Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Tùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Tùng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

Nguyễn Đức Tùng: Những năm hai ngàn

Thành phố Gisborne ở Tân Tây Lan, dân số hơn ba mươi ngàn, là thành phố đầu tiên trên trái đất đón chào ngày đầu tiên của thiên niên kỷ mới, ngày 1 tháng 1 năm 2000. Con người bắt đầu nghĩ tới Thiên đàng. Nhiều người nghĩ là sẽ có những chuyến bay tới đó.

Năm hai ngàn, người Nhật tin rằng phát minh ra mì gói là đóng góp lớn nhất của họ đối với nhân loại, trong thế kỷ hai mươi.

Thì không phải vậy sao? 

Thời sinh viên, nếu không có mì gói, instant noodle, trước kia ở miền Nam gọi là mì Đại hàn, tôi có sống được không? 

Không. Những năm hai ngàn không thể nào quên Margaret Atwood, The blind assassin, Kẻ sát nhân mù lòa, Kazuo Ishiguro, When we were orphans, Khi chúng ta là những đứa trẻ mồ côi, Anne Carson, Martin Amis, Stephen King, Philip Roth, Alice Munro, Kenzaburo Oe, T.C. Boyle, Salman Rushdie, Joan Didion, Lorrie Moore.

Tại sao đọc? 


Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

Nguyễn Đức Tùng: Xập xòe én liệng

Thuở đó anh ngoài hai mươi tuổi. Buổi chiều mùa xuân chạy xe Honda từ Xuân Lộc về Sài gòn, sau khi đi thăm một người em ở đó, gặp mưa mau sấm chớp. Mưa trái mùa, xuất hiện khi đã vào mùa khô là do bão xa, gây mưa kéo dài hai ba ngày.

- Đoạn đường miền Đông có nhiều khúc thật đẹp, bạn nhớ không?

- Nhưng mà khúc nào mới được chớ?

- Vừa ra khỏi Xuân Lộc, theo quốc lộ một, mình gặp rừng đất đỏ bạt ngàn cao su, trước khi đổ vào Hố nai, dọc đường hàng quán núp trong rừng cây, mà những cái quán ấy thú vị, bán nước dừa, cà phê, khách ngồi đu đưa trên võng mà uống.

Hồi ấy buôn cà phê bị bắt nhưng dân bán lẻ đủ sức cung cấp nhu cầu, ai đó sáng chế cà phê vợt, uống cũng được, trộn với bắp rang, cả nước đói khổ có thứ nước màu nâu sẫm bốc mùi thơm đã may lắm, đòi gì nữa? Anh chạy xe một hồi tóc bay mù bụi đỏ thì trời đổ mưa, mưa đột ngột đến nỗi không chạy kịp sẽ ướt từ đầu đến chân. Chớp loằng ngoằng. Anh tấp vội vào lề, rú ga vọt qua khoảng sân cao, tối, bùn nhão, gần như phóng thẳng vào thềm nhà người ta.

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Giữ nắng gìn mưa (Thư gởi con trai)

Có lần cha và mẹ đánh mất con trong đám đông. Lúc con năm tuổi. 

Đó là ngày trước lễ Giáng Sinh, chúng ta dẫn con đi mua sắm. Những cửa hàng đông nghẹt người giờ cuối cùng. Lẽ ra ta phải biết rằng đó là thời khắc cần cảnh giác. Mẹ con dặn kỹ hai cha con đứng đợi một chỗ trước khi đi sắp hàng ở hiệu bán quà, người xếp hàng dài nhiều vòng. Thế rồi một cuộc gọi điện thoại bất ngờ, một chuyện quan trọng gì đó làm ta mất tập trung mấy phút, không, chưa đầy một phút. Không phải, mấy giây thôi, và con biến mất. 

Làm sao con có thể biến mất được? Nhưng đúng như thế. Vì chúng ta đứng sát tường, phía trước là cây cột lớn nên phản ứng tự nhiên là ta gọi lớn lên và chạy vòng quanh cây cột. Không thấy. Chỉ cần không thấy con thôi, tâm trí đã hoảng loạn. Khi bạn hoảng loạn, mọi phán đoán đều sai. Vì người đi dày đặc, không ai có thể chú ý đến ai nên ta buộc phải len lỏi qua hàng người chạy về phía trước, nơi có nhiều khả năng tìm ra con ở đó. Ta càng chạy càng hồi hộp, càng gọi lớn tên con. Có những người quay lại giúp đỡ, nhưng càng không nhìn thấy con đâu, phản ứng tự nhiên làm ta càng di chuyển nhanh hơn. Càng đi nhanh ta càng tưởng rằng sẽ có cơ hội tìm ra con.


