Hiển thị các bài đăng có nhãn Huỳnh Phan Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huỳnh Phan Anh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

Huỳnh Phan Anh: Thạch Lam, tiểu thuyết gia

Thạch Lam vẫn được xem là một nhà văn chuyên về truyện ngắn. Trong Tự Lực Văn đoàn và cả trong văn chương Việt-nam, tính đến thời đại ông, Thạch Lam gần như chiếm giữ một địa vị riêng biệt nhờ ở “một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những cảm tình, cảm giác cỏn con nẩy nở và biểu lộ ở đủ các hạng người, mà ông tả một cách thật tinh vi” (1). Chỉ cần ba tập truyện ngắn (Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc) lần lượt xuất bản trong khoảng cách năm năm (1937-1942), Thạch Lam đã khẳng định cho mình một giọng văn và từ đó một vũ trụ văn chương độc đáo bên cạnh những tài năng sáng chói cùng thời. Điều đáng nói là khác hẳn với Nhất Linh, với Khái Hưng, Thạch Lam viết rất ít: tác phẩm ông vỏn vẹn có sáu quyển trong số đó chỉ có bốn quyển thuộc loại sáng tác. Và cũng khác hẳn với hai nhà văn trên, Thạch Lam không thể hiện trong tác phẩm mình quá nhiều tham vọng vượt khỏi thẩm quyền và giới hạn của một nhà văn, một tác phẩm văn nghệ. Những cuốn sách của Thạch Lam cần được quan niệm trước tiên như những tác phẩm, những cách thế thể hiện của cái đẹp hay một chân lý thuần túy văn chương nào khác, trước khi chúng lãnh nhận một vai trò hay một sứ mạng nào ở bên ngoài chúng. Và có lẽ Thạch Lam khi cầm bút viết những trang sách đầy rung động và xúc động của mình cũng đã không có một ưu tư nào khác hơn là ưu tư nhằm thể hiện, biểu hiện, thực hiện những giá trị nghệ thuật bằng chính tâm hồn và chữ nghĩa của mình. Có thể nói rằng trên khắp các trang sách của Thạch Lam đều bàng bạc mối ưu tư cao cả đó. Tưởng tượng một tâm hồn nhà văn không ngừng lắng nghe và trò chuyện với từng nhân vật, từng cảnh trí, từng sự kiện hay sự vật nhỏ nhặt nhất góp phần làm nên cái thế giới giàu có ở bên ngoài hay ở ngay trong tác phẩm của hắn. Đọc Thạch Lam người ta dễ dàng bắt gặp tâm hồn nhà văn của ông như đang rung động theo từng dòng chữ ông viết nên. Có lẽ cũng vì thế người ta đọc Thạch Lam và thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, dễ chịu hơn khi đọc những tác phẩm mệnh danh là luận đề của hai tác giả nói trên. Vấn đề là tham dự vào những xúc động của tác giả, tham dự và, một cách nào đó, sống chính những xúc động đó. Văn Thạch Lam là một lời mời gọi không của lý trí sáng suốt đầy ẩn tình, ẩn ý mà của tâm hồn, không của tư tưởng mà của rung động và cảm tình.

Viết về Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan đã đi tới một kết luận như sau:
“Đọc các văn phẩm của Thạch Lam, người ta thấy ông chỉ sở trường về truyện ngắn. Trong truyện dài của ông, người ta thấy nhiều đoạn tỷ mỷ vô ích, nhân vật nào cũng giống nhân vật nào, làm cho người đọc phải chán. Sở dĩ các nhân vật trong truyện Thạch Lam giống nhau, là vì Thạch Lam đã đem những tính tình riêng của mình để tạo nên các nhân vật. Tất cả các nhân vật trong truyện của Thạch Lam đều có những cái phảng phất của tâm hồn Thạch Lam.” (Sđd. Tr.140)

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2020

Phạm Chu Sa: Huỳnh Phan Anh - Nhà giáo đi lạc vào văn chương

Những năm 1965-1975 là thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất, cũng là giai đoạn bùng nổ của văn học miền Nam với nhiều khuynh hướng, trường phái văn học, từ cực hữu đến thiên tả, từ dân tộc đến hiện sinh… Có thể coi đây như thời kỳ “trăm hoa đua nở” của văn học đô thị miền Nam với sự xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ đầy nội lực. Họ viết như sợ ngày mai sẽ không còn được cầm bút bởi chiến tranh không trừ một ai. Thế nhưng có vài nhà văn vẫn “dạo chơi” trong cõi văn chương, trong đó có nhà phê bình văn học - nhà văn - dịch giả Huỳnh Phan Anh, tuy rất nổi tiếng nhưng vẫn tự nhận mình là nhà giáo “đi lạc vào văn chương”. 

