Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Phạm Phú Minh: Trương Vĩnh Ký từ chối vào quốc tịch Pháp

Những dòng cuối bức thư Trương Vĩnh Ký từ chối vào quốc tịch Pháp

Trong khi tìm kiếm tài liệu để thực hiện cuốn Kỷ Yếu cho cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký tổ chức vào ngày 8 tháng 12 năm 2018 tại Nam California, chúng tôi được Gs Phạm Lệ Hương, quản thủ thư viện của Viện Việt Học, trao cho một tài liệu rất quý vừa tìm được : đó là bản chụp bức thư 18 trang viết tay của ông Trương Vĩnh Ký, ghi ngày gửi là Tháng 10, năm 1881, người nhận là ông Blancsubé, Đại Biểu Nam Kỳ, là người đã đề nghị ông Trương Vĩnh Ký vào quốc tịch Pháp. Nội dung bức thư là từ chối đề nghị của ông Blancsubé. 

Bức thư viết bằng tiếng Pháp này, theo ý chúng tôi, là một văn kiện quan trọng giải thích cho giới chức người Pháp, và rộng hơn, giải thích chung cho tất cả mọi người hiểu tại sao mình không thể vào quốc tịch Pháp, bằng những lý luận và phân tích rất chặt chẽ dựa trên văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Ông viết (qua bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Bích Thu) :

"Cách tốt nhất để đo lường tầm quan trọng của sự cân nhắc của thành phần An Nam không theo Thiên Chúa Giáo là nhắc nhở đến những căn bản của định chế gia đình An Nam.

Tóm lại có 3 điểm chủ yếu như sau :

1 Tầm quan trọng của tổ tiên 

2 Quyền uy của người cha

3 Lòng hiếu thảo của con cái 

Ba điểm này liên quan mật thiết với nhau đến mức là việc xóa bỏ bất cứ một điểm nào cũng sẽ hủy diệt toàn bộ cấu trúc xã hội."

(Người trích làm đậm một số câu)

VOA Tiếng Việt: Tiffany Chung, người nghệ sỹ đưa tiếng nói tị nạn Việt vào lịch sử chiến tranh

Một bức tranh màu nước về người tị nạn chiến tranh Việt Nam tại triển lãm Tiffany Chung: Vietnam, Past is Prologue (Quá khứ là sự khởi đầu) ở bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian.

“Chiến tranh Việt Nam đã được lý giải chính thức từ phía Việt Nam, trong đó không có tiếng nói của người miền Nam. Người Mỹ cũng lý giải tương tự về cuộc chiến ấy, vẫn không có câu chuyện của người miền Nam.” Tiffany Chung chia sẻ về nỗ lực giới thiệu góc nhìn về người tị nạn Việt, vốn ít khi được nhắc tới trong lịch sử cuộc chiến Việt Nam.

Là một nghệ sỹ đương đại Mỹ gốc Việt và bản thân là người tị nạn, Tiffany nghiên cứu trong nhiều năm về di sản cuộc chiến cùng những hậu quả để lại, thông qua các di vật, như bản đồ, video và các bức tranh nêu bật tiếng nói và những câu chuyện của những người từng là tị nạn.

Tiffany Chung, nghệ sỹ đương đại Mỹ, đang trình bày về các tác phẩm của cô tại triển lãm đầu tiên tại bảo tàng Smithsonian.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Phạm Xuân Đài: Đọc “Bên Giòng Sông Hằng” của Endo Shusaku (Viễn Đằng Chu Tác)

Về chủ đề đạo Công giáo trong xã hội Nhật Bản hay một Tâm-Thức-Mới cho thời đại

Nguyên tác cuốn sách này trong Nhật ngữ là “Thâm Hà” (Sông Sâu). Trong ngôn ngữ Hán Việt, và chắc trong Nhật ngữ cũng thế, hai chữthâm hàgợi một cảm tưởng mênh mông và sâu thẳm. Nguyễn Văn Thực dịch là “Bên Giòng Sông Hằng” cũng đã rất khéo để nói lên nội dung câu chuyện một nhóm du khách Nhật Bản đến thăm sông Hằng bên Ấn Độ, nhưng chính người dịch cũng nhận thấy chữ “thâm hà” mới diễn tả được cái chủ đề đích thực về tâm linh rất lớn của tác giả trong cuốn tiểu thuyết này.

Viễn Đằng Chu Tác (1923-1996) là một trong những nhà văn Nhật Bản được độc giả Nhật và Tây phương biết đến và yêu mến còn hơn cả Kenzaburo Oe, nhà văn Nhật đoạt giả Nobel văn chương năm 1994. Là một người theo đạo Chúa, đề tài lớn theo đuổi suốt sự nghiệp sáng tác của ông là sự khó khăn của Kitô giáo trong tiến trình hội nhập vào tâm thức Nhật Bản. Đề tài này manh nha từ những cuốn Người Da Trắng - Shiroi Hito Người Da Vàng - Kìroi Hito (viết trong thập niên 50); nhưng phải đến cuốn Sao Chúa Mãi Im (Trầm Mặc) - Chin Muku, viết năm 1966, đề tài này mới được khai thác một cách mãnh liệt và được xem là khá “bạo.” Chúng ta hãy lược qua tác phẩm này, trước khi đề cập đến hậu thân lớn lao và sâu sắc của nó là cuốn Bên Giòng Sông Hằng.

