Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

Trương Nhân Tuấn: 49 năm ngày hải chiến Hoàng Sa– Bàn về chủ quyền Hoàng Sa

Battle of the Paracel Islands, Wikimedia
 Bốn chiến hạm của hải quân Việt Nam cộng hòa tham dự trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Ảnh tư liệu

Nhân 49 năm ngày hải chiến Hoàng Sa 17/19 tháng Giêng 1974, thử bàn về chủ quyền Hoàng Sa qua nguyên tắc "ex injuria jus non oritur".

Trong luật có nguyên tắc: "ex injuria jus non oritur". Đại khái có thể hiểu là "lẽ phải không phát sinh từ một hành vi bá đạo".

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

Lê Nguyễn: Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt (kỳ 3)

Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn
Lời giới thiệu: Diễn Đàn Thế Kỷ nhận được loạt bài nghiên cứu “Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt” của tác giả Lê Nguyễn gửi từ Sài Gòn.

Lê Nguyễn là bút danh của Lê Văn Cẩn, sinh năm 1944, tốt nghiệp khóa 10 Học viện Quốc gia Hành chánh, Sài Gòn (1965), một cây bút quen thuộc của nhiều tờ báo, tạp chí trong nước như Kiến thức Ngày Nay, Thế giới Mới, Khoa học phổ thông, Khoa học và Đời Sống…, là tác giả của khoảng hơn 10 đầu sách đã xuất bản, phần lớn là sách biên khảo lịch sử thời Lê–Nguyễn và thời Pháp thuộc.


Loạt bài này sẽ được đăng làm 3 kỳ. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

***


6) MỐI QUAN HỆ GIỮA VUA MINH MẠNG VÀ TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT LÚC SINH TIỀN

  
Phần 1- Những ân thưởng xứng đáng dành cho một bề tôi
     


Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

Lê Nguyễn: Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt (Phần 2)

Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn
Lời giới thiệu: Diễn Đàn Thế Kỷ nhận được loạt bài nghiên cứu “Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt” của tác giả Lê Nguyễn gửi từ Sài Gòn.


Lê Nguyễn là bút danh của Lê Văn Cẩn, sinh năm 1944, tốt nghiệp khóa 10 Học viện Quốc gia Hành chánh, Sài Gòn (1965), một cây bút quen thuộc của nhiều tờ báo, tạp chí trong nước như Kiến thức Ngày Nay, Thế giới Mới, Khoa học phổ thông, Khoa học và Đời Sống…, là tác giả của khoảng hơn 10 đầu sách đã xuất bản, phần lớn là sách biên khảo lịch sử thời Lê–Nguyễn và thời Pháp thuộc.


Loạt bài này sẽ được đăng làm 3 kỳ. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

                                                                           


Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

Lê Nguyễn: Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt

Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn

Lời giới thiệu: Diễn Đàn Thế Kỷ nhận được loạt bài nghiên cứu “Về một số ngộ nhận liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt” của tác giả Lê Nguyễn gửi từ Sài Gòn.

Lê Nguyễn là bút danh của Lê Văn Cẩn, sinh năm 1944, tốt nghiệp khóa 10 Học viện Quốc gia Hành chánh, Sài Gòn (1965), một cây bút quen thuộc của nhiều tờ báo, tạp chí trong nước như Kiến thức Ngày Nay, Thế giới Mới, Khoa học phổ thông, Khoa học và Đời Sống…, là tác giả của khoảng hơn 10 đầu sách đã xuất bản, phần lớn là sách biên khảo lịch sử thời Lê–Nguyễn và thời Pháp thuộc.


Loạt bài này sẽ được đăng làm 3 kỳ. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

***

Lễ giỗ lần thứ 190 của Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định Thành, được tổ chức trọng thể vào những ngày cuối tháng 8 vừa qua với sự tham dự của các vị lãnh đạo TPHCM (tên nhà nước cộng sản Việt Nam đặt cho thành phố Sài Gòn không lâu sau ngày 30/4/1975–chú thích của DĐTK) đã mang lại niềm phấn khởi cho những người yêu văn hóa–lịch sử, đặc biệt là những người hằng tôn kính một nhân vật lịch sử có nhiều công lao đối với vùng đất phương Nam như Tả quân Lê Văn Duyệt.


Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

NGÔ THẾ VINH: CỐNG ĐẬP CHẶN MẶN GÂY RỐI LOẠN HỆ SINH THÁI VÀ NHỮNG CÁI GIÁ PHẢI TRẢ


Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
Water, water, every where,
Nor any drop to drink.
Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]

Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người
phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai 

Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có 2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh}

XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HÒA Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê Hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các Chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

Kỹ sư Phạm Phan Long: Ánh sáng mặt trời và gió: Nguồn năng lượng ưu việt bền vững cho nhân loại trước biến đổi khí hậu

Kỹ sư Phạm Phan Long
Viet Ecology Foundation
Tháng 8, 2017 California

Năng lượng tái tạo từ gió và ánh sáng mặt trời đã nhanh chóng vượt qua các nguồn năng lượng hóa thạch, hạt nhân và cả thủy điện vì hiệu quả kinh tế cao và phát thải thấp. Bài này trình bày về hiện tượng biến đổi khí hậu và so sánh các nguồn năng lượng qua yếu tố y tế, môi sinh và kinh tế để kết luận: Ánh sáng mặt trời và gió là hai nguồn năng lượng ưu việt bền vững cho nhân loại trước biến đổi khí hậu.
    
Biến đổi khí hậu

Bài này tóm lược báo cáo đánh gía khoa học Fifth Assessment Report (AR5) của tổ chức Intergorvernmental Panel for Climate Change (IPCC), Liên Hiệp Quốc (LHQ) về biến đổi khí hậu (BĐKH) dưới nhiều kịch bản phát triển khác nhau. Báo cáo AR5 không do "bên này hay bên kia" làm theo khuynh hướng “bên mình” mà là báo cáo t LHQ, nên có độ tin cậy khoa học khách quan. IPCC tích lũy công trình của hàng ngàn khoa học gia độc lập có thẩm quyền, chọn lọc từ 195 quốc gia cộng tác thực hiện và cập nhật liên tục từ năm 1988. Tường trình khoa học IPCC rất thận trọng, báo cáo cho từng kịch bản khác nhau cùng với độ tin cậy (cũng là độ ngờ vực) để lãnh đạo các nước dựa vào lập ra quy hoạch và hợp tác đối phó. IPCC tự giới hạn, không đề nghị dự thảo chính sách, giữ tư cách độc lập và yêu cầu các nước thành viên tôn trọng cương vị của họ. 

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Ngô Thế Vinh - ĐẬP THUỶ ĐIỆN DON SAHONG IN ĐẬM DẤU TAY TRUNG QUỐC

“Sản xuất lúa gạo ĐBSCL bị đe dọa hơn nữa do xây con đập thứ hai Don Sahong ở Nam Lào. Con đập chắn ngang dòng chính Mekong ngay trước khi đổ vào vùng Thác Khone, sẽ làm giảm [thay đổi] dòng chảy, gây nguy hại cho khu bảo tồn Ramsar Siphadone, cho mùa màng và ngư nghiệp dưới nguồn". Gs Võ Tòng Xuân, 2013

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
NGÔ THẾ VINH


QUỐC HỘI LÀO BẬT ĐÈN XANH
Theo tạp chí The Diplomat  [Sep 04, 2015] Quốc Hội Lào đã chính thức thông qua Dự án Đập Don Sahong, một dự án từ bấy lâu gây rất nhiều tranh cãi. Dự trù ban đầu con đập được Công ty Xây dựng Mã Lai MegaFirst khởi công vào cuối năm nay 2015. Do tiềm năng thuỷ điện của con Sông Mẹ - Mea Nam Khong, là tên Lào Thái của con sông Mekong, nhà nước Lào bất chấp mọi chỉ trích và với lời kêu gọi của các quốc gia láng giềng Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam, là ngưng dự án Don Sahong và Lào vẫn kiên quyết đi tới thực hiện cho bằng được kế hoạch phát triển thuỷ điện của mình.

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Thiện Ngộ - Dấu ấn người Chăm trong lễ cúng đất vùng Nam Trung Bộ


Tờ thị của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng hiện còn được lưu giữ ở Đền thờ Lương Văn Chánh (xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên) 


Bốn bộ chính sử lớn của nước ta là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp Lục đều ghi lại năm 1471, vua Lê Thánh Tông nhà Hậu Lê đem quân Nam chinh, hạ kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành (Quy Nhơn ngày nay).

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Nguyễn Văn Tuấn - Những chuyện khó tin trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam


Tôi có may mắn được tiếp xúc với nhiều tập san khoa học, bạn bè và đồng nghiệp trong nước từ Nam chí Bắc. Qua những tiếp xúc đó, tôi biết được vài chuyện (không dám nói tất cả) rất … khó tin. Khó tin nhưng hoàn toàn có thật. Những chuyện này ảnh hưởng đến cái mà tiếng Anh gọi là “credibility” (độ tin cậy) của khoa học nước nhà.

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

NGÔ THẾ VINH - SÁNG KIẾN HẠ LƯU MEKONG 2020 VÀ MỘT HỌC VIỆN MEKONG TRÊN ĐẤT LÀO


NGÔ THẾ VINH
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long 
và VN 2020 Mekong Group 

“Như một phần của ‘Sáng Kiến Cam Kết An Ninh Á Châu Thái Bình Dương’, chúng ta tiến tới “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020”. Như tên gọi, đó là viễn-kiến-nhiều-năm để Hoa Kỳ có thể trợ giúp mỗi đối tác cũng như toàn thể nhằm xây dựng một lưu vực trù phú.” Hillary Clinton

“Chúng tôi nghĩ rằng Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 có tiềm năng rất lớn, nhưng chỉ có thể thành công nếu mọi thành viên đều hết lòng tham gia, bởi vì chúng tôi cần ý kiến của các bạn, cần những cuộc đối thoại rất xây dựng và thẳng thắn với chúng tôi”. Hillary Clinton


*

Đây là bài viết thứ hai tiếp theo bài “Lưu Vực Sông Mekong, Địa Bàn Thách Đố của Hoa Kỳ”. Bài thứ nhất được phổ biến cách đây 4 tháng [04/ 11 / 2012], nay lại có thêm sự kiện mới khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đưa ra một chương trình mở rộng với tiêu đề “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020” [07/ 13/ 2012] với Miến Điện là thành viên mới thứ năm. LMI 2020 (Lower Mekong Initiative 2020) đánh dấu sự cam kết lâu dài của Hoa Kỳ với vùng Hạ Lưu Mekong. [3]

Trong bài viết cập nhật này, tác giả-- cũng là người từng quan tâm theo dõi trong nhiều năm về những bước phát triển và suy thoái của con Sông Mekong -- sẽ điểm qua các bước hiện thực và triển khai Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cùng với những đề xuất–như một đáp ứng góp ý theo yêu cầu của Ngoại Trưởng Hillary Clinton.


NIÊN BIỂU HOA KỲ VÀ SÔNG MEKONG 

-- Rất sớm từ thập niên 40 thế kỷ trước, các nhà xây đập Hoa Kỳ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong. Năm 1957, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là Hoa Kỳ, một Ủy Ban Sông Mekong [Mekong River Committee] được thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam. 

