ngả nghiêng theo chiều gió. Chú Sáu tôi bàn với cha tôi về câu chuyện văn chương.
Cành lá tre này cũng như những cành là tre khác, không có gì đặc biệt. Nhưng tôi không bao giờ nhìn ngắm một cành tre mà không thấy nổi lên trong lòng những ý nghĩ và cảm giác lúc nào cũng giống nhau. Khi thấy các lá tre thổi vút một chiều, tôi cảm thấy một vang động âm thầm và kín đáo trong tâm hồn.
Chúng ta yêu mến cảnh vật và cảm thông với thiên nhiên đã từ lâu lắm rồi. Giữa chúng ta với cảnh vật, với cây cỏ, với núi non, có một sự quen thuộc, một sự thân mật đằm thắm và sâu sắc lạ lùng. Một cây đối với chúng ta không phải chỉ là một cái cây: đó là một linh hồn đương sống, cũng mừng vui và cũng đau khổ như chúng ta...
Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không, chứ không thể học tập mà thành được. Muốn cố sức tìm hiểu thế nào cũng không bằng cái “trực giác” nhiệm màu của tâm hồn nghệ sĩ. Tả cảnh tre trước gió cũng ngần ấy nét, ngần ấy chữ, nhưng sự cảm giác rộng rãi trong không gian và thời gian của người nghệ sĩ chân chính khiến nét họa có linh hồn, có vang động ra xa...
Có hai lối quan sát: một lối quan sát bề ngoài và một lối quan sát bề trong. Trông bề ngoài thì chỉ thấy được cái trạng thái sự vật của một cảnh tượng: một hành vi chỉ là một hành vi, chứ không có cái ánh sáng bên trong đem ra soi tỏ, giảng giải và làm thành rộng rãi... Người ta có thể tập nghe cho tinh tường, tập trông cho chu đáo, nhưng không có con mắt của linh hồn thì không bao giờ soi thấu được cái bí mật của tâm lý.
(Thạch Lam - Câu chuyện bên gốc liễu)

Giang bảo tôi:
– Ông biết đấy. Mấy chục năm tôi làm cũng khá nhiều thơ và viết cũng nhiều truyện ngắn. Thế mà chả ra nổi một tập thơ hay in được một cuốn truyện. Mấy tháng trước tôi chợt có ý định gom tất cả lại xuất bản thành một cuốn sách xuất bản cho vui, vì thế mới có chuyện tôi gửi ông nhờ ông đánh máy và layout dùm. Bởi tôi rất dốt về computer.
Tôi bảo Giang:
– Hai cuốn sách của tôi xuất bản tôi tự trình bầy lấy. Tôi làm cho ông thì cũng được nhưng không thể nào đẹp bằng dân chuyên môn. Sao ông không nhờ những tay nghề trình bầy và layout, và bỏ tiền in thật đẹp và trang nhã?
– Cũng được. Nhưng ông viết cho tôi đôi lời giới thiệu phần văn xuôi được không?
Tôi im lặng suy nghĩ. Tôi có thể viết cho Giang nhưng tôi không biết viết cách nào. Sau khi bỏ ra gần tháng đánh máy những bài viết của Giang, tôi đã nhập tâm. Thoáng một cái, qua dòng văn của Giang, hình ảnh cha tôi hiện lên lãng đãng trong sương mù.

Một buổi sáng mù sương nào ở núi rừng Phi-Nôm, người bác già đã dẫn tôi, một cậu bé chưa đầy mười lăm tuổi, vào khu rừng sau nhà tìm lan. Căn nhà bằng gỗ nằm xa quốc lộ, phía sau mở một con đường vào rừng. Qua một con suối nhỏ róc rách những tiếng reo vui – Người đi lâu chửa thấy về. Nhớ người lòng suối Đa Mê gợn buồn – là tới rừng rậm. Mùa mưa, rừng âm u và những con vắt lạnh như kim khí bám vào người khiến tôi không có một chút thích thú nào. Ông đi một đôi ủng cao-su cao đến đầu gối, mỗi lần kiếm được một loại lan lại giảng giải tôi nghe. Tội nghiệp tôi, trời lạnh và trí óc còn mơ đến những bông hoa rực rỡ của cuộc đời, tôi nào có thấy những cánh hoa thanh khiết và cao quí của núi rừng là đẹp. Ông chỉ tôi ngửi từng loại hoa, nhưng hương thơm của lan nhẹ quá, nhẹ đến nỗi khứu giác non nớt của tôi chỉ thấy mùi đất ẩm và gỗ mục. Tháng tám năm đó, ông làm những ngôi đèn ông sao bằng giấy bản mỏng và cả ngày ngồi vẽ từng loại lan trên mặt đèn. Ngày rằm đèn được thắp sáng bằng những ngọn nến nhỏ, những bông lan như nở hết những cánh hoa đẹp nhất, lung linh trong trận mưa nhỏ hạt. Bây giờ ông đã chết. Tôi ngó bông lan mới nở, ngó những lá lan dài và thon nhẹ, những chiếc rễ cây nhỏ bám vào đất ẩm của chiếc vỏ dừa bổ đôi hay một thanh gỗ mục. Tôi đã già rồi chăng. Tôi đọc hai câu thơ nhớ được về lan: Sắc trong Thanh Ngọc hương thơm mộng. Một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần. (Khói Hồ Bay - Mộ Bia)
Khói Hồ Bay phần văn xuôi gồm bẩy bài: ba hồi ký, ba tùy bút và một truyện ngắn.
– Ông Giang này, trong văn của ông có ám ảnh thời tiết. Ba bài tùy bút trong cuốn sách của ông thì hai bài có tựa đề “Mưa” và “Những ngày lạnh rớt”, bài tùy bút khác “Thành Phố” và truyện ngắn “Biển Trầm” nội dung cũng nhiều ẩm ướt và lạnh...
Đó là một chiều mưa đầu tháng sáu. Cơn mưa kéo dài từ buổi sáng một cách buồn nản. Những lá cây ngang cửa sổ lay động dịu dàng, hắt những giọt mưa vào mặt kính rồi lại yên lặng kéo ra xa, lấp lánh. Tôi đã ngồi im lặng hàng giờ ngắm những lá cây, cố tìm một bông hoa nào còn sót lại. Những giọt mưa kéo dài thành sợi nhỏ, như tơ trên mạng nhện, theo chiều gió quấn quít vội vã. Buổi chiều lạnh lùng và âm thầm, như không khí âm thầm đốt cháy thành than những thân gỗ tươi”. (Khói Hồ Bay - Biển Trầm)
– Ông nhớ có lần mình bàn với nhau về văn chương, thế nào là một truyện hay? Truyện hay hay không là tùy truyện, tùy người. Với tôi, truyện hay là phải lưu lại cho người đọc một làn không khí bao trùm cái không gian lẫn khí hậu của truyện.
– Ông nói giống ý tôi. Truyện mà tạo được một “khí hậu” theo tôi là truyện thành công. Ông chắc đã đọc Snow Falling on Cedars của David Guterson. Đọc xong truyện này người ta có thể quên hết những tình tiết trong truyện nhưng cái khí hậu mà cuốn sách lưu trong tôi, cái không khí ẩm lạnh đặc thù của miền tây bắc nước Mỹ, nơi tôi sống mấy chục năm nay, thì vẫn thấm mãi vào tôi rất lâu sau khi đọc.
– Khi tôi đánh máy lại bài Biển Trầm tôi bỗng nhớ đến truyện Đêm Vang của ông và tôi thấy văn phong và cách dựng truyện của tôi và ông có đôi phần giống nhau. Ông có thấy thế không?
– Tôi cũng nhận thấy thế. Nhất là ở thể hồi ký. Ông viết về chú Sáu tôi viết về ông cụ đều không theo lối truyền thống mà theo lối văn chương, nó gần với tùy bút hoặc truyện ngắn hơn là hồi ký. Lạ một điều là những bài văn xuôi ông viết ở tuổi đôi mươi, trong thập niên 70 của thế kỷ trước, trong khi những bài tôi viết ở thế kỷ này, lúc tôi đã ngoài 60 tuổi. Vậy mà văn phong của hai đứa mình giống nhau lắm. Ông có nghĩ là cái giống nhau ấy có liên hệ xa gần gì với cái “gien” của dòng họ?
– Có thể ông đã đi quá xa về tính di truyền.
– Không đâu. Ông tin là có di truyền trong nét chữ không? Tôi thì tôi tin lắm. Ông cụ tôi chữ viết nhỏ như chân kiến nhất là về lúc cuối đời. Chữ tôi cũng thế, càng về già càng lí nhí y như chữ ông cụ. Người ngoài nhìn vào khó phân biệt tuồng chữ của hai cha con. Gần đây tôi khám phá ra, một cách gần như sợ hãi, tuồng chữ của thằng con trai tôi, dù nó viết bằng Anh ngữ, cũng nhỏ nhí một cách bất thường.

