Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Vũ Ánh - Sửa đổi Hiến Pháp Việt Nam: Trăm hoa đua nở?


Vũ Ánh

Khi đến nhận giải thưởng báo chí dành cho công dân mạng Netizen ở Pháp, nhiều người hỏi rằng làm cách nào mà một người khi viết những bài báo đưa ý kiến hủy bỏ điều 79 và 88 về tội tuyên truyền chống nhà nước và chủ trương đa nguyên, đa đảng mà không bị bắt thì nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh trả lời họ bị chưa bị bắt không có nghĩa là họ sẽ không bị bắt.


Một nhà báo độc lập và không hoạt động cho một tổ chức nào vẫn có thể bị bắt bất cứ lúc nào tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo ông Chênh, kinh nghiệm cho ông thấy tại Việt Nam hiện nay, một nhà báo công dân không thuộc hay không tham gia vào bất cứ tổ chức nào sẽ không tạo cho nhà cầm quyền cái cớ thuận tiện để họ bắt giữ. Câu nói này của ông Chênh có thể hiểu theo nhiều cách nhìn khác nhau. Cá nhân, tôi cho rằng nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh muốn nói tới tính chất độc lập và dựa trên sự thật của người viết báo dù là báo in hay báo mạng trong những xã hội mà nền báo chí bị kiểm duyệt cũng có thể khiến cho nhà cầm quyền phải suy tính hơn, thiệt khi muốn dùng bạo lực chuyên chính để bịt miệng những người có những ý kiến khác với họ. Dĩ nhiên, ý kiến của ông Huỳnh Ngọc Chênh không hẳn là đúng 100%, nhưng ít ra nó cũng đã giúp tạo ra một lá chắn tạm thời “có thể” đỡ đần được phần nào những thành phần bị hoạn nạn khi bày tỏ suy nghĩ riêng tư của mình vốn rất khác biệt với cường quyền.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh không muốn nói huỵch toẹt ra mà chỉ muốn hàm ý đã làm báo và truyền thông ở Việt Nam thì không nên hiểu quá xa những giới hạn một nền báo chí và truyền thông còn đang bị thách thức bởi những lưỡi kéo kiểm duyệt, nhưng ít ra nó cũng cho thấy một giải pháp tạm thời để có thể tiếp tục tồn tại để làm những công việc mà mình muốn.

Nếu đi ngược lại thời gian của hai thập niên đầu tiên và vào giai đoạn mà Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn Văn Linh cổ võ “perestroika” mà ông ta gọi là “đổi mới tư duy” với những việc “cần làm ngay” để phá vỡ chế độ bao cấp, giới hạn đó lên tới cấp giám đốc và về phía đảng chỉ lên tới bí thư tỉnh ủy là cùng. Giở lại những số báo cũ của 15 năm trước đây của tờ Thanh Niên, Tuổi Trẻ và Người Lao Ðộng và mới đây tiềm ẩn trong những tài liệu được trích thuật lại trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc,” người đọc sẽ thấy rõ những giới hạn ấy. So sánh thời kỳ đó và hiện nay, người ta không thể phủ nhận rằng những vòng trói của đảng CSVN ở cổ tay những nhà báo nhà văn trong nước dù đã được nới lỏng nhiều, nhưng bất cứ lúc nào muốn họ siết lại cũng không có gì khó khăn.

Chỉ cần ông Hoàng Khương, một tay viết phóng sự khá hấp dẫn cho tờ Thanh Niên viết một bài tố cáo tham nhũng bằng cách hối lộ cho công an để có tài liệu dẫn chứng, ông bị khốn đốn ngay. Thực ra chuyện này sẽ chẳng thành vấn đề gì nếu nhà báo Hoàng Khương không dụng tới ngành công an là ngành đang đang bị tai tiếng tham nhũng không phương gột rửa. Mới đây nhất, nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên mất việc ở tờ Sức Khỏe và Gia Ðình chỉ vì những bài viết chỉ trích lời tuyên bố của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi ông ta lên tiếng đe dọa những người ký kiến nghị đòi hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp. Sau đó, ông Trọng thì không hề đề cập gì đến phản ứng của nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên, nhưng ai cũng biết rằng bộ máy bên dưới ông ta đã khởi động ngay, và chưa cần họ ra tay, người tổng thư ký của tờ báo đã phải đuổi việc nhân viên của mình trước. Tuy mất việc, nhưng ông Nguyễn Ðắc Kiên nói ông thông cảm với người sếp của mình với một lời lẽ người ta có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhưng ai cũng thấy cái vạch vôi bất khả xâm phạm chung quanh những chiếc ghế lãnh đạo trong đảng Cộng sản dù chỉ được vạch ra bằng vôi, nhưng rõ ràng không ai xâm phạm vào mà không phải trả giá.

