Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Nhớ Trần Văn Nam; Nhân giỗ đầu của bạn 18/11/1939 - 10/01/2018


Ngày 7 tháng 01 năm nay (2018) từ quán cà phê Factory, một số bạn của Trần Văn Nam đã cùng nhau chạy lên nhà anh ở thành phố Walnut để thăm anh, vốn bị bệnh đã nhiều tháng không họp mặt với anh em tại quán cà phê như từ hơn một thập niên qua. Không ngờ lần thăm và gặp mặt anh hôm đó là lần cuối cùng, vì chỉ ba ngày sau, ngày 10 tháng 01, 2018, Trần Văn Nam qua đời.

Để tưởng nhớ đến người bạn văn học hiền lành mà giàu năng lực, nhân ngày giỗ đầu sắp đến của anh, nhà thơ Thành Tôn và người bạn trẻ Nguyễn Vũ đã bỏ nhiều công sức để thực hiện một cuốn Thơ Tuyển gồm 44 bài thơ của Trần Văn Nam, với bìa do họa sĩ Khánh Trường trình bày. Ngoài phần thơ, cuốn sách còn phần Phụ Lục gồm bài viết về Trần Văn Nam của một số bạn bè anh : Hoàng Xuân Trường, Viên Linh, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Yên Hòa, Phạm Xuân Đài.

Nguyễn Vy Khanh viết về Trần Văn Nam

Nhà thơ và lý luận văn học sinh ngày 18 - 11 - 1939 tại Bến Tre, trước 1975 là giáo sư Việt Văn và Triết tại miền Tây, Trần Văn Nam sớm có bài đăng trên Nhân Loại (thơ Phương Ấy, về Thị Thành, Sơn Cước, ...), rồi Văn, Văn-Học, Nghệ Thuật, Khai Phá, Văn Khoa, Đối Thoại, Trình Bầy, Vấn-Đề, Thời Tập,báo Dân Chúng, ...Tác-giả tập nhận định Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ - Phụ Tập: Thơ Và Triết Học- Trường Ca Của Dòng Sông Xuyên Á (TGXB, 1966 - 32 tr.). Tư tưởng, lý luận theo khuynh-hướng hiện sinh: Tập Thơ Độc Nhất (thơ và triết học; Trình Bầy 1963) và Tập Thơ Bổ Khuyết (TGXB, 1963) - trong cả hai tập, Trần Văn Nam đã áp dụng triết-học Hiện-sinh vào thi ca và văn-chương, thi ca ở đây được xem như là phương tiện đến với triết lý đồng thời như là mục-đích của cả triết lý lẫn thi ca đồng thời ông đã thử đưa vào thi ca những ý niệm/nhận thức siêu hình về con người[X. Chương Thi Ca).

Trong Văn Nghệ Đã Đi Đến Đâu? Từ 1954 Đến Bây Giờ, ông đã đặc-biệt có những quan sát và nhận định về sinh hoạt văn-học ở miền Nam: Dư vang văn-nghệ lãng-mạn tiền chiến và văn-nghệ chiến khu, Văn-nghệ khởi lên từ cuộc di cư, Văn-nghệ mới với nhóm Sáng-Tạo, Thời kỳ văn-chương và siêu hình học, Văn-nghệ sau ngày 1-11-1963 và cuối cùng, Đường đi của hơn 10 năm văn-nghệ. Ông đã sớm có cái nhìn về giá trị văn-chương của các sản phẩm xuất-bản và đã nhận định về thời 1965- 66: ”... văn-chưong đang tìm về nghệ-thuật muôn đời, văn-chương đang tìm vềước vọng của con nguời ngàn năm, văn-chương đang tìm về Viễn Mơ thanh bình chứ không phải hiện thực xã-hội...” và ông đã khẳng định rằng “không” cho câu hỏi “tác-phẩm vị nhân sinh nào tồn tại đến bây giờ?”.Và Triết học Tây phương đã và đang hướng về phía Đông, “trở về tâm giới, được coi nhưmột cuộc hành hương trở về quê nhà”, thì nghệ- thuật cũng vậy, “sau những quyến rũ của danh nghĩa viết bằng chữ hoa; những danh từ kêu lới: Vị nhân sinh, nhân bản, Dấn thân, Đầu thế, Triết lý, Siêu hình, văn-nghệ đã trở về ngôi nhà đích thực của mình đã bỏ quên là nghệ-thuật thuần túy. Nghệ-thuật là cái Đẹp sau những phong ba của thực tế; cũng nhưcon chim kêu ghềnh núi không hẳn là tiếng kêu thương thảng thốt mưusinh, mà có khi là tiếng kêu ca ngợi cuộc đời. Hành trình trở vềnhà của văn-nghệ không phải là một con đường vạch sẵn do một lý thuyết hướng dẫn, mà là con đường lần mò do sự kiện văn-nghệ diễn tiến phô bày lần lượt trong hơn 10 năm văn-nghệ ...”(tr. 15-16) - đó cũng là lý do mà bản đăng tạp-chí Văn Họccó tựa “Văn Nghệ Đã Đi Về Đâu? Lược trình văn-học sử kể từ 1954, và viết theo lập trường vị nghệ-thuật”!