-- Khi soạn thảo kế hoạch phát triển sông Mekong, Liên Hiệp Quốc đã chia Lưu Vực Lớn sông Mekong [GMS, Greater Mekong Subregion] thành hai tiểu lưu vực phân cách bởi khu Tam Giác Vàng: Lưu Vực Trên (Upper Basin) thuộc Vân Nam Trung Quốc. Lưu Vực Dưới (Lower Basin) thuộc 5 quốc gia hạ nguồn: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, và Việt Nam.

-- Từ 1968 đến 1971, giữa giông bão chiến tranh, Hoa Kỳ đã cùng Ngân Hàng Thế Giới / World Bank tài trợ cho Lào hoàn tất xây con đập Nam Ngum trên một phụ lưu lớn của Sông Mekong, đây cũng là con đập thủy điện đầu tiên của đất nước Lào. 

-- Kế hoạch phát triển Lưu Vực Dưới Mekong đầy tham vọng, nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong vùng, nhưng rồi Chiến Tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương nên kế hoạch xây các đập thủy điện trên dòng chính Sông Mekong, và các chương trình khai thác khác  đã phải gián đoạn.
-- Ngày 23/ 07/2009 Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đã đưa ra “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong” (Lower Mekong Initiative/ LMI), khởi đầu với sự kiện Kết nghĩa giữa Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi. [4]

-- Ngày 7/07/2011 Thượng Viện Mỹ thông qua một nghị quyết 227 kêu gọi bảo vệ Lưu vực Sông Mekong với gia tăng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm hoãn xây các con đập dòng chính Sông Mekong.  [8]

-- Ngày 7/13/2012 trong cuộc họp cấp Bộ Trưởng ở Phnom Penh, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đưa ra một kế hoạch với tiêu đề “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020/ LMI 2020” với thêm Miến Điện là một thành viên mới, đánh dấu sự cam kết lâu dài và mở rộng của Hoa Kỳ với vùng Hạ Lưu Mekong. [1,2]

-- Ngoại Trưởng Hoa Kỳ kêu gọi các quốc gia Mekong cần tránh những lỗi lầm của Hoa Kỳ từ hơn 100 năm qua khi quyết định vội vã xây các con đập và sau đó phải trả bằng những bài học đắt giá. Hoa Kỳ cũng sẵn sàng tài trợ cho những cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của các dự án xây đập trên Sông Mekong. [2] 


TỪ SÁNG KIẾN HẠ LƯU MEKONG 2009 

Cách đây hơn 3 năm [23-07-2009], nhân Hội nghị Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á [ASEAN], theo yêu cầu của Hoa Kỳ đã có thêm một cuộc họp bên lề của Ngoại trưởng 5 nước: phía Mỹ là Hillary Rodham Clinton, cùng với 4 Ngoại trưởng vùng Hạ Lưu Sông Mekong gồm có Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam tại Phuket, Nam Thái Lan. Tiếp theo đó là một thông  cáo báo chí, liên quan tới những vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là trong các lãnh vực Môi trường, Y tế, Giáo dục, và Phát triển Hạ tầng (infrastructure development) trong vùng.

Trong cuộc gặp gỡ này, Ngoại trưởng Mỹ đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong và của mỗi quốc gia đối với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhằm thăng tiến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực ASEAN như một toàn thể. Các Ngoại trưởng 4 nước Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam [ lúc đó chưa có Miến Điện cũng là một quốc gia Hạ Lưu ] hoan nghênh sự hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ trong những lãnh vực có ý nghĩa hỗ tương nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững trong vùng.

Năm Ngoại trưởng đã thảo luận về các lãnh vực bao gồm ảnh hưởng biến đổi khí hậu và làm thế nào để đáp ứng có hiệu quả; phòng chống bệnh truyền nhiễm; mở rộng ứng dụng kỹ thuật cho giáo dục và đặc biệt quan tâm phát triển vùng nông thôn; cũng như phát triển cơ sở hạ tầng. Các Ngoại trưởng đã cùng xét duyệt những nỗ lực chung đang tiến hành, và đồng ý mở ra những lãnh vực hợp tác mới; và đặc biệt hoan nghênh sáng kiến “Kết Nghĩa Giữa Hai Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi / Sister-River Partnership ” nhằm chia xẻ kinh nghiệm chuyên môn trong các lãnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu, đương đầu với lũ lụt và hạn hán, khai thác thủy điện và lượng giá ảnh hưởng, quản lý nguồn nước và quan tâm tới an toàn thực phẩm. [4] 

Kèm theo đó là “trang dữ kiện/ fact sheet” với những con số cụ thể của Bộ Ngoại Giao Mỹ về Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong: 
(1) Môi trường: 7 triệu MK dành cho các chương trình môi trường trong vùng Mekong, đáng kể nhất là kế hoạch kết nghĩa giữa hai Ủy Hội Sông Mekong với Ủy Hội Sông Mississippi của Mỹ để chia xẻ những kinh nghiệm chung . Sẽ yêu cầu Quốc hội Mỹ chuẩn y thêm 15 triệu MK nữa cho năm 2010.

(2) Y tế : 138 triệu MK, tập trung vào điều trị và phòng chống các bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS, sốt rét và bệnh lao kháng thuốc, tổng dịch cúm, và chuẩn bị tiến tới một Hội nghị chuyên đề Hoa Kỳ - Mekong về các bệnh truyền nhiễm trong vùng.

(3) Giáo dục: 16 triệu MK, và 500 học bổng Fulbright cho các học giả và sinh viên mỗi năm, phát triển nối kết mạng lưới internet tới thôn quê và tiến tới tổ chức một Diễn đàn Mỹ - Mekong về lãnh vực này. 

Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2009 có ý nghĩa biểu tượng quan trọng về sự trở lại của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, giữa lúc mà áp lực ghê gớm của Trung Quốc đang đè nặng trên toàn vùng. Với một ngân khoản đầu tư chưa tương xứng so với tầm vóc của chánh sách và nhu cầu của các nước trong lưu vực. Lại càng chưa thể nói là có khả năng “đối trọng” đối với áp lực bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, khi mà Bắc Kinh đang ở thế thượng phong trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong / Greater Mekong Subregion/ GMS so với Hoa Kỳ trong nhiều lãnh vực. [4] 

TỚI SÁNG KIỀN HẠ LƯU MEKONG 2020

      Hơn 3 năm sau Hội Nghị Phuket Thái Lan;cùng ngày 07/13/2012 đã có hai cuộc họp, một cấp bộ trưởng liên quan tới những Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong và một với nhóm Bạn Hạ Lưu Mekong tại Phnom Penh, Cam Bốt.  



Hình 1_ Hội nghị Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cấp Ngoại Trưởng tại Phnom Penh 13/07/2012, có thêm một thành viên mới là Miến Điện với Ngoại Trưởng Wunna Maung Lwin [đứng đầu từ phải] . Source: Heng Sinith / AP

Trong hội nghị này, Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã thông báo đưa ra một cam kết mới và lâu dài của Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ cho Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong đã có từ 2009. Nay như một phần của Sáng Kiến Cam Kết An Ninh Á Châu Thái Bình Dương [APSEI / Asia Pacific Security Engagement Initiative], Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 [LMI 2020] như nội dung của tên gọi, đó là một viễn-kiến-nhiều-năm [multi-year vision] để Hoa Kỳ có thể trợ giúp mỗi quốc gia và toàn vùng nhằm xây dựng một lưu vực sông Mekong trù phú trong nhiều lãnh vực. Có thể nói Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 là một mở rộng, nâng cao, và lâu dài về tầm nhìn chiến lược của Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á. 

      Vì thấy được tiềm năng lớn lao trong hợp tác để giải quyết những thách đố về y tế, cơ sở hạ tầng, môi trường và giáo dục, nay thành lập thêm một Nhóm Định Hướng Hành Động [action-oriented group] qua đó có thể cải tiến cách lượng giá về hậu quả thay đổi khí hậu, bắt đầu chia xẻ những kinh nghiệm tốt nhất trong phương cách quản lý những dòng sông lớn như con Sông Mekong. 

Có thể kể vài bước sắp tới nhằm cụ thể triển khai Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020/ LMI 2020: [1]
      -- Việt Nam sẽ cùng chủ tọa một hội nghị về Môi Sinh và Nước bao gồm rộng rãi các vấn đề vệ sinh, đương đầu với lũ lụt, cung cấp nước cho các đô thị, và những vấn đề liên quan khác.  

      -- Miến Điện sẽ cùng chủ tọa một hội nghị về các vấn đề Canh Nông và An Toàn Lương Thực cho toàn cư dân lưu vực Sông Mekong. Và cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của ASEAN.

      -- Lào cũng sẽ cùng chủ tọa một hội nghị xây dựng một nền móng Nối Kết [Connectivity], nhằm phát triển tối ưu hệ thống giao thông đường xá, các mạng lưới dẫn điện và khép lại sự phân tán của mạng lưới số [digital divide] giữa các cơ sở học viện và các nhóm cư dân.   

      -- Tiến đến hình thành “nhóm chuyên gia độc lập” từ bên ngoài có khả năng cống hiến những ý tưởng mới mẻ [fresh thinking] về sự kết hợp vùng [subregional integration], phát triển bền vững, ganh đua kinh tế, và quyền lợi hỗ tương trong các lãnh vực khác. 

      Đi thêm vào chi tiết của Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, (1) Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ một kết hợp mới [new partnership] giữa Chánh phủ Việt Nam và Đại học Harvard nhằm đào tạo một thế hệ tương lai những chuyên gia và các nhà lãnh đạo vùng trong các lãnh vực chủ yếu,(2) Nỗ lực gia tăng phòng chống sốt rét và biến đổi khí hậu. Hoa Kỳ sẽ đầu tư thêm 50 triệu MK trong 3 năm tới. Đây là phần thêm vào đối với những hỗ trợ song phương [bilateral support] mà Hoa Kỳ đã cung cấp, (3)Và để triển khai mạng lưới điều hợp Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, bước đầu tiên sẽ là một “tụ điểm điều hợp” [coordination hub] tại cơ quan USAID Bangkok. Và đã tới lúc cần di chuyển trung tâm này tới gần hơn con sông Mekong để chúng ta có thể tăng cường hợp tác và liên lạc. 

Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, qua Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 cũng đã đặt ra “những câu hỏi nghiêm trọng về các con đập trên dòng chính Sông Mekong”.Hoa Kỳ đã từng khẩn thiết kêu gọi các quốc gia Mekong“hoãn xây những con đập mới” cho tới khi lượng giá được mọi ảnh hưởng của những con đập ấy. Một số khảo sát đã đề cập tới lợi lộc của sản xuất thủy điện, nhưng vẫn còn đó các câu hỏi thực sựchưa có lời giải đáp –là hậu quả của các con đập dòng chính ấy trên ngư nghiệp, canh nông, môi trường, sức khỏe và đời sống cư dân sẽ ra sao?  

Qua Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, Hoa Kỳ đã sẵn sàng đóng góp thêm 1 triệu MK cho Ủy Hội Sông Mekong cho nghiên cứu và phát triển bền vững Sông Mekong, trong đó có khảo sát về tiềm năng ảnh hưởng những con đập dòng chính. HoaKỳ cũng yểm trợ thêm cho Ủy Hội Sông Mekong 2 triệu MK để thăng tiến Khả năng kỹ thuật cho các phát triển ngư nghiệp bền vững và cải thiện cuộc sống nông thôn. 

Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 có tiềm năng rất lớn, nhưng chính Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng thấy được tính uyển chuyển/ flexible của các dự án và chỉ có thể thành công nếu mọi thành viên đều hết lòng tham gia, góp ý vớinhững cuộc đối thoại rất xây dựng và thẳng thắn.[2]

Trong bài viết cập nhật này, tác giả sẽ bàn về những bước triển khai và hiện thực của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cùng với những đề xuất – như một đáp ứng theo yêu cầu góp ý của Ngoại Trưởng Hillary Clinton.

TỪ MỘT KINH NGHIỆM QUÁ KHỨ:

Đó là vào những năm 1960s giữa cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng leo thang, lúc đó tác giả bài viết này còn là sinh viên, điều hành tờ báoY khoa Tình Thương, tòa soạn nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây cũng là nơicó dịp tiếp các phái đoàn sinh viên quốc tế như WUS (World University Service), và những nhà báo ngoại quốc tới thăm, với một vài tên tuổi tôi còn nhớ như: Takashi Oka phóng viên Chistian Science Monitor & New York Times, Jean-Claude Pomonti báo Le Monde, có cả nhà báo Phạm Xuân Ẩn tuần báo Times của Mỹ (mà sau này mới được biết là một điệp viên tình báo chiến lược của Hà Nội)… [14] 

      Nói chung giới truyền thông Tây Phương rất quan tâm tới “cái nhìn” của thanh niên sinh viên Việt Nam đối với cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt thời bấy giờ. Chưa kể tới cái giá phải trả về sinh mạng, mỗi tuần người Mỹ đổ vào cuộc chiến ấy hàng tỉ MK cho bom đạn và máy bay. Cũng giữa cuộc chiến tranh tàn phá khốc liệt đó, như một bông hoa hiếm trên sa mạc – một Trung Tâm Giáo Dục Y khoa hiện đại với hỗ trợ của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (American Medical Association) tổn phí 2.7 triệu MK, một nửa do Hoa Kỳ tài trợ,một nửa từ ngân sách Việt Nam, đã được nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt thiết kế và hoàn tất xây cất từ 1966, và trường Y Khoa Sài Gòn từ 28 Trần Quý Cáp, đã được chính thức dọn về địa chỉ mới này trên đường Hồng Bàng. [12]

      Dự án xây cất một Bệnh viện Thực tập hiện đại 500 giường cũng trong khu đất kế cận TTGDYK, có cả Helipad tải thương là giai đoạn tiếp theo,đã không thể thực hiện khi người Mỹ bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Cũng tại tòa soạn báo Tình Thương ấy, chúng tôi còn nhớ là đã hơn một lần nói với những nhà báo Mỹ tới thăm ấy, là sau Chiến Tranh Việt Nam, người ta sẽ không còn nhớ đã có bao nhiêu chiếc máy bay và trực thăng bị bắn rơi, nhưng Trung Tâm Giáo Dục Y khoa Sài Gòn ấy sẽ cứ mãi là biểu tượng xây dựng của Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam.  



Hình 2_ Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa Sài Gòn với yểm trợ của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ được xây cất và hoàn tất năm 1966 giữa giông bão của cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

Và ngót nửa thế kỷ sau, Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa trên Đại lộ Hồng Bàng ấy, được xem như Made in USA ấy, [mà trị giá chỉ hơn một chiếc trực thăng bị bắn rơi] vẫn cứ an nhiên tồn tại, không phải chỉ như một cơ sở vật chất nhưng hơn thế nữa luôn luôn là một dấu ấn xây dựng tốt đẹp trong tâm khảm của người Việt ở cả hai phía.  

TỚI MỘT DỰ ÁN ĐỀ XUẤT TRÊN ĐẤT LÀO

      -- Thời điểm năm 2000, với nhận định Đồng Bằng Sông Cửu Long, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn Sông Mekong, nơi sẽ chịu ảnh hưởng tích lũy do các bước khai thác không bền vững trên suốt chiều dài con sông;đó cũng là nơi trực tiếp bị ảnh hưởng của Biến Đổi Khí Hậu với nhiễm mặn và nước biển dâng cao. Do đó người viết đã đề nghị thành lập một Phân khoa Sông Mekong nơi Đại Học Cần Thơ,đó như một “think tank” có tầm vóc quốc tế,là trung tâm vừa nghiên cứu vừa giảng dạy nhằm cung cấp nguồn chất xám cho toàn lưu vực Sông Mekong.[13] 

Nhưng rồi một thập niên trôi qua, Đại Học Cần Thơ vẫn chưa hình thành được một Phân Khoa Mekong, không phải chỉ do hạn chế về nguồn nhân lực và vật lực, nhưng hơn thế nữa do không có một nền “tự trị đại học” thì nơi ấy chưa thể là cái nôi cho một dự án như vậy. 

-- Cũng thời điểm năm 2000 ấy, vẫn chưa có những biểu hiện đe dọa nhãn tiền về dự án 11 con đập dòng chính Hạ Lưu Sông Mekong. Vì kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc mới lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi / feasibility study của những con “đập dòng chảy / run-of-river” thuộc Lưu Vực Dưới Sông Mekong.

      --  Trong số  11 dự án con đập dòng chính Hạ Lưu, thì đã có 9 con đập nằm trên lãnh thổ Lào [ 2 đập còn lại Stung Treng và Sambor, thì thuộc Cam Bốt ]. Xayaburi, 1.260 MW, là con đập dòng chính đầu tiên của Lào, đang gây sóng gió cho toàn lưu vực.   

      -- Quốc gia Lào với sẵn 9 dự án đập dòng chính và chưa kể vô số các con đập phụ lưu, sẽ là một vị trí địa dư tốt nhất cho một Học Viện Mekong; sẽ đóng vai trò “Ngọn Hải Đăng Trí Tuệ” chỉ đường cho mọi bước phát triển trong lưu vực. 

-- Nhu cầu một tụ điểm điều hợp: cho dù đã có một tụ điểm điều hợp [coordination hub] của cơ quan USAID[Agency for International Development of the U.S.] tại Bangkok, nhưngnhư nhận định của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, đã tới lúc cần di chuyển trung tâm này tới gần hơn con Sông Mekong để chúng ta có thể tăng cường hợp tác và liên lạc. [1] 

      -- Thu hẹp khoảng cách phát triển: Lào là một nước thiếu tài nguyên ngoài tiềm năng thủy điện, được coi là một quốc gia nghèo và kém phát triển nhất trong 5 quốc gia Hạ Lưu Mekong.Một Học Viện Mekong trên đất Lào là một bước cụ thể để thu hẹp khoảng cách phát triển ấy. Đây cũng là một đền bù xứng đáng cho một đất nước bị tàn phá không ít trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai mà Lào không hề trực tiếp tham dự. 

-- Cuối cùng nhưng không phải không quan trọng: Học Viện Mekong ấy không những có chức năng vô cùng cần thiết nhưng đó cũng là một chọn lựa đầu tư hiệu quả nhất [the most cost-effective investment] và là một biểu tượng ý nghĩa của hợp tác bền vững của Hoa Kỳ trong thời bình. 


MỘT HỌC VIỆN MEKONG TRÊN ĐẤT LÀO

      Sau đây là đề xuất của tác giả, với đề nghị từng bước thực hiện cụ thể để tiến tới hình thành một Học Viện Mekong:
      -- Cơ sở của Học Viện Mekong tương lai sẽ được nhóm kiến trúc sư Mỹ Lào thiết kế (giống như bước khởi đầu của Trung tâm Giáo Dục Y Khoa Sài Gòn do nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt kết hợp). Công trình kiến trúc ấy sẽ vừa phản ánh tính hiện đại vừa mang đậm nét văn hóa của dân tộc Lào. Kinh phíxây dựngmột nửa sẽ do các quốc gia Mekong đóng góp, một nửa từ cơ quan USAID của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên Học Viện Mekong sẽ có một tầm vóc và quy mô lớn hơn TTGDYK Sài Gòn, tương xứng với chức năng của một “học viện nghiên cứu khoa học và giáo dục” trên quy mô của toàn vùng Đông Nam Á. 

      -- Sự kiện kết nghĩa với Ủy Hội Sông Mississippi là một thuận lợi rất lớn cho những bước phát triển của Học Viện Mekong. Ủy Hội Sông Mississippi với lịch sử hàng trăm năm từ 1879,với kinh nghiệm tích lũy của gồm những thành tựu và cả sai lầm – chính những sai lầm ấy là bài học qúy giá để các quốc gia Mekong không một lần nữa tái phạm. Cũng cần học thêm cả “tầm nhìn xa” của các nhà quy hoạch Mỹ với “Viễn kiến 200 năm như một Cam Kết Liên Thế hệ”(America’s Watershed: A 200-year Vision, An Intergenerational Commitment signed on August20, 2009).  

      -- Trong khi chờ đợi thiết kế và hoàn tất xây dựng cơ sở cho một Học Viện Mekong như trên, thì địa điểm khởi đầu của Học Viện Mekong có thể sẽ là Đại Học Quốc Gia Lào (NUOL / National University of Laos) ngay thủ đô Vạn Tượng,[cũng là nơi có trụ sở Ủy Hội Sông Mekong]. Đại Học Quốc Gia Lào còn rất non trẻ được thành lập năm 1996, là Đại Học Quốc Gia duy nhất, có liên kết với một số đại học ngoại quốc, chủ yếu là Nhật Bản. Đặc biệt hơn nữa, Đại Học nàycòn là thành viên của Mạng Lưới Giáo Dục và Nghiên Cứu Lưu Vực Lớn Sông Mekong (GMSARN/ Greater mekong Subregion Academic and Research Network) và cũng thuộc Mạng Lưới Đại Học ASEAN (AUN/ ASEAN University Network).



Hình 3_ Logo biểu tượng của Đại Học Quốc Gia Lào, thủ đô Vạn Tượng cũng là thành viên của GMSARN / Mạng Lưới Giáo Dục và Nghiên Cứu Lưu Vực Lớn Sông Mekong.

-- Xây dựng một Trung tâm Học Liệu (Learning Resource Center) chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu liên quan tới hệ sinh thái con sông Mekong và con sông Mississippi, và cả những con sông lớn khác, những con đập thủy điện của thế giới và hậu quả, ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và nạn nhiễm mặn… 

-- Thiết lập ban giảng huấn sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi, cùng với nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế từ Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc [UNEP/ United Nations Environment Programme], chuyên gia Hội Các Con Đập Thế Giới [WCD/ World Commission Dams], Mạng Lưới Sông Quốc tế [IRN/ International River Network]… Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng cho Học Viện Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.

-- Tuyển sinh mở rộng cho toàn lưu vực, từ các thành phần ưu tú biết ngoại ngữ, cộng thêm với tiêu chuẩn Fulbright “học tập xuất sắc và có năng khiếu lãnh đạo”. Việc cấp học bổng cho các sinh viên không phải chỉ có Lào mà cả từ các quốc gia trong toàn lưu vực như Cam Bốt, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam và cả từ Vân Nam Trung Quốc; không thể không bao gồm cả những sinh viên từ quốc gia Tây Tạng, không chỉ là cái nôi của con Sông Mekong và mà của cả những con sông lớn Châu Á. 

