Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

Reuters: Nhựa thải ra biển chui vào… bao tử con người

Công nhân chất những bao chai plastic lên xe tại Manila, 
ngày 10/3/2015. Philippines đứng hạng ba trong danh sách các nước 
có biển bị ô nhiễm vì plastic nhất trên thế giới.

Những miếng nhựa bé li ti làm ô nhiễm các loài trai từ vùng Bắc Cực châu Âu cho đến Trung Quốc. Đây là chỉ dấu cho thấy ô nhiễm đại dương lan tràn trên toàn thế giới và có thể cuối cùng xâm nhập các món ăn của con người.

Các loài trai tại vùng biển trong vắt của Bắc Cực nhiễm nhựa nhiều nhất trong các cuộc thử nghiệm dọc theo bờ biển, theo một cuộc nghiên cứu trong tháng này của Viện Nghiên cứu Biển Na Uy (NIVA).

Nhựa có thể trôi dạt lên miền bắc do những dòng nước biển và gió thổi từ châu Âu và châu Mỹ và cuối cùng bị cuốn xoáy xung quanh Bắc Băng Dương, nhà nghiên cứu Amy Lusher của NIVA nói với Reuters.

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

Hà Tường Cát/Người Việt: Dân Trung Quốc giảm thọ vì ô nhiễm môi trường

Khói và hơi nước bốc lên từ nhà một nhà máy thép quốc doanh 
ở tỉnh Hà Bắc. (Hình: Kevin Frayer/Getty Images)


Ô nhiễm môi trường là một vấn đề nan giải của Trung Quốc từ ba thập niên gần đây do không kiểm soát được những hậu quả tiêu cực trong sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế.

Thủ Tướng Lý Khắc Cường năm 2014 tuyên bố mở “cuộc chiến chống ô nhiễm,” nhưng mức độ khói bụi (smog) ở Trung Quốc vẫn còn vượt quá tiêu chuẩn lành mạnh do Tổ Chức Y Tế Thế Giới của Liên Hiệp Quốc (WHO) quy định.

Theo một nghiên cứu vừa được tạp chí của Viện Hàn Lâm Khoa Học Mỹ công bố đầu tuần này thì hậu quả của tình trạng không khí ô nhiễm làm giảm 3.5 năm tuổi thọ trung bình của người dân Trung Quốc.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Ngô Thế Vinh: KLCM: Lấy Máu Của Ðất Thái Lan Chuyển Dòng Lấy Nước Sông Mekong

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long và Uỷ Ban Mekong Việt Nam
LÀM XANH CAO NGUYÊN ISAAN
Isaan là một vùng châu thổ rộng lớn trên cao nguyên Khorat trong lưu vực Sông Mekong, bao gồm 20 tỉnh đông bắc Thái Lan, chiếm đến 1/3 toàn diện tích 514,000 km2 của Thái với hơn 20 triệu dân cũng chiếm khoảng 1/3 dân số Thái nhưng vẫn còn là một vùng nghèo và khô hạn, cho dù được bao quanh bởi con sông Mekong như một biên giới thiên nhiên giữa Thái – Lào. Do sự toa rập giữa thực dân Pháp và Anh, họ đã cắt một phần đất Lào sát nhập vào Thái từ 1941, do đó cư dân Isaan đa số là người Lào còn được gọi là Thay Isaan, nói cùng ngôn ngữ, chủ yếu sống bằng nghề nông, tơ lụa và chài lưới. Còn phải kể tới một số không ít người Việt sinh sống lâu năm tại đây.
Vào những năm 1960s, để đáp ứng với cường độ chiến tranh gia tăng tại Việt Nam, đã lan rộng ra ba nước Đông Dương và cũng để ngăn chặn Cộng sản xâm nhập vào đất Thái, người Mỹ đã ồ ạt đổ tiền vào phát triển cao nguyên Isaan, mở mang hệ thống xa lộ tối tân, xây 4 phi trường quân sự chiến lược, nơi phát xuất các đoàn máy bay phản lực oanh kích Bắc Việt và cả những đoàn cấp cứu phi công Mỹ bị bắn rơi. Mỹ cũng giúp Thái xây các đập thuỷ điện trên phụ lưu Sông Mekong, nhằm điện khí hoá nông thôn, cải thiện thệ thống dẫn thuỷ khiến mức sản xuất nông sản gia tăng.
image001
Hình 1: Cao nguyên Isaan [màu đỏ]
Thái Lan bấy lâu vẫnlà quốc gia xuất cảng lúa gạo lớn nhất thế giới nên “Nước”luôn luôn là nhu cầu bức thiết để phục vụ nông nghiệp và cả kỹ nghệ. Isaan là vùng nông nghiệp nhưng khô hạn, do đó “Nước” là chiêu bài để các chính trị gia Thái tranh phiếu trong các cuộc bầu cử. Người dân sống trên cao nguyên Isaan luôn luôn được hứa hẹn sẽ có một cuộc sống sung túc hơn nếu có thêm nước trong mùa khô và để có được hai mùa gặt trong một năm. [Hình 1]

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Hiếu Bùi - Sự thiệt hại về ô nhiễm môi trường tại VN


Sáng nay chủ nhật mình gọi điện về VN cho một ông bạn cùng quê. Ông ta hơn mình mấy tuổi trước đây làm quan to trong Tổng cục Du Lịch, mới về hưu được mấy năm. Mình hỏi anh tình hình biển nhiễm độc như thế thì du lịch biển sẽ về đâu ? Anh nói chết hết rồi chú ơi. Quả Formosa này chúng nó từ trên xuống dưới kiếm giỏi lắm thì được 4 tỷ đô mà thiệt hại cho đất nước thì không dưới 100 tỷ USD chưa nói đến môi trường sinh thái biển, các rặng san hô, các vườn cá ngầm, rong rêu… có thể hàng trăm năm sau chưa hồi phục lại được . Mình hỏi sao mà lớn vậy anh ? 100 tỷ USD là nhiều lắm à nha.

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Ts. Nguyễn Thị Hậu - Hạn mặn miền Tây và nguy cơ bất ổn


Cơn hạn hán kéo dài suốt nhiều tháng qua chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt, cũng là khoảng thời gian nước mặn xâm nhập rất sâu vào đồng bằng sông Cửu Long. Miền Tây oằn mình chịu thiên tai. 
Hồi đầu tháng tư có được một hai cơn mưa cục bộ, lượng mưa không đáng kể làm báo chí ào lên “miền Tây có mưa”. Nhưng tiếp đó là đại họa cá chết ven biển các tỉnh miền Trung... Truyền thông lại tập trung vào vấn nạn về ô nhiễm môi trường và nguyên nhân cá chết.
Cả tháng tư rồi qua tháng năm, miền Tây vẫn đang chịu đựng thiên tai như những gọng kềm: từ trên trời nắng xuống, từ dưới đất phèn lên, từ thượng nguồn Mêkông nước không về và từ biển nước mặn lấn vào sâu! Đất khô nứt nẻ không thể trồng trọt, đầm tôm mặn quá giới hạn làm chết tôm và các loại thủy sản, rừng lúc nào cũng trong nguy cơ hỏa hoạn cao, kênh rạch cũng cạn kiệt, người không đủ nước sinh hoạt... Miền Tây đã nghèo lại càng nghèo, nay dấy lên làn sóng người bỏ quê đi tìm kế sinh nhai.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Nguyễn Thị Hậu - “Khóc một dòng sông…”

Đã một vài lần tôi đi xuôi ngược dọc theo vài đoạn Mekong ở Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, con sông Mẹ của Đông Nam Á lục địa, nguồn mạch sinh sôi của đất, của người, của văn hóa những nơi mà nó chảy qua.
Các bạn trẻ tại Mekong Campaigh (Ảnh: SQ)
Trên bất cứ đoạn nào Mekong cũng mang dáng vẻ hiền hòa, ngay cả vào mùa nước lũ. Từ thượng nguồn Tây Tạng càng đổ về phía biển con sông càng chững chạc hơn. Nếu những ngọn thác hùng vĩ trên mấy chục bậc thềm thượng nguồn mạnh mẽ như những chàng trai trẻ thì về miền đồng bằng hạ lưu, dòng Mekong chở nặng phù sa tựa như thiếu phụ đang hoài thai chờ ngày hạ sinh những mùa vàng nặng trĩu. Trên sông xuôi ngược những chuyến tàu lớn chở người, hàng hóa, ghe xuồng nhỏ buôn bán ven sông, ghe đánh cá dỡ chài những đoạn nước xiết, những cù lao hình thành ngày mỗi dài rộng qua hàng ngàn mùa nước nổi… Vùng gần biển ngày hai lần Mekong đổi dòng nước lớn nước ròng đều đặn bình thản như nhịp sống ở đây. Nhiều chiếc cầu đã nối liền đôi bờ cũng là nối liền hai đất nước khi Mekong là biên giới tự nhiên. Mà ngàn đời nay với cư dân sống dọc theo con sông, Mekong luôn là sự nối liền chứ có bao giờ là ngăn cách?

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

Trọng Thành/RFI - Nửa thế kỷ phủ nhận hiện tượng trái đất bị hâm nóng

Hiệu ứng nhà kính là một thực tế liên tục bị phủ nhận trong nhiều thập niênGETTYIMAGE
Thượng đỉnh khí hậu sẽ khai mạc ngày thứ Hai tới tại Paris. Đe dọa khủng bố đè nặng lên sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với tương lai của nhân loại là quan tâm xuyên suốt các báo ra cuối tuần, 28/11/2015. « Paris được bảo vệ cao độ vì COP 21 » là tựa lớn trang nhất Le Figaro. Libération chạy tựa chính : « Thượng đỉnh bị siêu bao bọc ». Chủ đề chính của Phụ trương Văn hóa & Tư tưởng của Le Monde : « An ninh và các quyền tự do : thế nào là cân bằng ? ». Hiểm họa khủng bố cao độ không ngăn cản báo chí dành chú ý đặc biệt cho khí hậu. « Khí hậu : 50 năm bị phủ nhận » là tựa đề hồ sơ chính của phụ trương Le Monde.

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Ngô Thế Vinh - NĂM NAY 2015 KHÔNG CÓ MÙA NƯỚC NỔI

Hình I: Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000. (Photo: Ngô Thế Vinh)

Cửu Long giang mở chín lần cửa rộng
Dòng sông dài dữ dội bản trường ca
Nguyên Sa

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
Mùa nước nổi ĐBSCL
Như nhịp điệu ngàn năm của con sông Mekong, hệ sinh thái vùng châu thổ sông Cửu Long được cân bằng một cách tự nhiên với "mùa nước nổi" và "mùa nước giựt".  Theo anh Dohamide Đỗ Hải Minh, một học giả gốc người Chăm, một cây bút quen thuộc của báo Bách Khoa trước 1975, sinh ra và lớn lên ở miệt Hậu Giang Châu Đốc rất am tường về hệ sinh thái của Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì trong bao thập niên qua, người dân Miền Tây đã quen sống với nạn ngập lụt hàng năm, hay còn gọi là mùa nước nổi, như là một hiện tượng thiên nhiên đến đều đặn theo chu kỳ. [2]

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Ngô Thế Vinh - HAI CỰC CỦA SỰ HUỶ HOẠI TỪ NUOZHADU TỚI DON SAHONG SÔNG MEKONG TRƯỚC NGUY CƠ

“Trái tim, tâm hồn và trí tuệ của tôi, tất cả đều tập trung để làm sao ngăn chặn những toan tính điên dại đang diễn ra trên Sông Mekong.” Tom Fawthrop, nhà báo Anh, đạo diễn phim Killing the Mekong Dam by Dam. Gửi Nhóm Bạn Cửu LongNgô Thế Vinh


ẢNH HƯỞNG DÂY CHUYỀN TỪ NHỮNG CON ĐẬP
Với 14 con đập Bậc Thềm Vân Nam và 12 con đập Hạ lưu, tổng số 26 con đập dòng chính trên suốt chiều dài hơn 4,800 km sông Mekong, với thời gian là những hậu quả huỷ hoại tích lũy không thể đảo nghịch từ những khúc sông nghẽn mạch, và ảnh hưởng dây chuyền của chuỗi các con đập ấy bao gồm:
1/ Biến đổi bản chất tự nhiên của con sông, và dòng sông sẽ không còn giữ được “nhịp đập / flood pulse” theo mùa, cũng là yếu tố sinh tử của Biển Hồ như trái tim của hệ sinh thái Sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long. 

