Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Cần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Cần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Nguyễn Minh Cần: "Bật Mí"

Ngày Tết được đọc những giai phẩm xuân vừa đẹp vừa hay, như Người Việt, Thế Kỷ 21, Việt Tide... thì thật là thú vị! Thú vị còn hơn “thịt mỡ dưa hành...”!
Để cảm tạ các bạn làm báo đã đem lại cho độc giả những phút giây đầy khoái cảm, với tư cách một người đọc tôi xin... “bật mí” ở đây một điều nhân đọc bài của Phạm Xuân Đài trong Thế Kỷ 21 số Xuân Nhâm Ngọ vừa rồi.
Trong bài “Đọc Lại Những Bài Báo Xưa Của Vũ Trọng Phụng,” nhà văn họ Phạm viết: “Tại miền Nam các tác phẩm của ông (Vũ Trọng Phụng - NMC) được in đi in lại nhiều lần, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ông, ... Trong khi đó tại miền Bắc, từ khoảng cuối thập niên 1950 không hiểu vì lý do gì và nhân danh cái gì, đảng Cộng sản (ĐCS) đã ra lệnh cấm toàn dân không được đọc Vũ Trọng Phụng, cấm sách của ông không được lưu hành, và dĩ nhiên dẹp bỏ luôn cả việc nghiên cứu, tìm hiểu tác giả này...” (tr. 186, TK21 số 153 & 154).
Quả đúng như vậy! Và đúng là có rất nhiều người “không hiểu vì lý do gì và nhân danh cái gì” mà ĐCS đã hành động như thế thật! Cũng dễ hiểu thôi: xưa nay, trong những việc mà chính thâm tâm mình cảm thấy “không ổn” lắm, “không sạch sẽ” lắm, không chính đáng lắm, thì ĐCS có cái tật thích làm thầm vụng, chùng lén nên chẳng bao giờ người dân biết được “lý do” vì sao cả. Có thể dẫn ra rất nhiều việc. Chẳng hạn như việc “động trời” gần đây nhất là việc Bộ chính trị ĐCS cắt đất, cắt biển của Tổ quốc dâng cho Bắc triều. Việc đó họ cũng làm vụng trộm, sau nhiều năm lén lút đi đêm với những kẻ mà cách đây vài chục năm họ từng gọi là “bọn bành trướng phương Bắc,” “kẻ thù truyền kiếp” (đây là lời lẽ chính thức thốt ra từ miệng các lãnh tụ cộng sản Việt Nam in rành rành trên báo chí hồi cuối thập niên 1970 và thập niên 1980). Đến mãi gần đây, khi buộc lòng phải làm “lễ cắm mốc” đầu tiên ở Mông Cái rồi, mà họ vẫn cứ giấu tịt những điều đã thoả thuận với Bắc Kinh. Lãnh thổ quốc gia là của toàn dân. Thế mà, thử hỏi, trừ Bộ chính trị ĐCS thì có ai biết mô tê gì về nội dung của các hiệp định đã ký kết, cũng như “lý do” vì sao phải ký như vậy? Có lẽ phần đông đại biểu ù lỳ trong cái quốc hội bù nhìn cũng mù tịt! Còn nhiều ví dụ khác nữa, nhưng thôi, xin quay lại chuyện văn học nghệ thuật.

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Nguyễn Minh Cần - "Bật Mí"


Ngày Tết được đọc những giai phẩm xuân vừa đẹp vừa hay, như Người Việt, Thế Kỷ 21, Việt Tide... thì thật là thú vị! Thú vị còn hơn “thịt mỡ dưa hành...”!
Để cảm tạ các bạn làm báo đã đem lại cho độc giả những phút giây đầy khoái cảm, với tư cách một người đọc tôi xin... “bật mí” ở đây một điều nhân đọc bài của Phạm Xuân Đài trong Thế Kỷ 21 số Xuân Nhâm Ngọ vừa rồi.
Trong bài “Đọc Lại Những Bài Báo Xưa Của Vũ Trọng Phụng,” nhà văn họ Phạm viết: “Tại miền Nam các tác phẩm của ông (Vũ Trọng Phụng - NMC) được in đi in lại nhiều lần, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ông, ... Trong khi đó tại miền Bắc, từ khoảng cuối thập niên 1950 không hiểu vì lý do gì và nhân danh cái gì, đảng Cộng sản (ĐCS) đã ra lệnh cấm toàn dân không được đọc Vũ Trọng Phụng, cấm sách của ông không được lưu hành, và dĩ nhiên dẹp bỏ luôn cả việc nghiên cứu, tìm hiểu tác giả này...” (tr. 186, TK21 số 153 & 154).

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Cáo Phó - Nguyễn Minh Cần


Cáo Phó

Chúng con/ chúng tôi xin đại diện cho Hội Phật Giáo Thảo Đường tại Moscow, Cộng Hòa Liên Bang Nga cùng toàn thể tang quyến xin cáo bạch đến chư Tôn Đức và bà con đồng hương Phật Tử xa gần là: 

Đạo Hữu Nguyễn Minh Cần
Pháp Danh Thiện Mẫn 

sanh ngày 31 tháng 12 năm 1928 (Mậu Thìn)
đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 5 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 2016
nhằm ngày mùng 7 tháng 4 năm Bính Thân

Thượng Thọ 89 tuổi.

Là người sáng lập ra Hội Phật Giáo Thảo Đường từ hơn 20 năm nay, đồng thời cũng là vị chủ trương xây dựng chùa Thảo Đường và là Chủ Tịch đương nhiệm, nhưng vì niên cao, duyên bệnh, nên Đạo Hữu đã thuận thế vô thường ra đi tại bệnh viện Moscow vào ngày giờ trên.
Chúng con/ chúng tôi xin đại diện cho Hội và chùa Thảo Đường cũng như tang gia ái nữ  kính xin cáo phó đến chư Tôn Thiền Đức và bà con đồng hương Phật Tử xa gần trước, để niệm Kinh cầu nguyện cho Hương Linh Đạo Hữu Thiện Mẫn được sớm vãng sanh về cõi Phật. Riêng ngày, giờ tẩn, liệm, tang chế và lễ tiễn đưa lần cuối, chúng con/ chúng tôi xin gửi chi tiết đến Quý Ngài và Quý Vị sau.
Đại Diện Hội và Chùa Thảo Đường: Phó Hội Trưởng Tâm Diệu Hương Bùi Lan Hương và toàn thể Ban Trị Sự.
Đại Diện Tang Quyến: Nghĩa Tế  Nguyễn Viết Tịnh và Ái Nữ Nguyễn Thị Thu Hằng.

Tang Gia đồng khấp báo.



Diễn Ðàn Thế Kỷ - Chia Buồn


Từ khi báo điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ bắt đầu hoạt động từ đầu thập niên 2010,
ông Nguyễn Minh Cần đã có mặt trong Ban Chủ Trương và ông đã tích cực đóng góp bài vở và ý kiến xây dựng Diễn Đàn trong suốt sáu năm qua.

Ông mất đi, Diễn Đàn Thế Kỷ mất một thành viên đầy nhân ái và trí tuệ.

Chúng tôi xin thành kính phân ưu cùng Gia Đình và Hội Phật Giáo Thảo Đường.
Nguyện cầu Hương Linh Thiện Mẫn Nguyễn Minh Cần được sớm vãng sanh về cõi Phật.