Nhưng có người lại nêu trường hợp ông Ðoàn Văn Vươn đòi đất ở Tiên Lãng như là một trường hợp tức nước vỡ bờ điển hình nhất và báo chí đã nhất loạt “đụng” tới vụ này. Thật ra nếu duyệt xét những diễn biến từ đầu đến cuối của nội vụ, người ta thấy ngay đây chỉ là một trò biểu diễn của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào lúc ông mới được bầu nhiệm kỳ 2 nhằm tái tạo lại uy tín sau khi đã bị những kẻ “nội thù” trong đảng quăng quật về vụ bê bối ở Vinashin và vụ in tiền polymer. Và chỉ giới hạn ở vụ này mà thôi. Trong những vụ dân đòi đất khác tiếp theo, báo chí truyền thông trong nước lại trở về tình trạng “im lặng vô tuyến.”

Thật ra, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu lại một danh sách khá dài những vụ xảy ra liên tiếp chung quanh các vụ tai tiếng cốt lõi của Việt Nam mới có thể đưa ra những kết luận chính xác hơn. Những trường hợp tôi vừa nêu ở trên để đưa ra những cảnh báo rằng không nên đánh giá thấp hay đánh giá cao khả năng kiểm soát dư luận của đảng và chính phủ Việt Nam Cộng sản, mà phải nhìn vào thực tế để tìm cho mình một con đường tồn tại nếu quả thực những nhà báo lề trái còn nuôi lý tưởng sẽ nhất định phải làm một điều gì đó cho giá trị dân chủ, tự do và nhân quyền cho Việt Nam.

Ảnh hưởng của truyền thông và báo chí nói chung chỉ thấm dần vào tâm trí quần chúng nếu nó được khéo léo duy trì. Muốn gia nhập vào dòng báo chí truyền thông lề trái ở Việt Nam mà chỉ sau bài báo đầu tiên mà nhà báo ấy đã bị đưa vào “cũi” thì người di chuyển bên lề trái sẽ thưa thớt dần đi, sẽ thiếu sức mạnh đoàn kết thì còn gì niềm tin nữa? Tôi không biết cuộc Cách Mạng Nhung ở Ba Lan thập niên 1980 có một hệ lụy nào về tầm quan trọng cho nhà lãnh đạo các phong trào cách mạng khởi đi từ trong lòng đất địch hay không, nhưng một số lãnh tụ chính trị của Công Ðoàn Ðoàn Kết Ba Lan còn sống mà tôi được hân hạnh nói chuyện ở thủ đô Warsaw và hải cảng Gdansk đều cho rằng điều làm họ sợ nhất là thủ lãnh Lech Walesa của họ bị bắt và bị Tướng Jaruzelski tống xuất ra nước ngoài.

Họ giải thích rằng thực tình vào lúc đó, những nhà hoạt động trong phong trào không kiếm đâu ra được một người trầm tĩnh, nhẫn nại, tài ba và có đầu óc thực tế để thay mặt Walesa tại nội địa Ba Lan vào lúc đó. Vẫn theo những nhân chứng này nếu không may mà tình hình này xảy ra, bao nhiêu công lao trường kỳ mai phục của dân chúng Ba Lan chờ đợi ngày N giờ G sẽ ra sông ra biển hết.

Từ những bài học trong chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” vào năm 1956 tại miền Bắc Việt Nam và 1975 tại miền Nam Việt Nam, “Mùa Xuân Tiệp Khắc” 1968 và cuộc Cách Mạng Nhung ở Ba Lan, tôi không tin rằng Hà Nội có nhu cầu sửa đổi Hiến Pháp 1992. Không lẽ một người như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng hay Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng lại không biết sự nguy hiểm khi họ chấp nhận cho lấy ý kiến về việc sửa đổi Hiến Pháp? Từ lâu, không lẽ họ lại không biết rằng các điều khoản 79, 88, những đòi hỏi về đa nguyên đa đảng với một chính quyền tam quyền phân lập của một số những nhà bất đồng chính kiến và nhất là việc đòi bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp đang là những mũi tấn công mạnh mẽ từ dư luận hải ngoại và những nhà trí thức và nhân sĩ trong nước?

