Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi Trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi Trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

Ngô Thế Vinh: Bước Qua Lời Nguyền Tiến Hành Dự Án Đập Stung Treng Là Hủy Diệt Môi Sinh – Ecocide Một Nhìn Lại

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL không được quyền có tiếng nói

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

 

Lời Dẫn Nhập: Năm 2020, đã có một lúc bao nhiêu triệu cư dân vùng hạ lưu sông Mekong thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Bộ Điện Lực Cam Bốt   tuyên bố hoãn mọi dự án thuỷ  điện trên sông Mekong trong 10 năm tới [1], như vậy là ít nhất có một thời kỳ dưỡng thương cho dòng sông bị đầy những vết cắt do chuỗi đập thuỷ điện của Trung Quốc và Lào phía thượng nguồn. Nhưng rồi mới đây, chỉ hai năm sau, 2022, là một tin chấn động khác: Phnom Penh tuyên bố cho tái phục hoạt / resurrection dự án thủy điện Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong phía đông bắc Cam Bốt sát ranh giới với Lào. Dự án này không chỉ sẽ tàn phá sinh cảnh các khu đất ngập được bảo vệ bởi Công ước Ramsar ký kết từ năm 1971, mà còn gây tác hại vô lường trên hai vùng châu thổ phì nhiêu Tonlé Sap và ĐBSCL. Đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết nhìn lại toàn cảnh cuộc hành trình gian truân của một dòng sông – Sông Mekong hơn nửa thế kỷ qua.      

*


MEKONG SẼ KHÔNG XÂY THÊM ĐẬP THUỶ ĐIỆN MỚI

Tổng Giám đốc Điện Lực Cam Bốt, Keo Rattanak đã nói với các phóng viên báo chí tại tòa nhà Hội đồng Bộ trưởng ở Phnom Penh ngày 8/8/2019. 


Cam Bốt không có kế hoạch xây các đập thủy điện trên dòng chính Sông Mekong mặc dù vẫn để các nhóm nghiên cứu khảo sát tiềm năng của các dự án. Chúng tôi không bàn cãi về bất cứ đầu tư nào trong lãnh vực này,” Rattanak nói tiếp. “Như vậy, quý vị không phải quan tâm về vấn đề này. Chúng tôi sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu điện theo những phương thức khác.” [1]


Cam Bốt phải đối đầu với tình trạng thiếu điện trầm trọng, với các khu dân cư hàng ngày bị cúp điện cùng với giá điện tăng. Thủ tướng Hun Sen nói sẽ gửi ông Rattanak đi Thổ Nhĩ Kỳ mua một con tàu phát điện (Power ship 200 MW) để bù đắp. Chính phủ cũng cố gắng gia tăng sản xuất điện mặt trời để đáp ứng nhu cầu điện cho cư dân.


Hem Odom, một chuyên viên tham vấn độc lập về nguồn năng lượng thiên nhiên, đã hoan nghênh phát biểu của ông Rattanak, với cảnh báo về một con đập dòng chính sông Mekong sẽ gây những tổn thất rộng lớn, với xói lở hai bên bờ sông, cạn kiệt nguồn cá cũng là nguồn protein trong bữa ăn hàng ngày của người dân Cam Bốt. Không phải chỉ có Cam Bốt, mà cả Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Thiếu nước từ thượng nguồn sông Mekong và từ Biển Hồ, nước mặn xâm nhập vào ĐBSCL sâu và xa hơn.”  


TIN TỐT ĐẸP CHO SÔNG MEKONG     

World Wildlife Fund (Quỹ Đời Sống Hoang Dã Thế giới) “đã vui mừng khi nghe được bình luận mới đây của Ngài Keo Rattanak, Tổng Giám đốc Điện lực Cam Bốt, rằng ông không muốn thấy hai dự án thủy điện dòng chính sông Mekong Sambor và Stung Treng được có trong quy hoạch năng lượng từ nhiều nguồn / mix energy.”

 


Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

Dale Shaw (BBC Earth): Một loài vật tuyệt chủng có thể đe dọa cả thế giới

Nhiều loài cây cối và động vật đang bị đe dọa dưới tác động của con người.


Việc bị mất đi môi trường sống và tình trạng biến đổi khí hậu đang tác động nghiêm trọng đến nhiều giống loài khắp thế giới.

Rùa biển mất dần nơi chúng về đẻ trứng vì tình trạng lở bãi biển, trong khi đó voi châu Phi bị đe dọa vì bọn săn trộm và tranh chấp khu vực sinh sống với nông dân.

