Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Nhân Trí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Nhân Trí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2017

Nguyễn Nhân Trí: Cát Bụi


Mỗi hệ thống tín ngưỡng truyền giảng mỗi cách khác nhau về chuyện gì sẽ xảy ra sau khi bạn chết.
Những lời hứa hẹn và hăm dọa trên nói chung chú trọng vào cái gọi là “phần hồn”. Còn về “phần xác”, cái thân thể mà sau khi qua đời bạn sẽ bỏ lại thế giới nầy, thì mỗi tôn giáo cũng có những nghi thức tang lễ khác nhau của riêng họ. Những nghi thức nầy, thường rất rườm rà và khó hiểu, hầu hết không phản ảnh những gì xảy ra đến thân thể bạn sau khi chết. (1)
Và phần đông chúng ta cũng chỉ có một khái niệm mơ hồ về chuyện nầy. Ai cũng hiểu rằng xác người chết, cũng như xác mọi sinh vật khác, sẽ hư hủy đi. Nhưng quá trình đó như thế nào thì không mấy ai biết rõ, và thường cũng không mấy ai muốn tìm hiểu để biết rõ.
Dưới đây là sơ lược về quá trình hư hủy của thân thể chúng ta sau khi cái gọi là “phần hồn” không còn hiện hữu. Vài chi tiết diễn tả ở đây có phần trực diện đến độ gây khó chịu cho một số độc giả. Nhưng đây là thực tế những gì rồi sẽ xảy ra cho tất cả mọi người chúng ta, bất kể là ai.
Đây là quá trình “cát bụi trở về cát bụi”.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Nguyễn Nhân Trí: Khói Vương Vào Mắt


Năm Caitlin Doughty 8 tuổi, cô chứng kiến tận mắt một bé gái té từ tầng lầu cao xuống chết ngay tại chỗ. Cô nhớ rõ tiếng “bịch!” lạnh lùng khi đầu đứa bé va lên chiếc bục gỗ cứng.
Cô lập tức được dẫn đi khỏi nơi xảy ra tai nạn và người lớn chung quanh cô không bao giờ nhắc đến chuyện đó nữa. Tuy nhiên, mấy năm liền sau đó cô bị ám ảnh nặng nề bởi nỗi sợ hãi về sự chết, cho bản thân cô và cho những người trong gia đình cô. Sau nầy Caitlin nghĩ lại nếu lúc đó cô có cơ hội được giải thích và đối mặt một cách chính chắn với những gì xảy ra thì có lẽ cô đã không lâm vào trạng thái khủng hoảng tinh thần như vậy.  
Cảnh tượng đứa bé gái té chết là một khoảnh khắc đầy hãi hùng trong trí óc của Caitlin. Nhưng đó cũng là nguyên nhân khởi đầu một sự hiếu kỳ đeo đuổi Caitlin suốt đời cô.
Caitlin trở thành hiếu kỳ về sự chết. Ban đầu xuất phát từ sợ hãi. Nhưng dần dần nỗi sợ hãi được thay thế bởi lòng ham muốn được hiểu biết thêm về sự chết. Về tất cả những gì liên quan đến sự chết. Cô thường nghe tiếng “bịch” lạnh lùng đó lập đi lập lại liên tục trong đầu, như một nhịp trống đều đặn suốt thời thơ ấu của cô.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

Nguyễn Nhân Trí - Cuối Cõi Đi Về


Đến một thời điểm nào đó thì hầu hết mỗi người chúng ta đều đối diện với sự mong manh và ngắn ngủi của sự sống. Rồi tất cả những bận bịu đi về của cõi đời nầy có khi sẽ nhường bước cho những suy tư về sự hiện hữu của chính mình.

Về vấn đề nầy, mỗi người chúng ta phản ứng một cách khác nhau. Trong khi nhiều người mơ mộng một chốn miên viễn với sự sống vĩnh hằng, tôi thường xuyên nghĩ đến sự chết.

Và không phải chỉ như một khái niệm chung chung mà thôi. Tôi suy nghĩ đến sự chết ở một phạm vi rất cụ thể: Tôi nhớ, và nhắc nhở tôi phải nhớ rằng “Rồi tôi sẽ chết”. Còn hơn thế nữa, “Tôi sẽ chết một ngày nào đó không xa lắm, và có thể bất cứ lúc nào”. Không phải một cách sầu thảm, tiêu cực mà là với một cảm nhận bình an và hạnh phúc. Tôi sẽ giải thích sau về cái cảm nhận bình an và hạnh phúc nầy.

Trước hết, tại sao tôi thường xuyên nghĩ đến sự chết? Có lẽ lý do lớn nhất là vì sự chết luôn luôn có mặt chung quanh chúng ta.

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

Nguyễn Nhân Trí - Phá Sản


Khi nói về phá sản, chúng ta thường nghĩ về sự cạn kiệt tiền tài. Đó là loại phá sản chúng ta thường thấy trên báo chí hay nghe bạn bè nói đến. Phá sản kinh tế tài chánh là một thảm cảnh không ai muốn mình lâm phải.
Có một loại phá sản khác, cũng là thảm cảnh nhưng ở tầm vóc to lớn hơn nhiều. Đó là phá sản chủng tộc.
Khi phá sản tài chánh, một sáng nào đó người ta thức dậy nhìn chung quanh không còn thấy tiền bạc, của cải gì của mình nữa. Khi phá sản chủng tộc, một ngày nào đó người ta mở mắt nhìn chung quanh không còn thấy ai cùng chung sắc dân, cùng chung ngôn ngữ, cùng chung văn hóa, cùng chung lịch sử, cùng chung quê hương xứ sở như mình nữa. Và tương tự như phá sản tài chánh, người bị phá sản chủng tộc cũng không còn tương lai.

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

Nguyễn Nhân Trí - Một Vấn Ðề Khó Xử?


Từ khi cuộc nội chiến bắt đầu năm 2011, đã có hơn 4 triệu người dân Syria đã rời bỏ nước tạo ra một luồng sóng tị nạn lớn nhất kể từ Đệ Nhị Thế Chiến. Hầu hết những người nầy đến tạm trú ở Thổ Nhĩ Kỳ và Jordan. Nhưng một số không nhỏ khác đã liều mình đi đến tận các nước Âu Châu vì điều kiện sống ở đây dễ dàng tốt đẹp hơn.
Các nước Âu Châu đang cố gắng hết sức họ để giải quyết thảm trạng tị nạn nầy. Những quốc gia Tây Phương khác như Mỹ và Úc cũng đang thu nhận một số người tị nạn.
Tuy nhiên, không như Âu Châu, các quốc gia như Mỹ và Úc nằm quá xa hẳn các khu vực người tị nạn có thể tự sức đi đến được. Vì vậy các nước như Mỹ và Úc có thể hạn chế số lượng di dân vào nước họ. Chẳng hạn như Mỹ cho đến nay chỉ mới cho vào khoảng 600 người và sẽ dự định tăng lên khoảng 10 ngàn trong năm 2016. Ở Úc cũng đang dự định sẽ nhận vào khoảng 12 ngàn người trong 2016.

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Nguyễn Nhân Trí - ISIS - Căn Nguyên và Giải Pháp Cần Thiết


Lỗi tại ai?
Nhiều người hỏi tại sao hiện tượng ISIS đã xảy ra. Nói cách khác, “Lỗi tại ai?”
Thật ra thì không có ai chủ tâm tạo dựng ra ISIS và tình thế bành trướng mạnh mẽ của ISIS như ngày nay cả. Nhóm cuồng tín Hồi Giáo nầy không có đồng minh và là kẻ thù của nhiều người. Chẳng qua là vì những chính sách thiển cận và nhận định sai lầm của nhiều quốc gia khác nhau. Những quốc gia đồng minh với Mỹ, những quốc gia thù nghịch với Mỹ, và ngay cả Mỹ cũng đều dự phần đóng góp vào các lầm lỗi trên.
Trước hết, có thể nói là người có trách nhiệm nhiều nhất cho sự thành hình và bành trướng của ISIS ngày nay là Bashar al-Assad, đương kim Tổng Thống Syria. Năm 2003 sau khi Mỹ dẫn quân vào Iraq, Assad lo ngại bước tiến kế tiếp của Mỹ là tấn công Syria. Chiến lược tự vệ của ông ta là ngầm gởi phiến quân Hồi Giáo vào Iraq để phá rối và cầm chân Mỹ ở Iraq. Điều nầy giúp cho nhiều nhóm phiến quân ở Iraq có dịp phát triển lớn mạnh, trong đó có những nhóm al-Qaeda của Iraq. Một trong những nhóm nầy sau nầy trở thành cái gọi là ISIS.

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

Nguyễn Nhân Trí - ISIS – Vài Dữ Kiện Căn Bản


Vụ khủng bố ở Paris vừa qua cho thấy các chiến dịch biển máu của tổ chức Hồi Giáo cuồng tín thường được gọi là ISIS đang ngày càng tiến áp gần đến chung quanh chúng ta.

Những cuộc thảm sát thường dân vô tội dưới danh nghĩa Allah không còn chỉ là những hình ảnh phóng sự từ một lục địa hay một quốc gia khác nữa. Hầu như ở bất cứ nước Tây Phương nào ngày nay, những vụ sát nhân điên cuồng tương tự cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho chúng ta, cho gia đình và bạn bè chúng ta. Ở một số quốc gia, vấn đề không phải là “nếu” mà là “khi nào” ISIS khủng bố thì người ta sẽ cần phản ứng ra sao.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Nguyễn Nhân Trí - Nữ quyền trong Hồi giáo



Tặng ĐTT, người đã gợi ý tôi viết bài nầy.

Khi nói về vấn đề quyền lợi phụ nữ trong Hồi Giáo, rất nhiều người cho là phụ nữ trong Hồi Giáo bị áp bức nặng nề ở nhiều phương diện. Trong khi đó một số người khác cho rằng phụ nữ Hồi Giáo có tiếng nói, có sự tự do lựa chọn trong tôn giáo của họ.

Trước hết chúng ta hãy nhìn vào quan điểm cho rằng phụ nữ có tiếng nói và tự do lựa chọn trong Hồi Giáo.