Hoàng Xuân Trường: Quen Biết Anh Trần Văn Nam Và Những Cơ Duyên

Anh Trần Văn Nam vừa ra đi. Nhiều bạn bè thân thiết của anh chắc sẽ nhớ thương anh mà nhớ lại được nhiều hồi tưởng. Nhưng riêng đối với tôi, khi ngồi nhớ lại những kỷ niệm, những trường hợp quen biết một người bạn hiền lành đáng quí, tôi nhận thấy giữa chúng tôi như có một sợi dây nhân quả vô hình nào đó, đầy những cơ duyên để gặp được nhau và quen biết nhau. 

Thật ra, tôi đã không phải là một trong những người bạn thân thiết nhất của anh. Tình bạn giữa tôi và anh có thể ví như đạm thủy nhưng không thiếu sự đồng cảm và tương kính. Và hôm nay, khi ngồi nghĩ lại những cơ duyên đưa đẩy để chúng tôi, hai người khác hẳn nhau về hoàn cảnh lớn lên, về cá tính, đã quen biết nhau và quí trọng nhau, tôi mới thấy những cơ duyên này hơi bất ngờ và khác lạ. Anh lớn hơn tôi bốn tuổi, sinh ở miền Nam, học Văn Khoa khi tôi học Trung Học. Ra trường anh dạy học trong khi tôi đi lính. Đầu mối duy nhất của sự quen biết chỉ giản dị là anh thích làm thơ và tôi thích đọc thơ.

Cái đầu mối sơ khởi và giản dị này bắt đầu từ hơn năm mươi năm trước đây, khoảng năm 1963, sau khi vừa tốt nghiệp Trung Học, tự nhiên ở đâu ra tôi được đọc một tập thơ nhỏ của anh và trong tập thơ đó, trí nhớ không gì tốt lắm của tôi lại khắc sâu vào tâm tư một cách bền chắc vài câu thơ rời rạc: “Trong làn mưa bụi bay lâm râm Hồn ma đắm bể còn trôi nổi Thây vướng vào chân những đá ngầm”. Tôi nhớ ba câu thơ cũng như tôi nhớ cái tên Trần Văn Nam, cũng là bút hiệu của tác giả, một cái bút hiệu giản dị, chân chất. Nghĩ lại, ba câu thơ kể trên thật ra cũng không có gì đặc sắc, nhưng không hiểu sao, chúng cứ mãi nằm sâu trong tâm thức tôi trong suốt hơn nửa thế kỷ của đời người, đã theo tôi từ những ngày đi học, những ngày đi lính ở cao nguyên hay vùng đồng bằng Cửu Long, từ những ngày tù tội cho đến những ngày luân lạc xứ người . Thỉnh thoảng mỗi khi trong tâm thức chợt hiện ra ba câu thơ trên, tôi lại tự hỏi là cái anh tác giả này hiện ở đâu, làm gì mà sao không thấy nhắc đến tên nữa.

Viên Linh: Để đưa tiễn Trần Văn Nam

Nhà văn, nhà nhận định văn học Trần Văn Nam (1939 - 10 Tháng Giêng, 2018). (Hình: Trần Yên Hòa)

Thật là nhanh quá. Còn nhớ mơ hồ hồi trước 1975 một hôm tòa soạn tờ báo tôi chủ trương nhận được bài của nhà giáo Trần Văn Nam từ Vĩnh Long gửi lên, một trong những bài có nội dung “thơ và triết học” mà những năm về sau anh viết thêm nhiều, tôi bỗng có phản ứng đáng kể là bốc đồng.

Ngắm nhìn cái xe Lambretta bụi bặm của mình, tôi nghĩ thầm, xe này Sài Gòn-Vĩnh Long kể gì. Nổ máy, chẳng nói với ai, tôi xuống Vĩnh Long tìm Trần Văn Nam, tôi cần bàn với chàng này. Quyết định đó đã mở đầu một tình bạn gần nửa thế kỷ.