Cả hai loài đều đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái mà chúng tồn tại.

Hoạt động của chúng giúp các loài khác sống gần đó có thể cùng sinh tồn. Việc mất những sinh vật đó và những sinh vật tiếp theo được đề cập dưới đây có thể sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường thế giới nói chung.

Khi cá voi trồi lên mặt nước để hít thở, chúng xả ra phân, giúp làm đại dương màu mỡ và giúp chuỗi thức ăn phát triển. Hình FreePik

Cá voi


Trong suốt 200 năm, ngành công nghiệp đánh bắt cá voi đã tàn phá số lượng cá voi toàn cầu. Nhưng nỗ lực bảo tồn trong thời gian gần đây đã giúp ổn định số lượng loài vốn đã cạn kiệt này.

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

Quách Hạo Nhiên: “Giải Cứu” Đồng Bằng Sông Cửu Long - Góc Nhìn Khác Về Nhận Thức Và Giải Pháp (Phần cuối)



Phần Cuối - Đề Xuất Và Gợi Ý Một Số Giải Pháp Trên Tinh Thần “Bảo Tồn Để Phát Triển” ĐBSCL Trong Thời Gian Tới


ĐBSCL hôm nay đã không còn những lợi thế về điều kiện tự nhiên như trước. Nếu như trước đây, người dân “sống chung với lũ” thì nay phải sống chung với hạn mặn. Hay nói khác đi, trước đây là sự thích ứng trong hoàn cảnh “khủng hoảng thừa” (nguồn tài nguyên nước ngọt và đất phù sa tích tụ sau mỗi mùa nước nổi hàng năm) thì nay là “khủng hoảng thiếu”. Vì là “khủng hoàng thiếu” nên việc thích ứng hôm nay khó khăn hơn rất nhiều. Thế nên, câu chuyện “Thuận Thiên” ở ĐBSCL nhất định phải được tiếp cận với tinh thần “bảo tồn để phát triển” chứ không nên tiếp tục “khai thác để phát triển” trong sự hoang phí hoặc đối phó với tầm nhìn ngắn hạn.

Thay đổi tư duy và nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia trong cái nhìn về ĐBSCL


ĐBSCL là xương sống của nền kinh tế nông nghiệp nhưng oái oăm thay cũng là “vùng trũng” của cả nước đặc biệt là về hạ tầng giao thông, văn hóa, giáo dục, y tế... Đây là một thực tế mà ai cũng nhìn thấy.

Để ĐBSCL thoát khỏi lời nguyền - cái nghịch lý “đất giàu người nghèo” quan trọng và trước hết phụ thuộc vào nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Theo đó, có một số vấn đề quan trọng mang tính nguyên tắc chung liên quan đến việc xây dựng và triển khai các chính sách vĩ mô đối với ĐBSCL trong thời gian tới là:

Thứ nhất, xóa bỏ cái nhìn định kiến vùng miền trong quy hoạch và phát triển chung về ĐBSCL. Đặc biệt là vấn đề huy động và ưu tiên tập trung nguồn lực về tài chính cho ĐBSCL trong thời gian tới. Dĩ nhiên kèm theo là cơ chế kiểm soát minh bạch, chặt chẽ, tránh những “rơi rớt” dọc đường do thói quen “ăn không chừa một thứ gì của dân”.

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

Quách Hạo Nhiên: “Giải Cứu” Đồng Bằng Sông Cửu Long - Góc Nhìn Khác Về Nhận Thức Và Giải Pháp

Phần I - Nhận thức và phản biện quan điểm “Thuận Thiên” của Giáo Sư Võ Tòng Xuân trên Tạp chí Doanh Nghiệp và Tiếp Thị


1. Cơn “lên đồng tập thể” về Nghị quyết “Thuận Thiên”


Ngày 11/03/2021, Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp Thị có đăng bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân nhan đề: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” [1]. Bài báo được trang thông tin tổng hợp Soha dẫn lại nguyên văn và một số báo khác “mượn” các ý chính để tiếp tục đăng tải.