Viễn Đằng Chu Tác đã nghiên cứu nhiều sử liệu truyền giáo của giáo hội La Mã vào thế kỷ 16 và 17 trên đất Nhật để viết nên cuốn tiểu thuyết Sao Chúa Mãi Im(cũng đã được Nguyễn Văn Thực dịch sang Việt ngữ, Anh Em ở Na Uy xuất bản năm 1998), cuốn sách mà Graham Green đã phát biểu sau khi đọc xong: “Theo tôi tác phẩm này là một trong những tác phẩm hay nhất thời đại chúng ta.”

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Đỗ Tiến Đức: Thái Thanh Người Mà Ai Cũng Mắc Nợ

Ca sĩ Thái Thanh

Sáng chủ nhật 1 tháng 12, 2002 vợ chồng Nguyễn Đắc Điều và vợ chồng tôi đã tới thăm chị Thái Thanh ở thành phố Garden Grove. Anh Điều là cựu chủ tịch Tổng Hội Cựu Sinh viên Quốc Gia Hành chánh, tức là đồng môn với tôi.

Buổi thăm nhau tuy diễn ra bình thường, nhưng cũng có ý đến cảm ơn chị, chả là hồi tháng 10, hai gia đinh chúng tôi tổ chức sinh nhật chung ở một nhà hàng, chị Thái Thanh đã tới dự và đã lên sân khấu trình bầy nhiều ca khúc để mừng chúng tôi.

Người nữ ca sĩ từng được vinh tặng là tiếng hát vượt thời gian và không gian này hiện sống trong một căn phòng của một chung cư dành cho người cao niên.

Căn phòng vừa đủ kê một chiếc giường ngủ, một bàn ăn nhỏ, và nơi tiếp khách cũng chỉ có chỗ cho hai ba người. Chị đã thiết trí căn phòng thật đơn sơ với bộ máy hát nhỏ, bình hoa, những tấm hình kỷ niệm, trên tường là những tranh và tượng Phật, giấy của chùa cấp chứng nhận chị đã qui y. Tôi nhìn tấm thân chị, nay đã còm cõi kiểu mình hạc vóc mai, mái tóc đã bạc phơ, chợt nghe chị nói : "Mình tạo cho căn phòng này thành một nơi chốn để thiền, để nghỉ ngơi, để tu Phật...".

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Trần Doãn Nho: Nhạc Xuân (Tiếp theo và hết)

Hình minh hoạ, ML

Trên đây, tôi tạm phân ra vài loại nhạc xuân. Cũng gọi là phân loại cho có... phân loại. Thực ra, về mặt ca từ, hầu hết các bài nhạc xuân (đại thể) đều hao hao giống nhau về ý tưởng. Mùa xuân là khởi đầu của một chặng đời mới từ hoa cỏ, trời mây cho đến cuộc sống và lòng người. Xuân đồng nghĩa với tươi, trẻ, hy vọng: tình xuân, giấc xuân, mộng xuân, hoa xuân, chiều xuân, mưa xuân, nắng xuân, tuổi xuân, gái xuân... Những tính từ đi theo mùa xuân cũng thế, chứa chan hy vọng: rực rỡ, rạng rỡ, rạng ngời, tươi thắm, rộn ràng, nồng nàn, thanh bình, ấm cúng. Màu sắc thì hồng, đỏ, xanh, đào. Xuân trước hết là mùa của tự nhiên, xuân thiên nhiên. Hãy tưởng tượng hình ảnh của một bến nước ven rừng vào mùa xuân:

Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bên xuân
Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u...ù...u...ú
Cành đào hoen nắng chan hoà
Chim ca thương mến chim ngân xa u...ù...u...ú
Hồn mùa ngây ngất trầm vương
(Bến xuân / Văn Cao - Phạm Duy)

"Bến xuân" có phải là bản nhạc xuân đầu tiên của Việt Nam? Tôi không rõ lắm. Thời của "Bến xuân" còn là thời, nói như Phạm Duy, của thứ "tình ca ấp úng." Là một bản nhạc tình mà cũng là một bản nhạc xuân. Ca ngợi "em" cũng có mà ca ngợi mùa xuân cũng có. Dùng mùa xuân thiên nhiên để bày tỏ mùa xuân của trái tim. Tiết tấu bản nhạc rất sang. Ca từ lại đầy chất thơ. Ngay hai chữ "bến xuân" đã là một ví von tinh tế. Bến xuân hay bến tình? Xuân ca hay tình ca? Có lẽ là cả hai:

Dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi 
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng 
Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân.

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

Đoàn Thanh Liêm: Những chuyện vui với Bác Hà Thượng Nhân

Tôi định cư tại Nam California, nhưng hay có dịp lên San Jose, thăm con gái và cháu ngoại. Và cả mấy anh chị em của má bầy trẻ nữa. Mỗi năm, ít nhất cũng 5-7 lần tôi đi tới miền Thung lũng Hoa vàng rất là thơ mộng này. Ngoài chuyện gia đình, tôi còn hay gặp gỡ trao đổi với các bạn đồng nghiệp xưa trong Luật sư đoàn Saigon trước 1975. Và cũng được nhiều dịp tham gia sinh họat về văn học nghệ thuật, cũng như về chính trị với bà con tại miền Bắc Cali này.