Số là làm báo, nhất là làm một tạp chí văn nghệ, tôi rất quen thuộc với những trang bài chỉ có chữ là chữ, nhất là khi nhận được một truyện ngắn hay một bài tham luận dài cỡ 20 trang viết tay – với tôi, đó là 10 trang chữ in dày đặc nếu in hết bài đó mà không xen vào hình ảnh hay một bài thơ, hay những khung chữ hoặc in nghiêng, hoặc in đậm, hoặc bằng một kiểu chữ khác, in xen vào với bài chính.

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Đàm Trung Pháp: Uyển Ngữ Trong Xã Giao

Trong tiếng Anh có một ngạn ngữ rất khôn ngoan là Sticks and stones may break our bones, but words will break our hearts. Theo đó, lời nói có thể là phương tiện trả thù tàn bạo hơn cả gậy đập và đá liệng. Thực vậy, ngôn từ khéo léo là phương tiện hữu hiệu nhất để giao hảo của loài người, cho nên để đạt được mục đích ấy, người khôn ngoan phải sử dụng lời nói sao cho ấm lòng người nghe và yên tâm lòng mình. Đồng nghĩa với động từ nói ngọt của tiếng Việt, động từ sweet-talk của tiếng Anh cho thấy rằng sự khôn khéo trong lời ăn tiếng nói rất hiệu nghiệm trong ý định biến người mới sơ giao thành bạn của mình, hoặc thuyết phục người đã quen biết làm những chuyện có lợi cho mình. Hãy nghe lời một thanh niên Mỹ khôn ngoan giải thích với bạn bè tại sao anh ta mới được lên lương: “Well, I simply sweet-talked my boss into giving me a pay raise and she did!” Ta cũng nên biết một ngạn ngữ tuyệt vời của người Nhật là Một lời nói tử tế có thể làm ấm lòng người nghe trọn ba tháng mùa đông.

Người Mỹ thường dùng uyển ngữ (euphemism) để làm nhẹ bớt đi những ý nghĩ tiêu cực của ngôn từ. Thí dụ, thay vì dùng chữ garbage collector để diễn tả một công việc làm không được trọng vọng cho lắm, người Mỹ sử dụng chữ sanitation engineer nghe “mát lòng” hơn nhiều. Họ cũng có mặc cảm với tuổi già, cho nên khi áp dụng để tả một người tuổi đã cao, hình dung từ old làm người nghe buồn lòng không ít. Vì vậy các bậc cao niên tại Mỹ được gọi là senior citizens một cách trịnh trọng. Người Mỹ da đen không thích người khác gọi mình bằng màu da, cho nên các chính trị gia khôn khéo gọi họ là African Americans.Trong xã hội Mỹ ngày nay, the N-word là một xúc phạm khó tha thứ đối với người Mỹ gốc Phi châu và có thể làm cho người lỡ dùng chữ ấy ân hận lâu dài. 

ĐẠI TỪ XƯNG HÔ NGÔI THỨ NHẤT SỐ ÍT 


Có lẽ không một ngôn ngữ nào khác có thể so với Việt ngữ về bản chất đa dạng, đa năng của đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít. Quả thực, trong khi đa số ngôn ngữ chỉ sử dụng một dạng cho ngôi này, như Je trong Pháp ngữ, I trong Anh ngữ, Ich trong Đức ngữ, và Wo [我] trong Hoa ngữ quan thoại, Việt ngữ chúng ta có cả một kho tàng xưng hô cho ngôi thứ nhất số ít ngoài đại từ Tôi thông thường. Mỗi dạng khác nhau của đại từ “tôi” nói lên được mối liên hệ đặc biệt giữa người nói và

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018

Trịnh Y Thư: Cung Tích Biền: Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh . . .

Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh, trên một cõi quê nhà, đất thiếu máu, cạn tình.
– Cung Tích Biền (Nghiệp chưa hề an nghỉ – Xứ động vật)

1.


Đọc Xứ động vật của nhà văn Cung Tích Biền [Nhân Ảnh xuất bản, California, 2018], người đọc không thể không bàng hoàng, kinh động vì những trang viết khốc liệt như được viết từ nỗi đau xé ruột và lòng phẫn nộ tràn ứ, đầy dâng. Hiển nhiên, ở đây nhà văn viết không phải để giải trí, mua vui. Suốt sáu thiên truyện mà tác giả gọi là “tân truyện” – ngoại trừ truyện đầu, Mùi của gió mùa, một truyện ngắn riêng lẻ, kì dư các truyện khác đều là tập hợp của nhiều tiểu truyện với nội dung liên kết nhau – người đọc không hề tìm thấy một dấu vết hạnh phúc nhân sinh hoặc một nụ cười vui tươi nào, mà chỉ bắt gặp toàn những đắng cay tủi nhục và đau đớn ê chề.