Chúng tôi im lặng. Hai đứa nhìn ra mặt hồ. Trên mặt hồ thu phẳng lặng hai con vịt sóng đôi lướt trên mặt nước tạo nếp nhăn rẽ hai bên. Đó là đôi Canadian geese. Con lớn màu tuyệt đẹp: đầu đen lánh, cổ trắng, đôi cánh màu lục biếc. Con nhỏ màu đất tầm thường giống màu cánh con chim sẻ. Tôi nghĩ thầm: loài vịt Gia Nã Đại này thật lạ, con đực lớn xác nhưng lười biếng và thụ động trong viêc truyền giống, trời phải phú cho chàng một bộ mã thật đẹp để quyến rũ những nàng vịt mái.

– Ông Giang này, cái này thì tôi tin rằng do di truyền: nỗi buồn bàng bạc trong văn ông. Một nỗi buồn không nguồn cội từ trong hồn tỏa ra ngoại giới y như câu thơ mở đầu bài Thu Rừng của Huy Cận: Bỗng dưng buồn bã không gian... Hầu như tôi luôn luôn bắt gặp trong mỗi đoạn văn ông một nỗi buồn thầm kín nó lấp ló đằng sau mọi niềm vui như chỉ rình chờ để xuất hiện vào những lúc bất ngờ nhất. Văn ông, cũng như văn Thạch Lam, Nhất Linh bàng bạc cái sợi tóc rất mỏng manh của hạnh phúc. Ông đã thừa hưởng mà không tự biết cái “gien” buồn nằm sẵn trong dòng máu mình, nó nằm trong ông kỹ hơn người khác vì ông có bản chất thi sĩ và vì ông là nhà thơ duy nhất của dòng họ.
Có những nỗi buồn đến rất tình cờ, không báo trước. Đang ngồi nói chuyện với mấy người bạn thân, nhấp một ngụm cà phê còn giữ đầy hơi nóng, bỗng cảm thấy cái chất nước sánh đen kia thấm vào lưỡi, dịu dàng và buồn bã biết bao. Một người bạn nào, sau khi hút một hơi thuốc dài, những ngón tay đặt trên đầu gối hơi rung rung, đọc một câu thơ ở đâu đó bất chợt nhớ được, rồi lại im lặng nuốt những làn khói mỏng và đục như vẩn mây vào tận trong phổi. Lồng ngực bỗng ran lên một hơi ấm rất nhẹ và êm, tưởng chừng những câu thơ đó đã biến thành máu chạy loang vào cơ thể. Những nỗi buồn ấy tràn ngập tâm hồn chúng ta, không hẹn hò, như một người tình nhân đến tình cờ vào một ngày trời mưa, rất mưa. (Khói Hồ Bay - Những ngày lạnh rớt...)

