Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội họa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội họa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

Nguyễn Gia Trí: Một Chân Dung Lớn Của Nền Mỹ Thuật Việt Nam Thế Kỷ XX

Huỳnh Hữu Ủy


Bên Hồ Gươm, phác thảo nghiên cứu phẩm màu và pastel của  họa sĩ Nguyễn Gia Trí

Trường Mỹ Thuật Đông Dương được thành lập năm 1924 ở Hà Nội, chỉ trong một thời gian ngắn chừng hơn mươi năm, đã đặt nền tảng cho một nền nghệ thuật mới hình thành và phát triển. Nếu Trường Mỹ Thuật Hà Nội không được thành lập thì có lẽ ngày nay Việt Nam vẫn chưa có một nền nghệ thuật hiện đại, và mỹ thuật Việt Nam vẫn bị chìm lấp, lẫn lộn với mỹ thuật Trung Hoa. Nguyễn Gia Trí vào học trường Mỹ Thuật Hà Nội khóa 5, nhưng bỏ học lở dở, sau đó dường như theo lời khuyến khích của họa sĩ Victor Tardieu, ông trở lại Trường, theo học khóa 7 cùng với các bạn đồng môn Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tại, Vũ Đức Nhuận ... vào năm 1931. Chỉ vài năm sau đó, ông đã là một khuôn mặt nổi bật, đến độ trên đất Hà thành văn vật thời thập niên 40-50, đã có lời truyền tụng về tứ tượng trong nghề hội họa: nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, và Trần Văn Cẩn). (1)

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

DANH HỌA NGUYỄN TIẾN CHUNG VỚI TRANH KHẮC GỖ TRUYỀN THỐNG

Huỳnh Hữu Ủy


Nguyễn Tiến Chung - Buổi sáng Chủ nhật


Nguyễn Tiến Chung sinh năm 1914; quê quán Quốc Oai, Hà Tây, Bắc phần; qua đời ngày 5 tháng 3, 1976. Tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương khóa 11 (1936-1941) với Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Tỵ.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG: TỪ VĂN CHƯƠNG ĐẾN NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH

HUỲNH HỮU ỦY

   
Hoàng Ngọc Biên - Chân dung Nguyễn Đăng Thường
 Nguyễn Đăng Thường sinh năm 1938 ở Battambang, Kampuchea. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1961, dạy Pháp văn ở một trường trung học Sài Gòn. Năm 1973, rời Việt Nam sang Pháp qua ngã đường Nam Vang. Hiện cư ngụ tại Luân Đôn, Anh Quốc.

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Một hoạ sĩ từ thời Mỹ Thuật Đông Dương: HOÀNG TÍCH CHÙ

Huỳnh Hữu Ủy


Tổ Đổi Công Miền Núi

Hoàng Tích Chù sinh năm 1912 ở Bắc Ninh, qua đời ngày 20 tháng 10 năm 2003 ở Hà Nội. Theo học trường Mỹ Thuật Đông Dương khóa 11 (1936-1941), cùng với Bùi Trang Chước, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Văn Tỵ. Từng tham dự triển lãm Salon Unique 1943 và các cuộc triển lãm của FARTA (Foyer de L'Art Annamite) với những Lê Văn Đệ, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Tỵ…
Họa sĩ Hoàng Tích Chù chuyên sâu về sơn mài, là một trong các họa sĩ mở xưởng sơn mài đầu tiên ở Hà Nội vào các năm đầu của thập niên 40 của thế kỷ XX. Là giảng viên Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Việt Nam (1956-1969), và là viện trưởng Viện Mỹ Nghệ Hà Nội (1969-1970.)

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Hoạ Sĩ HỒ ANH

Huỳnh Hữu Ủy


Khỏa thân


Hồ Anh sinh trưởng tại Hà Nam, Bắc phần Việt Nam, là một họa sĩ tự học.