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Giấy Vụn - Xuất bản tác phẩm "Mekong, dòng sông nghẽn mạch" của tác giả Ngô Thế Vinh


Nhà xuất bản Giấy Vụn vừa in xong cuốn ký sự Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch của Ngô Thế Vinh, cũng là tác giả cuốn dữ kiện tiểu thuyết Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng xuất bản năm 2000; cả 2 tác phẩm có nội dung cùng thể hiện mối quan tâm về các nan đề “môi sinh và phát triển” trong toàn lưu vực Sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long. MKDSNM được phát hành vào một thời điểm rất ý nghĩa, ngay sau Hội nghị Thượng Đỉnh Mekong II / MRC Summit II vừa diễn ra tại Thành Phố Sài Gòn ngày 5 tháng 4, 2014. Hội nghị này đã được giới quan sát quốc tế và các nhà hoạt động môi sinh đánh giá như một thất bại về phía Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ sự phát triển bền vững hệ sinh thái Sông Mekong, và ĐBSCL, cũng là mạch sống của ngót 70 triệu cư dân sống trong lưu vực. Tưởng cũng nên nói thêm, Giấy Vụn là một nhà xuất bản vỉa hè “ngoài luồng” hoạt động không giấy phép, do hai nhà thơ trẻ Bùi Chát và Lý Đợi thuộc nhóm Mở Miệng chủ trương. Cũng như với hơn 40 tựa sách của Giấy Vụn đã xuất bản, sách MKDSNM chủ yếu được phát hành chuyền tay, không bán và cũng không có trong các nhà sách. 

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

NGÔ THẾ VINH - SÁNG KIẾN HẠ LƯU MEKONG 2020 VÀ MỘT HỌC VIỆN MEKONG TRÊN ĐẤT LÀO


NGÔ THẾ VINH
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long 
và VN 2020 Mekong Group 

“Như một phần của ‘Sáng Kiến Cam Kết An Ninh Á Châu Thái Bình Dương’, chúng ta tiến tới “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020”. Như tên gọi, đó là viễn-kiến-nhiều-năm để Hoa Kỳ có thể trợ giúp mỗi đối tác cũng như toàn thể nhằm xây dựng một lưu vực trù phú.” Hillary Clinton

“Chúng tôi nghĩ rằng Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 có tiềm năng rất lớn, nhưng chỉ có thể thành công nếu mọi thành viên đều hết lòng tham gia, bởi vì chúng tôi cần ý kiến của các bạn, cần những cuộc đối thoại rất xây dựng và thẳng thắn với chúng tôi”. Hillary Clinton


*

Đây là bài viết thứ hai tiếp theo bài “Lưu Vực Sông Mekong, Địa Bàn Thách Đố của Hoa Kỳ”. Bài thứ nhất được phổ biến cách đây 4 tháng [04/ 11 / 2012], nay lại có thêm sự kiện mới khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đưa ra một chương trình mở rộng với tiêu đề “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020” [07/ 13/ 2012] với Miến Điện là thành viên mới thứ năm. LMI 2020 (Lower Mekong Initiative 2020) đánh dấu sự cam kết lâu dài của Hoa Kỳ với vùng Hạ Lưu Mekong. [3]

Trong bài viết cập nhật này, tác giả-- cũng là người từng quan tâm theo dõi trong nhiều năm về những bước phát triển và suy thoái của con Sông Mekong -- sẽ điểm qua các bước hiện thực và triển khai Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cùng với những đề xuất–như một đáp ứng góp ý theo yêu cầu của Ngoại Trưởng Hillary Clinton.


NIÊN BIỂU HOA KỲ VÀ SÔNG MEKONG 

-- Rất sớm từ thập niên 40 thế kỷ trước, các nhà xây đập Hoa Kỳ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong. Năm 1957, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là Hoa Kỳ, một Ủy Ban Sông Mekong [Mekong River Committee] được thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam. 

-- Khi soạn thảo kế hoạch phát triển sông Mekong, Liên Hiệp Quốc đã chia Lưu Vực Lớn sông Mekong [GMS, Greater Mekong Subregion] thành hai tiểu lưu vực phân cách bởi khu Tam Giác Vàng: Lưu Vực Trên (Upper Basin) thuộc Vân Nam Trung Quốc. Lưu Vực Dưới (Lower Basin) thuộc 5 quốc gia hạ nguồn: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, và Việt Nam.

-- Từ 1968 đến 1971, giữa giông bão chiến tranh, Hoa Kỳ đã cùng Ngân Hàng Thế Giới / World Bank tài trợ cho Lào hoàn tất xây con đập Nam Ngum trên một phụ lưu lớn của Sông Mekong, đây cũng là con đập thủy điện đầu tiên của đất nước Lào. 

-- Kế hoạch phát triển Lưu Vực Dưới Mekong đầy tham vọng, nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong vùng, nhưng rồi Chiến Tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương nên kế hoạch xây các đập thủy điện trên dòng chính Sông Mekong, và các chương trình khai thác khác  đã phải gián đoạn.
-- Ngày 23/ 07/2009 Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đã đưa ra “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong” (Lower Mekong Initiative/ LMI), khởi đầu với sự kiện Kết nghĩa giữa Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi. [4]

-- Ngày 7/07/2011 Thượng Viện Mỹ thông qua một nghị quyết 227 kêu gọi bảo vệ Lưu vực Sông Mekong với gia tăng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm hoãn xây các con đập dòng chính Sông Mekong.  [8]

-- Ngày 7/13/2012 trong cuộc họp cấp Bộ Trưởng ở Phnom Penh, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đưa ra một kế hoạch với tiêu đề “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020/ LMI 2020” với thêm Miến Điện là một thành viên mới, đánh dấu sự cam kết lâu dài và mở rộng của Hoa Kỳ với vùng Hạ Lưu Mekong. [1,2]

-- Ngoại Trưởng Hoa Kỳ kêu gọi các quốc gia Mekong cần tránh những lỗi lầm của Hoa Kỳ từ hơn 100 năm qua khi quyết định vội vã xây các con đập và sau đó phải trả bằng những bài học đắt giá. Hoa Kỳ cũng sẵn sàng tài trợ cho những cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của các dự án xây đập trên Sông Mekong. [2] 


TỪ SÁNG KIẾN HẠ LƯU MEKONG 2009 

Cách đây hơn 3 năm [23-07-2009], nhân Hội nghị Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á [ASEAN], theo yêu cầu của Hoa Kỳ đã có thêm một cuộc họp bên lề của Ngoại trưởng 5 nước: phía Mỹ là Hillary Rodham Clinton, cùng với 4 Ngoại trưởng vùng Hạ Lưu Sông Mekong gồm có Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam tại Phuket, Nam Thái Lan. Tiếp theo đó là một thông  cáo báo chí, liên quan tới những vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là trong các lãnh vực Môi trường, Y tế, Giáo dục, và Phát triển Hạ tầng (infrastructure development) trong vùng.

Trong cuộc gặp gỡ này, Ngoại trưởng Mỹ đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong và của mỗi quốc gia đối với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhằm thăng tiến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực ASEAN như một toàn thể. Các Ngoại trưởng 4 nước Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam [ lúc đó chưa có Miến Điện cũng là một quốc gia Hạ Lưu ] hoan nghênh sự hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ trong những lãnh vực có ý nghĩa hỗ tương nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững trong vùng.

Năm Ngoại trưởng đã thảo luận về các lãnh vực bao gồm ảnh hưởng biến đổi khí hậu và làm thế nào để đáp ứng có hiệu quả; phòng chống bệnh truyền nhiễm; mở rộng ứng dụng kỹ thuật cho giáo dục và đặc biệt quan tâm phát triển vùng nông thôn; cũng như phát triển cơ sở hạ tầng. Các Ngoại trưởng đã cùng xét duyệt những nỗ lực chung đang tiến hành, và đồng ý mở ra những lãnh vực hợp tác mới; và đặc biệt hoan nghênh sáng kiến “Kết Nghĩa Giữa Hai Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi / Sister-River Partnership ” nhằm chia xẻ kinh nghiệm chuyên môn trong các lãnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu, đương đầu với lũ lụt và hạn hán, khai thác thủy điện và lượng giá ảnh hưởng, quản lý nguồn nước và quan tâm tới an toàn thực phẩm. [4] 

Kèm theo đó là “trang dữ kiện/ fact sheet” với những con số cụ thể của Bộ Ngoại Giao Mỹ về Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong: 
(1) Môi trường: 7 triệu MK dành cho các chương trình môi trường trong vùng Mekong, đáng kể nhất là kế hoạch kết nghĩa giữa hai Ủy Hội Sông Mekong với Ủy Hội Sông Mississippi của Mỹ để chia xẻ những kinh nghiệm chung . Sẽ yêu cầu Quốc hội Mỹ chuẩn y thêm 15 triệu MK nữa cho năm 2010.

(2) Y tế : 138 triệu MK, tập trung vào điều trị và phòng chống các bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS, sốt rét và bệnh lao kháng thuốc, tổng dịch cúm, và chuẩn bị tiến tới một Hội nghị chuyên đề Hoa Kỳ - Mekong về các bệnh truyền nhiễm trong vùng.

(3) Giáo dục: 16 triệu MK, và 500 học bổng Fulbright cho các học giả và sinh viên mỗi năm, phát triển nối kết mạng lưới internet tới thôn quê và tiến tới tổ chức một Diễn đàn Mỹ - Mekong về lãnh vực này. 

Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2009 có ý nghĩa biểu tượng quan trọng về sự trở lại của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, giữa lúc mà áp lực ghê gớm của Trung Quốc đang đè nặng trên toàn vùng. Với một ngân khoản đầu tư chưa tương xứng so với tầm vóc của chánh sách và nhu cầu của các nước trong lưu vực. Lại càng chưa thể nói là có khả năng “đối trọng” đối với áp lực bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, khi mà Bắc Kinh đang ở thế thượng phong trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong / Greater Mekong Subregion/ GMS so với Hoa Kỳ trong nhiều lãnh vực. [4] 

TỚI SÁNG KIỀN HẠ LƯU MEKONG 2020

      Hơn 3 năm sau Hội Nghị Phuket Thái Lan;cùng ngày 07/13/2012 đã có hai cuộc họp, một cấp bộ trưởng liên quan tới những Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong và một với nhóm Bạn Hạ Lưu Mekong tại Phnom Penh, Cam Bốt.  



Hình 1_ Hội nghị Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cấp Ngoại Trưởng tại Phnom Penh 13/07/2012, có thêm một thành viên mới là Miến Điện với Ngoại Trưởng Wunna Maung Lwin [đứng đầu từ phải] . Source: Heng Sinith / AP

Trong hội nghị này, Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã thông báo đưa ra một cam kết mới và lâu dài của Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ cho Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong đã có từ 2009. Nay như một phần của Sáng Kiến Cam Kết An Ninh Á Châu Thái Bình Dương [APSEI / Asia Pacific Security Engagement Initiative], Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 [LMI 2020] như nội dung của tên gọi, đó là một viễn-kiến-nhiều-năm [multi-year vision] để Hoa Kỳ có thể trợ giúp mỗi quốc gia và toàn vùng nhằm xây dựng một lưu vực sông Mekong trù phú trong nhiều lãnh vực. Có thể nói Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 là một mở rộng, nâng cao, và lâu dài về tầm nhìn chiến lược của Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á. 

      Vì thấy được tiềm năng lớn lao trong hợp tác để giải quyết những thách đố về y tế, cơ sở hạ tầng, môi trường và giáo dục, nay thành lập thêm một Nhóm Định Hướng Hành Động [action-oriented group] qua đó có thể cải tiến cách lượng giá về hậu quả thay đổi khí hậu, bắt đầu chia xẻ những kinh nghiệm tốt nhất trong phương cách quản lý những dòng sông lớn như con Sông Mekong. 

Có thể kể vài bước sắp tới nhằm cụ thể triển khai Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020/ LMI 2020: [1]
      -- Việt Nam sẽ cùng chủ tọa một hội nghị về Môi Sinh và Nước bao gồm rộng rãi các vấn đề vệ sinh, đương đầu với lũ lụt, cung cấp nước cho các đô thị, và những vấn đề liên quan khác.  

      -- Miến Điện sẽ cùng chủ tọa một hội nghị về các vấn đề Canh Nông và An Toàn Lương Thực cho toàn cư dân lưu vực Sông Mekong. Và cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của ASEAN.

      -- Lào cũng sẽ cùng chủ tọa một hội nghị xây dựng một nền móng Nối Kết [Connectivity], nhằm phát triển tối ưu hệ thống giao thông đường xá, các mạng lưới dẫn điện và khép lại sự phân tán của mạng lưới số [digital divide] giữa các cơ sở học viện và các nhóm cư dân.   

      -- Tiến đến hình thành “nhóm chuyên gia độc lập” từ bên ngoài có khả năng cống hiến những ý tưởng mới mẻ [fresh thinking] về sự kết hợp vùng [subregional integration], phát triển bền vững, ganh đua kinh tế, và quyền lợi hỗ tương trong các lãnh vực khác. 

