Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Công Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Công Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Nguyễn Công Khanh: Đầu Năm Nói Chuyện - Đi Tìm Bản Sắc ( Phần 1)

Có những người bạn, lâu lắm anh không gặp, nhiều người có lẽ từ ngày rời nước ra đi.  Khi gặp nhau, anh và họ thường dùng những giây phút đầu, nhìn nhau từ đầu tới chân, rồi cả hai cùng thốt lên: "Trông vẫn thế, không thay đổi gì cả", nghĩa là Việt Nam vẫn hoàn toàn Việt Nam.

Sự thật, qua nhiều năm trời xa xứ, anh và mọi người cũng không thay đổi là bao. Tuy tóc anh có nhiều sợi bạc thêm, mặt anh có nhiều nếp nhăn hơn, và dù anh có ăn nhiều bánh mì, nhiều thịt cá Mỹ hơn, nhưng cũng chẳng giúp anh giống Mỹ thêm được chút nào.


Ngay cả cách sống, khi bước vào nhà, trong nhiều năm, có thể thấy ngay những bức tranh trên tường, những tấm lịch dù có thay đổi hàng năm, nhưng vẫn là những hình ảnh muôn đời của Việt Nam. Vẫn những hàng thùy dương trên cửa Thuận An, Sa Huỳnh, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu...Vẫn những đồng lúa xanh của miền Nam với sóng lúa chẩy vờn nhau tới mãi chân trời. Vẫn những con thuyền nhỏ nặng trĩu trái cây, xuôi giòng bình yên giữa hai hàng cây xanh bên bờ kinh lạch đỏ đất phù sa. Vẫn những cồn cát mênh mông, óng ả không dấu chân người. Vẫn những thắng tích: Hòn Phụ Tử Hà Tiên, Lăng Ông, Chợ Bến Thành, Thánh Thất Cao Đài, Tháp Bà, Cầu Đá, Hòn Chồng, Lăng Tự Đúc, Cột cờ Đông Ba, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly... Còn nữa, còn thêm nữa, những cảnh Tháp Rùa, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Một Cột, cánh buồm trên vịnh Hạ Long...


Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Nguyễn Công Khanh: Đi Lễ Giao Thừa

Seattle_-_Viet_Nam_Buddhist_Temple_01
Chùa Việt Nam ở Seattle, Hoa Kỳ

Bao nhiêu năm ở Seattle và dù không phải là Phật tử thuần thành, nhưng lễ Giao Thừa nào vợ chồng con cái chúng tôi cũng có mặt tại chùa Việt Nam, ngôi chùa đầu tiên của thành phố.

Chiều cuối năm chúng tôi dọn dẹp nhà cửa đón Tết, bầy bàn thờ, sắp mâm cơm cúng, thắp hương mời tổ tiên về cùng ăn Tết với con cháu. Vợ chồng chúng tôi theo ảnh hưởng của các cụ xưa, nên không quên cúng cả vàng bạc tiền giấy, mặc dầu không biết các cụ ở bên kia thế giới có dùng được hay không. Dần dần thành thông lệ. Các con tôi khi còn nhỏ rất thích thú được tham gia việc đốt vàng như một trò chơi. Nay đã trưởng thành, làm việc trong các ngành khoa học, giáo dục, ngoại giao mà khi đi tảo mộ, các con tôi cũng đốt vàng tiền, chắc là để làm yên lòng chúng tôi? 


Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2022

Nguyễn Công Khanh: Thầy Doãn Quốc Sỹ

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ  là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm  thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không  gọi là “Giáo sư” như những năm sau này.  Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”.

Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia  cho biết thầy chỉ dậy ở trường Chu Văn An có một năm 5253, sau khi thầy  dậy ở Nam Định một năm 5152. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 5360. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54. Không hiểu niên học 5354, trước khi di cư thầy dậy ở đâu. Chắc phải kiểm chứng lại mạng này, và đó là một câu hỏi tôi cần tìm  hiểu.

Trường Chu Văn An là hậu thân của trường Bưởi. Trường Bưởi ở khu Hồ Tây, bên cạnh đường tầu điện từ bờ Hồ Hoàn Kiếm qua Thụy Khuê đến trạm cuối là chợ làng Bưởi. Tôi chưa được vào xem trường này, chỉ ngồi nhìn từ trên xe điện. Nhất là sau này trường bị chiếm và là hậu cứ của lính nhẩy dù Pháp.


Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2022

Nguyễn Công Khanh: Trở Lại Chiến Trường Xưa

Tướng Marcel Bigard                                      Tướng Ngô Quang Trưởng

Hai vị dũng tướng, Marcel Bigeard của Quân đội Viễn Chinh Pháp và tướng Ngô Quang Trưởng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cùng bại trận trong hai cuộc chiến mà lần nào cũng làm thay đổi vận mạng của Việt Nam. Hai ông cùng có ý nguyện cuối cùng là sau khi qua đời, tro của mình sẽ được đem về rải tại chiến trường xưa.

Tướng Marcel “Bruno” Bigeard (1916-2010) là một sĩ quan Pháp đã tham dự ba cuộc chiến tranh: Thế chiến Thứ Hai, Chiến Tranh Đông Dương trong đó có trận Điện Biên Phủ và trận chiến Algeria. Ông xuất thân từ lính động viên binh nhì, 30 năm sau qua các chiến trận, hoàn thành binh nghiệp ở cấp tướng.Ông đã được chỉ định làm Tổng Trưởng Quốc Phòng một thời gian. Sau đó giải ngũ và ông được bầu là dân biểu trong Quốc Hội Pháp. Ông có 16 tác phẩm liên quan đến chiến tranh, đặc biệt nhất là chống du kích.

Năm 1945, lần đầu ông được phái đến Đông Dương, trong đó có nhiệm vụ huấn luyện Dân Quân Thái tại biên giới Lào chống lại sự xâm nhập của Việt Minh.Ba năm sau ông trở lại Việt Nam lần thứ hai để chỉ huy tiểu đoàn Thái, sau đó là tiểu đoàn Đông Dương vùng cao nguyên. Ông đã tham dự nhiều trận đánh tại Bắc Việt.

Tháng 11 năm 1953, ông chỉ huy Tiểu đòan Nhẩy Dù tham dự trận mở màn Điện Biên Phủ. Tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn Dù của ông trở lại, để tăng cường cho các căn cứ đang bị bao vây. Lòng quả cảm, tài mưu lược của ông đã giúp chặn lại nhiều cuộc tấn công vũ bão của đối phương. Ông được thăng Trung Tá tại mặt trận. Nhưng cuối cùng ngày 7 tháng 5 năm 1954 Điện Biên thất thủ, ông đã cùng mười ngàn đồng đội bị bắt cầm tù. Ba tháng sau ông được hồi hương.

Ông mất ngày 18 tháng 6 năm 2010, và là một trong những người được tặng huân chương nhiều nhất. Ý nguyện cuối cùng là tro của ông sẽ được rải xuống Điện Biên Phủ, nơi ông thất trận bỏ lại những đồng đội đã ngã gục nằm ở đó trong bao lâu nay.


Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Nguyễn Công Khanh: Hà-Nội Nửa Đêm

Chưa có một bài thơ nào cho tôi thấy cả tuổi thơ Hà Nội của tôi như bài thơ “Chia Nhau Hà Nội” của Trần Mộng Tú :

                  CHIA NHAU HÀ NỘI            

            Em gửi cho anh 

            chiếc lá bàng cuối thu Hà nội 

            hồi chuông giáo đường 

            buổi sớm tinh mơ 

            góc phố Nhà Chung có bầy sẻ nhỏ 

            một con rất gầy 

            đứng hót ngu ngơ 

            Em gửi cho anh 

             tơ tầm mới dệt 

             giăng từ Hàng Đào đến phố Hàng Bông 

             khúc lụa trắng ngả sang 

             mầu nguyệt bạch 

             sợi dệt ngang như mây vắt 

             trăng rằm 

 

             Em gửi cho anh 

             ly cà phê buổi tối 

             mùi ngô non 

             nướng dưới cột đèn 

            mảnh than nhỏ sưởi mùa thu 

            sắp hết 

            hơ gót chân ai 

            hồng giữa phố đêm 

 


Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Nguyễn Công Khanh: Câu Chuyện Của Một Người Chị

Hoa Thu. 1951

Như là một cuốn truyện hư cấu, nhưng lại là một truyện thật, và câu chuyện này đã kéo dài bẩy chục năm.

Chị sinh năm 1926, năm nay đã 95 tuổi. Chị hơn tôi 10 tuổi. Với từng đó tuổi, vào những quãng thời gian đó, chị đã đi vào những biến cố xa hơn tôi rất nhiều.

