Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Mạnh Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Mạnh Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

Trịnh Thanh Thủy: Nguyễn Mạnh Trinh, người "hết lòng" với Văn Học Nghệ Thuật

 Tháng Tám chưa qua, hạ chưa hết. Thu còn xa lắc, lá chưa kịp chín vàng, mà ông đã rụng rơi. Nguyễn Mạnh Trinh, nhà thơ, nhà biên khảo và truyền thông đã lên đường, đã thong thả rong chơi về miền phương ngoại (1949-2021).

D:\PhamPhuMinh\Download\pic 2.jpg
Tác phẩm Tạp Ghi Văn Nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh

Xuất thân là một quân nhân thuộc binh chủng Không Quân, văn thơ của ông phản ảnh nhiều suy tư, thao thức về cuộc chiến. Ông yêu thi ca, làm thơ và viết rất nhiều bài nhận định trong những lãnh vực văn học nghệ thuật khác nhau. Ông cộng tác và viết thường xuyên cho các báo nhất là ở Úc, Canada và Hoa Kỳ.

Tôi mãi nhớ nụ cười hiền của ông, một Nguyễn Mạnh Trinh nho nhã, điềm đạm. Tôi không quên những lần trò chuyện cùng ông, tuy ít ỏi nhưng đầy ấn tượng và sâu sắc. Tôi cũng sẽ vô cùng tiếc nuối cho sự mất mát của một tài hoa, một ngòi viết hết lòng với văn học nghệ thuật tại hải ngoại. Đôi lần tôi được gặp gỡ ông tại nhà chị Bích Hạnh, Thùy Hạnh. Tuy nhiên, có lẽ lần tôi nói chuyện với ông lâu nhất là lần gặp ở nhà chị Bích Hạnh nhân dịp nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc qua Nam Cali để ra mắt sách (2014). Lần ấy có cả nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc với Nguyễn Mạnh Trinh bàn bạc cùng tôi về sự ra đi của diễn đàn Talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài. Chúng tôi tiếc nuối cho sự đóng cửa của một diễn đàn văn học có nhiều bàn luận rất sôi nổi về các đề tài chính trị, văn học và xã hội. Ông có nhắc đến những bài viết gây nhiều tranh cãi của tôi là "Cái chết của một ngôn ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn cũ" và một bài viết khác "Cái hĩm có răng" mà tôi viết để phản biện bài viết "Con cặc" của Nguyễn Hưng Quốc (2003). Chúng tôi vui vẻ bàn luận đến cái thời tôi còn hung hăng con bọ xít, cái thời tôi chưa biết đằm thắm là gì, say mê tranh cãi và coi trời bằng vung.


Nguyễn Mạnh Trinh: Thành Tôn, Thắp Tình Từ Ngưỡng Cửa.

Năm 2019, ở Quận Cam, tôi đọc một bìa sách của một thời xa xưa:

“ Thắp Tình
Thơ Thành Tôn
Ngưỡng Cửa xuất bản
Tác giả trình bày bìa, sắp chữ đạp máy in và đóng
Xong ngày 06. 08. 69”

Có một chút thắc mắc, tôi vỡ lẽ. Ngưỡng Cửa là một nhà xuất bản ở một tỉnh lẻ miền Trung và do một nhà thơ làm chủ, và cũng là làm người in ấn, thực hiện từ A đến Z công việc của người thợ in. Bây giờ, sau một nửa thế kỷ, ở hải ngoại, Thành Tôn lại cặm cụi làm công việc in lại, tái chế những cuốn sách quý đã bị hư hao hoặc tuyệt bản vì thời thế vì chủ trương phần thư khanh nho焚書坑儒của những người Cộng sản. Nhìn ông ngồi nâng niu từng trang sách cũ, với bàn tay của một nghệ nhân, hoàn thành những tác phẩm nghệ thuật có khi lại đẹp hơn sắc sảo hơn nguyên bản, tôi như thấy được một chân dung tận hiến cho sách vở. Văn học Việt Nam đã có rất nhiều nhân vật làm công việc xuất bản nhưng với tâm tình của những người tận hiến cho sách vở cho văn chương. Chúng ta phải cảm ơn những người đã nuôi dưỡng văn học cận đại và hiện đại Việt Nam như ông Khai Trí, như thầy Từ Mẫn, như ông An Tiêm. . . Họ làm công việc xuất bản với sự đam mê hơn là lợi nhuận. Một cuốn sách hay đẹp được in ra là mục đích tối hậu là góp phần vào gia tài văn hóa của dân tộc hơn là mục đích thương mại. Họ đã vượt đi trên những khó khăn, khởi đầu với muôn vàn trở ngại và dù ở hải ngoại tình thế xuất bản đã khác và hầu như khởi nghiệp với hai bàn tay trắng, họ đã cố gắng để có được những cuốn sách đáp ứng được một thời kỳ văn học đặc biệt. Thầy Từ Mẫn, sau mấy năm liền lao động làm cua ở Alaska để dành tiền làm nhà xuất bản Văn Nghệ và đã in nhiều cuốn sách giá trị cho văn học Việt Nam ở hải ngoại. Trước năm 1975 ở trong nước, nhà xuất bản Lá Bối do thầy Từ Mẫn cũng đã in nhiều bộ sách giá trị biểu tượng cho một nền văn học đặc sắc. Ông Khai Trí sau năm 1975 khi sản nghiệp ở Sài gòn bị bạo quyền tịch thu nhưng khi sang định cư ở Hoa Kỳ cũng mang theo hai ngàn đầu sách để khởi đầu cho một nghiệp dĩ xuất bản không thể bỏ. Thất vọng, ông trở lại Việt Nam và cố gắng trong tuyệt vọng in mấy cuốn sách cuối đời rồi từ trần. Ông An Tiêm trước 1975 cũng in được nhiều cuốn sách giá trị đặc biệt là in sách của thi sĩ Bùi Giáng không ngưng nghỉ, sau 1975 ở hải ngoại cũng có nhiều cống hiến cho độc giả nhiều công trình đáng kể. Đó chỉ là đại cương một vài người còn ở đại thể văn học Miền Nam và hải ngoại còn có nhiều tấm lòng yêu thương chữ nghĩa trân trọng với văn chương để chúng ta có được một nền văn học đánh dấu được một thời đại lịch sử đặc biệt của một dân tộc dù đã phải trải qua nhiều thăng trầm của thời thế và lịch sử.

Phỏng Vấn Nhà Văn Ngô Thế Vinh Của Nguyễn Mạnh Trinh

(Cuộc phỏng vấn được thực hiện tại Little Saigon tháng 1 năm 1996)

Nguyễn Mạnh Trinh, sinh năm 1949 tại Hà Nội, lớn lên ở miền Nam. Phục vụ tại Sư đoàn 6 Không quân Pleiku. Sau biến cố 1975, tị nạn tại Hoa Kỳ và tham gia vào sinh hoạt văn học nghệ thuật. Ngoài viết văn và làm thơ, ông thường viết những nhận định văn học và phỏng vấn các tác giả. Nguyễn Mạnh Trinh cùng với Nhã Lan thực hiện chương trình “Tản Mạn Văn Học” trên đài Little Saigon mỗi sáng thứ bảy, được đông đảo người Việt theo dõi. Tác phẩm: Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (Người Việt, 1985), Tập truyện 23 Người Viết Sau 1975 (cùng Trịnh Y Thư, Văn Nghệ, 1989); Tạp Ghi Văn Nghệ (Người Việt 2007)


*

Phần I

NGUYỄN MẠNH TRINH [NMT]: Xin anh cho biết tiểu sử của mình?

NGÔ THẾ VINH [NTV]: Tôi sinh năm 1941 tại Thanh Hóa, không phải quê nhưng cha tôi dạy học ở đó. Tốt nghiệp y khoa Sài gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên Tình Thương trường Y khoa Sài gòn từ 63 tới khi báo bị đình bản. Nguyên y sĩ trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y Khoa Phục Hồi tại Letterman, San Francisco. Trở về Việt nam, làm việc tại trường Quân Y. Sau 75, tù cải tạo 3 năm. Ra trại, về Sài Gòn, một thời gian sau trở lại làm việc tại trường Vật lý Trị Liệu và Trung tâm Phục Hồi Sài Gòn. Tới Mỹ 8 năm sau, cải tạo thêm 5 năm, chỉ có khác ở lần này là tính cách tự nguyện để trở lại ngành Y : thời gian đầu làm volunteer đẩy cáng ở bệnh viện để có thêm credit, làm một số công việc ngoài giờ với minimum wages, trước khi trở lại làm bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh viện Đại học SUNY Downstate, Brooklyn New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa American Board of Internal Medicine và hiện làm việc tại một Bệnh viện miền nam California...

NMT: Anh bước chân vào văn nghiệp như thế nào, có kỷ niệm nào đáng nhớ?

NTV: Cha tôi dạy học, môn văn chương. Tôi sớm được dịp đọc những cuốn sách trong tủ sách của cha tôi. Cha tôi mất sớm sau di cư 54 một năm khi trở lại Huế lần thứ hai và dạy học ở trường Khải Định. Vẫn còn mẹ và anh, nhưng tôi ra đời sớm. Vào ở Đại học xá Minh Mạng khi vừa xong trung học. Cả thế giới mới như mở ra với rất nhiều va chạm giữa mộng và thực, Mây Bão là tiểu thuyết đầu tay, hoàn tất năm tôi 21 tuổi trong bối cảnh ấy, có mang nhiều dự phóng nhưng không ngờ cũng lại tiên tri cho một cuộc hành trình với rất nhiều gian truân nhưng không tới.