      -- Chương trình hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh, ngoài phần lý thuyết họ sẽ được tiếp cận với thực tế bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại cơ sở các Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mekong. Trong một tương lai xa hơn, có thể tiến tới những chương trình hậu đại học / post graduate education cho các học vị thạc sĩ và tiến sĩ. 

Với trình độ kiến thức và tinh thần liên đới của đám sinh viên đa quốc gia ấy sẽ là “nguồn chất xám” bổ sung cho Ủy Hội Sông Mekong, thế hệ chuyên viên và lãnh đạo tương lai cho các chánh phủ địa phương đang bị thiếu hụt nhân sự trầm trọng. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này sẽ là mẫu số chung của một “Tinh Thần Sông Mekong”, tạo sự nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 7 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong. [7]

--Học Viện Mekong sẽ là nơi diễn ra các Hội Nghị Quốc Tế, các cuộc Hội Thảo về Sông Mekong. Hướng đến thời điểm 2020,với 9 dự án đập dòng chính, đất nước Lào nói riêng và cả Lưu Vực Dưới Sông Mekong nói chung,nơi ấy đang trở thành “một trận địa môi sinh” khốc liệt không phải chỉ do hậu quả những con đập thủy điện bậc thềm khổng lồ của Trung Quốc trên thượng nguồn mà còn do những bước “khai thác tự hủy”của chính các quốc gia hạ nguồn. 

TỚI SÁNG KIỀN HẠ LƯU MEKONG 2100
Phải xem đây như một kế hoạch đầu tư dài hạn và rất ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng. Mốc thời gian không phải chỉ có 8 năm [2012 – 2020], Học Viện Mekong sẽ là “viễn kiến 100 Năm”thế kỷ đầu của Thiên Niên Kỷ thứ Ba này. 

Đã có những công trình tặng dữ nặng tính phô trương trên đất nước Lào: như Cung Văn Hóa do Trung Quốc xây ở Vạn Tượng, Viện Bảo Tàng Kaysone Phomvihane do Việt Nam xây ở Cây Số Sáu… Nhưng Học Viện Mekong là một biểu tượng khác hẳn: có một giá trị giáo dục và nhân bản không chỉ giúp ích cho đất nước Lào mà với cả Lưu Vực Lớn Sông Mekong/ Greater Mekong Subregion, mà là mối quan tâm cho hạnh phúc và an sinh cho hàng trăm triệu cư dân trong lưu vực mà xa hơn nữa là bảo vệ một con sông lớn thứ 11 của thế giới với cả một hệ sinh thái vô cùng phong phú – chỉ sau con Sông Amazon, trên toàn hành tinh này.  

Cho dù bà Hillary Clinton không còn giữ chức Ngoại Trưởng trong nhiệm kỳ Tổng Thống mới của Hoa Kỳ, ông Jim Webb không còn là Thượng Nghị Sĩ của Thượng Viện, dù Dân Chủ hay Cộng Hòa, thì dấu ấn của “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong”của Ngoại Trưởng Hillary Clinton cho những bước “phát triển bền vững, sustainable development” của toàn Lưu Vực không thể không tiếp tục và triển khai vì giá trị chiến lược và biểu tượng xây dựng hòa bình của viễn kiến ấy. 

Dĩ nhiên có một cái giá cao và xứng đáng phải trả để bảo vệ con Sông Mekong: bảo vệ nguồn cá, nguồn lương thực, và bảo vệ cả một hệ sinh thái được coi như phong phú nhất của hành tinh này, cũng là bảo vệ cuộc sống hiện nay của ngót 70 triệu cư dân sống trong lưu vực và cả cho cho các thế hệ tương lai. Với tâm niệm rằng “Nói tới nguy cơ là còn thời gian. Tiêu vong là mất đi vĩnh viễn” (Endangered means we still have time. Extinction is forever -- Sea World San Diego).

NGÔ THẾ VINH, M.D.
California, 08/ 16/ 2012 


Tham Khảo:

1/ Remarks From the Fifth Lower Mekong Initiative Ministerial
Remarks; Hillary Rodham Clinton; Phnom Penh, Cambodia, July 13, 2012http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194971.htm
2/ Remarks at the Second Friends of the Lower Mekong Ministerial
Remarks; Hillary Rodham Clinton, Phnom Penh, Cambodia; July 13, 2012http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194957.htm
3/ The Mekong Basin: A Challenging Neighborhood for The U.S. Ngô Thế Vinh; http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/88

4/ The Mekong and Mississippi Sister-River Partnership: Similarities and Differences; Ngô Thế Vinh, http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/58

5/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia; U.S. Senate Committee on Foreign Relations; September 23, 2010; http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704

6/ China Sees U.S. as Competitor and Declining Power, Insider Says; By Jane Perlez, April 2, 2012; http://www.nytimes.com/2012/04/03/world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions.html?_r=1&hp

7/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia; U.S. Senate Committee on Foreign Relations; Presiding: Senator Webb, Thursday, September 23, 2010; http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704

8/ The Senate of The United Stated; S.Res. 227, July 7, 2011, A resolution calling for the protection of the Mekong River Basin and increased U.S. support for delaying the construction of mainstream dams along the Mekong River.http://www.govtrack.us/congress/bills/112/sres227/text

9/ The Mekong River at Risk 2012: With The “Spirit of The Mekong” We will Together Develop the Basin. Ngô Thế Vinh;http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/80

10/ Mekong, Tipping Point: Hydropower Dams, Human Security and Regional Stability; Richard Cronin, Timothy Hamlin; The Henry Stimson Center 2010; www.stimson.org

11/ Upon Their Shoulders: A History of The Mississippi River Commission from its Inception through the Advent of The modern Mississippi River and Tributaries Project. Charles A. Camillo and Mathew T. Pearcy. Mississippi River Commission; Vicksburg, Mississippi, 2006

12/ Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education: An Account of the American Medical Association’s Medical Education Project; C.H. William Ruhe and Ira Singer; Published by AMA June 1988. 

13/ “Cần có Phân khoa Mekong cho Đại học Cần Thơ”http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/334051/“Can-co-phan-khoa-Mekong-cho-Dai-hoc-Can-Tho”.html

14/ Nguyệt San Tình Thương 1963-1967; Tiếng Nói của Sinh Viên Y Khoa; Ngô Thế Vinh; Tình Thương Một Thời Nhân Bản, Tập San Y Sĩ –Hội Y Sĩ Việt Nam Canada, số 184, 01-2010.  



Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Trương Nhân Tuấn - Biên giới Việt Trung theo các công ước về biên giới Pháp Thanh 1887 – 1895 (2)

Trương Nhân Tuấn
(Tiếp theo)

4/ Kết quả phân giới và cắm mốc :

4.1 Thời kỳ 1889-1890 do Chiniac De Labastide làm chủ tịch.

Việc phân giới khu vực Quảng Đông chính thức bắt đầu vào buổi họp ngày 1 tháng 11 năm 1889. Phái đoàn Pháp do ông Chiniac de Labastide làm Chủ Tịch. Bên Trung Hoa có Li Sheou-Toung, Tri Phủ Khâm Châu làm Chủ Tịch. Trong thời kỳ này, các quyết định của hai ủy ban về biên giới không hiệu lực tức thời mà phải chờ sự chấp nhận của Tổng Lý Nha Môn. Trước đó, hai bên đã có nhiều cuộc họp để bàn luận nhằm thống nhất quan điểm về đường biên giới. Phía Pháp đặt bản doanh ở Hoành Mô. Các ủy viên Pháp ra thực địa làm công tác trắc địa và lập bản đồ. Có hai bộ bản đồ được lập ra, trên vải lụa, tỉ lệ 1/10.000. Một tấm mô tả biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long- Bắc Thị. Một tấm từ điểm hợp lưu này đến ải Bắc Cương.

Như đã thấy, theo nội dung biên bản phân định, đường biên giới phải đi qua ngọn núi Phân Mao. Đây là nguyên nhân đem lại khó khăn cho vấn đề phân giới. Các ủy viên người Pháp đã bỏ công tìm kiếm trên thực địa, cũng như xem lại các địa chí, hay hỏi thăm dân chúng trong vùng để xác định vị trí núi này. Phía người Hoa, trong một buổi họp, khi các ủy Pháp đặt câu hỏi về vị trí núi này ở đâu trên bản đồ, thì lộ vẻ bối rối, hẹn trả lời trong buổi họp tới. Đến lúc họp mặt lại, thì ông tri phủ Khâm Châu chỉ tay vào một trái núi trên bản đồ rồi cho rằng đó là “Phân mao lãnh”. Phía ủy ban Pháp phản đối, vì họ đã biết vị trí thật của núi này ở đâu. Trong khi đó, khoảng thời gian giữa hai buổi họp, phía người Hoa đã cho người tạo dựng một ngôi đền nhỏ, viết tên đề là đền thờ « Phục Ba tướng quân », rồi đặt tên cho ngọn núi đó là núi Phân mao. Phái đoàn Pháp kịch liệt phản đối, vì họ biết chính xác vị trí núi này ở cách xa khu vực này vài chục cây số, về phía bắc. Phía người Hoa biện luận rằng nhận xét của phái đoàn Pháp là chính xác, những núi đó là núi “Đại Phân mao”, trong khi núi ở khu vực này là “Tiểu Phân mao”. Phía người Hoa lập lại một nguyên tắc đã dùng ở Tụ Long để chiếm đất của Việt Nam, qua việc dựng lên con sông Tiểu Đổ Chú. Chiniac De Labastide, trong một bản tường trình lên Toàn quyền Đông dương, tố giác việc này và yêu cầu phân định lại biên giới, nhưng khong thành công.

Chiniac De Labastide nhật xét: Từ hợp lưu của sông Gia Long cho đến ải Bắc Cương, trên một chiều dài khoảng 40 cây số, người ta đã bỏ biên giới lịch sử để lấy một đường biên giới khác, ở xa về phía nam, một đường biên giới hoàn toàn qui ước. Việc nầy đã nhường cho Trung Hoa 7 xã rưỡi thuộc tổng Bát Tràng và hai xã khác thuộc tổng Kiến Duyên. Ông không chấp nhận nhượng bộ, yêu cầu phân định lại biên giới. Do đó công việc phân giới bế tắt, đến thời kỳ Đại tá Galliéni (1893-1894) mới giải quyết.

Trong buổi họp đầu tiên 1 tháng 11 năm 1889, một biên bản xác định biên giới được hai bên đồng ý thiết lập, liên quan đoạn biên giới từ biển đến hợp lưu sông Gia Long – Bắc Thị. Biên bản này chỉ có hiệu lực vào ngày 2-3-1890, ký tại Thán Sản.