Người Cộng sản đã biết và thừa biết rằng Ðiều 4 Hiến Pháp là cái xương sống cho đảng của họ không thể để nó bị chặt gãy được. Vì thế tôi cho rằng ý kiến sửa đổi Hiến Pháp do chính quyền Việt Nam nêu ra đã được dùng như một thứ vũ khí cho một chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” khác để biết rõ dư luận thầm lặng ủng hộ việc đốn ngã cái xương sống của đảng CSVN đến từ đâu, ở khu vực nào, ở tổ chức nào, nhất là lần này Hà Nội biết được thái độ rõ rệt của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.

Những tháng sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi đưa các cựu sĩ quan và công chức VNCH vào trại cải tạo, Hà Nội tính đến chuyện bình định các nhóm chống đối còn lại. Những nhân viên tình báo và công an chìm của Cộng sản được lệnh phao tin đồn: trong những khu rừng rậm ở Miền Nam Việt Nam còn tàn quân VNCH. Lập tức vụ nhà thờ Vinh Sơn nổ ra, lực lượng vũ trang còn non yếu của Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vội vã hoạt động ra mặt, rồi mặt trận Phục Quốc nổi lên. Nhưng theo cách tường thuật lại của những anh em Phục Quốc bị bắt và bị giam chung với chúng tôi thì một phần đường dây tuyển mộ của lực lượng này thường bị công an gài. Họ cứ bắt được nhóm này thì lần ra nhóm kia. Và đến Tháng Tám 1975, Hà Nội kéo mẻ lưới cuối cùng. Do tai nghe, mắt thấy qua những nhân chứng của các phong trào nhằm phục quốc bị bắt và bị nhốt chung một trại cải tạo với chúng tôi, kể cả những người mang án tử hình và chung thân, tôi chiêm nghiệm ra một điều: tầng lớp thanh niên yêu nước ở miền Nam Việt Nam vào giai đoạn ấy nhiều lắm, họ rất mong được cầm súng chiến đấu, tinh thần dân chúng ủng hộ VNCH lên cao, nhưng do không có một chút kinh nghiệm nào về trường kỳ mai phục, về tổ chức, về nuôi dưỡng phong trào, lại nóng vội và cả tin vào những lời của bọn công an gài trong các đường dây tuyển mộ và tổ chức khi chúng phao tin nào là ông Thiệu bí mật về nằm ở Phan Rí, nào là ông Kỳ đang ở Rừng Sát, nào Tướng Trưởng bí mật về lập chiến khu ở U Minh Thượng vân vân và vân vân.

Nói cho ngay, vào giai đoạn đó, sau khi mất vùng đất thân thương là Miền Nam thì người Miền Nam mới thấy quí và tiếc vùng đất ấy, nhưng khốn thay mọi chuyện đều đã trở nên quá muộn.

Cho nên tôi tin rằng việc Hà Nội lấy ý kiến dân để sửa đổi Hiến Pháp chỉ là chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” mà thôi. Những người cả ở hải ngoại và trong nước nếu quả thật đang trông đợi Hà Nội thay đổi như Miến Ðiện thay đổi, chắc hẳn đã nghe lời đe dọa và khẳng định dứt khoát của Nguyễn Phú Trọng cũng như Nguyễn Sinh Hùng: không được bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp.

Không bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp thì không bỏ các điều khoản khác được. Chế độ cộng sản cũng không có sức và không dại gì bắt giữ những người ký vào Kiến Nghị Sửa Ðổi Hiến Pháp hay Hội Ðồng Giám Mục. Chiến thuật chuyên chính của người Cộng sản hiện nay coi bắt giữ chỉ là biện pháp cuối cùng, cái chính để ngăn ngừa hữu hiệu các biến động chính trị khỏi nổ ra là “cô lập” để ngăn chặn và răn đe.

Nếu đọc các blog ngày nay, người ta thấy nhiều tác giả viết ra những suy nghĩ rất “bạo” mà không bị bắt bởi có khi công an lờ đi vì đó vẫn chỉ là ý kiến của một cá nhân. Nhưng chỉ cần những blogger liên lạc với nhau để trở thành một phong trào là họ bắt ngay. Những trường hợp như các blogger Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Anhba Saigon, những thanh niên trí thức như Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, các thanh niên Công Giáo địa phận Vinh và Nguyễn Phương Uyên là những bằng chứng điển hình!