Trước hết, tôi xin có mấy lời thưa trước, cá nhân tôi kính trọng GS Võ Tòng Xuân trong tư cách một nhà giáo, nhà khoa học cả đời gắn bó với cây lúa và nhất là luôn trăn trở cho bà con nông dân vùng ĐBSCL. Tuy vậy, tôi nghĩ, là một nhà khoa học có tiếng lại có cơ hội tiếp xúc với lãnh đạo tầm nguyên thủ quốc gia để tham vấn chính sách vĩ mô thì mọi sự cẩn trọng là không bao giờ thừa. Bởi người lãnh đạo đặt niềm tin vào nhà khoa học, dựa vào những nghiên cứu và đề xuất của nhà khoa học để ban hành chính sách nên nếu nhà khoa học không cẩn trọng, tham vấn sai “một li” sẽ “đi một dặm”, nguy hại khôn lường cho quốc gia dân tộc.

Sở dĩ tôi nói điều này vì tôi vô cùng ngạc nhiên và lấy làm khó hiểu:

Một là, Nghị quyết 120 ra đời cách đây 3 năm về việc “Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu” nhưng không hiểu sao đến hôm nay – nhất là khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ và bàn giao chức Thủ tướng cho người kế nhiệm thì giới truyền thông mới đồng loạt thi nhau giật tít tán dương ca ngợi cái “Nghị quyết Thuận Thiên” này? Tại sao khi nó vừa ra đời và những lần tổng kết trước đó hiếm ai nói gì về hai chữ “Thuận Thiên”?

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

RFA: Dân bỏ xứ đi, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao?

ĐBSCL-Vựa lúa của Việt Nam


Khu vực miền Tây Nam Bộ, còn được gọi tên “Đồng bằng sông Cửu Long” (ĐBSCL) là vùng châu thổ trù phú được thiên nhiên ưu đãi nhất ở Việt Nam. ĐBSCL được dân gian truyền miệng rằng vùng đất Phương Nam “chim trời cá nước” là một nơi không bao giờ bị đói khát vì được bao bọc bởi những đồng lúa cò bay thẳng cánh và dòng Mekong mênh mông với 9 nhánh sông đầy ắp tôm cá quanh năm, nhiều nhất vào mùa nước tràn đồng mỗi năm.

ĐBSCL được xem là vựa lúa của Việt Nam, góp phần quan trọng để trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Nơi đây còn là khu vực phát triển nông nghiệp chủ lực với nhiều mặt hàng nông sản đa dạng, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.

Trong vòng 10 năm từ 2009 đến 2019, khu vực ĐBSCL góp đến 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 60% lượng trái cây và xấp xỉ 18% GDP của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương ghi nhận, trong năm 2020, tỷ lệ dân số ở ĐBSCL gần 17,3 triệu người, chiếm gần 18% dân số Việt Nam. Tỷ lệ tăng dân số ở ĐBSCL trong một thập niên qua thấp nhất Việt Nam, chỉ chiếm 0,05% trong khi chỉ số già hóa dân số lại cao nhất nước đến 58,5% và tỷ suất di cư thuần cũng cao nhất nước, ở mức 39,9%. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các thông số này là do “sự đi ra khỏi vùng để làm ăn sinh sống của lớp người trong độ tuổi lao động”.

Hình minh hoạ, HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2020

Lê Hồng Hiệp: Hiện trạng Sáng kiến Vành đai và Con đường ở khu vực Mekong


Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) là một mỏ neo trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc kể từ năm 2013. Sáng kiến này thúc đẩy kết nối giữa các nền kinh tế châu Á, châu Âu và châu Phi bằng cách xây dựng các mạng lưới đường bộ, cầu, đường sắt, hải cảng, sân bay, năng lượng, đường ống và các dạng cơ sở hạ tầng khác, trong đó Trung Quốc được hình dung là trung tâm. Mặc dù BRI chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng vật chất nhưng nó cũng được thiết kế như một phương tiện để tăng cường kết nối về mặt chính sách, thương mại, tài chính và giao lưu nhân dân. Đến năm 2019, hơn 60 quốc gia đã tham gia BRI, và Trung Quốc được cho là đã đầu tư khoảng 127,7 tỷ đô la Mỹ vào các dự án khác nhau, biến BRI thành kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử.

Khu vực hạ lưu sông Mekong, bao gồm các quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, có nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng rất lớn do là các nền kinh tế đang phát triển nhanh của khu vực trong khi lại thiếu các cơ sở hạ tầng hiện đại. Do đó, BRI đã thu hút được sự quan tâm lớn từ các nước này. Về phần mình, Trung Quốc cũng coi khu vực này là một trong những mục tiêu chính của BRI do sự gần gũi về địa lý cũng như mong muốn của Trung Quốc trong việc cải thiện kết nối giữa các tỉnh phía Nam Trung Quốc và Đông Nam Á.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Nguyễn Tuấn Khoa: “Khóc một dòng sông”

Giờ Vạn Vật Học lớp Đệ Lục (1972), khi giảng về sông Cửu Long thầy tôi nói: Đó là con sông hùng vĩ, thượng nguồn ở Trung Quốc (TQ) chảy qua 5 nước. Sông có 9 nhánh đổ ra Biển Đông, giống như 9 con rồng phun nước tại cửa 9 cửa sông.