Định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975. Khi mở một tiệm ăn ở miền Nam California, để bày biện nhà hàng cho tươm tất và được ấm cúng, vì thích vẽ, anh đã tự vẽ mấy tấm tranh, chỉ đơn giản là muốn làm đầy bức tường trắng trống trải. Nhưng thực bất ngờ, tranh vẽ ấy được khách đến ăn hỏi mua, và người thực khách đã giúp cho Hồ Anh phát hiện ra tài năng của mình. Từ khởi điểm ấy, anh bắt đầu vẽ, rồi vẽ nhiều, và mê vẽ. Rồi sau vài năm tham dự các cuộc triển lãm chung, đã là một khuôn mặt hội họa quen thuộc của cộng đồng Việt Nam quanh vùng quận Cam, California.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Màu Sắc Nam Bộ Với Họa Sĩ LÊ THANH TRỪ

Huỳnh Hữu Ủy

Lê Thanh Trừ sinh năm 1935 ở Mộc Hóa, Đồng Tháp, miền Tây Nam Bộ; theo học và tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội; sau năm 1975 trở lại miền Nam và sinh sống ở Sài Gòn.

Lê Thanh Trừ chuyên về ấn họa và sơn mài. Thực hiện ấn họa bằng đất thó (claycut), gần như Trần Khánh Chương thực hiện ấn họa bằng thạch cao, để vẽ lại bầu khí thân thuộc, đầm ấm của quê nhà từ thuở nằm nôi, rồi đã hít thở nhiều năm để trưởng thành, rồi phải xa lìa trong một thời gian dài đến hơn 20 năm.

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011


Đánh bài ngày Tết, tranh Nguyễn Tiến Chung.

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

Tranh Mèo Thanh Trí 

Đặng Tiến

Trong quá trình trưởng thành của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, các trường Cao đẳng Mỹ thuật đã có đóng góp lớn, mà quần chúng đã ghi nhận. Cần nhắc lại một thành phần riêng : các họa sĩ nữ lưu. Bà Lê thị Lựu, đàn chị, sinh 1911, tốt nghiệp tại Hà Nội 1933, về sau lập nghiệp tại Pháp ; bà Trương thị Thịnh, sinh 1928, tốt nghiệp thủ khoa trường Mỹ thuật Gia Định khóa đầu, 1958, hiện ở Mỹ ; và bà Nguyễn thị Thanh Trí, sinh 1939 tại Huế, tốt nghiệp ưu hạng trường Mỹ thuật Huế, khóa đầu tiên 1957-1961, lập nghiệp tại Hoa Kỳ từ 1987.


Dạo chợ Tết, tranh Nguyễn Tiến Chung (1914-1976),
khóa XI trường Mỹ Thuật Đông Dương.





THẾ GIỚI TRANH MỘC BẢN DÂN TỘC

Huỳnh Hữu Ủy

Tinh túy văn hóa của một dân tộc, trong chiều hướng nào đó, là vết tích sinh hoạt uyển chuyển của cảnh quần cư. Là một dân tộc chuyên về nghiệp nông, Việt-nam có lẽ từ thuở xa xăm nào kia đã khởi dựng cho mãi đến ngày nay một đời sống đặc biệt từ nền tảng đó, đặc biệt nhất chính là một nền văn hóa thôn dã cực thịnh.
1. Tinh túy văn hóa của một dân tộc, trong chiều hướng nào đó, là vết tích sinh hoạt uyển chuyển của cảnh quần cư. Là một dân tộc chuyên về nghiệp nông, Việt-nam có lẽ từ thuở xa xăm nào kia đã khởi dựng cho mãi đến ngày nay một đời sống đặc biệt từ nền tảng đó, đặc biệt nhất chính là một nền văn hóa thôn dã cực thịnh. Cùng cảnh nông thôn nhịp nhàng, con người cất tiếng ca hát với thiên nhiên, với cảnh đời, cảnh người trong một niềm rung động cộng sinh. Tiếng hát lời ca đó là dòng sông tươi mát chảy băng qua thời gian, nảy sinh tự nhiên từ đời sống đồng ruộng, giữa các cuộc đình đám hội hè, ấy là nguồn nước ca dao, lục bát khởi phát cùng thuở lập quốc, tưới mát cả mấy ngàn năm lịch sử, và còn nuôi sống, vỗ về mỗi tâm hồn chúng ta hôm nay.