Những người đồng hành đi tìm tác phẩm văn chương 


Tác phẩm phê bình văn học đầu tay của Huỳnh Phan Anh là Người đồng hành hay Văn chương và kinh nghiệm hư vô  Kế đó là tập tiểu luận - phê bình Đi tìm tác phẩm văn chương với cách nhìn và cảm nhận mới về văn chương, một phương pháp phê bình hoàn toàn vượt thoát những định đề phê bình cổ điển. Hai tác phẩm này đã đưa Huỳnh Phan Anh trở thành cây bút phê bình hàng đầu của văn học miền Nam bấy giờ khi tuổi đời tác giả chưa tới 30. Sau đó, Huỳnh Phan Anh cùng với các nhà văn - nhà phê bình Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Hữu Trí và Đặng Phùng Quân quy tụ thành nhóm Đêm Trắng. Đêm Trắng là nhóm văn học có khuynh hướng hiện sinh, đi tìm cái mới trong văn chương để làm mới văn chương. Hầu hết thành viên của nhóm là nhà văn kiêm nhà giáo dạy văn học và triết học. Huỳnh Phan Anh rất ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng của Jean Paul Sartre, nhà văn - nhà triết học người Pháp, người có công xiển dương chủ nghĩa hiện sinh. 

Huỳnh Phan Anh cộng tác thường xuyên với bán nguyệt san Văn, tạp chí văn học uy tín ở miền Nam trước năm 1975. Anh còn cộng tác với các tạp chí, tuần báo văn nghệ Văn học, Vấn đề, Khởi hành... Ngoài phê bình, Huỳnh Phan Anh còn được biết đến là một dịch giả uy tín với những tác phẩm dịch tiêu biểu như Chuông gọi hồn ai của E. Hemingway, Lạc lối về của H. Boll, Tình yêu bên bờ vực thẳm (tức Khải hoàn môn) của E.M. Remarque, Victor Hugo - bí ẩn cuộc đời của A. Maurois, Thế giới của Sophie của J. Gaarder, Tình cuồng của R. Radiguet, Hợp tuyển thơ Yves Bonnefoy... Đặc biệt, tập thơ Rimbaud toàn tập là bản dịch đầy tâm huyết. Phải là một nhà thơ đích thực mới có thể chuyển ngữ được những câu thơ với ngôn ngữ đi trước thời đại hàng trăm năm của Rimbaud. Hơn 20 năm

Huỳnh Phan Anh: Một quan điểm về “Hồn bướm mơ tiên”

“... ở vườn sắn bên đồi, một chú tiểu quần nâu, áo nâu chân đi giép quai ngang sơ sài, đầu đội cái thúng đầy sắn, đương lần lừng bước leo xuống con đường hẻm. Thốt gặp người lạ, chú bẽn lẽn hai má đỏ bừng”.

(HB.MT, tr. 7)

Trên đây là hình ảnh của nhân vật “chú tiểu Lan” trong lần xuất hiện lần đầu tiên trên Hồn Bướm Mơ Tiên — cuốn sách đầu tay của Khái Hưng, — lần đầu tiên dưới mắt chàng sinh viên tên Ngọc, một nhân vật khác của cuốn truyện, cũng là lần đầu tiên dưới mắt người dọc. Điều đáng nói ngay ở đây là sự xuất hiện của chú tiểu Lan dưới mắt người đọc khác với sự xuất hiện của Ngọc ở mấv trang trước đó : đó là một biến cố. Và biến cố đó tức thì gây bàng hoàng cho người đọc và vẫn dìu dắt người đọc đi tới cùng. Vâng, tôi vẫn tin rằng ngay từ những trang đầu tiên, độc giả đã mang cùng một tâm trạng với Ngọc, “người lạ” đã khiến cho chú tiểu “bẽn lẽn hai má đỏ bừng”, đúng hơn là đã sống trọn vẹn cái tâm trạng bàng hoàng và khích động một cách nhẹ nhàng, kỳ thú đó. Câu truvện Hồn Bướm Mơ Tiên thật sự bắt đầu từ đây. Từ đâu ? Từ “hai má đỏ bừng” của chú tiểu Lan, kẻ phủ nhận mình là gái. Đó là khởi đầu của một cuộc phiêu lưu, cuộc phiêu lưu của nhân vật truyện, đồng thời của chính người đọc trong một phút nào đó cũng tự cho mình là một nhà trinh thám có bổn phận đi tìm sự bí mật của chú tiểu có “hai má đỏ bừng” kia.