Biên bản này xác định biên giới hai nước là con sông Gia Long, tức chỉ một phần của đoạn 1. Biên bản cũng dự trù việc cắm mốc, mà việc này, phía bên Trung Hoa cũng như phía bên Việt Nam, dĩ nhiên là không cần thiết. Nội dung biên bản như sau :
Chủ quyền các đảo và đoạn biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long được xác định như sau :
  1. Những hòn đảo ở phía Ðông kinh tuyến Paris, 105° 43’ của kinh độ Ðông, có nghĩa là đường Bắc Nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ 茶古 thì thuộc về Trung Hoa ; những hòn đảo tên Cữu-Ðầu九頭 và những đảo khác ở phía Tây của đường kinh tuyến nầy thì thuộc về An Nam.
  1. Từ Trúc Sơn 竹山, đường biên giới theo dòng sông từ Ðông sang Tây cho tới Ðông Hưng 東興 và Mang Nhai .
Ðường trung tuyến của dòng sông là đường biên giới phân chia địa hạt La Phù 羅浮 và địa hạt Ðông Hưng 東興 thuộc Trung Hoa với vùng Xuân Lạn 春爛 (vùng này bao gồm các địa phận Mũ Sãi, còn được gọi là Ngũ Sĩ 伍仕, địa phận Tử Kinh Sơn 紫京山, địa phận Lục Lâm 陸林) và địa phận Vân Xuân 萬春 (địa phận nầy bao gồm thị trấn Mang Nhai , tức Móng Cái), những vùng nầy thuộc về An Nam.
  1. Từ Ðông Hưng 東興 và Mang Nhai cho tới Gia Long 加隆 (còn viết là嘉隆) và Bắc Thị 北市 đường biên giới khá ngoằn ngoèo và dòng sông đại để đi theo hướng Tây Bắc.
Biên giới phân chia Na Chí 那至 (còn được viết là 那芝),Vọng Hưng 望興, Gia Long 加隆 (hay 嘉隆) và những vùng khác thuộc Trung Hoa với vùng Ninh Dương 寧陽 và vùng Vạn Xuân 萬春 (vùng nầy bao gồm địa phận Thân Phan 櫬潘) và Bắc Thị 北市 thì thuộc về An Nam.


Theo các công ước đã được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công trình phân giới, vào ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của dòng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.


Nếu sau nầy, vì ngập lụt hay vì cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dãi đất hay các cù lao được thành hình, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dãi đất hay cù lao mới thành hình sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó.


Theo biên bản đã ký tại Móng Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 tức ngày thứ năm tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, địa phận Thác Lãnh 托嶺 thuộc về An Nam.


Cả hai ủy ban đã không thể biết địa phận nầy ở đâu, nêu cùng quyết định sẽ không tìm kiếm thêm nữa.
Cũng trong biên bản đó chỉ định rõ rệt rằng địa phận Nam Lý 南里 thuộc An Nam.
Ðịa phận nầy ờ tả ngạn của dòng sông biên giới và tạo thành một vùng đất của An Nam nhưng ở trên nước Trung Hoa, ủy ban Pháp nhượng địa phận nầy cho Trung Hoa.
Ðể bù lại, ủy ban Trung Hoa cam kết sẽ hành động giống như vậy, nếu trong lúc phân giới đoạn thứ hai của biên giới Quảng Ðông, Trung Hoa có một vùng đất tương tự trong nội địa An Nam.
Theo hiệu lực của các điều trên đây, các ủy ban đã thi hành như sau việc cắm mốc trên đoạn thứ nhất của đường biên giới.

TRÊN LÃNH THỔ AN NAM
Cột số 1 : Trên hòn đảo nhỏ mang tên Lionceau (ltg : Sư Tử Lãnh)
Chuẩn điểm : bỏ trắng
Cột số 2 : Tại Tri Kình Sơn 紫京山.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Tại Lục Lâm 陸林.
Chuẩn-điểm :
Cột số 4 : Ðối diện Na Triệu 那旐, trên đường dẫn tới Xuân Thụ 春樹.
Chuẩn điểm :
Cột số 5 : Phía trước lô cốt Móng Cáy.
Chuẩn điểm góc : b 311° 56’ 05’’ ; Mirador 315° 22’ 10’’ ; Fortin 77° 08’ 15’’
Cột số 6 : Ở đầu của con đường Phục Thiên 服扁.
Chuẩn điểm góc : Mirador 273° 44’ 10’’ ; b 33° 14’ 40’’ ; a 56° 21’ 35’’
Cột số 7 : Ðối diện Thác Lãnh 托嶺, ở trước phần dưới thấp của một dãi cát.
Chuẩn điểm :
Cột số 8 : Trước tòa Lộc Phủ 祿俛.
Chuẩn-độ góc : Signal Ðông Bắc Lộc Phù 31° 30’ 05’’ ; a 145° 30’ 50’’ ; a 199° 56’ 55’’
Cột số 9 : Phía trước nhà Tất Na 必那.
Chuẩn độ  góc : a 59° 32’ 20’’ ; h 320° 16’ 40’’ ; s 321° 13’ 20’’
Cột số 10 : Trên một cù lao ở phía trước Trúc Kết, còn gọi là Ðôn Cát.
Chuẩn độ góc : f 345° 38’ 00’’ ; s 349° 16’ 30’’ ; Mã Ðầu Sơn 213° 21’ 10’’.

TRÊN LÃNH THỔ TRUNG HOA
Cột số 1 : Tại chợ Trúc Sơn 竹山.
Chuẩn độ phương vị từ : Sư Tử Lãnh 345° ; Fortin 285°
Cột số 2 : Tại điểm Trắc Ki Thán 測旗灘.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Ở tại hợp lưu với con suối Kiều Ðầu Câu 橋頭溝.
Chuẩn-độ phương-vị từ : Lô-cốt 311° ; Fortin 331°
Cột số 4 : Phía trên cầu thang dẫn đến ngôi chùa nhỏ ở Ðông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 5 : Ở ngay ngả vào của con đường trổ ra cầu Ðông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 6 : Tại Thủng Bốc, còn được gọi là Thùng Bộc, ở tại bến phà Quá Phố 瓜甫.
Chuẩn độ góc : Fortin 185° 24’ 10’’ ; a 39° 23’ 45’’ ; b 14° 54’ 25’’
Cột số 7 : Tại hợp lưu với con suối Giang Na 江那, phía tả ngạn.
Chuẩn độ góc : b 64° 52’ 45’’ ; a 351° 53’ 55’’ ; a 292°
Cột số 8 : Tại hợp lưu với con suối Vọng Hưng , phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : Signal đông bắc Lộc Phù 98° 15’ 00’’ ; s 15° 20’ 35’’ ; f 1° 57’ 15’’
Cột số 9 : Tại hợp lưu với sông Na Lương , phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : f 94° 48’ 15’’ ; s 60° 29’ 45’’ ; Mã Ðầu Sơn 348° 11’ 20’’.
Cột số 10 : Tại Ðại Hà 大河, ở đầu con đường dẫn tới Bắc Thị 北市.
Chuẩn độ phương vị từ : f 114° ; Mã Ðầu Sơn 221° 00’

4.2 Thời kỳ 1893-1894 do Đại tá Galliéni làm chủ tịch.

Vấn đề tranh chấp đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long đến ải Bắc Cương không giải quyết được dưới thời Chiniac De Labastide 1890-1892, phải chờ đến năm 1893-1894, thời kỳ Đại tá Galliéni làm chủ tịch. Nội dung tranh chấp đoạn biên giới này được trình bày trong bản tường trình của Chiniac De Labastide, đính kèm trong phần phụ lục bài này. Vấn đề tranh chấp gồm các điểm:
  1. đường biên giới là nhánh sông tây bắc hay nhánh sông tây nam ? Theo biên bản phân định biên giới ngày 29-3-1887, đường biên giới được mô tả: “Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông,...” Nhưng trên thực tế thì có hai nhánh sông, đều ở về phía tây ngạn sông Bắc Thị, cùng có chiều dài khoảng 30 lí, nhưng một nhánh có hướng tây bắc, một nhánh có hướng tây nam. Chiếu theo bản đồ phân định, hướng đi của đường biên giới, từ hợp lưu sông Bắc Thị - Gia Long, đến điểm A, là hướng tây bắc. Như thế, hợp lý, đường biên giới phải là nhánh sông có hướng tây bắc. Nhưng phía Trung Hoa thì không đồng ý với nhận thức này. Họ quan niệm đường biên giới là nhánh tây nam. Theo họ, chiều dài con sông chỉ tính khi nó chảy trên đồng bằng. Phần chảy trong núi non thì không tính. Như thế, nhánh tây bắc không đủ chiều dài 30 lí! (Xem sơ đồ 1)

  2. Quan niệm về đường thẳng. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 mô tả hướng đi đường biên giới : “khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A () trên bản đồ số 1.” Trên bản đồ do các trác địa viên Pháp thành lập, đường thẳng nối từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến điểm A trên bản đồ số 1 có hướng đông nam – tây bắc. Nhưng phía người Hoa không nhìn nhận đường này là “đường thẳng” mà là “đường nghiêng”. Theo họ, đường thẳng phải là đường “ngang” và đường “dọc”. Đường biên giới theo họ phải là đường nối ngang, từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến phía nam chợ Động Trung. Sau đó, từ điểm này vạch một đường thẳng đến điểm A (cách chợ Động Trung 3 lí). (Nhận diện điểm A trên sơ đồ 1 – so sánh đường biên giới theo đường thẳng trên các bản đồ 1 và 2).

  3. Tranh chấp về vị trí núi Phân Mao. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 phân chia : “Ðường biên giới chia cho phía Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới.” Nhưng núi này ở cách xa vùng phân định vài chục cây số. Nhưng người Hoa đã dựng lên một đền thờ Mã Viện giả ở dưới một ngọn núi kế cận Bản Hưng, gọi đó là Phân Mao Lãnh. Sau khi bị khám phá, họ bào chữa rằng đó là núi Tiểu Phân Mao.
Đó là một số điểm tranh cãi giữa hai phái đoàn Pháp và Trung Hoa (xem them chi tiết ở phần 6). Bài học rút ra ở đây là sự trí trá và ngang ngược của phái đoàn người Hoa về phân định biên giới. Nó có thể giúp ta môt vài kinh nghiệm khi phải đối phó trong trường hợp tương tự sau này.

Ông Chiniac De Labastide đề nghị phân định lại biên giới nhưng không được chấp thuận. Những vị tiếp nối ông, là ông Flandin từ tháng 10 năm 1890 đến tháng 12 năm 1891, ông Servière từ tháng 1 năm 1892 đến tháng 12 năm 1893, đoạn biên giới này vẫn không được giải quyết. Cho đến thời đại tá Galliéni lên làm chủ tịch, từ tháng 1 năm 1894, thì vấn đề xoay chiều. Tất cả những yêu sách phi lý của phe Trung Hoa đều được Pháp đáp ứng. Lý do bề ngoài của việc nhượng bộ là « vùng tranh-chấp có nhiều núi non, ít dân cư và nghèo nàn ». Nhưng thực ra, do thực tiễn và về chiến lược hơn là kinh tế. Giới quân đội Pháp, khi nhận trách nhiệm về phân giới, ưu tiên cho một đường biên giới thiên nhiên như dòng sông, đường sống núi mà bỏ qua đến đường biên giới lịch sử. Quyết định này làm cho VN mất các vùng đất gồm các xã : Bắc Nham, Hoàng Mộng, Tuy Lai, Nật Sơn, Thuợng Lai, Cỗ Hoàng và Vụ Khê thuộc tổng Bát Tràng cùng với một số xã thuộc tổng Kiến Duyên).