Thứ Ba, 27 tháng 12, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Tuyết

Hình minh hoạ, Albina White
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy tuyết. Tuyết thật đẹp, mịn như tơ, rơi trắng đất trời mờ ảo. Đó là đêm chúng tôi hạ cánh xuống phi trường trong dịp lễ Giáng sinh. Máy bay đến trễ bốn giờ vì thời tiết xấu. Trong khi mưa là dòng chảy liên tục của nước thì tuyết là sự ngừng lại, sự hoá thân, sự kết tụ giữa đất trời do nhiệt độ lạnh. Mặc dù nhiệt độ đông của nước là không độ Celsius, tuyết có thể hình thành khi nhiệt độ chạm tới ba độ thậm chí cao hơn do những điều kiện khác. Tuyết là những tinh thể sáu cạnh đều răm rắp như kỷ hà học, vừa tách rời nhau và ép sát vào nhau, khi rơi xuống trên lá cỏ, trên ngọn cây, trên vách tường hay cửa kính, tạo ra những hình dạng biến đổi kỳ ảo. Nhưng vào lúc ấy trong khi thưởng thức vẻ đẹp của tuyết, lần đầu, đẹp điếng hồn, thì chúng tôi cũng ngơ ngác sợ hãi trước mùa đông đầy đe dọa. Một mùa đông khủng khiếp, băng giá, gió thổi liên hồi như tiếng chó sói hú qua các đỉnh đồi trên thảo nguyên. Trời đêm lạnh hai mươi độ âm. Khi xuống đất, trước khi nhận ra rằng không một taxi nào chạy được trong bão tuyết, nhóm người tị nạn chúng tôi đứng rất lâu ở hành lang chờ đợi. Một số người được chính phủ bảo trợ liền có người đến đón, một số người không liên lạc được với gia đình. Tôi tìm cách gọi cho nhà thờ. Tôi đứng trước máy gọi công cộng, lúc ấy mới nhớ ra rằng người ta cần đồng tiền kẽm thả vào cái khe nhỏ mới quay máy được. Tôi không có một đồng tiền hai mươi lăm xu nào như thế cả. Một người đàn ông da trắng trung niên, râu rậm, hoàn toàn im lặng, đứng sau lưng tôi chờ đến lượt dùng máy gọi. Thời ấy không có điện thoại cầm tay như bây giờ, tất nhiên. Thấy tôi lúng túng quá lâu, ông ta hỏi và biết ra tôi không có tiền. Ông đưa cho tôi đồng hai mươi lăm xu (cents) để quay số. Thấy gã thanh niên da vàng gầy nhom mặt đen như bôi nhọ nói tiếng Anh không rõ lắm, broken English, hoa chân múa tay liên tục, ông ta cố gắng giúp đỡ. Cuối cùng khi kết thúc cuộc nói chuyện trên điện thoại và an tâm biết rằng người bảo trợ đang trên đường tới phi trường, tôi quay lại bảo, đến lượt của ông, nhưng ông lắc đầu.


Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Trà chiều

Hình minh hoạc, Pfüderi, Pixabay

Thỉnh thoảng bạn tham dự buổi trà chiều trong những quán trà thanh lịch của người Nhật, người Tàu, người Anh. Bạn nhớ ra rằng khi còn bé, cũng có những buổi như vậy. Sau một ngày giúp việc lặt vặt nhân kỳ nghỉ hè, một ngày đạp xe một mình loăng quăng đường cái quan làng này sang làng khác, bạn dừng lại, dựng xe đạp thềm nhà, mắc áo sơ mi đẫm mồ hôi lên cánh cửa, sau những cơn gió từ đồng lúa, sau tiếng động ồn ào bên đường, bạn ngồi xuống giữa người khác, mình trần, nhắm mắt lại. Bạn nhìn thấy ánh nắng ngả màu vàng nhạt, buồn buồn, chiều tới sớm, mặt trời lấp ló sau lá thưa, bóng nắng di chuyển trên mặt đất thơm hương, mùi lá lúa mới cắt lặng xuống, mùi rơm rạ, tảng đá bốc lửa bay hơi mờ mờ. Trước khi đêm xuống, mọi người tụ tập lại lần nữa trước chia tay. Mọi người nghĩ đến việc ăn và uống một thứ gì. Có người bắc ấm nước lên bếp lửa đun bằng củi sim hay tre nành khô mới lượm. Một người khiêng đâu về rổ bắp tươi mới hái gần sông, bạn tò mò mở mấy lớp vỏ xanh ra coi, những hạt bắp trắng bóng như răng sữa trẻ con, tròn như hạt cườm, mùi thơm của râu bắp mát rượi. 