Theresa Corbin là một nhà văn trẻ sống ở New Orlean, Louisiana. Cô vốn sinh ra trong một gia đình Công Giáo, từ nhỏ đã thích nghiên cứu về tôn giáo. Tuy cô tự xưng là một phụ nữ theo chủ nghĩa nữ quyền (feminism), đến lúc 21 tuổi cô chuyển qua thành một tín đồ Hồi Giáo. Trong một bài viết cho CNN cô nói, “Hồi Giáo là một tôn giáo của thế giới, một tôn giáo dạy về ôn hòa, tha thứ, công bằng, danh dự cũng như chủ trương nhẫn nại, khiêm tốn và quân bình”. Cô cảm phục những lời dạy của các nhà tiên tri từ Mose đến Giê-su đến Muhammad. Theo cô, Hồi Giáo dạy cô “tự tìm kiếm sự thật và dùng trí tuệ của mình để tìm hiểu thế giới chung quanh”.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Nguyễn Nhân Trí - KHÙNG ĐIÊN VÀ XÚC PHẠM


Vụ thảm sát hơn 130 người vô tội ở Paris hôm thứ Sáu 13 tháng Mười Một vừa qua một lần nữa cho thấy những kẻ cực đoan Hồi Giáo không gớm tay ở bất cứ hình thức khủng bố nào. Ngoài sự phẫn nộ từ nhiều phía trong cộng đồng thế giới trước tai biến nầy, nhiều người còn bày tỏ nỗi lo ngại khi thấy rằng dường như nhà cầm quyền Tây Phương hiện nay không có phương cách nào hữu hiệu để đối phó với những tổ chức cực đoan Hồi Giáo.

Sự lo ngại trên liên quan đến một vấn đề ít khi được nói đến, nhất là nói đến một cách công khai và chính thức. Đó là việc làm sao để chống trả những kẻ địch chẳng những không sợ chết mà còn tự nguyện đón chào cái chết?

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

Nguyễn Nhân Trí - “Vì Nước Mình còn Nghèo”

Nguyễn Nhân Trí



Tôi có một đám bạn khoảng 10 người từ hồi trung học hiện đang sống ở Sài Gòn.

Lúc Việt Cộng mới vào, anh em tứ tán mỗi người mỗi nơi vì ai cũng quá bận bịu cho sự sống còn của chính mình. Mấy năm sau đó tôi vượt biên thành công. Bẵng đi một thời gian đến sau nầy khi Việt Nam “mở cửa” ra lại, và nhất là khi internet trở thành phương tiện truyền thông phổ biến thì tôi dần dần bắt được liên lạc lại với những người nầy.



Cứ vài ba năm mỗi khi tôi trở lại Việt Nam vì lý do gia đình tôi đều ghé thăm những người bạn của tôi ít nhất một lần. Chúng tôi thường làm những buổi tiệc họp bạn thân mật nho nhỏ. Thường cũng chẳng có gì, vài ba dĩa thức nhắm và một hai thùng bia là đủ để cả bọn hàn huyên tâm sự chuyện cũ mới đến khuya.

Bạn cũ học chung với nhau từ đệ thất lên đến cuối năm trung học nên rất dễ thân thiện trở lại. Một đám ông già đầu hai thứ tóc, mấy người đã có cháu nội ngoại đầy đủ, ngồi cụng ly mầy mầy tao tao, thằng nầy thằng nọ, cười cợt giỡn hớt không khác gì trong sân trường mấy mươi năm về trước. Mỗi khi tôi gặp lại đám bạn cũ nầy tôi đều có một cảm giác rất ấm cúng.

Những năm mới gặp lại nhau (vào đầu thập niên 1990) thì những thằng bạn của tôi còn nghèo. Đôi khi tôi kín đáo biếu một vài đứa trong bọn chút đỉnh tiền vì tôi nghe nói gia đình họ khá túng quẫn. Mấy năm sau nầy khi tôi gặp lại thì một số các bạn của tôi không còn nghèo nữa. Họ bắt đầu ăn nên làm ra. Mỗi lần gặp lại tôi thấy nhiều người trong đám bạn của tôi đi xe gắn máy đẹp hơn, ăn mặc tươm tất hơn. Đứa thì  trúng mánh nầy mánh nọ thường xuyên, đứa thì công việc làm ăn phát triển tốt đẹp. Khi tôi định đưa tiền cho mấy người lúc xưa túng quẫn thì họ từ chối. “Không cần nữa đâu, tao dạo nầy cũng khá rồi. Cám ơn mầy.” Tôi nghe mà vui trong lòng và mừng giùm cho họ.

Trong những dịp gặp nhau ăn uống trò chuyện, chúng tôi thỉnh thoảng nói qua việc tình hình xã hội, đất nước Việt Nam hiện tại. Dĩ nhiên là đối với một “Việt kiều” lâu lâu mới trở lại Việt Nam như tôi thì có rất nhiều những chuyện chướng tai gai mắt để mà phàn nàn. Được một điều là vì chúng tôi đã quen biết với nhau từ mấy mươi năm nay nên tôi không lo ngại bị ai báo cáo công an về những lời phê bình, chỉ trích Nhà Nước và Đảng của mình.

Có một chuyện tôi để ý, vài bạn của tôi thường dùng lý luận “vì nước mình còn nghèo” mỗi khi tôi chê bai về những điều tệ hại đang xảy ra ở Việt Nam. Họ nói “Vì nước mình còn nghèo nên không có đủ tiền sửa sang, chăm lo cho người dân đúng mức được”.

Thí dụ như tôi thường phàn nàn về tình trạng về tình trạng cống rãnh trong thành phố Sài Gòn. Ngày xưa chỉ lâu lâu khi nào mưa lớn lắm thì một số khu hẻm hốc mới bị nước ngập. Ngày nay chuyện nước ngập xảy ra hầu như thường xuyên ở rất nhiều khu vực, kể cả ngay trong trung tâm thành phố. Và cũng không cần chờ mưa lớn nữa. Bây giờ có một hiện tượng mới gọi là “triều cường”, có nghĩa là mỗi tháng những ngày mức thủy triều cao, thì nước trong cống rãnh bị dội ngược lại và tràn đầy lên đường phố. Nếu gặp mưa cùng lúc với triều cường thì nước thải hôi thúi lẫn phân người trong cống trộn lẫn với nước mưa ngập cao hơn nửa bánh xe và tuôn vào trong nhà dân chúng.

Để giải thích tại sao tình trạng đường phố cầu cống ngày càng tệ hại mà không ai sửa chữa gì cả thì vài bạn tôi nói: “Vì nước mình còn nghèo…”

Thí dụ như chuyến đi Việt Nam gần đây nhất tôi có việc phải vào bệnh viện nhiều lần để thăm người nhà. Tôi đã đọc báo và xem phim ảnh nói về tình trạng y tế ở Việt Nam nên đã chuẩn bị tinh thần đôi chút về vấn đề nầy. Tuy vậy những ấn tượng trong đầu tôi về các bệnh viện ở Sài Gòn không thể nào so sánh được với những gì tôi mắt thấy tai nghe khi vào đó.

Điều kiện đầu tiên để được chữa trị, ngay cả ở các bệnh viện chuyên khoa “lớn” nhất, “tân tiến” nhất là phải có tiền. Chẩn mạch, thử máu, định bệnh đều tốn tiền. Gia đình người bệnh phải bỏ tiền ra mua từng viên thuốc, từng miếng băng keo, từng ly sữa, từng tấm giấy đi cầu cho bệnh nhân. Mặc dù nếu có bệnh ngặt nghèo cách mấy nhưng không tiền thì vẫn không được vào phòng cứu cấp và sẽ bị bỏ mặc cho chết dần bên ngoài. Người bệnh nằm chồng chất 3, 4 người trên một giường. Và những người có giường để nằm nầy là những người may mắn. Các bệnh nhân khác chỉ được cho lót chiếu nằm trên sàn gạch ngổn ngang.

Trong bệnh xá thì chuột bọ kiến gián bò lềnh khênh. Trong phòng cứu cấp thì các người bệnh đều bị lột trần truồng ra nằm dài ra đó (y tá cắt nghĩa: “để dễ chùi lau”). Dây nước biển, bọc truyền máu, dây nối điện đồ, v.v. lổn ngổn trên những thân thể nhợt nhạt người không ra người, thú không ra thú. Cảnh tượng không khác chi địa ngục. Người đi thăm nuôi thì chầu chực chờ đợi lố nhố bên ngoài hành lang như trong trại tù. Mỗi thân nhân của người bệnh phải túc trực thường xuyên ăn ngủ ở đó vì chính họ phải chờ phiên vào để tự lau chùi, rửa ráy, đút ăn cho thân nhân của họ khi đang nằm trong phòng cứu cấp (vì y tá và y công không làm các chuyện nầy). Mỗi ngày họ được vào thăm và làm những chuyện nầy một lần vào lúc 2 giờ sáng (vì đó là lúc bác sĩ, y tá và y công đổi ca, do đó tiện lợi nhất cho họ).

Mỗi người bệnh được cho một con số. Bất cứ lúc trong ngày hay đêm khi nghe gọi số của bệnh nhân nào thì thân nhân của người ấy bật dậy từ chỗ đang ngồi hay nằm chờ của mình chạy đến xem bác sĩ hay y tá muốn gì. Có khi thì họ được bảo phải đóng tiền thêm vì tiền đặt cọc trước đã cạn. Có khi thì báo cho biết bệnh trạng chuyển biến như thế nào rồi. Có khi thì được cho hay là người bệnh đã qua đời, chờ ở đó rồi họ sẽ đẩy ra đưa vào nhà xác gần bên. Có vài bệnh nhân từ dưới quê lên không có đủ tiền nên sau vài ngày thì thân nhân bỏ trốn mất. Y tá kêu số lập đi lập lại nhưng không ai trả lời. Ngay cả đến khi y tá kêu số cho biết người bệnh đã chết rồi nhưng cũng không còn thân nhân ở đó nữa để nhận xác.

Khi tôi kể chuyện vào bệnh viện và cảm tưởng của tôi cho đám bạn tôi nghe, một vài người cũng lại giải thích bằng câu “Vì nước mình còn nghèo…”

Ở trên chỉ là 2 thí dụ của rất nhiều chuyện bực mình khác mà vài người bạn cũ của tôi dùng câu “Vì nước mình còn nghèo” ở trên để đáp lại lời phàn nàn của tôi.

Tôi biết các bạn tôi khá rõ. Tôi không nghĩ là họ thân cộng hay có ý bênh vực chính quyền CSVN. Tuy vậy có lẽ vì dù gì đi nữa thì Việt Nam cũng là đất nước của họ nên phản xạ tự nhiên của họ là che chở bênh vực nó trước các lời phê bình bất kể đúng hay sai? Hay có lẽ vì sống trong xã hội đó mấy mươi năm rồi nên họ đã dần dần nhiễm cách ăn nói bưng bít bào chữa tiêu biểu của chế độ mà không hay?

Một điều khác tôi để ý nữa là có vài bạn tôi cũng thường kể cho tôi nghe về những khách sạn to lớn, những trung tâm thương mãi đắt tiền, những khu du lịch sang trọng, những khu giải trí đầy các trò chơi tối tân và hấp dẫn của Việt Nam. Họ có vẻ hãnh diện không ít về những công trình xây cất nầy. Tôi có cảm tưởng là họ muốn ngầm cho tôi thấy rằng Việt Nam ngày nay đã tiến bộ trong các lãnh vực nầy không thua kém gì những nước Tây Phương.