DĐTK



Ông Nguyễn Minh Cần qua đời

Ông Nguyễn Minh Cần

Ông Nguyễn Minh Cần, từng trong hàng ngũ những người đầu tiên tham gia Cách Mạng Tháng Tám, vào đảng từ thời đảng còn mang tên Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, nhưng cũng là một trong những người đầu tiên từ bỏ đảng Cộng Sản, tham gia “xét lại chống đảng,” vừa qua đời lúc 5 giờ sáng ngày 13 Tháng Năm, tại Moscow, Liên Bang Nga, thọ 89 tuổi.
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế, tham gia Cách Mạng Tháng Tám, tổ chức và lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế và các vùng phụ cận Huế, gia nhập đảng Cộng Sản Ðông Dương năm 1946. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng như ủy viên Thường Vụ Thành Ủy Huế, ủy viên Thường Vụ Tỉnh Ủy Thừa Thiên, ủy viên Thường Vụ Thành Ủy Hà Nội, kiêm phó chủ tịch Ủy Ban Hành Chính thành phố Hà Nội.

Nguyễn Minh Cần - Vài “mẩu chuyện” về cuộc đời Hồ Chí Minh


(Đăng lại từ báo Thế Kỷ 21 số 96, tháng Tư, 1997)
Người viết bài này hy vng góp thêm vài "mu chuyn" vào cun sách Nhng mu chuyn v đi hot đng ca H Ch tch ca Trn Dân Tiên mà - như li gii thích ming "t Trên", khi cun sách được xut bn ln đu min Bc -"tác gi ca nó là mt nhà báo ni tiếng có cơ hi được biết rõ v thân thế ca Người". Thc ra, hi nhng năm 50, đi đa s cán b, ch nói gì đến nhân dân, chưa h nghe tên và không ai biết cái ông "nhà báo ni tiếng" Trn Dân Tiên, tác gi cun sách "bt h" đó, là ai c. Ch có mt s rt ít cán b cao cp thì thm r tai nhau v điu bí mt quc gia: "... Ch còn ai na!"
Mãi v sau này, qua hàng my thp niên, nhiu người mi ngã nga ra là ông tác gi "Ch còn ai na!" đó, ông Trn Dân Tiên huyn thoi kia, chính là ông Nguyn Tt Thành, cũng chính là ông Nguyn Ái Quc, và cui cùng, cũng chính là ... ông H Chí Minh. Thế nhưng báo chí chính thc Vit Nam cho đến nay vn tiếp tc "giu như mèo giu c..." Theo tôi biết, hình như trong "thế gii" cng sn, ch có hai lãnh t trc tiếp tham gia vào vic "xây dng" tiu s ca mình đ lưu danh hu thế là Stalin và H Chí Minh. Tôi nói "hình như" vì không biết chính xác Kim Nht Thành đã làm phù phép như thế nào vi tiu s ca ông ta. Nhà đc tài đm máu Stalin đã không trng trn t tay viết tiu s ca mình, mà giao cho mt ban ca Trung ương đng, viết theo s hướng dn ca chính ông và cui cùng ông "ch" hiu đính tiu s ca mình trước khi cho xut bn. Còn "mt người như H Ch Tch ca chúng ta, vi đc khiêm tn nhường y ..." (trích sách Nhng mu chuyn ..., tr. 7) thì ... t tay mình viết tiu s ca mình đ t tôn vinh, t đ cao chán chê, ri "lp l đánh ln con đen" đt tên tác gi là Trn Dân Tiên. Qu là mt s ph báng đi vi lương tri con người!

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Nguyễn Minh Cần - KỶ NIỆM 10 NĂM BẢN TUYÊN NGÔN LỊCH SỬ

Thấm thoắt thế mà đã 10 năm rồi, kể từ ngày bản “Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” được 118 chiến sĩ dân chủ trong nước công bố. Lần đầu tiên dưới chế độ khắc nghiệt của đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), các chiến sĩ dân chủ trong nước đã can đảm công khai vạch rõ thực chất của thể chế chính trị ở nước ta là chế độ độc tài toàn trị của ĐCSVN và đã đề ra mục tiêu đấu tranh cho phong trào dân chủ nước ta là nhằm chuyển hóa thể chế nước ta sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh.
Tuyên ngôn 8406 đã xác định: “Trong cuộc Cách mạng tháng 8.1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội…” “…Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đánh tráo. Và dĩ nhiên,Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu… Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là: bạo lực và khủng bố trấn áp!”. Vì ĐCSVN lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, nên ngay sau khi cướp được chính quyền năm 1945, và nhất là sau năm 1954 ở miền Bắc và sau tháng 4 năm 1975 ở toàn quốc, “bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả hai mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.” Tuyên ngôn đã khẳng định: “Dân tộc Việt Nam… bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng: ”Đảng Cộng sản Việt Nam…theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu…”. 

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Nguyễn Minh Cần - NGHĨ VỀ CHUYẾN ĐI MỸ CỦA TỔNG BÍ THƯ


Do những hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc (TQ) trên Thái Bình Dương nên nhiều năm gần đây, Hoa Kỳ (HK) đã chuyển trục sang châu Á-Thái Bình Dương cả về mặt quân sự, kinh tế, cả về mặt chính trị, ngoại giao. Và chính quyền Obama đã cố gắng mở rộng và củng cố quan hệ đối tác với các nước sẵn có quan hệ tốt với HK và cả với các nước tuy có quan hệ chặt chẽ với TQ nhưng lại bị TQ hiếp đáp trên Biển Đông, như VN, HK cũng hết sức lôi kéo nhằm tạo thế liên hoàn các nước để chống lại sự xâm lăng của TQ nhằm khống chế Thái Bình Dương. Chính vì thế tổng thống Barack Obama đã mời TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, một người rất bảo thủ, giáo điều, thường bênh Tàu chống Mỹ, sang Hoa Kỳ bàn việc. Tình thế của VN đang lúc rất khó khăn cả về mặt kinh tế, cả về mặt chính trị lại bị Trung Cộng lấn lướt trên Biển Đông, còn ở biên giới Tây Nam thì TQ lại lôi kéo, xúi giục «nước anh em» cũ của CSVN là Cam Bốt có thái độ không thân thiện với VN. Lời mời của Obama rất hợp thời và hợp ý ban lãnh đạo ĐCSVN, khi họ cảm thấy chỗ dựa TQ đang nguy ngập và đang muốn tìm chỗ dựa mới để cứu chế độ và đảng của họ, nên đã hân hoan nhận lời mời. Bản thân ông Trọng, tất nhiên, cũng rất lấy làm hãnh diện là TBT CSVN đầu tiên vinh dự được bước vào Nhà Trắng. Tổng thống HK đón tiếp trọng thị TBT Trọng ở Phòng Bầu dục, bất chấp sự phản đối của một số dân biểu quốc hội vì hồ sơ tồi tệ về nhân quyền của VN. Tuyên truyền của Hà Nội lại được dịp khoác lác là qua cuộc tiếp đón «lịch sử» đó tại Nhà Trắng, HK đã «công nhận chế độ chính trị của chúng ta». Thực ra, điều này chẳng có gì quan trọng lắm, trước năm 1989, HK cũng đã từng công nhận chế độ chính trị của các nước CS cũ ở Đông Âu và Liên Xô (LX), đã từng chấp nhận vai trò lãnh đạo của các ĐCS trong các chế độ đó. Thậm chí năm 1983, tổng thống Reagan cũng đã từng tiếp thủ lĩnh Taliban ở Afghanistan tại Phòng Bầu dục Nhà Trắng cơ mà.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