Cái buồn đọng trong không gian của một thành phố, dù là một thành phố dấu yêu.
Tôi chợt hiểu tại sao tôi không thể rời xa thành phố này. Thành phố như một cái nôi đã ấp ủ tôi bao nhiêu năm, đã đón tôi như đón một cánh bướm non. Có con đường nào tôi không từng đi qua, những quán nước tiệm ăn nào tôi đã cùng bạn bè và người yêu ngồi suốt thời niên thiếu. Ngôi nhà của mẹ tôi trong một ngõ hẻm tồi tàn, những nỗi đớn đau của cuộc tình tan vỡ. Đêm nào tôi còn đi lang thang khắp các hè đường, khóc nức nở một mình, sát mặt vào vỏ cây cho đến khi rướm máu. Bây giờ mẹ tôi đã chết, nhưng tôi cảm thấy mỗi phân vuông không khí trong thành phố này mẹ tôi đã thở, và tôi đang thở mỗi ngày luồng không khí ấm áp đi qua buồng phổi yếu đuối của bà. Có quá nhiều người trong thành phố, nhưng thành phố sống trong tim mỗi người như một nỗi mến yêu thầm kín, còn dấu tận đáy lòng. (Khói Hồ Bay- Thành Phố)

Cái buồn nằm sẵn trong sự nhàm chán của cuộc sống thường nhật.
Chồng hồ sơ trình ký còn nằm trên bàn, không bao giờ thấp đi, tựa như có một bộ máy đẩy hàng ngàn hàng vạn hồ sơ khác, tích tụ từ muôn đời, được dấu kín đáo dưới mặt bàn hay chôn trong lòng đất. Tôi đã làm việc bao nhiêu buổi chiều trong đời và còn bao nhiêu buổi chiều chờ đợi. Đã gần tới giờ nghỉ việc. Ngoài cửa phòng là một hành lang rộng, giờ này chắc những nhân viên đã thu dọn giấy tờ, ngồi nói chuyện chờ tiếng kẻng khua vang rời rạc hay chờ tôi ra về sớm hơn. Về nhà, hôn nhẹ lên môi người vợ quen thuộc đến độ không ý thức được ý nghĩa của sự tiếp xúc, như phản ứng bình thường đã được lặp đi lặp lại mỗi ngày, như bước chân vào cửa, thay quần áo, đọc sơ qua tờ báo phát hành buổi chiều, chờ đứa con lớn đi học về rồi cả nhà quây quần quanh bàn ăn. Những món ăn thường lệ không gây thích thú, được sắp đặt theo một thời khóa biểu vô hình. Nói chuyện vu vơ về người bạn này người bạn khác. Buổi tối nay có người rủ đánh bài hay giục vợ sửa soạn đi coi một phim mới trong tuần, hoặc thăm người chị ở tỉnh xa mới về. Mấy đứa con ngồi coi truyền hình, cãi nhau về chương trình phát hình được đăng tải phần nhiều sai lầm trên các cột báo nhỏ trang tư. Tôi bỗng thấy thèm uống một ly cà phê trên phố, một mình, sống lại cái không khí buồn nản nhưng quyến rũ, những ngày rất xa, rất xa và không bao giờ còn trở lại.”. (Khói Hồ Bay - Biển Trầm)

*

Hai đứa tôi đi được nửa vòng Green Lake. Nhìn qua mặt hồ phía bên kia là rặng phong mà mùa thu đã chuyển sắc lá sang màu đỏ ối. Thu ở Washington hay thu ở Vermont cũng thế thôi. Lao xao. Rào rạt. Mênh mông. Và sầu lá đỏ...

gió thổi lao xao thềm cỏ úa
rào rạt ngàn cây lá đổi màu
trên những sắc xanh sầu lá đỏ
quạnh hưu vàng rơi hồn mênh mông
(Khói Hồ Bay - Thu ở Vermont)

Không như Giang, tôi không phải là nhà thơ. Tôi không bao giờ làm thơ. Nếu cố gượng làm thì hầu như chắc chắn thơ tôi sẽ dở. Nhưng trong thâm tâm tôi ước ao mình là thi sĩ hơn là nhà văn bởi vì không hiểu sao tôi vẫn cho thơ là đỉnh nghệ thuật cao nhất của loài người.
Tôi chỉ có một an ủi là hình như văn phong của tôi cũng bàng bạc chất thơ, như tôi đã nhìn thấy rất rõ trong văn xuôi của Giang.

Xin cảm ơn Giang về đoá hoa hồng mà Giang đã tặng cho muôn vàn những người không bao giờ làm thơ, trong số có tôi.

Để hiểu một bài thơ trước tiên phải là thi sĩ. Ôi cái lập luận đanh thép đó vô duyên và trơ trẽn làm sao. Người ta không phải cứ làm thơ là trở thành thi sĩ. Có người suốt đời không làm một câu thơ nào cũng có thể là thi sĩ biết bao. Phải chọn giữa một người làm thơ không có tâm hồn thi sĩ và một thi sĩ nhưng không bao giờ làm thơ, tôi xin gửi tới những người không làm thơ bao giờ đoá hoa hồng của một mùa đẹp nhất.” (Khói Hồ Bay - Những ngày lạnh rớt...)

Nguyễn Tường Thiết





nguyễn tường giang - Buổi chiều đi chơi với Thạch Lam


nguyễn tường giang

- cuối cùng rồi con cũng đã về

- vâng, con đã về dù có hơi chậm

- cũng chẳng sao, bao nhiêu là đổi thay

- vâng, cũng là một đời người

Tôi nhìn ra phiá sau ông, bầu trời hơi đục, có vẻ hiu hắt của mùa thu. Một dải núi thấp nhấp nhô cắt những đường viền mờ ảo, tím nhạt. Tôi hơi rùng mình, một cơn gió lạnh lùa qua. Ông đứng sững giữa khoảng không, trống và rộng, bàn tay phải để trên cằm, một ngón tay, ngón tay trỏ, tựa trên đầu mũi cao và thẳng. Đôi mắt sâu và đen nhìn bâng quơ ra phía trước, nhưng không chủ đích, tựa như ông nhìn một hình ảnh nào rất xa xôi trong quá khứ, không có ở nơi này. Tôi cúi xuống loay hoay gỡ những bông cỏ may bám vào gấu quần, đã lâu lắm, có thể hơn năm mươi năm, tôi mới gặp lại những bông cỏ may trên cánh đồng - thời thơ ấu nghèo nàn của những năm tản cư cùng anh chị và mẹ, như những nhân vật không có thật ở một xóm Đìa xa xôi vùng Nhã Nam, Yên Thế -thời đó ông đã chết rồi. Lúc tôi ngửng lên chợt thấy ông cao hơn tôi cả một cái đầu, dáng vẻ thanh tú và ung dung. Tôi cảm thấy ngượng vì thân thể đẫy đà của mình, tự hỏi nếu ông còn sống đến tuổi tôi, người ông có nặng nề như vậy không.