Buổi ra mắt tiểu thuyết Đức ngữ "Tausend Jahre im Augenblick" (Ngàn Năm trong Khoảnh Khắc) của Ngô Nguyên Dũng

Thứ tư, 09.01.2019
Lúc 19:30 giờ

tại Studio B 
Stadt- und Landesbibliothek Dortmund
Max-von-der-Grün-Platz 1-3
44137 Dortmund
(CHLB Đức)

*

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là bốn chân lý nhân sinh trong Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo. Ý nghĩa này đã được dùng làm nền tảng cho quyển tiểu thuyết nói trên, lồng trong bối cảnh hai chuỗi thời gian cách nhau vài thế kỷ.

Dưới thời nhà Nguyễn, một khoảng thời gian ngắn trước thời đô hộ của thực dân Pháp kết thúc, một người đàn ông lạ mặt đặt chân tới Cái Bầu, một làng ở đồng bằng sông Cửu Long, miền nam nước Việt. Ông kết thân với Lâm, con trai một gia đình nông dân, thuộc giai cấp tá điền. Trong chuỗi thời gian khác là diễn biến đời sống của một giáo sĩ Ky-tô giáo, đã trải qua thời niên thiếu tại Aix-en-Provence, sau đó qua An nam truyền giáo theo sứ mệnh của toà thánh.

Anh Lưu: Tư liệu mới về áo dài Việt Nam và Tự lực Văn đoàn

Bìa sách “Áo dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay”

Đến thời điểm này, tư liệu về chiếc áo dài Việt Nam (gắn liền với tên tuổi họa sĩ Cát Tường) mới được công bố đầy đủ qua công trình nghiên cứu "Áo dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay" (NXB Hồng Đức ấn hành 2018) của nhà nghiên cứu Phạm Thảo Nguyên. 

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của nhà thiết kế Sĩ Hoàng: "Không chỉ là cuốn sách viết về tác giả tác phẩm, nó còn như một cuốn sử học về áo dài phát triển trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ, trước và sau chiến tranh, của một số phận tài hoa, gắn với tà áo hoa gấm cho biểu tượng văn hóa đẹp của người Việt đến bây giờ".

Sở dĩ, có được cái duyên này là do nhà nghiên cứu Phạm Thảo Nguyên vốn là con dâu của nhà thơ Thế Lữ - một trong những vị chủ soái của Tự lực Văn đoàn. Chính tờ Phong Hóa & Ngày Nay là nơi đã tạo điều kiện cho họa sĩ Cát Tường thể hiện, trình bày về "cấu trúc" của chiếc áo dài Việt Nam thuở ban đầu. Toàn bộ những gì liên quan công việc có tính cách tiên phong này, con trai họa sĩ Cát Tường là ông Nguyễn Trọng Hiền đã sưu tầm, gìn giữ hơn nửa thế kỷ, nay đã trao cho nhà nghiên cứu Phạm Thảo Nguyên công bố.

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Phạm Thảo Nguyên: Áo Dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay

Tòa soạn Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được cuốn sách mới xuất bản của một thân hữu, chị Phạm Thảo Nguyên, viết về một thành tựu trong các cải cách của báo Phong Hóa - Ngày Nay trong thập niên 30 của thế kỷ trước : chiếc Áo Dài Lemur. 
Chúng tôi hân hạnh đăng lại dưới đây Tựa của cuốn sách, bài Cõi Đẹp của Gs Cao Huy Thuần, như một lời giới thiệu cao nhã công trình của họa sĩ Lemur Nguyễn Cát Tường, cha đẻ của chiếc áo dài Lemur đã mở ra một thời đại mới đem lại vẻ đẹp cho y phục phụ nữ Việt Nam suốt gần một thế nay.

CÕI ĐẸP


Cao Huy Thuần


Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật - nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Bùi Vĩnh Phúc: Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (Kỳ cuối)*

(Bài thuyết trình tại cuộc “Triển lãm và Hội thảo Tưởng niệm Trương Vĩnh Ký” tại nhật báo Người Việt, Westminster, Calif., USA, ngày 8 tháng 12, 2018)
(Tiếp theo và hết)
Quyển ‘Kim, Vân, Kiều Truyện’ tái bản năm 1911, với nhiều hình minh họa Việt hóa các nhân vật trong truyện.
*“Thoắt đâu thấy một tiểu kiều. Có chìu phong-vận, có chìu thanh-tân” (dị bản: có chiều). Trương Vĩnh Ký giải thích từ “Phong-vận” là xinh tốt , còn “Thanh-tân” là sạch sẽ. Trong quyển “Truyện Kiều” do Trần Nho Thìn chủ biên & Nguyễn Tuấn Cường khảo dị, chú thích, bình luận, ta thấy ghi:
Phong vận: yểu điệu, đoan trang; Thanh tân: còn trong trắng, còn son, chưa có chồng con. 