Nguyễn Minh Cần - BÀN CHUYỆN RỜI BỎ ĐẢNG


Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại ĐCSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bổng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Nguyễn Minh Cần - Xin Ðừng Quên! Nửa Thế Kỷ Trước

         
LTS. Cách đây 11 năm, bài này đã được tác giả gửi đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số Xuân Quý Mùi 2003. Nhân có “biến cố” triển lãm Cải Cách Ruộng Đất vừa xảy ra ở Hà Nội gây xôn xao dư luận và đã đóng cửa ngay sau vài ngày mở cửa, chúng tôi xin phép tác giả được đăng lại trên Diễn Đàn Thế Kỷ để bạn đọc được biết rõ hơn về sự kiện “long trời lở đất” xảy ra trong chế độ cộng sản miền Bắc cách đây 60 năm. Tác giả đã xem lại, sửa chữa và thêm một đoạn ngắn để đăng trên DĐTK lần này. - DĐTK 

Có thể bạn đọc sẽ trách tôi: trong dịp đầu năm (1) mà nhắc đến chuyện quá buồn. Xin các bạn lượng thứ cho! Nhưng chuyện này không thể không nói đến! Nó cũng khủng khiếp không kém gì chuyện Tết Mậu Thân (1968). Vậy mà chuyện Tết Mậu Thân chúng ta vẫn phải đành lòng nhắc đến trong dịp Tết cơ mà!

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Nguyễn Minh Cần - ĐỌC “CA KHÚC TƯỞNG NIỆM” (REQUIEM) CỦA ANNA AKHMATOVA


Nguyễn Minh Cần

Requiem (Ca khúc Tưởng niệm) là một trong những sáng tác nổi bật nhất của nhà thơ A. Akhmatova. Bà đã phải gánh chịu biết bao khổ nạn trong những năm khủng khiếp dưới chế độ độc tài toàn trị. Requiem là tiếng khóc thảm thiết của người vợ, người mẹ, bị tước đoạt mất chồng, mất con - tiếng khóc không chỉ riêng cho nhà thơ, mà cho tất cả mọi bà mẹ, mọi bà vợ, mọi ông bố, mọi người con, mọi người yêu có người thân đang bị đày đọa oan uổng trong các nhà tù của chế độ bất nhân.

Tranh của họa sĩ N.Altman vẽ A,Akhmatova. Năm 1914

Trong mấy câu “Thay lời nói đầu”, nhà thơ nhắc đến “những năm khủng khiếp thời Ezhov”, tức là cái thời đen tối nhất ở trên đất nước vĩ đại có tên gọi là Liên Xô dưới sự cai trị tàn bạo của Stalin, nơi đã diễn ra nạn diệt chủng của những kẻ cầm quyền đối với nhân dân nước mình.

Thời Akhmatova làm bài trường ca này là vô cùng khắc nghiệt, cho nên lắm khi bà phải nói bóng gió. Chẳng hạn, trong “Thay lời nói đầu” ta thấy có một câu hầu như không ăn nhập gì lắm với đề tài: “Một bận, có ai đó “nhận ra” tôi”, nhưng nếu chú ý đến hai chữ “nhận ra” bà đặt trong ngoặc kép thì có thể hiểu nhà thơ ngầm ý là có kẻ mật thám nào đó theo dõi, nhận biết được bà. Điều này nói lên thân phận khốn khổ của nhà thơ – ngay cả khi đứng xếp hàng cạnh nhà tù để chờ đến giờ thăm nuôi con, bà cũng bị “người ta” theo dõi, kiểm soát! Mặc dù vậy, nhiều khi nỗi đau quá sức chịu đựng, cảm xúc quá mạnh, bà không thể kìm được mình thì bà vẫn bộc lộ tâm tư thẳng thừng, không còn biết sợ là gì nữa.

Trong bốn câu thơ nhập đề, Akhmatova nói rõ là cả cuộc đời mình, bà luôn luôn gắn bó với số phận của nhân dân và đất nước thân yêu ngay cả trong những thời kỳ khủng khiếp nhất:
Không, tôi không đứng dưới bầu trời khác lạ,
Không một cánh chim khác lạ nào che chở,
Hồi đó, tôi đã cùng với nhân dân tôi
Ở nơi mà nhân dân tôi, khốn thay, đã từng ở.”

Chính vì thế bà đã khóc mà không chút e sợ cho số phận của “nước Nga vô tội” và nhân dân Nga dưới chế độ cực quyền:
Còn nước Nga vô tội thì quằn quại
Dưới những chiếc ủng đẫm máu
Và dưới những bánh xe tang đen ngòm.”

,,, “Tôi luôn luôn nhớ đến họ khắp nơi khắp chốn,
Cả trong cơn hoạn nạn mới tôi cũng sẽ không quên họ.
Và nếu người ta bóp miệng khốn khổ của tôi,
Nơi qua đó cả trăm triệu người đang gào thét.”

Mấy chữ “cả trăm triệu người” là nhà thơ ngụ ý toàn dân Nga (vì theo số liệu điều tra dân số Liên Xô năm 1939, toàn Liên Xô có 170 triệu 557093 người, riêng nước Nga có 99 triệu 591520 người).

Trước mắt nhà thơ luôn luôn hiện lại hình ảnh những bà mẹ, bà vợ, anh chị em, người yêu... của các tù nhân đang cùng với bà đứng rục cẳng xếp hàng dài vô tận cạnh nhà tù Krestư ở Leningrad để chờ đến giờ thăm nuôi. Cái khổ nhục này được mô tả trong mấy câu thơ bà tự nói với mình:
Giá mà chỉ cho mày xem, hỡi cô gái tinh nghịch,
Được tất cả bạn bè đều mến thương,
Nữ chúa bày trò vui nhộn ở Hoàng thôn,
Điều gì đã xảy đến trong đời mày.
Là người xếp hàng thứ ba trăm với giỏ nuôi tù
Mày sẽ đứng rục cẳng dưới khu Thánh giá,
Đôi mắt tràn lệ nóng bỏng của mày
Làm băng giá đầu năm tan chảy.”

Trong bài trường ca, tội ác của chế độ độc tài bất nhân đã bị bóc trần không chút ngần ngại trong những câu thơ đầy chua xót:
Trước nỗi đau khổ lớn lao này,
Núi cao gập mình, sông dài ngừng chảy,
Nhưng những then cửa nhà tù vẫn chốt chặt.
Còn sau cánh cửa là những “hang tù”
Và nỗi buồn đứt ruột.”

Hồi đó, chỉ có người chết mỉm cười
Vui mừng được yên ổn.
Leningrad như một vật thừa vô dụng
Đung đưa cạnh những nhà tù.”

Anna Akhmatova thời thanh xuân


Nỗi buồn của những cuộc biệt ly với chồng, con, người thân, với tâm trạng vô vọng rằng sẽ có ngày tái ngộ, với cảm giác bị tách ra, bị cô lập khỏi mọi người, lạnh lẽo, cô đơn, côi cút được phản ánh rõ nét trong những câu thơ vang lên rất thê thảm làm người đọc khó cầm được nước mắt:
Sông Đon yên tĩnh chảy êm đềm,
Ánh trăng vàng nhợt lọt vào nhà,
Đội mũ lệch, trăng lưỡi liềm
Vào thấy một chiếc bóng chơ vơ.
Người đàn bà này ốm đau khốn khổ,
Người đàn bà này quạnh quẽ đơn côi.
Chồng nằm dưới mộ, con ngồi trong tù.
Xin hãy cầu nguyện cho tôi.”