Cho nên, suy đi nghĩ lại có thể hiểu rằng những khuyến cáo của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh có một phần giá trị thực tế. Phải làm cách nào đó sống còn và tiếp tục viết trong giới hạn của sự kiểm soát lúc bị siết lại, lúc lỏng lẻo để còn có cơ hội chuyển tải ý tưởng dân chủ tự do đến khối dân chúng, giúp cho họ hiểu vai trò của họ trong cuộc tranh đấu vì dân chủ, tự do và quyền thiêng liêng của con người. Huỳnh Ngọc Chênh đã có những chuyện kiếm hiệp tưởng tượng rất vui, nhưng dựa trên người thật việc thật ngay trong xã hội Việt Nam thời đại này.


Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Phan Quang Tuệ - A HOUSE DIVIDED AGAINST ITSELF CANNOT STAND - Anh em xâu xé, nhà tất sụp!

A HOUSE DIVIDED AGAINST ITSELF CANNOT STAND
Anh em xâu xé, nhà tất sụp! (Abraham Lincoln, 1858)

                                 Phan Quang Tuệ - 

(Ngày 22 tháng 7 vừa qua tại St.Paul, Minnesota tôi đọc một bài tham luận với đề tài: “Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí trong đời sống quốc gia và sinh hoạt cộng đồng”.  Bài nói chuyện được đọc nhân dịp kỷ niệm một năm phát hành báo Người Việt Minnesota và Ngày Truyền Thông Báo Chí Việt Ngữ tại Minnesota.  Bài nói chuyện được phổ biến rộng rãi trên báo chí và các trang mạng Việt Ngữ, gây nên nhiều phản ứng.  Những phản ứng chống đối cho rằng bài viết của tôi nhằm mục đích bênh vực báo Người Việt California sau khi báo này chọn đăng một lá thư của một độc giả trong đó có đoạn viết: “Ngày 30 tháng 4, 1975 là một ngày vui mừng của dân tộc, và VNCH là bè lũ tay sai của giặc Mỹ”.  Trong số phản ứng trên hệ thống trang mạng Việt Ngữ  có 2 bài gởi đích danh cho tôi là của Bác Sĩ Trần Văn Tích và Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Khôi.  Tôi đã liên lạc với hai vị trên qua điện thư và hứa sẽ có bài trả lời.  Đây là lý do của bài viết này, vừa trả lời hai vị bác sĩ, vừa trả lời chung cho những quý vị đã lên tiếng về vấn đề này.  Tôi sẽ đề cập đến hai vấn đề: (1) Nói rõ thêm về tự do ngôn luận và tự do báo chí trong Tu Chính Án Thứ Nhất và (2) Trả lời câu hỏi phải chăng sự có mặt của tôi tại St. Paul, Minnesota cũng như bài nói chuyện của tôi nhằm mục đích bênh vực cho báo Người Việt California hay không?)

Thẩm phán tòa di trú liên bang, Phan Quang Tuệ, 
phát biểu trong đại hội kỳ 10, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, 
vào ngày 21 tháng 10, tổ chức tại Nhật báo Người Việt. 
(Hình: Dan Huynh)

Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí trong Tu Chính Án Thứ Nhất:
Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ được đại biểu của 13 tiểu bang biểu quyết chấp thuận ngày 17 tháng 9 năm 1787 tại Philadelphia.  Toàn bộ Hiến Pháp thực ra không dài lắm, chỉ gồm 7 điều khoản.  Bản văn chỉ quy định mà không giải thích.  Bản văn cũng chẳng đưa ra một lý thuyết hay nguyên tắc căn bản nào như kiểm soát và cân bằng (checks and balances), phân quyền (separate powers), hay vai trò phán xét của tư pháp (judicial review).  Muốn tìm hiểu ý nghĩa và giải thích thẩm quyền (authoritative interpretation) bản Hiến Pháp Hoa Kỳ và 10 tu chính án đầu tiên, người ta cần phải đọc 85 bài khảo luận được viết bởi ba cây viết: James Madison, Alexander Hamilton và John Jay cùng viết chung dưới một bút hiệu là “Publius”.  Bài đầu tiên được viết ngày 27 tháng 10, 1787.  Bài thứ 85 được viết ngày 28 tháng 5, 1788.  Họ viết đều đặn, liên tục, các bài viết xuất hiện 4 lần một tuần.  Tất cả các bài viết này được gọi chung là The Federalist Papers.