Viết những dòng chữ trên đây, sau khi xếp lại quyển HBMT, sau khi đã đọc lại nó (không biết đâv là lần thứ mấy nhưng đối với tôi lần đọc lại nầy có giá trị của lần đọc thứ nhất, nghĩa là nó đương nhiên phủ nhận những lần đọc trước, phủ nhận những bóng ma nhàm chán của những lần đọc trước, cùng với những lối giải thích có phần từchương, thô sơ, dễ dãi vẫn còn tiếp tục lảng vảng đâu đây...), tôi chỉ còn giữ lại trong đầu óc tôi một hình ảnh đơn sơ và tuyệt diệu của HBMT, thoát ngoài — mav mắn thay — mọi luận đề, mọi tình tiết, mọi yếu tố câu chuyện liên quan tới ái tình hay tôn giáo, đó là hình ảnh một con đường, một chuvến đi, một cuộc hành trình với những khám phá kỳ thú nhưng không kém phần khốc liệt. HBMT trước hết chỉ là cuộc tìm kiếm hướng một hình ảnh, một đối tượng ẩn giấu. Đó là thân thể thật của người thiếu nữ đóng vai chú tiểu tên Lan, một thân thể thật

Nguyễn Hữu Hồng Minh: Huỳnh Phan Anh, từ 'kinh nghiệm hư vô' đến 'một mùa địa ngục' (1)

Nhà văn, dịch giả Huỳnh Phan Anh 
(1940 - 2020). 
Ký họa của họa sĩ Đinh Trường Chinh.
Nhà văn, dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời lúc 16h45 ngày 30-8 tại California - Hoa Kỳ (tức 6h45 sáng 31-8, giờ Việt Nam) hưởng thọ 81 tuổi. Ông là một nhà văn có bút pháp riêng và đặc biệt là một dịch giả nổi tiếng với rất nhiều tác phẩm được bạn đọc hâm mộ, tiêu biểu như Chuông gọi hồn ai (Ernest Hemingway), Tình yêu bên vực thẳm (Erich Maria Remarque), Sa mạc (Le Clézio), Lạc lối về (Heinrich Boll), Cỏ (Claude Simon)... Nhưng ít người biết, ông chính là người nặng nợ nhất với thi ca. DDVN giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hồng Minh.

Tôi biết tin nhà văn - dịch giả Huỳnh Phan Anh mất rất ngỡ ngàng và thật buồn vào buổi chiều đầu tuần ngày cuối tháng 8. Có tâm trạng đó vì đã lâu không biết, không nghe tin tức gì của ông. Tạm biệt Sài Gòn, ông đã chìm vào nước Mỹ không hoài vọng. Ông hoàn toàn im lặng không viết lách gì hết. Lần cuối tôi được gặp ông quay đi ngoảnh lại đã hơn 15 năm. Chính xác là trung tuần tháng 3.2005. Lần đó, biết tin ông nhập viện đột ngột vì chứng bệnh tim, tôi cùng một vài anh em văn nghệ buổi trưa đã vào thăm ông ở bệnh viện Chợ Rẫy. Bệnh viện chật, người đông nằm tràn ra hành lang. Nhận ra tôi, nhà văn rất vui. Ông mặt chiếc áo sơ mi cũ, chìa bàn tay ốm, lòi khuỷu cùi chỏ xương xương ra bắt.

Tôi nhớ kỹ việc này vì sau đó tôi có viết một bản tin lược thuật ngắn về bệnh tình của ông trên chuyên mục "Shop văn nghệ" của báo Thanh Niên. Tôi đã nhắc đến ông qua hình tượng “trái tim Arthur Rimbaud” đang bị ốm.