Trong bài Đề tặng” mô tả tâm trạng, tình cảm và cảm xúc của những người xếp hàng mệt mỏi đứng chờ hàng ngày cạnh nhà tù với cảm giác không lối thoát, vô vọng, cho dù chỉ một tý xíu hy vọng cỏn con cũng không dám nghĩ đến. Cả cuộc đời họ chỉ còn phụ thuộc vào... án quyết sắp được tuyên bố đối với người thân yêu của mình! Mà án quyết đó chắc chắn sẽ mãi mãi tách rời những người thân yêu đó khỏi tổ ấm gia đình, khỏi bố mẹ, vợ con, người yêu... Nhà thơ đã đưa ra một hình ảnh tương phản để diễn đạt tâm trạng của mình cũng như của những người đang cùng bà đứng xếp hàng chờ đợi:
Vì ai gió mát hắt hiu?
Vì ai mơn trớn ráng chiều hoàng hôn?
  • Chúng tôi nào có biết!
Khắp nơi chỉ nghe tiếng khóa tù đáng ghét
Rít lên ken két
Và bước chân nặng trịch của lính canh.”

Gió mát hắt hiu” cũng như “ráng chiều mơn trớn” là những niềm hạnh phúc cỏn con, những giây phút tự do mong manh mà thiên nhiên hiến tặng cho con người. Nhưng những thứ hạnh phúc, tự do đó, dĩ nhiên, không thể nào đến được với những người đang bị đày đọa trong tù, mà cũng không đến được với những người đang rục cẳng đứng chờ ở ngoài nhà tù, nóng lòng muốn được vào thăm nuôi người thân hay hồi hộp đợi chờ án quyết. Những người này chỉ nghe thấy những âm thanh khó chịu, “đáng ghét” của “tiếng khóa tù” “rít lên ken két”“những bước chân nặng trịch của lính canh” mà thôi.

Còn khi án quyết đã tuyên bố:
Án quyết vừa tuyên... Tức thì dòng lệ trào lên,
Tôi đã bị tách khỏi mọi người,
Như thể sự sống bị rút ra từ con tim đau đớn,
Như thể bị quật nhào ngã nằm sấp mặt,
Nhưng vẫn đi... lảo đảo... cô đơn...”

Anna Akhmatova, con người mảnh mai, xinh đẹp và tài hoa như thế mà phải chịu đựng biết bao khổ nạn dưới chế độ toàn trị! Đọc những câu thơ của bà, độc giả cảm thấy dường như nhà thơ tự đặt cho mình câu hỏi: Làm sao một đất nước vĩ đại, như nước Nga, mà có thể cho phép một chế độ quỷ quái, mất nhân tính như thế tồn tại được?

Và nỗi khổ đau cho cái riêng của nhà thơ xoắn quyện với nỗi đau cho cái chung của cả dân tộc.
Họ bắt con đi vào lúc rạng sáng,
Mẹ đi theo con như bước theo quan tài.
Trong buồng tối lũ trẻ khóc lóc,
Ngọn nến lụi dần trên bàn thờ Đức Mẹ,
Môi con đặt lên tượng thánh giá lạnh,
Trán con đầm đìa mồ hôi chết chóc...
Trời ơi, mẹ không thể nào quên được!”

Nỗi khổ nạn đã lên đến điểm đỉnh, người đàn bà dường như không còn nhận thấy gì quanh mình được nữa. Cuộc đời bà đã trở thành một cơn ác mộng bất tận, và những câu thơ sau nói lên tâm trạng đó của bà:
Không, không phải tôi, mà là ai khác đang đau khổ.
Tôi không thể chịu được như thế, còn những gì đã xảy ra
Xin hãy đậy kín lại dưới những tấm dạ đen
Và hãy cất đi những chiếc đèn...
Đêm. ”

Người đọc tự hỏi: Có thể nào một con người bình thường gánh chịu nổi những khổ nạn mà số phận đã giáng xuống cho bà? Chỉ một phần nhỏ những khổ nạn đó có khi cũng đủ làm cho người ta suy sụp, điên lên và muốn chết. Nhưng bà vẫn sống... Bà tưởng nhớ lại thời thanh xuân khi bà còn xinh tươi, vui vẻ, sống hồn nhiên, vô tư lự, và bà nói chuyện với chính mình... Nhưng sự ly biệt với cậu con trai độc nhất, những nỗi lo âu cho con mình, những ký ức về chồng, con lâm nạn làm cho bà không chịu được nữa. Bà muốn “giết chết hẳn trí nhớ” để nó không còn giày vò, không còn đè nặng lên trái tim của bà...

Hôm nay mẹ có nhiều việc phải làm:
Mẹ phải giết chết hẳn trí nhớ,
Phải làm sao cho tâm hồn hóa đá,
Và phải học lại cách sống”.

Những khổ đau quá lớn đã tước mất ở bà lòng mong muốn tự nhiên nhất của con người là muốn sống. Trong tình trạng thảm hại hiện hữu của bà thì cuộc sống đối với bà không còn ý nghĩa gì nữa. Bởi thế nhà thơ cầu xin Thần Chết “tới ngay bây giờ”, vì nghĩ rằng cái chết sẽ giải phóng cho bà mọi khổ đau.

Trước sau gì ngươi cũng tới. Sao không tới ngay bây giờ?
Ta đang chờ ngươi đây. Ta đau đớn lắm rồi.
Ta đã tắt đèn và mở toang cửa cho ngươi,
Ngươi thật giản dị và tuyệt vời.”

Nhưng Thần Chết không tới mà “cơn điên dại” lại đang tới gần... Trong thâm tâm, nhà thơ cảm thấy “cơn điên dại” sẽ đoạt lấy tất cả những gì trước đây là quý báu nhất của bà, nhưng trong hoàn cảnh này thì dường như nó sẽ giúp bà quên đi cái thực tại độc ác, mất hết tình người đã ập xuống và đè nặng trên số phận của bà.
Cơn điên dại đã phủ cánh
Lên một nửa tâm hồn tôi,
Vừa chuốc rượu nồng cháy,
Vừa quyến rũ tôi xuống thung lũng đen ngòm.”

Anna Akhmatova (1889-1966)

Nỗi khổ đau vô hạn của con người dưới chế độ mất nhân tính được biểu hiện rõ nét trong những câu thơ cao nhã, tuyệt vời của Akhmatova. Vì thế, có thể nói trường ca Requiem mãi mãi là bản cáo trạng đối với các chế độ dựa trên bạo lực và thú tính trên trần gian đầy tội ác này. Dù vậy, toàn bài trường ca vẫn toát lên tình yêu thương nồng thắm và sự cảm thông chân thành giữa những con người khổ đau cùng chung số phận, mà không hề có chút bóng dáng nào của lòng căm thù và nỗi uất hận.
Và mẹ cầu nguyện chẳng riêng gì cho mẹ,
Mà cho tất cả những ai cùng xếp hàng với mẹ cạnh nhà tù
Cả trong giá buốt mùa đông, cả trong nồng nực mùa hè
Dưới bức tường đỏ rực chói chang.”

Thơ của Akhmatova giản dị nhưng có một sức mạnh lạ thường dường như xoáy sâu vào lòng người đọc làm con tim thắt lại, tâm hồn rung động, và người đọc không thể dửng dưng, vô cảm được. Nỗi đau lớn lao và những khổ nạn ê chề của nhà thơ làm người đọc thấm thía sâu sắc toàn bộ tính bi kịch của của cuộc sống con người dưới chế độ độc tài toàn trị.