Trong số các huynh trưởng về báo chí, văn nghệ tại San Jose, tôi thường hay gặp gỡ thăm viếng với nhà thơ Hà Thượng Nhân và nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Bác Hà đã tới tuổi chín mươi, còn bác Sơn thì cũng sắp sưả bước vào lớp “cưủ thập” nữa rồi.Cả hai bác đều hơn tôi trên một con giáp, nên tôi quý trọng các bác như người anh lớn trong gia đình mình vậy.

Cách đây 6-7 năm, anh Luật sư Nguyễn Hưũ Thống có tổ chức tại tư gia một buổi Gặp mặt thân tình thật ý nghiã, vơí hai bác Hà và Sơn cùng với LS Thống là ba người mà đã khởi sự cầm cây viết trên 50 năm rôì. Mỗi người mỗi vẻ đều đã đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn hoá ở Việt Nam trước đây và tại hải ngoại hiện nay. 

Riêng với bác Hà, người mà hay được các văn thi hữu âu yếm gọi là “Hà chưởng môn”, ngụ ý coi bác là vị đầu đàn trong làng văn chương thi phú tại địa phương miền Bắc Cali, thì tôi có rất nhiều kỷ niệm vui vui, ngộ nghĩnh với bác. Nay nhân dịp cuối năm, xin cho tôi được ghi lại một số chuyện đáng nhớ giữa bác và tôi là kẻ hậu sinh nhé. Hồi còn ở Việt nam, thì tôi chưa bao giờ có dịp trực tiếp gặp bác, mà chỉ hay đọc thơ văn của bác đăng tải khá thường xuyên trên báo chí, hoặc được nghe một số bạn bè kể chuyện về nhà thơ nổi danh này. Và mãi tới sau khi qua định cư ở Mỹ từ 1996, thì tôi mới có duyên gặp gỡ với bác, mà là gặp rất thường xuyên nữa cơ chứ. 

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2019

Trùng Dương: Kho tàng đằng sau bức tường trong căn chung cư ở Paris

Ảnh Julien Mignot for The New York Times

Một bức tranh sơn dầu thế kỷ thứ 17 được tìm thấy giấu sau bức tường tại một căn phòng trên lầu hai của một toà nhà trên đường Marignan ở Paris trong lúc nơi này đang được chỉnh trang để thiết lập một phòng trưng bầy cho hãng chuyên về thời trang dạ hội Oscar de la Renta.(*)

Bức tranh sơn dầu lớn chiếm cả chiều cao và dài của bức tường ngăn giữa hai phòng, mầu đã xỉn tối với thời gian. 

Việc chỉnh trang căn phòng phải ngưng lại từ mùa hè năm ngoái khi bức tranh được khám phá ra để các chuyên viên bảo tàng và nghệ thuật thẩm định lịch sử và nội dung của bức tranh và làm sao mà nó lại nằm phía sau một bức tường trong một căn chung cư như vậy.

"Đôi khi khi tân trang các lâu đài [cổ] người ta tìm thấy cái gì đó như một cái lò sưởi ẩn dấu, hay như tại Ý, một bức tranh tường (fresco)," kiến trúc sư Nathalie Ryan của hãng thời trang, người đầu tiên thấy bức tranh, nói. "Nhưng [một bức tranh như vầy] trong một căn chung cư? Một cửa tiệm ư? ... Ai cũng phát hoảng. Giống như tìm thấy một xác ướp vậy. Tôi vội tắt máy điện thoại và nhìn trân trối [bức tranh]."

Bùi Vĩnh Phúc: Tô Thùy Yên – thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người (Tiếp theo và hết)

.3. Thời gian trong thơ Tô Thùy Yên


Thời gian trong thơ của Tô Thùy Yên không phải là thời gian của Salvador Dali, thời gian với đặc trưng nổi bật là lững lờ trôi chảy, lỏng ra, nhão ra, và chùng lại với thiên thu. Thời gian ấy cũng không phải là thời gian của Giorgio de Chirico, kỳ dị một cách âm u, khiến cho người đối diện với nó có một cảm giác hoảng hốt và mất lối. Nếu có thể làm một so sánh nào đó về tính thời gian trong thơ Tô Thùy Yên với thời gian được biểu hiện trong hội họa hiện đại, thì thời gian trong thơ Tô Thùy Yên đã chia sẻ nhiều nét với thời gian của René Magritte. Cũng là siêu thực, nhưng Magritte đã đi theo một con đường khác với Dali và Chirico. Thời gian của Dali là một thời gian ám ảnh, tàn rữa, và chứa đầy chất ảo. Thời gian của Chirico đóng vào những khung cảnh vật lý thê lương và kỳ bí, giam nhốt người ta trong cái siêu hình của những giấc mơ nghiêng về những chiều kích của vực thẳm. Thời gian của René Magritte là một thời gian bám sát vào thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên trong tranh ông là một thứ thiên nhiên thật mà ảo, với những yếu tố cấu thành đổi chỗ lẫn cho nhau, dan díu vào nhau, khiến cho người thưởng ngoạn dễ mất định hướng khi nhìn vào tác phẩm của Magritte. 