Kết quả phân giới và cắm mốc được ghi lại theo biên bản sau :
Ðại-tá Galliéni nhận thấy rằng :
  1. Toàn vùng tranh chấp được gọi là « vùng Hoàng Mô » ở khoảng giữa Bắc Cương Ải và Bắc Phong Sinh thì có nhiều núi non, ít dân cư, và vì sự nghèo nàn của nó, vùng nầy sẽ không có một tầm quan trọng lớn đối với nước Pháp.
  2. Nên áp dụng đúng với tinh-thần biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887 của Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới mà các điều khoản chính đã được lập lại trong Công Ước Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887.
  3. Phải tìm mọi nơi có thể được để đường biên giới giữa hai nước là đường thiên nhiên, như dòng sông, đường sống núi, v.v..

Ông Lý trả lời rằng ông cũng đã nhận được chỉ thị để thi hành đúng với các điều khoản của Công Ước nầy, và ông rất sung sướng được thấy thỏa ước về việc nầy đã được chấp thuận giữa hai chính phủ.

Vì vậy hai bên quyết định rằng, theo các chi tiết của biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887, sẽ chấp nhận đồ tuyến mà Ủy Ban Trung Hoa năm 1889 đòi hỏi, có nghĩa là bắt đầu từ Bắc Phong Sinh, đường biên giới trước tiên đi ngược lên nhánh Tây Nam của sông Gia Long cho đến giao điểm của nó với đường gạnh nối màu xanh ở trên bản đồ Trung Hoa do ông Labastide thiết lập.

Ðường biên giới theo đường xanh cho đến điểm A, để lại Trung Hoa, đúng như tinh thần Công Ước Bắc Kinh, các vùng Phi Lao, Bản Hưng và Lãnh Hoài.

Từ phía Bắc điểm A cho đến Bắc Cương Ải, đường biên giới sẽ được thiết lập trên đường gạch nối màu xanh. Ðường nầy được vẽ giữa hai điểm trên bản đồ Chiniac De Labastide và phản ảnh đường biên giới mà Ủy Ban Trung Hoa đòi hỏi năm 1889, nhưng để lại cho An Nam vùng Trình Tường như xác định trong biên bản số 1.

1/ Từ Bắc Thị北市, đường biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long 加隆 (Kia-loung), sông nầy là một nhánh tây ngạn của sông Bắc Thị (Pe-che). Khoảng 500 m phía hạ lưu của Bắc Phong Sinh 北風生 (Pe-Foung-Chen), sông nầy chia làm hai nhánh, một nhánh đến từ hướng Đông Bắc, nhánh còn lại đến từ hướng Đông Nam.

Đường biên giới là nhánh sông Đông Nam cho đến khi nhánh sông nầy lại chia lần nữa làm hai nhánh. Chỗ chia nầy được gọi là điểm P.

Từ điểm P, đường biên giới theo nhánh Đông Bắc, nhánh nầy chảy đến từ hướng Bắc và ở phía Tây Nam của làng Việt Nam tên An Bài安排 (An-Paii). Làng An Bài thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới là con suối mang tên An Bài cho tới một ngọn núi (côté 955) mang tên Khanh Hoài Lĩnh坑懷嶺.

Đường biên giới thỏa thuận là trung tuyến của giòng sông và ở dòng nước mà tàu bè có thể thông lưu được. Trường hợp tàu bè không thể thông lưu thì đường biên giới là đường đi qua chỗ sâu nhất hay rộng nhất hoặc có nước nhiều nhất.

Trong trường hợp bị ngập lụt hay bị cạn nước, dòng sông bị thay đổi, đường biên giới đương nhiên sẽ là đường tính theo điều kiện ghi trên. Nếu có những cù lao hay dãi cát xuất hiện, chúng ở phía nào thì chủ quyền sẽ thuộc về quốc gia đó.

Dọc theo những dòng sông biên giới cột mốc sẽ được đóng ở cả hai phía, tại những địa điểm người ta thường qua lại, hay đối diện với những địa hạt quan-trọng, hay tại những điểm hợp lưu của những dòng sông. Tại những nơi khác của dòng sông biên giới, các cột mốc sẽ đóng mỗi lúc một xa và xen kẻ ở mỗi bên bờ.

Trong những đoạn mà đường biên giới đi ngang qua những đỉnh núi cao, sẽ chỉ có một cột mốc được đóng mà hai bên mặt của cột nầy mang những ghi chú của mỗi nước. Các cột mốc mang một con số thứ tự, tiếp theo những cột mốc đã cắm ở phần thứ nhất.

2/ Từ Khanh Hoài Lãnh坑懷嶺, đường biên giới theo hướng tổng quát Đông Tây.

Đường biên giới bắt đầu hướng chút ít về Tây Nam và đến sông 大坑尾 Đại Khanh Vĩ (Ta-Kang-Ouei), rồi theo hướng Tây, cắt các dòng sông 小坑尾 Tiểu Khanh Vĩ (Siao-Kang-Ouei) và Mã Song 馬雙 (Ma-Choang).

Tại điểm nầy, đường biên giới hướng chút ít về Tây Nam, qua đỉnh núi Thanh Long Lãnh 青龍嶺 (T’ang Loung Ling, côté 843), rồi trở lại hướng tổng quát Đông Tây và đến sông Phi Lao.

Sông Phi Lao 披勞 trở thành đường biên giới, để lại Trung Hoa phía hữu ngạn các làng Phi Lao, Bản Hưng 本興 (Pan Hing) , Na Niệp 那捻( Na Ku) ; và để lại Việt Nam phía tả ngạn, làng Cúc Li 菊涖 (Ku-Li).

3/ Đường trung tuyến của dòng sông Đông Mô 洞謨 (Toung Mou), tức là sông Tiên Yên, là đường biên giới cho tới phía bắc của làng Đông Mô.

Những làng Bồ Nam 蒲楠 (Bou Nam), Khôn Văn 坤文 (Kw’an Ouen), Động Trung 峝中 (Toung Tchoung) thuộc về Trung Hoa ; những làng Na Bô 那簿 (Na-Pou), Dinh Kiều (Yng Kiao), Bản Sầm 本岑 (Penn Chin), Đông Phê洞批 (Toung Pi) và Đông Mô 洞謨 (Toung-Mou) thì thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới sau đó là sông Na Sa 那沙 (Na-Cha), phụ lưu phía hữu ngạn của sông Tiên Yên, chảy qua phía Đông làng Na Sa và phía Tây làng Đông Xã 洞舍 (Toung-Sié).

Na Sa thuộc về Việt Nam và Đông Xã thuộc về Tàu.

Đường biên giới sau đó là cũng là phụ lưu nói trên cho tới giao điểm của sông nầy với con suối mà nguồn của nó cách Trịnh Tường呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên giới theo dòng suối nầy từ giao điểm cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên giới theo đường thẳng cho tới Bắc Cương Ải北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây Bắc Trình Tường.

Làng Trình Tường thuộc về Việt Nam ; các làng Vệ Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu Tào 矯曹 (Kiao Tsao) thì thuộc về Trung Hoa.

Tại đỉnh 746, đường biên giới theo đường thẳng đến đỉnh đèo 662, gặp cột mốc số 67 thuộc biên-giới Quảng Tây.

4/ Vị trí các cột mốc trên lãnh thổ Việt Nam :
Cột số 11 : Tại nơi giáp phát của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ Phương vị từ :
Đồn Bắc Thị (angle N.E.) 317°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Na Lang 那浪 (Na-Loung).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam-si (angle N.E.) 286°
signal d 328°
Cột số 13 : Phía Đông Nam của đồn Trung Hoa Tam Tá 三左 (Sann Tao), va ở phía Bắc của nông trại Ðại Đông Điền 大峝田 (Ta Tiong T’inn).
Chuẩn độ phương vị từ: signal l 29°
Cột số 14 : Đối diện hợp lưu của nhánh Tây Nam của sông Gia Long và nhánh Tây Bắc Na Lưu 那流 (Na Liou)
Cột số 15 : Trên vàm phía Tây của hợp lưu sông Gia Long với con suối Vấn Tả 文冩 (Ouen Tou).
Cột số 16 : Phía Đông Nam An Bài安排 (An Pai), trên đồi nhỏ nhìn xuống hợp lưu các nhánh nhỏ của sông Gia Long.

Chuẩn độ phương vị từ:
Ðỉnh Khanh hoài Lãnh 95°
Ðồn Bắc Phong Sinh 290°

Cột không ghi số : Được thay thế bằng một tảng đá thấy rất rõ ở trên đỉnh Khanh Hoài Lãnh, trên đó có khắc những ghi chú chung của hai nước.

Cột chung số 17 : Cắm trên vòm ở phía Đông của dòng sông Đại Khánh Vĩ 大坑尾 (Ta Kang Ouei), cách 1000 m về phía Đông Nam của Khanh Hoài-Lãnh 坑懷嶺.
Chuẩn-độ phương-vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lãnh 南雲嶺 ( Nan Yun Ling) điểm Tam giác đạc :
cote 1157 328°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 119°
Cột chung số 18 : Cắm trên vòm phía Tây của sông Đại Khánh Vĩ.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Tiểu Khánh Lãnh 小坑嶺 (Siao Kang Ling)
Điểm Tam Giác Đạc (point de triangulation) cote 517 187°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 105°
Cột chung số 19 : Trên vàm phía Đông của sông Tiểu Khánh Vĩ 小坑尾 (Siao Kang Ouei).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lãnh 47°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 99°
Cột chung số 20 : Trên đỉnh của ngọn núi phân chia thượng nguồn của sông Tiểu Khánh Vĩ và sông Ma Song.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 101°
Đỉnh Tiểu Khánh Lãnh 145°
Cột chung số 21 : Phía Bắc của hợp lưu sông Ma-Song với một phụ lưu tây ngạn.
Cột chung số 22 : Trên đỉnh Thanh Long Lãnh 青龍嶺 (Te’ing Loung Lin) cote 843.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lộc Lang Lãnh 禄嫏嶺 (Lou Teng Ling) 149°
Đỉnh Trường Nhị 長二 (Tchang Eurl) 204°
Cột số 23 : Tại hợp lưu sông Bi Lao với một phụ lưu nhỏ ở phía tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Trường Nhị 166°
Đỉnh Thanh Long Lãnh 85°
Cột số 24 : Tại điểm hợp lưu của sông Phi Lao 披勞 với một chi nhánh nhỏ bên tả ngạn, trên một cái đồi nhỏ nhìn xuống hai sông nầy.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 姑罵嶺 (Cao Pa Ling) point de triangulation coté 960 314°
Đỉnh Cao Ba Lãnh (Kiou Pang Ling) 9°
Cột số 25: Tại hợp lưu sông Bi-Lao, phía Nam của làng Trung Hoa Cổ Phiêu 姑漂 (Kou-Piao).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cổ Ma Lãnh 18°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 垃甁嶺 côté 551 286°
Cột số 26 : Phía Bắc của làng Cúc Lỵ 菊蒞 (Ku Li) cách 360 m hợp-lưu của sông Tiên Yên với một phụ lưu tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp Bình Lãnh (K’iou Pin Ling) cote 551 205°
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 101°
Cột số 27 : Cách làng Na Phố 那浦 (Na Pou) 240 m về hướng Đông Nam
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 106°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 180°
Cột số 28 : Cách làng Bản Sầm 本岑 (Penn Ch’in) 360 m về hướng Đông Bắc.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 107°
Cote 327 (hướng Đông Bắc của đồn Hoàng Mô) 226°
Cột số 29 : Trên khu rừng phía bắc của hợp lưu các sông Đông Mô và Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 85°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 28°
Cột số 30 : Cách làng Na Sa 那沙 60 m về phía Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 65°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 343°
Cột chung số 31 : Cách Trình Tường 呈祥 (Tcheng Siang) 600 m về hướng Đông.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô 347°
Đỉnh Đông Lánh Lãnh 東另嶺 (Toung Linh Ling) cote 763 210°
Cột chung số 32 : Cách làng Trình Tường 1160 m về hướng Bắc Tây Bắc .
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lánh Lãnh 176°
Đỉnh Phá Lai Lãnh (Pa Lai Ling) cote 895 73°
Cột chung số 33 : Trên đèo, khoảng giữa côtes 746 và 750, cách thung lũng Bắc Cương Ải 340 m, về hướng Nam.