Chúng tôi đều sinh ra trong thời nước Việt Nam còn có vua, nhưng lại là thuộc địa của người Pháp. Tôi nhớ lại thời đó là một thời thanh bình. Rồi chúng tôi đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh triền miên suốt hơn ba mươi năm trời.

Đệ Nhị Thế Chiến 1939-45, quân Nhật tràn vào Đông Dương lật đổ người Pháp. Trên trời thì máy bay Mỹ dội bom xuống doanh trại của lính Nhật và phá hủy các trục lộ giao thông. Cùng chứng kiến cảnh hai triệu người chết đói ở các làng quê và một số đông đã lần về thành phố Hà Nội mong có miếng ăn, nhiều người nằm chết la liệt hàng ngày trên các đường phố. Nguyên do lính Nhật cấm nông dân trồng lúa và phải trồng các cây phục vụ cho kỹ nghệ chiến tranh của họ.

Thế chiến chấm dứt, cả một sư đoàn quốc quân Tầu chuyển sang giải giới quân Nhật. Rồi Cộng Sản đội lốt Việt Minh lợi dụng tình thế cướp chính quyền, phá bỏ chế độ quân chủ, diệt trừ các đảng quốc gia đối lập. Người Pháp quay lại Đông Dương, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, kéo dài nhiều năm 1946-54. Pháp thua trận Điện Biên Phủ, rút khỏi Việt Nam. Đất nước chia đôi. Chúng tôi sợ Cộng Sản, đấu tranh giai cấp, diệt trừ những người mà họ liệt vào hàng địa chủ, tiểu thương, phản động diễn ra thật là khủng khiếp. Gần triệu người rời bỏ miềnBắc, di cư vào Nam  tìm tự do và đã hưởng được những năm đầu an bình và thịnh vượng ở đó.

Không bao lâu, cuộc nội chiến tương tàn lại bắt đầu giữa Bắc-Nam. Miền Bắc được cả một khối Cộng Sản khổng lồ kiên trì hỗ trợ, miền Nam được Hoa Kỳ mang quân vào chống lại. Cuộc chiến tranh kéo dài hai mươi năm, hơn một triệu lính chết, mấy triệu thường dân bỏ mạng. Nước Mỹ cuối cùng bỏ cuộc và ngưng yểm trợ cho miền Nam, khiến cho Cộng Sản miền Bắc thôn tính cả đất nước năm 1975.

Một lần nữa chúng tôi lại cố thoát khỏi Cộng Sản bất chấp nguy hiểm. Mỗi người tìm đường vượt biển một cách. Cuối cùng Hoa Kỳ đã chấp nhận cho tị nạn. Chúng tôi đã trở thành công dân Mỹ, và đã sống ở đây đến nay đã hơn 45 năm rồi. Cuộc đời biết bao nhiêu biến đổi, mất mát trắng tay.

*

Trở lại chuyện của chị. Những năm cuối đời, sau khi chồng mất, chị cư ngụ một mình trong một căn cao ốc của các cao niên trong thành phố tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Vốn thích văn thơ, lãng mạn chị sống lại cái quá khứ của một thời. Chị bắt đầu soạn lại tác phẩm kịch thơ mà chị đã giúp viết chung với một người và viết hồi ký.


Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2021

Nguyễn Công Khanh: Qua Thiên Sơn… Đi Trên Đường Tơ Lụa Cũ, Mới

 “Qua Thiên Sơn kìa ai chén rượu vừa tàn…” Đó là một câu trong Hòn Vọng Phu, bản trường ca bất hủ của nhạc sĩ Lê Thương, gồm ba bài sáng tác từ năm 1943 đến 1947. Một trong những bản trường ca đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam.

Lê Thương đã nghiền ngẫm đề tài người chinh phu từ lâu trước khi sáng tác. Theo Net, nhạc sĩ đọc thuộc “Chinh Phụ Ngâm”, cả nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn và bản dịch chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm. Ngoài ra, Lê Thương đã bắt gặp nhiều hình tượng người chinh phụ ngoài đời thực. Nàng Tô Thị bồng con chờ chồng đến nỗi hóa thành đá ở Lạng Sơn, người chinh phụ trên núi Đá Bia, ở Phú Yênphía đông đèo Cả, thậm chí là cả Vọng Phu Thạch ở Trung Quốckhi ông vượt qua biên giới Việt Trung. Tất cả những hình tượng này đều khiến Lê Thương đưa ra một chiêm nghiệm: Dù ở phương trời nào, chiến tranh luôn gây ra nỗi đau đè nặng lên người phụ nữCảm xúc đó đã khiến nhạc sĩ xúc động sâu sắc để viết bộ ba bài hát Hòn Vọng Phu.