Khi tôi đến thăm anh Đạo ở phố Đinh Liệt, anh không có nhà. Đó là một cửa hiệu nhỏ bán quần áo trẻ con, trời đã vào cuối thu, đã thấy những cái áo len nho nhỏ rất xinh xắn treo ở gần cửa ra vào, một cái áo len của Gió Lạnh Đầu Mùa. Chị Đạo mời tôi một ly trà chờ cô con gái đi tìm bố về “ bố cháu chỉ đi quanh quẩn đâu đây thôi “. Thật là một đời sống thanh bình. Một cửa hàng nhỏ, những mầu sắc ấm cúng của mặt hàng, người vợ ngồi pha một ấm trà tiếp khách, cô con gái vui vẻ với một nụ cười rất có duyên đi tìm bố về. Đó chỉ có thể là một cảnh vật trong một phim ảnh thời tiền chiến (tôi và một người bạn nhạc sĩ đã bao lần dự tính làm phim Đôi Bạn của Nhất Linh). Nhất định đó không thể là cảnh thật, bất cứ ở nơi nào, bất cứ ở đâu vào đầu thế kỷ 21. Từ một đời sống rất chộn rộn đầy lo âu bên Mỹ, tôi bàng hoàng ngồi đây, thời gian như ngừng lại, và tôi thấy có thể Thạch Lam đang tản bộ ở ngoài kia, ngắm nghía những tấm bảng kẻ tên các cửa hiệu của Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Anh Đạo vào, chúng tôi chào nhau và không cần giới thiệu chúng tôi có cảm tưởng như đã quen biết từ lâu.

Câu chuyện bắt đầu từ gần một năm nay. Khi anh Việt, con bác Tam (Nhất Linh) đến ăn giỗ Thạch Lam –chúng tôi dù hoàn cảnh thế nào vẫn tiêp tục giữ truyền thống giỗ tết trong gia đình kể từ ngày mẹ chúng tôi mất đi. Anh Việt kể lại việc đi tìm mộ ông nội chúng tôi, một cách rất tình cờ và may mắn ở Cẩm Giàng. Rồi mộ của Thái, con thứ của Nhất Linh, đã tìm lại được dù mộ được di chuyển từ một nghĩa trang ở Hà Nội đến Sơn Tây trong thời kỳ chiến tranh, mộ vẫn giữ được tấm bia cũ tên khắc thô sơ bằng tay. Lân la câu chuyện, tôi hỏi thăm các chi tiết và hy vọng sẽ có đầu mối để có thể tìm được ngôi mộ của cha tôi, trước đó đã được bốc và chôn ở nghiã trang Hợp Thiện. Đó là một ngày u ám, những năm đầu của nửa thế kỷ trước, tôi thấy mấy người phu đào mộ mò lên từ một hố nước những khúc xương, có khúc còn dính thịt và được rửa sạch bằng rượu ta. Tôi vẫn còn nhớ như in cảnh mẹ tôi khóc thảm thiết khi tìm được một mảnh vải chưa tan đi cùng năm tháng và một vài lọn tóc được vớt lên. Tất cả được xếp lại ngay ngắn trong một cái tiểu sành, hai đầu nhô lên những góc nhọn, nhưng tuyệt nhiên tôi không còn nhớ được hình thù và những chữ khắc trên tấm mộ bia.

Anh Đạo đã viết một lá thư trong việc tìm ngôi mộ mới của cha tôi. Mộ đã được chuyển lên nghĩa trang Yên Kỳ/Sơn Tây. Hình như tất cả các ngôi mộ ở Hà Nội đều được chuyển lên Yên Kỳ trong thời kỳ chiến tranh. Chỉ có một vấn nạn là đã có hai ngôi mộ cùng tên Nguyễn Tường Lân, một ngôi mộ được xác định vị trí trong sổ sách của ban quản lý nghĩa trang Hà Nội ở Phùng Hưng, là nơi giữ sổ sách chính các mộ được di chuyển từ Hà Nội đến nghĩa trang Yên Kỳ và một ngôi mộ cùng tên trong sổ sách của ban quản lý tại Yên Kỳ lại xác định một vị trí khác, không ăn khớp với nhau. Cả hai ngôi mộ đều là mộ vô danh, không có bia và đều được anh Đạo chụp ảnh gửi cho tôi. Đó là lý do thúc đẩy tôi phải về Hà Nội gặp anh Đạo, và hy vọng từ đó có thể tìm ra manh mối giải quyết vấn đề.

Tôi và anh Đạo ngồi nói chuyện với nhau, chuyện gần chuyện xa, chuyện những tháng ngày anh đã trải qua ở miền Bắc sau 1954 và những ngày sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1975. Chúng tôi tuy lần đầu gặp nhau mà như đã có nhiều kỷ niệm để chia sẻ. Cha anh Đạo đã bị bắt và mất tích từ năm 1948, cùng với anh ruột của Nhất Linh là Nguyễn Tường Cẩm ở Thường Tín/Hà Đông. Cha anh là thư ký riêng của Nhất Linh trong những ngày hoạt động. Từ sau hết chiến tranh, anh Đạo đã bỏ rất nhiều công sức để đi tìm xác của người cha mất tích. Anh đã xây sẵn một ngôi mộ cạnh ngôi mộ của mẹ anh, ngôi mộ còn để hòm trống chờ mong được hài cốt về. Anh Đạo đã kể cho tôi nghe những khó khăn và các phương thức tìm kiếm, những câu chuyện về linh cảm tưởng như không có thực, những ngày tháng đào nát cả một khu ruộng hay vùng đất nghi ngờ là có chôn xương cốt của cha anh. Rồi anh thở dài, cho rằng sự thất bại là vì trong gia đình có nhiều sự chống đối. Người em trai của anh, một họa sĩ, đã phản đối việc đi tìm hài cốt của người cha mất tích “không lẽ anh mang về một cái xương bò để thờ tôi cũng phải lậy hay sao”. Trong gia đình tôi cũng có một vài ý kiến không đồng nhất về việc đi tìm lại mộ của cha tôi. Chúng tôi bàn đến những giải pháp khác biệt, như hãy để yên những cái gì đã qua, như một giải pháp tĩnh lặng của nhà Phật – hay một cách rất khoa học là thử nghiệm DNA, nếu có thể lấy được một mảnh xương hay sợi tóc. Phương cách này bị người chị tôi nhắc nhở về chuyện “động mồ động mả “, là một việc rất kiêng kỵ của nhiều người Việt Nam miền Bắc. Tôi có cãi lại “ mộ cậu cũng được di chuyển từ Hà Nội đến Sơn Tây thì sao “, anh chị tôi đều đồng ý là di chuyển vì chiến tranh và do người khác làm thì không sao. Tôi đưa ra phương án là nếu không giải quyết được khi tôi ở Hà Nội thì xây cả hai mộ để hương khói, có khi lại làm phúc cho một người, rồi sau đó sẽ tìm cách xác định cho chính xác. Sau buổi nói chuyện hôm đó với anh Đạo, anh cho biết là phương thức thử nghiệm DNA có thể gặp nhiều khó khăn. Anh có giới thiệu một vài người dùng linh cảm, nhưng thời gian chờ đợi rất lâu, tôi không thể ở lại Hà Nội được. Chúng tôi hẹn ngày mai “đi lại từ bước đầu” để xác định sự khác biệt trong sổ sách của Hà Nội và Sơn Tây. Tôi vẫn có linh cảm là sẽ có một sự việc gì xẩy ra và công việc sẽ trôi chảy. Tôi về khách sạn với một nỗi buồn rất nhẹ nhàng, ngày mai tôi sẽ gặp cha tôi.