Bình hoa của Lê Phổ.

Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2010

VĨNH PHỐI VỚI HỘI HỌA TRỪU TƯỢNG

Huỳnh Hữu Ủy

Vĩnh Phối sinh ngày 3 tháng 8 năm 1938 ở Huế. Tốt nghiệp Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định năm 1958, chuyên về lụa và sơn mài, tốt nghiệp Sư Phạm Mỹ Thuật năm 1959, và 1959-1966, được gửi đi tu nghiệp ở La- Mã.

Năm 1961, tốt nghiệp về hội họa tại Academia di Bella Arti di Roma, với sự bảo trợ của giáo sư Franco Gentilini; năm 1963, tốt nghiệp thêm về khoa điêu khắc cũng tại học viện này, với sự bảo trợ của giáo sư Pericle Fazzini.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

HỘI HỌA HÀ NỘI với ĐẶNG XUÂN HÒA và NGUYỄN QUÂN

Huỳnh Hữu Ủy

ĐẶNG XUÂN HÒA

Đặng Xuân Hòa sinh năm 1959 ở Nam Định, Bắc Phần, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội năm 1983. Đã tham gia hơn 30 cuộc triển lãm quốc gia và quốc tế ở Hà Nội, Cuba, Hồng Kông, Singapore, London, và Hoa Kỳ. Năm 1994, bày bốn cuộc triển lãm cá nhân ở Massachusetts và New York.

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

THẾ GIỚI TRANH MỘC BẢN DÂN TỘC (II)

Nói chung về cách bố cục ở những bức mộc bản của ta, thật quả sự phóng túng đã đi đến chỗ liều lĩnh. Vốn dĩ dân tộc Việt-nam vẫn hết sức coi trọng luật cân đối: ở giữa nhà là một cái tủ chè, hai bên là hai vế câu đối, chúng ta nhìn lên một bàn thờ là thấy rõ cách xếp đặt qui củ. Nhưng tác giả ở những bức tranh mộc bản đã làm một cuộc cách mạng ở trong luật cân đối. Dùng ngay sự bất cân đối, để tạo nên sự cân đối hòa hợp của bức tranh.” (Sách đã dẫn, trang 143). Ở một bức tranh khác, bức “Ông Hoàng cầm quân” (thuộc loại tranh thờ), ta thấy người vẽ đã có một lối nhìn ngây ngô hết sức tượng trưng, nhưng đường nét thì rất chặt chẽ, vững vàng. Ông hoàng mặc áo đỏ cưỡi ngựa trắng giữa đám quân lính cầm gươm dáo, phía trên có tàn che và những vừng mây xám sẫm ngã sang màu nâu. Tâm điểm của bức tranh là ông Hoàng, nên ông Hoàng thực lớn, lớn gấp ba lần mỗi tên lính hầu, dù về phương diện thể chất mỗi lính hầu cạnh ông Hoàng cũng lớn bằng ông. Lối nhìn, cách phát biểu ấy quả là ngây ngô, trẻ con, nhưng cũng chính đó là giá trị của tranh, bởi vì nó đã trình bày được ý nghĩa tượng trưng muốn đạt đến. Nói cho cùng, nghệ thuật chỉ là phát biểu sự rung động của nghệ sĩ làm thế nào để biểu cảm được thế giới mà nghệ sĩ ghi nhận, miễn rằng gây được sự truyền cảm đến người thưởng ngoạn. Ðối tượng bên ngoài hay thực tại thiên nhiên bấy giờ chỉ là một cơ hội, cái cơ hội ban đầu mà thôi, nghệ sĩ không dừng lại ở cơ hội đó, ghi chép đúng thực tại đó, mà tiến xa hơn nữa. Khả năng sáng tạo của tinh thần, những rung cảm nội tại tiếp tục di động từ cái nhìn đầu tiên ấy, đúng như nhận xét của Maurice Denis, người đứng ở hàng tiền đạo của nhóm Nabis rằng: “L’Art est avant tout un moyen d’expression, une création de notre esprit, dont la nature n’est que l’occasion”. Cái dáng vẻ và lối nhìn hồn nhiên, trẻ con, ngây ngô, vụng về nơi tranh “Ông Hoàng cầm quân” lại chính là con đường của những họa sĩ thuộc trường phái biểu hiện (Expressionnisme) ngày nay. Vẽ thực tại để nói nhiều hơn về thực tại, người ta không ngần ngại biến đổi thực tại, phóng đại các chi tiết, vẽ là để nói được nhiều hơn. Ông Hoàng trong bức tranh “ông Hoàng cầm quân” là một ông hoàng của tranh thờ, nên tự nó ông Hoàng ấy đã vượt ra khỏi kích thước bình thường để đạt đến một kích thước và vị trí khác, vị trí của đời sống có thể nói hàm hồ là tôn giáo, tinh thần hay thần thoại. Cho nên, vẻ phi lý đôi lúc nói nhiều về thực hữu còn hơn là sự mô tả về thực hữu trong những đường nét bố cục bình thường, nhất là đời sống phóng túng của sự sáng tạo nghệ thuật lại càng không thể vâng phục những cưỡng bức, gò bó vào một mẫu thức, một cơ chế, một luật tắc nhất định.