Ta thấy cách giải thích gọn ghẽ và giản dị, có phần mộc mạc của TVK, là để nhắm vào mục đích sao cho người dân hiểu được ngay những từ Hán-Việt có vẻ cao sang. Ông không dùng những từ Hán-Việt khác, như chúng ta sau này, khi trình độ Việt ngữ của người Việt đã được nâng cao, để giải thích một từ gốc Hán-Việt. Ông tìm những từ giản dị, dễ hiểu, thậm chí là mộc mạc, dân dã để giải thích. Bởi thế, ta không nên nói, như cách phê bình của Phạm Quỳnh sau này, là sách của TVK là để viết cho trẻ con đọc. Phạm Quỳnh là một

Đàm Duy Tạo: Chương 16 - Kim Vân Kiều Đính Giải

Kim Vân Kiều Đính Giải
Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018
o o o O o o o 
CÂU 1371 ĐẾN CÂU 1472
“Nghiêm phụ phân ly, Phủ quan tác hợp”


1371. Mượn điều trúc viện thừa lương, [1]
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
1373. Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
1375. Bắn tin đến mặt Tú bà, [2]
Thua cơ, mụ cũng cầu hòa, dám sao.
1377. Rõ ràng của dẫn tay trao, [3]
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công. [4, 5]
1379. Công tư đôi lẽ đều xong, [6]
Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai.
1381. Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông.
1383. Hương càng đượm lửa càng nồng, [7]
Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen. [8, 9]
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen, [10]
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng. [11]
1387. Giậu thu vừa nảy chồi sương, [12]
Xe bồ đã thấy xuân đường đến nơi.
1389. Phong lôi nổi trận bời bời, [13]
Nén lòng e ấp tính bài phân ly.
1391. Quyết ngay biện bạch một bề, [14]
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
1393. Thấy lời nghiêm huấn rành rành, [15]
Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.
1395. Rằng: “Con biết tội đã nhiều,
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. [16]
1397. Trót vì tay đã nhúng chàm, [17]
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.
1399. Cùng nhau vả tiếng một ngày, [18]
Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.
1401. Lượng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc điên thôi có tiếc mình làm chi.” [19]
1403. Thấy lời sắt đá tri tri, [20]
Sốt gan ông mới đơn quì cửa công.
1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng, [21]
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra. [22]
1407. Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy quì. [23]
1409. Trông lên mặt sắt đen sì, [24]
Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời: [25]

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Bùi Vĩnh Phúc: Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (*)

(Bài thuyết trình tại cuộc “Triển lãm và Hội thảo Tưởng niệm Trương Vĩnh Ký” tại nhật báo Người Việt, Westminster, Calif., USA, ngày 8 tháng 12, 2018)
Giáo sư Bùi Vĩnh Phúc đang thuyết trình trong buổi hội thảo

.1.


Mục đích của bài này là trình bày một số tìm tòi, suy nghĩ của người viết về một vài nét đặc thù và thú vị trong ngôn ngữ Việt, cùng với việc tìm hiểu về một số biến đổi cả trên mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của một số từ ngữ trong tiếng Việt, kể từ giai đoạn phôi thai của nó đến bây giờ.

Sự tìm hiểu và suy nghĩ ấy được thực hiện, khởi đầu, qua việc đọc quyển Kim, Vân, Kiều Truyện, bản phiên âm đầu tiên Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ chữ Nôm qua chữ Quốc ngữ, của Trương Vĩnh Ký. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một nguồn sáng, về mặt ngôn ngữ văn học, của người Việt. Chúng ta hãnh diện vì Truyện Kiều, không hẳn vì những khía cạnh triết lý, đạo đức hay xã hội, v.v., trong truyện mà người đời sau đã tìm ra hoặc gán cho nó. Chúng ta hãnh diện vì đã có một nhà thơ Việt, dùng chữ nghĩa của dân tộc, một cách hết sức tuyệt vời và điêu luyện, với những chiều sâu trong ý nghĩa và sự lóng lánh của chữ, để diễn tả câu chuyện. 

Tiểu Muội phỏng vấn nhà văn Phạm Phú Minh: Ðặt lại giá trị văn học miền Nam trong lịch sử văn học Việt Nam

LTS. Mời quý độc giả đọc lại cuộc phỏng vấn của ký giả Tiểu Muội với nhà văn Phạm Phú Minh được thực hiện trong thời gian chuẩn bị cuộc hội thảo về văn học Miền Nam cuối năm 2014. Nội dung các câu hỏi và trả lời đã cho một cái nhìn tổng quát về tình hình văn học Miền Nam trước 1975, và cũng chính nền văn học ấy đã được gìn giữ và phát triển tại hải ngoại như thế nào.