Moskva, mùa đông 2011
Nguyễn Minh Cần




Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

ANNA AKHMATOVA - CA KHÚC TƯỞNG NIỆM (REQUIEM) 1935 - 1940


Bản dịch từ tiếng Nga
của Nguyễn Minh Cần

VÀI LỜI CỦA NGƯỜI DỊCH

Một chiều mùa đông giá buốt ở Moskva, tôi đọc lại bài trường ca “Requiem” của nhà thơ Akhmatova. Tôi đã không cầm được nước mắt, nghĩ đến nỗi khổ đau lớn lao của biết bao bà mẹ, bà vợ, ông bố, ông chồng, anh chị em, người yêu, bà con... của các nạn nhân của đủ loại chế độ độc tài trên thế giới này - cả độc tài phát xít, cả độc tài cộng sản, cả độc tài quân phiệt, cả độc tài Hồi giáo, cả độc tài công an mật vụ... - đang rục xác trong các nhà tù. Thế rồi tôi quyết định bắt tay dịch trường ca này để hiến tặng tất cả những ai trong nước Việt Nam yêu quý của tôi đang chịu mọi nỗi thống khổ dưới chế độ toàn trị, với ước mong gợi được.trong tâm tư người đọc một chút rung cảm, một chút suy nghĩ, một chút hiệp thông, một chút ý muốn vượt thắng cái ác, vượt thắng chế độ bất nhân để được sống an bình, vui sướng trong tình thương, tự do và hạnh phúc.

Anna Akhmatova

Xin ghi lại đây vài lời

Về tác giả:
Anna Akhmatova (1889-1966) là bút danh của Anna Gorenko. Bút danh này bà lấy từ họ Akhmata của ông tổ phụ thuộc dòng họ bên mẹ là vị khả-hãn (khan) ở Orda. Bà là nhà thơ Nga nổi tiếng, đồng thời là nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học, dịch giả.

Bà sinh năm 1889 ở Odessa, trong một gia đình quý tộc. Năm 1890, cả gia đình bà chuyển đến Hoàng thôn ở Petersburg và hầu như suốt đời bà gắn bó với thành phố này.

Bà bắt đầu làm thơ khi 11 tuổi. Thơ của bà được in lần đầu tiên vào năm 1911, lúc bà 22 tuổi. Năm 1912, bà xuất bản tập thơ “Chiều tối”, năm 1914 - tập thơ “Tràng hạt” và sau đó tiếp tục cho ra những tập khác. Trong những năm 10 thế kỷ 20, bà theo trường phái acmeism. Đó là trào lưu thơ ca chủ trương từ bỏ tính huyền bí, đề cao tính trong sáng của thơ ca, đối lập với trường phái tượng trưng (symbolism). Những nhà thơ Nga nổi tiếng cổ súy trường phái này là N. Gumiliov, A. Akhmatova, S. Gorodetski, O. Mandelshtam, v.v... Thơ của bà thể hiện lòng trung thành với những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản, sự suy tư về những bi kịch của người dân trong thế kỷ XX.

Số phận của bà rất bi đát. Dù bản thân bà không bị tù đày dưới chế độ cộng sản, nhưng ba người thân yêu nhất đời của bà đã bị đàn áp khốc liệt: người chồng thứ nhất (từ năm 1910 đến năm 1918), Nikolai Gumiliov, đã bị bắt và bị bắn chết năm 1921; người chồng thứ hai (từ năm 1923 đến năm 1953), Nikolai Punin, đã bị bắt ba lần và chết trong tù năm 1953; người con độc nhất Lev Gumiliov, bị tù trên 10 năm, mãi đến năm 1956 mới được thả ra. Những trải nghiệm của người vợ, người mẹ của những “kẻ thù của nhân dân” (từ mà chính quyền cộng sản gán cho những người bị đàn áp) đã phản ánh rõ rệt nhất trong bài trường ca “Requiem” của bà. Bài trường ca này bị cấm ngặt ở Liên Xô. Tuy vậy, năm 1963, có một bản được bí mật đưa đến Phương Tây, và Hiệp hội Nhà văn Lưu vong Nga đã cho xuất bản. Còn ở Liên Xô, mãi đến năm 1987 mới được xuất bản lần đầu tiên dưới thời perestroika.

Mặc dù được công nhận là nhà thơ kinh điển của thi ca Nga từ những năm 1920, nhưng dưới thời Liên Xô, A. Akhmatova đã bị cô lập, bị theo dõi, bị đả kích dữ dội. Bộ tổ chức TƯ ĐCSLX đã ra quyết nghị ngày 14.08.1946 về hai tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad”, trong đó kịch liệt phê phán sáng tác của Anna Akhmatova như sau (dịch theo nguyên bản): “Akhmatova là một đại biểu điển hình của loại thơ trống rỗng, vô tư tưởng, xa lạ với nhân dân ta. Thơ ca của bà ta thấm nhuần tinh thần bi quan và suy đồi, thể hiện khẩu vị của lối thơ xa-lông cũ rích, đông cứng trên những lập trường của đường lối mỹ học tư sản-quý tộc và đồi trụy là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, không muốn đi cùng nhịp bước với nhân dân, gây tác hại cho sự nghiệp giáo dục thanh niên của chúng ta và không thể dung thứ được trong nền văn học xô-viết”. Bà đã bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Liên Xô. Cũng xin giới thiệu thêm với bạn đọc lời mạt sát trắng trợn và thô bỉ đối với bà thốt lên từ miệng của Andrei Zhdanov, ủy viên Bộ chính trị của ĐCSLX, phụ trách về văn học, nghệ thuật, một trong những hung thần khét tiếng dưới thời Stalin: “Hay là nữ tu sĩ, hay là gái đĩ, mà đúng hơn là nữ tu sĩ và gái đĩ, trong con người đó thì sự dâm đãng hòa lẫn với việc cầu kinh. <...> Akhmatova là con người như thế, với cuộc đời tư bé nhỏ, chật hẹp, với những xúc cảm nhỏ nhen và lối khiêu dâm tôn giáo-huyền bí. Thơ ca của Akhmatova hoàn toàn xa nhân dân... ”. Nhiều tác phẩm của bà chẳng những không được công bố khi bà còn sống, mà cả trên 20 năm sau khi bà đã qua đời cũng thế. Sự theo dõi, o ép nặng nề của chính quyền có lúc đã làm cho bà muốn nhân nhượng chút ít bằng cách làm vài bài thơ “đấu tranh cho hòa bình thế giới” để mong giảm bớt sự khắc nghiệt của nhà cầm quyền đối với mình. Nhưng vô hiệu. Từ đó bà cương quyết rút những bài ấy ra khỏi các tập sáng tác của mình.

Dù bị ĐCS đối xử tàn tệ, nhưng bà vẫn được công chúng yêu thơ ca cả ở nước Nga và trên thế giới mến mộ và đánh giá cao. Năm 1962, bà được đề cử Giải Nobel về văn chương. Trước năm 1964, bà thuộc diện “cấm không được xuất ngoại”, nhưng đến năm 1965 bà được cho đi Ý và Anh. Bà đã nhận được giải “Edna-Taormina” ở Ý và bằng tiến sĩ danh dự của Trường đại học Oxford ở Anh.

Anna Akhmatova mất năm 1966, hưởng thọ 76 tuôi.