Anh Đạo ngồi chờ tôi ở dưới cửa hàng, trong tay anh có một bao ny lông để sẵn vài cái phong bì. Chúng tôi dự tính sẽ đến trụ sở nghĩa trang Hà Nội ở Phùng Hưng để xét lại vị trí của ngôi mộ trong sổ ở đây. Anh nói với tôi: "lần trước tôi không biết bên anh có quyết tâm hay không nên tôi chỉ hỏi sơ sài, nên không được tận mắt nhìn cuốn sổ". Rồi anh hỏi tôi có sẵn một số tiền để vào phong bì. Tôi hiểu ngay đó là tiền trà nước rất phổ thông bây giờ. Anh cũng đề nghị mua sẵn một số hoa quả, vàng hương để cúng khi lên nghĩa trang Yên Kỳ. Tôi giao anh một số tiền nhờ anh cứ dùng tự do cho mọi việc trôi chẩy. Cô con gái rất có duyên và mau mắn chạy đi lo việc mua vàng hương, cậu con rể liên lạc thuê xe cộ để lên Yên Kỳ. Chị Đạo nói cũng sẽ đi theo. Chưa biết công việc xoay chuyển ra sao, nhưng tôi rất cảm động về sự chân tình của một gia đình nền nếp cổ, của một thời rất xa xưa. Anh Đạo đèo tôi trên xe máy đến trụ sở Phùng Hưng. Văn phòng ban quản lý nằm bên cạnh và có lẽ là một phần của ngôi chùa cổ, chúng tôi đi qua hành lang bên có xắp xếp rất nhiều cỗ đại quan, sơn son thếp vàng chói lọi. Tôi nghĩ đến những cỗ quan tài bằng gỗ quý, hồng tâm nằm lặng lẽ ở một căn phòng các gia đình quyền thế, chờ đợi mang đi một thân thể nhẹ như tơ của những người bình thản chờ đợi cái chết, không như bây giờ… người ta cứ hốt hoảng cả lên! Văn phòng nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai cái bàn và hai kệ tủ, một tấm sơ đồ nghĩa trang Yên Kỳ với các khu đánh số treo trên tường, có một hai người đến trước chúng tôi. Tôi và anh Đạo ngồi chờ trên băng ghế hẹp kê sát tường. Khi đến lượt, anh Đạo chào người coi sóc giấy tờ, ngồi xuống mép bàn và nhẹ nhàng để phong bì phía trước. Tôi đứng cạnh anh, nhìn lơ đãng như một người đi theo, không có công việc gì. Người trưởng ban chỉ vào khoảng 30-40 tuổi, gầy gò và có khuôn mặt thiếu cởi mở, tôi nghĩ có thể là vì thói quen nghề nghiệp. Anh tên Đức. Khi anh Đạo trình bầy lại vấn đề, anh Đức nói sõng: thì tôi đã đưa số ngôi mộ lần trước rồi, anh còn lôi thôi gì đây. Với một sự bình tĩnh và nhẹ nhàng tôi hiếm thấy ở Mỹ, anh Đạo vẫn từ tốn: vâng, xin anh cứ cho chúng tôi coi lại sổ một lần nữa cho chắc, có cả con ông Nguyễn Tường Lân ở đây. Sau một hồi dùng dằng qua lại, anh Đức mở tủ hồ sơ tìm một cuốn sách khổ lớn, bìa dầy, trông rất cũ như đã được mở ra đóng lại nhiều lần. Khi đến trang có tên Nguyễn Tường Lân và số ghi địa chỉ ngôi mộ, tôi xin phép được chụp ảnh. Sau vài giây đắn đo, anh Đức đồng ý cho tôi chụp trang sổ có ghi tên Nguyễn Tường Lân, khu E 18, mộ 86. Tôi chợt thấy ở đầu tên có ghi số 586 bằng chữ rất nhỏ. Tò mò hỏi thì được biết là số được viết lên các tiểu sành khi di chuyển để không lẫn lộn. Anh Đức nói: mặc dù là cao điểm của thời chiến tranh nhưng chúng tôi cũng rất cẩn thận. Tôi quên hỏi không biết đó là khoảng thời gian nào, thời gian người dồn về Hà Nội quá đông, hay cần đất cho nhu cầu quân sự, hay thời gian Mỹ ném bom…nhưng dù sao đó cũng là một việc làm tốt, nếu không thể để yên mồ mả như xưa. Bài toán đố đã có đáp số, nhưng tôi và anh Đạo vẫn giữ vẻ bình thản và cám ơn anh Đức. Tôi có xin chụp ảnh anh để làm kỷ niệm nhưng bị từ chối, tôi chỉ xin phép chụp sơ đồ nghĩa trang Yên Kỳ để việc tìm mộ dễ dàng hơn. Ra đến ngoài, anh Đạo mới than phiền: “tay này chơi sỏ mình, lần trước anh ta coi sổ rồi viết số ngôi mộ đưa cho tôi, không cho tôi coi tận mắt. Vì không đưa tiền nên thiếu đi một con số”. Rồi anh vui vẻ nói với tôi: ”thế là cả hai sổ đều ăn khớp, cụ linh thiêng thật”. Chúng tôi rời trụ sở Phùng Hưng một cách rất hồ hỡi, đến nỗi mấy bà bán hàng bên đường phải kêu lên: “hai ông già muốn chết hả”, rồi hai ba giọng vang vang nhắc nhở: “đi ngược chiều rồi”. Vừa lúc đó đèn xanh bật lên, một đợt xe máy chạy ào ào như đâm vào chúng tôi.