Trong một buổi tiệc họp mặt gần đây, có lẽ vì hơi men hơi thấm một chút nên tôi đã nói toạc ra những gì mình nghĩ về vấn đề nầy. Tôi nói đại loại rằng tôi lấy làm khá thất vọng vì người dân trong nước, kể cả các bạn tôi, không nhìn ra được một sự thiếu cân bằng trầm trọng trong cấu trúc xã hội hiện nay. Họ không thấy được sự thiếu thốn của các hạ tầng cơ sở thiết yếu như cầu cống hay bệnh viện cũng như việc điều hành các hệ thống giao thông, y tế, v.v. Tôi nói rằng trong khi đó thì nhà nước cứ đổ tiền vào, hay khuyến khích, các công trình xây cất to lớn để phát triển khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, v.v. Và rất nhiều người tự cho rằng là thành phần trí thức trong xã hội lại lấy làm tự hào về chủ trương nầy. Tôi nói rằng trong một quốc gia nghèo như vậy mà không lo về kinh tế, giáo dục, hạ tầng cơ sở mà cứ xum xoe khoa trương và phát triển khả năng ăn chơi thì có khác gì một gã ăn mày không lo cho miếng cơm cho ngày mai mà chỉ muốn mua sắm quần áo đẹp để chưng diện?

Tôi cũng nói luôn rằng nếu tôi là người dân trong nước thì tôi có lẽ rất lấy làm hổ thẹn chớ không hề hãnh diện về chủ trương và hiện tượng nầy.

Như đã nói, vì là bạn bè mấy mươi năm nay nên tôi không hề lo ngại người nào sẽ báo cáo những lời nói “phản động” trên của tôi. Tuy vậy, hôm ấy sau khi ra về rồi thì tôi suy nghĩ lại và có phần áy náy đôi chút.

Tôi hiểu rằng họ đã sống trong cái xã hội Việt Nam nghèo đói đó mấy mươi năm nay rồi. Họ không có gì mấy để hãnh diện về quê hương của họ. Tôi, và họ, biết rằng dù họ có làm ăn phát đạt ra được bao nhiêu tiền đi nữa thì họ cũng không bao giờ có được những phương tiện vật chất mà tôi xem là “đương nhiên” trong đời sống ở nước ngoài của tôi như là không khí trong lành để thở, thức ăn không sợ bị ô nhiễm hóa chất, chế độ an sinh và hệ thống y tế xã hội rộng rãi cho tất cả mọi người dân, v.v. Tôi có cảm tưởng rằng những người bạn của tôi cần có cái gì để bám víu vào mà hãnh diện về đất nước của họ để bù trừ cho biết bao nhiêu cái tệ hại khác đầy rẫy chung quanh hằng ngày.

Tôi biết những lời chỉ trích của tôi có thể làm một số các bạn tôi ít nhiều không vui bụng.

Tôi biết một số bạn của tôi có thể có cái nhìn giống như tôi mặc dù họ không có thói quen nói ra những điều tiêu cực liên quan đến nhà nước và chế độ. Cả đời sinh sống ở đây làm cho họ rất ngại ngùng, e dè mỗi khi họ lên tiếng, hay nghe ai khác lên tiếng chỉ trích về những điều hư xấu trong xã hội đụng chạm đến chính quyền và đảng. Sống trong một quốc gia cộng sản, người ta không bao giờ hoàn toàn tin tưởng bất cứ ai khác cả trong việc chia sẻ các vấn đề nầy.

Tôi biết thế hệ của các bạn tôi ở Việt Nam đã đi vào giai đoạn xế chiều rồi. Dù cho nếu họ có nhận thức được những điều trên thì bản thân họ cũng khó làm được chuyện gì thực tiễn để thay đổi chúng.

Tôi biết rằng có nói về những chuyện nầy rất có thể cũng chỉ là vô ích.

Tuy vậy tôi vẫn ao ước phải chi các bạn tôi đừng lúc nào cũng núp sau lập luận “vì nước mình còn nghèo” thì hay biết mấy.

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Nguyễn Nhân Trí - Hiện Tượng Vị Tha


Nguyễn Nhân Trí

Có một thứ hiện hữu trong nhiều sinh vật gọi là tính “vị tha” (vì người khác), đối nghịch với “vị kỷ” (vì bản thân).

Hiện tượng “vị tha” xảy ra khi một cá thể làm điều gì với mục đích chính là đem lợi lại cho một cá thể khác, ngay cả có khi đồng thời đem hại lại cho chính mình.

Trong thế giới loài vật, hiện tượng vị tha trong các chủng loại sống theo đoàn thể xảy ra tràn lan. Dưới đây là vài thí dụ cụ thể:
- nhiều loài chim biển đi săn cá về đút cho con mình ăn lẫn các chim con khác trong đàn bị mồ côi cha mẹ. Khi cho các chim con khác ăn như vậy thì bản thân chúng sẽ còn ít thức ăn hơn trong bụng và do đó sẽ đói hơn. Nhiều loài thú khác ngoài chim biển cũng làm điều nầy.

- trong đàn khỉ đang sinh hoạt lúc nào cũng có vài con đứng các chỗ cao nhất để canh gác cho cả bầy mặc dù bản thân chúng lúc đó sẽ không được hưởng thụ (thí dụ như ăn, ngủ, chơi đùa, được bắt chí, v.v.) như những con khác trong bầy. Hiện tượng nầy cũng thấy ở hầu hết các loài thú sống theo bầy đàn khác.

Những thí dụ “vị tha” trên dựa trên nguyên tắc “có lợi lẫn nhau”: con nầy làm điều tốt cho con kia, thì con kia làm tốt cho con nọ, con nọ làm tốt cho con khác, v.v. Kết quả tổng kết là cả bầy đều được hưởng điều tốt đó.

Hiện tượng “vị tha vì có lợi lẫn nhau” nầy là kết quả từ quá trình tiến hóa (evolution) của các loài vật trên. Ngay từ thời sơ khai khi vừa bắt đầu sống chung với nhau, chúng đã nhận thấy được là những hành động dạng nầy đem lại ích lợi cho cá nhân và cho cả cộng đồng của chúng. Các hành động “tốt” nầy được bắt chước lẫn nhau và truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Chúng dần dần được di truyền trong DNA để trở thành những “đặc tính bẩm sinh” và được xem là “quy củ xã hội” của chủng loại đó.

Hơn nữa, quy luật tuyển chọn tự nhiên (natural selection) còn làm cho những “đặc tính bẩm sinh” và “quy củ xã hội” dạng “tốt” nầy được phát triển và lưu truyền trong DNA của mỗi chủng loại. Đó là vì một đoàn thể nếu có nhiều những “đặc tính bẩm sinh” và “quy củ xã hội” dạng “tốt” nầy sẽ dễ lớn mạnh hơn và sẽ có xác suất sinh tồn cao hơn những đoàn thể khác. Những đoàn thể không mang DNA nầy sẽ dần dần đi đến diệt vong.

Đó là tại sao trong các tổ kiến, tổ ong lúc nào cũng có những thành viên làm việc và chiến đấu cho cộng đồng mà không ngần ngại hy sinh tính mạng của chúng. Tuy đặc tính nầy của các loài côn trùng thường được xem là “phản ứng sinh tồn tự nhiên” nhưng thật ra cũng là một hình thức “vị tha” phát xuất từ DNA của chúng sau khi chịu ảnh hưởng của quy luật tuyển chọn tự nhiên.

Hiện tượng “vị tha vì có lợi lẫn nhau” nầy cũng hiện hữu trong loài người. Ai cũng thấy vô số thí dụ về hiện tượng nầy xảy ra hàng ngày chung quanh chúng ta. Thật ra đây chính là một trong những nguyên tắc và lý do cơ bản nhất để loài người tạo dựng và duy trì cơ cấu xã hội của họ.

Có một dạng “vị tha” khác gọi là “vị tha không vì lợi lẫn nhau”. Hiện tượng nầy cũng có thể thấy trong loài thú, mặc dù ít xảy ra hơn.

Một phim tài liệu về thế giới thú vật Phi Châu cho thấy cảnh một con hươu bị xẩy chân té xuống nước cạnh bờ một dòng sông. Một con cá sấu gần đó chồm lại ngặm được một chân của con hươu. Ngay sau đó vì con hươu vùng vẫy rất mạnh và đạp vào mắt con cá sấu nên con cá sấu há miệng ra cho con hươu tạm thời thoát ra. Tuy vậy con hươu vẫn không nhảy lên bờ để chạy trốn được vì bờ đất quá cao và trơn trợt. Con cá sấu quay lại sửa soạn tấn công một lần nữa. Ngay lúc đó thì một con trâu nước gần đó bỗng dưng xông lại chúi mũi xuống đỡ nguyên thân mình con hươu lên cao và hất nó lên trên bờ. Con trâu nước quay qua gờm con cá sấu và thở phì phò một cách đầy hăm dọa trong khi con hươu thoát chết bỏ chạy mất. Con cá sấu bỏ cuộc bơi đi chỗ khác.

Trong trường hợp nầy, việc con trâu nước cứu con hươu không đem lợi lộc gì cho bản thân hay chủng loại của nó. Có những thí dụ tương tự cũng đã từng được chứng kiến trong những bối cảnh khác với các loài vật khác.

Hiện tượng “vị tha không vì lợi” nầy cũng xảy ra trong loài người.

Một người đàn ông đang đi bộ bên đường bỗng thấy một căn nhà bốc cháy và nghe tiếng kêu khóc từ bên trong. Người nầy lập tức đập cửa nhẩy vào và lần lượt bế ra 4 đứa bé đã bị kẹt trên lầu. Bốn đứa bé thoát chết là nhờ người đàn ông nầy bất chấp hiểm nguy cho chính mình nhảy vào đám lửa đang cháy dữ dội để cứu chúng ra. Ông nầy không quen biết gì 4 đứa bé cả. Trước khi nhẩy vào nhà, ông không hề (và không có thì giờ) để suy tính “nếu tôi làm chuyện nầy thì tôi sẽ được những lợi ích gì?” Việc ông làm chỉ là phản xạ tự nhiên trong lúc nhất thời mà thôi, và hoàn toàn không dựa trên lợi nhuận trong khi còn có thể mang thiệt hại lớn cho chính bản thân mình.

Hiện tượng trên có thể được giải thích bằng hai cách khác nhau. Hai cách nầy không tương phản nhau mà còn hỗ trợ nhau.

Cách giải thích thứ nhất: rất có thể là cái DNA “giúp đỡ đồng loại” đã đề cập ở trên đã tạo ra phản xạ tự nhiên nầy khi người đàn ông nghe tiếng kêu khóc từ căn nhà đang cháy. Nói cách khác, cái “vị tha không vụ lợi” nầy thật ra có thể chỉ là một dạng “vị tha vì có lợi lẫn nhau” đã được biến thể đi.