Ngày nay, nhiều tượng đài và bia lưu niệm của A. Akhmatova đã được dựng lên ở Sankt Petersburg,
Xin nói thêm về những người yêu quý của A. Akhmatova, nạn nhân của chế độ độc tài:

Nikolai Gumiliov (1886-1921), nhà thơ Nga xuất sắc của thời đại ngân kim, người chủ xướng trường phái acmeism trong thi ca, nhà phê bình văn học, dịch giả, nhà du lịch, một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng về châu Phi. Tác giả các tập thơ “Những bông hoa lãng mạn”, “Ngọc châu”... Năm 1910, ông kết hôn với A. Akhmatova. Trong cuộc đại chiến thứ nhất 1914-1918, ông tình nguyện vào quân đội chiến đấu trên chiến trường. Năm 1918, ông ly hôn với A. Akhmatova. Sống dưới chế độ xô-viết, nhưng ông không che giấu quan điểm về tôn giáo và chính trị của mình. Năm 1921, ông bị bắt và 20 ngày sau bị xử bắn, vì bị buộc tội tham gia trong một vụ âm mưu lật đổ chính quyền. Sau này, khi Liên Xô đã sụp đổ, các nhà nghiên cứu mới khám phá rằng cái gọi là “vụ âm mưu” đó là do cơ quan an ninh của chính quyền xô-viết cố tình dựng lên để giết những trí thức bị tình nghi.

Nikolai Punin (1888-1963), sử gia về nghệ thuật, nhà phê bình hội họa, từ năm 1913-1934, làm việc ở Nhà bảo tàng Nga, phó giám đốc Viện Văn học nghệ thuật, giáo sư Trường đại học tổng hợp Leningrad và Học viện Hội họa, Điêu khắc và Kiến trúc, Tác giả nhiều tác phẩm viết về nghệ thuật. Năm 1923 kết hôn với A. Akhmatova. Ông bị bắt lần đầu tiên năm 1921. Những năm 30 lại bị bắt. Nhờ Boris Pasternak đưa đơn thỉnh cầu nên ông được thả ra. Đến năm 1949 lại bị bắt vào tù, đến năm 1953 thì mất trong tù. Sau này, ông được minh oan.

Lev Gumiliov (1912-1992), con trai của Nikolai Gumiliov và Anna Akhmatova, nhà khoa học Nga và xô-viết, tiến sĩ sử học và địa lý, nhà thơ, dịch giả từ tiếng Perse (Ba Tư). Năm 1935, ông bị bắt, sau đó được thả ra. Năm 1938, lại bị bắt, bị kết án 5 năm tù. Năm 1944, sau khi ra tù tình nguyện vào quân đội tham gia chiến đấu chống phát xít, đã đến tận Berlin. Năm 1949, ông lại bị bắt, bị kết án 10 năm tù. Ở tù đến năm 1956, sau đại hội 20 của ĐCSLX, thì được thả ra và minh oan. Ngày nay, ở thành phố Kazan đã dựng tượng đài Lev Gumiliov với dòng chữ: “Tượng người Nga đã bảo vệ cho người Tartar khỏi sự vu khống” và ở nước Kazakhstan đã lấy tên Lev Gumiliov đặt cho Trường đại học tổng hợp ở Astana, thủ đô mới của nước này.

Về trường ca “Requiem”:
Đây là một tập hợp gồm nhiều bài thơ ngắn. Mở đầu bằng bốn câu thơ “dẫn nhập” viết năm 1961, tiếp theo là một đoạn văn xuôi viết năm 1957. Đây là những năm sau đại hội ĐCSLX phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin (1956). Còn sau đó là những bài thơ viết rải rác qua nhiều năm, từ 1935 đến 1940.

Có thể nói, đây là một trong những tác phẩm thi ca đầu tiên đề cập đến nỗi khổ đau vô cùng tận của các nạn nhân trong các trận đàn áp dưới thời Liên Xô. Trong trường ca này – tác giả bộc lộ tâm tư của mình khi thì với người con yêu quý, khi thì với chính mình, khi thì với người cùng cảnh ngộ, khi thì với thần Chết... – tất cả đều thể hiện rõ tấn bi kịch khủng khiếp của nhân dân, nhân dân bị tước đoạt tự do đang khốn khổ trong một “nhà tù vĩ đại” là Liên bang xô-viết, cũng như nhân dân đang rục xác trong những “nhà tù bé nhỏ” rải rác khắp đất nước trong “Quần đảo Ngục tù” gọi là GULAG. Trong trường ca bàng bạc tình yêu thương và mối cảm thông giữa những con người đau khổ mà hoàn toàn vắng bóng lòng căm thù, nỗi uất hận.

Thơ của Akhmatova có vần điệu rất chặt chẽ và tuyệt đẹp. Người dịch cảm thấy bất lực trong việc chuyển đạt những âm điệu đó mà chỉ mong sao truyền đạt chính xác ý tưởng của tác giả mà thôi. Hy vọng rồi đây có những nhà thơ sẽ bổ khuyết cho nhược điểm này của bản dịch.

N.M.C.

ANNA AKHMATOVA
CA KHÚC TƯỞNG NIỆM
(REQUIEM)
1935 - 1940

Không, tôi không đứng dưới bầu trời khác lạ,
Không một cánh chim khác lạ nào che chở,
Hồi đó, tôi đã cùng với nhân dân tôi
Ở nơi mà nhân dân tôi, khốn thay, đã từng ở.
1961

THAY LỜI NÓI ĐẦU
Vào những năm khủng khiếp thời Ezhov (1), trong mười bảy tháng liền, tôi đã phải xếp hàng cạnh nhà tù ở Leningrad (2). Một bận, có ai đó “nhận ra” tôi. Hồi ấy, một bà đứng sau tôi môi tím thâm, dĩ nhiên là bà không hề biết tên tôi, như sực tỉnh khỏi trạng thái sững sờ vốn có với tất cả chúng tôi, bà thì thầm hỏi khẽ bên tai tôi (ở đấy thì mọi người đều nói thì thầm):
  • Chị có thể tả lại chuyện này được không?
Và tôi trả lời:
  • Vâng, tôi có thể.
Lúc đó, hình như có một nụ cười thoáng qua trên cái trước đây đã từng là khuôn mặt của bà ta.
1 tháng 4 năm 1957
Leningrad

ĐỀ TẶNG

Trước nỗi đau khổ lớn lao này,
Núi cao gập mình, sông dài ngừng chảy,
Nhưng những then cửa nhà tù vẫn chốt chặt.
Còn sau cánh cửa là những “hang tù”
Và nỗi buồn đứt ruột.
Vì ai gió mát hắt hiu?
Vì ai mơn trớn ráng chiều hoàng hôn?
  • Chúng tôi nào có biết!
Khắp nơi chỉ nghe tiếng khóa tù đáng ghét
Rít lên ken két
Và bước chân nặng trịch của lính canh.

Dậy sớm như để kịp dự thánh lễ ban mai,
Lần bước qua đô thành hoang vắng,
Ở đấy, chúng tôi gặp nhau như những người chết vô hồn,
Mặt trời xuống thấp hơn, sông Neva mù sương hơn,
Mà hy vọng vẫn còn ca hát ở đằng xa.

Án quyết vừa tuyên... Tức thì dòng lệ trào lên,
Tôi đã bị tách khỏi mọi người,
Như thể sự sống bị rút ra từ con tim đau đớn,
Như thể bị quật nhào ngã nằm sấp mặt,
Nhưng vẫn đi... lảo đảo... cô đơn...