Đường lên Yên Kỳ, Sơn Tây đã được tu bổ nên xe chạy rất thoải mái. Những cánh đồng, bờ cây bụi cỏ hai bên đường và làng mạc xa xa đều gợi cho tôi một cảm giác man mác, như tôi chưa bao giờ rời bỏ quê hương này. Tôi hỏi anh Đạo về những địa danh bên đường nghe và đọc nhiều nhưng chưa bao giờ đi qua. Tôi đã về Hà Nội đôi ba lần, nhưng lần nào đi ra ngoài miền quê tôi cũng thấy bồi hồi, xúc động. Khi gần đến Yên Kỳ, những khu đồi đang được khai phá và san bằng để làm thêm nghĩa trang, trông như những khu đất được khai phá để xây thêm khu gia cư mới ở Mỹ. Rồi những ngôi mộ được xây cất ở hai bên đường, mái ngói xanh đỏ tựa như những mái nhà san sát ở các tỉnh đông dân bên Tầu, nhìn từ trên cao xuống. Những sự việc sau đó đều tuần tự diễn ra như dự tính của anh Đạo, chúng tôi gặp anh Song là người sẽ xây ngôi mộ cho cha tôi, chúng tôi vào uống nước (như một thủ tục phải có) ở một quán nước nhỏ lộ thiên trước cổng nghĩa trang, mời những anh phu đào mộ điếu thuốc lá thơm, một điếu hút, vài điếu bỏ túi. Những anh phu đào mộ trông mặt rất cô hồn, con mắt nào cũng có tia máu đỏ, không biết là vì rượu nhiều hay vì đêm ngày phải tiếp xúc với cõi bên kia. Anh Song đèo tôi và anh Đạo vào văn phòng của ban quản lý nghĩa trang, trà nước, phong bì và sổ sách. Người coi văn phòng mới vừa ngủ trưa, mặt lờ đờ còn hôi mùi rượu, căn phòng chập choạng không đủ ánh sang dù là giữa ban ngày, tập sổ đã cũ bằng giấy học trò. Chúng tôi so tên và số mộ, đúng là ăn khớp với số mộ dưới Phùng Hưng, ghi số hàng và số mộ đếm từ bên trái. Nghĩa trang nào cũng mang một vẻ quạnh hiu, huống chi nghĩa trang Yên Kỳ rất lớn, nằm trên cả một ngọn đồi san phẳng. Phần trước của nghĩa trang, đa số các mộ đã có gia đình nhận nên xây cất mộ phần rất khang trang, với nhiều mô hình, không biết khi còn sống ra sao nhưng bây giờ thì ngôi mộ nào cũng vững chắc, đồ sộ, mái ngói xanh đỏ, nạm bạc nạm vàng. Về phiá cuối của nghĩa trang, nhìn xa xa là các giải núi thấp, mờ mờ như trong sương, các ngôi mộ vô danh nhiều hơn là mộ có chủ, thấp lè tè, cỏ hoang mọc lấn các lối đi. Khu đất có ngôi mộ của cha tôi nằm trong vùng hoang dã đó, chỉ có một tấm bảng nhỏ kẻ chữ đỏ xác định vị trí. Tôi đi dạo quanh các ngôi mộ, từng hàng xếp so le, có nhiều ngôi mộ đã gần như chìm xuống bằng mặt đất, chỉ còn chút bờ xi măng nhú cạnh lên. Có một trục trặc nhỏ trong khi xác định vị trí của ngôi mộ, vì số hàng và số mộ ở trong sổ không phù hợp với số mộ đếm từ ngôi mộ đầu ở khu đó, tôi và anh Đạo lại phải trở đi trở lại văn phòng ban quản lý, xem xét từng ghi chú và tên tuổi các ngôi mộ lân cận đã có xây bia và có tên, rồi đếm ngược đếm xuôi để xác quyết đâu là ngôi mộ của cha tôi. Cuối cùng khi đã định được ngôi mộ, anh Đạo mới nhỏ nhẹ chỉ cho tôi hàng chữ Nguyễn Tường Lân anh đã đánh dấu bằng phấn mờ, thì ra anh đã lên đây nhiều lần và tìm dùm mộ cha tôi. Tôi đưa tấm ảnh chụp ngôi mộ này anh gửi cho tôi -vì lúc đó vẫn chưa ăn khớp với sổ ở Phùng Hưng. Anh chỉ cho tôi một tia sáng mặt trời chiếu vào ngôi mộ (có thể là artifact khi chụp). Anh nói: “khi tôi nhìn ánh sáng chiếu vào ngôi mộ này, tôi có linh cảm đó là mộ của cụ”. Tôi vốn là một bác sĩ, có nhiều tinh thần khoa học, nhưng trên đời này có biết bao chuyện khoa học không hoặc chưa giải thích nổi. Tôi vẫn tin ở đời này, người ta chỉ cần một tấm lòng, và tấm lòng của tôi ngày hôm nay là gặp lại được cha tôi: ”Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng”. Chúng tôi dọn cỏ, cúng hoa quả, thắp hương. Tôi dùng một hòn đá nhỏ khắc vào mặt trước bờ xi măng: Thạch Lam Nguyễn Tường Lân -1910-1942, và đó cũng là mẫu cho tấm bia xây mộ, giản dị và nhẹ nhàng. Tôi cứ đi quanh quẩn mãi, thắp hương cho các mộ phần chung quanh, như ngày nào mẹ tôi dẫn chúng tôi đi tảo mộ ngày Thanh Minh, một ngày đã rất xa. Buổi tối, khi về gần Hà Nội, những đụn rơm được đốt trên cánh đồng toả khói nặng nề, không khí có vẻ đông đặc và ẩm, ánh sáng của lửa hiu hắt chập chờn, tôi nghĩ đến phong hỏa đài của thời chiến quốc, đến những mái nhà rơm rạ bị đốt cháy thời tiêu thổ kháng chiến, đến ánh lửa lập lòe như ma chơi trên nghĩa địa khi tôi chạy trốn Tây càn quét, tất cả đã xa rồi một thời chiến tranh tàn khốc. Tôi chợt rùng mình, bây giờ đã hết chiến tranh. Người tài xế đổi sóng phát thanh trên xe, người tôi mê đi, chương trình bắt vào phần cuối của bài bình văn: truyện ngắn Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam. Tôi thấy lại cái âm u, buồn tẻ của một phố huyện nhỏ và tiếng còi tầu cùng những ánh sáng của toa tầu, tôi thấy lại cô tôi và cha tôi ngồi vẩn vơ bên cạnh ngọn đèn hoa kỳ, tôi thấy lại cả một thời thơ ấu của tôi, không có cha tôi.