      Đi thêm vào chi tiết của Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, (1) Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ một kết hợp mới [new partnership] giữa Chánh phủ Việt Nam và Đại học Harvard nhằm đào tạo một thế hệ tương lai những chuyên gia và các nhà lãnh đạo vùng trong các lãnh vực chủ yếu,(2) Nỗ lực gia tăng phòng chống sốt rét và biến đổi khí hậu. Hoa Kỳ sẽ đầu tư thêm 50 triệu MK trong 3 năm tới. Đây là phần thêm vào đối với những hỗ trợ song phương [bilateral support] mà Hoa Kỳ đã cung cấp, (3)Và để triển khai mạng lưới điều hợp Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, bước đầu tiên sẽ là một “tụ điểm điều hợp” [coordination hub] tại cơ quan USAID Bangkok. Và đã tới lúc cần di chuyển trung tâm này tới gần hơn con sông Mekong để chúng ta có thể tăng cường hợp tác và liên lạc. 

Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, qua Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020 cũng đã đặt ra “những câu hỏi nghiêm trọng về các con đập trên dòng chính Sông Mekong”.Hoa Kỳ đã từng khẩn thiết kêu gọi các quốc gia Mekong“hoãn xây những con đập mới” cho tới khi lượng giá được mọi ảnh hưởng của những con đập ấy. Một số khảo sát đã đề cập tới lợi lộc của sản xuất thủy điện, nhưng vẫn còn đó các câu hỏi thực sựchưa có lời giải đáp –là hậu quả của các con đập dòng chính ấy trên ngư nghiệp, canh nông, môi trường, sức khỏe và đời sống cư dân sẽ ra sao?  

Qua Sáng Kiến Hạ Lưu Sông Mekong 2020, Hoa Kỳ đã sẵn sàng đóng góp thêm 1 triệu MK cho Ủy Hội Sông Mekong cho nghiên cứu và phát triển bền vững Sông Mekong, trong đó có khảo sát về tiềm năng ảnh hưởng những con đập dòng chính. HoaKỳ cũng yểm trợ thêm cho Ủy Hội Sông Mekong 2 triệu MK để thăng tiến Khả năng kỹ thuật cho các phát triển ngư nghiệp bền vững và cải thiện cuộc sống nông thôn. 

Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 có tiềm năng rất lớn, nhưng chính Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng thấy được tính uyển chuyển/ flexible của các dự án và chỉ có thể thành công nếu mọi thành viên đều hết lòng tham gia, góp ý vớinhững cuộc đối thoại rất xây dựng và thẳng thắn.[2]

Trong bài viết cập nhật này, tác giả sẽ bàn về những bước triển khai và hiện thực của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong 2020 cùng với những đề xuất – như một đáp ứng theo yêu cầu góp ý của Ngoại Trưởng Hillary Clinton.

TỪ MỘT KINH NGHIỆM QUÁ KHỨ:

Đó là vào những năm 1960s giữa cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng leo thang, lúc đó tác giả bài viết này còn là sinh viên, điều hành tờ báoY khoa Tình Thương, tòa soạn nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây cũng là nơicó dịp tiếp các phái đoàn sinh viên quốc tế như WUS (World University Service), và những nhà báo ngoại quốc tới thăm, với một vài tên tuổi tôi còn nhớ như: Takashi Oka phóng viên Chistian Science Monitor & New York Times, Jean-Claude Pomonti báo Le Monde, có cả nhà báo Phạm Xuân Ẩn tuần báo Times của Mỹ (mà sau này mới được biết là một điệp viên tình báo chiến lược của Hà Nội)… [14] 

      Nói chung giới truyền thông Tây Phương rất quan tâm tới “cái nhìn” của thanh niên sinh viên Việt Nam đối với cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt thời bấy giờ. Chưa kể tới cái giá phải trả về sinh mạng, mỗi tuần người Mỹ đổ vào cuộc chiến ấy hàng tỉ MK cho bom đạn và máy bay. Cũng giữa cuộc chiến tranh tàn phá khốc liệt đó, như một bông hoa hiếm trên sa mạc – một Trung Tâm Giáo Dục Y khoa hiện đại với hỗ trợ của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (American Medical Association) tổn phí 2.7 triệu MK, một nửa do Hoa Kỳ tài trợ,một nửa từ ngân sách Việt Nam, đã được nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt thiết kế và hoàn tất xây cất từ 1966, và trường Y Khoa Sài Gòn từ 28 Trần Quý Cáp, đã được chính thức dọn về địa chỉ mới này trên đường Hồng Bàng. [12]

      Dự án xây cất một Bệnh viện Thực tập hiện đại 500 giường cũng trong khu đất kế cận TTGDYK, có cả Helipad tải thương là giai đoạn tiếp theo,đã không thể thực hiện khi người Mỹ bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Cũng tại tòa soạn báo Tình Thương ấy, chúng tôi còn nhớ là đã hơn một lần nói với những nhà báo Mỹ tới thăm ấy, là sau Chiến Tranh Việt Nam, người ta sẽ không còn nhớ đã có bao nhiêu chiếc máy bay và trực thăng bị bắn rơi, nhưng Trung Tâm Giáo Dục Y khoa Sài Gòn ấy sẽ cứ mãi là biểu tượng xây dựng của Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam.  



Hình 2_ Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa Sài Gòn với yểm trợ của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ được xây cất và hoàn tất năm 1966 giữa giông bão của cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

Và ngót nửa thế kỷ sau, Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa trên Đại lộ Hồng Bàng ấy, được xem như Made in USA ấy, [mà trị giá chỉ hơn một chiếc trực thăng bị bắn rơi] vẫn cứ an nhiên tồn tại, không phải chỉ như một cơ sở vật chất nhưng hơn thế nữa luôn luôn là một dấu ấn xây dựng tốt đẹp trong tâm khảm của người Việt ở cả hai phía.  

TỚI MỘT DỰ ÁN ĐỀ XUẤT TRÊN ĐẤT LÀO

      -- Thời điểm năm 2000, với nhận định Đồng Bằng Sông Cửu Long, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn Sông Mekong, nơi sẽ chịu ảnh hưởng tích lũy do các bước khai thác không bền vững trên suốt chiều dài con sông;đó cũng là nơi trực tiếp bị ảnh hưởng của Biến Đổi Khí Hậu với nhiễm mặn và nước biển dâng cao. Do đó người viết đã đề nghị thành lập một Phân khoa Sông Mekong nơi Đại Học Cần Thơ,đó như một “think tank” có tầm vóc quốc tế,là trung tâm vừa nghiên cứu vừa giảng dạy nhằm cung cấp nguồn chất xám cho toàn lưu vực Sông Mekong.[13] 

Nhưng rồi một thập niên trôi qua, Đại Học Cần Thơ vẫn chưa hình thành được một Phân Khoa Mekong, không phải chỉ do hạn chế về nguồn nhân lực và vật lực, nhưng hơn thế nữa do không có một nền “tự trị đại học” thì nơi ấy chưa thể là cái nôi cho một dự án như vậy. 

-- Cũng thời điểm năm 2000 ấy, vẫn chưa có những biểu hiện đe dọa nhãn tiền về dự án 11 con đập dòng chính Hạ Lưu Sông Mekong. Vì kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc mới lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi / feasibility study của những con “đập dòng chảy / run-of-river” thuộc Lưu Vực Dưới Sông Mekong.

      --  Trong số  11 dự án con đập dòng chính Hạ Lưu, thì đã có 9 con đập nằm trên lãnh thổ Lào [ 2 đập còn lại Stung Treng và Sambor, thì thuộc Cam Bốt ]. Xayaburi, 1.260 MW, là con đập dòng chính đầu tiên của Lào, đang gây sóng gió cho toàn lưu vực.   

      -- Quốc gia Lào với sẵn 9 dự án đập dòng chính và chưa kể vô số các con đập phụ lưu, sẽ là một vị trí địa dư tốt nhất cho một Học Viện Mekong; sẽ đóng vai trò “Ngọn Hải Đăng Trí Tuệ” chỉ đường cho mọi bước phát triển trong lưu vực. 

-- Nhu cầu một tụ điểm điều hợp: cho dù đã có một tụ điểm điều hợp [coordination hub] của cơ quan USAID[Agency for International Development of the U.S.] tại Bangkok, nhưngnhư nhận định của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, đã tới lúc cần di chuyển trung tâm này tới gần hơn con Sông Mekong để chúng ta có thể tăng cường hợp tác và liên lạc. [1] 

      -- Thu hẹp khoảng cách phát triển: Lào là một nước thiếu tài nguyên ngoài tiềm năng thủy điện, được coi là một quốc gia nghèo và kém phát triển nhất trong 5 quốc gia Hạ Lưu Mekong.Một Học Viện Mekong trên đất Lào là một bước cụ thể để thu hẹp khoảng cách phát triển ấy. Đây cũng là một đền bù xứng đáng cho một đất nước bị tàn phá không ít trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai mà Lào không hề trực tiếp tham dự. 

-- Cuối cùng nhưng không phải không quan trọng: Học Viện Mekong ấy không những có chức năng vô cùng cần thiết nhưng đó cũng là một chọn lựa đầu tư hiệu quả nhất [the most cost-effective investment] và là một biểu tượng ý nghĩa của hợp tác bền vững của Hoa Kỳ trong thời bình. 


MỘT HỌC VIỆN MEKONG TRÊN ĐẤT LÀO

      Sau đây là đề xuất của tác giả, với đề nghị từng bước thực hiện cụ thể để tiến tới hình thành một Học Viện Mekong:
      -- Cơ sở của Học Viện Mekong tương lai sẽ được nhóm kiến trúc sư Mỹ Lào thiết kế (giống như bước khởi đầu của Trung tâm Giáo Dục Y Khoa Sài Gòn do nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt kết hợp). Công trình kiến trúc ấy sẽ vừa phản ánh tính hiện đại vừa mang đậm nét văn hóa của dân tộc Lào. Kinh phíxây dựngmột nửa sẽ do các quốc gia Mekong đóng góp, một nửa từ cơ quan USAID của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên Học Viện Mekong sẽ có một tầm vóc và quy mô lớn hơn TTGDYK Sài Gòn, tương xứng với chức năng của một “học viện nghiên cứu khoa học và giáo dục” trên quy mô của toàn vùng Đông Nam Á. 

      -- Sự kiện kết nghĩa với Ủy Hội Sông Mississippi là một thuận lợi rất lớn cho những bước phát triển của Học Viện Mekong. Ủy Hội Sông Mississippi với lịch sử hàng trăm năm từ 1879,với kinh nghiệm tích lũy của gồm những thành tựu và cả sai lầm – chính những sai lầm ấy là bài học qúy giá để các quốc gia Mekong không một lần nữa tái phạm. Cũng cần học thêm cả “tầm nhìn xa” của các nhà quy hoạch Mỹ với “Viễn kiến 200 năm như một Cam Kết Liên Thế hệ”(America’s Watershed: A 200-year Vision, An Intergenerational Commitment signed on August20, 2009).  

      -- Trong khi chờ đợi thiết kế và hoàn tất xây dựng cơ sở cho một Học Viện Mekong như trên, thì địa điểm khởi đầu của Học Viện Mekong có thể sẽ là Đại Học Quốc Gia Lào (NUOL / National University of Laos) ngay thủ đô Vạn Tượng,[cũng là nơi có trụ sở Ủy Hội Sông Mekong]. Đại Học Quốc Gia Lào còn rất non trẻ được thành lập năm 1996, là Đại Học Quốc Gia duy nhất, có liên kết với một số đại học ngoại quốc, chủ yếu là Nhật Bản. Đặc biệt hơn nữa, Đại Học nàycòn là thành viên của Mạng Lưới Giáo Dục và Nghiên Cứu Lưu Vực Lớn Sông Mekong (GMSARN/ Greater mekong Subregion Academic and Research Network) và cũng thuộc Mạng Lưới Đại Học ASEAN (AUN/ ASEAN University Network).



Hình 3_ Logo biểu tượng của Đại Học Quốc Gia Lào, thủ đô Vạn Tượng cũng là thành viên của GMSARN / Mạng Lưới Giáo Dục và Nghiên Cứu Lưu Vực Lớn Sông Mekong.

-- Xây dựng một Trung tâm Học Liệu (Learning Resource Center) chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu liên quan tới hệ sinh thái con sông Mekong và con sông Mississippi, và cả những con sông lớn khác, những con đập thủy điện của thế giới và hậu quả, ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và nạn nhiễm mặn… 

-- Thiết lập ban giảng huấn sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi, cùng với nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế từ Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc [UNEP/ United Nations Environment Programme], chuyên gia Hội Các Con Đập Thế Giới [WCD/ World Commission Dams], Mạng Lưới Sông Quốc tế [IRN/ International River Network]… Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng cho Học Viện Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.