Tu Chính Án Thứ Nhất nói về tự do báo chí và tự do ngôn luận nằm trong 10 Tu Chính Án gọi chung là Bill of Rights được biểu quyết thông qua ngày 15 tháng 12, 1791 tức là hơn 3 năm sau khi Hiến Pháp Hoa Kỳ được ban hành.

Muốn tìm lời giải thích về tự do ngôn luận và tự do báo chí trong Tu Chính Án Thứ Nhất, người ta phải trở về với bài Federalist số 84 viết vào ngày 28 tháng 5, 1788, tức 3 năm trước đó, mà tác giả là Alexander Hamilton.

Hamilton viết như sau:
“Why, for instance, should it be said, that the liberty of the press shall not be restrained, when no power is given by which restrictions may be imposed?....


What is the liberty of the press?  Who can give it any definition which would not leave the utmost latitude for evasion?  I hold it to be impracticable; and from this, I infer, that its security, whatever fine declarations may be inserted in any constitution respecting it, must altogether depend on public opinion, and on the general spirit of the people and of the government.  And here, after all, as intimated upon another occasion, must we seek for the only solid basis of all our rights.  (Gạch dưới là do tác giả thêm vào).

"Tại sao, chẳng hạn, lại nên nói rằng tự do báo chí sẽ không được kiềm chế khi không có quyền lực nào được tạo ra để có thể dùng vào việc kiềm chế đó?...

"Tự do báo chí là gì?  Liệu ai có thể định nghĩa được nó mà không để hở ra một không gian tối đa cho sự chạy thoát.  [Bởi thế mà] tôi cho điều đó là bất khả; và từ đó tôi rút ra kết luận rằng sự an toàn về mặt tự do báo chí là, dù bạn có thể đưa những lời lẽ đẹp đẽ nhất vào trong một hiến pháp tôn trọng nó, sẽ bắt buộc phải tuỳ thuộc vào công luận cũng như vào tinh thần chung của người dân và của chính quyền.  Và, cuối cùng thì như tôi đã ngụ ý trong một dịp khác, chính ở đây là nơi ta phải tìm cơ sở độc nhất cho tất cả mọi quyền của chúng ta." (Gạch dưới do tác giả thêm vào)

Hoá ra là như vậy!!  224 năm trước đây một tác giả lỗi lạc nhất của Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ, của Tu Chính Án Thứ Nhất, đã viết trong lá thư Federalist paper thứ 84 là tìm cách định nghĩa tự do báo chí là một điều không thực tế, và mọi cố gắng để mang lại một ý nghĩa cho ý niệm tự do báo chí đều phải tùy thuộc vào công luận (public opinion) và dân trí (general spirit of the people).  Và theo Hamilton, đây mới là nơi chúng ta cần phải dựa vào để tìm căn bản vững chắc duy nhất cho mọi thứ dân quyền.

Không những thế, làm sao có thể quy định rằng tự do ngôn luận không bị hạn chế trong khi không có bất cứ một điều khoản nào quy định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là gì??  Và suy ra từ những câu hỏi và phương cách đặt vấn đề của Hamilton thì câu trả lời là ý dân và dân trí.  Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí bắt nguồn từ ý dân, và giới hạn của hai quyền này cũng lại là … ý dân.  Và vì thế mới có Tu Chính Án Thứ Nhất:
“Congress shall make no law…. abridging the freedom of speech, or of the press!!”

"Quốc hội sẽ không làm ra luật nào... giới hạn tự do ngôn luận hay tự do báo chí!!"

Bênh vực một tờ báo hay bênh vực quyền tự do ngôn luận?
Vị trí đúng nhất của lá thư của độc giả Sơn Hà là sọt rác.  Tờ Người Việt California đăng lên mới thành có chuyện.  Và gây công phẫn.   Mới đầu còn nhỏ, sau lan rộng.  Có nhiều buổi họp được triệu tập.  Có tuyên cáo chung.  Có kêu gọi tẩy chay, biểu tình.  Có áp lực đòi sa thải nhân viên đã chọn đăng lá thư.  Có áp lực đòi tờ báo phải công bố lý lịch của độc giả Sơn Hà trong khi đây chính là điều tối kỵ trong ngành báo chí luôn luôn giữ kín nguồn tin.  Có ý kiến lập Ủy Ban theo dõi phân tách các bài của báo Người Việt. Nói cách khác cần lập ngay một Ban Kiểm Duyệt ngay giữa lòng cộng đồng người tỵ nạn Cộng Sản đi tìm tự do!