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Đọc Một Bài Thơ Như Thế Nào

 1. Đọc mỗi lần một chữ

Khi tôi học lớp Năm, có lần được thầy gọi lên bảng đọc cho cả lớp chép một đoạn trích từ cuốn Tâm Hồn Cao Thượng, bản dịch Hà Mai Anh, nguyên tác Edmond De Amicis. Đó là sách dạy chính thức trong nhà trường miền Nam thời ấy. Giờ ám tả, học trò lắng nghe, chép lên giấy. Năm cuối bậc tiểu học, chuẩn bị thi vào trung học, nên bài cũng khó hơn. Phải đọc từng câu, dấu phẩy dừng ngắn, dấu chấm dừng dài, các chữ tiếng nước ngoài phải đọc chậm. Khi thấy tôi luống cuống, chữ nọ xọ chữ kia, thầy bắt dừng lại, đọc chậm, với lời khuyên: em hãy đọc mỗi lần một chữ. Tôi đọc lại.

Sáng nay, chúng tôi vừa vặn có dịp xét đoán anh Garônê.
Giờ vào lớp, ông Perbôni chưa có đấy, ba bốn cậu đang thi nhau chế giễu anh Crôtxi khốn nạn – tức là cậu bé tóc vàng, tay liệt, con bà bán hoa quả. Họ lấy thước đánh cậu, lấy vỏ hạt dẻ ném cậu, họ gọi cậu là con quỉ què và mếu máo giả cách làm người liệt tay. Ngồi trơ một mình ở đầu ghế, cậu thẹn thùng và đưa mắt nhìn người nọ, người kia như để van lơn họ khỏi hành hạ mình. Được thể, bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ và phát run người. Thình lình, Phranti, một đứa học trò mặt xấu như khỉ, đứng lên ghế, khuỳnh hai cánh tay như người khoác hai cái giỏ, bắt chước bộ tịch mẹ cậu Crôtxi những khi đứng đợi con ở cửa trường. (Đã mấy hôm nay, bà không đến đón con vì bị ốm). Coi tấn tuồng câm ấy, học trò cười ầm cả lên. Crôtxi điên tiết, vồ ngay lọ mực trước mặt ném Phranti, Phranti né mình, lọ mực trúng giữa ngực ông Perbôni ở ngoài bước vào.


Nguyễn Đức Tùng: Đọc Một Bài Thơ Như Thế Nào (Tiếp theo)

7. Nhạc điệu của bài thơ

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

(Xuân Diệu)

Một trong những bài thơ có nhạc điệu hay nhất thời tiền chiến. Vần điệu của thơ có thể được xem như biểu tượng. Khi đọc thơ, ngoài ý nghĩa, ta còn chú ý đến âm điệu, vì âm điệu là một trong những nguyên cớ làm nên vui thú, khoan khoái của người đọc. Có những bài thơ gần với ca khúc, nhưng thật ra tất cả những bài thơ hay, ngay cả thơ tự do, cũng tạo ra một thứ âm nhạc riêng. Sự thích thú của người đọc trước nhạc tính của bài thơ có thể xếp vào hai loại: sự hợp vần, lên bổng xuống trầm, du dương; và thứ hai là việc chọn chữ, những chữ đặt cạnh nhau, mà khi đọc lên bạn cảm thấy sảng khoái. Trong bốn câu thơ trên, có sự lên xuống trầm bổng của đoạn thơ, thích hợp cho đối tượng mô tả là cây nguyệt cầm, nhưng mỗi chữ, mỗi cặp chữ đều gây cảm giác vừa lạ vừa quen, dễ nhớ, bạn muốn đọc và ngâm nga: nguyệt lạnh, đàn buồn, đàn lặng, đàn chậm, rơi tàn, lệ ngân.


Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Trần Quang Quý, Ta Lẻ Loi Đơn Chiếc Biết Nhường Nào

Thơ hôm nay không viết về đời sống, nó viết về cái thiếu của đời sống. Cũng vậy, nhà thơ không đi tìm giải thoát ra khỏi khổ đau, họ đi xuyên qua, sống với, những đau khổ, vì chúng làm nên tâm hồn chúng ta bây giờ. Không phải sự thật nào cũng đẹp, không phải chúng ta làm điều gì cũng đúng, đôi khi trái lại. Nhưng chúng ta làm, như thể đó là con đường, và không hối hận về sau. Con người không nắm giữ tương lai trong tay mình, không biết được tình yêu nào chờ ta cuối ngày. Nhưng khi một khoảng khắc tới, bạn lập tức nhìn ra nó, như khuôn mặt trong gương. Lúc ấy, Trần Quang Quý (1955- 2022) trở nên đằm thắm:


