Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Nguyễn Hưng Quốc: Báo Tết và văn hóa Tết

Bìa báo xuân Sài Gòn thập niên 1950,nguồn VNExpress

Từ thập niên 1930, báo Tết đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong sinh hoạt mừng xuân của người Việt Nam. Bên cạnh những “thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”. Bên cạnh những “cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. Bên cạnh? Không phải. So với các món Tết cổ truyền vừa kể, vị thế của báo Tết quan trọng hơn nhiều. Ngày nay, cây nêu, câu đối đỏ hay dưa hành chỉ còn là những kỷ niệm, có khi thật xa vời, hun hút nằm ngoài trí nhớ của nhiều người Việt Nam. Riêng pháo thì, từ nhiều năm rồi, bị cấm; và thịt mỡ thì dần dần, cùng với đà phát triển của kinh tế, không còn là một giá trị điển hình cho ngày Tết nữa. Trong khi đó báo Tết không những không suy giảm mà càng ngày càng phát triển, từ trong nước ra đến hải ngoại. Đâu đâu cũng có báo Tết. Báo chuyên nghiệp ra số Tết đã đành. Ngay cả các đặc san của các hội đoàn cũng chọn dịp Tết để ra báo như để cố góp vào cái rừng báo Tết vốn đã rậm rạp của người Việt bằng chút hương hoa địa phương.

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2023

Nguyễn Hưng Quốc: Nói chuyện ngôn ngữ–Đút vào/Rút ra

Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ “đút” trong một câu văn không có gì đặc biệt: “Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần...” Từ chữ “đút” ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ “rút”: cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra). 

Ðiều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: “-ÚT”. Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm “đ-” (đút) và một chữ bằng phụ âm “r- ” (rút). 


Hơn nữa, cả từ “đút” lẫn từ “rút”, tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. “Ðút” cái gì vào túi hay “rút” cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại. 


Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần “-ÚT” khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. “Hút” là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. “Mút” cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác “hút” ở chỗ vật thể được “mút” thường là cái gì đặc. “Trút” là đổ cái gì xuống. “Vút” là bay từ dưới lên trên. “Cút” là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. “Nút” hay “gút” là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau. “Sút” là tuột, là suy, là giảm so với một điểm chuẩn nào đó. 


Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Bạn Văn (3) - Mai Thảo (1927-98)

Lần đầu tiên tôi gặp Mai Thảo là vào tối Chủ nhật, ngày 19 tháng 3 năm 1989, tại nhà riêng của ông - đúng hơn là phòng riêng trong một chung cư dành cho người già - ở California. Anh Nguyễn Mộng Giác chở tới. Mai Thảo mở cửa, gật chào, rồi nói chuyện tiếp với ai đó qua điện thoại. Giọng Mai Thảo trầm, ấm và ngọt ngào lạ lùng. Dần dần, tôi cũng đoán được người bên kia đầu dây là Kiều Chinh. Lúc ấy, tôi hơi ngạc nhiên, nhưng sau này, gặp Mai Thảo vài lần, dần dần tôi hiểu ra là hình như với người phụ nữ nào Mai Thảo cũng nói chuyện bằng cái giọng trầm, ấm và ngọt ngào như vậy. Hay gần như vậy.

Trong lúc ông nói chuyện, tôi đảo mắt nhìn quanh. Một kệ sách. Một cái bàn. Một cái giường chiếc phủ nệm trắng. Một cái Tivi nhỏ và năm bảy chai rượu nằm trong góc. Là hết. Lúc ấy, tôi nghĩ ngay đến một câu thơ của Nguyễn Bính: ‘Quán trọ nhà thơ như chiêm bao’. 


Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Bạn Văn (2) - Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Trong những người cầm bút nổi tiếng trước năm 1975, hai người đầu tiên tôi thân là Mai Thảo và Nguyễn Mộng Giác. Thân hầu như ngay tức khắc khi tôi gửi bài cho VănVăn Học. Nhận được bài, bao giờ anh Giác cũng viết thư khen ngợi. Tôi xem anh và Mai Thảo như những tri âm thứ nhất của mỗi bài mình viết. Tháng 3, 1989, tôi mới gặp Nguyễn Mộng Giác trong một cuộc hội nghị văn học ở Chicago. Gặp nhau, có cảm tưởng như đã thân thiết từ bao giờ. Chuyện trò miên man không dứt. Sau đó, anh Giác rủ tôi về California chơi. Tôi ở nhà anh mấy ngày. Lại chuyện trò. Đêm nào cũng chuyện trò đến khuy lơ khuya lắc. Năm sau, anh Giác sang Pháp. Anh ở nhà chị Thuỵ Khuê nhưng vẫn gặp tôi khá thường xuyên. Lại vẫn chuyện trò. Từ những buổi chuyện trò ấy, tôi nhận ra các cuộc đàm thoại của giới cầm bút ít nhiều tâm đắc với nhau có hai đặc điểm nổi bật: Một là, cuộc chuyện trò, dù là lần đầu tiên, cũng là một sự tiếp tục những cuộc chuyện trò dở dang đâu đó, từ trước. Không có những giây phút lúng túng gợi chuyện, hỏi han những chuyện tào lao trời ơi đất hỡi. Về vợ con. Về mưa nắng. Hai là, đề tài phổ biến nhất bao giờ cũng giống nhau: văn học. Không có gì khác. Không về tác giả thì cũng về tác phẩm. Không về vấn đề thì cũng về sự kiện. Không vui thì buồn. Nhưng chúng chỉ là một. Riêng với Nguyễn Mộng Giác, các cuộc chuyện trò về văn học bao giờ cũng để lại cho tôi thật nhiều ấn tượng tốt đẹp. Anh đã bắt đầu cầm bút trước năm 1975 nên biết khá nhiều chuyện về văn học miền Nam thời ấy. Sau năm 1975, ở lại Sài Gòn, anh có dịp tiếp xúc với một số người cầm bút mới từ Hà Nội vào nên cũng biết ít nhiều tình hình văn học miền Bắc. Ở Mỹ, anh cộng tác chặt chẽ với tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến, rồi sau đó, làm chủ bút tờ Văn Học, nên biết rất nhiều về sinh hoạt văn học hải ngoại. Anh có trí nhớ tốt. Óc phân tích cũng tốt. Cách nói năng mạch lạc. Lại có chút dí dỏm và biết lắng nghe. Nên nói chuyện với anh rất thích.


Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Bạn Văn (1)

Trong lần về nước đầu tiên, năm 1996, tôi ở Hà Nội ba tuần, gặp gỡ khá nhiều người cầm bút ở đó, từ Dương Tường đến Trần Quốc Vượng, từ Hoàng Ngọc Hiến đến Đỗ Lai Thuý, từ Phong Lê đến Văn Tâm, từ Lê Đạt đến Dương Thu Hương, từ Trần Dần đến Hoàng Cầm, từ Nguyễn Huệ Chi đến Bảo Ninh. Nhưng có cảm giác thân nhất là hai người: Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Xuân Nguyên.

Không biết do ai nói, Nguyễn Huy Thiệp biết tôi ở Hà Nội; anh đến nhà tôi trọ ở số 52B đường Nguyễn Khuyến (gần Văn Miếu), chở tôi về nhà anh chơi, ăn trưa và chuyện trò đủ thứ trên trời dưới đất. Anh kể về những ngày tháng lận đận của anh. Về những ước mơ của anh. Anh có vẻ rất tin vào tử vi. Anh nói ông ngoại của anh, căn cứ vào ngày giờ sinh, có thể biết được hậu vận của một người. Khi anh trai của Thiệp mới ra đời, bấm tử vi, ông biết sau, lớn lên, sẽ theo nghiệpvõ, nên đặt tên là Thăng với ước mong được thăng quan tiến chức. Còn Thiệp, ông nói sẽ thiên về văn nên đặt tên là Thiệp để chỉ sự quảng giao. Tử vi cũng nói anh sẽ thành công trong văn chương nhưng muộn. Nếu nổi tiếng trước năm 35 tuổi thì có nguy cơ chết yểu hoặc ngồi tù. Ngày hôm sau, Thiệp chở tôi đi thăm viếng các chùa chiền chung quanh Hà Nội, trong đó có chùa Bút Tháp. Chùa vắng tanh. Không thấy ai cả. Đẩy cánh cửa khép hờ, vào chùa, Thiệp thắp một cây nhang rồi kính cẩn vái, miệng lầm bầm cầu nguyện. Vốn vô thần, tôi chỉ đứng nhìn, dửng dưng. Thiệp dí vào tay tôi một cây nhang và bảo: “Cầu đi, anh. Có thờ có thiêng.” Chiều bạn, tôi cũng vái. Xong, quay người lại, tôi thấy một phụ nữ khoảng 5,6 chục tuổi đứng ngay sau lưng, bàn tay xoè, đưa ra phía trước. Tôi không hiểu, bèn nhìn Thiệp. Anh nói: “Bả xin tiền nhang đấy.” Rồi anh đặt vào tay bà một số tiền. Ra ngoài sân, tôi thấy một người đàn ông, cũng 5,6 chục tuổi, đứng bên cạnh chiếc xe gắn máy của Thiệp, bàn tay cũng xoè ra. Tôi hỏi Thiệp: “Chuyện gì nữa đây?” Thiệp chưa kịp trả lời, người đàn ông đã lên tiếng: “Xin quý ông cho ít tiền công giữ xe.” Thiệp lại móc túi ra đưa ông một số tiền. Trưa, đói bụng, Thiệp tấp xe vào một cái quán xập xệ ven đường. Quán chỉ có hai cái bàn thấp và mấy chiếc ghế đẩu. Nhìn, tôi hơi e ngại vấn đề vệ sinh. Nhưng không có chọn lựa nào khác. Thiệp gọi mỗi người một chén cơm và hai quả trứng luộc chấm nước mắm. “Như thế cho an toàn”, anh nói. Ăn vẫn thấy ngon. Giữa bữa ăn, không nhắc đến hai vụ xin tiền ở chùa, Thiệp nói, như giải thích: “Ở Việt Nam, sống khó lắm. Lúc nào đi ra khỏi nhà tôi cũng đều thủ sẵn tiền trong túi. Ở đâu cũng có những người vòi tiền. Có người vô hại. Nhưng cũng có những kẻ rất nguy hiểm. Để được yên thân, mình phải có tiền nhét vào mõm chúng.” Chiều, về, anh chở tôi đến nhà một người bạn của anh ở Bát Tràng. Anh lấy một cái đĩa bằng đất sét rồi vẽ chân dung tôi trên đó. Bức đầu, anh không hài lòng, anh bảo tôi ngồi tiếp để anh vẽ bức khác. Xong, anh nhờ bạn bỏ vào lò nung. Mấy ngày sau, anh mang hai cái đĩa đến nhà tôi trọ tặng tôi. Tôi rất cảm động.


Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2022

Sách Mới: Văn Hoá Văn Chương Việt Nam Của Nguyễn Hưng Quốc

Trích từ Lời nói đầu:

“Ở Việt Nam, từ trước đến nay, chúng ta bàn nhiều về văn chương cũng như về văn hoá, nhưng lại ít khi đề cập đến văn hoá văn chương, cho dù, theo tôi, việc nghiên cứu văn hoá văn chương có thể giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn không những về văn hoá mà còn cả về văn chương nữa. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa trong hoàn cảnh Việt Nam, nơi văn chương, nói chung, vẫn còn la đà trên mặt bằng văn hoá. Lại là thứ văn hoá chưa bao giờ thực sự được chuyên nghiệp hoá.

Nói một cách tóm tắt, theo tôi, một nền văn học chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh trên nền tảng một văn hoá văn chương lành mạnh. Và văn hoá văn chương chỉ lành mạnh khi ở đó tinh thần sáng tạo được coi trọng cả trong việc viết lẫn việc đọc. Mà đề cao tinh thần sáng tạo cũng có nghĩa là đề cao tinh thần phê phán: không có nền văn học nào có thể khởi sắc nếu nó không tự phủ định và tự vượt qua chính nó. Nói cách khác, văn hoá văn chương là một trong những yếu tố căn bản để hình thành cộng đồng văn học nhưng để cộng đồng văn học ấy thực sự đạt được những thành tựu đáng kể, nền văn hoá văn chương ấy phải không ngừng bị đặt thành nghi vấn và không ngừng bị phê phán. Trong quan niệm của tôi, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà phê bình là đẩy những nghi vấn và những phê phán ấy đến tận cùng. Để văn hoá văn chương không bị biến thành một tín ngưỡng với những giáo điều và những khuôn sáo cũ kỹ, chật chội làm thui chột ý chí và khả năng sáng tạo của người cầm bút. Và để văn học luôn luôn là một hành trình tìm kiếm và thử nghiệm liên tục.”

Sách dày 280 trang, gồm 12 chương:

Chủ nghĩa ‘mình-thì-khác’

Sống và viết giữa các nền văn hoá

Báo Tết và văn hoá Tết

Viết cho ai?

Nhà văn… không là ai?

Phê bình phê bình

Chức năng chính của phê bình trong thời điểm hiện nay

Tr(Ch)uyện: Một số vấn đề mỹ học

Đọc thơ là đọc… thơ

Thơ hay và thơ dở: cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay

Đánh giá lại Tự Lực Văn Đoàn

Chủ nghĩa h(ậu h)iện đại và văn học Việt Nam

PHỤ LỤC: Phỏng vấn Nguyễn Hưng Quốc


Sách do Lotus Media xuất bản và phát hành toàn cầu trên AMAZON.COM


Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Để Nhớ 7 Năm Ngày Võ Phiến Mất - Những Năm Tháng Cuối

Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến (1925-2015). Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốn Võ Phiến (1996), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận. 

Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến hai tuổi và lớn hơn tôi đến 30 tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu nghêu và cái bước chân hơi liêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một công chức tỉnh lẻ hiền lành. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi chất phác, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.


Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Đường Vào Văn Học (3)

Ngoài sự thay đổi về giọng văn, trong một, hai thập niên qua, tôi còn một sự thay đổi khác, trong đề tài: Càng ngày càng viết nhiều về chính trị.

Trước, trong hơn 20 năm đầu cầm bút ở hải ngoại, với tư cách nhà văn, tôi hoàn toàn tránh né chính trị. Thật ra, ở Quê Mẹ, tôi viết khá nhiều bản tin và bình luận về chính trị. Nhưng đó là viết báo. Viết xong là bỏ. Còn trong sách, tôi muốn mình chỉ tập trung hẳn vào một lãnh vực: văn học. Nhưng sau khi tôi bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam lần thứ hai vào năm 2009, tôi không nén được phẫn nộ. Ngay lúc ấy Ban Việt ngữ đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) mời tôi giữ một chuyên mục trên website của họ. Tôi nhận lời. Mấy năm đầu, mỗi tuần tôi viết bốn bài. Tôi dự tính sẽ dành hai bài cho đề tài văn học hay văn hoá và hai bài cho chuyện thời sự. Nhưng càng viết tôi càng sa vào chuyện thời sự. Kết quả, tôi xuất bản ba cuốn sách mang nhiều cảm hứng chính trị như thế: Phản tỉnh và phản biện (2013), Viết vu vơ (2014) và Những bài viết về chính trị (2021).


Đã có nhiều người nghiên cứu chính trị Việt Nam từ góc độ cơ chế với những cách thức tổ chức cũng như những sự thay đổi về nhân sự, và cùng với sự thay đổi về nhân sự ấy, những sự thay đổi về chính sách và những hệ quả của chúng. Tôi thích nhìn chính trị từ góc độ văn hoá để giải thích tại sao cả một cộng đồng, hoặc đa số trong cộng đồng, lại tin tưởng và chấp nhận hoặc không tin tưởng và không chấp nhận những cơ chế và sinh hoạt chính trị như thế. 