Cái đặc điểm bẩm sinh “giúp đỡ đồng loại biến thể” nầy đã được áp dụng vào những hoàn cảnh nới rộng ra hẳn. Vì vậy nên không những các người sống trong cộng đồng lân cận của một cá thể mà cả những người hoàn toàn xa lạ nhưng đồng chủng tộc hay đồng chủng loại cũng được hưởng sự giúp đỡ từ cá thể nầy. Đây là lý do mà một người ở Mỹ nhiệt tình quyên tiền đóng góp cứu trợ thiên tai xảy ra ở một quốc gia Phi Châu xa xôi nào đó không hề liên quan gì đến họ.

Cách giải thích thứ hai có phần phức tạp hơn. Một số nhà khảo cứu về hành vi xã hội (social behaviors) cho rằng một cá thể tuân theo và thực hành các quy ước đạo đức trong một cộng đồng là vì không muốn bị hạ cấp hay đào thải bởi cộng đồng đó. Có nghĩa là những người được mọi người chung quanh nhận thấy là tốt bụng, đạo đức sẽ được quý trọng, yêu mến bởi mọi người hơn là những người ích kỷ chỉ biết lợi cho cá nhân mà làm hại đến tập thể.

Chính vì cái cảm giác được quý trọng, yêu mến nầy khiến cho người ta tự nguyện muốn làm nhiều điều tốt. Sự kiện những người ích kỷ bị coi rẻ và ruồng bỏ bởi xã hội là một động cơ rất lớn làm đa số cá thể không muốn mình nằm trong diện đó.

Nhận thức và hành vi nầy cũng dần dần được di truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác trong DNA và trở thành một đặc tính bẩm sinh của chủng loại. Những hành vi dạng “tốt” được xem là “cao cả”, “anh hùng”, “đạo đức”. Những hành vi dạng ngược lại bị xem là “thấp kém”, “hèn nhát”, “vô đạo đức”. Người đàn ông khi quyết định nhảy vào căn nhà cháy để cứu 4 đứa trẻ rất có thể đã không hề nghĩ đến việc mình sẽ trở thành một anh hùng hay e ngại nếu không thì mình sẽ bị xem là hèn nhát. Tuy nhiên cái DNA trên làm cho tiềm thức của ông trong tích tắc đã thúc đẩy ông làm điều đó.

Nhiều người cho rằng sự kiện nầy chỉ xảy ra trong loài người mà thôi. Tuy vậy vì không ai có thể kiểm chứng được lý do dẫn đến tất cả hành vi của thú vật nên không ai có thể quả quyết được điều đó. Trong trường hợp con trâu nước cứu mạng con hươu vừa kể trên, làm sao ai có thể hiểu được con trâu nước đã nghĩ gì?

Nói tóm lại, tính vị tha nói riêng và tiêu chuẩn đạo đức sống giữa con người với con người là kết quả của sự tiến hóa và quá trình tuyển chọn tự nhiên của loài người. Tương tự cho nhiều loài vật khác.

Những người theo tôn giáo thì cho rằng nếu không có các tín điều của Phật Chúa răn dạy thì con người sẽ chỉ biết sống cho mình (vị kỷ) mà không quan tâm đến người khác (vị tha). Họ từ đó cho rằng những người vô tôn giáo là những người không biết vị tha là gì, và vô đạo đức nói chung.

Chỉ cần nhìn những thí dụ về tính vị tha trong thế giới loài vật như vừa kể thì sẽ thấy lập luận trên hoàn toàn vô căn cứ và sai lầm. Loài vật không có tôn giáo. Và nhất là theo Thiên Chúa giáo thì thú vật là hạ đẳng hơn loài người và chỉ sinh ra để  phục vụ loài người. Thế thì Phật Chúa nào đã dạy tính vị tha cho chúng?


Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Nguyễn Nhân Trí - Huế


Nguyễn Nhân Trí

Cách đây không lâu tôi có dịp đi Việt Nam và ghé ngang Huế vài hôm dưới tư cách một du khách.

Đã mấy mươi năm rồi tôi mới trở lại Huế. Huế vẫn còn cái vẻ đẹp êm đềm của sông Hương núi Ngự như tôi đã từng biết. Dân cư, đường phố, chợ búa, nhà cửa tuy có đông đúc, nhộn nhịp hơn nhiều nhưng tôi vẫn còn nhận ra cái Huế cũ trong đầu của tôi.


Và dĩ nhiên khi đến Huế thì tôi phải đi thăm viếng những cung điện và lăng tẩm. Vì không quen thuộc đường đi nước bước nên tôi quyết định mướn một chiếc xe riêng và một nhân viên hướng dẫn tại Trung Tâm Du Lịch Thành Phố để cùng đi với tôi đến các địa điểm trên.

Người hướng dẫn cho tôi là một cô gái lanh lợi hoạt bát khoảng 25, 26 tuổi. Cô làm việc rất tận tình và vui vẻ. Tôi nhận thấy cô có một kiến thức khá vững chắc về lịch sử triều Nguyễn cũng như nhiều thắng cảnh ở Huế.

Qua vài câu chuyện trao đổi, tôi cũng được biết thêm là tất cả các nhân viên hướng dẫn du lịch của thành phố như cô đều phải tốt nghiệp một khóa học về lịch sử và chính trị rất kỹ lưỡng. Cô giải thích đó là vì nhà nước biết rằng phần đông các du khách sử dụng hướng dẫn viên là ngoại quốc và “Việt kiều”. Họ cần “bảo đảm chất lượng” của các hướng dẫn viên để có thể “phục vụ tốt” cho du khách.

Đến khoảng giữa ngày thứ hai thì tôi đã xem qua hết những cung điện và lăng tẩm mà tôi muốn thăm viếng. Vì tôi mướn anh tài xế theo “ngày”, chớ không phải theo “giờ”, và vì còn khá sớm nên tôi có ý nghĩ muốn tận dụng chiếc xe và cô hướng dẫn viên sẵn có để đi xem vài chỗ khác trong phạm vi Huế mà tôi chưa hề đến bao giờ.

Một điều mà tôi thường liên tưởng đến mỗi khi nghĩ về Huế là Tết Mậu Thân.

Năm 1968,  tôi còn nhỏ và đang sống ở Sài Gòn. Tuy nhiên cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ những sự việc đã xảy ra lúc đó chung quanh tôi. Tôi nhớ mồn một những cụm khói đen bao phủ bầu trời Chợ Lớn từ các đám cháy nhà khủng khiếp trong thành phố. Tôi nhớ những người tản cư nằm ngủ nheo nhóc trong hành lang của các nhà thương, nhà thờ và chùa. Tôi nhớ những xác người chết nằm rải rác trên đường phố sình thối cả tuần lễ không ai đụng đến.

Và vài tuần sau đó lúc tình hình đã tạm yên ổn trở lại, điều tôi nhớ nhiều nhất là những tin tức xảy ra trên toàn quốc được chiếu trên đài Truyền Hình Việt Nam băng tần số 9. Phần thời sự nổi bật, và có lẽ ám ảnh tôi nhất là những tường thuật về các mồ chôn tập thể ở Huế. Trên khung máy truyền hình 16 inch trắng đen, hình ảnh hàng trăm xác người thối rữa được moi lên từ những bãi chôn tập thể trong các vùng quê lân cận thành phố Huế gây ấn tượng mạnh mẽ lên trí óc non nớt của tôi.

Tôi nhớ tiếng than khóc, nét mặt đau đớn, ánh mắt tuyệt vọng của những người lum khum đi vạch từng bao đựng xác người xếp hàng dài trên đất để mong nhận diện được người thân của họ đã bị mất tích. Hàng trăm xác người được tìm thấy dưới nhiều bãi chôn tập thể, hai tay bị trói thúc ké bằng dây kẽm, xương sọ mang dấu đạn hay bị đập vỡ bằng báng súng. Hàng chục bãi chôn tập thể dần dần tuần tự được phác giác trong vài tháng sau khi quân đội đồng minh và Việt Nam Cộng Hòa giành lại được Huế.

Khi đài truyền hình phỏng vấn gia đình của các nạn nhân, hầu như mọi người đều kể một câu chuyện rất tương tự nhau: Trong 4 tuần lễ mà những người tự xưng là Quân Đội Nhân Dân và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chiếm đóng Huế thì thân nhân của họ bị những người cầm quyền mới nầy kết án là “ác ôn” hay “có tội với nhân dân” và đã “được xử lý thích đáng”. Những người bị kết án đều là những giới chức trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và gia quyến của họ, những sĩ quan quân đội cũng như những người lính đang về nghỉ phép ở nhà, những nhân vật Công giáo được nhiều người biết đến và những người “làm tay sai cho Mỹ”.

“Xử lý thích đáng” có nghĩa là bị xử tử tại chỗ hay bị bắt dẫn đi và không bao giờ trở lại.

Sau nầy khi lớn hơn một chút, tôi có dịp quen biết và nói chuyện tận mặt với một vài người chính họ đã có thân nhân bị mất tích ở Huế hồi tết Mậu Thân. Những câu chuyện họ kể lại rất tương đồng với những gì mà tôi nhớ đã thấy trong các bài tường thuật trên truyền hình và báo chí lúc ấy. Một người bạn của tôi sau nầy kể lại chuyện ba của anh (một viên chức làm việc cho tòa hành chính Huế) đã lanh trí, và may mắn, nằm trốn luôn trên trần nhà suốt thời gian đó ngay từ giây phút biết rằng “Việt Cộng vào”. Và mẹ anh đã phải liên tục đóng tuồng nói dối với những người đến nhà nhiều lần tìm ông rằng “ông ấy đã bỏ mẹ con tôi đi theo vợ bé ở Sài Gòn từ trước Tết rồi”. Anh ấy cũng kể lại rằng tất cả những đồng nghiệp với ba anh ấy ở trong cùng khu nhà gia đình công chức hành chính Huế đều bị bắt dẫn đi và giết chết.

Nói chung là trong vòng 4 tuần lễ Huế nằm trong quyền kiểm soát của quân đội Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, những người dân thuộc các diện kể trên bị truy lùng rốt ráo và giết chết. Thật ra thì có một số không nhỏ cũng bị giết không phải vì “ác ôn” hay “có tội với nhân dân” mà chỉ vì tư thù cá nhân.
Hoàn cảnh tranh tối tranh sáng, ai cầm một khẩu AK là cầm quyền sinh sát trong tay. Đây là dịp để trang trải ân oán cũ với nhau.

Một số những người bị bắt bị dẫn ra đấu tố rồi xử bắn công khai tại chỗ. Đa số khác bị dẫn đi thủ tiêu mất tích. Người ta tìm thấy thi thể của những người bị dẫn đi mất tích nầy trong hơn 20 bãi chôn tập thể lớn nhỏ ở các vùng ngoại ô của Huế. Mỗi bãi là một hay nhiều hố cạn chứa từ 5, 7 cho đến hơn 400 xác người. Tổng cộng có đâu khoảng gần 7000 người đã bỏ mạng trong 4 tuần lễ đó.