Khi còn nhỏ tôi thường có những giấc mơ. Tôi vẫn có trong trí tưởng một buổi sáng nào đó, khi cha tôi đã quần áo chỉnh tề, với trên tường chiếc mũ phớt nhạt mầu, cầm một cuốn sách đang đọc dở, hay một tờ báo đầu ngày để đi đến tòa báo, tôi chạy theo ông. Có thể đó là một ngày ông cảm thấy vui vẻ, hay cảm thấy không phải với thời gian ít ỏi dành cho các con, ông cho tôi đi theo. Tôi nắm tay ông đi men theo con đường nhỏ lên bờ đê Yên Phụ. Tôi mặc một cái áo trắng cộc tay bỏ trong quần sọc, đi một đôi săng đan cao su, nắm chặt tay ông như sợ ông sẽ biến đi, cha tôi cười và bế tôi trên tay. Tôi vẫn không thể tưởng tượng nổi tôi sẽ làm gì trong tòa báo nhỏ bé, chạy loanh quanh dưới các gầm bàn đã cũ, hay loay hoay nhặt nhạnh những trang giấy in mẫu để sửa. Mẹ tôi thường kể rằng cha tôi hay ngồi đánh cờ tướng với bạn bè ở tòa soạn khi rảnh rỗi, ông đánh cờ khá cao, như anh Đ. tôi bây giờ cũng nổi tiếng là một người đánh cờ rất sắc nước. Hoặc ông với cây đàn tranh để lên bàn, lơ đãng và thanh thản gẩy lên những thanh âm theo cảm hứng, một bản cò lả hay nam ai. Thi sĩ Huy Cận, khi tôi gặp ông năm 95 để tìm kiếm một số kỷ niệm về cha tôi, đã kể với tôi rằng, có lần ông đến tòa báo tìm cha tôi, khi nghe tiếng đàn tranh vọng ra, đã đứng nép vào bên cửa để nghe, chỉ dám gõ cửa khi tiếng đàn đã dứt. Ông nói với tôi: ”cha anh đánh đàn rất hay”, rồi ông vội vã lật vài trang sách khoe tôi về những kỷ niệm ông viết về cha tôi: ”Tôi đã từng quen Thạch Lam, con người mảnh khảnh tưởng như chỉ một làn gió có thể đẩy đi, một thân hình tưởng như chỉ làm bằng cảm giác, cái khối cảm giác ấy đã hóa thân vào văn anh”.

Có những sự việc giống nhau một cách rất tình cờ. Khi tôi bằng tuổi ngày ông mất, tôi cũng đã có ba con, ông: một gái hai trai, tôi: một trai hai gái. Nhưng sự giống nhau đã ngừng ở đây. Khoảng ba bốn
năm trước đó, vì một sự thôi thúc mạnh mẽ không giải thích được, tôi quyết tâm bỏ nghề bác sĩ và lao đầu vào nghiệp văn chương. Sau khi đã xông xáo vào các hoạt động chính trị với tất cả lòng nhiệt thành của tuổi hai mươi, tôi và một số bạn bè cùng Thế Uyên hoạt động hăng say với cơ sở là nhóm văn hóa Thái Độ, đa số là làm báo chui, bất hợp pháp và vận động chính trị trong giới các sĩ quan trẻ, hy vọng sẽ đem lại một xã hội chủ nghĩa không cộng sản. Dĩ nhiên đó chỉ là một ảo tưởng, và một ảo tưởng rồi cũng sẽ tan vỡ. Tôi cũng còn nhớ một lần, đã rất lâu, tôi đến thăm bác Tam (Nhất Linh) ở chợ An Đông, hỏi thăm bác với tinh thần bác cháu trong gia đình, khi tôi sắp ra về, ông có nói với tôi: ”bác rất thương cậu cháu, nếu cháu có định làm gì thì nhớ đừng bao giờ dính vào chính trị”. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu bác Tam tôi, ngày xưa, có một lần nào nói với cha tôi câu đó, hay bằng một hình thức tế nhị hơn, đã không lôi kéo cha tôi vào các hoạt động đảng phái – tình thương cho một đứa em yếu đuối hay sợ bà nội tôi buồn, để lại đứa em được bà mẹ thương yêu đặc biệt hơn trong gia đình. Năm tôi 32 tuổi, tôi và một số bạn bè đã chủ trương một tập san thuần túy văn chương: Tập San Văn Chương, chủ yếu chỉ có phê bình và sáng tác. Tôi lập nhà xuất bản Thạch Ngữ với tôn chỉ: sách đẹp, đúng chính tả và có giá trị thời gian. Nhưng chiến sự đã đưa tôi đến một ngã khác, đã lôi tôi ra khỏi “giấc mộng văn chương”. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi phải chăng tấm lòng yêu văn chương của tôi không phải là thực tâm, mà sự thúc đẩy và dằn vặt chỉ vì tôi sinh ra trong một gia đình văn chương. Nếu sự thật là như thế, sao đến bây giờ tôi vẫn thấy cuộc đời tôi thiếu thốn một cái gì rất mơ hồ, một cái gì đáng lẽ tôi phải làm nhưng tôi đã không làm…Tôi vẫn mơ có một buổi chiều nào tôi cùng cha tôi thơ thẩn trên một con đường ở Hà Nội, một con đường từ đê Yên Phụ đến Cổ Ngư, hay một ngã rẽ vào vườn hoa hàng Đậu, chúng tôi cùng 32 tuổi, cùng nói với nhau các chuyện đời thường, chuyện vợ con, cuộc sống và bạn bè, và chuyện văn chương. Tôi sẽ có dịp hỏi cha tôi có phải khi ông viết truyện dài Ngày Mới chỉ là một lời tạ lỗi với người mẹ, một người mẹ có lẽ rất buồn và không bằng lòng về đứa con bà yêu quý nhất đã tự ý lấy một người vợ lớn tuổi hơn mình, lại rất nghèo và không có danh phận – các đứa con khác đều nghe lời bà, có danh phận và có vợ thuộc gia đình khá giả. Cha tôi có lẽ có một tâm hồn rất yếu đuối, rất thương người và hy sinh cả cuộc đời để chăm chút đến những số phận nhỏ bé nhưng đáng quý, một tâm tình nhân bản và hiền dịu biết bao. Tôi có thể kể cho ông những khó khăn ông để lại cho vợ con vào thời kỳ bắt đầu của súng ống và hận thù, của những cái nghèo đói thật sự mà ông đã phơi bầy trên nhiều trang sách. Tôi có thể nói với ông rằng ông đã không lầm khi chọn mẹ tôi làm vợ và che chở cho bà khi ông còn sống, và chúng tôi cũng rất biết ơn cái gia sản tinh thần ông để lại, trước bao nhiêu khó khăn dập vùi của cuộc sống, chúng tôi vẫn có những ngày như hôm nay. Tôi có thể kể bao nhiêu chuyện xẩy ra từ ngày ông mất đi… nhưng có hề chi, vì tôi biết rằng, ông sẽ nhẹ nhàng nói với tôi: không có chuyện gì là sai hay phải, là xấu hay tốt, khi người ta cư xử với nhau bằng một tấm lòng.