Nếu văn hoá là một hệ thống ý nghĩa, văn hoá chính trị sẽ là hệ thống ý nghĩa về quyền (right), thẩm quyền (authority) và quyền lực (power). Tất cả các yếu tố ấy đều gắn liền với, nếu không muốn nói là châu tuần chung quanh, một thiết chế chính: nhà nước. Nhìn từ góc độ văn hoá chính trị, đối tượng được khảo sát sẽ là những niềm tin, những giá trị, những biểu tượng và những quy phạm (norm), một mặt, gắn liền với truyền thống; mặt khác, tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn và hành xử của cả một tập thể trong lãnh vực chính trị. Với tôi, góc độ ấy hứa hẹn nhiều khám phá thú vị hơn các góc nhìn truyền thống.


Văn hoá chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Không có nền dân chủ nào là vô điều kiện cả. Muốn có dân chủ, trước hết, phải giành giật; sau đó, phải xây dựng. Để giành giật, cần có cách mạng, nhưng để xây dựng, cần có văn hoá. Cách mạng có thể tiến hành và kết thúc trong một thời gian ngắn, có khi vài ba tháng; nhưng văn hoá thì có khi cần vài ba thế hệ. Chờ đến khi làm cách mạng xong mới tiến hành các cuộc vận động thay đổi văn hoá là quá muộn. Hậu quả của sự muộn màng ấy là một chế độ độc tài khác có thể sẽ ra đời. Do đó, các cuộc vận động về văn hoá phải đi trước, càng sớm và càng sâu rộng càng tốt. Có khi nhờ cái văn hoá ấy, dân chủ có thể xuất hiện và nảy nở mà không cần phải có cách mạng.



Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Đường Vào Văn Học (2)

Bỏ thơ, tôi chuyển sang viết văn xuôi. “Tác phẩm” đầu tay của tôi là một cuốn tiểu thuyết mang cái nhan đề rất dễ gây sốc: Thượng Đế cũng nói láo. Câu chuyện xoay quanh một thanh niên mất dần niềm tin vào Chúa. Đó là chuyện thật của tôi. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình đạo dòng, ít nhất từ thời ông cố. Tất cả mọi người trong gia đình đều mộ đạo. Sáng nào ông nội tôi cũng khua mọi người dậy để đến nhà thờ xem lễ. Tối cũng thế, khoảng 8 giờ, cả nhà ngồi lại đọc kinh khoảng nửa tiếng. Nhưng không hiểu sao, đến khoảng năm lớp 11, niềm tin của tôi phai nhạt dần. Tôi cãi cọ với mọi người về giáo lý. Tôi lí nhí đọc kinh trong nhà một cách đầy miễn cưỡng.

Tôi mới viết được khoảng vài chục trang thì mẹ tôi biết. Một đêm, nửa khuya, lúc tôi đang ngủ say, mẹ tôi đến bên cạnh và khều tôi dậy. Mở mắt, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là một người đàn bà ngồi cạnh giường, tóc xoã dài xuống lưng, và phía sau là cánh cửa sổ mở toang, ánh trăng sáng vằng vặc. Ý nghĩ đầu tiên loé lên trong óc tôi: Ma! Nhưng dĩ nhiên là không phải. Lúc mẹ tôi lên tiếng, tôi thấy an tâm hẳn. Đêm ấy, mẹ tôi kể là bà không thể nào ngủ được vì lo cho linh hồn của tôi. Bà “van” tôi hãy đốt cuốn truyện đó. Thương mẹ, tôi hứa sẽ đốt. Mà thật, ngày hôm sau, tôi đem xấp bản thảo đút vào bếp lửa. Trước mắt mẹ tôi.


Dạo ấy, trong giới cầm bút trên thế giới, tôi mê nhất hai người: Fyodor Dostoevsky (1821-1881) và Friedrich Nietzsche (1844-1900). Cả hai đều mạnh mẽ, dữ dội, giọng văn lúc nào cũng hừng hực lửa. Tôi mê cuốn Zarathustra đã nói như thế, đọc tới đọc lui không biết bao nhiêu lần. Cuốn sách được một số người khen là cuốn Phúc Âm thứ năm của nhân loại. Tôi mơ viết một cuốn sách như thế. Tôi đặt nhan đề là Những bài giảng cuối cùng của Giu-đa. Cuốn sách mở đầu bằng cảnh, giữa khuya khoắt, Giu-đa ăn cắp thi thể Chúa Giê-su rồi vác đi chôn trong một khu rừng vắng. Trước khi lấp đất, Giu-đa nói với Giê-su: “Tôi không ân hận đã bán ông. Tuy nhiên, vì tình nghĩa thầy trò trong bao nhiêu năm, tôi giúp ông lần cuối: Ăn cắp cái xác của ông, tôi biến ông thành một huyền thoại. Từ nay trở đi ông sẽ bất tử.”



Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Đường vào văn học (1)

Tôi mê đọc sách rất sớm, có lẽ ngay từ những năm lớp 5 hay lớp 6 gì đó. Không hiếm những đứa bé bắt đầu đọc sớm như thế. Nhưng phần lớn đều bắt đầu với những trang báo thiếu nhi như Tuổi Hoa hay Tuổi Ngọc. Tôi thì khác. Với tư cách độc giả, tôi không có tuổi thơ. Loại sách tôi mê đọc đầu tiên trong đời, oái oăm thay, lại là... truyện chưởng. Nguyên nhân chủ yếu là do ông anh cả của tôi, lớn hơn tôi bảy tuổi, dạo ấy đang ghiền đọc loại này. Mỗi cuối tuần, anh lại tha về ba, bốn tập. Tôi đọc ké. Anh tôi không bao giờ đủ rộng lượng hay kiên nhẫn để chờ tôi đọc hết mới mang đi đổi các tập khác. Do đó, tôi phải cố gắng đọc nhanh ngang với tốc độ đọc của anh ấy. Và phải đọc nhảy: trong lúc anh đọc tập một thì tôi đọc tập hai; khi anh xong tập một thì tôi phải xong tập hai và chuyển sang tập ba để nhường tập hai lại cho anh. Cứ như thế, đến lúc anh đọc tập cuối cùng thì tôi quay lại đọc tập một. Chỉ vài năm sau là lượng sách trong tiệm cho thuê đã cạn. Và tôi cũng chán nữa: đọc riết, tôi khám phá ra năng lực tưởng tượng của các tác giả truyện chưởng cũng khá nghèo: các câu chuyện có thể khác nhau ở nhân vật và một số tình tiết nhưng kết cấu chung thì cứ như đúc từ một khuôn. Rất công thức. Rất đơn điệu. Và do đó, rất khả đoán. 