Thời gian của Tô Thùy Yên có những lúc đã chia sẻ những nét siêu thực của Magritte như thế. Ngoài ra, nó còn mang chứa trong nó những ấn tượng kỳ dị khác, mới, lạ, và đặc biệt Tô Thùy Yên. Cái thời gian ấy gần như luôn luôn tìm cách gắn bó, dan díu với thế giới vật chất của thiên nhiên bên ngoài (Vậy thì thời gian là một cái gì trôi chảy bên trong chăng? Bên trong cái gì? Đây là những câu hỏi rất siêu hình mà may ra chỉ có thơ và hội họa là thỉnh thoảng mới có thể đến gần để trả lời một cách huyền bí và thơ mộng.) 

Thời gian trong thơ Tô Thùy Yên gắn bó, dan díu với thiên nhiên. Nhưng đó là một thiên nhiên đứt rễ. Một thiên nhiên nhiều lúc hình như không còn gắn bó, ràng buộc vào nhau theo một trật tự vật lý thông thường. Những cấu tố của nó như bị tách ra để bám vào những mảnh thời gian khác biệt trong tâm thức nhà thơ. 

Thời gian đứt quãng dài vô định
Như sợi dây diều băng mất tăm
Lòng anh thảng thốt, sông chao sóng
Kỷ niệm buông tay rú ngất chìm (...)

Mùa hè đi khuất kêu không lại
Bãi mía điêu tàn gốc cháy thui (...)

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2019

Bùi Vĩnh Phúc: Tô Thùy Yên – thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người

Biểu dương—hãy biểu dương cùng tận
Vinh dự lầm than của kiếp người
Hy hữu một lần trên trái đất
Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai.
TTY
Hình Internet

.1.


Tô Thùy Yên là một giọng thơ đặc thù, có một, và vô cùng u hiển của nền thi ca Việt Nam trong dòng văn học miền Nam kể từ Sáng Tạo. 

Từ cuối thập niên năm mươi cho đến thời điểm bị cắt đứt 1975, dòng thi ca miền Nam Việt Nam không phải là không thấy nổi bật lên những khuôn mặt khôi ngô của thơ, những tiếng nói mới lạ của tình cảm, của cảm xúc, của trí tuệ; không phải là nó không thấy rạo rực lên trong chính thân xác và tâm hồn mình cái thiết tha và mạch sống của thời đại. Mà không phải chỉ ở Việt Nam, nơi các luồng ý thức hệ trái chiều đã dùng làm địa bàn để thử nghiệm những con toán suy tư của mình, nơi những con sóng của các triều nước lý trí, dâng lên từ phương Tây và từ châu Mỹ, thỉnh thoảng hắt lên trên mặt đất này những lượng nước cuối mùa từ cái dòng trào của nó, con người nói chung, ở Việt Nam cũng như ở khắp nơi trên thế giới, nơi ánh sáng của văn minh nhân loại vẫn còn có cơ hội soi rọi đến, trong những thập niên ‘50, ‘60 và ‘70, đều đã tìm thấy cho mình một hơi thở mới, một tiếng

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Trần Từ Mai: Sau đúng 60 năm, đọc lại bài thơ trừ tịch của Đặng Đức Siêu và Đông Hồ


BỎ RA 40 NĂM ĐỂ NGHĨ HAI CÂU THƠ:


Đúng 60 năm trước, nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 1959, trong một bài viết mang nhan đề ”Manh áo vá trên vai nàng Thơ,” đăng trên Bách Khoa số 50 đề ngày 1 tháng 2 năm 1959, thi sĩ Đông Hồ giới thiệu một bài thơ trừ tịch của Đặng Đức Siêu. Theo Đông Hồ, ông “chưa được thấy có bài thơ nào đến đúng với tâm hồn đêm giao thừa bằng bài thơ này.” Nhà thơ đất Hà Tiên cho rằng bài thơ của Đặng Đức Siêu “vừa bình tĩnh trang trọng, vừa lịch sự tao nhã.”

Điểm đáng chú ý là từ khi thi sĩ Đông Hồ được đọc bài thơ ấy lần đầu giữa đêm giao thừa năm Kỷ Mùi 1919 trên tạp chí Nam Phongsố 17, phát hành tháng 11 năm 1918, bài thơ (nguyên là một bài Đường luật bát cú với 8 câu) chỉ còn có 6 câu. Hai câu 5-6 đã bị thất truyền:

Tháng lụn năm cùng sự chẳng cùng
Nửa đêm xuân lại nửa đêm đông
Chi lan tiệc cũ hương man mác
Đào lý vườn xưa tuyết lạnh lùng

…………………………………

Gà kêu pháo nổ năm canh trót
Mừng cội mai già gặp chúa đông.