Vậy có nên lập luôn một uỷ ban kiểm soát và chỉ đạo tư tưởng hay không?  Cộng Đồng có nên thành lập một ủy ban quy định những điều mọi người tỵ nạn phải tuân theo trong những sinh hoạt của cộng đồng như chào cờ, phủ cờ, hát quốc ca VNCH, hay đặt bàn thờ tổ quốc.  Và khi quy định những điều khoản này thì phải lập ra những đoàn cảnh sát để kiểm soát việc thi hành.  Đây có phải là điều chúng ta muốn cho cộng đồng dân Việt tỵ nạn trở thành hay không?

Báo Người Việt California, hay bất cứ tờ báo nào khác, không những là một cơ quan ngôn luận mà còn là một cơ sở thương mại, cung cấp công ăn việc làm cho nhân viên, và nhờ đó những nhân viên này nuôi sống gia đình, đóng thuế, đóng góp vào ổn cố và thịnh vượng của cộng đồng chúng ta nói chung.  Nhân danh điều gì, lý tưởng nào, để cắt nguồn sống của bao gia đình?

Và sau khi đóng cửa được báo Người Việt California rồi thì đến phiên báo nào?  Cơ sở thương mại nào?  Phòng thuốc nào?  Phòng mạch nào?  Tiệm ăn nào?  Chợ nào? Quán cà phê nào?  Tiệm phở nào? Tiệm hủ tíu nào?  Tiệm bánh mì nào?  Tiệm làm móng tay, cắt tóc nào? Có phải đây là điều chúng ta muốn cộng đồng dân Việt trở thành không?

George Orwell là một nhà văn Anh Quốc của đầu thế kỷ 20.  Ông căm thù cộng sản và nổi tiếng qua hai tác phẩm Animal Farm (Trại Gia Súc) và “1984”.  Trại Gia Súc là một truyện giả tưởng về một cuộc nổi loạn của các gia súc.  Sau khi chiếm được trại, hai con heo lãnh đạo, Napoleon và Snowball, đã họp toàn thể các gia súc trong trại và đưa ra Bảy Điều Răn (The Seven Commandments) cho mọi gia súc phải tuân theo,  Bảy Điều Răn (The Seven Commandments) như sau:
  • Whatever goes upon two legs is an enemy
  • Whatever goes upon four legs, or has wings, is a friend
  • No animal shall wear clothes
  • No animal shall sleep in a bed
  • No animal shall drink alcohol
  • No animal shall kill any other animal
  • All animals are equal
  1. Bất cứ cái gì đi trên hai chân đều là kẻ thù
  2. Bất cứ cái gì đi trên bốn chân, hay có cánh, đều là bạn
  3. Không súc vật nào được ăn mặc quần áo
  4. Không súc vật nào được ngủ trên giường
  5. Không súc vật nào được uống rượu
  6. Không súc vật nào được giết một súc vật khác
  • Mọi súc vật đều bình đẳng
Thời gian qua, các khẩu hiệu và 7 điều răn thay đổi.  Khẩu hiệu hai chân, bốn chân được đổi như sau: “Four legs good, two legs better! Four legs good, two legs better”!  ("Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn!  Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn!")

Và 7 điều răn chỉ còn lại một điều thứ 7 được sửa lại như sau:
“All animals are equal
But some animals are more equal than others!!”

"Mọi súc vật đều bình đẳng
"Nhưng cũng có vài con bình đẳng hơn những con khác!"

Nghe đâu giống như “Kinh Tế Thị Trường theo Xã Hội Chủ Nghiã” của Cộng Sản Việt Nam ngày nay!

Tất cả mọi người đều quen với một bức ảnh ô nhục nói lên bộ mặt áp bức của chế độ Cộng Sản.  Đó là bức ảnh một tên công an bịt mồm linh mục Nguyễn Văn Lý.  Ai trong chúng ta muốn làm bàn tay bịt miệng quyền tự do phát biểu của người khác?

Mục đích bài nói chuyện của tôi ở St. Paul, Minnesota không nhằm bênh vực báo Người Việt California hay bất cứ báo nào khác.  Mục đích và ý nghĩa bài nói chuyện là để nhắc nhở về sự cần thiết bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của tất cả mọi người dân Việt yêu chuộng tự do.