DĐTK

TM: Thưa ông, nhân dịp sắp có cuộc hội thảo về văn học miền Nam vào ngày 6 và 7 tháng 12 năm 2014 sắp tới tại Little Saigon, và được biết ông đã từng tổ chức và tham dự nhiều sinh hoạt văn học/văn hóa trước đây, xin ông cho biết một cách tổng quát các cố gắng của giới cầm bút hải ngoại về việc sưu tầm, lưu giữ và tìm hiểu vốn liếng văn học/văn hóa Việt Nam trong quá khứ.

PPM: Ðây là câu chuyện rất dài, nếu muốn hiểu vì sao mà học giới Việt Nam ở hải ngoại phải làm những việc như cô vừa nói. Nếu chúng ta là những kẻ di dân đến Hoa Kỳ, đến Pháp, đến Úc... từ những nước như Nhật, Thái Lan, Ấn Ðộ, Ðức, Ý, Mễ Tây Cơ, v.v... thì có lẽ chúng ta cũng chỉ lo sinh sống làm ăn bình thường như họ, thỉnh thoảng tổ chức các loại lễ lạt trình diễn văn hóa của nước mẹ để tưởng nhớ gốc gác, chứ còn việc nghiên cứu, sưu tầm này nọ thì đã có nước mẹ lo. Nhưng người di dân Việt Nam thì khác.

Phóng viên Tiểu Muội trong buổi phỏng vấn nhà văn Phạm Phú Minh. (Hình: Người Việt)

TM: Xin ông giải thích khác ở chỗ nào.

PPM: Ở chỗ đúng ra chúng ta là người tị nạn, chúng ta thoát ra thế giới để trốn cái nạn Cộng Sản. Từ khi Cộng Sản cai trị nửa nước phía Bắc từ 1954, họ đã ra sức phá hủy rất nhiều thành tựu văn hóa, văn học của dân tộc Việt Nam; và khi chiếm lĩnh luôn miền Nam vào năm 1975, ngay lập tức họ triệt hạ toàn bộ nền văn học chữ quốc ngữ truyền thống Việt Nam vốn đã có từ lâu, đặc biệt rất khởi sắc từ 1954 đến 1975.

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

Vũ Thành Sơn: Gặp nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé qua Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả người là học trò của bà trước kia. 

Hôm ấy, khoảng tháng 9 năm 2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi thất vọng, buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của một ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực phi thường để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình. 

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày. 

Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút. Trả lời câu hỏi này cũng đồng thời trả lời cho câu hỏi kế tiếp vì sao mà nhà văn từ bỏ sáng tác. Trong trường hợp của Thụy Vũ, số phận hình như không định đoạt bà trở thành một nhà văn, mà là một cô giáo. Bà có viết lách nhưng là viết cho riêng bà. Người em trai của bà, Hồ Trường An, khuyến khích bà gửi đăng báo. Và bà đã xé từ trong cuốn sổ một truyện để gửi cho tờ Bách Khoa chỉ với mục đích là để kiếm thêm thu nhập cho đồng lương khiêm tốn của nghề giáo mà thôi. Nhưng (số phận nào cũng bắt đầu từ cái phản đề này), cái truyện đó đã lọt vào mắt xanh của nhà văn Võ Phiến. 

Hoài Nam: Cái đọc với người viết

Đọc và viết, hiển nhiên đó là hai hoạt động khác nhau, chứ không phải một. Theo cách hiểu thông thường, đối với một người sáng tác văn chương (người viết) bất kì, đọc nằm ở quá trình “nạp”, còn viết là “xả”, là “trút” cái sự ngấm từ việc đọc của mình vào một sáng tạo ngôn từ mới mẻ. Điều đó cũng có nghĩa là, đối với người viết, đọc và viết tuy khác nhau song lại rất gần nhau. Sự đọc cần cho tất cả những ai yêu chuộng tri thức, yêu chuộng một đời sống tinh thần phong phú; riêng với người viết, đọc trở thành một điều kiện mang tính cốt tử nếu người viết thực sự muốn sống chết với nghề viết, thực sự muốn tạo lập những giá trị văn chương có thể không bị bụi thời gian che phủ; nói cách khác, phải đọc, nếu người viết muốn hiện diện với tư cách một người viết chuyên nghiệp.