-- Tuyển sinh mở rộng cho toàn lưu vực, từ các thành phần ưu tú biết ngoại ngữ, cộng thêm với tiêu chuẩn Fulbright “học tập xuất sắc và có năng khiếu lãnh đạo”. Việc cấp học bổng cho các sinh viên không phải chỉ có Lào mà cả từ các quốc gia trong toàn lưu vực như Cam Bốt, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam và cả từ Vân Nam Trung Quốc; không thể không bao gồm cả những sinh viên từ quốc gia Tây Tạng, không chỉ là cái nôi của con Sông Mekong và mà của cả những con sông lớn Châu Á. 

      -- Chương trình hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh, ngoài phần lý thuyết họ sẽ được tiếp cận với thực tế bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại cơ sở các Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Sông Mississippi. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mekong. Trong một tương lai xa hơn, có thể tiến tới những chương trình hậu đại học / post graduate education cho các học vị thạc sĩ và tiến sĩ. 

Với trình độ kiến thức và tinh thần liên đới của đám sinh viên đa quốc gia ấy sẽ là “nguồn chất xám” bổ sung cho Ủy Hội Sông Mekong, thế hệ chuyên viên và lãnh đạo tương lai cho các chánh phủ địa phương đang bị thiếu hụt nhân sự trầm trọng. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này sẽ là mẫu số chung của một “Tinh Thần Sông Mekong”, tạo sự nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 7 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong. [7]

--Học Viện Mekong sẽ là nơi diễn ra các Hội Nghị Quốc Tế, các cuộc Hội Thảo về Sông Mekong. Hướng đến thời điểm 2020,với 9 dự án đập dòng chính, đất nước Lào nói riêng và cả Lưu Vực Dưới Sông Mekong nói chung,nơi ấy đang trở thành “một trận địa môi sinh” khốc liệt không phải chỉ do hậu quả những con đập thủy điện bậc thềm khổng lồ của Trung Quốc trên thượng nguồn mà còn do những bước “khai thác tự hủy”của chính các quốc gia hạ nguồn. 

TỚI SÁNG KIỀN HẠ LƯU MEKONG 2100
Phải xem đây như một kế hoạch đầu tư dài hạn và rất ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng. Mốc thời gian không phải chỉ có 8 năm [2012 – 2020], Học Viện Mekong sẽ là “viễn kiến 100 Năm”thế kỷ đầu của Thiên Niên Kỷ thứ Ba này. 

Đã có những công trình tặng dữ nặng tính phô trương trên đất nước Lào: như Cung Văn Hóa do Trung Quốc xây ở Vạn Tượng, Viện Bảo Tàng Kaysone Phomvihane do Việt Nam xây ở Cây Số Sáu… Nhưng Học Viện Mekong là một biểu tượng khác hẳn: có một giá trị giáo dục và nhân bản không chỉ giúp ích cho đất nước Lào mà với cả Lưu Vực Lớn Sông Mekong/ Greater Mekong Subregion, mà là mối quan tâm cho hạnh phúc và an sinh cho hàng trăm triệu cư dân trong lưu vực mà xa hơn nữa là bảo vệ một con sông lớn thứ 11 của thế giới với cả một hệ sinh thái vô cùng phong phú – chỉ sau con Sông Amazon, trên toàn hành tinh này.  

Cho dù bà Hillary Clinton không còn giữ chức Ngoại Trưởng trong nhiệm kỳ Tổng Thống mới của Hoa Kỳ, ông Jim Webb không còn là Thượng Nghị Sĩ của Thượng Viện, dù Dân Chủ hay Cộng Hòa, thì dấu ấn của “Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong”của Ngoại Trưởng Hillary Clinton cho những bước “phát triển bền vững, sustainable development” của toàn Lưu Vực không thể không tiếp tục và triển khai vì giá trị chiến lược và biểu tượng xây dựng hòa bình của viễn kiến ấy. 

Dĩ nhiên có một cái giá cao và xứng đáng phải trả để bảo vệ con Sông Mekong: bảo vệ nguồn cá, nguồn lương thực, và bảo vệ cả một hệ sinh thái được coi như phong phú nhất của hành tinh này, cũng là bảo vệ cuộc sống hiện nay của ngót 70 triệu cư dân sống trong lưu vực và cả cho cho các thế hệ tương lai. Với tâm niệm rằng “Nói tới nguy cơ là còn thời gian. Tiêu vong là mất đi vĩnh viễn” (Endangered means we still have time. Extinction is forever -- Sea World San Diego).

NGÔ THẾ VINH, M.D.
California, 08/ 16/ 2012 


Tham Khảo:

1/ Remarks From the Fifth Lower Mekong Initiative Ministerial
Remarks; Hillary Rodham Clinton; Phnom Penh, Cambodia, July 13, 2012http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194971.htm
2/ Remarks at the Second Friends of the Lower Mekong Ministerial
Remarks; Hillary Rodham Clinton, Phnom Penh, Cambodia; July 13, 2012http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194957.htm
3/ The Mekong Basin: A Challenging Neighborhood for The U.S. Ngô Thế Vinh; http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/88

4/ The Mekong and Mississippi Sister-River Partnership: Similarities and Differences; Ngô Thế Vinh, http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/58

5/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia; U.S. Senate Committee on Foreign Relations; September 23, 2010; http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704

6/ China Sees U.S. as Competitor and Declining Power, Insider Says; By Jane Perlez, April 2, 2012; http://www.nytimes.com/2012/04/03/world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions.html?_r=1&hp

7/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia; U.S. Senate Committee on Foreign Relations; Presiding: Senator Webb, Thursday, September 23, 2010; http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704

8/ The Senate of The United Stated; S.Res. 227, July 7, 2011, A resolution calling for the protection of the Mekong River Basin and increased U.S. support for delaying the construction of mainstream dams along the Mekong River.http://www.govtrack.us/congress/bills/112/sres227/text

9/ The Mekong River at Risk 2012: With The “Spirit of The Mekong” We will Together Develop the Basin. Ngô Thế Vinh;http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/80

10/ Mekong, Tipping Point: Hydropower Dams, Human Security and Regional Stability; Richard Cronin, Timothy Hamlin; The Henry Stimson Center 2010; www.stimson.org

11/ Upon Their Shoulders: A History of The Mississippi River Commission from its Inception through the Advent of The modern Mississippi River and Tributaries Project. Charles A. Camillo and Mathew T. Pearcy. Mississippi River Commission; Vicksburg, Mississippi, 2006

12/ Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education: An Account of the American Medical Association’s Medical Education Project; C.H. William Ruhe and Ira Singer; Published by AMA June 1988. 

13/ “Cần có Phân khoa Mekong cho Đại học Cần Thơ”http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/334051/“Can-co-phan-khoa-Mekong-cho-Dai-hoc-Can-Tho”.html

14/ Nguyệt San Tình Thương 1963-1967; Tiếng Nói của Sinh Viên Y Khoa; Ngô Thế Vinh; Tình Thương Một Thời Nhân Bản, Tập San Y Sĩ –Hội Y Sĩ Việt Nam Canada, số 184, 01-2010.  


Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Nguyễn Huệ Chi - Những vấn nạn của một Thủ đô xanh, sạch, đẹp


Nguyễn Huệ Chi

Chưa có một thời nào mà những chuyện nhố nhăng kệch cỡm lại diễn ra trâng tráo như thời buổi hôm nay. Cả một Chùa Trăm Gian nổi tiếng hàng mấy trăm năm bỗng dưng bị quan chức ngành văn hóa đè ra đập phá vô tội vạ nhân danh “tôn tạo”, kỳ thực chỉ là vì khoản tiền hàng mấy chục đến cả trăm tỷ đồng béo bở gói trong cái dự án tôn tạo quái dị này. Những lăng mộ các vua Trần ở Yên Sinh – một thời đại rạng rỡ những chiến công đánh giặc giữ nước,  ngay dưới thời Nguyễn còn được các vua Nguyễn cho trùng tu cẩn thận, năm 1971 chúng tôi đi khảo sát còn chụp ảnh lưu niệm, thế mà cả một Nhà nước mải lo “4 tốt 16 chữ vàng” nên quên bẵng, để dân thi nhau sấn vào cướp phá đào xới tanh bành cho đến viên gạch cuối cùng, và chen lấn làm nhà lên đấy, rồi đến nay lại bảo nhau “lập dự án trùng tu”, hỏi có vạn lần vô phúc hay không?


Mà trùng tu như thế nào? Có ai đi trên con đường thiên lý ghé thăm đền thờ An Dương Vương (đền Cuông) ở Diễn Châu thì khắc thấy tất cả những tô đắp thô kệch rẻ tiền của xi măng thay cho các cột kèo điêu khắc tinh xảo bằng gỗ lim xưa kia (dù không phải thật cổ nhưng cũng đã bám đầy lớp patin của nhiều thế kỷ mà người viết bài này còn được thấy năm 1948 khi cùng gia đình đi tản cư ghé thăm nơi đó), cùng với những đôi câu đối xấu xí (cũng trên xi măng) làm cộm con mắt bất kỳ ai có chút kiến văn giờ đây đến thăm lại ngôi đền. Trùng tu như người Nhật đã làm đối với đình chùa của họ trong Thế chiến thứ Hai vốn đang cũ kỹ bỗng sắc nét tinh khôi bội phần hơn thì ai mà không muốn. Còn ta, sao lại có một “An Dương Vương từ” lưu giữ trong ký ức và huyền thoại dân tộc từ hàng ngàn năm lịch sử mà đến một thời đại được gọi là “cách mạng” lại nỡ bôi bác nó đi như vậy, có phải là một sự mỉa mai cay đắng và là nỗi bẽ bàng trước du khách quốc tế hay không?

Tất nhiên đưa một đền Cuông ra làm dẫn chứng để bạn đọc suy ngẫm, rằng trên đất nước này đã gặp không phải chỉ một đền Cuông. Gần ta hơn nhiều là một đền Phù Đổng có vô số đôi câu đối khắc lại vừa chữ Hán vừa quốc ngữ chen nhau xấu xí đến khó chịu. Đôi câu đối lừng danh của Cao Bá Quát “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn” (Giết giặc chỉ hiềm rằng ba tuổi đã là quá muộn), người cung tiến số tiền để thuê khắc lại còn  không thèm đề tên Cao Bá Quát nữa mà thay luôn vào dòng lạc khoản cái tên của mình (một kiểu ỷ thế tiền bạc đến lạ lùng). Lại có đến ba tấm hoành phi rất cổ không biết từng khắc những gì nhưng từ lâu đã bị bào đi để khắc thay vào đấy… ba bài thơ quốc ngữ của Hồ Chí Minh, của Tố Hữu và của Ngô Chi Lan, và được treo vào những vị trí cực kỳ trang trọng trong ngôi đền!

Bên cạnh đó, lại có những hiện tượng lố lăng kiểu khác. Người ta vung tay bỏ hàng núi tiền ra để làm những ngôi chùa khổng lồ như chùa Bái Đính, nhưng những người “vung tay” mà vốn liếng hiểu biết có hạn hẳn chẳng thể nào thấm thía được nỗi đau đến xương tủy khi đứng trước những khối đá lù lù khoe khoang cái lớn cái oai một cách trơ tráo, song lại tuyệt nhiên không hề thấm được cái hồn của chùa chiền Việt Nam, sự thanh mảnh duyên dáng với mái cong hiền hoà nhưng ẩn trong nó là biểu tượng cô đúc của con người Việt Nam rất tinh tế mà không ồn ào trong cách sống, cách nhìn sự vật, và biết dẻo dai thích nghi để trường tồn.
Thử điểm lại mà xem, có bao nhiêu đình chùa miếu mạo, bia đá, sách cổ cho đến hồ ao, sông suối, thác ghềnh nổi tiếng… của đất nước đã bị hủy hoại bằng mọi cách kể từ 1948 đến nay? Con số tính đếm không sao cho xuể, và nếu có ai đi sâu làm một điều tra xã hội học để so sánh tỷ mỉ về mặt số lượng với khoảng thời gian từ 1945 trở về trước thì tôi đoan chắc họ sẽ thấy kinh hoàng vì con số hiện còn  không thể đến một phần ba. Cứ nghĩ thế ai mà không thấy cực lòng đến xốn xang bứt rứt?

Hãy cứ ngắm bộ sách in vô số bản dập bia cổ của Việt Nam được người Pháp dập và lưu trữ từ ngày Viễn Đông Bác cổ thành lập (1901), nay cũng chính họ in lại giúp, gồm hơn 20 tập khổ lớn – mà chỉ mới in được hơn một phần ba, vì trong dự tính của họ là 55 tập –  để giới văn hóa người Việt còn có cái mà nghiên cứu di sản của cha ông, tôi thấy hổ thấy nhục, bởi xét cho cùng chính mình lại là thủ phạm triệt tiêu tất cả những giá trị vật chất và tinh thần không có giá nào mua được, trong khi họ là kẻ đến xâm lược thì lo gom góp lại cho dân mình (tất nhiên họ cũng phá nhưng đó là đám nhà binh cai trị buổi đầu, và không phá nhiều bằng từ sau ngày Cách mạng thành công).