Đoàn Thị Điểm đã viết trong đoạn mở đầu Chinh Phụ Ngâm:

“Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

Chín tầng gươm báu trao tay

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh”

Tất cả những cảnh bi hùng trong Chinh Phụ Ngâm đều đã ẩn hiện trong trường ca Hòn Vọng Phu của Lê Thương:

“Lệnh vua hành quân trống kêu dồn,
Quan với quân lên đường,
Đoàn ngựa xe cuối cùng,
Vừa đuổi theo lối sông.
Phiá cách quan xa trường,
Quan với quân lên đường,
Hàng cờ theo trống dồn
Ngoài sườn non cuối thôn,
Phất phơ ngậm ngùi bay. 


Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

Nguyễn Công Khanh: Đọc Lại “Đôi Bạn” Của Nhất Linh

DOI BAN - nhatlinh- NgCongKhanh

Để nhớ Nhật Thịnh

Trong thời niên thiếu, anh cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến anh nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của anh. Trong nhóm đó, Nhất Linh được anh coi như một mẫu người lý tưởng, một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức anh. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của anh mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành. Trong những năm cuối cuộc đời, ông xa lánh cảnh trần tục, như một tiên ông quy ẩn bên dòng suối Đa Mê của rừng lan Đà Lạt.

Anh thích đọc truyện của Nhất Linh, vì theo nhà văn Nhật Thịnh, trong cuốn “Chân Dung Nhất Linh”, một cuốn sách biên khảo dầy trên 200 trang, chữ nhỏ, in trước năm 1975, với nhiều tài liệu mà anh cho là một trong những cuốn sách đầy đủ nhất về Nhất Linh. Nhật Thịnh viết, Nhất Linh thường nói tới "Những con người bị dìm sâu xuống, muốn vươn lên, và những khúc mắc của tâm hồn mỗi con người". Nhất là quyển "Đôi Bạn", anh đã đọc đi, đọc lại nhiều lần, có hình ảnh Dũng và Loan trong đó. Họ cùng hiểu nhau, cùng yêu nhau, tình yêu của họ lúc xa, lúc gần dù cho tới một buổi chiều cuối cùng chia tay trên đồi cỏ may, hai người vẫn thấy tình yêu của họ sao mà nghiêm trọng đến nổi không ai dám nói cho nhau biết. Dù Dũng biết rằng đây có thể là lần cuối, chàng có thể ngồi cạnh Loan bên bờ giếng khơi, có thể ngửi được mùi quê hương nồng ấm trong cơn gió đưa thoảng lên từ dưới cánh đồng lúa chín xa, có thể nhìn thấy những con châu chấu xanh, những con cào cào cánh xanh đỏ của thời thơ ấu bay qua trước mặt rồi lẫn vào đám cỏ xanh. Ngay cả đến Loan, nàng cũng biết rằng sắp phải xa Dũng, dù biết rằng Dũng ra đi chắc gì đã thoát được như một số bạn của chàng. Dù biết rằng, chắc gì đã có ngày gặp nhau, và ngày mai thì Dũng đã ở một nơi nào đó mà nàng chỉ có thể tưởng tượng nghe tiếng vó ngựa mơ hồ và hình ảnh Dũng bạt vào cảnh núi rừng biên giới mịt mù xa xăm...

Anh nhớ lại một buổi sáng, tuần trước. Anh lái xe thẳng đến một quán cà phê ở phố chợ, tìm một chổ sát khung cửa, ngồi nhìn xuống cả một vũng biển bao la. Sáng sớm quán còn vắng người. Trong cái yên lặng của mặt biển mùa thu, anh nhấm một chút cà phê và giở đoạn cuối cuốn truyện ra đọc. Anh có thói quen khi đọc những cuốn mà anh thích, anh thường đọc từng chữ và từ từ để từng ý thấm vào hồn. Trong tất cả những truyện thời đó, "Đôi Bạn" đã cho anh thấy một cái gì khác biệt hơn các tiểu thuyết thường tình. Có lẽ là một cái gì rất mơ hồ về sự áp bức và cách mạng, về sự ra đi và hành động.