Rudyard Kipling là một nhà văn, nhà thơ Anh Quốc đầu thế kỷ thứ 19.  Ông là nhà văn Anh Quốc đầu tiên được giải Nobel về văn chương.  Tôi biết đến Kipling qua một bài thơ mà thân phụ tôi đã gửi cho tôi khi tôi còn là một thiếu niên mới bắt đầu vào ngưỡng cửa trung học.  Thân phụ tôi giờ đã qua đời, và tôi cũng đã trên 70, nhưng bài thơ này luôn là một ngôi sao Bắc Đẩu làm kim chỉ nam đối với tôi.  Tựa bài thơ là “If”, bài thơ nổi tiếng nhất của Kipling, xuất hiện vào năm 1910.  Tôi muốn trích dẫn vài đoạn để làm kết luận cho bài viết này.

“If you can keep your head when all about you
Are losing theirs and blaming it on you,
If you can trust yourself when all men doubt you,
But make allowance for their doubting too;
…..
If you can bear to hear the truth you’ve spoken
Twisted by Knaves to make a trap for fools,

Yours is the Earth and everything that’s in it,
And, which is more, you’ll be a Man, my son.”


"Nếu con giữ được cái đầu bình thản
"Trong khi mọi người đã mất mà còn trách móc con,
"Nếu con vẫn tin được ở mình dù bị mọi người ngờ vực
"Mà vẫn không chấp điều người ta ngờ vực;
"...........

"Nếu con chịu đựng được những sự thật mà con đã nói ra
"Bị vặn vẹo bởi những kẻ tồi tàn để bẫy những thằng điên,
"...........

"Thì, con ạ, Trái Đất thuộc về con và tất cả trên Đất ấy,
"Và hơn nữa, con ạ, bởi con đã thành Người."

Qúy vị cùng thế hệ với tôi chắc rất quen thuộc với những bài học trong ngụ ngôn của La Fontaine, một nhà thơ Pháp thế kỷ thứ 17.  Trong bài vịnh về cái bị có hai túi (la besace), có đoạn thơ như sau:
“Nous nous pardonnous tout, et rien aux autres hommes

Le fabricateur souverain,
Nous créa besaciers tout de même manière,
Tant ceux du temps passé que du temps d’aujourd’hui:
It fit pour nos défauts la poche de derrière,
Et celle de devant pour les défauts d’autrui.”
"Chúng ta tự tha thứ cho nhau hết cả, trừ tha cho người khác
"............


"Đấng Tạo Hoá tối cao
"Dựng ra tất cả chúng ta cùng một kiểu,
"Từ trong quá khứ xa xưa đến tận hôm nay:
"Cho bao sai trái của ta vào túi sau
"Và để hết sai trái của người vào túi trước."

Một nhà báo Anh Quốc, John Morley, đã viết:  “You have not converted a man because you have silenced him!” ("Bạn chưa thuyết phục được tôi chỉ vì bạn cấm được tôi nói.")

Tôi muốn kết thúc bài này với một niềm hy vọng.  Thứ sáu vừa qua Thế Vận Hội Mùa Hè 2012 đã long trọng và tưng bừng khai mạc tại Luân Đôn.  Có 204 quốc gia tham dự.  Sau những nghi thức khai mạc cả vận động trường im lặng và từ trên khán đài giọng ca của Paul McCarney của ban nhạc The Beatles cất lên.

Giọng ca không còn mạnh như xưa.  Nhưng lời ca đã đưa tâm hồn tôi trở về những năm 60.  Trở về một không gian của tuổi thanh niên mới vào đời, của những giấc mơ không những cho đời mình mà còn cho cả một bầu trời quê hương yêu dấu.  Lời ca giản dị đến mộc mạc.  Hai câu đầu của bài hát như sau:
“Hey Jude, don’t let me down
Take a sad song and make it better!!”

"Ê Jude, đừng bỏ rơi anh
"Hãy lấy một bài hát buồn mà làm thành lạc quan hơn!!"

Có thể nào tất cả chúng ta nhận lấy bài ca buồn và cùng nhau biến bài ca buồn thành khúc hoan ca cho những thế hệ mai sau??

Phan Quang Tuệ
Danville, California
Ngày 1 tháng 8, 2012

Ghi chú: Những phần dịch các câu trích dẫn trong tiếng Anh, tiếng Pháp là do NNB.