Trong nỗi đau tôi

Đêm nay bạn đến

Không hoa

Không rượu

Ánh mắt thẳm nỗi người

Tôi tin cậy nắm bàn tay im lặng

Nỗi riêng tôi

Hình như lặn bớt vào tim bạn

Hình như sự im lặng của bạn

Ngọn lửa không màu nhóm lại trái tim tôi


Nhận thức về sự thật, công bằng, bất công, chưa chắc đã làm thay đổi hiện thực, nhưng làm bạn sống thành thật, cao quý hơn. Nỗi buồn trong thơ hôm nay làm chúng ta thức tỉnh, biết tập trung chú ý, tăng cường sự tỉnh thức. Từ trong sự tỉnh thức ấy, tương lai tìm thấy hướng đi của nó. Đó là lúc con người rời bỏ, cắt đứt một niềm tin, thách thức một số phận. Đó là lúc chúng ta bắt đầu khung cảnh mới, chọn lấy thời gian của chúng ta, chọn lấy tình yêu. 


Cúi xuống là đất

đất ken kín vết người

trong thẳm sâu bóng tối

Ngẩng lên là khoảng rỗng

nhưng sẽ thấy bầu trời


Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Mặt Hồ Êm Ả (Thư gởi con trai nhân ngày tựu trường 2022)

Mùa hè đã qua, một mùa hè bận rộn. Chúc mừng con hoàn thành lớp cứu nạn của huấn luyện viên bơi lội thiếu niên. Chúng ta phải học cách tiếp xúc với nguy hiểm. Nhận ra nó, chọn cách ứng phó, học cách giúp đỡ người khác. Gặp nạn, có người bình tĩnh, có người không. Hầu hết là không.

Cảm giác nguy hiểm trong đời, chết đi sống lại, có lẽ con đã biết nhưng con sẽ quên. Vì ký ức cay đắng không tồn tại lâu. Một ngày hè nóng nực ta lái xe từ California về nhà, dọc xa lộ I-5. Bên trái là biển, vịnh nước dài nửa như hồ nửa như sông. Chiếc xe cà tàng, không có điều hòa không khí, thật nóng. Ta dừng xe ngồi nghỉ một lát, nhìn mặt nước êm ả. Sức hấp dẫn của nó không cưỡng được. Theo kinh nghiệm ta biết hồ nước khá sâu khi ra xa, mặc dù trong bờ cạn, cát chạy dài thoai thoải. Ta cởi quần áo, mặc quần sọt vốn không phải quần bơi, nhảy xuống. Dòng nước dịu dàng đưa đi. Thấy bên kia bờ những căn nhà nhỏ ẩn hiện trong rừng thông, ta bơi liền một mạch, dễ dàng. Cái hồ không rộng, dự định bơi qua phía bên kia, nơi có ngọn núi mà đường đi lên thật đẹp. Nhưng quá nửa đường, ta đổi ý vì không nhìn ra đường đi bộ vòng quanh, như thế khi về phải bơi ngược lại, đó là quãng đường khá xa. Chính vào lúc ta đột ngột quay người lại, đổi hướng, bơi về chỗ cũ, về chiếc xe hơi của mình, ta cảm thấy hai gót chân tê dại.

Nhìn lên bờ không có ai, cảm thấy lo sợ. Càng lo sợ, bắp chân càng tê cứng lại. Càng tê cứng, chúng càng đau, nhất là chân phải. Tay vẫn vận động được, khoát sóng nhưng hai chân bất động hoàn toàn. Khi bất động, chúng nặng lên trầm trọng. Hai chân trở thành gánh nặng của cơ thể, kéo xuống. Ta cố lấy bình tĩnh. Thả lỏng. Đổi cách bơi. Bơi ngửa. Bơi ếch. Để thả trôi tự nhiên, cố giữ cho người nổi trôi như một chiếc lá, nhớ lại tất cả những lời dạy của huấn luyện viên. Nhưng hai chân ta ngày càng nặng, càng tê, càng đau nhức. Cơn đau nhức khủng khiếp như bị tra tấn. Đúng ra khi bơi qua hồ, ta có thói quen đếm số lần sải tay để tính đường về, nhưng hôm ấy trời nóng quá sau một ngày lái xe mệt mỏi, thích thú với làn nước ta quên mất đếm. Ta đếm ngược lại. Biết mình chìm xuống. Nhìn lên bờ, cầu khẩn, tuyệt không có bóng người ở đó. Ta đoán phải bơi ba trăm sải tay trước khi đến được bờ. Kiệt sức. Chính hai bắp chân tê dại làm kiệt sức. Ngẩng đầu lên, nhìn thấy bờ hồ, bãi cát, những hòn đá rất đẹp mà thổ dân xếp chồng lên nhau. Nhìn ra xa thấy đường xe hơi chạy, chiếc xe màu mận chín của ta lấp loáng sau cành lá. Bắt đầu đuối. Ta biết rõ vậy. Hai chân như bị một con thủy quái vô hình cầm lấy kéo xuống, kéo từ từ nhưng chắc chắn, từng chân một. Sặc nước nhiều lần.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Giới Thiệu Thơ Dạ Thảo Phương

Đôi khi, một người như Dạ Thảo Phương làm cho tôi yêu Hà Nội.