5/ Vị trí các cột mốc trên lãnh thổ Trung Hoa :
Cột số 11 : Tại điểm hợp lưu của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Bắc Thị (góc đông bắc) 11°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Lục Chân 六真 (Lou Chan).
Chuẩn độ phương vị từ:
signal b 84°
signal g 22°
Cột số 13 : Ở phía Đông Bắc đồn Pháp tên Niệm Thị 捻市 (Yen Che).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Nam Si (Blockhaus de Nam-Si) (góc Đông-Bắc) 307°
signal d 55°
Cột số 14 : Tại hợp lưu sông Gia Long với sông phía Đông của Thán sản (T’ann San).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam Si (góc Tây Bắc) 31°
signal q 343°
Cột số 15 : Ở tại hợp lưu của hai nhánh Tây Bắc và Đông Nam, phía hữu ngạn của nhánh gọi là Na Lưu 那流 (Na Liou).
Cột số 16 : Ở vàm phía trên nơi hợp lưu của sông Gia Long và suối An Bài.
Chuẩn độ phương vị từ:
Khanh Hoài Lãnh 277°
Đồn Bắc Phong Sinh (góc Tây Bắc) 292°
Cột số 23 : Tại giao điểm của đường biên giới và sông Phi Lao, bên bờ hữu ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Thanh Long Lãnh 74°
Đỉnh Cao Ba Lãnh 342°
Cột số 24 : Cách Phi Lao 180 m về hướng Tây Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cao Ba Lãnh 23°
Đỉnh Cô Mạ Lãnh (Kou ma Ling) point de triangulation cote 960 339°
Cột số 25 :
Đỉnh Cô Mã Lãnh 99°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh (Kieu Pin Ling) 191°
Cột số 26 : Cách làng Việt Nam Dinh Khiếu 營叫 (Yng Kiao) 400 m về hướng Tây.
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 92°
Cote 327 249°
Cột số 27 : Cách làng Việt Nam Đông Phê 洞批 (Toung-Pi) 720 m, về hướng Bắc, cote 305.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 109°
Đồn Hoàng Mô (phía Đông Nam) 291°
Cột số 28 : Ở về phía Đông của hợp lưu các sông Đông Mô và Na Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 22°
Cote 327 87°
Cột số 29 : Cách làng Việt Nam Na Sa 那沙 (Na-Cha) 380 m về hướng Đông Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 344°
Cote 327 73°
Cột số 30 : Cách làng Trung Hoa Na Xá 那舍 (Na Sié) 100 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 64°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 337°
Cột số 31 : Cách làng Trung Hoa Đông Xá 洞舍 (Toung Sié) 120 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Poste de Hoàng Mô (cote ouest) 336°
Cột số 32 : Cách nơi hợp phát của con suối làm đường biên giới, phía Đông Nam làng Trịnh Tường.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Khoảng cách với cột mốc ở phía Đông Nam làng Trịnh Tường : 660m
Cột số 33 : Ở tại hợp lưu của con suối đến từ làng Vệ Tàm 衛喒 (Schu-Tsan) với sông Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lang Lãnh 60°
Khoảng cách với cột mốc phía Đông Nam Vệ Tàm 400m


Vị trí các cột mốc được ghi chú trên hai bản đồ ở phần 5.
Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Việt Nam)
Hình trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Việt Nam.
Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Trung Quốc)
Hình trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Trung Hoa.
5/ Bản đồ phân giới :

Hướng đi chính thức đường biên giới, đồ tuyến biên giới theo đề nghị của hai phái đoàn Pháp-Thanh đồng thời vị trí các mốc giới được hoạch định trên hai tấm bản đồ (từ hợp lưu sông Gia Long đến Bắc Cương Ải) do ủy ban Chiniac De Labastide thành lập sau đây :
indo ggi 65361 (03)
indo ggi 65361 (02)

6 / Diễn tiến phân giới trong thời kỳ 1890-1891 :


Tạm dịch biên bản 24-6-1890 :
Các Ủy Ban phân giới và cắm mốc sau khi lập một bản đồ chính xác của đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long加隆 cho đến Bắc Cương ải北崗隘,


Sau khi nghiên cứu, giữa hai cực điểm này, đồ tuyến biên giới giữa Trung Hoa và An Nam, tức là đoạn thứ hai của biên giới Quảng Ðông,


Ủy Ban Pháp chiếu đúng theo nội dung biên bản phân định biên giới ký tại Móng Cái ngày 19 tháng 3 năm 1887, nhằm ngày mồng 5 tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, giữa Ủy Viên Hoàng Gia Tseng và Bộ Trưởng Pháp Dillon, và chiếu theo bản đồ số 1 trên tất cả các chi tiết của nó đã được công nhận là chính xác, đã vạch đồ tuyến biên giới như sau:
  1. Từ Bắc Thị 北市 và Gia Long 加隆, biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long mà sông này là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị北市.
Ở khoảng hai phần ba chiều dài, sông chia ra làm hai nhánh có cùng tầm quan trọng. Một nhánh dài độ 35 lý đến từ hướng Tây Bắc, nhánh còn lại có độ dài khoảng 40 lý đến từ hướng Tây Nam.
sơ đồ hướng đi biên giới 1887
Hình trên : Sơ đồ vẽ bản đồ số 1 (bản đồ đính kèm biên bản phân định 19-3-1887)


Bản đồ số 1 chỉ có vẽ nhánh Tây Bắc, là nhánh sông có độ dài tương đương với 30 lí, được các ủy ban phân định biên giới chỉ định là chiều dài của sông Gia Long 加隆.

Sông này, đúng theo biên bản 29 tháng 3 năm 1887 và bản đồ số 1, phải là đường biên giới trên toàn thể chiều dài của nó, cũng như Ủy Ban Trung Hoa đã công nhận nó trong biên bản ký tại Thán Sản 灘散 ngày 2 tháng 3 năm 1890, nhằm ngày mồng mười tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.


Các Ủy Ban Phân Ðịnh đã lấy đường biên giới là nhánh sông Tây Bắc cho đến nguồn của nó. Ủy Ban phân giới Pháp đã lấy điểm nguồn của sông này để làm điểm gốc cho một đường thẳng vạch đến điểm A, điểm này ở cách 3 lý về hướng Bắc ngôi chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中. Ðường thẳng này tạo thành đường biên giới giữa An Nam và Trung Hoa, từ điểm nguồn của sông này với điểm A ().

Ðiểm phải được lưu ý là đường thẳng này theo lẽ đi từ hướng Ðông Nam đến Tây Bắc, như trên bản-đồ số 1, lại đi từ hướng Ðông Bắc đến Tây Nam.

Ủy ban Pháp nhìn nhận rằng, chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các địa hạt Lãnh Hoài 嶺懷, Bi Lao , còn được viết là Phái Lâu 派樓, Bản Hưng 扳興 thuộc về Trung Hoa; nhưng chúng lại ở phía dưới đường thẳng được nhận là đường biên giới, vì vậy tạo thành một số các vùng đất Trung Hoa trên lãnh thổ An Nam.

Một trong các vùng đất này phải nhượng lại cho An Nam, để đổi lại vùng Nam Lý 南里 của An Nam đã nhượng cho Trung Hoa, theo như biên bản ký tại Ðông Hưng 東興 ngày 15 tháng 4 năm 1890, nhằm ngày 26 tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.


Về phần trái núi Phân Mao Lãnh 分茅嶺 thì không ở về phía Ðông Bắc của Bản Hưng 扳興, cũng không ở một địa phương nào trong vùng; các vụ tìm kiếm tỉ mỉ nhất cũng đã không tìm thấy, cái tên này hoàn toàn xa lạ trong dân chúng.

Chiếu theo biên bản đã ghi trên, làng Ðộng Trung 峝中 và Na Dương thuộc về An Nam.
Làng sau cùng thì vẽ rất sai trên bản đồ số 1, đáng lẽ nó ở về phía Nam của Ðộng Trung 峝中 và phía Bắc của làng Trình Tường, thì lại ở Tây Bắc của Ðộng Trung 峝中 và phía Tây Nam của Trình Tường, đối diện với biên giới Quảng Tây.
  1. Từ điểm A ()đường biên giới đi về hướng Bắc Cương Ải 北崗隘; bắt buộc bao bọc làng Trình Tường thuộc An Nam, vì vậy tạo thành một vòng cung mà phần lồi quay về hướng Ðông.

Ðường biên giới đi tiếp đến, buộc phải theo địa hình, đỉnh 940, sau đó đỉnh 1032, bắt vào biên giới thiên nhiên cũ của An Nam và Trung Hoa, đến đỉnh 1365 của núi Kiểu Tào Sơn 矯曹山, theo lại đường biên giới cũ là một con suối cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.

Có vấn đề phải làm liên quan đến làng Na Dương 那陽 được trao cho An Nam. Việc nghi nhận về làng nầy được ghi ở trên.


Về ngọn núi Phái Thiên Sơn 派遷山, theo dân địa phương thì nó ở cách nhiều ngày đường về hướng Tây chứ không phải ở vùng chung quanh Bắc Cương Ải 北崗隘. Nhưng vị trí của ải mang tên này cũng không được xác định một cách rõ ràng; nó ở khoảng 30 lí theo đường thẳng từ làng thuộc An Nam tên Bình Liêu苹寮.


Chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các làng Na Quang 那光 và Bản Thân (Thôn) ở bên phía biên giới (đối diện với An Nam) thì thuộc về Trung Hoa.


Việc nên ghi nhận, ngược với những chi tiết ghi trên bản đồ số 1, Bắc Cương Ải 北崗隘 theo lẽ ở về phía Tây Nam Ðộng Trung 峝中 thì ở phía Bắc của làng này, mà làng này ở về phía Nam chứ không phía Bắc của làng Trình Tường呈祥; hướng tổng quát của đường biên giới đáng lẽ là từ Ðông Bắc đến Tây Nam thì trước hết từ Tây Nam đến Ðông Bắc, sau đó từ Nam lên Bắc và cuối cùng từ Ðông Bắc đến Tây-Nam, có nghĩa là hầu như đi ngược lại hoàn toàn nội dung bản đồ số 1.


sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Pháp
Hình trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Pháp.