Huỳnh Phan Anh là một nhà văn phong cách, một dịch giả tên tuổi nhưng ẩn mình, khiêm tốn. Trong ký ức tôi khi nhớ về, không có một hình ảnh nào ông tỏ vẻ đạo mạo, ăn nói vung vít như những tay "nghệ sĩ" chữ nghĩa "nửa mùa" mà tôi từng thấy. Ông hiện thân như mẫu hình của một trí thức nghiêm cẩn. Nhìn kỹ còn có vẻ khắc khổ. Lúc nào cũng trầm tư như đang bị bao vây bởi những băn khoăn về câu cú, chữ nghĩa. Thật lạ lùng khi

Nguyễn Hữu Hồng Minh: Huỳnh Phan Anh, từ 'kinh nghiệm hư vô' đến 'một mùa địa ngục' (2)



Dịch giả Huỳnh Phan Anh đã làm được một công việc tối quan trọng mà chưa ai làm trước đó ở Việt Namdẫu đã có trải qua hàng trăm năm đi nữa. Đó là dịch "Một mùa địa ngục" và toàn bộ tước tác của thi sĩ ArthurRimbaud. Không dừng lại ở đó, trường hợp giới thiệu nhà thơ hiện đại Yves Bonnefoy trong lăng kính quychiếu của ông còn là một độc đáo khác. Tân cổ hợp bích...

Tôi còn nhớ cảm giác đầu tiên của mình khi cầm trên tay tác phẩm "Một mùa địa ngục" do nhà xuất bản Văn Học ấn hành. Hình bìa là chân dung cùa Rimbaud tắm trong màu đỏ kiêu hãnh chói ngời, tôi đã hân hoan và sung sướngnhư thế nào?

Những thi sĩ vĩ đại tôi có cảm giác gương mặt và câu thơ họ luôn nhô lên cao hơn các thế kỷ xung quanh. Thời gian có thể là rào chắn hầm mộ nhưng lại không bít được những kẽ hở cho sự bay vút lên của những câu thơ. "Ôi những mùa, những lâu đài / Có tâm hồn nào không lầm lỗi?". Câu thơ đó của Rimbaud có thể chữa thành có "thế kỷ nào không lầm lỗi" khi ngăn cản, vướng víu bước chân của thi sĩ? Và nữa, với cột mốc một trăm năm của cuộc đời hữu hạn thì đôi giày ngàn dặm của thi sĩ cũng đến lúc mòn vẹt đến đế và y phải gục xuống.

Nhưng tọa độ của y quy chiếu qua ngôn ngữ, qua thơ thì đâu giới hạn hay chỉ ở tầm ngắm hữu hạn của "đôi giày" ấy mà bay xa hơn. Tôi ghi lại đây hai câu thơ của tôi trích trong tập thơ đầu tay "giọng nói mơ hồ" như tiếp bước tặng thi sĩ vĩ đại Arthur Rimbaud: "Thơ mở ra thời đại, thơ bay qua cái chết / Thơ tiếng kêu thét tang thương thế kỷ anh đang sống...".

Một tổng kết có thể xem là khá đích đáng của một đời thơ: "Mặc dù sống một cuộc đời ngắn ngủi, thời gian sáng tác lại càng ngắn nhưng Rimbaud đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp. Ông là người cócông trong việc làm giàu ngôn ngữ, hình tượng cũng như thể loại thơ ca… Nửa cuối thế kỷ XX, Arthur Rimbaud trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng. Hình tượng Rimbaud được thể hiện qua rất nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới...".

Một nghiên cứu khác về "Một mùa địa ngục" cũng khá thú vị. Đây là thi phẩm toàn bích của thi sĩ và chỉ có thể bắt đầu khi sống kiếp giang hồ, du đãng. Có thể thấy qua niên biểu, cột mốc chính mở đầu của Rimbaud là khi ông đến Paris năm 17 tuổi. Sau một năm theo đuổi cách sống “hủy hoại các giác quan”, ông đã từng được biết đến qua đồn đãi bạn bè là người đàn ông "trụy lạc nhất thành phố". Nhưng đã sao? Khi hai năm sau đó vừa tròn 19 tuổi, thi sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình, thi phẩm “Một mùa địa ngục”. Huỳnh Phan Anh đã tái hiện lại toàn phần cuộc đời của thi sĩ bạo động vànáo động ấy qua những vần thơ dịch...

Bìa tập thơ "Một mùa địa ngục" của Arthur Rimbaud (giữa) và các dịch phẩm nổi tiếng khác của nhà văn, dịch giả Huỳnh Phan Anh.

DDVN giới thiệu 1 bài thơ độc đáo của Arthur Rimbaud qua bản dịch của dịch giả Huỳnh Phan Anh và chú giải của ông.