Một trong những nơi tôi chưa bao giờ đến xem ở Huế, tuy đã có nhiều lần suy nghĩ về, là các bãi chôn tập thể nầy. Tôi cũng không rõ tại sao tôi có ý nghĩ muốn đến những nơi đó. Có lẽ tại vì đây là một trong những diễn biến thê thảm nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Có lẽ tôi chỉ muốn đến đứng trước cái không gian đó để cố cảm nhận những khoảnh khắc mà sự sống của bao nhiêu con người đã bị tước đoạt một cách vô nghĩa lý bởi đồng loại của họ. Có lẽ tôi chỉ muốn đối diện với những cảm giác rùng rợn từ các hình ảnh kinh hãi trên khung kính TV đã ám ảnh tôi mấy mươi năm trước.

Tôi biết rằng cuộc thảm sát Tết Mậu Thân đã xảy ra gần nửa thế kỷ rồi. Đây là một khoảng thời gian dài đủ để thay đổi rất nhiều thứ. Cảnh vật chắc đã khác hẳn đi rồi. Có thể không còn mấy ai nhớ đến việc nầy nữa chớ nói chi có ai còn biết địa điểm của các mồ chôn tập thể đó. Và nhất là các thế hệ trẻ sau ngày miền Nam thất thủ, chẳng hạn như cô hướng dẫn viên nầy của tôi.

Tuy vậy tôi vẫn còn một chút hy vọng. Tôi biết rằng người Việt Nam, nhất là dân quê, thường có tục thờ cúng cô hồn, nhất là những cô hồn chết oan ức. Thế thì một cuộc thảm sát như hồi Tết Mậu Thân chắc sẽ còn đôi chút dấu tích như một vài miếu thờ sót lại đâu đó. Và từ ấy chắc sẽ có người vẫn chưa quên lịch sử của các miếu thờ nầy. Có thể cô hướng dẫn viên của tôi đã có lần nào đó nghe người lớn tuổi trong gia đình kể lại về chuyện nầy chăng? Có thể cô biết chỗ để dẫn tôi đến đó chăng?

Tôi hỏi: “Cô có biết chỗ những mồ chôn tập thể hồi Tết Mậu Thân năm 1968 không? Tôi muốn đi đến đó xem.”

Cô trả lời: “Dạ cháu có nghe nói. Nhưng ở cách đây xa lắm.” Rồi cô nói đến một địa danh hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

Tôi muốn biết chắc là cô hiểu tôi đang nói về điều gì nên hỏi thêm: “Cô biết gì về những mồ chôn tập thể nầy?”

Cô giải thích: “Cháu biết chứ. Đó là nơi mà hồi Tết năm 1968 nhiều người đã bị Mỹ Ngụy giết chết và chôn ở đấy.”

Tôi sựng lại, quay qua nhìn cô ấy. Câu trả lời trên của cô hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của tôi. Tôi hỏi lại: “Ai bị ai giết?”

Cô ấy nhướng mắt trả lời một cách thông thạo: “Thì chú biết mà, hồi Tết năm ấy lính Mỹ và lính Ngụy vào đây giết chết rất nhiều thường dân và cán bộ rồi đem chôn họ ở mấy chỗ đó.” Nét mặt cô thản nhiên, không có dấu hiệu gì cho thấy cô đang không trả lời tôi một cách thành thật nhất.

Tôi hỏi lại một cách dè dặt: “Làm sao cô biết rõ là lính Mỹ Ngụy đã giết thường dân và cán bộ rồi chôn họ ở đó?”

Cô mỉm cười, có lẽ vì sự ngớ ngẩn trong câu hỏi của tôi: “Thì cháu đã học rõ ràng như thế mà. Không những ở trường học hồi nhỏ mà khóa đào tạo hướng dẫn du lịch của cháu cũng có dạy rất đầy đủ. Lúc đó lính Mỹ Ngụy vào bắn giết rất nhiều dân và cán bộ rồi đem chôn họ tập thể. Ai cũng biết điều đó cả.”

Tôi lặng người đi vài giây. Tôi không quên rằng một sở trường nổi tiếng của các chế độ cộng sản là tẩy não toàn bộ từ già đến trẻ. Tôi cũng không quên mình chỉ là một du khách (và tệ hơn nữa, chỉ là một “Việt kiều”) đang ở trong một lãnh thổ nằm dưới một chính quyền cộng sản. Tôi quyết định không tra gạn thêm về vấn đề nầy nữa vì chỉ vô ích mà thôi. Cô gái ấy đã giải thích rất rõ ràng: trường học đã dạy như vậy, khóa đào tạo cũng đã dạy như vậy, ai cũng biết điều đó. Từ ngày sinh ra (mấy chục năm sau khi diễn biến đó xảy ra) cô đã được dạy bảo như vậy. Không có lý do gì cô nghi ngờ điều đó. Không có lý do gì tôi có thể làm thay đổi sự hiểu biết đó của cô.

Hôm ấy tôi không nhờ cô hướng dẫn viên dẫn đến những chỗ chôn tập thể ấy. Một phần vì khi hỏi thêm vào chi tiết, tôi nhận thấy cô thật ra không biết rõ chính xác các địa điểm đó ở đâu. Một phần vì tự nhiên tôi cảm thấy “cụt hứng”. Hay nói đúng ra là tôi cảm thấy thất vọng một cách bất ngờ và gần như là vô lý do.

Tôi vẫn biết lịch sử là sản phẩm của kẻ chiến thắng. Tuy vậy khi nghe cô hướng dẫn viên giải thích về lịch sử của các mồ chôn tập thể thì tôi không khỏi bực bội trong lòng. Dĩ nhiên là tôi không để lộ điều nầy ra cho cô ấy biết. Việc đó không cần thiết và không có lợi cho tôi. Tôi chỉ quyết định không đi tiếp nữa và trở về khách sạn sớm hơn dự định.

Một câu chuyện dù là phản sự thật và vô lý đến đâu nhưng nếu những người nắm quyền lập đi lập lại đủ nhiều lần, và nếu không ai được phép phản đối, thì câu chuyện đó dần dần sẽ được công nhận là “đúng” và “thật”. Tuy đã không liên quan đến vấn đề nầy trực tiếp, chính tôi đã mắt thấy tai nghe những dữ kiện rõ rệt đủ để kết luận ai đã gây ra các vụ thảm sát đó ở Huế. Chỉ cần nhìn vào 2 điều sau đây: 1/ Việt Cộng chiếm giữ Huế 4 tuần, ngay sau khi quân đội VNCH giành lại Huế thì người ta tìm ra các mồ chôn tập thể đầy xác chết đã thối rữa nhiều ngày; 2/ Những người bị giết đều là nhân viên quan chức đương thời của VNCH, thân nhân của họ đã nhận diện ra xác chồng, cha, anh, em của họ. Chỉ hai điều trên cũng đã đủ cho thấy quân đội Mỹ và VNCH không thể nào là thủ phạm của các vụ tàn sát trên.

Câu chuyện “hồi Tết Mậu Thân quân đội Mỹ Ngụy vào Huế tàn sát nhiều người dân và cán bộ rồi chôn họ trong những hố tập thể” đã được tạo dựng lên và giảng dạy một cách có hệ thống cho những người Huế trẻ, nhất là những người cần thiết. Tôi nhớ lời cô gái hướng dẫn viên du lịch của tôi đã nói: họ phải “học lịch sử và chính trị kỹ lưỡng” vì họ giao dịch với “du khách ngoại quốc và Việt kiều”.

Câu chuyện trên đã trở thành một kiến thức của thế hệ trẻ và sẽ được truyền bá cho mọi người khác mãi mãi về sau. Những nhân chứng của cuộc thảm sát đó đã mấy mươi năm nay không thể và không dám lên tiếng cải chính. Chỉ cần vài mươi năm nữa thì những nhân chứng nầy sẽ dần dần chết mất cả. Câu chuyện thật sự xảy ra như thế nào cũng sẽ chết theo với họ và không còn ai bao giờ biết đến nữa cả.

Chuyến đi thăm Huế của tôi nói chung là mang đến nhiều kỷ niệm đẹp. Trừ việc kể trên.


Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Nguyễn Nhân Trí - Tín Ngưỡng và Tôn Giáo

 Nguyễn Nhân Trí

Nguồn Gốc của Tín Ngưỡng và Tôn Giáo 

Nhiều người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là những sự việc thiêng liêng, huyền bí.

Tín ngưỡng thật ra xuất phát từ sự sợ hãi của con người trong thời tiền sử.

Tín ngưỡng, và tôn giáo, sau đó phát triển mạnh mẽ qua các thời văn minh thô sơ do sự thiếu kiến thức của con người về vũ trụ chung quanh họ.


Bản năng sinh tồn tự nhiên của con người

Bản năng tự nhiên của con người là tìm tòi và chinh phục. Đây là một bản năng then chốt để con người sinh tồn và tiến hóa.

Khi đứng trước một vấn đề, con người biết 1/ xác định vấn đề đó là gì, rồi 2/ tìm một giải pháp thích hợp nhất để giải quyết vấn đề nầy, và rồi 3/ quan sát, suy luận và nếu cần sẽ cải tiến để đi đến một giải pháp mới hiệu quả hơn. Phương cách giải quyết vấn đề trên giúp con người thành công trong việc bành trướng khắp địa cầu.
Khi người tiền sử kiếm ăn, họ tự hỏi phải làm sao để hái được những trái cây trên cao hay săn giết được những thú vật chạy nhanh bay cao. Áp dụng phương cách trên, họ dần dần tìm chế ra được các dụng cụ và võ khí hiệu nghiệm hơn để thực hiện việc nầy.

Tương tự, họ tự hỏi phải làm sao để chống lại sự lạnh lẽo của mưa gió hay để bảo vệ họ khỏi phải bị thú dữ ăn thịt. Dùng phương cách trên họ dần dần tìm chế ra được những tấm lá cây hay da thú để bao bọc giữ cho cơ thể họ được ấm hay biết dựng lên rào cản trước hang động để không cho thú dữ xâm nhập trong khi họ ngủ. Rồi họ biết dùng lửa, làm quần áo, xây nhà, v.v. cho những mục đích nầy. Mỗi lần họ tự hỏi tại sao để giải thích và phải làm sao để chinh phục một vấn đề, họ tìm chế ra một phương tiện khác hay hơn, tốt hơn giúp họ chống chỏi với thiên nhiên trong cuộc tranh đấu liên tục để sống còn của họ.

Tuy nhiên có những sự việc xảy ra chung quanh người tiền sử mà họ không hiểu tại sao và không biết làm cách nào để kiểm soát hay chinh phục chúng. Thí dụ như những hiện tượng thiên nhiên (núi lửa, động đất, mưa bão, lũ lụt, hạn hán, v.v.) hay những tai ương (bệnh tật, tai nạn, chết chóc, cá nhân sát hại lẫn nhau, chiến tranh giữa bộ lạc, v.v.)