Phỏng Vấn Nhà Văn Ngô Thế Vinh Của Nguyễn Mạnh Trinh (Kỳ 2)

(Cuộc phỏng vấn được thực hiện tại Little Saigon tháng 1 năm 1996)

NMT: Sự xụp đổ của chính quyền năm 75 tại nam Việt Nam đã có ảnh hưởng nào trong đời sống thực và đời sống văn chương của anh?

NTV: Từ những cuối năm 60, tôi đã không có ảo tưởng nào về một dứt điểm bằng sự thắng trận của miền Nam. Không phải vì một đối phương quá mạnh mà là sự suy yếu do quá trình tự hủy của xã hội miền Nam. Ngay từ trang đầu tiên của cuốn Vòng Đai Xanh tôi đã có ngay một nhận định về cuộc chiến tranh Việt Nam lúc đó, rằng “khi người Mỹ đã bước qua giai đoạn cố vấn thì ai cũng hiểu rằng đây là một cuộc chiến tranh của họ, một cuộc chiến được nuôi dưỡng và giải quyết theo quan điểm quyền lợi của nước Mỹ.” Tuy nhiên tôi không thể không bàng hoàng về tấm thảm kịch xụp đổ mau chóng của cả miền Nam khi vẫn còn một triệu quân tại ngũ với vững tay súng.

Tôi đã chọn ở lại, để rồi chứng kiến những ngày cuối cùng của những người lính. Thảm kịch không phải trận chiến cuối cùng đã bị thua, nhưng chính là cái nhục và nỗi thất vọng ê chề của những người lính về sự hèn nhát của cấp chỉ huy và giới lãnh đạo của họ. Cũng may mà cuộc chiến ấy đã chấm dứt sớm hơn; bởi nếu kéo dài thêm, chết chóc và tàn phá thêm thì cái kết thúc cũng không thể khác hơn được với phẩm chất của giới lãnh đạo như vậy.

Chia xẻ nỗi khổ với người lính trong chiến trận, chứng kiến nỗi nhục của họ sau đó, giữa một đám người thắng trận nhếch nhác và chẳng hơn gì... Từ đó tôi nhìn tấm thảm kịch trên cả hai miền đất nước. Sống sót qua cơn địa chấn ấy, bảo làm sao mà không có dấu hằn trên cuộc sống thực và cả văn chương?

NMT: Anh là một người lính viết văn. Có người nhận xét rằng anh không viết với đời sống quân ngũ đơn thuần mà chính ở đó là một cái cớ để anh có thể đề cập đến những vấn đề khác, phức tạp hơn có tính cách chiến lược hơn... Theo anh nhận xét ấy có chính xác không?

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

Tưởng Nhớ Nguyễn Mạnh Trinh

Được tin buồn

Nhà văn NGUYỄN MẠNH TRINH

Sau một thời gian dài bệnh nặng, đã qua đời vào ngày 24 tháng 8 năm 2021 tại tư gia, thọ 73 tuổi.

DĐTK xin chân thành chia buồn cùng chị Nguyễn MạnhTrinh và tang quyến.

Nguyện cầu Hương Linh Nguyễn Mạnh Trinh sớm thảnh thơi nơi Cõi Vĩnh Hằng.

*





Như một kỷ niệm đối với cây bút phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh, dưới đây chúng tôi xin trích đoạn bài Nguyễn Mạnh Trinh phỏng vấn Trần Mộng Tú về vấn đề sáng tác văn học, đã đăng trên báo Người Việt vào khoảng năm 1995.

NGUYỄN MẠNH TRINH PHỎNG VẤN TRẦN MỘNG TÚ


Nguyễn Mạnh Trinh: Hình như trước năm 1975 chị đã làm thơ viết văn. Chị có kỷ niệm nào về những ngày đầu tiên ấy không ?Lúc ấy, hình như chị có nhiều thân thiết với nhà văn Mai Thảo, chị có thể kể cho độc giả một vài kỷ niệm.

Trần Mộng Tú: Tôi có thân với anh Mai Thảo từ Việt Nam, không phải trên lãnh vực viết, mà là lãnh vực đọc. Tôi làm việc cho Hãng Thông Tấn The Associated Press, văn phòng ở trên lầu 4 Thương Xá Eden, Nguyễn Huệ. Thỉnh thoảng lại gặp anh Mai Thảo đi xích lô đến mua tạp chí Pháp ở mấy cái sạp báo ngay trước vỉa hè, lối vào của cầu thang máy. Tôi cũng mua báo Văn ở mấy cái sạp đó. Hai anh em làm quen với nhau. Lúc đó vào khoảng 67-69. Sau này, tôi quen và bạn với Du Tử Lê (vì hàng ngày qua bên Chiến Tranh Tâm Lý, lấy bản tin buổi sáng cho AP ). Tôi với DTL, hay một người ngồi xích lô, một người đi Honda cùng đem rượu đến tòa báo cho Mai Thảo (tôi làm ở AP, nên nhờ mấy ông nhà báo Mỹ mua rượu rất dễ). Có khi anh Mai Thảo cho cả tôi và DTL đi ăn trưa.


Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

Nguyễn Mạnh Trinh: Những hồi ức mẹ

LTS. Trong âm hưởng của Ngày Lễ Mẹ, Diễn Đàn Thế Kỷ thân gửi đến bạn đọc “Những hồi ức mẹ” của Nguyễn Mạnh Trinh, nhân ngày giỗ của thân mẫu nhà văn. Hồi ức về Mẹ có thể nói là loại tình cảm êm dịu nhất, thương mến đằm thắm nhất của con người trên hành tinh này, mà mọi người có thể đều có mối đồng cảm.
*

Có những bài thơ, đọc lại là cả một sự hồi tưởng, đối với riêng tôi. Hơn thế nữa, nó còn là một phần đời sống.

Một trong những bài thơ vừa kể, tôi viết năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chiếc trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi xẫm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà, …

Góc hiên đôi mắt cuộn tròn
dong tay nắng cũng hoàng hôn bóng trời
mẹ ngồi chải tóc sợi rời
đậu vai áo một nụ cười thêu hoa
mây rơi rụng xuống mái nhà
màu lá biếc cũng nhạt nhòa cành vui
cổng gió cửa đóng ngùi ngùi
nghe sóng cuộn giữa ghềnh trôi óc thầm
mẹ ngồi bóng xế trăm năm
tay lần chuỗi tiếng kinh trầm trầm bay
khói sương ở đỉnh núi tây
nên xa xăm lắm tháng ngày mênh mông
đi về xuôi ngược bến sông
chiều như đang rụng xuống lòng phố quên
Mẹ ngồi như tạc nỗi niềm
Tóc phơ phất gọi tịnh yên trong hồn
Kinh đen con nước xuống ròng
Trơ gốc cọc để trống không mặt lầy
Đi về tôi vẫn loay hoay
Chợt nghe lạnh ngọn heo may cuối trời
Mẹ ngồi một thuở ấu thời.

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

Nguyễn Mạnh Trinh: Nguyễn Đình Thi - Người nghệ sĩ hay kẻ cơ hội?

Nguyễn Đình Thi, thi sĩ của những câu thơ mà một thời đã được coi như là những bước đầu khai phá cho thơ tự do, thơ không vần. Những bài thơ như thế lại bị chỉ đạo của Tố Hữu với những phê bình của phản ứng gay gắt nghiệt ngã khiến thi sĩ phải chiều lòng sửa lại để thơ có thêm vần điệu. Chu Văn Sơn, một nhà phê bình văn học khoa bảng đã viết trong bài tưởng niệm một năm sau khi Nguyễn Đình Thi lìa đời Nguyễn Đình Thi Trên Sóng Thời Gian:

"... Trong phần thành công nhất, thơ Nguyễn Đình Thi đã tạo ra một điệu mới như tiếng sóng reo trong lặng lẽ, tấu lên một thứ nhạc mới - trong lặng mà rung ngân: "Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới? Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em", "Nắng soi ngõ vắng - Thềm cũ lối ra đi - lá rụng đầy", "Ôi những vạt ruộng vàng - Chiều nay rung rinh lúa ngả - Dải áo chàm bay múa - tiếng hát ai lênh đênh", tiếc rằng, trước sự phản ứng gay gắt, Nguyễn Đình Thi cũng đã phải hòa giải một cách tự nguyện là lại gia tăng vần cho thơ. Nhiều khi "thơ có vần" đã đồng hóa "thơ không vần". Giá ông cứ dám là mình, cứ dám đi cho thật hết cái lẽ phải của thơ theo quan niệm của mình thì râ't có thể ông đã có vai trò như Xuân Diệu với phong trào thơ mới. Hòa giải đôi khi là thỏa hiệp là nhượng bộ, làm mất một cơ hội tạo diện mạo cho mình, tạo diện mạo hoàn toàn mới cho thơ. Vừa muốn là mình, vừa không dám là mình, gẫm bi kịch ấy đâu chỉ diễn ra trong mỗi việc cách tân thơ, cũng đâu chỉ với riêng ông. Nó khó thế, nó cũng buồn thế!"