Vậy mà, những kẻ phải chịu trách nhiệm lớn nhất về những gì tổn thất trong 60 năm qua, những kẻ đã nhởn nhơ trước mọi sự xuống cấp văn hoá đang hiển hiện từng ngày từng giờ trên mọi phương diện của đời sống đất nước (những đảo lộn khó tin về lối sống, hành xử, đạo lý, giáo dục… đến những vụ giết người, cướp của, hiếp dâm ghê rợn nhất, bôi lên bộ mặt chế độ những vết đen nhằng nhịt), nay vẫn chính những kẻ ấy đang chỉ đạo việc tàn phá nốt những gì là môi trường sống, môi trường văn hóa còn sót lại ở đây hay ở đó khi chúng ngửi ra “hơi tiền” trong cái việc tàn phá man rợ kia.

Hãy chỉ khoanh lại trong phạm vi Thủ đô Hà Nội thôi. Giới trí thức đã bao nhiêu phen phải oằn mình chống chọi để mọi thứ dự án triệt hạ Hồ Tây vào hạng “khủng” không thể triển khai được (những Thủy cung Thăng Long, đường hầm ngầm xuyên qua lòng Hồ tây…). Nhưng Hồ Tây liệu đã yên thân chưa khi có tin một vị lãnh đạo cấp cao vừa ký xong “bản án” chấp thuận đóng cọc xuống giữa lòng Hồ làm con đường sắt vừa nổi vừa chìm sẽ cắt Hồ ra làm đôi cho một trục giao thông từ phía Bắc Hà Nội chạy xuống phố cổ? Cũng có tin sau khi vội vã ký, người ta đã kịp tỉnh lại, đã điều chỉnh sơ đồ con đường để… không còn chạm vào Hồ Tây. Tin trước là một cái tin thót tim và tin sau là một điềm lành. Dù sao, nếu keo này Hồ Tây tạm yên thì sẽ vẫn còn đó rất nhiều keo khác, dám tin như vậy đấy, bởi cái gì dính đến diện tích xung quanh và ngay giữa Hồ Tây, kể cả sâu dưới lòng Hồ, đều… “hái ra tiền”, mà đã hái ra tiền thì cặp mắt long lên của hết lớp “đầy tớ”  này đến lớp “đầy tớ” nọ chắc chắn luôn luôn dòm đến. Khổ thân cho một “nàng Tây Thi của Việt Nam”  (Cao Bá Quát) bị bọn Ngô Phù Sai đời nay lăm lăm vùi hoa dập liễu tàn bạo đến mức chúng có thể thoả thuận với nhau mỗi đứa cắt một miếng thịt tươi thắm của nàng.

Và không phải chỉ một Hồ Tây. Hiện tại đang là tiếng kêu cứu của Công viên Tuổi Trẻ và Công viên Thống Nhất. Một Hà Nội vừa được Nhà nước cho mở rộng ra gấp đôi gấp ba không hiểu sao không có kế hoạch bài bản xây dựng thành một đô thị có tầm quốc tế, không còn những ngõ ngách quanh queo chật chội như hũ nút, giãn dân ra những khu vực mới để hàng ngày người ta khỏi dẫm lên nhau mà lạng lách xe ô tô xe máy, xóa dần đi những khu ổ chuột không phải bằng những ngôi nhà chung cư chọc trời ngay giữa nội thành mà phải có cái nhìn viễn kiến về một quy hoạch cân đối, hài hòa và bảo đảm thẩm mỹ, để cải tạo lần lần những di họa của 60 năm xây dựng XHCN còn để lại? Trái lại, lúc nào cũng chỉ thấy các vị chấp chính của thành phố phô ra những cái nhìn ngắn có vài gang tay, trong đó có việc chiếm đất của Công viên Thống Nhất để làm 6 bãi đỗ xe, hoặc băm nhỏ Công viên Tuổi Trẻ thành nhiều mảnh để bán nốt, nếu không phải vì… túi tiền những ai ai đấy hình như chưa “phồng” thì chẳng thể hiểu được vì lẽ gì.

Xin hỏi ông Nguyễn Thế Thảo, ông có thấy một Thủ đô như Paris với những công viên rộng mênh mông như vườn Tuileries có một đời Thị trưởng nào dám cho dựng lên đấy một quán ăn hay xẻo đi một mảnh đất làm bãi đỗ xe hay không? Hay từ hàng mấy trăm năm nay vẫn chỉ là những vườn cây xanh mát với những ghế đá cũ xưa cho người dân đến thư thái ngồi đọc sách, và trẻ em chơi các trò chơi chúng thích? Thậm chí một cái ghế mà văn hào Anatole Francethường ngồi để thưởng thức cái cảm giác của mùa thu nghe từng chiếc lá vàng rơi khẽ lên vai mình, nay vẫn còn nguyên vẹn. Mà nào có phải chỉ một vườn Tuileries. Ông hẳn đã sang đấy nhiều lần, đi đến đâu mà chẳng có vườn hoa trải dài ngút mắt? Nào Vườn Bách thảo (Jardin des plantes), Công viên La Villette, Vườn Luxembourg, Công viên Buttes Chaumont, Công viên Montsouris, Quảng trường Vendôme, Quảng trường la Concorde, khu vườn Champ de Mars… kể không hết được. Thử nghĩ nếu một Thị trưởng Paris nào lên chấp chính cũng nhăm nhăm bán vườn để thu lợi, cho người ta xây dựng bừa bãi lên những nơi vốn là sở hữu đích thực của toàn dân kia, bất chấp quyền thụ hưởng của dân chúng, thì liệu Paris sẽ biến thành một thứ gì khác chứ còn tráng lệ được như ngày nay?

Ấy thế mà một Thủ đô Hà Nội luôn luôn tự thị rằng mình có lịch sử đến 1.000 năm, đếm cho hết cũng chỉ có mấy khoảng xanh tí tẹo (nhưng như Công viên Thống Nhất tính từ 1960 đến nay thì cũng đã 50 năm rồi đấy, chưa kể khi nó còn là Hồ Bảy Mẫu mênh mông thì đúng là có ngót nghìn năm chứ ít gì), sao ông và đám quan chức dưới quyền ông nỡ liều lĩnh xẻ nó ra để cho xây lên đấy 6 bãi đỗ xe to tướng, suốt ngày sẽ ồn ào đinh tai nhức óc khiến phần dư lại chỉ còn bằng tí tẹo, và chắc chẳng một ai dám vào đấy mà thư giãn, tập thở, tập đi nữa? Đến nỗi Kiến trúc sư Nguyễn Tấn Vạn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư ViệtNam, cũng phải lấy làm bức xúc: “Đây là dự án phi lý nhất mà tôi từng được nghe. Công viên là nơi để người dân sinh hoạt, vui chơi, giải trí trong bối cảnh thành phố ngột ngạt, thiếu cây xanh. Đừng vì mục đích nào đó mà dựng lên những công trình ngoạm vào đất công viên”. Ông có hình dung được một việc làm như thế là phạm luật, là vi phạm cảnh quan văn hóa, môi trường của thành phố và cả vi phạm nhân quyền (cái quyền được hưởng không gian thoáng mát của người dân), tức là phạm tội ác hay không thưa ông? Cũng như vậy, tôi không thể hình dung nổi một người đứng đầu thành phố như ông mà lại không dẹp nổi những “lấn chiếm” kéo dài quá lâu trong Công viên Tuổi Trẻ, giải thể tất cả những phần đất do những kẻ trót ham hố chia chác với quan chức các ông (hẳn là thế thôi, nếu không các vàng cũng đố họ dám phá tường trèo vào công viên) rồi dựng lên trong đấy những căn nhà làm nơi buôn bán, thi công, lò xưởng, quán ăn… để trả lại cho dân một không gian giúp 3 triệu con người nội thành có thêm một “chốn náu thân” yên tĩnh mỗi buổi sáng buổi chiều, giữa một thành phố nhìn đâu cũng đông nghẹt?

Từ những băn khoăn như trên, tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu nổi chức trách Chủ tịch Ủy ban Nhân dân của ông thật ra chủ chốt là chức trách gì? Vì sao từ ngày ông lên chức đó, chỉ có việc quản lý Hà Nội cho đúng là nơi xanh sạch đẹp không thôi mà cũng không làm được? Chẳng cần dẫn chứng cụ thể, xin ông thử soát lại xem tất cả những công trình thuộc về những dự án to tát mà đám quan chức các ông đã vạch ra từ những 10 năm trước thời điểm 1000 năm thăng Long – Hà Nội, nay sau ngày kỷ niệm mới chưa đầy 2 năm chúng đã trở thành như thế nào rồi? Bản thân tôi đã đi đến một số nơi gắn tấm biển đánh dấu cả một thời điểm lịch sử đáng khắc ghi của người Hà Nội, và sau khi xem xong thì… không còn muốn phẩm bình gì nữa.
Thiết tưởng một Kiến trúc sư như ông không cần phải nói nhiều. Tôi chỉ mong mỏi ông có được một lúc giật mình nhìn lại mình thật rõ. Những người trước ông như ông Hoàng Văn Nghiên đã cho lấp Hồ Thủ Lệ để xây tòa khách sạn Daewoo và làm nhiều việc tai tiếng, dân Thủ đô vẫn còn đinh ninh trong lòng, nhưng thôi ta không nói nữa. Tuy nhiên, ông là một vị quan đương chức, là “gương mặt” để người ta nhìn vào khi nói đến hiện trạng của một Hà Nội thoái hóa về nhiều mặt, tôi nghĩ ông không thể tránh được công luận. Không thể làm cái kiểu “ngậm miệng ăn tiền” để rồi khi “hạ cánh” lại để lại vô số tai tiếng như những người tiền nhiệm của ông. Chúng tôi không mong điều đó mà mong ở ông những tự vấn nghiêm chỉnh để sửa đổi gấp cách điều hành Thủ đô sao cho chững chạc. Tôi vẫn không hết hy vọng ở nơi ông. Nhược bằng ông thấy không thể đảm đương tốt trách nhiệm trước toàn dân thì sao ông không lên tiếng xin từ chức? Hoặc giả, nếu ông thấy rằng mình tại vị cùng với những bê bối kéo dài trong tình thế “mặc kệ nó” là hoàn toàn chính đáng thì có lẽ nên có một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm của dân chúng Thủ đô – được tổ chức công khai và thật sự dân chủ – để xem nhân dân Hà Nội có còn tín nhiệm ông không.

N.H.C.

Phụ lục:
Hà Nội nhăm nhe “xẻ thịt” Công viên Thống Nhất

Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội vừa có ý kiến ủng hộ dự án đầu tư xây dựng 2 bãi giữ xe công cộng nằm trong Công viên Thống Nhất. Công viên này cũng đề xuất xây 4 bãi giữ xe nữa

Sở Quy hoạch – Kiến trúc (QH-KT) TP Hà Nội vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của UBND TP về đề xuất của Công ty Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội được đầu tư xây dựng bãi giữ xe dàn thép trong Công viên Thống Nhất. Theo đó, vị trí bãi giữ xe nằm ở góc đường Nguyễn Đình Chiểu – Trần Nhân Tông (trong phạm vi công viên), diện tích khoảng 3.000 m2, cao 4 tầng, đáp ứng nhu cầu đỗ xe cho khoảng 400 ô tô.

Mất gần 9.000 m2 đất

Theo Sở QH-KT TP Hà Nội, khu đất dự kiến xây dựng bãi giữ xe ở Công viên Thống Nhất đã được quy hoạch trong mạng lưới các điểm giữ xe công cộng trên địa bàn đến năm 2020; đồng thời cho rằng đề xuất của Công ty Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội cơ bản là hợp lý. Một bãi giữ xe khác cũng “ăn” vào đất Công viên Thống Nhất đã được UBND TP Hà Nội gợi ý Công ty có thể phối hợp với Công viên xây dựng tại khu đất diện tích 2.000 m2.
Trong khi đó, Công viên Thống Nhất cũng đang lập dự án xin UBND TP Hà Nội cho phép xây dựng 4 bãi giữ xe trong khuôn viên. Các bãi đỗ xe này nằm ở vị trí gần các cổng vào, được Công viên Thống Nhất cho rằng nằm ở các khoảng không phù hợp, không làm ảnh hưởng đến phần diện tích trồng cây xanh và cảnh quan chung.