Gió đã bắt đầu lạnh và buổi chiều đã về.

Ông nhìn tôi một cách dịu dàng rối hỏi:
- con có vẻ có nhiều điều bận tâm.

Tôi nhìn ông, nhìn vào đôi mắt sâu và buồn. Tôi có biết bao nhiêu điều để nói, những chuyện riêng tư của gia đình, của anh chị tôi. Tôi muốn kể với ông về các cháu, chắt và cả chít nữa của ông. Nhưng ông còn trẻ quá, không biết ông có hiểu. Đứa con đầu lòng của tôi bây giờ cũng đã sống hơn ông năm năm, vẫn còn lông bông chưa vợ con. Thời thế đã khác rồi, nhưng tôi vẫn cảm thấy ông sống trọn vẹn hơn chúng tôi. Tôi vẫn mơ tưởng đến cái thời ông sống, vẫn hoài hủy đi tìm kiếm ông, bởi vì, tôi chưa bao giờ có ông. Còn ông, ông có nhớ chăng đến đứa trẻ ông chỉ để mắt nhìn thoáng qua, rồi gạt tay cho mẹ tôi mang đi chỗ khác, trước khi ông làm một chuyến đi xa, rất xa. Tôi nói với ông: ”không, con không có điều gì bận tâm cả”. Ông giơ tay định vỗ vai tôi, rồi chợt ngừng lại:”chiều rồi, chắc con phải về Hà Nội kẻo tối”. Đến bây giờ tôi chợt nhớ ra là tôi lại sắp mất ông, tôi bật khóc và ôm chặt lấy ông.

Hai tay tôi ôm vào khoảng không.

05/10/2004
nguyễn tường giang



Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Đại Hạ Giá

Nguyễn Tường


 Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v.v... hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

-         Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.   -         Anh mua bánh bò, bánh tiêu?   Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:   -         Anh có bán... trả góp không?   -         Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?   -         Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.   Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.   Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:   -         Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.   -         Nhưng...   -         Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.   Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.   -         Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá!   Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :   -         Thầy Bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!   Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:   Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’.

http://macphuongdinh.blogspot.com/


Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

NGUYỄN MẠNH HÙNG, FLAMENCO VÀ …..


Các nghệ sĩ Flamenco (Hình do Phạm Phú Minh chụp ngày 14.9.2011 tại Barcelona, Spain).

nguyễn tường giang

Tôi có một trái tim rất trẻ
hôm qua
thổn thức nói yêu em
như trong cơn mê sảng
cuồng điên
đuổi hoài theo mộng mị
có cơn mưa nào tắt được
ngọn lửa tình hoài hủy
cháy trong đêm

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Thạch-Lam, cha tôi trong trí tưởng

Nguyễn Tường Giang

Chết là giải thoát một đời. Chết là đầu bên kia của sợi dây ngày tháng. Một sớm kia, một tối nào. Tôi hay anh, cũng thế. Bên kia cái chết là nội cỏ ngàn cây hoa mộng hay bên kia cái chết là thảng thốt khổ đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết, nhiều khuôn mặt chết. Quá nhiều. Nhưng không bao giờ, mãi mãi, tôi có thể hình dung được một cái chết, một khuôn mặt chết thân yêu nhất và buồn bã nhất của đời tôi. Cái chết của cha tôi. Thạch Lam. Người văn sĩ tài hoa ấy đã chết quá sớm. Ông chết như thế nào, có thể mẹ tôi, bà nội tôi, một vài người bạn của ông và người em ruột của ông biết rõ. Mẹ tôi cũng đã kể cho tôi, bà tôi cũng đôi lần mơ màng nhắc lại, một đoạn văn đã viết. Nếu muốn xác thực hơn, người chú tôi chưa một lần gặp mặt, còn sống ở một tỉnh Trung-hoa giáp ranh biên giới Việt-Nam, hẳn tôi có thể viết thư hỏi rõ và cặn kẽ. Nhưng không bao giờ tôi muốn thế. Bởi vì, đối với tôi Thạch Lam êm dịu quá, nhẹ nhàng quá và nói hay nghĩ tỉ mỉ về cái chết của ông tôi không thể không có một chút đau đớn trong lòng.

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

NGHE TIẾNG SÓNG, NHỚ KHI Ở THỊ NGHÈ

Nguyễn Tường Giang

tặng một người, nhớ một thời

Ngõ khuất khúc đêm tàn hơi ẩm
Mùi dạ lý hương thấp thoáng đầu hè
Em phấn son nụ cười thấm mệt
Giọng jazz buồn còn vọng dư âm