Chán truyện chưởng, tôi quay sang đọc các loại sách văn chương nghiêm chỉnh. Tôi đọc gần hết các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, sau, lần lượt đọc các tác giả nổi tiếng ở Sài Gòn. Không hiểu sao, tôi lại nặng lòng với thơ hơn. Tôi không những đọc nhiều thơ, vô số thơ, mà còn làm thơ nữa. Dạo đó, tôi học trường Thánh Mẫu ở ấp Phước Thành, xã Hoà Khánh, quận Hoà Vang, Quảng Nam. Trường nhỏ, chỉ tới lớp 9. Thầy dạy Văn là thầy Vũ Công Cường, nói giọng Bắc, đọc thơ rất truyền cảm. Là một trong vài học sinh giỏi Văn nhất lớp, tôi rất được thầy thương. Làm được bài thơ nào tôi cũng đều đưa thầy đọc. Thầy khen ngợi rối rít. Có lúc thầy đọc lên cho cả lớp nghe. Không chỉ trong lớp tôi, thầy còn mang đọc trong các lớp khác. Nhờ thế, tôi nhanh chóng nổi tiếng là một “nhà thơ trẻ đầy triển vọng” trong cái trường cấp hai nhỏ xíu tập hợp những mảnh đời khốn khổ do chiến tranh xô đẩy tới. 


Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Trí Thức Là Một Lựa Chọn

Khi định nghĩa trí thức là những kẻ thích và có khả năng theo đuổi những ý tưởng vị ý tưởng (ideas for their own sake) hơn là những vấn đề thực dụng, chúng ta thấy ngay, vấn đề trí thức hay không trí thức không hẳn là vấn đề trình độ. Không phải trí thức thông thái hơn những người không được xem là trí thức. Một chuyên gia (expert) trong một lãnh vực nào đó có thể có kiến thức chuyên ngành cao hơn hẳn những người vốn được công nhận là trí thức, nhưng chuyên gia, trong phần lớn các trường hợp, không phải là trí thức bởi kết quả cuối cùng của công việc họ làm không phải là ý tưởng mà là sản phẩm hay dịch vụ. Trí thức cũng không hẳn khôn ngoan hơn người khác. Chính vì thế mới có những “tri thức dại dột” (unwise intellect). Chung quanh những tên độc tài khát máu như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hitler, lúc nào cũng đầy những người được xem là thuộc “giới trí thức” sùng bái và ca tụng, bất chấp việc chúng đã giết chết cả hàng triệu người vô tội và đày đoạ dân tộc của chúng vào cảnh hoặc chiến tranh hoặc bần cùng.

Như vậy, trí thức, theo tôi, có hai ý nghĩa chính: Thứ nhất, với tư cách một nghề, phần lớn những người trí thức thuộc giới nghiên cứu, đặc biệt giới nghiên cứu các ngành khoa học lý thuyết, khoa học xã hội và nhân văn, tức những người hoạt động không dẫn đến kết quả nào khác ngoài các ý tưởng. Thứ hai, những người, từ các lãnh vực khác, bằng hoạt động của họ, trở thành trí thức. Cái gọi là các lãnh vực khác ấy rất đa dạng. Chúng ta có thể thấy điều đó qua danh sách 100 nhà trí thức hàng đầu trên thế giới do tạp chí Foreign Policy và Prospect Magazine thực hiện vào năm 2005. Ở đây, tôi chỉ liệt kê 20 người đứng đầu.

Tên Nghề nghiệp Quốc gia
1 Noam Chomsky Nhà ngôn ngữ học, Mỹ, tác giả, nhà hoạt động xã hội
2. Umberto Eco Tiểu thuyết gia Ý, và nhà Trung cổ học
3. Richard Dawkins Nhà sinh vật học Anh, và nhà bút chiến
4. Václav Havel Chính khách, Czech, kịch tác gia Republic
5. Christopher Hitchens Nhà bút chiến Anh | Mỹ
6. Paul Krugman Kinh tế gia, ký mục gia Mỹ
7. Jürgen Habermas Triết gia Đức
8. Amartya Sen Kinh tế gia Ấn Độ
9. Jared Diamond Nhà sinh vật học, sử gia Mỹ
10. Salman Rushdie Tiểu thuyết gia, Anh/Ấn Độ, bình luận gia chính trị
11. Naomi Klein Tác giả, ký giả Canada
12. Shirin Ebadi Luật sư, Iran, nhà hoạt động nhân quyền
13. Hernando de Soto Kinh tế gia Peru
14. Bjørn Lomborg Nhà môi trường học Đan Mạch
15. Abdolkarim Soroush Lý thuyết gia tôn giáo Iran
16. Thomas Friedman Ký giả, tác giả Mỹ
17. Pope Benedict XVI Nhà lãnh đạo tôn giáo Đức, Vatican
18. Eric Hobsbawm Sử gia Britain
19. Paul Wolfowitz Giáo sư, nhà hoạch định chính sách Mỹ 
20. Camille Paglia Tác giả, nhà phê bình xã hội Mỹ


Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Nguyễn Hưng Quốc, Gây Sự Với Hư Không

 image

Giữa thiên đàng và địa ngục

Tôi chọn cái ở giữa:

Trần gian

(20)

Trần gian cũng là chọn lựa của nhiều nhà thơ. Ngôn ngữ Nguyễn Hưng Quốc giản dị, mạch lạc, các bài thơ của anh có ý tứ rõ ràng. Sự rõ ràng ấy làm cho bài thơ sáng lên, có sức thuyết phục, mặc dù có thể không gây ra ám ảnh. Đọc thơ ba câu của anh, tôi nghĩ đến các nhà thơ hình tượng của Mỹ, như Ezra Pound, những người chịu ảnh hưởng ít nhiều từ truyền thống Nhật Bản, nhưng thơ anh không hẳn là haiku. Chỉ đôi khi có khuynh hướng ấy:

Con quạ đen

Mổ nắng

Giữa chiều quạnh hiu

(251)

Bài thơ hay, nhưng không tiêu biểu cho cả tập thơ. Thơ ba câu cũng là thơ tự do, không vần, tựa như tercet của phương Tây, hay những đoạn mở đầu của villanelle. Thơ tự do đòi hỏi người viết tập trung chú ý đến số chữ trong câu, đến trật tự sắp xếp của các câu, khác với người làm thơ có vần, luật, làm theo mẫu nhịp điệu có sẵn. Người làm thơ tự do cần độc đáo khi viết. Tôi không có ý nói rằng thơ tự do thì cao hơn thơ có vần, hay ngược lại, nhưng quá trình sáng tạo của các nhà thơ là khác hẳn nhau khi họ chọn một hình thức để sáng tác. Bạn chọn thứ nào cũng được, nhưng phải viết như thể số phận của bạn được định đoạt bởi chúng, câu thơ mỏng mảnh kia.

Các vì tinh tú xa xăm

Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu

Tìm một nhà thơ thất lạc

(17)


Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Nguyễn Hưng Quốc: Đi tìm Võ Phiến

Đi tìm nhà văn Võ Phiến, tôi bắt gặp một nhà tuỳ bút. Đi tìm nhà tuỳ bút Võ Phiến, tôi bắt gặp một nhà nghiên cứu. 

Phát hiện đầu không có gì đáng kể. Từ lâu, đã có nhiều người đã nhận ra là, một, sở trường của Võ Phiến nằm ở thể tuỳ bút; và hai, phong cách tuỳ bút bàng bạc trong mọi tác phẩm văn xuôi của ông. Thật ra, hai điểm này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc điểm nổi bật nhất của thể tuỳ bút, theo tôi, là ưu thế của giọng văn, hơn nữa, của thứ giọng văn giàu cảm xúc và, đặc biệt, giàu cá tính. Viết truyện, người ta có thể sử dụng lối văn gọn gàng, giản dị, vô ngã, không có màu sắc hay mùi vị gì cả để cho nhân vật dễ cóđược đời sống riêng với những cá tính riêng chứ không phải là những con rối hay những cái bóng mờ nhạt của tác giả. Chính vì vậy, đối với các nhà tiểu thuyết thời 1930-45, ngay cả các nhà tiểu thuyết lớn như Nhất Linh, Khái Hưng, Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng, rất hiếm khi người ta đề cập đến giọng văn. Không phải tại những tác giả ấy viết không hay. Hay, nhưng cái hay ấy không phải là yếu tố hàng đầu làm nên cái lớn của họ. Với các nhà tuỳ bút thì khác. Nhắc đến Nguyễn Tuân, chẳng hạn, hầu như ai cũng nhắc, trước hết, đến một giọng văn hết sức điệu đàng và khinh bạc. Sau này, nhắc đến Mai Thảo, người ta cũng nhắc đến một giọng văn mượt mà với những kiểu ngắt câu lạ, rất gần với thơ; nhắc đến Vũ Bằng, người ta cũng lại nhắc đến đến giọng văn tha thiết và sôi nổi của ông về từng món ăn hay từng kỷ niệm cũ. Với Võ Phiến, cũng thế; nhắc đến ông, người ta cũng lại nhắc đến một giọng văn phóng túng và dí dỏm, chứa đựng rất nhiều khẩu ngữ, như một lời trò chuyện linh động, duyên dáng, thân mật và vô cùng lôi cuốn. 