Đâu rồi những người bạn nữ tình cờ
Trong hai năm ác nghiệt của tôi?
Họ cảm thấy gì trong bão tuyết miền Siberia,
Ảo giác gì bàng bạc trong vầng trăng?
Tôi xin gửi tới họ lời chào vĩnh biệt.
Tháng 3 năm 1940

LỜI MỞ ĐẦU

Hồi đó, chỉ có người chết mỉm cười
Vui mừng được yên ổn.
Leningrad như một vật thừa vô dụng
Đung đưa cạnh những nhà tù.
Khi đoàn tù lê bước, đau khổ đến điên người,
Bác lái tàu rúc lên một hồi còi
Như hát bài ca vĩnh biệt ngắn ngủi.
Những ngôi sao chết chóc chiếu trên đầu chúng tôi,
Còn nước Nga vô tội thì quằn quại
Dưới những chiếc ủng đẫm máu
Và dưới những bánh xe tang đen ngòm.

I
Họ bắt con đi vào lúc rạng sáng,
Mẹ đi theo con như bước theo quan tài.
Trong buồng tối lũ trẻ khóc lóc,
Ngọn nến lụi dần trên bàn thờ Đức Mẹ,
Môi con đặt lên tượng thánh giá lạnh,
Trán con đầm đìa mồ hôi chết chóc...
Trời ơi, mẹ không thể nào quên được!
Mẹ sẽ làm như các bà vợ lính trung đoàn chiến binh (3)
Đến vật vã gào khóc dưới tháp điện Cẩm-linh (4).
(Tháng 11) 1935


II
Sông Đon (5) yên tĩnh chảy êm đềm,
Ánh trăng vàng nhợt lọt vào nhà,

Đội mũ lệch, trăng lưỡi liềm
Vào thấy một chiếc bóng chơ vơ.

Người đàn bà này ốm đau khốn khổ,
Người đàn bà này quạnh quẽ đơn côi.

Chồng nằm dưới mộ, con ngồi trong tù.
Xin hãy cầu nguyện cho tôi.
1938

III
Không, không phải tôi, mà là ai khác đang đau khổ.
Tôi không thể chịu được như thế, còn những gì đã xảy ra
Xin hãy đậy kín lại dưới những tấm dạ đen
Và hãy cất đi những chiếc đèn...
Đêm.
1939
IV
Giá mà chỉ cho mày xem, hỡi cô gái tinh nghịch,
Được tất cả bạn bè đều mến thương,
Nữ chúa bày trò vui nhộn ở Hoàng thôn (6),
Điều gì đã xảy đến trong đời mày.
Là người xếp hàng thứ ba trăm với giỏ nuôi tù
Mày sẽ đứng rục cẳng dưới khu Thánh giá (7),
Đôi mắt tràn lệ nóng bỏng của mày
Làm băng giá đầu năm tan chảy.
Ở đấy, cây dương cạnh nhà tù đứng run rẩy
Và lặng tờ không một tiếng vang. Còn trong kia
Biết bao người vô tội đang chết dần chết mòn...
1938

V
Suốt mười bảy tháng trời mẹ kêu vang,
Cố gọi con trở về nhà,
Mẹ phải phủ phục dưới chân tên đao phủ,
Vì con của mẹ cũng là nỗi kinh hoàng của mẹ.
Mọi sự mãi mãi rối tung
Và mẹ không còn phân biệt nổi
Giờ đây ai là con thú, ai là con người,
Và phải chờ bao lâu nữa mới tới giờ hành quyết.
Chỉ còn những bông hoa đẹp tuyệt (8)
Và tiếng bình hương âm vang, và những dấu chân
Đi đâu đó vào nơi không đến đâu cả.
Và bỗng một ngôi sao to tướng
Nhìn thẳng vào mắt mẹ
Và đe dọa cái chết đang tới gần.
1939

VI
Những tuần lễ nhẹ nhàng bay qua nhanh
Chẳng hiểu điều gì đã xảy ra với mẹ.
Con yêu ơi, trong tù con cảm thấy ra sao
Những đêm trắng (9) đã nhìn con thế nào,
Và chúng lại đang nhìn con
Bằng con mắt diều hâu nóng bỏng,
Chúng đang nói về khổ nạn cao cả của con
Và về cái chết.
1939

VII
ÁN QUYẾT

Lời nói nặng nề như tảng đá
Rơi xuống lồng ngực thoi thóp của mẹ.
Chẳng sao đâu, mẹ chịu đựng được mà
Vì mẹ đã chuẩn bị sẵn sàng rồi.

Hôm nay mẹ có nhiều việc phải làm:
Mẹ phải giết chết hẳn trí nhớ,
Phải làm sao cho tâm hồn hóa đá,
Và phải học lại cách sống.
Nếu không thì... Tiếng lá xào xạc mùa hè
Reo lên như lễ hội ngoài cửa sổ.
Từ lâu mẹ đã linh cảm một ngày sáng sủa
Và ngôi nhà trống không.
1939. Mùa hè

VIII
NÓI VỚI THẦN CHẾT

Trước sau gì ngươi cũng tới. Sao không tới ngay bây giờ?
Ta đang chờ ngươi đây. Ta đau đớn lắm rồi.
Ta đã tắt đèn và mở toang cửa cho ngươi,
Ngươi thật giản dị và tuyệt vời.
Hãy hiện ra với dáng vẻ nào tùy ngươi,
Hãy ùa vào như viên đạn hơi độc
Hay xông vào như tên cướp sành nghề với cây gậy sắt,
Hay đầu độc ta bằng bùa mê thương hàn,
Hay bằng câu chuyện vớ vẩn do ngươi bịa đặt
Và bằng tất cả những gì quá ư quen thuộc, -
Để ta thấy được bên trên mũ xanh lam
Và mặt tái mét vì sợ của người quản gia.
Bây giờ thì đối với ta đằng nào cũng thế thôi.
Sông Enisey (10) сuồn cuộn, sao Bắc cực lấp lánh.
Còn ánh xanh của đôi mắt muôn vàn yêu dấu
Nỗi kinh hoàng cuối cùng đang khép lại.
19 tháng 8 năm 1939
Nhà trên phố Vòi nước (11)

IX
Cơn điên dại đã phủ cánh
Lên một nửa tâm hồn tôi,
Vừa chuốc rượu nồng cháy,
Vừa quyến rũ tôi xuống thung lũng đen ngòm.
Và tôi hiểu là tôi phải nhường thắng lợi cho nó,
Khi nghe theo cơn mê sảng của mình
Mà dường như của người nào khác lạ.
Còn nó – dù tôi có cầu khẩn van xin gì đi nữa –
Nó chẳng cho phép mang theo tôi:
Cả đôi mắt hãi hùng của cậu con trai
Với nỗi đau đã hóa đá,
Cả cái ngày khi bão táp ập đến,
Cả cái giờ thăm nuôi nó trong tù,
Cả cái mát lạnh mến yêu của đôi bàn tay nó,
Cả cái bóng râm rung động của rừng gia,
Cả cái tiếng thì thầm khe khẽ xa xa
Là những lời cuối cùng an ủi.
4 tháng 5 năm 1940
Nhà trên phố Vòi nước

X
HÀNH HÌNH
Mẹ ơi, đừng khóc cho con,
nằm trong mồ mà vẫn thấy”.
1
Giờ phút trọng đại các thiên thần cùng hát bài tụng ca,
Các tầng trời nóng chảy ra trong lửa hừng hực.
Ngài nói với Đức Chúa Cha: “Sao Cha lại bỏ con?”
Còn với Đức Mẹ: “Mẹ ơi, đừng khóc cho con...”
1938