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2020

Nguyễn Công Khanh: Đi Tìm Bản Sắc (Tiếp theo và hết)

Tối đó, anh trở về nhà, nằm thao thức không ngủ. Nghĩ đến ngày trở về quê hương, sao mà thấy khắc khoải; có lúc, biết bao nhiêu người đều muốn rời bỏ quê hương; "Ngay cả cái cột đèn nếu biết đi còn muốn bỏ nước ra đi", tự nhiên anh thấy thấm đau hơn. Anh nghĩ đến những đứa con anh đem đi từ bên kia Thái Bình Dương, và những đứa con của chúng sau này. Chúng sẽ là cháu, là chắt... của anh. Chúng có sẽ bị trận cuồng phong kéo đi mất hay không? Chúng có còn muốn giữ nguồn gốc không? Chúng có tìm được bản sắc của chúng không? Chúng có bị bỏ quên không? Chúng có bị nhìn lầm không? Chúng có thể hội nhập vào giòng sông chính mà vẫn tự hào về di sản của tổ tiên không? Chúng có còn muốn trở về quê hương Việt Nam không? Và khi chúng muốn trở về, những người bên nhà có mở rộng vòng tay như đón những đứa con, đón những người anh em lưu lạc từ bao năm hay không? Chúng có sẽ là một kẻ lạ trên chính quê hương của tổ tiên chúng hay không? Chúng có bị khinh thị, bị lạc lõng như con cháu của người di dân Nhật khi trở về Nhật hay không?

 

Ngay cả chính anh nữa, anh vẫn tin là anh vẫn không thay đổi so với ngày rời nước ra đi. Nhưng dầu sao đời sống vật chất cũng ảnh hưởng đến anh và mọi người không ít. Trong khi đó hình ảnh của anh và những người ở lại có còn giống nhau như trước ngày rã đám tan hàng hay không? Những cảm nghĩ của họ và của anh có còn giống nhau sau hàng mấy chục năm trời xa cách hay không? Đó là chưa nói đến những sự thù nghịch về chính kiến, những mối hận về tù đầy không hiểu đến bao giờ mới phai nhòa được.  

 

Anh không muốn nghĩ thêm nữa, và choàng dậy gọi điện thoại cho một người bạn. Người bạn này thân với anh hồi còn ở trung học, sau này thành giáo sư, suốt đời chỉ vùi đầu vào những chồng sách cổ.  Người bạn mà được anh coi như một cây tra cứu, mỗi lần anh muốn tìm dấu vết của các vấn đề cổ xưa. Sau khi sang đây, bạn anh vẫn còn say mê với cái thú đó; sách vở tàng trữ trong nhà ông ta như một cái thư viện nhỏ. Như một cái máy, ông ta trở ngược lại bốn ngàn năm. Từ cái thuở rồng tiên gặp nhau, đời Xích Quỷ, Kinh Dương Vương, gặp Long Nữ, từ dấu chân Bách Việt, Tây Tạng theo sông Hồng Hà đi xuống, từ Nam Dương vượt Biển đi lên... miên man bất tận đưa anh xuôi đường vào giòng lịch sử. Chắc cả đêm nay, nếu có chợp mắt được lúc nào, thì hồn ông ta sẽ bay bổng về thời Văn Lang, Hồng Bàng qua Đinh, Lê, Lý, Trần... hay lẩn quẩn bên các kệ sách trong phòng. Anh mong bạn, ngày mai đầu óc đừng có để đâu đâu, đến sở làm nhìn việc này ra việc khác thì phiền lắm.

 

                                                                                  *

 

Hai hôm sau, khi đi làm về, nghe tiếng điện thoại, anh chắc là của bạn. Khi anh vừa lên tiếng trả lời thì bạn anh bắt đầu ngay như một bài luận thuyết:

 


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

Nguyễn Công Khanh: Đi Tìm Bản Sắc

Có những người bạn, lâu lắm anh không gặp, nhiều người có lẽ từ ngày rời nước ra đi.  Khi gặp nhau, anh và họ thường dùng những giây phút đầu, nhìn nhau từ đầu tới chân, rồi cả hai cùng thốt lên: "trông vẫn thế, không thay đổi gì cả", nghĩa là Việt Nam vẫn hoàn toàn Việt Nam.