Phải, không phải chỉ riêng với Nguyễn Đình Thi mà hầu như phần đông văn nghệ sĩ sống trong nền văn học gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa" đều phải nhắm mắt làm những việc bất đắc dĩ. Chính người trong cuộc cũng cảm thấy thấy buồn chán nhưng không có cách nào hơn. Nếu hành xử như một nghệ sĩ, thì đâu có "quan văn nghệ" Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký hội văn nghệ từ năm 1958 tới ba nhiệm kỳ liền, và là người được Bùi Bình Thi xưng tụng là một trong "Tứ Đại lão gia" của nền văn học trong nước.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Nguyễn Mạnh Trinh - Phỏng Vấn Nhà Văn Thảo Trường (trích)

Nhà văn Thảo Trường (hình: VOA)
(1) Xin anh cho một vài dòng về tiểu sử của mình?

TT: Tôi tên là Trần Duy Hinh, bút danh Thảo Trường chỉ là một chọn đặt tình cờ từ khi đăng những sáng tác trên tạp chí Sáng Tạo và dùng cho đến bây giờ. Vài bút danh nữa ký ở những bài báo trước 1975 hoặc những thơ văn thời trẻ đến nay tôi không còn dùng nữa. Tôi chỉ học hết trung học và chưa biết đại học văn khoa là gì. Tôi chỉ thích 4 năm học hán văn với giáo sư Trần Văn Hào, cụ thích tôi, tôi biết rõ vì chính tôi cũng rất kính yêu cụ, mỗi lần cụ cho 00/20 điểm trên bài luận văn của tôi thì cụ đều nhìn tôi cười, và nói: “ Deux zéros! Không lẽ cho điểm âm!” Năm nay tôi vừa lục tuần vì cũng thích coi tử vi nên tôi thường nhớ tuổi mình là Bính Tý. Quê quán tôi ở tỉnh Nam Định miền Bắc bên bờ sông Vị Hoàng. Tôi là người thứ chín trong một gia đình đông con, mười người. Thân phụ tôi mất sớm. Tôi là đứa con bất hiếu, năm 1954 tôi vào Nam bỏ lại mẹ tôi ở quê nhà với người chị gái lo phụng dưỡng ông nội tôi và coi sóc mồ mả tổ tiên, nhưng sau đó mẹ tôi bị đấu tố, bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, bị đuổi ra ở ngoài gò đất giữa cánh đồng nước mênh mông. Vào Nam tôi gia nhập quân đội, theo học Khóa 6 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Và chính thức viết văn.

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

A CONVERSATION BETWEEN NGUYỄN MẠNH TRINH AND THE AUTHOR NGÔ THẾ VINH ON THE BOOK CỬU LONG CẠN DÒNG BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG

Tác giả Ngô Thế Vinh
Nguyễn Mạnh Trinh (NMT)_ Văn Nghệ publishing house recently released one of your books. Can you fill us in on the details?

Ngô Thế Vinh (NTV) Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng/ The Nine Dragons Drained Dry-The East Sea in Turmoil is the heading of a chapter in the book. It is also chosen to serve as the book’s title. As indicated by the two parts in the title, the book deals with two main issues. It has 648 pages of text and photographs and can be considered a faction – that is to say a work blending facts with fiction.

NGUYỄN MẠNH TRINH nói chuyện với nhà văn NGÔ THẾ VINH về tác phẩm CỬU LONG CẠN DÒNG - BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG


Nguyễn Mạnh Trinh (NMT)_ Nhà Xuất Bản Văn Nghệ vừa cho phát hành một tác phẩm mới của anh, xin anh cho biết một vài chi tiết về cuốn sách?

Ngô Thế Vinh (NTV)_ Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng là tiêu đề của một chương sách được chọn làm tên của tác phẩm cũng là 2 chủ đề chính của cuốn sách. Sách dày 648 trang với bản đồ và hình ảnh và là một dữ kiện tiểu thuyết hay tiểu thuyết tư liệu.

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Nguyễn Mạnh Trinh - Đọc Chỉ là Đồ Chơi



Nguyễn Mạnh Trinh

 Chỉ Là Đồ Chơi gồm những bài viết ngắn, mà tác giả gọi là “tạp bút”, đề cập tới nhiều vấn đề văn học.

Trịnh Y Thư tự hỏi có gì mới trong tình yêu không và ông cho rằng “những bài thơ tình đông tây kim cổ chẳng qua chỉ là biến tấu từ mẫu đề “Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ. Quân tử hảo cầu” do một thi nhân nào đó sống cách nay hai ba nghìn năm ở lưu vực sông Hoàng Hà trong giây phút ngẩn ngơ nhìn người con gái đẹp giặt lụa ven sông, lòng bỗng tràn ngập nỗi cảm xúc yêu thương, viết xuống. Và ông cho rằng không có cách nào làm mới tình yêu bằng văn chương. Bởi thế, nhà văn Issac Bahevis Singer khuyên người viết đừng “sáng tạo những điều mới lạ trong quan hệ nam nữ” và nhà soạn nhạc Leonard Bernstein cũng “không làm mới tình yêu trong những tác phẩm của mình”.


Thực ra, suy nghĩ như vậy cũng chỉ là ở một khía cạnh. Bởi vì, cuộc sống mông mênh, không có sự kiện nào giống sự kiện nào mà ở trong cái khác biệt cũng có cái đồng dạng. Và chẳng có một điều gì toàn bích để lập lại trong những tác phẩm thi ca. Theo tôi, có khi đi tìm cái mới trong cái đã cũ mà vẫn có tính sáng tạo. Có những điều đã hiện hữu một cách đương nhiên nhưng chưa ai đề cập đến, và bước đi trên con đường chưa ai đặt chân đến phải chăng là một hành động sáng tạo?

Lời khuyên “viết gì cũng được - bạo liệt càng tốt - miễn sao có nghệ thuật và tương đối mới mẻ một chút” gợi ý một cách viết. “Có nghệ thuật” và “tương đối mới mẻ” là hai điều kiện cần nhưng có lẽ chưa đủ có phải? Viết bạo liệt? là không bị câu thúc bởi một giới hạn nào, là khai thác cái phần đen tối sâu thẳm của con người, là kiểu văn chương của ông tổ “sa đích” Marquis De Sade? Có phải đó là những cứu cánh cho văn chương trong sự khai phá? Có sự khác biệt nào, biên giới nào giữa truyện khiêu dâm tầm thường và truyện dục tính nghệ thuật? Vô luân một cách nghệ thuật như Lolita của Vladimir Nabokov có phải là đỉnh cao của nghệ thuật viết văn?

Những tiền đề mà tác giả Chỉ Là Đồ Chơi nêu ra để đến một kết luận. Dù như thế, khát vọng làm mới vẫn là mục đích muôn đời của nghệ thuật, nhất là trong thi ca. Thế kỷ của thi ca là thế kỷ của cách tân không ngừng từ trường phái này qua khuynh hướng nọ. Thơ tượng trưng cuối thế kỷ 19, vị lai, siêu thực đầu thế kỷ 20 đến hậu hiện đại thế kỷ 21, con đường đi của thi ca là một chuỗi đường đi tìm kiếm cái mới của ngôn ngữ. Trịnh Y Thư viết: “Mỗi bài thơ là một sự cách tân, mỗi thi sĩ là một người làm mới sự vật mà chúng ta mãi mãi chịu ơn. Có những điều chỉ ngôn ngữ thi ca mới nói được, chỉ thi ca mới có cái” thần giúp chúng ta thấu thị vào tận đáy sâu của bản ngã. Người làm thơ là người nắm trong tay quyền năng ‘soi sáng’ sự vật, quyền năng cho sự vật một đời sống mới, quyền năng ‘đi vào linh hồn sự vật’ và không ai có thể tước đoạt quyền năng từ tay hắn.”…

Trịnh Y Thư cũng làm thơ và cũng rất ưu ái với thể thơ lục bát. Nhưng ông lại cảm thấy rằng thể thơ này càng ngày càng bị lấn áp bởi các thể thơ khác như thơ tự do chẳng hạn: “Từ lâu thể thơ lục bát đã không còn sức quyến rũ đối với các nhà thơ Việt Nam nữa nhất là các nhà thơ trẻ. Ngày nay họ chuộng thể tự do hơn cho thích hợp với phong cách và tinh thần Hậu Hiện Đại. Có nhà thơ còn thẳng thừng tuyên bố ông thà “làm thơ tự do dở chứ không thèm làm thơ lục bát hay.”
Thực tình, thời nào cũng có những người có ý tưởng cực đoan như vậy và không phải chỉ thơ lục bát bị hắt hủi như thế. Thơ tiền chiến cũng đã bị chê bai, bị đả kích nhưng vẫn giữ được vị trí trong hồn những người yêu thơ. Thơ lục bát, trong suốt hành trình thi ca của hai mươi năm văn học miền nam và ở hải ngoại cũng có những thay đổi và phát triển từ phạm vi ngôn ngữ và vần điệu. Cũng có thể có những bài thơ không hay vì bị trong khuôn sáo hay có những khoảng trống trong cấu trúc mà Trịnh Y Thư gọi là “bắc cầu” như ông đã dẫn giải, nhưng cũng có những bài lục bát tuyệt vời từ tiền chiến đến thời của Cung Trầm Tưởng, của Viên Linh, của Du Tử Lê, của Phạm Thiên Thư…Tôi nghĩ yếu tố hay vẫn là một cốt tủy cho sự tồn tại vượt qua đãi lọc của thời gian. Mà yếu tố hay nếu phân tích ra thì rất nhiều dữ kiện cấu thành. Nhất là cái tạng sở thích sẽ làm thay đổi nhận định.