2
Nàng Magdalina vật vã khóc than,
Người môn đệ yêu quý (12) đã hóa đá,
Và không một ai dám nhìn về phía đó,
Nơi Đức Mẹ đang đứng lặng thinh.
1940
Nhà trên phố Vòi nước
ĐOẠN KẾT
1
Mẹ nhận ra những bộ mặt teo tóp,
Như từ dưới mi mắt ló ra nỗi kinh hoàng,
Khổ đau ê chề hằn sâu trên má hóp,
Như dòng chữ dạng nêm (13) trên trang giấy cứng,
Như những búp tóc đen nhánh và xám tro
Bỗng trở thành bạc phơ,

Nụ cười héo hon trên đôi môi ngoan ngoãn,
Nỗi sợ hãi run run trong cái cười khẽ khô khan.
Và mẹ cầu nguyện chẳng riêng gì cho mẹ,
Mà cho tất cả những ai cùng xếp hàng với mẹ cạnh nhà tù
Cả trong giá buốt mùa đông, cả trong nồng nực mùa hè
Dưới bức tường đỏ rực chói chang.

2
Giờ tưởng niệm lại tới gần lần nữa.
Tôi thấy, tôi nghe, tôi cảm giác các bạn:
Cả người liệt phải vất vả dìu đến cửa sổ,
Cả người không giẫm bước trên đất quê cha,
Cả cô gái lắc lắc cái đầu xinh đẹp
Và nói: “Tôi đến đây như trở về nhà”.
Tôi muốn gọi tất cả mọi người bằng tên của họ.
Nhưng danh sách đã bị tước mất rồi
Thì lấy đâu ra mà biết được.
Tôi đã dệt cho họ chiếc khăn phủ rộng
Bằng những lời đáng thương mà tôi nghe lỏm ở họ.
Tôi luôn luôn nhớ đến họ khắp nơi khắp chốn,
Cả trong cơn hoạn nạn mới tôi cũng sẽ không quên họ.
Và nếu người ta bóp miệng khốn khổ của tôi,
Nơi qua đó cả trăm triệu người đang gào thét.
Tôi mong sao họ sẽ tưởng nhớ đến tôi
Trong đêm trước ngày giỗ của tôi.
Và nếu có lúc nào đó trên đất nước này
Người ta muốn dựng tượng đài cho tôi,
Tôi sẽ đồng ý lễ hội mừng đó
Chỉ với điều kiện: không đặt nó
Trên bờ biển nơi tôi đã chào đời (14)
(Mối dây cuối cùng với biển đã đứt rồi),
Không đặt nó trong vườn Hoàng thôn bên gốc cây thân thiết,
Nơi bóng thời trẻ khôn nguôi tìm kiếm tôi,
Mà đặt ở đây, nơi tôi đã rục cẳng đứng ba trăm giờ
Và là nơi người ta không chịu mở cửa cho tôi.
Bởi vì trong cái chết sung sướng, tôi sợ
Quên mất chiếc xe tang đen chạy rrầm rầm,
Quên mất cánh cửa đáng ghét đóng sập ầm
Và bà lão rú lên như con thú bị thương.
Hãy để từ đôi mi bất động của tôi bằng đồng
Tuyết tan chảy xuống như lệ nhỏ ròng,
Hãy để tiếng bồ câu nhà tù gù gù xa xa,
Và những chiếc tàu lững lờ chạy trên dòng Neva.
Khoảng 10 tháng 3 năm 1940
Nhà trên phố Vòi nước
-oOo-

Chú thích:
  1. Nikolai Ezhov (1895-1940), bí thư và là ủy viên dự khuyết Bộ chính trị TƯ ĐCSLX, bộ trưởng nội vụ (1936-1938), tổng ủy viên an ninh (1937-1941) là một trong những đao phủ khét tiếng trong cuộc đại khủng bố (1937-1938) dưới thời Stalin. Năm1941, bị bắt và bị xử tử vì bị buộc tội âm mưu làm đảo chính.
  2. Nhà tù đó có tên là Krestư, Xem thêm chú thích 7.
  3. Chiến binh (streltsư) là những lính bộ binh của nước Nga từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18. Dưới thời Nga hoàng Piotr đệ Nhất, đã xảy ra cuộc nổi loạn năm 1898 của bốn nghìn chiến binh ở Moskva vì cuộc sống khổ cực nên binh lính nổi dậy. Cuối cùng cuộc nổi loạn bị dẹp tan, gần 2000 người bị hành quyết. Hình ảnh những người vợ của các chiến binh đến vật vã gào khóc dưới tháp điện Cẩm linh là ý nói về sự kiện đó.
  4. Điện Cẩm linh, tức là điện Kremli hay Kremlin, là cung điện của Nga hoàng ở Moskva. Từ năm 1917 đến nay là dinh thự của những nguyên thủ nhà nước xô-viết và Liên bang Nga. Cung điện được bao bọc bởi một bức tường cao, dày, cạnh các cổng có những tháp cao.
  5. Don là sông lớn ở phần châu Âu của nước Nga.
  6. Hoàng thôn, dịch từ chữ Tsarskoe Selo (Làng Vua) là một vùng ở cách St. Petersburg chừng 25 km, trong đó có cung điện của Nga hoàng, được thành lập từ năm 1710. Tên Tsarskoe Selo được dùng từ năm 1780 đến năm 1917, còn từ 1918 đến năm 1937, vì chính quyền mới muốn xóa bỏ mọi dấu vết của chế độ cũ, nên gọi là Detskoe Selo (Làng trẻ con), còn từ 1938 đến nay gọi là Pushkin. Thời còn ấu thơ và trẻ trung, Akhmatova sống ở vùng này.
  7. Khu Thánh giá (Krestư) là một tổ hợp các dãy nhà tù được xây dựng ở Petersburg từ năm 1868. Trong khuôn viên nhà tù có đại giáo đường Thánh Alexandre Nevski. Các dãy nhà tù xếp theo hình thánh giá nên gọi là Krestư, tức là Thánh giá.
  8. Chữ này ở hai bản in khác nhau, một bản in là “pưlnưi” (phủ bụi, đầy bụi), bản khác là “pưshnưi” (lộng lẫy, tuyệt đẹp). Chúng tôi thấy chữ “pưshnưi” hợp với văn cảnh hơn, nên dịch là đẹp tuyệt.
  9. Những đêm trắng là hiện tượng thiên nhiên hàng năm vào tháng sáu ở vùng gần Bắc cực, ban đêm trời vẫn sáng như ban ngày.
  10. Phố Vòi nước là một phố cổ ở St. Petersburg. A. Akhmatova sống nhiều năm ở phố đó. Hiện nay ở đấy có Bảo tàng A.Akhmatova.
  11. Sông Enisey ở Siberia, một trong nhng con sông ln trên thế giới, đổ ra Bắc Băng Dương.
  12. Ý nói tông đồ Gioan, được Chúa Giesu yêu quý nhất.
  13. Hệ thống văn tự cổ nhất (khoảng 3500 năm trước công nguyên) phát hiện được ở vùng Lưỡng hà. Những “chữ viết” này có dạng “nêm” được ghi trên những mảnh đất sét khi còn mềm rồi để chúng cứng lại.
  14. A.Akhmatova sinh ở Odessa, thành phố trên bờ Hắc Hải.