Chin Shun-Shin (Trần Thuấn Thần): Mấy Đóa Hoa Xuân 
(Tạp bút thơ Đường) - Biên dịch Nguyễn Nam Trân

Bài viết này tổng hợp hai tạp bút của nhà văn Chin Shun Shin (Trần Thuấn Thần, 1924-2015) in trong tập Tôshi Shinsen (Đường thi Tân Tuyển, 1989) nhan đề Baika (Mai Hoa) và Botan (Mẫu Đơn) dưới một nhan đề đặt tạm.

Mai hoa



Hoa mai có nhiều tên gọi khác nhau. Nhân vì nó nở trước các loài hoa khác nên được chấm là hoa khôi. Ngoài ra còn mang một số tên khác như băng cơ, băng hồn, băng nhụy, băng diễm, toàn là tên bắt đầu bằng một chữ băng. Cũng được ví von là loài hoa có ngọc cốt hay tuyết cốt. Tô Thức 蘇軾đời Tống từng viết:

La Phù Sơn hạ mai hoa thôn,

羅浮山下梅花村

Ngọc tuyết vi cốt băng vi hồn.

玉雪為骨氷為魂

(Ý: Thôn trồng hoa mai (có thể là danh từ riêng, NNT) nằm dưới núi La Phù. Hoa trắng như ngọc tuyết, hồn tinh khiết như băng).

Đàm Trung Pháp: Bài Thơ Tết Cuối Đời Của Vũ Hoàng Chương



Theo Mạnh Tử, một chỉ dấu quan trọng của một người quân tử là lòng can đảm vẫn duy trì được nguyên tắc sống cao cả của mình bất chấp những đe dọa của vũ lực bạo tàn. Chỉ dấu bất khả tư nghị của khí tiết ấy được từ vựng Hán-Việt mệnh danh là “uy vũ bất năng khuất” (威武不能屈).

Thi nhân lỗi lạc Vũ Hoàng Chương (1915-1976) đã lộ rõ khí tiết này khi ông dám làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn” để châm biếm “bên thắng cuộc” nhân dịp ông nghinh xuân Bính thìn 1976 tại quê nhà. Và như đã tiên đoán, bài thơ miệt thị chế độ mới một cách công khai ấy đã khiến Vũ Hoàng Chương bị chúng bỏ tù cho đến lúc kiệt lực, cận kề cái chết. Năm ngày sau khi được thả, ông qua đời tại nhà vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.

Mời quý độc giả thưởng lãm bài thơ đường luật viết về tết cuối đời mang tên “Vịnh Tranh Gà Lợn” của Vũ Hoàng Chương – cùng với sự hiểu biết và suy luận hạn hẹp của tôi – dưới đây:

VỊNH TRANH GÀ LỢN

1. Sáng chưa sáng hẳn tối không đành
2. Gà lợn om xòm rối bức tranh
3. Rằng vách có tai thơ có họa
4. Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh
5. Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
6. Lòng lợn âm dương một tấc thành
7. Cục tác nữa chi ngừng ủn ỉn
8. Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

Trần Mộng Tú: Nyotaimori - Cái Đĩa Thân Thể

Bất cứ có một cơ hội nào, một sự kiện nào xẩy ra trên thế giới, người Nhật và văn hóa Nhật hầu như luôn được mang ra làm tấm gương tốt đẹp cho cả thiên hạ soi chung. Từ phương cách giáo dục, tinh thần kỷ luật, đức hy sinh, lòng nhân đạo, sự trung thành (ngay cả của súc vật) lúc nào cũng thấy tỏa ra ở đất Nhật, người Nhật. Hoàn hảo đến nỗi người ta hầu như không tìm ra một khuyết điểm nào. Đặc biệt Trà Đạo và Hoa Đạo thì còn được thăng hoa với những vần thơ Haiku, chỉ có người Nhật mới viết xuống được.

Nghệ thuật trình bầy trong nhà, ngoài vườn của người Nhật luôn luôn cho người ta nhìn thấy sự tao nhã vượt hẳn lên trên hết. Từ cái tatami (chiếu) trải giữa buồng khách, đến viên đá ngoài sân, cây phong trước cửa, mỗi vật đều có tiếng nói riêng, đều có một khuôn vàng, thước ngọc phải theo. Đẹp đấy, thiên nhiên đấy nhưng vẫn phải có quy luật nhất định, như những bài thơ Haiku.

Người em rể vừa gửi cho tôi một cái clip về Thưởng Thức Shusi của Nhật. Mở ra là một số hình ảnh những phụ nữ nằm khỏa thân trên bàn ăn, và trên cái đĩa thân thể của họ là hoa, lá, tôm, cá sống, cơm cuốn, rong biển tươi, rong biển khô, bầy từ cổ, ngực, bụng, đùi, hai lòng bàn tay, ngay cả giữa hai đùi thiếu nữ (phần nhạy cảm nhất trên thân thể.) Rong rêu ngoài biển còn xanh biếc đã được đem về, tung ra như tơ tóc trang điểm cùng với hoa lá đặt lên thân thể phụ nữ, biến họ thành cái đĩa. Cái đĩa thân thể.