Danh sách các sự việc nầy kéo dài vô tận và họ bất lực không có cách giải quyết. Khả năng trí tuệ và kiến thức hạn hẹp về vũ trụ của họ không cho phép họ giải thích được những vấn đề nghiêm trọng trên. Trong khi đó, bản năng sinh tồn của họ kêu gào đòi hỏi họ phải tìm ra một giải đáp, một lối thoát ra khỏi ngõ cụt nầy với bất cứ giá nào.

Sự ra đời của thần linh và Thượng Đế 

Một trong những lãnh vực tiến hóa mà loài người phát triển hơn các thú vật khác là họ có trí tưởng tượng.
Nhờ có trí tưởng tượng loài người mới có thể hình dung được những sự vật không hiện diện thật sự trước mặt họ. Nhờ vậy họ mới có thể chế tạo ra được những dụng cụ chưa từng hiện hữu bao giờ trước đó, có thể hoạch định những việc làm mà họ chưa bao giờ làm cả; nhờ vậy họ mới có thể đặt ra những sự việc và kể lại câu chuyện chưa bao giờ xảy ra, v.v.

Khả năng tưởng tượng nầy cũng đem lại cho con người một lối thoát ra khỏi ngõ cụt sinh tồn như vừa kể trên.
Con người tưởng tượng ra những sức mạnh siêu nhiên hoàn toàn bên ngoài khả năng điều khiển của họ. Họ cho rằng tất cả những hiện tượng không giải thích được và những tai ương đều xuất phát từ các sức mạnh nầy.
Kinh nghiệm trong đời sống của họ cho họ thấy nếu không chinh phục được một mối hiểm nguy thì cách tốt nhất để sinh tồn là hoặc 1/ trốn tránh hoặc 2/ thần phục nó. Vì không thể trốn tránh tai họa được nên họ tin rằng muốn hạn chế nó xảy ra cho họ thì chỉ có cách là thần phục và tôn thờ các sức mạnh siêu nhiên trên.
Với lối suy nghĩ và lý luận giản dị của họ, con người trong thời đại văn minh thô sơ nhân tính hóa các sức mạnh siêu nhiên tưởng tượng trên và đặt để cho chúng những vai trò liên quan đến các hiện tượng và tai ương nầy. Từ đó các thần linh ra đời.

Thần núi lửa gây ra núi lửa. Thần mưa, thần gió, thần sấm sét làm ra bão tố mưa gió. Thần sông, thần biển, thần rừng cai trị và tạo ra những hiểm nguy trên sông, ngoài biển, trong rừng. Các thú dữ cũng được cho là thần linh: thần cọp, thần rắn, thần chim ưng, thần cá sấu. Tiếp theo là thần cây, thần đá, thần mùa màng, thần sinh sản, thần tình yêu, thần chiến tranh, thần hòa bình, v.v. và v.v.

Vì danh sách các hiện tượng con người không hiểu biết và không kiểm soát được kéo dài bất tận nên danh sách các thần linh trong lịch sử con người cũng kéo dài bất tận.

Khi một nhóm người có quá nhiều thần linh nên lẽ tự nhiên theo họ là phải có nhiều hạng thứ, nhiều cấp bậc thần linh khác nhau. Đó là vì trong xã hội con người cũng có nhiều hạng thứ, cấp bậc khác nhau. Và khi có hạng thứ, cấp bậc thì sẽ phải có một vị thần cao nhất, mạnh nhất, thiêng liêng nhất so với tất cả các thần linh khác. Từ đó Thượng Đế của nhóm người nầy ra đời.

Mỗi nhóm người, mỗi chủng tộc sống trong mỗi môi trường khác nhau. Họ đối diện với những hiện tượng bí ẩn khác nhau, có những nỗi sợ hãi khác nhau. Do đó những nhóm người khác nhau tôn thờ nhiều nhóm thần linh khác nhau và do đó có nhiều Thượng Đế khác nhau. Sự khác nhau nầy đưa đến nhiều nhóm tín ngưỡng, và từ đó nhiều tôn giáo khác nhau.

Nói cách khác:
- Con người đã từ sự sợ hãi dẫn đến niềm tin về thần linh. Họ đoán rằng, và dần dần “tin” rằng, có những sức mạnh huyền bí và những thần linh sau lưng các hiện tượng họ không giải thích và kiểm soát được.

- Họ đoán thêm rằng, và dần dần “tin” rằng, họ có thể liên lạc và mua chuộc các thần linh nầy giúp đỡ họ bằng cách tôn thờ, dâng cúng các lễ vật. Đây là những “niềm tin” của con người trong thời văn minh thô sơ.

- Những niềm tin, hay tín ngưỡng, nầy trở thành nền tảng của tín ngưỡng và tôn giáo trong nhân loại cho đến ngày nay.

- Tín ngưỡng trở thành một nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu nầy là một phần của quá trình tiến hóa và đóng vai trò quan trọng trong sự sinh tồn của nhân loại. Nhu cầu tín ngưỡng đứng ngay đàng sau các nhu cầu thiết yếu khác như cơm ăn, áo mặc và tình dục.

Tôn Giáo Là Gì?

Chữ “tôn giáo” thường được nhiều người dùng để nói một cách mơ hồ về hoặc là “sự tín ngưỡng” hoặc là “hệ thống tín ngưỡng” hoặc là “tổ chức của hệ thống tín ngưỡng” hoặc là tất cả những thứ kể trên.

Thật ra thì:
a/ Tôn giáo là kết quả của sự hệ thống hóa các niềm tin về thần linh:
Các phương cách tôn thờ, dâng cúng lễ vật và các huyền thoại về những thần linh càng ngày càng tích tụ lại và trở nên phức tạp, khó hiểu. Phức tạp vì chúng là sản phẩm từ nhiều nguồn gốc, của nhiều đoàn thể, bởi nhiều lý do khác nhau mà ra. Khó hiểu vì thật sự chính những người sản xuất ra chúng cũng chẳng hiểu rõ ý nghĩa của chúng. Tuy vậy, con người là một loài vật có trí óc tổ chức. Họ hệ thống hóa tất cả các niềm tin của họ lại và từ đó chúng ta có tôn giáo.

Sở dĩ ngày nay có nhiều tôn giáo khác nhau là vì chúng xuất phát từ nhiều nhóm dân tộc có những nhu cầu, đời sống, phong tục, niềm tin khác nhau.

b/ Các tôn giáo chỉ là những tổ chức của những “chuyên gia” về tôn giáo:

Hầu như song song với sự thành lập của tôn giáo, một số nhỏ cá nhân trở thành “chuyên gia” về các cách thức tôn thờ, dâng cúng lễ vật và các huyền thoại về thần linh trong tôn giáo của họ.
Những “chuyên gia” nầy tập hợp lại thành đoàn thể rồi cũng hệ thống hóa cách sinh hoạt, cơ chế, luật lệ cho đoàn thể nầy của họ. Từ đó chúng ta có tổ chức tôn giáo.

c/ Giáo lý, giáo điều chỉ là sản phẩm của những “chuyên gia” về tôn giáo:
Giáo lý, giáo điều là tập hợp những những “chân lý”, những hứa hẹn, những luật lệ mà người ta cho là thần linh ban ra.

Giáo lý, giáo điều thật ra chỉ là tập hợp những huyền thoại đặt chế ra bởi con người phản ảnh những ý tưởng và kiến thức hạn hẹp đương thời của các “chuyên gia” về tôn giáo. Giáo lý, giáo điều được lưu trữ, truyền dạy và thêm bớt sửa đổi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.

Có vô số thí dụ trong tôn giáo cho thấy điều nầy. Một thí dụ điển hình là Kinh Thánh nói rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Điều nầy phản ảnh kiến thức hạn hẹp của con người ở khoảng 2000 năm về trước khi Thiên Chúa giáo vừa mới thành hình.


Cấu trúc của một tôn giáo

Nói chung, một tôn giáo cần phải có ít nhất 3 thành phần: 1/ một niềm tín ngưỡng, 2/ một số đông đủ tín đồ, và 3/ một tập hợp những luật lệ hay giáo điều.

Đạo Phật, đạo Thiên Chúa là các thí dụ của sự hệ thống hóa của từng niềm tín ngưỡng riêng biệt và khác nhau. Đạo Cao Đài là một thí dụ của sự hệ thống hóa của tập hợp nhiều niềm tín ngưỡng khác nhau.

Hầu như tôn giáo nào cũng có ít nhất một tổ chức điều hành (thí dụ các giáo hội Phật giáo, tòa thánh Vatican, v.v.). Tuy nhiên trong trường hợp như đạo Ông Bà của Việt Nam chẳng hạn, tuy cũng hội đủ 3 thành phần trên nhưng không có một tổ chức điều hành chính thức.

Một điều nổi bật đáng nhận thấy là không có tôn giáo nào sở hữu chân lý tuyệt đối cả. Trên thế giới hiện tại có khoảng 4500 tôn giáo khác nhau. Trong lịch sử nhân loại đã có ước lượng vài trăm ngàn tôn giáo đã thành hình và đã diệt vong. Nhiều tôn giáo nầy đã từng chiếm đóng địa vị quan trọng trong những nền văn minh lớn đã mai một như Ai Cập, La Mã, Inca, v.v.

Một điều cần nhận thấy là số lượng của tín đồ của một tôn giáo quyết định vị thế của tôn giáo đó trong xã hội.
Trong Anh ngữ có những tiểu nhóm tôn giáo được gọi là “cult”. Những nhóm nầy bị xem là “tiểu nhánh” hay “ngoài lề” của một tôn giáo “lớn” khác như Phật giáo hay Thiên Chúa giáo. Chữ “cult” thường mang hàm ý “biến thái” hay “tà đạo”.

Tuy vậy, khi nhìn vào cấu trúc thì thật ra những tiểu nhóm nầy không khác gì với những tôn giáo “lớn” khác cả. Chúng cũng có đầy đủ 3 yếu tố kể trên của bất cứ một tôn giáo nào khác. Điều khác biệt duy nhất là số tín đồ của những tiểu nhóm nầy rất ít ỏi so với các tôn giáo “lớn”.

Phật giáo ở Việt Nam có vài tiểu nhóm nổi tiếng loại nầy từ là đạo Dừa, đạo Hòa Hảo và gần đây là “đạo bà Thanh Hải”. Vào thập niên 70 có những tiểu nhóm chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian rất ngắn ngủi như đạo Chuối, đạo Vuốt, v.v.

Thiên Chúa giáo có vô số các tiểu nhóm loại nầy rải rác khắp cả Âu và Mỹ châu.

Những ảnh hưởng tốt của tôn giáo lên xã hội

Tôn giáo nói chung mang lại nhiều ích lợi cho con người và xã hội.