 

đôi lúc thèm cuống quýt được chạy về Hà Nội

ngồi vỉa hè, ấp má một chén trà nóng

cho lòng lại được bình yên

Đó là một Hà Nội thanh bình, trang nhã. 

Đó cũng là một Hà Nội mục nát, tan hoang.

ước

một ngày thức dậy

ban công ngập rác thối

lá non rữa nát 

những hoa hồng teo quắt

con chim bên chùa Bà Đá thôi hót 

tốt nhất - đã chết 

bình nước trên bàn cũng cạn

chuông Nhà Thờ Lớn

câm 

 

Thơ chị khởi đi từ tự truyện và mơ màng (memoir and reveries). Đó là sự nối kết giữa quá khứ và hiện tại, sự soi chiếu một khoảnh khắc trong hiện tại bằng nguồn cảm xúc và suy tư từ những năm tháng bạn đã sống qua. Thơ xuất hiện trước sự viết. Trước khi chúng ta đọc một bài thơ như văn bản trên giấy, hay trên màn hình, thơ đến như một âm thanh. Chữ viết có tính cố định, khi bạn trở lại chúng vẫn nằm ở đó. Việc đọc lớn lên, làm cho bài thơ xuất hiện như âm nhạc, không cố định như vậy, chúng thay đổi theo thời gian. Thơ của Dạ Thảo Phương vang lên một thứ nhạc điệu riêng.

 

anh hỏi da thịt em ngát sen tự khi nào

anh ơi, từ những ngày tháng tuyệt mù em chưa biết anh

em đã là sen, từ trong bùn tối

 

Chị tra vấn ý nghĩa của đời sống, các mối quan hệ gia đình và xã hội, tình yêu và tình dục. Chúng có thể không phải là những câu hỏi trực tiếp nhưng xuất hiện bàng bạc, làm cho thơ chị trở thành không phải một bản tường trình về đời sống mà là những biểu hiện của đời sống ấy, tiếng nói của nó, sự vận động của nó, các thách thức của nó. Sinh ra ở một vùng văn hóa riêng biệt, đối với tôi là diễm lệ và mặc cảm, và yếu đuối trước sự dung tục vốn là bản chất của một xã hội áp đặt hoàn toàn xa lạ với dân tộc, tự mình thoát ra khỏi những ràng buộc của văn hóa ấy, vượt lên, phát hiện. Đó là nỗi buồn xuyên qua những số phận, sự đau đớn được nén lại tạm thời, sự ngã xuống và hồi phục. Chị không phải là người biết thua cuộc trước số phận, thường xuyên trở lại từ bên lề, đập cửa, kể lại câu chuyện đời mình.

 


Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Hà Nội, Dương Tường

(Xin đăng lại bài này để mừng nhà thơ chín mươi tuổi 4. 8. 1932- 4. 8. 2022. NĐT)


Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường. Chúng tôi gồm có Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng, và nhiều bạn bè văn nghệ khác, người từ Sài Gòn ra, người ở ngay Hà Nội. Trưa hôm đó Dương Tường dẫn chúng tôi đi thăm phố và ăn trưa. Chiều hôm sau, 7 tháng 4, một mình tôi quay lại địa chỉ trên theo lời hẹn.


Buổi chiều Hà Nội nhiều nắng, nhưng mát, dịu dàng. Chiếc ngõ dẫn vào nhà ông sâu, quanh co, vắng người, như ở chốn quê. Anh chị Dương Tường đón tôi ở cửa, tươi cười, thân ái.


Ngồi gần bên nhà thơ, hai người trong căn phòng rộng và im vắng, tôi có cảm giác chất nghệ sĩ trong người Dương Tường toả ra thành một với những bức tranh trên tường. Buổi chiều có vẻ siêu thực.

 

Nguyễn Đức Tùng: Xin đọc một bài thơ của anh. “Tình khúc 24”.