Sự thật, qua nhiều năm trời xa xứ, anh và mọi người cũng không thay đổi là bao. Tuy tóc anh có nhiều sợi bạc thêm, mặt anh có nhiều nếp nhăn hơn, và dù anh có ăn nhiều bánh mì, nhiều thịt cá Mỹ hơn, nhưng cũng chẳng giúp anh giống Mỹ thêm được chút nào.

 

Ngay cả cách sống, khi bạn anh bước vào nhà, có thể thấy ngay những bức tranh trên tường, những tấm lịch dù có thay đổi hàng năm, nhưng vẫn là những hình ảnh muôn đời của Việt Nam. Vẫn những hàng thùy dương trên cửa Thuận An, Sa Huỳnh, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu... Vẫn những đồng lúa xanh của miền Nam với sóng lúa chẩy vờn nhau tới mãi chân trời. Vẫn những con thuyền nhỏ nặng trĩu trái cây, xuôi giòng bình yên giữa hai hàng cây xanh bên bờ kinh lạch đỏ đất phù sa. Vẫn những cồn cát mênh mông, óng ả không dấu chân người. Vẫn những thắng tích: Hòn Phụ Tử Hà Tiên, Lăng Ông, Chợ Bến Thành, Thánh Thất Cao Đài, Tháp Bà, Cầu Đá, Hòn Chồng, Lăng Tự Đúc, Cột cờ Đông Ba, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly… Vẫn hình ảnh những cụ già tóc trắng như tiên, những bà mẹ hiền lòng bao la như biển cả. Những trẻ thơ ngoan ngoãn, hy vọng tựa măng non. Những thiếu nữ trong sáng bên hoa đào ngày xuân. Những nông dân say sưa đập lúa trong ngày mùa. Những dân chài mình trần bóng nhẫy, kéo lưới buổi bình minh. Những chiến sĩ phong sương, kiêu hùng. Những cô phụ với giọt nước mắt long lanh ướt chiếc thẻ bài.

 

Tại phòng khách, có thể tìm thấy một vài số báo Việt ngữ, với các tin tức của cộng đồng Việt Nam tại các địa phương, những tin tức từ Việt Nam, từ các nơi khác trên thế giới, những truyện ngắn, những bài thơ... Cũng không khó khăn gì khi muốn tìm một vài cuốn tiểu thuyết tiền chiến hay hiện đại.

 


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

Nguyễn Công Khanh: Marquez, Người Của “Trăm Năm Cô Đơn”

Nếu con gái và con rể chúng tôi không chuyển đến đó làm việc thì chắc chúng tôi không bao giờ nghĩ đi đến nơi đó. 

Khi chúng tôi báo cho bạn bè biết là chúng tôi sẽ đi thăm gia đình con gái ở Colombia thì có nhiều người lo ngại vì xứ đó là một nơi hỗn loạn, chiến tranh ma túy, giết người như ngóe, nhưng cũng có người gây hứng thú cho chúng tôi, vì đó là nơi mà là một nhà văn được giải Nobel với tác phẩm “Trăm Năm Cô Đơn”, cái tên truyện khá hấp dẫn được cả thế giới biết đến của nhà văn Grabiel Garcia Marquez. 

Trong thời gian nhiệm kỳ ba năm của con rể tôi, chúng tôi đã đến thủ đô Bogota, của Colombia hai lần. Lần nào cũng ở đó đến mấy tuần, tạm đủ để đi thăm nhiều nơi trong thành phố và một vài vùng lân cận. Bogota nằm trên cao độ 8660ft so với mặt biển, nên khí hậu lúc nào cũng êm dịu. Là một trong những thành phố lớn nhất của Châu Mỹ La tinh, dân số hiện nay ước chừng 8 triệu người, từng được mệnh danh là “The Athen of South America”. 