Ưu thế của giọng văn, thực chất, là ưu thế của nhu cầu tự bộc lộ và tự thể hiện: viết tuỳ bút là một cách bày tỏ trực tiếp cảm xúc và thái độ của mình, là xem tính chất phong phú và độc đáo của sự liên tưởng là tiêu chuẩn thẩm mỹ chính của việc viết lách, là đặt cái tôi của mình vào vị trí trung tâm của tác phẩm, hay nói theo Nguyễn Mộng Giác, là làm “một người khoả thân ngay giữa chợ” [1]. Nhu cầu tự bộc lộ và tự thể hiện ấy khiến nhà tuỳ bút dễ có khuynh hướng xâm phạm vào “quyền sống” và “quyền độc lập” của nhân vật, đẩy truyện ngắn và truyện dài đến gần với tuỳ bút và làm nhoè đi ranh giới giữa các thể loại. Điều này có thể thấy rõ ở Nguyễn Tuân qua các tác phẩm được gọi là truyện dài và ký sự, và càng rõ hơn nữa, ở Võ Phiến qua nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Dưới ngòi bút của Võ Phiến, không những truyện ngắn mà cả các bài phê bình và lý luận cũng đều phảng phất hình dáng của tuỳ bút; ở đâu cảm xúc cũng tràn lên giọng văn; ở đâu giọng văn cũng nổi lên như một yếu tố chủ đạo trong phong cách; và ở đâu phong cách cũng trở thành trung tâm của nghệ thuật ngôn từ. Có thể nói, đằng sau nhà văn, nhà phê bình và nhà lý luận văn học Võ Phiến đều có một nhà tuỳ bút. Đằng sau cây bút bình luận chính trị, xã hội, ngôn ngữ và văn hoá Võ Phiến cũng có một nhà tuỳ bút. Nhà tuỳ bút ấy chi phối toàn bộ cách hành ngôn và giọng điệu của nhà văn Võ Phiến. 

Nhưng đằng sau nhà tuỳ bút Võ Phiến là ai?


Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Thư Võ Phiến: Chuyện Gia Đình

Los Angeles ngày 30.5.1991

Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Thư trước gửi anh đã hơn một tháng, nay mới lại có thì giờ để bắt đầu viết lá thư thứ ba.

Bây giờ xin nói về ba tôi. Ba tôi tên là Đoàn Thế Cần. Ba tôi mất năm 1983, thọ 80 tuổi; lúc ấy tôi được 58 tuổi. Suốt đời tôi, tổng cộng thời gian bố con tôi cùng sống chung dưới một mái nhà chắc là không tới ba năm. (Và thời gian tôi được sống gần má tôi có lẽ hơn chín năm, nhưng chưa tới mười năm). Tôi không có được bao nhiêu kinh nghiệm về tình cảm cha con. Có thể vì vậy mà trong các tác phẩm của tôi không thấy bao nhiêu nhân vật được hưởng thứ tình cảm ấy.

Tôi đoán một phần do ông nội tôi mất sớm nên ba tôi và chú tôi (ông nội tôi có hai con trai) đều không chịu học đến nơi đến chốn. Lúc bấy giờ trường Qui Nhơn đã có rồi, ba và chú tôi có thể học xong trung học dễ dàng; vậy mà không ai đủ kiên nhẫn. Ba tôi xong bậc tiểu học thì thôi; chú tôi tiếp tục vài năm trung học rồi cũng bỏ học luôn.

Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc

Hồi đó một người có bằng tiểu học (primaire) đã tìm được việc làm “tử tế”. Ba tôi làm giáo học ở huyện Hoài Ân, chẳng bao lâu xích mích thế nào với tri huyện Hoài Ân và bỏ việc. (Có điều ngộ nghĩnh là trước đó thân phụ của nhà tôi, sau khi hỏng tú tài ở Huế, cũng từng dạy ở Hoài Ân, cũng xích mích với quan huyện, và cũng bỏ việc.)

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

Sách mới tái bản của Nguyễn Hưng Quốc:


 



Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2021

Nguyễn Hưng Quốc: Thơ Ba Dòng (II)

Trích từ cuốn 909 Bài Thơ Ba Dòng của Nguyễn Hưng Quốc, Lotus Media xuất bản 2021, phát hành trên Amazon.com

65.

Chúa không làm thơ, Phật cũng không
Chỉ khi đối diện với cái chết
Thơ mới lên tiếng

66.

Sương mù. Bầu trời sụp xuống
Suýt đụng
Ngọn cây cổ thụ

67.

Sáng, tự dưng thấy hiu hắt
Mùi cà phê
Làm bài thơ thở dài

68.

Không có hoa, hắn nâng niu những chiếc lá
Tâm hồn nào cũng cần nhiều
Màu xanh

69.

Tất cả các chữ đều là nạ dòng
Nhà thơ mang lại
Trinh tiết

70.

Thơ làm mới ngôn ngữ
Ngôn ngữ làm mới cái nhìn
Cái nhìn làm mới con người

71.

Nàng thích những bài thơ có vần
Trong những ngày
Rụng trứng

72.

Mọi phụ nữ đều cười giống nhau
Họ chỉ khác ở
Tiếng khóc

73.

Ánh trăng đâm thẳng vào trái tim của hắn
Hắn mất tân
Và bài thơ tình ra đời

74.

Em đi, gió cũng nhớ
Nó thổi khắp nơi
Mùi hương trong nách em

75.

Quên đi những trận dông bão
Tình yêu chỉ là cơn mưa phùn
Đủ để quần lót em ướt

76.

Sáng, một tia nắng cong
Ôm hôn
Những hạt bụi

77.

Những ngọn sóng hung hãn đập nát
Bóng trăng
Máu phun tung toé

78.

Hắn bị sập bẫy
Một đoá
Hoa hồng

79.

Hắn đào bới thịt da nàng
Cố tìm
Những nụ hôn mất tích

80.

Chỉ những kẻ ngoại tình mới hiểu
Những nỗi niềm giấu kín
Trong trái tim của biển


Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

Nguyễn Hưng Quốc: Thơ Ba Dòng

Trích từ cuốn 909 BÀI THƠ BA DÒNG của Nguyễn Hưng Quốc, Lotus Media xuất bản 2021, phát hành trên Amazon.com

46.