NGUYÊN ÂM - VOYELLES

A đen, E trắng, I đỏ, U lục
O xanh: nguyên âm, nảy sinh tiềm tàng 
A, bụng lông đen loài ruồi sặc sỡ
Vo ve quanh mùi hôi thúi hung hăng

E, vẻ trong trắng của lều và hơi.
Mũi băng chĩa, vua trắng, dù run rẩy, 
I, màu đỏ tía, máu phun, môicười
Trong giận dữ hoặc ngất ngây sám hối,

U, chu kỳ, chấn động của biển xanh, 
Niềm yên ả bãi chăn thú,sóng gợn,
Thuật luyện đan in lên vầng trán chăm

O, hồi kèn cuối cùng vang điệu lạ, 
Niềm im lặng của thế giới,thiên thần. 
Hỡi Omega, tia Mắt Nàng tím ngát!

Arthur Rimbaud

*Chú thích của dịch giả:

Bài thơ khơi gợi cả một văn chương với vô số những nỗ lực soi sáng, giải mã dựa trên những cơ sở khoa học lẫn văn học mặc dầu nói theo Verlaine, Rimbaud "bất cần A có màu đỏ hay màu lục, anh thấy nó như vậy, chấm hết!". Điều không chối cãi ở đây là Rimbaud gán cho màu sắc một giá trị biểu tượng, màu đen gợi ý tưởng về sự chết chóc, màu trắng thuần khiết, màu lục thanh thản..., và chàng đã viết nên bài thơ của mình bằng trực giác thị quan hơn là thính quan, chàng nhìn thay vì nghe các nguyên âm. Từ đó, nói theo Suzanne Bernard, bài thơ gợi lên dưới mắt người đọc những bức tranh rực rỡ, những hình ảnh chuyển động, một thứ kính vạn hoa lấp lánh màu sắc và ấn tượng. Sự liệt kê không bình thường từ A tới O (còn gọi Oméga) cho thấy Rimbaud muốn bao gồm cả cái toàn thể, cái phổ quát. Hồi kèn cuối cùng tức hồi kèn tận thế đánh dấu sự kết thúc của thời gian, điểm Oméga của thế giới...". (Trích "Rimbaud toàn tập" - Huỳnh Phan Anh dịch - Nxb Văn Nghệ 2006).

***

Nhà văn, dịch giả Huỳnh Phan Anh và nhà thơ đương đại nổi tiếng thế giới Yves Bonnefoy (Ảnh tư liệu của nhà thơ Vũ Trọng Quang)

Nhưng sẽ thật khó thuyết phục nếu như chúng ta không thử làm một phép so sánh khác. Đó là khi đi tìm cái hay cái đẹp của thơ, Huỳnh Phan Anh hoàn toàn không bị câu rút giữa hai vế từ "mới và cũ". Bởi không chỉ dịch toàn bộ tước tác của Arthur Rimbaud, một thi sĩ Tân cổ điển mà đến hôm nay vẫn là một cột mốc của thơ khá quan trọng mà dịch giả còn quan tâm đến những thi sĩ hiện đại hay đỉnh Tân thời đại. Trường hợp của Yves Bonnefoy trong lăng kính quychiếu của Huỳnh Phan Anh là một độc đáo khác.

Yves Bonnefoy là một thi sĩ hiện đại chứ không cổ điển như Arthur Rimbaud. Và những thi phẩm của ông cũng đượcgiới nghiên cứu phê bình, ngôn ngữ, hình thức thơ đánh giá là "khó bậc nhất". Thật lạ lùng khi ông là một nhà thơ nhưng luôn luôn đề cao thơ và không dám nhận mình là... thi sĩ! Bởi tước hiệu "Nhà thơ" với với ông mạnh hơn bất kỳmột từ ngữ nào và ánh sáng kỳ ảo của nó luôn luôn quyến rũ, khêu gợi, kêu gọi ông đi tới. Và dẫu có viết bao nhiêu bài thơ, in rất nhiều thi phẩm thì "nhà thơ' với ông cũng là cái đích để ngưỡng vọng và phấn đấu đi tới. Điều này cũng là một hấp lực với Huỳnh Phan Anh khi ông chọn dịch chăng? Với một người làm nghệ thuật chân chính thì khát vọng là chân trời chứ không phải những đám mây mù từ những cái ngỡ đã viết ra.

Yves Bonnefoy nói về thơ: "Người ta không nên gọi mình là nhà thơ. Nó sẽ là tự phụ. Nó có nghĩa là người ta đã giải quyết được những vấn đề mà thơ đưa ra. Nhà thơ là một từ mà người ta có thể sử dụng khi nói về người khác, nếungười ta ngưỡng mộ họ đủ. Nếu ai đó hỏi tôi làm nghề gì, tôi sẽ nói tôi là một nhà phê bình, hoặc một nhà sử học...".