24 phím cầm chiều

24 nhành sương mím

24 tiếng ve sầu đại lộ tháng tư

Gửi lại em

cầu thang 24 bậc

tờ thư 24 gác mưa

làn menuetto 24 âm xưa

Gửi lại em

Mùi hoa sữa 24 miền hoài niệm

Ga khuya 24 lần đưa đón

Bài huê tình 24 lối sân sau


Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Đọc Thơ Hoàng Vũ Thuật

Có một điều gì đã xong và một điều gì chưa xong trong thơ Hoàng Vũ Thuật, tựa như sự thăng bằng đạt được hôm qua, hôm nay biến mất. Vì vậy, anh trở đi trở lại nhiều lần trước một sự vật, nhìn chúng dưới những góc cạnh khác nhau, làm cho sự thật hiện lên trong những ánh sáng khác, khi cằn cỗi, khi tinh khôi. 


anh quay lại khi anh không còn nữa

bước vào nhà và sẽ

gọi tên em 

Thơ Hoàng Vũ Thuật thân mật và phóng khoáng, nhiều chất hiện tại. Thơ của những khoảnh khắc. Nhân vật của anh cũng không đứng yên mà chuyển động, các câu chuyện kể lại được giải thích khác nhau. Bên dưới, anh có một nỗi buồn dịu dàng, không phải là thứ sầu muộn chết người, nhưng đủ làm day dứt. Chúng ám ảnh thơ anh từ trang viết này qua trang viết khác, từ lâu, trở thành chiêm nghiệm. 

tôi đo ánh sáng mặt trời chiếu
xuống trái đất
bóng tối phủ trảng cát câm
đường đi một đời
tấm tã lót sơ sinh cỗ quan tài dải băng tang
trắng

mảnh vườn mẹ nuôi tôi lớn xanh
rặng tre trước mặt
thân cau trổ quả hoàng hôn
khói thơm lên từng cụm
sợi gàu dai kéo rộng cánh đồng

tôi đo hơi thở người
yêu dấu
bầu ngực đôi chân đôi mắt
chiếc lưỡi
mềm
trên giường ngủ


Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Cung Tiến, Đời Lập Từ Những Đêm Hoang Sơ

Chị em của thơ thì có nhiều: tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, báo chí, phim ảnh, kịch nghệ, nhưng đối với tôi, người thân nhất, người chị em ruột của thơ, chính là ca khúc.

Cung Tiến là một sự kết hợp như vậy: giữa ca từ và âm nhạc, giữa thơ và ca khúc. Thơ ca. Sự liên kết giữa thơ và ca đã có từ lâu đời, ngày một chia xa trong thế giới hiện nay. Thơ ngày một xa rời ca khúc, ngày một gần với văn xuôi, rời bỏ tính âm nhạc của ngôn ngữ. Các nhà thơ hiện nay gần như không làm thơ dưới tác động trực tiếp của âm điệu. Họ viết để truyền tải các ý tưởng nhiều hơn. Khi chúng ta nghe một bài hát, những chữ trong bài hát ấy vang lên không còn là những chữ chúng ta đọc trên giấy nữa, chúng biến đổi trở thành chữ khác, một sự lai ghép giữa âm nhạc và ngôn ngữ. Khi đọc lời:

Chờ nhau hoài cố nhân ơi

Sương buồn che kín nguồn đời

Tôi vừa nhìn thấy màn sương buông xuống, vừa nghĩ đến bóng người đi trong ấy, càng lúc càng xa. Điều ấy cũng xảy ra khi tôi đọc chúng như câu thơ. Nhưng người nào từng nghe Cung Tiến qua Duy Trác hay Thái Thanh, Lệ Thu hay Anh Ngọc, sẽ không thể đọc thế nữa, như câu thơ thông thường, người ấy phải đọc khác đi. Phải đọc như đang hát. Và khi hát như thế, dù chỉ hát thầm, hai chữ cố nhân ấy sẽ khác đi, hình ảnh người đi trong sương cũng khác. Cũng vậy, bốn chữ “che kín nguồn đời” khi được ngân lên như một ca từ, hình ảnh cũng biến đổi, sâu hơn, dào dạt hơn.


Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Tháng Tư, Lê Đạt

Để nhớ tháng tư, mười lăm năm trước, ở Hà Nội.

NĐT

(4. 2007- 4. 2022

Người đầu tiên mà chúng tôi đến thăm trong dịp ghé Hà Nội tháng 4. 2007, là nhà thơ Lê Đạt. Chúng tôi gồm có Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng và một số bạn bè văn nghệ, đến nhà riêng của ông. Lê Đạt vừa dọn đến ở chung với người con trai được một năm, trong một khu phố yên tĩnh, hơi khó tìm đường. Trời Hà Nội sáng sớm mây mù, gió lao xao, mát mẻ dễ chịu. Đường nào cũng có nhiều cây xanh, nhưng không nghe tiếng chim hót. Trước ngõ nhà ông có vài gánh hàng rong, làm tôi nhớ đến Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam. Lê Đạt tiếp chúng tôi trên căn gác nhỏ, nụ cười vui, dáng điệu nhanh, hỏi và trả lời dứt khoát. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông phá lên cười. Trên vách tường sau lưng chỗ ông ngồi, có treo hai tấm hình. Một là tấm poster lớn đem về từ Ngày hội Thơ Việt Nam 15 tháng Giêng âm lịch, tổ chức ở Văn Miếu Hà Nội, chụp chân dung của ông, phía sau là nền hoa mimosa vàng. Poster được chuẩn bị bởi nhà thơ trẻ Hữu Việt. Bên cạnh là giấy chứng nhận Giải thưởng Nhà nước 2007.