Trịnh Y Thư là một dịch giả và ông đã viết về đề tài dịch thuật như một sở trường của mình. “Trên các diễn đàn văn học đã có khá nhiều những nhận định sâu sắc và giá trị về dịch thuật văn học. Tựu chung có hai khuynh hướng hoặc trung thành với văn bản của nguyên tác hoặc đặt trọng tâm vào yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch. Theo tôi ở thời đại của chúng ta quan niệm đứng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai xu hướng.”

Có khi nào nguyên tác được tái tạo lại để thành một tác phẩm khác không trong dịch thuật? Câu hỏi ấy nhiều người thắc mắc trong đó có cả cá nhân tôi. Những bản dịch nổi tiếng là hay, là tràn đầy nghệ thuật nhưng so với nguyên tác thì có nhiều khi không được tôn trọng mấy. Tại sao? Có phải là dịch giả đã nắm được cáí hồn hay cái thần của nguyên tác để diễn đạt thành một văn phong riêng của mình. Dịch giả chân chính phải là người yêu thích và say mê với chữ nghĩa của nguyên bản và nắm bắt được cái hồn của nguyên tác. Dĩ nhiên, những dịch giả kiểu dịch từng đoạn rồi nhiều người ráp chung với nhau thành một tác phẩm gọi là dịch thuật như những cuốn sách được in dẫy đầy ở trong nước thì chắc chắn chẳng phải là một công việc chuyển ngữ đứng đắn.”

Trịnh Y Thư không chọn dịch thuật mà chính dịch thuật chọn lựa ông. “Thực ra chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên tôi đặt chân vào thế giới dịch thuật. Chẳng qua tôi chỉ muốn tìm hiểu tư tưởng và nghệ thuật làm văn của các bậc thầy văn chương thế giới và cách tìm hiểu tận tường thấu đáo, nhất là dịch. Cuốn tiểu thuyết Đời Nhẹ Khôn Kham của nhà văn Pháp gốc Tiệp Khắc Milan Kundura tôi bắt đầu dịch từ năm 1986, trích đoạn đăng rải rác trên các tạp chí văn học thời đó như Văn Học, Nhân Văn, Hợp Lưu nhưng phải đợi đến năm 2002 tôi mới xuất bản thành dạng sách in bởi tôi không ngớt tìm ra những câu, những đoạn tôi muốn sửa đổi. Đây là cuốn tiểu thuyết hay nhất của Kundura nó có cấu trúc phức điệu, liên lạc với nhau như một khúc fuga của J.S. Bach và luôn luôn đầy ắp tư duy một đặc tính trong tiểu thuyết của ông. Và quan trọng không kém, tương tự như những người Việt sống xa quê hương chúng ta, Kundura cũng lìa bỏ quê quán Bohêmia của ông năm 1975 và sống lưu vong ở Pháp quốc từ đó đến giờ.”
Chỉ Là Đồ Chơi cũng đề cập tới văn chương của nữ giới, từ bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đến Căn Phòng Riêng của Virginia Woolf, từ giải văn chương Nobel năm 2009 Herta Mueller đến hai mươi năm văn học miền Nam rồi ở hải ngoại. Bên trên tôi dùng từ “hiện tượng” để diễn tả sự xuất hiện của người viết phái nữ trong văn học Việt Nam. Nói như thế là sai. Nó không phải là hiện tượng, nếu hiểu hiện tượng là nhận thức chủ quan, xuất hiện đột ngột trong khoảnh khắc rồi tan biến. Kỳ thực nó là con đường kế thừa. Kế thừa một truyền thống dân tộc luôn luôn quý trọng các tác phẩm văn hoc giá trị. Kế thừa một truyền thông không kỳ thị nam nữ. Kế thừa một Hồ Xuân Hương một mình một cõi đường bệ và ngạo nghễ, suốt chiều dài lịch sử trong khu vườn văn nghệ Việt Nam.
Trịnh Y Thư cũng đã về lại quê cha đất tổ sau một thời gian dài xa cách. Ông viết bài ký “Một kẻ lạ trên phố phường Hà Nội” với tâm trạng của một người phân vân giữa “ở hay về”. Lưu vong, có lẽ là tâm trạng chung của những người cầm bút. Ở đất nước định cư, dĩ nhiên cái tâm trạng lưu vong ấy chẳng thể nào mất đi mà mỗi ngày càng đeo nặng hơn nhất là với những người cầm bút. Còn trở về, thì tránh sao khỏi tâm trạng sống bên lề một xã hội mà từ lâu mình đã sống nhưng bây giờ biến đổi đến không còn dấu tích. Cảnh cũng đổi thay và người cũng thay đổi.

Đọc xong Chỉ Là Đồ Chơi, tôi có cảm giác vừa nói chuyện vừa tranh luận với tác giả về những vấn đề ông đề cập trong sách. Có khi đồng ý có khi không. Nhưng, quả thật tôi đã có cảm giác như tầm mắt nhìn của mình hình như rộng hơn và xa hơn. Không phải là vì những trang sách nhắc đến tác giả này hay tác phẩm nọ. Và cũng không phải những lý luận văn học có từ sách vở hoăc kiến thức mà đôi khi chỉ là lý thuyết và giữa tri hành là cả một đoạn đường dài. Tôi đọc với tâm cảm của người Việt Nam, quen thuộc với những vấn đề của văn học Việt Nam dù nhiều khi đề cập đến không gian thời gian dài rộng hơn của văn chương thế giới. [NMT]

Chỉ Là Đồ Chơi, Tạp bút của Trịnh Y Thư, Hợp Lưu xuất bản. Sách dày 208 tr. Đề giá $10.00. Không ghi địa chỉ liên lạc. 


Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Nguyễn Mạnh Trinh - Khi thi ca thành tôn giáo: Phạm Công Thiện

Nguyễn  Mạnh Trinh

Phạm Công thiện, ông là ai? Có nhiều người đã hỏi như thế. Triết gia? Thiền sư? Thi sĩ? Văn sĩ ? Hay là một người lang thang rong chơi trong cuộc đời? Hay là nghệ sĩ với ước vọng thành một tài năng lớn của thế giới? Hoặc là một người đang trong cơn mộng du suốt cả đời?


Vào những năm thập niên 60 ở Sài gòn, Phạm Công Thiện xuất hiện như một hiện tượng. Sách vở của ông đã được đón đọc nồng nhiệt và trong giới sinh viên học sinh đọc sách của ông là một thời thượng. Họ thích nói về “Ý thức mới trong văn nghệ & triết học”. Họ tán thưởng “Ngày sinh của rắn”. Có người thú nhận thích đọc ông dù chẳng hiểu bao nhiêu. Và trong cái gọi là “họ” ấy có tôi. Một cậu sinh viên mê sách vở và tràn ứ mơ mộng lãng mạn.

Lúc đó, tôi đã nghĩ Phạm Công Thiện là một người viết phê bình như viết tùy bút và viết tùy bút như viết bằng thơ. Tóm lại, với tôi, ông là một thi sĩ dù ông làm thơ không nhiều lắm.

Đọc lại những bài viết về những nhà thơ của ông, tôi thấy điều đó tới bây giờ vẫn còn chính xác. Ông viết về thơ với cả tâm hồn mình, và với những thi sĩ, ông cũng đồng cảm trong cái chia sẻ không cùng của những sợi đàn rung cộng hưởng vì chung tần số.

Tôi đọc thử một đoạn viết về Cung Trầm Tưởng để dẫn tới thơ tình yêu của Appollinaire. Những trang sách cũ đã ố vàng của “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”.

“... Tôi ngạc nhiên. Tim tôi máy động. Cung Trầm Tưởng là ai mà làm thơ tài hoa vậy. Tôi mơ màng. Tôi hình dung những chiếc lá rơi. Tôi nhìn thấy dòng sông Seine lững lờ trôi chảy. Kia là tả ngạn River Gauche… Kia là đường phố Aumont - Thieville và L’ Avenue des Ternes… Kia là những quán cà phê và những kẻ tứ chiếng giang hồ... Kia là cầu Mirabeau… Kia là mùa thu mưa rơi… kia là Pont Neuf. Ôi. Paris. Souvenir. Souvenir. Remember to remember…

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire. Ừ, chỉ có Appollinaire mới có những dòng thơ bất tuyệt để làm sống lại Paris. Nói đến Paris là nói đến Kỷ Niệm, là nói đến Nghệ sĩ, là nói đến tình yêu và tuổi trẻ. Paris là thành phố của những kẻ tứ chiếng giang hồ, của những clochards, của những femmes de joie, của những Henry Miller, những Hemingway, những Gertrude Stein, những Picasso, những Appollinaire…
Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín dỏ trái sầu.

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire:
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Cũng vào mùa thu, Cung Trầm Tưởng ngóng chờ người yêu ”kiên khổ phút giờ” và “chín đỏ trái sầu” ngóng chờ mong đợi như Appollinaire đã ngóng chờ mong đợi giữa hương thời gian và mùi lá cỏ
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Trời đã tối hẳn rồi. Tôi bước vào giường nằm ngủ, mắt nhắm lại, những dòng thơ của Hàn, của Cung, của Appollinaire chan hòa thướt tha đưa tôi vào giấc ngủ triền miên...