Thầy nói, thật ra sông Cửu Long chỉ có 8 nhánh! Do số 9 là số may mắn trong văn hóa Phương Đông nên người ta phải cố gán thêm một nhánh cho đủ 9. Đó là nhánh Ba Thắc rất nhỏ, đang bị bồi lấp.

Vị trí cửa sông Cửu Long. Nguồn: Ảnh chụp từ Google map

Như một định mệnh trớ trêu, gần nửa thế kỷ sau bài giảng đó, nhánh Ba Thắc rồi thêm nhánh Ba Lai đã thành dòng sông chết. Hai con rồng đã về trời! Sông Cửu Long tám nhánh nay chỉ còn bảy. Thất Bát! Con số này như một điềm gỡ cho một vùng châu thổ buồn.

Lịch sử Châu Thổ sông Cửu Long (CTSCL) là một cuộc giành giật giữa sông và biển trong hàng ngàn năm. Lúc biển tiến, cả vùng ngập trong biển; lúc biển thoái, sông mạnh mẽ đẩy lùi biển ra đại dương… Để giờ đây nơi gặp gỡ giữa Cửu Long và Biển Đông đã tạo nên một vùng châu thổ trù phú với đa dạng sinh học bậc nhất trên thế giới.

Dòng Mekong hùng vĩ bao đời nay đã cần mẫn tải ngọc phù sa nuôi sống gần 70 triệu người trên toàn lưu vực 800 cây số vuông. Ở cuối nguồn, hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang đã tạo nên vựa lúa lớn và một nền văn hóa đặc sắc với 17 triệu cư dân. Bỗng chốc tất cả trở nên suy tàn.

Hạn mặn 2016 đã lên đến Cần Thơ, vượt mức chịu đựng của dân ĐBSCL. Hạn mặn 2020 còn khốc liệt hơn nhiều. Nếu lấy mức mặn 4 phần ngàn là ngưỡng sống còn của cây lúa thì nước mặn từ Biển Đông đã vào sâu hơn 80 km nhưng nếu lấy mức mặn 0.5 phần ngàn cho nước uống thì mặn đã chạm đến hầu hết các nhà máy nước toàn vùng. Ngày mặn lên tới nhà máy nước Châu Đốc rồi Nam Vang sẽ không còn xa nữa.

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

Nguyễn Hữu Thiện: Nhiệt điện than và nguy cơ với thủy sản

Báo Nông Nghiệp Việt Nam trao đổi với chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thiện

Chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thiện.

Thủy sản di cư 


Vùng thủy sản quốc gia ở ĐBSCL có đặc điểm gì nổi trội cần chú ý, thưa ông? 

Vùng thủy sản ĐBSCL quan trọng nhất là lưu vực các cửa sông đổ ra biển, gồm lưu vực sông và cả diện tích biển gần bờ vì đó là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản. 

Bởi vì các loài thủy sản luôn di chuyển và sự di chuyển của thủy sản giữa sông với biển được xếp thành ba loại: Anadromous là các loài thủy sản sống phần lớn thời gian ở biển nhưng phải đi vào nước ngọt để sinh sản; Catadromous là các loài ngược lại, sống ở nước ngọt nhưng ra biển sinh sản; Potamodromous sống hoàn toàn trong nước ngọt nhưng phải di cư, thường là đường dài, trong hệ thống sông để sinh sản, tìm mồi, sinh sống. 

Ông có thể cho ví dụ về một số loài thủy sản có giá trị ở ĐBSCL di chuyển giữa các vùng mặn, ngọt, lợ trong các giai đoạn vòng đời của chúng? 

Chẳng hạn cá bông lau (Pangasius krempfi), một loài trong nhóm Anadromous, là cá nước ngọt nhưng di chuyển ra biển trong một số giai đoạn của vòng đời. Sau khi sinh sản ở các vùng thác trung lưu Mekong, trứng trôi xuống vùng hạ lưu ĐBSCL, loài cá này khi còn nhỏ sinh sống một số giai đoạn ở Biển Đông đến khi đạt kích cỡ nào đó, di chuyển vào vùng nước ngọt và lên nam Lào vào tháng 5 - 6 để sinh sản vào đầu mùa mưa. 