Như vậy rõ ràng ông đã nói về công việc của mình một cách vừa khiêm tốn, vừa kiêu hãnh bậc nhất. Và mệnh đề "Thơ" và vai trò của "Nhà Thơ", không có đối thủ và hình như, đã vượt lên trên tất cả như tôi đã phân tích ở trên.

Một trong những bài thơ hay mà Huỳnh Phan Anh đã chuyển ngữ như "một giọng nói khác".

MỘT GIỌNG NÓI KHÁC - UNE AUTRE VOIX

Em giữ tóc hay tro của Phượng hoàng
Cử chỉ nào em thử phác ra khi tất cả dừng lại

Và khi nửa đêm trong vật thể soi sáng những chiếc bàn? 

Dấu hiệu nào em giữ lại trên đôi môi bầm đen của em
Lời nói thả hại nào khi tất cả lặng im

Que củi cuối cùng còn cháy khi lò lửa ngập ngừng và đóng lại? 

Tôi sẽ sống trong em, tôi sẽ tước đoạt trong em
Mọi ánh sáng

Mọi hiện thân, mọi cản trở ngầm, mọi luật lệ

Và trong khoảng trống, nơi tôi nâng em lên, tôi sẽ mở ra 
Con đường sấm sét

Hoặc tiếng thét vang dội vật thể chưa thử bao giờ 

Nếu đêm này khác với đêm
Em hãy hồi sinh, tiếng nói xa xôi, lành thánh 
Em hãy đánh thức
Thứ đất sét chắc nhất nơi hạt đã ngủ

Em hãy nói: tôi chỉ còn là vùng đất khát vọng 
Cuối cùng đây là những từ củabình minh và mưa 
Nhưng hãy nói tôi là vùng đất thuận lợi
Hãy nói còn chăng một ngày vùi lấp 

Yves Bonnefoy

(Huỳnh Phan Anh dịch - NXB Hội nhà văn 1999)

Tiểu sử của thi sĩ hiện đại Yves Bonnefoy có thể tóm tắc như sau. Ông sinh năm 1923, là một nhà thơ và nhà sử học nghệ thuật người Pháp. Ông đã xuất bản một số tác phẩm, đáng chú ý nhất là tập thơ "Về chuyển động và bất động của nhân đôi" (Du mouvement et de l'immobilité de Douve) vào năm 1953. Đây là thi phẩm như ông trả lời báo chí "tôi tìm được tiếng nói của mình và được chú ý". Trước đó ông chuyển dịch các vở kịch của William Shakespeare được coi là một trong những tác phẩm hay nhất bằng tiếng Pháp. Ông là giáo sư tại Collège de France từ năm 1981 đến năm 1993 và là tác giả của một số tác phẩm về nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật và các nghệ sĩ bao gồm Miró và Giacometti , và một chuyên khảo về nghệ sĩ Iran Farhad Ostovani ở Paris. Bonnefoy được giới nghiên cứu phê bình đánh giá "là nhà thơ Pháp quan trọng nhất của nửa sau thế kỷ 20". Một đặc biệt khác của phong cách thơ Bonnefoy là ông quan tâm đến việc khai triển từ sự đơn giản đến khó hiểu của từ vựng. Từ đối với ông là sinh mệnh và quyết định việc thànhcông hay không của một bài thơ.

Bìa Tuyển thơ Yves Bonnefoy do dịch giả Huỳn Phan Anh chuyển ngữ - Nxb Hội Nhà Văn.

Thật thú vị trong quá trình chuyển ngữ thơ của một thi sĩ lớn mà khi ông qua đời, tổng thống François Hollande đã tuyên bố nhà thơ đã "nâng tầm ngôn ngữ của chúng ta lên mức độ chính xác và vẻ đẹp tuyệt vời" thì giữa dịch giả Huỳnh Phan Anh và Yves Bonnefoy thường xuyên trao đổi thư từ cho nhau. Qua dịch giả Nguyễn Duy Bình tôi đã có trong tay lá thư của thi sĩ. Tình bạn giữa họ vô cùng đẹp đẽ. Thật đáng trân trọng và kính trọng...

(Còn tiếp 1 kỳ)

Sài Gòn, Tòa soạn DDVN, thứ Bảy, 5.9.2020Nguyễn Hữu Hồng Minh