Viết về thơ, theo như Phạm Công Thiện không phải là phê bình xếp loại mà phải là ca tụng khen ngợi thơ. Ông khẳng định ”Nói đến Thơ không khác gì nói đến Thượng Đế. Phê bình Thơ là làm việc phạm thánh là blasphème.

Những thi sĩ không phải là loài người họ là những Thiên Thần, những thánh hoặc những quỉ ma. Nếu ta không chấp nhận họ được thì ta phải im lặng; còn nếu chấp nhận họ thì ta phải ca tụng cho hết lời. Ta không được quyền có thái độ của học giả hoặc giáo sư hoặc nhà phê bình. Phải giết hết những nhà phê bình để cho Keats sống, để cho Chatterton đừng chết lúc mới 18 tuổi xanh.

Anh không thể cảm thơ của người ta thì anh hãy im lặng; còn nếu cảm được thì anh hãy thiết tha ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những nhà phê bình thơ mà chỉ nên có những kẻ ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người; không có ai làm thầy ai cả. Phê bình văn nghệ ư? Buồn lắm…

Thi sĩ ca tụng thi sĩ? Đúng quá rồi. Và trong cái bí nhiệm như của một tôn giáo, thi ca đã làm cho chúng ta luôn luôn mơ mộng và suy tư.

Như khi nhìn những con sông cạn cợt của quận Cam…

Không hiểu sao mỗi lần lái xe đi ngang qua những con sông cạn ở thành phố Westminster hay Santa Ana tôi lại thấy bồi hồi. Có một liên tưởng nào từ lòng sông tráng xi măng ở giữa chơ vơ một dòng nước chảy nhỏ nhoi cạn cợt. Cái cảm giác của thiên nhiên bị khuất phục ấy của một dòng nước mùa nắng nhắc tôi tới nguồn nước ào ào sục sôi sau những cơn mưa. Một thi sĩ đã viết :
“Ừ, ta bây giờ như sông cạn
Nước vũng làm sao thành biển khơi
Chí lớn dưng không thành chuyện vãn
Mỉm cười còn mất chuyện muôn đời…”

Có hay không, cái tượng hình của Dịch Kinh, hà trung vô thủy? Sông mà không có nước, có phải là sông không? Hay chỉ là gợi ý tới những đi mà không đến. Một câu thơ của Seamus Heaney, thi sĩ giải Nobel văn chương năm 1995 trong thi tập The Haw Lantern, chỉ có hai câu :
“The riverbed, dried up, half full of leaves.
Us, listening to a river in the trees.
(Lòng sông, cạn khô, một nửa phủ đầy những chiếc lá
Cho chúng ta, đang lắng nghe một dòng sông chảy trong cây)

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã viết như sau về hình ảnh sông cạn rất thơ mộng này mà chúng ta nhiều khi ít quan tâm khi ngang qua trong nhịp đời hối hả mỗi ngày :
… Tiếng nói của thơ là dòng nước tuôn chảy bất tận, dù lòng sông có cạn khô chăng nữa thì hồn sông vẫn chảy mãi trên cao… Sông đang chảy trên cây và trong cây lá, và sự lắng nghe ở đây đã nhập lưu (sơ ư văn trung / nhập lưu vong sở), không phải chúng ta lắng nghe dòng sông mà chính dòng sông đã chảy vào trong thi nhân, lòng sông khô cạn ở dưới đã nhập vào con sông chảy trên cây; lòng sông khô cạn nửa đầy những chiếc lá thả hồn rào rạt với sông lá trên cao (Hồ Dzếnh: ”có một nghìn cây rũ rượi buồn / Một nghìn sông rét vạn hoàng hôn. Vũ hoàng Chương “Đáy sông bừng dựng Lầu Thơ? Giấc mơ Hồ Điệp chẳng mơ cũng thành”… Tại sao phải làm thơ? Tại sao phải lắng nghe một lần như chưa từng biết nghe trọn đời? Tại sao phải nhìn thấy được một lần duy nhất như chưa từng biết thấy bao giờ? Thi nhân đã một lần nhìn thấy; còn chúng ta thì hãy lắng nghe một dòng sông chảy bất tận trong rặng cây rào rạt chiều hôm nay…

Phạm công Thiện khi viết về kỷ niệm với nhà văn Võ Hồng, trong tập thơ Ngày Sinh Của Rắn có hai câu thơ, tả cảnh mà tả tình, đẹp một cách đơn giản như phong vị của những câu Hai-Ku:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông”

Và, hình như từ hai câu thơ này, Võ Hồng đã viết truyện ngắn ”Hoa khế lưng đồi” như một cách thế đáp tạ người tri kỷ.

Trong một lá thư gửi cho tác giả “Hoài Cố Nhân”, thiền sư thi sĩ họ Phạm viết:
...”Anh V.H. ạ, anh có cần gì phải thuyết giảng philo? Tất cả những trang văn anh, những trang văn rất từ tốn khiêm nhượng kia đều tiềm tàng những tư tưởng triết học rất sống. Nó cao hơn philo nữa, bởi nó là sagesse của quả tim.

Và một Triệu trang giấy Triết Học cũng không đáng giá bằng một tiếng đập của con tim. Anh có nghe rõ chưa? Tôi muốn hét to lên như vậy.

Anh có nghe tim con người đập trong những trang “Xuất hành năm mới”, trong “Trận đòn hòa giải”? “Xuất hành năm mới” còn cảm động muôn vạn lần hơn những chuyện mà người ta cho rằng buồn nhất! Những đứa nhỏ Hằng, Hào, và Thủy trong “Xuất hành năm mới” và “Trận đòn hòa giải” là những hình ảnh đau thương nhất trên đời, là những hình ảnh tượng trưng cho tất cả những đứa trẻ ở trần gian này…”.

Phạm Công Thiện tâm sự như thế, dù trong ngôn ngữ của ông có một chút gì hơi phấn khích nhưng cũng khá thành thật.

Phạm Công Thiện là một khuôn dáng văn chương rất có ảnh hưởng với những lớp sinh viên học sinh ở miền Nam của thập niên 70, 80. Thời gian ấy, những cuốn sách như “Ý Thức Mới trong Văn Nghệ và Triết Học”, “Hố Thẳm của Tư Tưởng“, “Ngày Sanh của Rắn “,… là những cuốn sách cầm tay của giới trẻ. Từ tác phẩm của ông, mở ra nhiều những cánh cửa. Trước hết, ông là một người sáng tạo nhiều suy tư về cái Mới, về những ngã đường có thể khá lạ lùng đến khi kỳ dị nhưng hấp dẫn. Văn học sẽ phải có những thay đổi, nhất là trong hoàn cảnh một đất nước chiến tranh như Việt nam. Ngay cả khi làm thơ, thi sĩ như người của hành tinh lạ lạc đến, với ngôn từ khá lạ lùng như đoạn VI của tập “Ngày Sanh của Rắn”
“tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm Paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
Mặt trời có thai!
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt “

Nếu bảo giải thích từng câu từng chữ thì có lẽ chính cả tác giả cũng lúng túng. Thơ là những hình ảnh rải rác, thoạt tưởng không liên quan với nhau nhưng trong trình tự cảm nhận lại có một ý nghĩa nào len vào bất chợt những liên tưởng. Có người cho rằng những từ ngữ như thủ dâm thượng đế, giao cấu mặt trời, mặt trời có thai... tạo ra cảm giác tức thì với hình tượng có hơi dung tục ấy. Đó là một cảm nhận. Nhưng, ngay ở thời điểm bây giờ, đọc lại câu thơ, chúng ta vẫn có thể bắt gặp được nét khai phá một cách rõ ràng. Thơ là một cái gì, khác thường lắm, có lúc rất gần cận cuộc sống mà có lúc lại xa nghìn trùng…

Tôi nhớ có lần nhà thơ Phạm Công Thiện nói chuyện với tôi về kinh nghiệm đọc thơ của ông. Lúc ấy, đêm đã khuya và ông có ngôn ngữ của một Lưu Linh đang trong cơn đồng thiếp. Ông đọc thơ Pháp, thơ Anh, thơ La tinh, thơ Việt Nam tiền chiến và hiện đại. Đọc xong rồi bình, hình như văn chương đã lôi ông vào một cơn mộng.

Nói về kinh nghiệm để có thể tiếp cận với thơ, ông đọc một bài thơ thật nhiều lần và sau mỗi lần đọc như thế đều tìm ra những cảm nhận khác nhau. Cảm nhận ấy bắt nguồn từ giây phút rất thiêng liêng để con người bắt gặp được những sáng ngời lộng lẫy. Sự kiện ấy James Joyce đã gọi là “a sudden spiritual manifestation” (biểu hiện tâm linh bất ngờ) hay “epiphany” (sự linh hiện). Tương tự, như Xuân Diệu : “phất phơ hồn của bông hường / trong hơi phiêu bạc còn vương máu hồng / nghe chừng gió thoáng qua song... “ đó, chính là hồn của thơ, của những giây phút linh hiện mà chỉ có những người tài tử cảm nhận được.