Ông Hoàng cầm quân, tranh thờ Hàng Trống.

Xem bức tranh “Hứng Dừa”, ta cũng thấy điều đó. Người đàn ông leo lên hái dừa lớn gần bằng cả thân cây dừa như muốn phủ nhận tỉ lệ vàng của hội họa cổ điển. Ðặc biệt, bức tranh hứng dừa là một bài thơ trữ tình tuyệt vời. Người đàn ông mình trần leo lên hái lấy hai trái dừa ném xuống, đứng phía dưới chị đàn bà vén xiêm lên với vẻ tênh hênh đón lấy hai trái dừa sắp rơi xuống. Nơi gốc cây, có hai người khác cũng sắp trèo dừa, hái dừa, nhưng đôi này thì ngược với đôi trên, người đàn ông mặc áo nâu, chị đàn bà mình trần lồ lộ, chỉ mặc độc chiếc quần nâu, giải thắt lưng lục sậm. Với những hình ảnh đó, hình ảnh cặp đôi, dừa cũng phải là hai trái, người đàn ông vui tươi mình trần, chị đàn bà khỏa thân, hình ảnh này búng vào hình ảnh kia mở ra cho bức tranh một thế giới như thế giới tênh hênh, nồng nàn trong thơ Hồ Xuân Hương. Có lẽ thế mà trước đây, một giáo sư chuyên về nhân chủng học đã nhìn bức tranh “Hứng Dừa” như biểu tượng của cái “giống” (4). Ðiều ấy không biết có đúng với dụng ý của tranh hay không, nhưng dù sao ta vẫn thấy toát ra ở toàn thể bức tranh một vẻ tinh nghịch, tình tứ, yêu đời, mà hết sức ngây thơ, vô tội, không một tí gì chướng kỳ, thô lỗ. Nét vẽ ở đây thực là đầy đặn, không dư thừa, màu sắc rất hòa hợp, trên tấm nền màu vàng đất (ocre jaune) ấm áp, màu nâu sậm và lục sậm của thân cây, lá cây, trái dừa, quần áo như điều hợp với nhau, tạo thành một thế giới đơn giản mà vẫn nên thơ, trang nhã. Trên góc bức tranh còn được điểm xuyết bằng hai câu thơ hồn nhiên một cách thú vị:
Khen ai khéo dựng nên dừa
Ðây trèo đấy hứng cho vừa một đôi.


Hứng Dừa, tranh Đông Hồ.