Tổng diện tích của 4 bãi đỗ xe này là 6.538 m2. Đại diện Công viên Thống Nhất cho biết các bãi giữ xe nhằm phục vụ người dân đến tham quan công viên lẫn nhu cầu của dân cư trong khu vực.

Khu vực Công viên Thống Nhất, đoạn góc đường Nguyễn Đình Chiểu – Trần Nhân Tông, dự kiến xây bãi giữ xe
Các dự án bãi giữ xe này hiện vẫn đang trong giai đoạn đề xuất nhưng nếu được TP Hà Nội chấp thuận, Công viên Thống Nhất sẽ mất gần 9.000 m2 đất.

Hậu quả khó khắc phục

Được xem là lá phổi xanh lớn nhất khu vực nội thành Hà Nội, Công viên Thống Nhất xây dựng từ đầu những năm 1960, là khu vui chơi giải trí, thư giãn của người dân Thủ đô cũng như điểm đến của du khách.

TS – kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Hoa (Hội Kiến trúc sư Việt Nam) cho biết TP Hà Nội hiện có trên 3 triệu dân sống ở khu vực nội thành. Diện tích cây xanh trên đầu người ở nội đô Hà Nội hiện rất thấp, chỉ bằng khoảng 1/10 các đô thị lớn trong khu vực. Vì thế, các công viên Thống Nhất, Bách Thảo, Thủ Lệ… là những lá phổi xanh rất quan trọng giúp điều hòa, cân bằng không khí cho Hà Nội. “Thiếu nơi giữ xe cho người dân là đáng báo động nhưng nếu lấy đất công viên thì tác động rất lớn đến môi trường, sinh thái đô thị và đời sống khu dân cư” – ông Hoa lo ngại.

Ông Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở QH-KT TP Hà Nội, cho rằng nhu cầu nơi giữ xe cho người dân Hà Nội dù đang bức thiết nhưng nếu đánh đổi cả lá phổi xanh thì hậu quả khó khắc phục. Theo ông Nghiêm, quy hoạch Công viên Thống Nhất năm 1994 và năm 2004 đều dành một phần diện tích để làm bãi giữ xe cho du khách chứ không nhằm tạo dựng bãi giữ xe công cộng. “Cần xem lại việc lấy đất công viên để làm bãi giữ xe đáp ứng nhu cầu của cả TP” – ông kiến nghị.

Phi lý!

Kiến trúc sư Nguyễn Tấn Vạn, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư ViệtNam, nhìn nhận: “Đây là dự án phi lý nhất mà tôi từng được nghe. Công viên là nơi để người dân sinh hoạt, vui chơi, giải trí trong bối cảnh TP ngột ngạt, thiếu cây xanh. Đừng vì mục đích nào đó mà dựng lên những công trình ngoạm vào đất công viên”.


Nguồn: http://nld.com.vn/20120828101619495p0c1002/ha-noi-nham-nhe-xe-thit-cong-vien-thong-nhat.htm

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Phạm Nguyên Quý - Giáo sư Koide Hiroaki, Đại học Kyoto nói về Điện hạt nhân


Phạm Nguyên Quý lược dịch

Trong khi tôi chuẩn bị dẹp 3 chữ “Điện hạt nhân” sang một bên để bắt đầu một tuần mới tập trung hơn cho công việc của bản thân, một cơ duyên đã mang tôi đến với buổi nói chuyện của ông Koide Hiroaki, Phó giáo sư Phòng thí nghiệm Lò phản ứng nguyên tử, Đại học Kyoto và cũng là một trong những học giả dẫn dắt phong trào xóa bỏ Điện hạt nhân (ĐHN) tại Nhật.


Xin tóm tắt buổi nói chuyện dài 3 tiếng đồng hồ, trong một hội trường gần 1000 người chật kín này để mọi người tham khảo.




Điện hạt nhân: sự phung phí năng lượng hâm nóng đại dương?

Mở đầu bài phát biểu, giáo sư cho biết điện hạt nhân không khác gì so với nhiệt điện ở chỗ cả hai đều dùng nhiệt sinh ra từ nhiên liệu làm bốc hơi nước để quay tua-bin. Tuy nhiên, điện hạt nhân là nhà máy có hiệu suất nhiệt kém hơn, chỉ là 33% so với 50% của nhiệt điện.

Cụ thể hơn, để vận hành một nhà máy điện hạt nhân công suất 100 vạn kW thì lò hạt nhân phải sinh ra một lượng nhiệt là 300 vạn kW! Tức là 200 vạn kW năng lượng phải bị bỏ phí!!!
Khốn nạn hơn, lượng nhiệt thừa này đang được đưa ra ngoài bằng cách làm nóng nước đưa vào lò, và cứ thế thải thẳng ra biển!

Cách làm này ấn tượng ở chỗ nó có thể nâng nhiệt độ của 70 tấn nước lên 7 độ C trong vòng… 1 giây!
Lượng nước này có thể làm nóng bờ biển quanh Nhật Bản, có thể giải thích cái thực tế rằng tốc độ nóng lên của biển Nhật Bản cao hơn mức trung bình của thế giới từ 2-3 lần!

Các sinh vật biển quanh nhà máy ĐHN không thể sống nổi nếu ngâm onshen (hot-spring) mỗi ngày như vậy! Và cũng đừng vội tin rằng CO2 là nguyên nhân làm Trái Đất nóng lên!

Điện hạt nhân: một cách đứng lên từ đau thương chiến tranh?

Để sản sinh một lượng nhiệt như vậy, nhà máy ĐHN như trên phải phân hủy 3 kg uranium/ ngày.

BA KILOGAM có thể rất gọn nhỏ, nhưng hãy nhớ về thảm họa hạt nhân ở Nhật năm 1945: quả bom hạt nhân ở Hiroshima CHỈ chứa 800 gam uranium, và ở Nagasaki CHỈ chứa 1,1 kg plutonium!

Nói ví von là, xây dựng 1 nhà máy ĐHN công suất 100 vạn kW có nghĩa là cho nổ 3-4 quả bom nguyên tử ở 2 thành phố kia HẰNG NGÀY!

Nhật Bản bắt đầu ĐHN từ năm 1966 và cho đến nay, Nhật Bản đã “cho nổ” tổng cộng hơn 1,1 triệu quả bom nguyên tử như vậy trên khắp đất nước. Con số quá ấn tượng!

Điện hạt nhân: xây nhà không có cầu tiêu?

Rác thải phóng xạ từ các vụ nổ đó được quản lý như thế nào?

Rác có mức phóng xạ cao được chuyển sang Anh và Pháp để làm cô đặc lại thành một khối cứng rồi chở ngược về lại Nhật Bản để… CHỜ. Nên nhớ CHỜ ĐỢI rất quan trọng, vì chúng ta không có phương pháp nào để làm mất độc tính của phóng xạ một cách chủ động.

Trong khi chúng ta (Nhật Bản) chưa có cách xử lý thì rác vẫn cứ ùn ùn tuồn ra.

Hiện tượng này tương đương với việc chúng ta sống vui vẻ trong một căn nhà hiện đại mà không có …TOILET!!

Điện hạt nhân: Ai chờ, chờ ai?

Những loại rác có mức phóng xạ cao phải CHỜ có khi cả 1 triệu năm để chúng phân hủy.
Những loại rác có mức phóng xạ thấp cần được chôn xuống đất sâu (300 – 1000 m) và CHỜ ít nhất là 300 năm!

Ai sẽ có một lòng sắt son chờ đợi?

(1) Nhà sản xuất = các công ty điện lực?

Cuộc sống có điện và sự phụ thuộc vào điện đã trở thành quá hiển nhiên trong suy nghĩ của chúng ta.
Không ai nhớ một sự thật là chỉ mới 61 năm trôi qua kể từ ngày 9 công ty điện lực Nhật Bản được đi vào hoạt động. Có nghĩa là chúng ra đã quên sạch cái ký ức về việc sống không có điện cách đây chỉ vài thập kỷ!

Độ dài của 1 công ty là bao so với 300 năm, và ai sẽ đảm bảo là một công ty không bị phá sản trong suốt thời gian đó?

(2) Người cho phép = Quốc gia?

Chúng ta tự hào rằng Nhật Bản là một quốc gia hiện đại. Nhưng nên nhớ rằng cái mầm mống của quốc gia đó chỉ mới được tạo nên từ thời Minh Trị, cách đây 144 năm. Ngay cả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng chỉ có tuổi đời là 236 năm, chả thấm vào đâu so với con số 300 năm của một đống rác “hạng ba”, và 1 triệu năm của một đống rác “chất lượng cao” cả!

(3) Vậy thì chỉ có nhân dân chịu trách nhiệm!

Lấy thời gian bán hủy của Cesium137 là 30 năm, tôi chắc chắn rằng 30 năm sau, tôi và 1 nửa số người trong căn phòng này sẽ chết hết. Các vị trong chính phủ cũng chết, các giám đốc công ty điện lực cũng chết. Vậy thì ai sẽ chịu trách nhiệm trông giữ khối rác khổng lồ đó?

Chúng ta không thể biết được xã hội sẽ thay đổi như thế nào sau 30 năm; chúng ta không đảm bảo được một cái gì cả, nên đừng hùng hổ tuyên bố là nhận trách nhiệm gì cả!

Điện hạt nhân: vì sao chúng ta đồng ý?

Thế nhưng rõ ràng là các nhà máy ĐHN vẫn được xây dựng rất nhiều ở đất nước chúng ta với một tinh thần trách nhiệm vĩ đại. Ngay cả khi không có sự cố thì điều này đã rất phi lý và bất thường!

Chúng ta dễ dàng đồng ý với việc xây dựng nhà máy ĐHN bởi vì chúng ta đã bị lừa bằng câu chuyện thần thoại về tính an toàn gần như tuyệt đối của ĐHN, được tuyên truyền mạnh bạo và rộng khắp qua các phương tiện truyền thông với sự tham gia của những học giả vô lương tâm và vô trách nhiệm.

Chúng ta dễ dàng đồng ý với việc xây dựng nhà máy ĐHN cũng bởi vì chúng ta đã quá vô tư và vô tâm với các biện pháp mà chính phủ đưa ra để giải quyết bài toán an toàn.

Đúng vậy, chúng ta có luật nói rằng cơ sở ĐHN và cơ sở sản xuất nguyên liệu hạt nhân không được xây ở những khu đông dân và những thành phố lớn.

Chính vì thế người dân Tokyo hài lòng vì TEPCO (công ty điện lực Tokyo) đã xây nhà máy ĐHN ở ngoài Tokyo, tức là ở… Fukushima cách Tokyo đến hơn 200 km!

Trong khi các nhà máy nhiệt điện được xây san sát nhau quanh vịnh Tokyo cung cấp điện hiệu quả, các nhà máy ĐHN cần hệ thống dây dẫn hàng trăm, thậm chí hàng ngàn km để dẫn điện từ khắp nơi về “cung phụng” cho Tokyo, với hao tổn đường truyền không hề nhỏ.

Chúng ta chẳng thèm quan tâm, bởi sự sung túc, tiện nghi quan trọng hơn sự thiệt thòi âm thầm của bao kẻ lạ mặt khác.

Chúng ta sẵn sàng sống thoải mái trong một ngôi nhà tươm tất, sạch sẽ mặc cho phân ...ứt hôi tanh đổ ra ngoài và đổ lên đầu muôn vạn sinh linh khác.

Xin đừng chỉ quy tội cho Chính phủ và Công ty điện lực Tokyo.

Hãy tự xem bản thân chúng ta có liên quan như thế nào trong việc hình thành nên đống rác hạt nhân và tai họa hạt nhân khủng khiếp ngày hôm nay tại Fukushima.

Và người bị lừa cũng phải có trách nhiệm một phần vì đã quá ngây thơ để người ta lừa!!!

Koide Hiroaki
Nguồn: Bauxite Việt Nam

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Nguyễn Gia Kiểng - Trước một hiểm họa quá lớn


“...Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường. Đối với một nhà máy điện nguyên tử một xác xuất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi...”  


Tôi không phải là một chuyên gia về năng lượng hạt nhân, dù hoàn cảnh đã khiến tôi tiếp xúc khá lâu, khá sát và đều đặn với nó. Lúc còn là sinh viên tôi đã hai lần thực tập tại Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử (Centre d'Etude Nucléaire) của Pháp, lần thứ hai để hoàn tất luận án tốt nghiệp. Năm 1982, ngay khi trở lại Pháp, tôi được nhận vào làm tham vấn tại Công Ty Nguyên Tử Pháp Mỹ (Compagnie Franco-Américaine de l'Atome, FRAMATOME, bây giờ là AREVA). Sau này, và cho đến khi về hưu, công ty AREVA và Trung Tâm Quốc Gia Năng Lượng Hạt Nhân (Centre National d'Energie Nucléaire – CNEN), hai cơ quan xây dựng và điều hành các nhà máy điện nguyên tử của Pháp và cũng xây dựng nhiều nhà máy điện nguyên tử cho nhiều quốc gia trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Hàn Quốc, là hai khách hàng chính của những công ty tham vấn mà tôi điều khiển. Như thế tôi không phải là người chống điện hạt nhân trên nguyên tắc. Tôi coi chấp nhận hoặc từ chối điện nguyên tử là một chọn lựa tùy lúc và tùy trường hợp của từng nước. Cũng cần phải nói ngay rằng vấn đề điện hạt nhân đối với chúng ta trong lúc này không còn là một vấn đề chuyên môn mà là một vấn đề chính trị, và một vấn đề chính trị rất nghiêm trọng trên đó mọi người đều có thể và phải có ý kiến.