Đàm Trung Pháp: Đôi Nét Về Một Tuyệt Tác Thi Ca Của Quang Dũng

Quang Dũng sáng tác bài Tây Tiến năm 1948, đúng một năm sau ngày Trung Đoàn Thủ Đô của nhà thơ rời Hà Nội. Vào cuối năm 1946 Trung Đoàn này ra quân lần đầu, trong đó 8.000 thanh niên trí thức bảo vệ thủ đô Hà Nội đã đối diện với 4.500 binh sĩ Pháp. Đây cũng là nỗ lực đầu tiên của những thanh niên yêu nước đó để ngăn cản ý đồ trở lại của thực dân Pháp. Quang Dũng là bút hiệu của Bùi Đình Diệm (1921-1988) sinh quán là làng Phùng, phủ Phượng Trì, tỉnh Sơn Tây. Thân phụ là một nho gia từng làm chánh tổng. Là anh trai trưởng của bốn em gái và một em trai, Quang Dũng theo học tại Trường Bưởi rồi được tuyển lựa vào Trường Sư Phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp trường đào tạo giáo chức, ông ra dạy học, nhưng chẳng bao lâu sau đó thì ông bỏ nghề sư phạm và trở thành “trưởng ga” xe lửa Yên Bái. Lúc này Quang Dũng cũng gia nhập Quốc Dân Đảng. 

Vang lên như một thiên anh hùng ca, Tây Tiến được các chiến hữu của Quang Dũng trân quý và được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên nó chỉ được chính thức cho xuất bản tại Hà Nội năm 1986, tức là hai năm trước khi nhà thơ tạ thế. Đây là một tuyệt tác thi ca nói lên mức phản kháng anh dũng của dân Việt đối với chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Bài thơ – gồm 34 dòng, mỗi dòng 7 chữ – hồi tưởng lại chuyến hành trình cực kỳ gian lao cho các chiến sĩ di chuyển về hướng tây. Mỗi hồi tưởng là một bức tranh nổi bật và một lời ca nhiệt tình cho người đọc thấy một kinh nghiệm gian nan khó quên của những người trai trẻ sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đất nước.

So với tất cả những bài thơ kháng Pháp khác trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, Tây Tiến là đỉnh cao nhất. Bài thơ không hoan hô ai là lãnh tụ và cũng chẳng ngợi ca lý tưởng chính trị nào, vậy mà mỗi câu trong đó đều tỏa ra một tình yêu đất nước hăng say, một thiên nhiên hùng vĩ, một tình bạn thắm thiết, và một quyết tâm đập tan chế độ thực dân. Mời quý độc giả thưởng lãm tuyệt tác thi ca bất hủ ấy mà nhà thơ Quang Dũng đã để lại cho hậu thế, với phần cước chú theo sự hiểu biết và suy luận của tôi:

Tây Tiến 

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi [1] 
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi 

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2019

Ngô Thế Vinh: Nhà Thờ Đức Mẹ La Vang Lê Ngọc Huệ Với Quần Thể Tượng Mười Lăm Sự Mầu Nhiệm Mân Côi

Linh Đài với Ba Cây Đa cao 20 mét tượng trưng cho Ba Ngôi được dựng nơi Đức Mẹ đã hiện ra, với tượng Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng. Có người cho rằng đây là tác phẩm của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ nhưng chi tiết khắc trên đá nơi sau chân tượng gốc ghi là của Điêu khắc gia Nguyễn Văn Thế, ông cũng là tác giả công trình tượng đài Hai Bà Trưng Công Viên Mê Linh Sài Gòn, đã bị phá sập sau biến cố 1963.(5)

PHAN NHẬT NAM VỀ LA VANG VỚI NGÔ THẾ VINH


Con Đường Buồn Tênh / Street Without Joy,  Dọc đường số 1, Đại Lộ Kinh Hoàng, Con Sông Bến Hải, Cây Cầu Hiền Lương, ngược về quá khứ, qua hai cuộc chiến tranh Việt Pháp, Quốc Cộng Nam Bắc, ngược dòng thời gianxuyên suốt con đường lịch sử đầy xác chết, đẫm máu và nước mắt, bằng cách này hay cách khác, thế hệ tuổi trẻ chúng tôi trong chiến tranh hay hoà bình cũng đã hơn một lần đi qua và chẳng thể nào quên.

Và trong chuyến đi này, Phan Nhật Nam cũng đã đến La Vang với tôi qua một hồicảnh/ flashback với hồi chuông báo tử hay sám hối / For Whom The Bell Tolls, với lời ai điếu hay cả lời nguyền…Những hồi chuông từ nơi tháp cổ mang đầy thương tích ấy vẫn như còn ngân và vang xa, vươn xa tới 9 cây số của Đại Lộ Kinh Hoàng để xoa dịu vỗ về và là nguồn an ủi cho linh hồn của vô số những ngưởi dân lành đã chết oan khiên trong Mùa Hẻ Đỏ Lửa 1972…

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

Trần Từ Mai: Tình tri âm giữa thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nữ sĩ Ngân Giang

Tháng 7 năm 1954, nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, nửa phía Bắc dưới sự cai trị của những người Cộng sản. Cuối tháng 8 năm ấy, cùng với gia đình (gồm mẹ, vợ) và gia đình thi sĩ Đinh Hùng (em vợ, đồng thời cũng là bạn thân), nhà thơ Vũ Hoàng Chương lánh vào miền Nam. Ông giải thích lý do ra đi trong bài “Gấm hoa” làm ở Sài gòn năm 1967, được in ra trong tập Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai (Sàigòn : Lửa Thiêng, 1970): 

Anh ra đi, cánh phiêu-hồng trốn tuyết 
Hay cánh thiên-nga trốn vạc dầu sôi? 