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Ngô Thế Vinh: Việt Nam thất thủ chiến lược trên địa bàn sông Mekong

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
4 năm một lần, ông thủtướng lại dẫn một phái đoàn đi dự Hội NghịThượng Đỉnh Ủy Hội Sông Mekong, đem theo một bài diễn văn viết sẵn với ngôn từ hoa mĩ; khi bài diễn văn được đọc xong, các nguyên thủcùng bước lên sân khấu chụp hình, sau đó ai về nhà ấy. [nguồn: ảnh MRC Việt Nam]
DẪN NHẬP:

Vậy mà đã 62 năm kểtừkhi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong [1957] và cũng đã 24 năm từ ngày thành lập Ủy Hội Sông Mekong[1995]. Tính đến nay 2019, Bắc Kinh đã xây xong 11 con đập thủy điện khổng lồ/ mega-dams (6,7) chắn ngang dòng chính sông Lancang Jiang, tên Trung Quốc của con Sông Mekong chảy trong lãnh thổ TQ với lượng điện sản xuất đã lên tới 21,300 MW và TQ vẫn đang tiếp tục xây thêm 19 con đập khác; Thái Lan ngoài các con đập phụ lưu, còn có kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong, và nay hai nước Lào và Cambodia còn có thêm dự án 12 đập dòng chính hạ lưu. Ngoài ra còn hàng trăm con đập phụ lưu đã và đang xây trên khắp lưu vực Sông Mekong, kể cả trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

Khi mà hai con đập lớn nhất Nọa Trác Độ/ Nuozhado 5,850 MW và Tiểu Loan / Xiaowan 4,200 MW đã hoạt động phát điện toàn công xuất, có thể nói về tổng thể Trung Quốc đã hoàn tất phần lớn nhất kế hoạch thủy điện bậc thềm Vân Nam với 40 tỉ mét khối nước dự trữ trong các hồ chứa, tích luỹ trên 50% lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm và chặn 90% phù sa từ thượng nguồn, đủ cho TQ nắm quyền sinh sát toàn lưu vực sông Mekong.


Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Phạm Đình Trọng - Nỗi đau hạt phù sa sông Hồng


Mỗi người Việt Nam dù sống trên đỉnh núi mù mây Hoàng Liên Sơn phía Bắc hay lênh đênh trên sông nước bưng biền Đồng Tháp Mười, Nam Bộ đều như một hạt phù sa của sông Hồng, đều mang trong mình hồn cốt văn minh sông Hồng.
Dòng sông Hồng chảy chênh chếch từ Tây Bắc xuống Đông Nam ở phần đất phình ra rộng nhất phía Bắc Việt Nam và chính dòng sông Hồng đã tạo ra độ rộng của phần đất đó. Chảy chênh chếch trong không gian lãng đãng, chảy nghiêng nghiêng trong thời gian thăm thẳm nhưng dòng sông Hồng đã mải miết chảy dọc suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Dòng sông Hồng là tài sản vật chất, tài sản tinh thần, tài sản văn hóa và cũng là tài sản tâm linh của mỗi người dân Việt Nam. Vậy mà ở thời rực rỡ của lòng tham, thời lộng hành của cái ác, thời suy vi của văn hóa và đạo đức, thời sức mạnh của cường quyền, của bạo lực, của đồng tiền lên ngôi, một người sẵn tiền ngông nghênh lại toan tính ném tiền ra để dòng sông Hồng tài sản thiêng liêng của mọi người Việt Nam trở thành sở hữu riêng của một ông chủ, một tập đoàn tiền bạc, để dòng sông Hồng trở thành vật hiến tế cho phương Bắc, thành nhịp cầu như dải lụa mềm mại, thênh thang đón đội quân đầy tham vọng và thèm khát từ Phương Bắc tràn xuống!
“Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”, “hơi đồng” đã làm nghiêng ngả, ngây ngất cả bộ máy đã hí hửng đón rước Formosa vào đầu độc biển Đông, nay bộ máy đó đang cầm trong tay dự án ngông nghênh biến dòng sông Hồng của mọi người Việt Nam thương nước thành dòng sông Hồng của một người Việt Nam thương tiền!
Biển Đông đã chết! Dòng sông Hồng rồi sẽ mất! Người dân Việt Nam thế kỉ này rồi sẽ lại mang thân phận người dân Israel mấy thế kỉ trước mà thôi!
P.Đ.T.
Tác giả gửi BVN.