Dân số Colombia trên 50 triệu người. Diện tích khoảng 440.000 square miles, (So với Việt Nam dân số trên 97 triệu và diện tích là 127,882 square miles). Hầu hết theo đạo Thiên Chúa. Tỷ số đô thị hóa khá cao 80% , còn lại 20% sống tại nông thôn. Lợi tức cá nhân rất xa cách. Thành phố mở rộng ra ngoài ven đô với nhiều cao ốc, trong khi đó, nhiều nơi đồng ruộng chúng tôi đi qua bỏ hoang, xác xơ. Xứ này, sản xuất dứa, thơm đứng hàng thứ 10 thế giới, avocado hàng thứ 5, về hoa xuất cảng sang Mỹ khá nhiều thường thấy trong các siêu thị lớn.


Trong thập niên 1990, Columbia từng bị liệt là một thành phố có nhiều tội phạm nhất thế giới, với tỉ lệ là 81 người bị giết trên 100,000 người. Nhờ chính sách “Communidad Segura”(safe community) thành công, tỉ lệ này ngày càng hạ xuống thấp chỉ còn là 25 trong năm 2018. Tại Mỹ, đứng đầu là Delaware 11.7, Louisana 11.4. trong khi đó California 4.4. Trên thế giới đứng đầu là Lesotho 41.25, Hondura 38.93, South Africa 36.40. Tuy nhiên, đối với nhiều người bên ngoài, nỗi ám ảnh về hình ành cũ của Colombia vẫn chưa tan hẳn. Ma túy vẫn là nỗi bất an, đồng thời cũng là nguồn thu nhập của xứ này.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

Nguyễn Công Khanh: Hai Người Bạn - Một Thời Trung Học

Hà Dương Dực – Nguyễn Ngọc Giao

Hà Dương Dực (1936 – 2020)
Đọc bài anh Nguyễn Ngọc Giao viết về Hà Dương Dực trên báo Diễn Đàn online bên Pháp,mà anh là chủ biên. Hai người này tôi đều có dịp học chung trong thời trung học mấy năm. Chúng tôi bây giờ cũng đã ngoài 80 cả rồi.

Kể lại chuyện xưa, tôi xin dùng văn chương học trò. Tôi học cùng lớp với Giao ba năm tại trường Chu Văn An ở Hà nội, từ Đệ Thất đến Đệ Ngũ B3, từ 1951 đến 1954 khi đất nước chia đôi. 

Nhớ lại ngày trước, tôi hồi cư trở lại Hà Nội muộn, mất bốn năm theo cha tôi ở vùng Kháng Chiến. Lúc đó tôi làm liên lạc viên cho cơ quan Kinh Tế Tài Chánh Liên Khu 3, vì an ninh phải di chuyển khắp mấy tỉnh trong vùng trung du. Mẹ tôi về Hà Nội trước và cho người ra đón tôi về thành. Năm sau mới đón được bố tôi trở về. Mười lăm tuổi, tôi chưa có bằng Tiểu Học, nên học ngày học đêm, đỗ xong được Tiểu Học lại thi được vào Đệ Thất trường Chu Văn An và được cấp học bổng vì gia cảnh. Quá may mắn.

Tôi hơn tuổi, lại cao hơn nhiều bạn nên những năm đó tôi đều phải ngồi ở bàn cuối. Tôi còn nhớ một số bạn, nhưng nhớ nhất là tên mấy người bạn trong nhóm làm bích báo của lớp: Nguyễn Cự, Nguyễn Thượng Hiệp, Ngô Quang Vỹ, Nguyễn Ngọc Giao và tôi. Cự ở lại Hà Nội. Hiệp cũng là một trong những người bạn thân của tôi suốt đời như Dực. Năm cuối ở Hà Nội tôi với Hiệp thường lang thang đạp xe cả ngày trên các khu phố; tối đến tôi hay đến ngủ tại nhà Hiệp, một ngôi nhà cổ bên bờ hồ Trúc Bạch. Hiệp đã mất tại California nhiều năm qua và trong những ngày cuối, tôi từ Seattle đã đến thăm Hiệp trong viện dưỡng lão. 

Tôi nhớ có lần Hiệp nói với tôi, khi Hiệp theo phái đoàn VNCH sang hiệp thương tại Paris năm 72, có đến tìm gặp Giao, khi đó Giao đã ngả nặng theo phía Cộng từ lâu.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Nguyễn Công Khanh : Trở Lại Đảo Xưa 

Bãi biển Phú Quốc. Hình HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images

Mãi tới năm 2010, hơn 45 năm sau, kể từ năm 1965, ngày rời nhiệm sở, chúng tôi mới có dịp quay lại Phú Quốc. 