Khi phải đi xa như thế, ông nghĩ rất nhiều đến người yêu đầu tiên trong đời nhưng đã “mười năm thôi thế mộng tan tành” từ một ngày 12 tháng 6 hơn 13 năm trước (1941): 

Sông núi đã chia rồi 
Em ở lại sầu gương tủi lược 
Bồ-hòn kết đắng hoa môi. 

Những năm sau, từ miền Nam ông nhớ người ở lại một cách thiết tha, vô vọng: 

Tiếng kêu ném ngược đường kinh tuyến 
Chỉ thấy vòng quanh trở lại thôi. 

Nhân vật thứ hai ông nghĩ đến là một người bạn thơ. Cuối năm Giáp Ngọ tức đầu năm 1955, nhân các chuyến qua lại giữa hai miền Nam Bắc còn thực hiện được, ông gửi một người quen có việc ra Bắc một bài thơ, nhờ đưa đến một thi sĩ ở lại Hà Nội. Bài thơ này sau được ông cho in vào thi tập Trời Một Phương (Sàigòn, 1962) với nhan đề “Nổi trôi” và có lời như sau: 

Đặt bút cùng ngâm khúc bể dâu 
Nổi trôi từ đấy xót cho nhau. 
Một phen nhật nguyệt tranh ngôi Sáng 
Hai ngả lòng thu dựng tháp Sầu. 
Tỉnh cũng hoài thôi, say chẳng nỡ 
Xuân sang đó nhỉ, mộng về đâu? 
Rằng hư, rằng thực lời tâm huyết 
Non vẫn cao hề, nước vẫn sâu!

Tập thơ với bài “Nổi trôi,” thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm để gửi nữ sĩ Ngân Giang đầu năm 1955

Đàm Duy Tạo: Chương 17 - Kim Vân Kiều đính giải

CHƯƠNG 17

KIM VÂN KIỀU ĐÍNH GIẢI
Hương Ngạn Đào Tử ĐÀM DUY TẠO
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2019
= = = = =

CÂU 1473 ĐẾN CÂU 1606
“Xa xôi lo phận, Thầm lặng lừa chồng”


1473. Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh. [1]
1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh, [2]
E tình nàng mới bày tình riêng chung: [3]
1477. “Phận bồ từ vẹn chữ tòng, [4]
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên. [5, 6]
1479. Tin nhà ngày một vắng tin,
Mặn tình cát lũy, lạt tình tao khang. [7]
1481. Nghĩ ra thật cũng nên dường, [8]
Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta? [9]
1483. Trộm nghe kẻ lớn trong nhà, [10]
Ở vào khuôn phép nói ra mối giường. [11]
1485. E thay những dạ phi thường,
Dễ dò rốn bể, khôn lường đáy sông! [12]
1487. Mà ta suốt một năm ròng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ
1489. Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao, [13]
Hoặc là trong có làm sao chăng là?
1491. Xin chàng kíp liệu lại nhà,
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình. [14]
1493. Đêm ngày giữ mức giấu quanh,
Rày lần mai lữa như hình chưa thông.”
1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang. [15]
1497. Sáng ra gửi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia. [16]
1499. Tiễn đưa một chén quan hà, [17]
Xuân đình thoắt đã đổi ra cao đình. [18]
1501. Sông Tần một giải xanh xanh, [19]
Lôi thôi bờ liễu mấy cành Dương quan.
1503. Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.

Lê Hữu: Về một người mang tên Trần Nguyên Phát

(Nhân đọc bài “Muôn sự của chung, kể cả văn chương” của Phạm Xuân Đài trên Diễn Đàn Thế Kỷ và bài “Ai là kẻ đạo văn bài ‘Tôi là ai?’ của Trần Mộng Tú?” của Ban biên tập Da Màu) (1)

Tôi là ai, mà yêu quá đời này?

Câu hát quen thuộc của Trịnh Công Sơn cũng là câu dẫn nhập cho đoản văn “Tôi là ai?” của nhà văn, nhà thơ Trần Mộng Tú, nói về tâm trạng của một người Mỹ gốc Việt sống nhiều năm ở xứ người vẫn trăn trở một nỗi “chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà” (“Một cõi đi về”, Trịnh Công Sơn). Đoản văn này được in trong tuyển tập tạp văn Mưa Sài Gòn, Mưa Seattle(2006), được nhiều người đọc yêu thích khi phổ biến trên các trang báo, trang mạng.(2)

“Khi về đổi họ, thay tên”


Lý do bài ấy được yêu thích có thể hiểu được. Nhà văn là người viết thay cho người khác những gì họ từng nghĩ đến nhưng không viết ra được, chẳng hạn: 

“Tôi biết chắc mình là người Việt nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ những ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui.” Hay là:

“Những lúc đó tôi chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ.” (Tôi là ai?)