1/ Tôn giáo giúp con người cảm thấy bớt lẻ loi nhỏ bé và bất lực trong cái vũ trụ bao la đáng sợ chung quanh họ.
2/ Tôn giáo đáp ứng nhu cầu "chinh phục sự chết" cần thiết trong bản năng sinh tồn tự nhiên của con người.
3/ Tôn giáo cung cấp phương tiện và cơ hội để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người; thí dụ như cảm giác thông linh, giao hòa với một huyền lực bao la vĩ đại mà nhiều tôn giáo đã nhân cách hóa và gọi là "Thượng Đế".
4/ Tôn giáo là một phương tiện giúp con người dễ bột phát những thiện tính đã có sẵn tự nhiên trong mỗi người và áp dụng những thiện tính nầy vào đời sống hàng ngày.
5/ Tôn giáo cung cấp một phương tiện khá hữu hiệu để truyền bá các tiêu chuẩn đạo đức và gìn giữ con người nằm trong khuôn khổ của các tiêu chuẩn đạo đức nầy.
6/ Tôn giáo giúp con người đoàn kết mạnh mẽ hơn khi cùng đứng với nhau trong một tập thể dưới một danh nghĩa cao cả chung.
Tuy vậy, tôi cần nhấn mạnh là hầu như tất cả các ảnh hưởng tốt kể trên đều có thể đạt được từ bản chất chân thiện mỹ cũng như khả năng đạo đức và tâm linh đã tự sẵn có trong tâm thức con người mà không cần sự hiện hữu của tôn giáo.

Những ảnh hưởng xấu của tôn giáo lên xã hội

Tôn giáo có nhiều lãnh vực tiêu cực về phương diện trí tuệ và tâm linh lẫn xã hội và nhân văn.

1/ Tôn giáo nào cũng cho rằng chỉ có họ là chính giáo, chỉ có giáo điều và “Thượng Đế” của họ là chân lý và tối thượng. Có những tôn giáo cho rằng tất cả tôn giáo khác đều là tà giáo, tất cả “Thượng Đế” của các tôn giáo khác là sản phẩm của sự lầm lẫn ngu tối của loài người. Sự tranh chấp nầy đưa đến hiềm khích và chiến tranh liên tục ở mọi tầng lớp trong lịch sử nhân loại. Đã và đang có vô số cuộc thảm sát, giết chóc xảy ra vì lý do trực tiếp liên quan đến tôn giáo.
2/ Tôn giáo được xây dựng dựa trên sự sợ hãi của con người. Từ đó tôn giáo trở thành một công cụ hữu hiệu của thiểu số cầm quyền dùng để cai trị và kiểm soát quần chúng ở mọi tầng lớp, từ thời xưa cổ cho đến ngay cả chính ngày hôm nay.
3/ Nhiều tôn giáo khuyến khích con người từ bỏ trí óc lý luận và suy xét để chấp nhận những đức tin huyễn hoặc, vô căn cứ.
4/ Nhiều tôn giáo khuyến khích con người tráo chuyển trách nhiệm trong quyết định, hành vi và hậu quả của cá nhân họ ra thành trách nhiệm của “Thượng Đế”.
5/ Nhiều tôn giáo phủ nhận giá trị và khả năng đạo đức cơ bản tự nhiên của con người.
6/ Tôn giáo không biến đổi kịp với sự tiến hóa về mặt khoa học, xã hội lẫn cả về mặt tâm linh của con người do đó trở thành chướng ngại vật trên đường tiến hóa của nhân loại.
7/ Nhiều tôn giáo tiếp tục gìn giữ và truyền dạy những giáo điều cổ hủ, lầm lạc và vô đạo đức (nếu so sánh với tiêu chuẩn xã hội và tâm lý ngày nay).
8/ Các tín đồ cực đoan dùng những giáo điều cổ hủ, lầm lạc và vô đạo đức trong tôn giáo họ để làm căn bản và lý do cho các hành động độc ác. Tùy vị thế và khả năng của các thành phần cực đoan nầy, các hành động độc ác của họ có thể có tai hại rộng lớn, lâu dài và sâu xa đến vô số người vô can khác.
9/ Bản chất mơ hồ, phức tạp và chuyển đổi không ngừng của tôn giáo làm cho đại đa số tín đồ không thể nhận ra được những bản chất tiêu cực cơ bản và quan trọng của nó. Các tổ chức tôn giáo (các “chuyên viên” về tôn giáo) nếu có nhận ra được các bản chất tiêu cực nầy đi nữa thì cũng vì quyền lợi riêng mà ém giấu hay không truyền bá chúng đến cho tín đồ.

Theo tôi nổi bật nhất trong phương diện xã hội và nhân văn là tôn giáo thường bị lợi dụng danh nghĩa để thực hiện những chuyện vụ lợi riêng. Người ta có khuynh hướng không phản kháng các tổ chức, các hành động mang nhãn hiệu tôn giáo vì cái ấn tượng thiêng liêng, đạo đức gắn liền với tôn giáo.

Karl Marx nổi tiếng với chủ thuyết cộng sản đẫm máu. Tuy vậy tôi phải công nhận cách so sánh của Karl Marx về tôn giáo với thuốc phiện rất chính xác. Cái mà đại đa số chúng ta không nhìn thấy là chúng ta đã mê hoặc chính chúng ta và biến mình thành nô lệ của các tổ chức tôn giáo.

Con người thường cảm thấy bất lực và vô vọng trước những sự đau khổ và hủy diệt trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó, lời hứa hẹn được thương yêu chăm sóc bảo vệ trong kiếp nầy và một sự sống vĩnh hằng ở kiếp sau mang lại một ảo giác an lành khó gì sánh bằng, mặc dù ảo giác an lành nầy chỉ tạm bợ, mơ hồ và giả tạo (cũng giống như thuốc phiện). Để hưởng thụ cái ảo giác an lành nầy một cách trọn vẹn hơn, cũng giống như một gã nghiện, con người sẵn sàng nhắm mắt cố ý không nhận thấy những khuyết điểm lộ liễu và sự tai hại của tôn giáo.

Để đón nhận cái ảo giác an lành nầy, con người sẵn sàng từ đánh đổi một tài sản quý giá đó là tri thức cùng khả năng phán xét bằng khối óc biết lý luận của mình để nhận lấy những giáo điều vô căn cứ và phản khoa học gọi là “đức tin”.

Để củng cố cái ảo giác an lành tạm bợ nầy và để tránh trách nhiệm cho chính mình, con người sẵn sàng giao phó quyền quyết định đúng sai, phải trái trong đời mình cho một thiểu số không hề quen biết chỉ vì thiểu số nầy tuyên bố rằng họ có những ân sũng huyền bí hay các kiến thức, khả năng đặc biệt hơn mọi người khác.
Và cũng giống như một gã nghiện, con người không dám chống đối hay chất vấn các giáo điều dù vô lý đến đâu.

Từ thái độ trên, con người tự chấp nhận trở thành nô lệ cho những tổ chức giữ độc quyền sản xuất và phân phát các ảo giác an lành tạm bợ và giả tạo đó.  Những người điều hành các tổ chức nầy sử dụng tôn giáo như một công cụ kiểm sóat và điều khiển từng cá nhân nói riêng và xã hội nói chung để củng cố địa vị, quyền lực và tài sản của riêng họ.

Những công thức và phương cách buôn bán tín ngưỡng hữu hiệu nhất hầu như không khác nhau mấy bất kể Thượng Đế hay thần linh mang hình thức và màu sắc gì.

Vài Bản Chất của Tôn Giáo

Một Sản Phẩm Phụ của Quá Trình Tiến Hóa của Nhân Loại

Như đã trình bày, tôn giáo và tín ngưỡng xuất phát từ sự sợ hãi.

Tín ngưỡng và tôn giáo cũng là một sản phẩm phụ của quá trình sinh tồn và tiến hóa của nhân loại.

Con người ngày nay nói chung là sự tổng hợp thành công của những bản năng di truyền có ích lợi cho chủng loại của họ. Tuy nhiên trong quá trình di truyền trên cũng có lẫn lộn theo những bản năng không hoàn toàn có ích lợi cho sự tiến hóa của con người, trong đó có tín ngưỡng và tôn giáo.  Cũng tương tự như những ký sinh trùng, tín ngưỡng và tôn giáo bám theo cái bản năng di truyền trên để phát triển từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.

Trong quá trình tiến hóa của nhân loại, nhất là trong thời kỳ con người còn sơ khai, những đứa trẻ có khuynh hướng nghe theo lời dạy bảo của cha mẹ chúng có một xác suất sinh tồn và trưởng thành cao hơn những đứa có khuynh hướng làm ngược lại.

“Nghe theo lời dạy bảo của cha mẹ” là một đặc tính có ích lợi cho sự sống còn của con người. Đặc tính nầy dần dần trở thành một bản năng di truyền tự nhiên gắn liền trong cấu trúc cơ bản của trí óc mỗi người.
Thí dụ như ngày nay trong suốt giai đoạn phát triển ở những năm đầu tiên trong đời một đứa trẻ, cha mẹ nó hàng ngày dạy bảo nó vô số sự việc tối cần thiết cho sự sống còn của nó: “Khi ăn cơm phải nhả xương ra không được nuốt”, “Phải tránh không được thò tay vào bếp lửa”, “Phải tránh xa con chó dữ của nhà láng giềng”, “Phải nhìn phải trái cẩn thận trước khi băng qua đường”, “Đừng mở cửa cho người lạ vào nhà”, v.v.
Có rất nhiều khi ngay lúc đó đứa trẻ không hiểu tại sao cha mẹ nó dạy bảo những điều nầy, nhưng kinh nghiệm bản thân nó sau đó cho thấy rằng những điều trên đều hay, đúng và có ích lợi cho sự sinh tồn của chính nó. Họ cũng dạy nó “Phải nghe lời dạy bảo của cha mẹ”.

Vì thế khi cha mẹ bảo một đứa trẻ: “Hãy theo đạo nầy” hay “Hãy tin vào Thượng Đế” thì nó không có lý do gì mà không nghe theo họ.

Trí óc một đứa trẻ như một tờ giấy trắng. Những khái niệm được diễn tả là “thánh thiện, huyền diệu” của tôn giáo và tín ngưỡng dễ dàng gây nên những ấn tượng sâu đậm trong tri thức nó. Đứa trẻ sẽ thu nhận những điều nầy là “hay, đẹp, đúng, thật” mà không hề chất vấn. Và một khi những khái niệm nầy đã trở thành “của nó” rồi thì đứa trẻ sẽ tiếp tục gìn giữ, phát triển chúng trong tri thức và sẽ truyền bá chúng qua các thế hệ kế tiếp.

Nói cách khác:
- Trong quá trình tiến hóa của loài người, những đứa trẻ không có bản tính nghe lời cha mẹ thường không sinh tồn đến trưởng thành để truyền cái DNA "không nghe lời cha mẹ" của chúng cho các thế hệ sau. Do đó bản tính tự nhiên của đại đa số trẻ con ngày nay là "nghe lời cha mẹ".