Chuyến bay hôm đó, ngồi trong một máy bay cánh quạt của Nga, gần giống như máy bay DC3 thời xưa của Air Vietnam, nhưng xập xệ hơn nhiều. Bầu trời vẫn xanh, nắng vẫn rực rỡ, những đám mây vẫn trắng tinh. Phía dưới những thị trấn nhỏ mới mọc lên bên các nhánh Cửu Long Giang. Ruộng đồng xanh mát không còn những hố bom đạn loang lổ như ngày xưa. 

Phi cơ bay thẳng từ Saigon ra Phú Quốc, không ghé phi trường Rạch Sỏi để đón thêm khách như ngày trước. Nhìn xuống, biển vẫn xanh, sóng bạc đầu vẫn vỗ trắng vào ven đảo. Phi trường nay là một tòa nhà hai tầng, có đường chuyển hành lý tự động ngắn. Phòng đợi trên lầu có máy lạnh và tấng dưới là những quầy hàng, bán những đặc sản địa phương. 

Xe chở đoàn du lịch vào thị trấn Dương Đông và ra thẳng ngôi đền thờ Dinh Cậu, nơi mà ngày trước, khi mới đến đảo nhận việc tôi được nhân viên đưa đến trình diện Cậu để được ban phước lành. Khi ra ngoài đứng trên bao lan nhìn quanh, biển vẫn rộng, xanh mát như ngày xưa, chỗ cửa sông có lần tôi đã bơi ra xa đến chỗ cọc mốc mà một ông lão đã bảo cho tôi phải coi chừng cá mập. Mỏm đá hình cá sấu vẫn nguyên vẹn hướng về cuối đảo. Nhìn sang phía xóm Cồn mà tôi đã để cho ngư dân Bình Định tránh chiến tranh di cư vào tạm trú ở cuối cồn, nay nhà cửa chen lấn ngổn ngang. Cái tên Bình Định mà tôi đặt tên cho cái xóm đó, đến nay họ vẫn giữ. Chỉ tiếc cái cồn cát dài trắng xóa nên thơ đó không còn nữa. 

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

ĐI LỄ GIAO THỪA

Nguyễn Công Khanh

Hơn ba mươi năm ở Seattle và dù không phải là Phật tử thuần thành, nhưng lễ Giao Thừa nào vợ chồng con cái chúng tôi cũng có mặt tại chùa Việt Nam, ngôi chùa đầu tiên của thành phố.

Chiều cuối năm chúng tôi dọn dẹp nhà cửa đón Tết, bầy bàn thờ, sắp mâm cơm cúng, thắp hương mời tổ tiên về cùng ăn Tết với con cháu. Vợ chồng chúng tôi theo ảnh hưởng của các cụ xưa, nên không quên cúng cả vàng bạc tiền giấy, mặc dầu không biết các cụ ở bên kia thế giới có dùng được hay không. Dần dần thành thông lệ, các con tôi khi còn nhỏ rất thích thú được tham gia việc đốt vàng như một trò chơi. Nay đã trưởng thành, làm việc trong các ngành khoa học, giáo dục, ngoại giao mà khi đi tảo mộ, các con tôi cũng đốt vàng tiền, chắc là để làm yên lòng chúng tôi?

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Cà Phê Givral, Cà Phê Seattle

Nguyễn Công Khanh

(Tiếp theo và hết)

Khi sang Mỹ, tôi làm cho một cơ quan giúp tìm việc cho người tị nạn.

Công việc nhẹ nhàng, sở lại cung cấp cà phê miễn phí, nên tay tôi lúc nào cũng cầm ly cà phê thành một thói quen, dù không uống; đến khi nguội lại thay ly khác. Cô thư ký lúc đó pha rất ngon đúng vị, khi cô thôi việc, cô khác thay thế pha cà phê đắng ngắt, làm tôi mất vị trong nhiều năm. Sau này tôi lại uống cà phê không đường như một số người Mỹ.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Cà Phê Givral, Cà Phê Seattle

Nguyễn Công Khanh

Ai nghe thấy tên thành phố Seattle đều ngán về cái mưa dai dẳng, một năm gần sáu tháng trời. Biểu tượng của Seattle là một người cầm dù.
Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc
Anh có về gọi nắng đến cho em…(thơ Trần Mộng Tú)


Vậy mà chúng tôi đã ở thành phố Seattle hơn 35 năm qua.