Các thi sĩ được rửa tội
Bằng
Thơ

47.

Cuộc sống quá ngắn ngủi
Để làm được
Một câu thơ thật hay

48.

Một bài thơ hay là một
Sợi lông nách
Của Chúa

49.

Ánh trăng dịu dàng và thơ mộng đến nỗi
Làm bao nhiêu goá phụ
Mang thai

50.

Bài thơ biết bí mật của tình yêu
Nhưng nó lại không biết được bí mật của chữ
Chữ trả thù: Bài thơ chết non

Thứ Năm, 20 tháng 5, 2021

Nguyễn Hưng Quốc: Tôi Không Cần Biết Ông Hồ Chí Minh Có Mấy Vợ

Nhiều lần, nhân dịp ở trong nước tổ chức rầm rộ các buổi lễ tưởng niệm ngày Hồ Chí Minh qua đời, tôi muốn viết một bài về ông, nhưng lại lười, cứ lần khân mãi. Sau đó, mở các tờ báo mạng ra, cứ gặp mãi những bài viết về ông Minh (tôi không thích gọi ông là ông Hồ, nghe nó vô duyên làm sao!) lại đâm bực.
Bực, khi đọc những bài lải nhải khen ngợi ông. Bực cả khi đọc những bài chửi bới ông nữa.

Hầu hết các bài khen tụng hay chửi bới ông Minh đều có điểm giống nhau: Chúng đều tập trung vào đời tư của ông. Lại là những khía cạnh nhí nhách nhất trong đời tư của ông.

Người chửi, chửi thậm tệ. Theo họ, ông Minh là một kẻ giả dối. Giả dối ở mọi mặt. Tự mình viết sách khen mình… khiêm tốn và tài giỏi rồi ký tên khác (Trần Dân Tiên) rồi bắt dân chúng học tập là một sự giả dối. Gặp chị ruột, bà Nguyễn Thị Thanh, người chị duy nhất còn sống sót sau mấy chục năm xa cách mà vẫn hờ hờ hững hững để giữ tiếng vô tư và chí công là một sự giả dối. Nhưng giả dối nhất là có vợ rồi, lại là vợ Tàu nữa (Tăng Tuyết Minh), mà cứ giấu biệt. Có bồ (Nông Thị Xuân) cũng giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt. Cuối cùng, bồ bị đàn em hãm hại cũng không dám mở miệng cứu giúp hay can thiệp. Nghĩa là một kẻ vừa giả dối lại vừa tàn nhẫn và hèn hạ.

Người khen, khen ông biết quan tâm và hy sinh cho người khác. Quan tâm đến đời sống cơ cực của dân chúng: Mỗi bữa, ông ăn ít hơn một chút để dành mớ gạo thừa ấy cho “đồng bào”. Quan tâm đến giấc ngủ của từng người bộ đội: Nửa đêm dậy đi dém mùng cho từng người. Quan tâm đến nỗi khách phụ nữ đến thăm, ông hỏi ngay là có mắc đái không để ông chỉ nhà vệ sinh cho!

Trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh kể, nguyên văn:

"Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

FB Nguyễn Hưng Quốc: Tất Cả Đều Là Nạn Nhân

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).
Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Nguyễn Hưng Quốc: Văn Học Miền Nam Trong Tiến Trình Hiện Đại Hoá Của Văn Học Dân Tộc

Ở thời điểm hiện nay, 45 năm sau ngày miền Nam sụp đổ, nhìn lại nền văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, chúng ta thấy gì? 

Theo tôi, có ba điều dễ thấy và dễ được công nhận nhất:

Thứ nhất, chưa bao giờ, trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, có một nền văn học nào đối diện với nhiều bất hạnh đến như vậy. Nói theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học bắt đầu bằng một cuộc di cư (từ miền Bắc vào miền Nam) và kết thúc bằng một cuộc di tản (từ Việt Nam ra hải ngoại).[1] Đó cũng là hai mươi năm đầy chiến tranh và loạn lạc. Tuy nhiên, tính chất bất hạnh ấy được thể hiện rõ nhất ở thời điểm sau năm 1975. Bất hạnh ấy đến từ cả một hệ thống chính quyền đầy quyền lực và cũng đầy thù nghịch. 


Ngay sau tháng 4, 1975, trước khi đóng cửa các cơ sở kinh doanh, chính quyền mới đã ra lệnh đóng cửa tất cả các tờ báo, các nhà in, các nhà xuất bản, các nhà phát hành và các nhà sách; trước khi tịch thu tài sản của những người bị xem là tư sản mại bản, chính quyền đã ra lệnh tịch thu hoặc tiêu huỷ sách báo từng được xuất bản ở miền Nam trước đó; trong lúc vẫn thừa nhận kinh tế có 5 thành phần (nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), chính quyền mới chủ trương, trong văn học nghệ thuật, chỉ có một thành phần duy nhất, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, do họ kiểm soát chặt chẽ; và, cuối cùng, cùng lúc với việc bắt bớ các sĩ quan và công chức thuộc chế độ cũ đi học tập cải tạo, chính quyền cũng ráo riết lùng bắt các cây bút từng lên tiếng phê phán và chống đối lại họ. Trong nhà tù, các nhà văn, nhà thơ và nhà báo thường bị án lâu nhất; nhiều người (như Thảo Trường, Phan Nhật Nam, Tô Thuỳ Yên và Trần Dạ Từ) bị giam giữ trên 10 năm, lâu ngang ngửa với những người thuộc cấp tướng trong quân đội miền Nam.