Công việc của tôi trong hơn hai mươi năm làm việc với các cơ quan này không phải là kỹ thuật nguyên tử mà là quản trị và tin học, tuy vậy nó cũng đã bắt buộc tôi phải trao đổi thường xuyên với những người trách nhiệm mọi mặt về việc xây dựng và điều hành một nhà máy điện hạt nhân. Điều tôi biết được qua những trao đổi này là đối với một nhà máy điện hạt nhân an ninh là tất cả, những hiểu biết về vật lý hạt nhân chỉ có một tầm quan trọng rất thứ yếu. Một thí dụ cụ thể là dự án tin học theo dõi một nhà máy điện hạt nhân, mà tôi từng là dự án trưởng, đã phải huy động hơn một trăm kỹ sư tin học, phân tích viên và lập trình viên trong hơn hai năm để thực hiện. Nhiều người coi nó như một con quái vật không lồ. Nhưng sở dĩ nó phức tạp như thế là vì những dữ kiện về an ninh; chúng chiếm 90% cơ sở dữ kiện và liên hệ tròng chéo với nhau.

Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường về sự an toàn. Một chiếc xe hơi được coi là an toàn nếu xác xuất để xảy ra một sự cố là một phần mười trong một năm. Đối với một nhà máy điện nguyên tử một xác xuất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi. Lý do là vì những hậu quả của một tại nạn hạt nhân có thể rất khủng khiếp, vượt mọi tưởng tượng; nó có thể làm chết rất nhiều người, hủy họai môi trường trong một thời gian rất lâu và để lại những di hại thể xác cũng như tinh thần cho nhiều thế hệ. Một thí dụ là vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Nhà máy này được thiết lập ở một vùng rất ít dân cư, nhưng tai nạn đã khiến hơn 4000 người bị ung thư trong đó phần lớn đã chết. Đó là chưa kể số nạn nhân ở những nước lân cận. Người ta đã phải tản cư trên 100.000 người khỏi một khu vực 30Km chung quanh nhà máy. Nếu kể cả những người phải di tản ở các nước láng giềng thì con số người phải di tản vượt quá 250.000. Cho tới nay, 26 năm sau tai nạn, mức phóng xạ vẫn cao gấp 30 lần mức độ chấp nhận được. Hãy tưởng tượng nếu một tai nạn tương tự xảy ra tại một nước dân cư chen chúc như Việt Nam.

Đặc tính của những tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân là chúng đều không ngờ.  Fukushima nhắc lại cho thế giới thêm một lần nữa bài học khiêm tốn: chúng ta không bao giờ có thể tiên liệu được hết những nguyên nhân đưa đến tai nạn. Nhật là nước nhiều kinh nghiệm nhất về động đất và sóng thần đồng thời cũng là nước đứng hàng đầu thế giới về sự chính xác; tuy vậy nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi đã chỉ được xây dựng để chịu đựng một ngọn sóng cao 6m trong khi ngọn sóng tháng 3 năm 2011 đã cao 15m tại khu vực nhà máy và gần 30m tại một số địa điểm khác. Các lò phản ứng theo nhau phát nổ và mức độ trầm trọng được đánh giá lại liên tục, sau cùng là mức độ 7, nghĩa là tối đa. Hậu quả của tại họa nguyên tử Fukushima vẫn chưa thể thẩm định được. Điều chắc chắn là thảm kịch sẽ nhiều lần lớn hơn, thậm chí rất kinh khủng, nếu người Nhật không chứng tỏ một khả năng tổ chức, một tinh thần kỷ luật và một sự dũng cảm buộc cả thế giới phải ngưỡng mộ. Hay nếu họ không có những phương tiện cấp cứu của một nước giàu có bậc nhất thế giới. Hãy thử tưởng tượng nếu, vì bất cứ lý do gì, một tai nạn tương tự xảy ra tại Việt Nam. Các tỉnh bờ biển của chúng ta đều chen chúc hơn vùng Fukushima, chúng ta không có những phương tiện của người Nhật và cũng thua xa họ về kỷ luật và tinh thần trách nhiệm.

Xác xuất rủi ro xảy ra tai nạn quan trọng hiện nay được ước tính chung quanh mức độ 5/100.000 mỗi năm cho một lò điện nguyên tử. Xác xuất này được coi là quá lớn vì thế hầu hết các quốc gia đều quyết định không dùng điện hạt nhân, số ít các quốc gia chấp nhận điện hạt nhân đều chỉ đi những bước rón rén. Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia ít quan tâm đến môi trường nhưng họ cũng đều rất dè dặt đối với điện hạt nhân. Cả hai đều đã bắt đầu kỹ thuật hạt nhân từ hơn một nửa thế kỷ nay và đều có đội ngũ kỹ thuật nguyên tử hùng hậu nhưng tới nay tỷ lệ điện hạt nhân của họ chỉ ở mức độ 2% tổng số điện sản xuất. Ấn Độ đã bắt đầu xây nhà máy điện hạt nhân từ 1965 nhưng đến nay chỉ mới dám xây những lò phản ứng nhỏ, hai lò phản ứng công xuất 500 Mwe và 18 lò công xuất 200 MWe. Trung Quốc trong những năm gần đây tỏ ra muốn đẩy mạnh năng lượng hạt nhân nhưng trong hai mươi năm nữa tỷ lệ điện hạt nhân của họ cũng sẽ không vượt quá 5%. Sau tai nạn Fukushima tất cả các nước phát triển có kỹ thuật hạt nhân cao và hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Ấn Độ và Trung Quốc, đều đình chỉ các chương trình xây dựng lò điện nguyên tử, nhiều nước tuyên bố bỏ hẳn. Áo bỏ một nhà máy điện nguyên tử đã xây dựng xong và sẵn sàng đi vào hoạt động. Ba Lan, Ireland và Philippines bỏ ngang những nhà máy đang xây dựng dở dang. Riêng Úc, nước có trữ lượng uranium lớn nhất thế giới, từ trước vẫn quả quyết từ chối điện hạt nhân.

Trong bối cảnh đó quyết định nhảy vào điện nguyên tử của chính quyền Việt Nam thật là không hiểu nổi, nhất là Việt Nam chưa có kỹ thuật và đội ngũ chuyên viên nguyên tử (Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt còn quá sơ sài, các cơ quan khác còn ít thực chất hơn). Đã thế còn nhảy vào một cách liều mạng.

Năm 2008 chính quyền Việt Nam tuyên bố quyết định xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận, mỗi nhà máy gồm hai lò phản ứng với công suất 1000 MWe, dự trù đi vào hoạt động năm 2020. Quyết định này khiến người ta phải sững sờ. Như vậy là Việt Nam vào năm 2020 sẽ có một tỷ lệ điện nguyên tử lớn hơn hẳn Ấn Độ và Trung Quốc. Thời gian từ đây đến đó chắc chắn là không đủ để đào tạo ra những chuyên viên đủ khả năng để điều hành các nhà máy. Như để tranh thủ thời gian công thức được chọn lựa là công thức "chìa khóa trao tay" có nghĩa các nhà máy sẽ hoàn toàn do các công ty nước ngoài xây dựng, Việt Nam chỉ tiếp thu để sử dụng khi nhà máy đã hoàn tất. Đây là công thức mà cho tới nay chưa nước nào chấp nhận vì hầu như không có chuyển giao kỹ thuật và lại rất nguy hiểm. Vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử vừa quá nghiêm trọng lại vừa quá phức tạp nên phải tham gia chặt chẽ ngay từ đầu vào việc xây dựng nhà máy để hiểu rõ cấu trúc và cách điều hành. Cho tới nay phần lớn các sự cố xảy ra tại các nhà máy điện hạt nhân là do lỗi của các nhân viên điều hành. Ngay cả nếu quyết tâm chọn năng lương hạt nhân thì cũng không thể hành động một cách quá phiêu lưu. Giải pháp đúng đắn trong trường hợp đó là bắt đầu xây một lò phản ứng thôi và tham gia từ đầu tới cuối tiến trình xây dựng để hiểu rõ từng bộ phận của nhà máy; chỉ sau khi đã thực sự làm chủ được kỹ thuật điện nguyên tử và đào tạo xong một đội ngũ chuyên viên vững chắc mới xây tiếp các lò phản ứng khác. Và đàng nào cũng phải tiến hành một cách rất chậm chạp và thận trọng vì tai nạn nguyên tử quá khủng khiếp. An ninh của các lò điện nguyên tử là điều mỗi nước phải lo lấy chứ không thể giao tính mạng của đất nước mình cho những công ty nước ngoài.

Quyết định của chính quyền cộng sản không đi kèm với một lời giải thích kỹ thuật nào, bởi vì nó không phải là kết quả của một nghiên cứu nghiêm chỉnh mà chỉ là quyết định tùy tiện của những người cầm quyền hoàn toàn không biết gì về kỹ thuật hạt nhân.

Quyết định này càng gây sửng sốt vì công ty được chọn để xây nhà máy điện nguyên tử đầu tiên cho Việt Nam là công ty ROSATOM của Nga. Có đầy rẫy tài liệu chứng minh Nga là nước cẩu thả nhất về mặt an ninh trong những nước xây dựng lò điện nguyên tử. Hơn nữa công ty ROSATOM lại bị mang tai tiếng là đã gian lận về phẩm chất vật liệu xây dựng, một điều không thể tưởng tượng nổi cho một lò điện nguyên tử. Ai có thể không hoảng sợ khi nghĩ rằng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Việt Nam sẽ được xây dựng bởi một công ty làm ăn gian trá của một nước nổi tiếng là cẩu thả và được trao cho những người Việt Nam mới tập sự điều khiển? Nhất là cũng phải nhìn nhận một sự thực đau lòng là với sự xuống cấp của đạo đức không phải người Việt Nam nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao. Một ông thứ trưởng tuyên bố thản nhiên: “đã xây một lò điện nguyên tử tại sao không xây luôn bốn lò cho tiện”. Hình như các cấp lãnh đạo cộng sản không ý thức rằng nguyên tử là vũ khí giết người hàng loạt, giết cả những người hôm nay lẫn những người chưa sinh ra, thậm chí có thể xóa bỏ một quốc gia.

Nhiều người có thẩm quyền chuyên môn, như các giáo sư Phạm Duy Hiển, Trần Sơn Lâm và Nguyễn Khắc Nhẫn, đã lên tiếng ngay sau đó. Có vị dứt khoát bác bỏ điện hạt nhân, có vị cho rằng chỉ nên xây một lò phản ứng để học hỏi và đào tạo trước đã. Như để hỗ trợ cho những tiếng nói cảnh giác này tai họa Fukushima đã xảy ra làm chấn động cả thế giới. Ai không nghĩ rằng nhà cầm quyền Việt Nam sẽ nghĩ lại?

Và quả thực họ đã xét lại, nhưng một cách không ai ngờ được. Ngay trong dịp kỷ niệm một năm thảm kịch Fukushima họ công bố quyết định xây thêm mười lò điện khác dự trù hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2030, nghĩa là tổng cộng 14 lò thay vì 4 lò! Khi một người bạn, chuyên gia về điện hạt nhân, hốt hoảng thông báo tin này tôi không dám tin. Nó giống như tin một trái bom nguyên tử vừa nổ. Nó buộc chúng ta tự hỏi chúng ta đã ý thức đầy đủ những bắt buộc của kỷ nguyên tri thức chưa? Tri thức trong thế giới ngày nay chủ yếu là tri thức khoa học kỹ thuật; không thể chấp nhận những người lãnh đạo thiếu văn hóa, nhất là văn hóa khoa học.

Xác xuất 5/100.000 cho một tai nạn nghiêm trọng trong một năm tại mỗi lò phản ứng chỉ là một xác xuất trung bình. Đối với một nước thiếu phương tiện và kỹ năng như Việt Nam nó cao hơn nhiều. Với bốn lò phản ứng nó cao một cách đáng sợ. Với 14 lò một tai nạn tầm cỡ Chernobyl hay Fukushima là một đe dọa thường trực và nếu xảy ra hậu quả sẽ rất khủng khiếp, Việt Nam có thể sẽ không còn là Việt Nam nữa. Cũng phải hiểu là một sự cố nhỏ có thể khắc phục nhanh chóng tại một nước như Nhật và Pháp cũng có nguy cơ trở thành một tai nạn lớn tại một nước như Việt Nam.