Không có gì khó hiểu khi người viết chuyên nghiệp bị điều kiện hóa bởi việc đọc. Hãy thử chứng minh điều đó bằng những giả định.

Trước hết, nếu không đọc (hoặc ít đọc) người viết sẽ chỉ có thể viết bằng chút ít tài năng trời cho (với điều kiện là anh ta có thứ tài năng ấy, tất nhiên) và bằng những kinh nghiệm đời sống hết sức hữu hạn của riêng mình, chứ không phải bằng bề dày của cái vốn liếng văn hóa về văn học. Thực tế cho thấy, cái vốn liếng văn hóa về văn học này chính là nguồn “nhiên liệu” giúp cho một người viết đi bền, đi xa trên con đường văn chương thiên lí. Không có nó, may ra người viết chỉ đạt được một vài thành công ban đầu rồi sau đó nhanh chóng lê mình trong bóng tối của sự lặp lại chính mình, cũ kĩ và nhàm chán.

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Nhà văn Phương Nghi phỏng vấn ông Phạm Phú Minh, đại diện ban tổ chức Cuộc Triển lãm và Hội thảo về Trương Vĩnh Ký

Học giả Trương Vĩnh Ký
Kính thưa nhà báo Phạm Phú Minh, động cơ nào đã khiến ông và các bạn của ông chọn học giả Trương Vĩnh Ký làm chuyên đề cho buổi hội thảo và triển lãm tại Nhật báo Người Việt vào ngày 8 tháng 12 sắp tới đây? 

Ngày nay hầu như ai cũng đồng ý rằng hội thảo là phương cách rất tốt để trao đổi ý kiến với nhau về một vấn đề chung nào đấy. Đặc tính của hội thảo là công khai, có nhiều người tham dự, để các thông tin được tiếp nhận và thảo luận một cách rộng rãi. 

Trong cuộc sống lưu vong tại hải ngoại, hội thảo những vấn đề liên quan đến văn hóa Việt Nam trở nên cần thiết, vì đó là những dịp nhắc nhở những di sản tinh thần thuộc quê hương xứ sở mà chúng ta đã rời bỏ. 

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

VOA: Triển lãm và hội thảo về Trương Vĩnh Ký ở Nam California

Pétrus J. B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Một cuộc triển lãm kết hợp hội thảo về ông Trương Vĩnh Ký với mục đích ‘nói lại cho rõ’ những vấn đề gây tranh cãi về cuộc đời và sự nghiệp của người được cho là giúp phổ biến chữ Quốc ngữ của Việt Nam sẽ được tổ chức vào thứ Bảy, 8/12 tại tòa soạn nhật báo Người Việt, California, Hoa Kỳ.

Pétrus J. B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898), là một học giả lớn về ngôn ngữ của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Ông được xem là người có công phổ biến chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam ngày nay. Ngoài ra, ông còn được xem là ông tổ của báo chí và văn chương chữ Quốc ngữ.

Tuy nhiên, ông cũng là nhân vật gây tranh cãi vì vai trò phục vụ tích cực cho chính quyền đô hộ của người Pháp. Lâu nay, chính quyền Việt Nam (hiện nay) vẫn xem ông thuộc thành phần ‘Việt gian’ và tước bỏ mọi hình thức tôn vinh đối với ông.

Gần đây nhất, tác phẩm ‘Nỗi Oan Thế Kỷ’ nhằm ‘giải oan’ cho ông của một học giả lão thành trong nước là ông Nguyễn Đình Đầu đã bị chính quyền trong nước thu hồi không cho phát hành hồi đầu năm 2017.

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2018

Nguyễn An Dương: Những chuyển động đa chiều trong đời sống văn học Việt Nam đương đại

Sau 1986, đời sống văn học Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Sự giao lưu kinh tế, văn hóa, sự bùng nổ các phương tiện thông tin truyền thông gắn với nhu cầu kết nối các giá trị văn chương quá khứ đã mở rộng không gian sáng tạo cho người cầm bút và không gian đọc cho cộng đồng độc giả. Bên cạnh những chuyển động về mặt thể loại hay sự vận động, đổi mới về các phương diện quan niệm nghệ thuật, nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật…, đời sống văn học Việt Nam còn chứng kiến những hiện tượng thú vị: hiện tượng “trở về” của các nhà văn Việt Nam ở hải ngoại, hiện tượng “trở lại” của dòng văn học đô thị miền Nam trước 1975 hay hiện tượng “ra đi” kiếm tìm không gian viết mới của các tác giả cũ và mới. Chính sự dịch chuyển này đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam đương đại trở nên đa dạng, phong phú, nhiều tiếng nói hơn bao giờ hết.