- Một trong những điều mà cha mẹ dạy bảo con trẻ là niềm tín ngưỡng và tôn giáo của họ. Đó là vì chính họ trước đây cũng đã được cha mẹ của họ dạy bảo điều nầy. Trẻ con nghe lời cha mẹ tiếp nhận niềm tín ngưỡng và tôn giáo của họ rồi sau nầy truyền lại cho con cái của chúng. Và cứ thế mà tiếp diễn.

- Đây là một lý do mà tín ngưỡng và tôn giáo được lưu truyền một cách thành công từ đời nầy sang đời nọ. Nói cách khác, tuy tín ngưỡng và tôn giáo có nhiều tai hại (ngoài một số lợi ích) cho loài người nhưng vẫn còn tồn tại vì nó là một sản phẩm phụ của quá trình tiến hóa.

Và:
Niềm tín ngưỡng của hầu như tất cả mọi người đều xuất phát từ cha mẹ, gia đình họ. Trong đầu những đứa trẻ sơ sinh không có sẵn tín ngưỡng hay tôn giáo. Cha mẹ và gia đình nó dần dần truyền dạy, và áp đặt, niềm tín ngưỡng và tôn giáo của họ lên nó.

Một Giải Pháp Không Hoàn Hảo nhưng Vượt Thời Gian 

Con người từ thời tiền sử tin rằng tôn thờ, bái lạy, cúng tế các thần linh thì sẽ được bảo vệ, che chở. Đối với họ đây là một giải đáp thỏa đáng nhất, mặc dù không hoàn hảo, để làm giảm bớt nỗi lo âu vô vọng của họ.
Để đánh đổi được cái cảm giác an toàn và bình yên nầy, người ta sẵn sàng chấp nhận cái giải đáp trên mặc dù họ biết rằng nó không hoàn hảo.

Không hoàn hảo vì lịch sử cho thấy tín ngưỡng, tôn giáo là nguồn gốc của vô số cuộc chiến tranh, thảm sát và là công cụ hữu hiệu nhất để đàn áp, bóc lột con người.

Không hoàn hảo vì trong thâm tâm chính tín đồ cũng nhận thấy rằng tôn giáo thật sự không hiệu nghiệm gì cho lắm: tôn thờ, tế bái dường như cũng chỉ có thể làm cho các thần linh bảo vệ, che chở cho họ trong một vài trường hợp mà thôi; tai họa vẫn tiếp tục xảy đến với họ trong nhiều trường hợp khác.

Nhưng đối với những con người mang đầy mặc cảm bất lực nầy thì chỉ cần may ra được thần linh bảo vệ để tai ương giảm bớt một vài lần thôi thì cũng đủ lắm với họ rồi. Vì vậy mà họ vẫn tiếp tục tôn thờ, cúng bái.
Cách lý giải dựa trên trí tưởng tượng trên rất có ích lợi cho sự tiến hóa của con người. Nó có tác dụng “trấn an” con người và giúp họ đương đầu hữu hiệu hơn trước những sự việc ngoài vòng kiểm soát của họ. Nó làm giảm bớt sự khủng hoảng tinh thần trước những thảm họa, thiên tai, chuyện đau buồn; nó đem lại sự an lành trong tâm hồn khi nghĩ rằng họ được che chở đùm bọc bởi một sức mạnh vô biên. Nó làm cho con người có tâm trí và nghị lực để bước tiến trên hành trình sinh tồn của chủng loại của họ. Tín ngưỡng trở thành một nhu cầu cần thiết của con người.

Như đã nói, danh sách của các tai ương dài vô tận; do đó danh sách của các thần linh cũng sinh sôi nẩy nở theo. Và theo sát đàng sau đó là vô số những tình tiết huyền bí, kỳ diệu được con người sáng tạo, thêu dệt thêm không ngừng để xây dựng và củng cố cái quan niệm về thế giới siêu nhiên của họ.

Thời gian trôi, thế kỷ này qua thế kỷ khác. Khả năng trí tuệ và kiến thức của con người phát triển nhiều lên. Con người giải thích và chinh phục được vô số các sự việc mà trước kia họ không làm được. Có rất nhiều vấn đề trong vũ trụ đã được khẳng định là hiện tượng tự nhiên không liên quan gì đến thế giới siêu nhiên cả: dân số của các thần linh giảm xuống theo tỉ lệ thuận với sự hiểu biết của con người về thế giới chung quanh họ.

Tuy vậy, còn vô số các vấn đề khác mà họ vẫn không có câu trả lời. Điển hình và quan trọng nhất là những hiện tượng liên quan đến sự chết. Làm thế nào để chinh phục được sự chết và chuyện gì xảy ra sau khi sự chết vẫn còn là những câu hỏi nan giải mãi mãi ngay cả ngày nay. Con người quan sát, suy luận và cố gắng tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm ra câu trả lời nào hoàn toàn thỏa đáng cả.

Cách giải đáp từ thời tiền sử với sự hiện diện của các thần linh cùng những chi tiết huyền hoặc do đó vẫn còn ứng dụng được. Cách giải đáp nầy dễ hiểu, dễ ứng dụng và dễ được chấp nhận nhất bởi số đông. Cái cảm giác an toàn và yên ổn khi được bảo vệ bởi các sức mạnh siêu nhiên có một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với đại đa số con người. Họ dựa vào cách lý giải nầy để hỗ trợ, khích lệ tinh thần họ khi đương đầu với hiểm nguy. Họ dựa vào nó để mang lại sự an lành, thanh thản trong đời sống bận rộn hàng ngày.

Cộng vào đó, trong thiên nhiên có nhiều sự vật hoàn hảo đến độ đáng ngạc nhiên; sự hiểu biết và khả năng của con người hiện tại chỉ nằm ở mức cực kỳ sơ đẳng so với những sự hoàn hảo nầy; và với khoa học càng tiến bộ thì người ta càng nhận thấy rằng vũ trụ không những vô tận mà những bí mật chưa được lý giải trong vũ trụ cũng không bao giờ cạn kiệt. Đứng trước những sự vật hoàn hảo kỳ diệu nầy, lòng khâm phục cùng với bản năng hiếu kỳ của con người tìm đủ cách để giải thích cho được những thắc mắc của họ.

Một lần nữa, trí tưởng tượng cho phép con người tự thuyết phục họ rằng các sự vật tuyệt vời kia chỉ có thể là sản phẩm của những sức mạnh và trí tuệ siêu nhiên mà chính họ đã sáng tạo ra.

Không có gì “thiêng liêng” hay “huyền bí” cả


Như đã trình bày trước đây, tín ngưỡng chỉ là một nhu cầu cần thiết để đáp ứng với bản năng hiếu kỳ và chinh phục của con người cũng như hỗ trợ sự sinh tồn của họ.

Tín ngưỡng cũng là một sản phẩm phụ của quá trình tiến hóa của loài người.

Nhu cầu tín ngưỡng xuất phát từ kiến thức và khả năng hạn hẹp của con người đứng trước vũ trụ bao la. Có vô số sự việc con người không thể giải thích, giải quyết hay điều khiển, kiểm soát được. Những sự việc nầy được con người khoác những chiếc áo gọi là “huyền bí”.

Theo sau tín ngưỡng là tôn giáo. Tôn giáo cũng là một sản phẩm của con người. Tôn giáo chỉ là một số tín ngưỡng được hệ thống hóa và được một số đông người tin theo. Vì tín ngưỡng không có gì là thiêng liêng, tôn giáo do đó cũng không có gì thiêng liêng cả.

Lãnh vực tâm linh nói chung bao gồm những vấn đề trong vũ trụ mà con người chưa thấu hiểu được. Tất cả những gì liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo được gọi là thuộc về lãnh vực tâm linh. Lãnh vực tâm linh do đó cũng không có gì là thiêng liêng cả.

Vì vậy tín ngưỡng và tôn giáo không phải là một phạm trù “bất khả xâm phạm”. Tín ngưỡng, tôn giáo và tất cả các vấn về về tâm linh nên và cần được phân tích bàn luận đến một cách thoải mái giống như khi bàn luận những hiện tượng tâm sinh lý hay xã hội khác.

Sự cần thiết, quyến rũ và ảnh hưởng của chiếc áo “thiêng liêng”, “huyền bí”

Khi kiến thức và khả năng kỹ thuật của con người phát triển lên, chiếc áo huyền bí của một số các sự việc đã dần dần được lột bỏ xuống; tuy nhiên vẫn còn vô số những bí ẩn khác trong vũ trụ mà con người vẫn chưa, và có thể không bao giờ, chinh phục được.

Tính chất bí ẩn cộng với lớp áo mang nhãn hiệu “huyền bí” của những vấn đề nầy đem đến cho chúng một giá trị đặc biệt trong cấu trúc tâm lý của con người. Trên diễn đài tri thức, họ có khuynh hướng biệt đãi những vấn đề thuộc lãnh vực tâm linh như sau:
1/ Họ cho rằng không thể dùng lý trí và phép lý luận thực tế để bàn thảo về chúng. Nói cách khác, họ cho phép chúng được quyền đứng ngoài vòng cương tỏa của lý trí trong bất cứ sự suy luận nào; đặc biệt là trong những sự suy luận mà các sự việc tâm linh huyền bí nầy có nguy cơ bị cho là “phản lý luận” hay “vô căn cứ”.
2/ Họ cho rằng không ai nên phê bình, chỉ trích điều gì về tín ngưỡng và tôn giáo.

Lý do chính của hiện tượng nầy là vì trong lãnh vực tâm linh có những yếu tố đem lại cho họ cái cảm giác an lành vì được che chở, bảo bọc và sinh tồn trong đời sống hiện tại cũng như sau khi họ nhắm mắt.

Con người cần phải bảo vệ những yếu tố nầy, và luôn cả mọi thứ khác trong lãnh vực tâm linh, với bất cứ mọi giá mỗi khi chúng bị lôi ra phán xét trước ánh sáng của lý luận (ngay cả của chính họ). Họ dùng những câu như “đây là một vấn đề tâm linh nên không thể dùng lý trí để phán xét được” hay “ngôn ngữ của lý trí và lý luận không thể nào áp dụng được trong vấn đề tâm linh” hay “không thể có cái nhìn khách quan hoặc đánh giá từ bên ngoài để luận bàn về chuyện tâm linh” với người khác cũng như với chính họ.

Các sản phẩm tâm linh có những giá trị ích lợi của chúng. Tuy vậy, vì con người không nhớ hay nhận biết được bản chất thật sự của chúng nên họ thay vì là chủ nhân lại trở thành nô lệ của chúng.

Phải chi họ nhớ được rằng tất cả mọi thứ trong lãnh vực tâm linh (kể cả tín ngưỡng và tôn giáo) đều chỉ là những sản phẩm của họ tự chế tạo ra nhằm để cố trấn an chính họ trước sự vô tình, vô nhân tính, vô thiên vị đến độ tàn nhẫn của vũ trụ.