Nhưng cứ giả thử chứng ta sẽ rất may mắn, phải nhấn mạnh là rất may mắn, không bị tai nạn thì hậu quả cũng rất năng nề.
Trước hết Việt Nam sẽ là một đất nước không an toàn. Mọi người đều phập phồng lo sợ không biết lúc nào thảm kịch sẽ đến. Những người có thể rời bỏ Việt Nam để đi sống ở một nước khác sẽ ra đi. Việt Nam sẽ không có tương lai bởi vì không thể xây dựng một quốc gia với những người chỉ ở lại vì không thể đi sang một nước khác.

Một tiềm năng kính tế lớn của Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng. Với một bờ biển dài và những bãi biển đẹp trong một khí hậu nhiệt đới chúng ta có thể hy vọng trong trung hạn thu hút vài chục triệu du khách mỗi năm tạo hàng triệu công ăn việc làm trong ngành du lịch và những ngành liên hệ. Khả năng này sẽ gần như mất hẳn với 14 lò phản ứng nguyên tử rải rác khắp nước. Đúng hay sai, tâm lý chung là người ta không muốn nghỉ hè bên cạnh các lò điện nguyên tử.

Thủy sản của Việt Nam cũng sẽ bị đe dọa. Có một thành kiến là các nước chậm tiến không coi trọng an ninh môi trường và không có gì bảo đảm là nước không bị nhiễm xạ. Đúng hay sai người ta sẽ sợ tôm cá Việt Nam.

Một điều quan trọng cũng cần được ý thức là chúng ta sẽ không còn khả năng đương đầu với một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm qui mô. Đối phương chỉ cần oanh tạc các lò điện nguyên tử.

Một người bạn tôi, bác sĩ chuyên khoa về dưỡng lão, có lần nói rằng Việt Nam nên nghiên cứu khả năng mở những nhà săn sóc người cao tuổi. Anh ta nói tại Mỹ và Châu Âu chi phí trung bình để săn sóc một người cao tuổi có bảo hiểm sức khỏe là 50.000 USD mỗi năm. Chúng ta có thể săn sóc họ một cách chu đáo và tiện nghi hơn với chi phí chỉ bằng một nửa. Chúng ta sẽ thu hút được rất nhiều khách, cả những người già lẫn những người chưa thực là già nhưng muốn được phục vụ để khỏi phải bận bịu với những việc hàng ngày như cơm nước, giặt ủi, di chuyển. Đó là một thí dụ. Những khả năng như vậy sẽ mất đi nếu nước ta đầy những lò điện nguyên tử.

Nhưng tại sao chọn điện hạt nhân?

Trái với một lập luận thường gặp điện hạt nhân không phải là một chọn lựa bắt buộc hướng về tương lai. Tỷ lệ điện hạt nhân trên thế giới chỉ mới sấp sỉ 14% tổng số năng lượng điện (và 3% tổng số năng lượng gộp). Những tỷ lệ này sẽ tiếp tục giảm đi vì khuynh hướng chung của thế giới là từ giã điện hạt nhân. Lập luận chính biện hộ cho điện nguyên tử là phải tìm một giải pháp thay thế cho khối dự trữ năng lượng mỏ (than, dầu, khí) đang chiếm 80% năng lượng gộp và đang cạn dần. Lập luận này ngày càng thiếu thuyết phục vì muốn như thế phải nhân lên hơn 25 lần số lò phản ứng hiện nay, một con số khiến người ta phải kinh hoàng sau những tai nạn đã xảy ra. Và đàng nào cũng không thực hiện được bởi vì, trái với sự lạc quan lúc ban đầu, khối lượng uranium cũng rất giới hạn và ngày càng đắt. Thế giới ngày càng tiến tới đồng thuận là phải tiết kiệm năng lượng song song với việc tận dụng những nguồn năng lượng có mãi (renewable energy, thường được dịch sang tiếng Việt là năng lượng tái tạo) như gió, nắng, thủy triều, các dòng sông v.v.).

Cũng đừng quên là năng lượng nguyên tử vẫn còn là một hò hẹn sai với tương lai. Trong vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử không phải chỉ có cố gắng tránh tai nạn mà còn một vấn đề nghiêm trọng không kém là xử lý phế liệu. Trong những thập niên 1950 và 1960, khi chương trình điện nguyên tử được đưa ra người ta tin chắc như đinh đóng cột là một ngày không xa sẽ tìm được cách xử lý ổn thỏa phế liệu nguyên tử. Đến nay, sau hơn một nửa thế kỷ phương thức vẫn chưa tìm được và giải pháp vẫn chỉ là bọc lại và đem chôn. Rà chờ đợi vài ngàn năm cho đến khi phóng xạ xuống tới mức chấp nhận được. Đất nước ta chật hẹp như vậy, chúng ta sẽ chôn phế liệu nguyên tử ở đâu và chuyên chở như thế nào cho an toàn?

Như đã nói ở phần trên, tôi không chống điện nguyên tử trên nguyên tắc. Điện nguyên tử vẫn là một nguồn trong nhiều nguồn năng lượng, dù chỉ nên quan niệm ở một tỷ lệ khiêm tốn. Điện hạt nhân rẻ và sạch nếu không xảy ra tai nạn. Dù chữ nếu này quá lớn nhiều người vẫn nghĩ rằng chấp nhận hay không chấp nhận có điện hạt nhân tùy thuộc điều kiện của từng nước. Chúng ta là một nước đất hẹp người đông không thích hợp với điện nguyên tử. Chúng ta lại chưa có kỹ năng và nhân lực hạt nhân trong khi an ninh nguyên tử là một vấn đề các quốc gia phải đảm nhiệm lấy chứ không thể giao phó sự sống còn của đất nước cho những công ty nước ngoài. Xây lò điện nguyên tử vì vậy chỉ có thể khởi sự khi chúng ta đã đủ kỹ năng và nhân lực hạt nhân, điều mà chúng ta hầu như chưa có. Hơn nữa chúng ta nhiều gió và nắng, tiềm năng năng lượng của chúng ta chủ yếu là năng lượng có mãi. Sau cùng, ngay cả nếu chúng ta không loại bỏ hẳn điện hạt nhân thì cũng chưa phải là lúc để xây bốn lò điện nguyên tử, chưa nói 14 lò, một quyết định điên khùng vượt mọi tưởng tượng.

Còn một vấn đề nghiêm trọng khác. Thế giới đang từ giã điện hạt nhân. Các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân ngày càng gặp khó khăn lớn vì không còn thị trường. Công ty AREVA của Pháp chẳng hạn đã bắt đầu chuyển sang sản xuất những thiết bị cho năng luợng gió. Và nếu những công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử cho chúng ta phá sản, một điều rất có thể xảy ra, chúng ta sẽ rơi vào một tình trạng hết sức nguy kịch.

Nhưng tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam lại lấy quyết định như thế?

Đây không phải là một tranh luận kỹ thuật. Họ thừa biết rằng xây 14 lò phản ứng là một quyết định rất bất lợi và nguy hiểm cho đất nước. Nhưng tại sao họ lấy quyết định này? Giả thuyết hợp lý nhất là họ đã nhượng bộ những áp lực tài chính của các chủ nợ. Chính quyền cộng sản lấy quyết định liều lĩnh vì họ cần che dấu thực trạng bi đát của kinh tế Việt Nam.

Một chỉ số đo lường mức độ lệ thuộc bên ngoài của một nền kinh tế là tỷ lệ tổng số ngoại thương trên tổng sản lượng quốc gia. Trung bình thế giới hiện nay là 50%, nghĩa là trong một quốc gia tổng số ngoại thương (xuất khẩu cộng với nhập khẩu) bằng khoảng 50% GDP là bình thường. Trong trường hợp Hoa Kỳ tỷ lệ này chỉ là 25%, Trung Quốc 52%. Tại Đức tỷ lệ này là 75%, tại Hàn Quốc 92%,  nhưng Đức và Hàn Quốc là hai nước có nền kinh tế hướng ngoại nhất thế giới. Nhật (27%) là một trường hợp đặc biệt vì các công ty lớn của Nhật sản xuất một phần quan trọng hàng hóa ngay tại nước ngoài. Các nước mới phát triển tại Châu Á dĩ nhiên lệ thuộc rất nhiều vào ngoại thương; tỷ lệ của Thái Lan là 120%, của Mã Lai là 148%. Nói chung các nước trao đổi nhiều với thế giới bên ngoài đều xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Kinh tế Việt Nam bệnh hoạn hơn hẳn người ta tưởng. Tổng số ngoại thương của Việt Nam bằng 167% GDP. Điều này tự nó đã có nghĩa là chúng ta là một trong những nước lệ thuộc nhất  vào các nước ngoài về mặt kinh tế, nhưng sự thực còn đáng lo ngại hơn vì cán cân ngoại thương của chúng ta thâm thủng kinh niên. Chúng ta nhập khẩu nhiều hơn hẳn xuất khẩu từ hơn 25 năm qua. Từ 5 năm qua, khi chính quyền nói rằng kinh tế đã có tiến bộ, Việt Nam liên tục nhập siêu khoảng 13 tỷ tỷ USD mỗi năm, năm 2008 nhập siêu 18 tỷ, những năm trước có thể còn tệ hơn. Như vậy con số nợ công (phần lớn là nợ nước ngoài) 56 tỷ USD, hay 51% GDP, phải được coi là rất xa sự thực. Thâm thủng mậu dịch sớm muộn cũng biến thành nợ nước ngoài. Phần lớn là nợ do các công ty vay hoặc mua chịu nhưng các phần lớn các công ty này là của nhà nước và khoàn nợ nước ngoài của họ đều do nhà nước bảo lãnh cho nên khi một công ty, như tổ hợp Vinashin, không trả được nợ thì nợ của họ cũng biến thành nợ công. Như vậy chắc chắn là số nợ nước ngoài của Việt Nam nước ngoài phải rất cao, có thể hơn 200 tỷ USD, và nhiều khoản đã đáo hạn, thậm chí đã khất nhiều lần. Nếu các chủ nợ nhất định đòi thì chính quyền Việt Nam phải tuyên bố không còn khả năng hoàn trả, nghĩa là phá sản, và chính quyền có thể sụp đổ. Chính quyền cộng sản Việt Nam vì vậy phải chấp nhận ngay cả những đòi hỏi, hoặc “gợi ý”, nguy hiểm cho đất nước để có thể che dấu thực trạng phá sản.

Trở lại với quyết định xây dựng 14 lò điện nguyên tử. Từ sau Fukushima mọi nước đều quyết định ngừng hoặc bỏ hẳn các dư án. Các công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử vì vậy đều ở trong tình trạng nguy ngập. Họ không còn công việc nữa và cần một thời gian để thích nghi với tình huống mới. Các chính quyền nước họ cũng sợ những biến động xã hội nếu các công ty này phải sa thải công nhân hàng loạt ngay lập tức. Trong những điều kiện đó không có gì đáng ngạc nhiên nếu các chính quyền nước ngoài và các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân của họ làm áp lực để Việt Nam chấp nhận xây những lò điện nguyên tử, nghĩa là cho họ những bầu dưỡng khí tạm. Và chính quyền cộng sản Việt Nam đã phải nhượng bộ để tự cứu mình.

Nếu giả thuyết này đúng, và nó chỉ có thể đúng thôi vì không thể có giải thích nào khác cho quyết định quá sức nguy hại này, thì đây là một lần nữa Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sự sống còn của chế độ lên trên sự sống còn của đất nước. Chỉ khác một điều là lần này đất nước có nguy cơ bị hủy diệt hoặc tàn lụi một cách không đảo ngược được. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn nhiều so với ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Bôxit Tây Nguyên. Chúng ta không có quyền thụ động. Chúng ta phải phản ứng và phải phản ứng thật mạnh mẽ và quyết liệt.

Có thể là chính quyền cộng sản cũng mong có một làn sóng phản kháng dữ dội để có cớ trì hoãn với các chủ nợ. Mặt khác cũng chưa quá trễ để phản ứng. Các lò điện chưa bắt đầu xây, phần lớn chỉ khởi sự trong vài năm nữa. Chúng ta còn thời giờ.

Điện hạt nhân là một vấn đề mang nhiều tính khoa học kỹ thuật mà quần chúng có thể không hiểu do đó trách nhiệm chính trong cuộc đấu tranh này thuộc về trí thức. Trí thức Việt Nam cho tới nay đã quá nhu nhược nhưng lần này họ không có quyền nhu nhược.

Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 4/2012)