Ở Phạm công Thiện, cái chất thơ đã thành nét đặc thù tinh tế cho văn chương ông. Viết khảo luận, ông mang cái kiến thức rộng lớn tích tụ từ sách vở cùng với hồn thơ để thành những bước đi lãng mạn vượt qua những khô khan câu thúc. Là một triết gia, cái nhận thức để thành những trang giấy cũng có chút thi ca bồng bềnh vào để thành một triết gia thi sĩ. Cái chất lãng tử trong văn chương là một nét thấy rõ. Phạm Công Thiện viết :
… tất cả đời sống văn xuôi tẻ nhạt, những công thức, những danh vọng, những khuôn mòn lối cũ, những địa vị xã hội, những mẫu mực khuôn xếp đã thụt lùi ra đằng sau, chỉ còn lại nước chảy của dòng sông và mây chiều của đại dương: mây ở trên cao trôi dưới dòng nước rong rêu của khe biển nhỏ. Thi nhân từ bỏ tất cả lại đằng sau lưng và bước tới trước băng qua cây cầu gỗ mong manh…”

Viết về thơ Seamus Heaney, nhưng trong dòng chữ có cảm khái riêng của một người mà thi ca đã thành máu xương da thịt cho đời sống. Viết những cuốn sách triết học giữa hồn thơ lai láng, cũng giống như viết những trang tùy bút mà chữ nghĩa đã thành những trân trọng nâng niu nhất. Cầm cây bút trong trạng thái tuy phong trần từng trải nhưng vẫn còn sót nét ngây thơ của một người tin tưởng vào những điều nghĩ rằng cần phải tìm kiếm được bằng suy tưởng. Với đời thường, ông sống như lạc lõng bất kể. Nhưng với văn chương, ông là người tinh tế và có can đảm rủ bỏ tất cả để đi lại những bước khởi đầu.

Nhà thơ Nguyên Sa đã có bài thơ vẽ lại chân dung của một nhà thơ tiêu biểu cho một phong cách sống đặc biệt của một người cũng đặc biệt trong một thời kỳ văn học mà sự khao khát những phương trời mới những vóc dáng mới đã thành động lực mạnh mẽ cho sáng tạo. Bài thơ “Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện:
“Người vào tịnh thất sống ba năm
cất tiếng không lời để nói năng
buổi sáng thinh không chiều tới chậm
tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm
Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người từ trên núi ta từ biển
Từ giấc mơ nào đã tới đây
Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời như phía trước bỗng mông lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong mà không cũng xong
Sáng dậy ta nhìn tục lụy ta
Những đi không tới đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt nhưng tâm thức
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?
Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu…”

Nhưng không phải tất cả thơ ông chỉ chuyên chở ý tưởng. Mà, còn chuyên chở cảm giác nữa. Thơ để mang tới những giây phút linh hiện, để người đọc thơ và làm thơ một giây phút tình cờ nào đó gặp nhau trong giao thoa cảm xúc. Có một bài thơ trong tập thơ mỏng về số trang nhưng dầy về ý tưởng, Ngày sanh của rắn, VIII, có những hình ảnh nối liền nhau để thành một chuỗi sinh động liên tưởng luôn biến dịch. Gió, như một cuộc hành trình đi qua đồi tây, đồi đông, đi qua những chặng thời gian tưởng ngắn như một sát na nhưng dài vô tận. Thế mà, trong cái lãng đãng tâm thức ấy, ngôn ngữ nhẹ nhàng như một hồi tưởng để níu kéo cảm nhận của người đọc trong một cảnh giới mơ hồ :
“Mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ bồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông”

Với suy nghĩ của tôi, Phạm công Thiện là một thi sĩ nghệ sĩ. Klhông phải là cung cách một phù thủy chữ nghĩa hoa tay bùa chú vào hư vô để thành một văn phong khúc mắc khó hiểu. Mà, là một người ôm tất cả những rộng khắp vào lòng và đi vòng quanh để tìm chân lý. Cái tâm thức vốn tịch lặng của một người thâm cứu Phật Giáo pha trộn vào ý thức muốn nổi loạn phá bỏ cung cách cũ khiến văn chương trở thành một hành trình của một người luôn xông tới đằng trước và không dừng lại. Trong đời sống, phong cách du tử, làm những điều mình thích khiến ông thành một người luôn thấy đêm ngày là hoang vu...

Trần Tuấn Kiệt trong một bài viết trong “Tác Giả Tác Phẩm“, xuất bản cách nay gần bốn chục năm, cũng nói về chân dung người thi sĩ rất mực nghệ sĩ này:
“Sinh ngày 1-6-1941 tại Mỹ Tho. Trong gia đình, Thiện là người anh cả “Người anh không giúp ích gì được cho gia đình, nhìn thấy mọi người cha mẹ em út đang lâm vào cảnh sa sút túng bấn. Mà mình thì lận đận lao đao chẳng giúp ích được gì.”

Đó cũng là một lý do, khiến có lúc Thiện bỏ đi tu ngoài Nha Trang. Thiện đã có lần cùng chúng tôi đem bán từng va ly “Anh Ngữ Tinh Âm” của anh soạn để lấy tiền ăn bánh mì trong những lúc đói rách nhất. Mặc dầu lúc đó báo Phổ thông và Dân ta của Nguyễn Vỹ bán chạy, lương của Thiện trên mười lăm ngàn (bằng khoảng 150 ngàn đồng bây giờ mỗi tháng) tiền lãnh ra, Thiện đem uống rượu say rồi gọi tất cả đám trẻ nít đánh giày, các bọn bán báo nghèo đói lại phân phát tất cả cho chúng trong một khắc đã hết sạch. Qua ngày hôm sau, kiếm lại vài chục uống cà phê là sự thường…”

Có người cho ông là thần đồng, soạn “Anh Ngữ Tinh Âm“ lúc 16 tuổi. Có người cho ông là một triết gia, tư tưởng gia luôn luôn vật vã với suy tư. Có người cho ông có hiểu biết rộng, thông hiểu nhiều ngoại ngữ. Có người cho ông là một người đọc sách chuyên cần với óc thông minh và nhớ lâu không quên. Cũng như có người gọi ông là lãng tử, là một người thích gì làm nấy và luôn miệt mài trên con đường độc hành tìm kiếm những điều bất khả trong cuộc sống…

Với tôi, ông là một thi sĩ và là người viết về thi ca mà tôi yêu thích. Dù, ông “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” để tìm “ý thức mới trong văn nghệ và triết học“ qua “hố thẳm của tư tưởng“ để “im lặng hố thẳm“ và, cứ thế hành trình…

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Tản Mạn Văn Học với nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc

Nguyễn Mạnh Trinh

Lời Giới Thiệu
Dưới đây là bài "tản mạn văn học" dựa trên cuộc phỏng vấn/nói chuyện—được thực hiện vào ngày 14.1.2011 của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh và phóng viên Nhã Lan của Hồn Việt Direct TVLittle Saigon Radio, tiểu bang California, Hoa Kỳ—với nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc. Bài phỏng vấn này đã được phổ biến làm hai kỳ trên cả hai phương tiện truyền thông nói trên vào những ngày cuối năm Canh Dần 2010 và đầu năm Tân Mão 2011. Chủ đề của nó nhắm vào một số khía cạnh và sự phát triển của dòng văn học Việt ngoài nước nói chung và, đặc biệt, một số hiện tượng đặc thù của dòng văn học ấy, chủ yếu là trong thời gian năm, mười năm gần đây.

1.

Theo anh, ta nên giới hạn khoảng thời gian như thế nào để anh có thể dễ dàng hơn trong công việc nhận định những nét đặc thù và những hiện tượng của dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại?

Thật ra, tuỳ vào mục đích mình nhắm tới mà ta có thể làm một cuộc duyệt xét văn học hải ngoại trong khoảng thời gian nào. Trong buổi nói chuyện ngày hôm nay, tôi nghĩ chúng ta có thể tính trong khoảng năm, mười năm trở lại đây. Dù sao, ở một số khía cạnh, chúng ta có thể mở rộng biên độ thời gian hơn.

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Tản Mạn Văn Học với nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc (2)

Nguyễn Mạnh Trinh

11.

Trong nhận xét của anh, có sự khác biệt nào giữa các nhà văn đi từ miền Bắc và các nhà văn đi từ miền Nam qua những thời kỳ khác nhau hay không?

Trong nhận xét của tôi, điều rõ ràng nhất là tâm thế viết. Ra đi từ những môi trường sống khác nhau, sống và lớn lên trong những không gian văn hóa khác nhau, và chịu ảnh hưởng (trực tiếp hay gián tiếp) của những bầu khí quyển văn học khác nhau, những người viết ra đi từ hai miền đất nước như thế chắc chắn có những vấn đề, những suy nghĩ khác biệt. Đều là những con người mang tâm thế xa quê, nhưng tâm thế của hai dòng người, dòng văn ấy, ở những mức độ nhất định, tôi nghĩ, có thể mang những đặc chất khác nhau. Sự khác biệt ấy cũng có thể hiện lên mặt chữ qua cách dùng ngôn từ khác biệt, ở một mức độ nào đó. Nhưng sự phổ biến của những trang mạng cả ở trong lẫn ngoài nước trong một số năm qua có thể đã kéo họ lại gần nhau hơn. Cả về vấn đề ngôn ngữ lẫn những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của quê hương. Những điều đó giúp họ chia sẻ nhiều sự quan tâm chung. Những vấn đề của đất nước và con người Việt. Giờ đây, với sự về thăm quê hương tương đối dễ dàng, với sự phát triển của truyền thông cho phép nối kết mọi người Việt trên thế giới vào những trang mạng trên Internet, người Việt khắp nơi có thể theo dõi và biết được nhiều điều xảy ra trên quê hương. Những người viết Việt, bây giờ, dù đã rời xa quê hương từ bất cứ miền nào trên đất nước, cái gốc rễ địa lý ấy, theo tôi, không còn phân biệt họ một cách quá rõ rệt như khoảng một, hai thập niên trước nữa.