NĐT (4. 2007)

Từ trái sang phải: Du Tử Lê, Lê Đạt, Nguyễn Đức Tùng (Ảnh: Nguyễn Trọng Tạo)


Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh Lê Đạt, xin chúc mừng anh vẫn còn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn để làm việc. Người yêu thơ anh, theo dõi báo chí, chắc chắn sẽ vui khi biết rằng anh vẫn làm thơ và vẫn dành rất nhiều sự quan tâm đối với thơ ca Việt Nam.

Lê Đạt: Rất mừng được gặp các anh từ nước ngoài về và ở trong Nam ra. Chúng ta có dịp gặp nhau như thế này là quý lắm. Tôi vẫn còn viết được nhưng không còn viết được nhiều như trước.

Một thân hữu văn nghệ: Anh có thường tập thể dục không?

Lê Đạt: Mỗi ngày tôi đều đi bộ hai tiếng đồng hồ bờ Hồ Tây. Khi lạnh thì mặc thêm áo ấm.

Du Tử Lê: Anh còn hút thuốc lá không?

Lê Đạt: Không, tôi đã bỏ thuốc từ lâu. Nay thì bỏ hết. Trước đây tôi cũng hút ghê lắm

Nguyễn Trọng Tạo: Đọc các bài viết trước đây, các ông ấy thường cho là các anh thuộc loại sống truỵ lạc (cười).


Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Thái Hạo, Tiếng Nói Mới, Vang Rền

C:\Users\BST\Desktop\thai hao.jpg


Thế giới thường xuyên thay đổi, nhưng chưa bao giờ thay đổi nhanh đến thế, như trong những năm qua. Dịch bệnh, chiến tranh, tra tấn, dân tộc chia rẽ, môi trường thiên nhiên bị tàn phá đến cùng kiệt. Con người ngày càng tham lam, ngày càng sống hời hợt và giả dối.

Và bên dưới tất cả những thứ ấy, có một điều gì sâu hơn nữa, sâu xa nhất, chi phối tất cả: sự sợ hãi.

Tại sao chúng ta sợ hãi?

Tôi đã tự hỏi ngàn lần

Tại sao chúng ta sợ hãi?

Loài linh trưởng trong tôi gào thét

Đại ngàn trút lá

Tôi thèm làm người

Nguyên sinh

Trăng vỡ trên đỉnh trời

Tại sao chúng ta sợ hãi?

Câu hỏi làm tôi nổi giận

Thèm một que diêm

để châm lửa vào cánh rừng


Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Quán Hớt Tóc

Quán hớt tóc là nơi bọn thanh niên trong làng tụ tập tán dóc, bàn chuyện chiến tranh hòa bình, các nhân vật Xuân thu Chiến quốc, chuyện cô nào sắp lấy chồng, phim cao bồi Viễn Tây, mùa khoai mùa lúa, chuyện đi quân dịch, vui buồn thi cử. Khi tôi còn bé, mỗi tháng phải trình diện quán ấy một lần, lệnh của ba tôi. Ông rất ghét bọn con trai để tóc dài, mà chẳng cứ gì ông, người lớn, thầy cô giáo của tôi, đều thế. Tôi lò dò bước vào quán, vách đất trộn phân trâu quét vôi trắng mái tranh có dàn mướp bò qua, nhìn quanh tìm chỗ ngồi, dỏng tai nghe chuyện khách, dân cày cấy, học sinh, viên chức.

Người thợ cắt tóc ngoài ba mươi tuổi, sau những năm giang hồ trở lại chốn quê, đem theo nhiều câu chuyện xứ người, hay do anh bịa ra. Anh có tài kể chuyện, thích đọc báo, có cây đàn guitar hay mandolin treo cửa. Mà thợ hớt tóc nào chẳng biết chơi guitar tưng tưng vài nốt khi ế khách hay ngoài trời thu vàng rụng lá? Anh hay hát Tàu đêm năm cũ của Trúc Phương: Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời, Trở gót bâng khuâng, tôi hỏi lòng đêm nay buồn không. Chiếc dao cạo sắc của anh, kêu xoèn xoẹt trên sợi da nâu như thắt lưng mòn vẹt, khăn quàng cổ xếp nếp, cái tông đơ còn già hơn tuổi tôi, cái ngoáy tai bằng đồng nhỏ xíu, sáng loáng, hấp dẫn tôi. Tôi lớn dần lên với cái quán ấy, già đi cùng với người thợ hớt tóc, được sống cùng với họ những tháng năm hạnh phúc của một xứ sở nghèo nhưng tươi tắn. Cái quán hớt tóc ấy, nằm gần kề quốc lộ Một, phía dưới đường xe lửa bỏ không mọc cỏ lau trắng, sau đập nước, bạn còn nhớ không? Cái quán nằm giữa tiệm tạp hóa và quán bún lòng thả, phía trước có cây dứa dại sau lưng là bụi tre la ngà cú rúc chiều chạng vạng. Nhìn vói qua sông, bên kia đường quốc lộ, bao giờ tôi cũng ngồi đó, ngắm tờ nhật trình dán vách đất, đọc mọi thứ, tin tức đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm làm tôi giựt mình, lát sau mới nhớ ra đã bốn năm.