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Nhớ Trần Văn Nam; Nhân giỗ đầu của bạn 18/11/1939 - 10/01/2018


Ngày 7 tháng 01 năm nay (2018) từ quán cà phê Factory, một số bạn của Trần Văn Nam đã cùng nhau chạy lên nhà anh ở thành phố Walnut để thăm anh, vốn bị bệnh đã nhiều tháng không họp mặt với anh em tại quán cà phê như từ hơn một thập niên qua. Không ngờ lần thăm và gặp mặt anh hôm đó là lần cuối cùng, vì chỉ ba ngày sau, ngày 10 tháng 01, 2018, Trần Văn Nam qua đời.

Để tưởng nhớ đến người bạn văn học hiền lành mà giàu năng lực, nhân ngày giỗ đầu sắp đến của anh, nhà thơ Thành Tôn và người bạn trẻ Nguyễn Vũ đã bỏ nhiều công sức để thực hiện một cuốn Thơ Tuyển gồm 44 bài thơ của Trần Văn Nam, với bìa do họa sĩ Khánh Trường trình bày. Ngoài phần thơ, cuốn sách còn phần Phụ Lục gồm bài viết về Trần Văn Nam của một số bạn bè anh : Hoàng Xuân Trường, Viên Linh, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Yên Hòa, Phạm Xuân Đài.

Nguyễn Vy Khanh viết về Trần Văn Nam

Nhà thơ và lý luận văn học sinh ngày 18 - 11 - 1939 tại Bến Tre, trước 1975 là giáo sư Việt Văn và Triết tại miền Tây, Trần Văn Nam sớm có bài đăng trên Nhân Loại (thơ Phương Ấy, về Thị Thành, Sơn Cước, ...), rồi Văn, Văn-Học, Nghệ Thuật, Khai Phá, Văn Khoa, Đối Thoại, Trình Bầy, Vấn-Đề, Thời Tập,báo Dân Chúng, ...Tác-giả tập nhận định Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ - Phụ Tập: Thơ Và Triết Học- Trường Ca Của Dòng Sông Xuyên Á (TGXB, 1966 - 32 tr.). Tư tưởng, lý luận theo khuynh-hướng hiện sinh: Tập Thơ Độc Nhất (thơ và triết học; Trình Bầy 1963) và Tập Thơ Bổ Khuyết (TGXB, 1963) - trong cả hai tập, Trần Văn Nam đã áp dụng triết-học Hiện-sinh vào thi ca và văn-chương, thi ca ở đây được xem như là phương tiện đến với triết lý đồng thời như là mục-đích của cả triết lý lẫn thi ca đồng thời ông đã thử đưa vào thi ca những ý niệm/nhận thức siêu hình về con người[X. Chương Thi Ca).

Trong Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ, ông đã đặc-biệt có những quan sát và nhận định về sinh hoạt văn-học ở miền Nam: Dư vang văn-nghệ lãng-mạn tiền chiến và văn-nghệ chiến khu, Văn-nghệ khởi lên từ cuộc di cư, Văn-nghệ mới với nhóm Sáng-Tạo, Thời kỳ văn-chương và siêu hình học, Văn-nghệ sau ngày 1-11-1963 và cuối cùng, Đường đi của hơn 10 năm văn-nghệ. Ông đã sớm có cái nhìn về giá trị văn-chương của các sản phẩm xuất-bản và đã nhận định về thời 1965- 66: ”... văn-chưong đang tìm về nghệ-thuật muôn đời, văn-chương đang tìm vềước vọng của con nguời ngàn năm, văn-chương đang tìm về Viễn Mơ thanh bình chứ không phải hiện thực xã-hội...” và ông đã khẳng định rằng “không” cho câu hỏi “tác-phẩm vị nhân sinh nào tồn tại đến bây giờ?”.Và Triết học Tây phương đã và đang hướng về phía Đông, “trở về tâm giới, được coi nhưmột cuộc hành hương trở về quê nhà”, thì nghệ- thuật cũng vậy, “sau những quyến rũ của danh nghĩa viết bằng chữ hoa; những danh từ kêu lới: Vị nhân sinh, nhân bản, Dấn thân, Đầu thế, Triết lý, Siêu hình, văn-nghệ đã trở về ngôi nhà đích thực của mình đã bỏ quên là nghệ-thuật thuần túy. Nghệ-thuật là cái Đẹp sau những phong ba của thực tế; cũng nhưcon chim kêu ghềnh núi không hẳn là tiếng kêu thương thảng thốt mưusinh, mà có khi là tiếng kêu ca ngợi cuộc đời. Hành trình trở vềnhà của văn-nghệ không phải là một con đường vạch sẵn do một lý thuyết hướng dẫn, mà là con đường lần mò do sự kiện văn-nghệ diễn tiến phô bày lần lượt trong hơn 10 năm văn-nghệ ...”(tr. 15-16) - đó cũng là lý do mà bản đăng tạp-chí Văn Họccó tựa “Văn Nghệ Đã Đi Về Đâu? Lược trình văn-học sử kể từ 1954, và viết theo lập trường vị nghệ-thuật”!