Trong cái nhìn của tôi, về mặt văn học, càng ngày họ càng nhích lại gần nhau hơn. Còn về mặt chính trị, xã hội, những di căn từ một cuộc chiến trên 30 năm trước, và những dấu ấn trong giáo dục và văn hóa khác biệt nói chung, từ hai miền Nam và Bắc, cũng vẫn có thể còn để lại những dấu tích trong suy nghĩ và trong thế sống của họ. Về mặt này, nếu có sự khác biệt, tôi hy vọng thời gian sẽ làm tốt công việc của nó: xóa nhòa đi những dị biệt "tiêu cực" và không nên có nơi họ. Còn những nét dị biệt "tích cực" thì, tôi nghĩ, chúng chỉ làm phong phú thêm cái nhìn văn học của chúng ta. Chúng cũng sẽ có tác dụng như những nét khác biệt trước đây giữa các nhà văn từ những vùng miền đất nước khác nhau, đặc biệt, nói một cách tổng quát, từ ba miền Nam Trung Bắc của Việt Nam (và sự khác biệt đó vẫn còn tồn tại, ở một mức độ nào đó, nơi họ bây giờ). Những sự khác biệt đó chỉ làm cho văn học, văn chương thêm phong phú. Cũng như sự khác biệt nhau nơi những con người sáng tạo. Nó không những tích cực mà còn được xem là một sự cần thiết để tạo nên tính đa dạng, đa sắc và đa thanh trong văn học.

12.

Xin anh cho một vài nhận xét về văn chương chống Cộng và không chống cộng ở hải ngoại?

Trong sự nhận xét của tôi, trong khoảng 10, 15 năm đầu, vì những vết thương còn mới, những ấn tượng về chiến tranh, tù đầy còn quá sâu đậm, nên một số ngòi bút đã cho ra đời những tác phẩm chống cộng nổi bật có tính nghệ thuật khá cao. Ta có thể kể đến Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Thằng Người Có Đuôi của Thế Giang, Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, hoặc tập truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Ngạn. V.v.... Trong khoảng một, hai thập niên gần đây, tâm thế sống và viết có phần thay đổi, cộng với sự tham dự sâu xa hơn vào cuộc sống hiện tại với những quan tâm và suy nghĩ được mở rộng hơn trên nhiều chiều kích, những tác giả của chúng ta đã mở rộng những đề tài viết của mình, đi sâu hơn vào những vấn đề của cuộc sống mới. Văn chương chống cộng, nói chung, có vẻ như đã làm xong phần việc của nó. Nếu có chống, tôi nghĩ, vấn đề bây giờ có lẽ nằm chủ yếu trong tâm thế viết chứ không còn là trong đề tài viết nữa, cho dù đâu đó vẫn còn những tác phẩm thiên về đề tài này.

13.

Xin anh cho một vài nhận xét về văn xuôi: đặc tính và liệt kê các tác giả, tác phẩm?

Về tính chất của văn xuôi trong dòng văn học ngoài nước: Như đã nói, trong thời gian gần đây, đề tài được mở rộng hơn. Nó nghiêng về sự hoà nhập, hòa lưu và khám phá cuộc sống hiện tại. Mà "cuộc sống hiện tại", "cuộc sống hôm nay" thì bao giờ cũng mang đủ mọi loại vẻ, đủ các cung bậc, gam mầu. Và một trong những gam mầu đậm nét nhất là gam mầu về tình yêu. Cái gam mầu muôn thuở ấy. Ngoài ra, vẫn có những tác phẩm mang tâm thế hoài niệm. Những kỷ niệm đẹp và thiết tha trong cuộc sống cũ vẫn gợi nhắc trong lòng người ta. Những sợi dây nối với quá khứ, với kỷ niệm vẫn luôn là những sợi dây bền chắc neo buộc con người vào một nơi chốn quê hương. Dù sao, trong cái viết của những người viết trẻ hơn, khuynh hướng tìm vào, mô tả và nghiền ngẫm cuộc sống hiện tại, nơi những vùng đất mới, vẫn là một dòng chủ lưu. Ngoài điều đó, những kỹ thuật mới trong việc tổ chức truyện cũng là vấn đề mà tôi quan tâm. Cách kể chuyện của một số người viết trẻ bây giờ có những nét khác với cách viết của thế hệ đàn anh họ. Thế giới văn học có nhiều thay đổi, và cách viết là một trong những thay đổi ấy. Những người viết trẻ của ta đã học tập phong cách của thế giới và đưa ra những cái nhìn, những cách tổ chức truyện khác trước.

Không thể nhớ và kể hết các tác phẩm. Vả lại, sự bừng nở của văn xuôi Việt Nam trong thời gian qua, thật sự, có thể nhìn thấy rõ rệt hơn trên những trang mạng văn học nghệ thuật hơn là qua một số tập sách được in và xuất bản. Người ta để ý đến các tác giả có sự mãnh liệt trong ngòi bút hay trong sức viết như Nam Dao, Miêng, Thuận, Đặng Thơ Thơ, Phùng Nguyễn, Song Thao, Nguyễn Nhật Minh, Hoàng Mai Đạt, Lê Thị Thấm Vân, Hồ Đình Nghiêm, Lê Minh Hà, Trùng Dương, Ngô Nguyên Dũng, Mai Ninh, Trần Vũ, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Thị Thảo An, và nhiều tác giả khác mà ta không thể liệt kê ra hết nơi đây. Ngoài ra, còn những tác giả kỳ cựu hơn như Võ Phiến, Nguyễn Bá Trạc, Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Mai Kim Ngọc, Trúc Chi, Giao Chỉ, Phan Lạc Phúc, Phạm Xuân Đài, Nguyễn Mộng Giác, v.v... Dù sao, những tác giả này đang dần dần viết ít đi, hoặc ngưng hẳn lại. Có thể họ đang muốn chọn cho mình một thái độ "tri chỉ", biết ngừng lại khi cần thiết hoặc đúng lúc chăng?

Ngoài ra, ta cũng nên kể đến một số người làm việc trong lĩnh vực dịch thuật như Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Thị Hải Hà, Trịnh Y Thư, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Đăng Thường, Đinh Từ Bích Thúy, Hoàng Ngọc Biên, Lê Đình Nhất Lang, Nguyễn Ước, v.v... Trong buổi nói chuyện này, chúng ta sẽ không thể làm một cuộc tổng kết đầy đủ trên mọi lĩnh vực văn học, nên việc thiếu sót trong việc liệt kê tất cả những nỗ lực và thành tựu của những người cần được kể đến là một điều không thể tránh khỏi. Nhưng ta biết là có những nỗ lực vẫn luôn được gìn giữ để nuôi dưỡng và phát triển cái mạch sống của dòng văn học hải ngoại.

14.

Anh nghĩ gì về những tác phẩm viết về cuộc chiến đã qua?

Như đã có dịp trả lời cho một câu hỏi gần như tương tự, hoặc có những nét gắn bó với nhau, ở trên, tôi nghĩ, trong một hai thập niên trở lại đây, những tác phẩm nói về điều này cũng có, nhưng không nhiều. Dù sao, ta vẫn có thể tìm thấy những cây viết nổi bật. Chẳng hạn, Thảo Trường, Lâm Chương, Phạm Tín An Ninh, và Cao Xuân Huy, v.v... Những trang viết của họ có văn. Và có phong cách. Với tác phẩm của những nhà văn này, người ta không chỉ đọc để biết về những câu chuyện, mà người ta còn đọc nó để thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương. Và ảnh hưởng của nó. Nó cho thấy, dù anh viết về bất cứ vấn đề gì, nghệ thuật chính là cái làm cho anh trụ lại với cuộc đời. Làm cho người đọc nhớ đến anh, và nhớ đến những gì mà anh đã chia sẻ.


15.
Còn về hồi ký của các nhân vật chính trị? Của tù nhân?

Trong thời gian qua, có một số hồi ký đáng được chú ý của một số nhân vật chính trị mà ta nên nhắc tới. Đó là những cuốn của các ông Nguyễn Tiến Hưng ("Khi Đồng Minh Tháo Chạy", "Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập"), Hà Thúc Ký ("Sống Còn Với Dân Tộc"), Vũ Quốc Thúc ("Thời Đại Của Tôi"), Võ Long Triều ("Hồi Ký Võ Long Triều"). Trước đó, có cuốn của đại sứ Bùi Diễm ("Trong Gọng Kìm Lịch Sử"). Những nhân vật này, vì những vị trí và sự tham gia đặc biệt của họ trong chính trường miền Nam Việt Nam, đã cho người đọc nhìn thấy được những uẩn khúc bên trong của những sự kiện và biến cố quan trọng đã xảy ra dưới các thời Cộng Hòa, cũng như những bí mật trong những quan hệ giữa các bên tham chiến tại VN. Đọc, thấy đau xót và tức tưởi, nhưng cũng thấy được những mặt trái của những cuộc cờ những lá bài chính trị.