Ðồ tuyến của Ủy Ban Pháp thì hoàn toàn đúng với nội dung biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887, Ủy Ban Trung Hoa phản đối như sau:
  1. Bắt đầu từ ngã rẽ của sông Gia Long 加隆, Ủy Ban Trung Hoa lấy đường biên giới là nhánh sông đến từ hướng Tây Nam, nhánh này không có vẽ trên bản đồ số 1, sau đó họ rời nhánh sông này trước rất xa điểm nguồn của nó, tại điểm mà thế nào đường thẳng bắt nguồn từ điểm này để đến điểm ở tại chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 có một hướng chính xác Ðông Tây.
Từ chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 cho đến điểm A cách 3 lý về hướng Bắc, Ủy Ban Trung Hoa cho rằng đường biên giới là một đường thẳng từ Nam lên Bắc.
Không có tranh chấp về vị trí của điểm A ().
Các ủy viên Trung Hoa đã biện luận cho đồ tuyến của họ với những lý lẽ như sau:
  1. Theo họ, nhánh sông Gia Long 加隆 đến từ hướng Tây Nam thì quan trọng hơn nhánh đến từ hướng Tây Bắc; nhánh sau cùng chỉ là một phụ lưu.
  2. Nếu họ không lấy biên giới là con sông cho đến tận nguồn, vì theo họ, toàn thể chiều dài của sông chỉ có nghĩa là toàn thể chiều dài trên vùng đồng bằng; tất cả phần của dòng sông chảy trong núi thì không tính.
  3. Nếu họ nối đến chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 mà không nối đến điểm A (), là điểm mà đường biên giới rời khỏi sông Gia Long 加隆, vì dưới mắt họ, chỉ có những đường thẳng đi từ Ðông sang Tây hay ngược lại. Tất cả những đường có hướng khác là những đường nghiêng.
Dựa trên căn bản này, họ nối, bằng một đường thẳng thứ hai đi từ Nam lên Bắc, từ chợ cũ Ðộng Trung 峝中 đến điểm A ().


sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Trung Hoa
Hình trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Trung Hoa.


Ủy Ban Pháp phản bác một cách mạnh mẽ tất cả các chi tiết của đồ tuyến nầy, nó đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế.
  1. Nói rằng nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆 thì quan trọng hơn nhánh Tây Bắc là không đúng; lưu lượng hai nhánh sông ở tại nơi hợp lưu thì gần giống như nhau; dân địa phương chỉ định một cách bất kỳ nhánh này hay nhánh kia là dòng chánh của con sông.
Vả lại, nhánh Tây Bắc là nhánh duy nhất hiện hữu trên bản đồ phân định số 1; cũng là nhánh mà độ dài tổng cộng của nó gần nhất với độ dài phỏng chừng được các ủy ban phân định biên giới chỉ định, như vậy không nghi ngờ nhánh này mới là đường biên giới chứ không phải nhánh Tây Nam.
  1. Các Ủy Viên Pháp không thể chấp nhận lý thuyết mới cũng như lạ đời là con sông chỉ bắt đầu tính khi nào nó chảy ở đồng bằng.
Biên bản phân định biên giới chỉ định rằng sông Gia Long 加隆 là đường biên giới trên cả chiều dài của nó; như vậy là phải theo dòng sông cho đến nguồn của nó, có nghĩa là cho đến nguồn của nhánh Tây Bắc được các ủy ban phân định nhìn nhận là đường biên giới.
  1. Các Ủy Viên Pháp cũng không thể chấp nhận lý thuyết còn lạ hơn lý thuyết trước là những đường thẳng chỉ có thể vạch từ Nam lên Bắc hay từ Ðông sang Tây, hoặc ngược lại.
Họ cũng giải thích một cách khó khăn, làm thế nào đường thẳng Ðông Tây bắt đầu tại chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中,cắt nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆,đúng ngay tại điểm mà sông này rời núi. Ðây là một sự tình cờ đến từ sự huyền diệu.
Các ủy Viên Pháp cho rằng sử dụng các lý lẽ và cách thức như vậy là ngăn chận mọi tranh cãi đứng đắn và trung thực.
  1. Giữa điểm A () và Bắc Cương Ải 北崗隘, Ủy Ban Trung Hoa chỉ trích rằng đồ tuyến của Ủy Ban Pháp thì quá ngoằn nghoèo. Họ đòi hỏi một đồ tuyến trực tiếp giữa hai điểm trên mà không nghĩ đến việc phải tránh làng Trình Tường mà biên bản phân định biên giới đã chỉ định là của An Nam.
Về vấn đề liên quan đến làng này thì Ủy Ban Trung Hoa cho rằng nó không phải là làng đã được biên bản phân định biên giới chỉ định. Họ đặt căn bản lên việc làng này, được gọi tên trong hồ sơ trên đây là Trình Tường 呈祥, được gọi tên trong vùng là Ðịnh Tưởng 定想. Theo các Ủy Viên Thanh triều, làng Ðịnh Tưởng 定想 thuộc về Trung Hoa và phải tìm xa hơn về phía Ðông làng có tên là Trình Tường 呈祥 thuộc về An Nam.

Sự xác nhận nầy không đúng. Trình Tường 呈祥 và Ðịnh Tưởng 定想 chỉ là một làng, đó là làng đã được chỉ định trong biên bản 29 tháng 3 năm 1887, dưới cái tên thứ nhất thì sai, nó chỉ được biết đến qua cái tên thứ hai.

Trong những điều kiện như vậy, Ủy Ban Pháp không chấp nhận đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị, từ điểm A ()cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.
Mặt khác, các Ủy Viên Thanh triều, thuộc vùng Quảng Ðông, đã cho biết ý kiến của họ rằng, họ không bận tâm đến việc phân giới từ điểm A ()trở đi, vì giữa điểm này và Bắc Cương Ải 北崗隘, biên giới sẽ được ủy viên Quảng Tây phụ trách.


Ủy Ban Pháp chỉ biết ghi nhận lời tuyên bố này mặc dầu thấy rằng các Ủy Viên Trung Hoa dường như mâu thuẫn với các chi tiết địa lý được công nhận cho đến ngày hôm nay cũng như với nội dung của biên bản phân định 29 tháng 3 năm 1887.


Tóm lại, Ủy Ban Pháp giữ nguyên đồ tuyến của họ từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘, vì cho rằng nó phù hợp hoàn toàn với biên bản cũng như những phần đã được công nhận là đúng trong bản đồ số 1 kèm theo biên bản nói trên.


Ủy Ban Pháp phản đối đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị vì nó đi ngược lại hoàn toàn với công ước.
Ủy ban Trung Hoa tuyên bố giữ nguyên đồ tuyến của mình và không công nhận đồ tuyến của Ủy Ban Pháp.


Trong các điều kiện này, sự thỏa thuận không thể đạt được giữa hai Ủy Ban, họ cùng biểu quyết, trong một thỏa ước chung, hai bên sẽ đệ trình vấn đề lên Tổng Lý Nha Môn và Ðặc Sứ Pháp tại Bắc Kinh để giải quyết. Hai ủy ban chia tay và chờ đợi sự quyết định chung cuộc.


Dầu vậy, trước khi rời các Ủy Viên Trung Hoa, Ủy Ban Pháp làm một bản tuyên bố như sau:
Sự so sánh bản đồ thứ 1, đoạn từ nguồn phía Bắc của sông Gia Long 加隆 đến Bắc Cương Ải 北崗隘,với bản đồ được lập lên để dùng vào việc phân giới do các trắc địa viên thuộc ủy ban Pháp thiết lập, cho thấy những chi tiết trong bản đồ số 1 hoàn toàn sai với thực tế.


Trên bản đồ số 1, do các nhà địa dư Trung Hoa vẽ mà các Ủy Viên Pháp tin tưởng và không thể kiểm chứng lại, Ðộng Trung 峝中 được đặt cách hơn 25 cây số, khoảng 45 lí, về phía Bắc của vị trí thật sự của nó.


Như thế theo bản đồ, đường biên giới theo đường thẳng bắt đầu từ nguồn Bắc của sông Gia Long đi về hướng Tây Bắc, rồi sau đó trở lại hướng Ðông Nam về Bắc Cương Ải 北崗隘, nhưng sự thực thì ngược lại.


Từ nguồn Bắc của sông Gia Long 加隆 cho đến điểm A, đường biên giới theo đường thẳng từ Ðông Bắc đến Tây Nam, sau đó lên lại về hướng Bắc để đến Bắc Cương Ải 北崗隘.


Lầm lẫn do bản đồ vẽ không đúng địa hình. Ủy Ban Phân Ðịnh Pháp tưởng rằng vùng đất đó thuộc An Nam, tạo thành một góc nhọn đâm sâu hơn 25 cây-số, khoảng 45 lí, vào Quảng Ðông, nhưng trên thực tế thì đất nầy đâm sâu vào lãnh thổ An Nam như một góc nhọn.


Mặt khác, sự nghiên cứu, trên bản đồ cũng như trên thực địa, về đường biên giới qui ước, cho thấy sai lầm ở khắp nơi và vì vậy không thể chấp nhận được.


Ðường biên giới này thực ra, trên toàn chiều dài của nó, theo một con đường băng qua các sườn núi, cắt những con sông, vượt ngang đồng bằng mà không theo cách cấu tạo hình thể của đất đai.


Vì thế, nếu được phân giới với những cẩn trọng, việc này cũng sẽ đem lại những tranh chấp liên tục và những khó khăn về mọi mặt giữa hai cường quốc láng giềng.


Vì các lý lẽ đó, Ủy Ban Phân Giới Pháp cho rằng:
- Ðường biên giới theo công ước xác định do biên bản 29 tháng 3 năm 1887 xác định thì mọi nơi đều sai và không nơi nào chấp nhận được.

- Ðiều quan trọng là Ủy Ban Phân Ðịnh Pháp đã chỉ công nhận biên bản trên chỉ vì sự tin tưởng của họ đã bị lạm dụng do một tấm bản đồ hoàn toàn sai, nó trình bày một cách sai lạc rằng lãnh thổ An Nam thì tiến sâu vào lãnh thổ Trung Hoa, trong lúc trên thực tế thì ngược lại, lãnh thổ của Trung Hoa lại lấn sâu vào lãnh thổ An Nam.

Vì thế, yêu cầu xét lại sự phân định của đường biên giới An Nam & Trung Hoa từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘 và sự chọn lựa chung cuộc trên toàn chiều dài của đoạn biên giới này, là đường biên giới cũ của An Nam và Trung Hoa, duy nhất dựa trên thiên nhiên, duy nhất thuần lý, duy nhất chấp nhận được. Có nghĩa là con sông Bắc Thị 北市 từ Gia Long 加隆 cho đến điểm mà nó không thể lưu thông bằng xuồng, và từ đó cho đến Bắc Cương Ải北崗隘, là (đường nối) các đỉnh cao nhất của dãy núi.