Sự “trở về” của bộ phận văn học Việt Nam ở hải ngoại


“Trở về” ở đây được hiểu theo nhiều khía cạnh. Đó có thể là sự trở về của chủ đề sáng tác, có thể là sự trở về Việt Nam sinh sống và tiếp tục viết của các tác giả, và cũng có thể là sự trở về của những tác phẩm được viết, xuất bản ở nước ngoài(1).

Đầu tiên phải kể đến những cuộc trở về đầy cảm xúc và ý nghĩa của một thế hệ nhà văn vốn đã thành danh trong đời sống văn học miền Nam Việt Nam trước 1975. Trước khi sang định cư ở nước ngoài, họ có tác phẩm ít nhiều được công chúng độc giả yêu mến. Và nay, sau một thời gian vắng bóng, những sáng tác cũ và mới của các bậc lão thành được tái bản, xuất bản trong nước: Kí thác, Những bước chân lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, Hương quê - Bình Nguyên Lộc; Đêm dài một đời, Những giọt mực - Lê Tất Điều; Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác; Tùy bút tuyển chọn, Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời, Giỏ hoa thời mới lớn, Khúc thụy du, Với nhau một ngày nào, Giữ đời cho nhau - Du Tử Lê; Người em xóm học, Em điên xõa tóc, Đêm cỏ tuyết, Lớp lớp phù sa - Kiệt Tấn; Quê hương tôi, Tạp văn - Tràng Thiên... 

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Nguyễn Văn Tuấn: Giới thiệu sách quan trọng: "Vietnam, Territoriality and the South China Sea"

Tôi hân hạnh giới thiệu một cuốn sách rất quan trọng liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Sách có tựa đề là "Vietnam, Territoriality and the South China Sea" (1) của tác giả Hàn Nguyên Nguyễn Nhã, với biên tập và dịch thuật của Lâm Vĩnh Thế. Sách được nhà xuất bản Routledge xuất bản vào tháng 10 năm nay (2018).

Tác giả Tiến sĩ Nguyễn Nhã
Tiến sĩ Nguyễn Nhã là một trong những nhà nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa, với những đóng góp bền bỉ suốt hơn 50 năm. Nguyên là một nhà giáo, ngay từ những năm trước năm 1975, ông đã có những bài khảo cứu về Hoàng Sa và Trường Sa công bố trên tập san Sử Địa ở Sài Gòn. Sau 1975, ông vẫn miệt mài và thầm lặng nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một trong những thành quả khảo cứu đó là quyển sách "Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa" do Nhà xuất bản Giáo Dục phát hành vào năm 2013. Cuốn sách khảo cứu đó được đánh giá rất cao của giới sử học 'cung đình' và giới sử học chuyên nghiệp. Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, viết rằng “Đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, dựa trên những tư liệu phong phú, chứng cứ và lập luận rất khách quan. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Tôi cũng hy vọng từ cuốn sách này, nội dung về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa sẽ được đưa vào trong sách giáo khoa lịch sử các trường phổ thông”.

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Bùi Bích Hà: Thơ ở Seattle

Seattle
Khoảng hơn một thập niên trước, tại quận Cam, California, trong một dịp sinh hoạt giới thiệu ba nhà thơ có nhiều tác phẩm được cộng đồng người Việt hải ngoại yêu mến, gồm chị Trần Mộng Tú, Dạ Nhiên và anh Ngu Yên, có người hỏi Trần Mộng Tú cơ duyên nào đã đưa chị trở thành thi sĩ? Nhà thơ dường như buột miệng mà trả lời: “Thơ tìm tôi chứ tôi không tìm thơ.” Lập tức nghe lao xao trong mấy hàng ghế thính giả lời bình phẩm của ai đó, cho rằng nhà thơ họ Trần cao ngạo quá!

Thân thiết với nhà thơ là thế mà chính tôi cũng hơi ngẩn ngơ, chưa hiểu chị muốn ngụ ý gì tuy tôi biết chắc bạn tôi không bao giờ “cao ngạo” cả. Hình như những người làm thơ hay vốn không bận tâm mấy về chuyện eo xèo của đời thường vì lương thực nuôi sống họ toàn là hương thơm và châu báu.

Giờ đây, sau hơn nửa thế kỷ làm thơ không mỏi mệt, một đêm Tháng Tư (như nhiều đêm tháng khác, ngày khác) thi sĩ đang ngủ thì thơ lại đến, đánh thức người dậy và cầm tay người để viết xuống những câu “Họ chết như ốc vỡ, sóng biển là khăn tang,” thì tôi chợt hiểu câu nói của Trần Mộng Tú mười mấy năm trước: “Thơ tìm tôi.”