Thời nhỏ bạn hoàn toàn lệ thuộc vào người lớn, mà họ thì có quan niệm đơn giản về trẻ con, đã cắt thì cắt ngắn, làm cho mặt mũi sạch sẽ, cắt tóc càng ngắn càng đỡ tốn tiền cắt lại, và bọn chúng không phải cạo râu rửa mặt nên thợ làm nhanh, loáng đã xong, không kiểu cọ gì ráo trọi. Nhưng khi tôi lên mười một tuổi, vừa thi đỗ vào trung học, tôi không còn thích để mặc người lớn lãnh đạo nữa, sau một mùa hè chịu mái tóc carré, nghĩa là rất ngắn, trên chỏm cũng ngắn, kiểu lính, quyết để tóc dài, thời ấy mái phía trước dài, tóc mai kéo xuống gần cằm, hợp với áo sơ mi cổ cò, học sinh đi học lén bỏ áo ngoài quần vì cho áo vào quần thì quê lắm, mặc quần tây không có thắt lưng. Thời ấy bắt đầu có mũ lưỡi trai baseball kiểu Mỹ, kéo thật sát mái đầu để tóc phía dưới bay lòa xòa, có đứa ba trợn còn xoay ngược cái mũ, vậy thì tôi chuẩn bị cắt một mái tóc như vậy, kiểu tango, sau khi đã nuôi được tóc khá nhiều đến nỗi mẹ tôi chú ý và kéo tôi lại, dúi năm đồng vào tay, bắt đi hớt ngay tắp lự. Người thợ hớt tóc, sau khi mài dao lên sợi dây da xoành xoạch làm cho lưỡi mỏng như lá lúa, nếu bạn từng đọc truyện ngắn Lưỡi dao cạo của Nabokov kể chuyện hai kẻ thù cũ gặp nhau ở Bá Linh, bạn sẽ hình dung ra tiếng động ấy.


Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Nguyễn Đức Tùng: Nguyễn Hưng Quốc, Gây Sự Với Hư Không

 image

Giữa thiên đàng và địa ngục

Tôi chọn cái ở giữa:

Trần gian

(20)

Trần gian cũng là chọn lựa của nhiều nhà thơ. Ngôn ngữ Nguyễn Hưng Quốc giản dị, mạch lạc, các bài thơ của anh có ý tứ rõ ràng. Sự rõ ràng ấy làm cho bài thơ sáng lên, có sức thuyết phục, mặc dù có thể không gây ra ám ảnh. Đọc thơ ba câu của anh, tôi nghĩ đến các nhà thơ hình tượng của Mỹ, như Ezra Pound, những người chịu ảnh hưởng ít nhiều từ truyền thống Nhật Bản, nhưng thơ anh không hẳn là haiku. Chỉ đôi khi có khuynh hướng ấy:

Con quạ đen

Mổ nắng

Giữa chiều quạnh hiu

(251)

Bài thơ hay, nhưng không tiêu biểu cho cả tập thơ. Thơ ba câu cũng là thơ tự do, không vần, tựa như tercet của phương Tây, hay những đoạn mở đầu của villanelle. Thơ tự do đòi hỏi người viết tập trung chú ý đến số chữ trong câu, đến trật tự sắp xếp của các câu, khác với người làm thơ có vần, luật, làm theo mẫu nhịp điệu có sẵn. Người làm thơ tự do cần độc đáo khi viết. Tôi không có ý nói rằng thơ tự do thì cao hơn thơ có vần, hay ngược lại, nhưng quá trình sáng tạo của các nhà thơ là khác hẳn nhau khi họ chọn một hình thức để sáng tác. Bạn chọn thứ nào cũng được, nhưng phải viết như thể số phận của bạn được định đoạt bởi chúng, câu thơ mỏng mảnh kia.

Các vì tinh tú xa xăm

Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu

Tìm một nhà thơ thất lạc

(17)