Còn sách của những tù nhân, có thể kể những cuốn của Hà Thúc Sinh, Phạm Quốc Bảo, Trần Huỳnh Châu, v.v... Gần đây hơn là những cuốn hồi ký của những người tù, những người vợ tù... Đọc những cuốn này, ta thấy thương cảm cho thân phận con dân của một nước nghèo và khổ vì chiến tranh. Nhưng trong thế sống và thái độ sống của mỗi người, người đọc cũng thấy được sự can trường và quả cảm của con người Việt. Trong tối đen của cuộc sống tù ngục, người ta vẫn thấy ánh lên những nét sáng và đẹp đầy tính nhân bản. Tất cả đã là những tài liệu quý giá về một thời và một giai đoạn đớn đau của dân tộc. Người ta có thể học được nhiều bài học từ tất cả những cuốn sách đó.

16.

Anh có suy nghĩ hoặc nhận xét gì về những tác phẩm mang khuynh hướng hội nhập?

Trong nhiều tác phẩm xuất hiện trong vòng một, hai thập niên qua, người đọc có thể nhìn thấy những khía cạnh của sự hội nhập trong chữ viết của nhiều tác giả. Hội nhập trên nhiều mặt: chính trị, văn hóa, xã hội, tâm lý, ngôn ngữ, v.v... Và đấy chính là cái cốt lõi để văn chương và văn học lưu vong đang tiếp tục biến mình thành văn chương và văn học di dân. Đó cũng là cái ngòi lửa để văn chương Việt bùng nở. Hay nở hoa, nhìn theo một dạng ẩn dụ khác.

Những chi tiết mang nét hội nhập có thể xét trên bình diện cốt truyện, tâm thế nhân vật, cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả, cách tổ chức cấu trúc văn bản, v.v... Nếu, ở một vị trí nào đó, ở một giác độ nào đó, người ta có thể coi, hoặc muốn coi, những tác phẩm viết bằng những ngôn ngữ không phải Việt Nam của những tác giả gốc Việt trên khắp thế giới vẫn là những tác phẩm phản ánh kinh nghiệm di dân, thì những cuốn sách của Linda Lê, Nam Lê, Monique Truong, Andrew Lâm, Andrew Phạm, lê thị diễm thúy, Lan Cao, Angie Châu, Dinh Linh, v.v... là những tác phẩm mang nét hội nhập rõ rệt. Ở đây, tâm thế của người viết là một tâm thế pha trộn. Việt Nam và thế giới. Đó là những tác phẩm nổi bật vì cá tính của người viết, đồng thời cũng vì những nét đặc sắc của tác phẩm. Nhưng còn bao nhiêu những tác phẩm khác nữa của nhiều tác giả Việt. Đa số đều cho thấy cái hướng đi này của văn chương. Mà tôi nghĩ điều ấy cũng phải. Cuộc sống phải tiếp tục chuyển đổi. Và, văn chương, đó là một tấm gương phản ánh đời sống. Nó không thể đứng yên.

17.

Anh nghĩ gì về thơ? Số lượng, phẩm chất, khuynh hướng?

Trong nhiều năm trở lại đây, thơ là một sản phẩm rất khó tiêu thụ. Thế nên, nhìn một cách chung, sự xuất bản các tập thơ có vẻ èo uột. Dù sao, thơ ca Việt Nam vẫn nở bừng trên các trang mạng văn học nghệ thuật. Ngoài một vài tập thơ được xuất bản như những cuốn sách theo lối truyền thống, người ta cũng thấy có những tập thơ được xuất bản trên mạng. Tựu chung, những tác giả như Nguyễn Xuân Thiệp, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Viên Linh, Thường Quán, Trần Nguyên Đán, Lưu Diệu Vân, Hoàng Xuân Sơn, Chân Phương, Phan Nhiên Hạo, Đỗ Kh., Đặng Hiền, Đỗ Lê Anh Đào, Nguyễn Lương Vỵ, Lê An Thế, Nguyễn Tiến Đức, Nguyễn Đức Tùng, Khế Iêm, Hải Phương, Nguyễn Đăng Thường, Trịnh Y Thư, Lê Thị Huệ, Đỗ Quyên, Trạch Gầm... là những tác giả được chú ý nhiều. Dĩ nhiên cũng còn những tác giả khác cũng được sự theo dõi của đông đảo bạn đọc.

Thơ bây giờ cũng có nhiều nét khác trước. Có những tác giả vẫn còn đào xới (và nhiều người tiếp tục đào xới thành công) vào những thể loại cũ, theo kiểu của dòng thơ mới trước đây. Nhưng nhiều tác giả khác đã tiến bước khai phá vào những thể loại trước đây ít được sử dụng: thơ tự do, thơ xuôi, theo những thể thức và phong cách khác nhau. Ngoài ra, một số tác giả đang thử khai phá thể thơ tân hình thức theo lối Việt Nam. Trong lĩnh vực này, có những tác giả tương đối thành công với một số bài thơ được người đọc chú ý. Đặc biệt tôi thích Nguyễn Đăng Thường trong những bài thơ tân hình thức đầu tiên của anh. Và một số bài của Khế Iêm nữa.

18.

Anh có thể nói thêm chút ít nữa về Thơ tân hình thức?

Tiếng Anh là New Formalism. Một cái nhìn vắn gọn: đây là một loại thơ, về mặt hình thức, có tính vắt dòng và sử dụng kỹ thuật lặp lại; về mặt cấu tứ, có tính kể chuyện. Nó thuộc loại thơ không vần và mang nhịp điệu cũng như giọng điệu khác lạ hơn những loại thơ mà người Việt ta thường biết trước đây. Nó đem thơ lại gần hơn với cuộc sống đời thường, với những chất liệu ngôn ngữ trên đại thể là không hoa mỹ, không tu từ ẩn dụ hoán dụ gì cả. Nó cặp sát vào đời sống, và, nhiều khi, nhìn vào mặt đời sống với một cái nhìn khá phàm tục, biết rằng cuộc đời này không còn thơ ngây nữa. (Nói theo kiểu của Umberto Eco, vì không thể nói "I love you madly" được trong một thời đại đã không còn thơ ngây, nên người ta sẽ nói là "As Barbara Cartland would put it, I love you madly.'') Trong cái nhìn của tôi, đối với một số nhà thơ Việt Nam, nó là sự thay đổi, để thoát khỏi những lối mòn cũ kỹ mà thơ Việt Nam đã đi qua và vẫn còn sử dụng. Có thể nó chưa có một tác dụng rõ nét trong thẩm thức và trong tiếp nhận của người đọc Việt, nói chung. Nhưng chúng ta cần phải chờ thêm một thời gian nữa để thấy được rõ hơn tác động của nó, nếu có.

19.

Nói về Tân Hình Thức thì có lẽ ta phải nhắc đến Tạp chí Thơ, một tạp chí chuyên luận văn chương khá đặc biệt ở hải ngoại. Anh có ý kiến gì về tạp chí này không?

Vâng, đây là một tạp chí chuyên về thơ, do nhà thơ Khế Iêm và một số bạn hữu thành lập nên. Đúng như tên gọi, cái đặc biệt của nó là chuyên đăng thơ và những bài nghiên cứu về thơ (cả sáng tác lẫn dịch thuật). Đây cũng là nơi đã phát động phong trào làm và phổ biến thơ tân hình thức Việt Nam. Nó cũng đã làm dấy động lên một vài cuộc tranh luận về thơ, đặc biệt thơ tân hình thức, khiến những người quan tâm về mặt văn học có sự chú ý. Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng tạp chí Thơ, với những nỗ lực của nhóm chủ trương và những người cộng tác, trong một mắt nhìn và một góc cạnh nào đó, đã làm phong phú hóa sinh hoạt văn học của người Việt ngoài nước trong thời gian qua.

20.

Xin hỏi anh một câu hỏi cuối: Anh có thể cho một phóng chiếu về tương lai của dòng văn học Việt Nam hải ngoại, hoặc, gọi như anh, trong một tiểu luận nhiều năm trước đây, dòng văn học Việt Nam ngoài nước.

Tôi không quá lạc quan về một sự lớn mạnh và phát triển rực rỡ của dòng văn học Việt ngoài nước. Và tôi cũng không bi quan khi nghe nhắc đến sự lão hóa của những người cầm bút chủ yếu của dòng văn chương này. Văn chương là đời sống. Và đời sống, tự nó, có những quy luật nội tại để tiếp tục tồn sinh. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin qua internet và sự phát triển của dòng văn học ngoài nước trên những trang mạng toàn cầu là những yếu tố mà trước đây, 15 hay 20 năm trước, ta khó tiên đoán được. Nhưng tình hình bây giờ, so với một hai thập niên đầu khi người Việt đặt những bước chân đầu tiên của mình ra ngoài đất nước tiếp theo sau cơn đại động 1975, đã rất khác. Với một số điều mà chúng ta đã thử khảo sát qua cuộc nói chuyện này, tôi nghĩ người ta còn có thể nhìn thấy nhiều sự kỳ diệu nữa sẽ xảy ra cho dòng văn học và văn chương Việt ngoài nước. Chúng ta có những dấu chỉ để có thể hy vọng như thế. Nhưng, có lẽ còn quá sớm để chúng ta nói về những điều khả hữu kỳ diệu ấy ngay bây giờ.

21.

Xin cám ơn nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc về cuộc "tản mạn văn học" rất bổ ích và đáng yêu này.

Xin cám ơn nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh và chị Nhã Lan của Hồn Việt Direct TV và Little Saigon Radio. Và cũng xin cám ơn quý vị khán thính giả, cùng các bạn đọc, đã bỏ thì giờ theo dõi cuộc nói chuyện của chúng tôi.

Nguyễn Mạnh Trinh
(2 / 2011)


1   2