Tranh hứng dừa là một trong những bức thuộc loại độc đáo nhất, rất dân tộc, rất Việt-nam, mà lại đã đạt đến một trình độ mỹ thuật cao cường. Phân tích để thấy được vẻ độc đáo Việt-nam nơi tranh mộc bản, ví dụ nơi bức tranh Hứng Dừa này là một chuyện khó khăn, nhưng ta vẫn trực cảm được dễ dàng sự độc đáo đó, nó toát ra khắp toàn thể tranh, trong từng mỗi tác động, cử chỉ, mỗi sắc mầu. Toát ra từ vẻ mặt dí dỏm của người đàn ông, vẻ ngây ngô của chị đàn bà, từ chiếc áo, cái xiêm, cái váy, từ thân cây, cành lá, và từ ở cả hai trái dừa. Cũng tình cảm đó, cũng trực giác đó, ta sẽ có khi xem những bức tranh khác như Ðánh ghen, Nông dân với con trâu, Nông dân với con bò, Gà mái, Phú quí, Vinh hoa, Ðinh Tiên Hoàng, Trưng Vương trừ giặc Hán...


Đánh Ghen, tranh Đông Hồ.

Thôi thôi vuốt giận làm lành
Chi điều sinh sự nhục mình nhục ta

Bởi bản chất trang trí và đại chúng của tranh mộc bản, bởi vẻ tươi vui của những ngày đầu xuân, của những ngày hội mùa, đình đám, thế giới tranh mộc bản rực rỡ và giản dị, những màu phẩm tươi nguyên chất rất fauviste, cũng có những màu sắc mà nồng độ đã đạt đến sự đậm đà, ấm áp, giúp cho căn nhà mùa xuân thêm vẻ ấm cúng nồng nàn.


Gà trống, tranh Đông Hồ.

Qua một vài ghi nhận ở trên, cùng với tranh mộc bản dân tộc, chúng ta trở về với những thời thanh bình xa xưa đã đánh mất, trở về với quê nhà thơm mùi đồng nội, giữa cảnh tượng thân yêu đã thấm nhập trong mỗi tâm hồn (tranh cày bừa, tát nước, gặt hái, làm mùa...). Ở đó là sinh hoạt bình thường khiêm tốn của một thời thịnh trị (tranh đánh vật, ngày hội rước rồng, bịt mắt bắt dê...). Ở đó chỉ có những lời chúc tụng tốt lành, những ước mơ, những hoài bão đẹp đẽ, biểu tượng là gà mẹ túc mồi cho đàn con mạnh khỏe tròn đầy, gà lợn đầy sân (tranh gà lợn, tiến tài, tiến lộc, em bé hái đào, bầu bí...). Ở đó không có một lời độc ác, nguyền rủa chua ngoa hay phẫn hận, cay đắng đã biến thành những tiếng cười ròn rã, khoan dung đúng như bản lai nụ cười giễu cợt của dân tộc ta, làm thế nào ta không cười ròn tan lên được khi xem “Ðám cưới chuột” hay “Thầy đồ cóc”. Trong tranh “Ðám cưới chuột” lúc làm lễ nghênh hôn, chú rể ngồi trong kiệu được đưa đến nhà gái, hàng trên là những chuột già thổi kèn, mang cống lễ đến dâng cho chú mèo già, những cá, những chim để mèo lơ qua cho việc cưới hỏi đình đám này, cảnh tượng đó không khỏi gợi cho ta nhớ lại mấy câu ca dao:
con mèo trèo lên cây cau
hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
- chú chuột đi chợ đường xa
mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.

Tranh “Thầy đồ cóc” là một cảnh khai trường nhập học của trường Cóc, thầy đồ Cóc ngồi trên sập gụ, trong lớp học với dăm ba đứa học trò, đứa pha trà cho thầy, đứa châm nước, đứa hầu quạt, đứa học, đứa chơi, ưa gì tùy thích. Lớp học không còn là lớp học, đã mất đi cái vẻ trang nghiêm của một lớp học xưa. Có lẽ bức tranh này được vẽ vào thời kỳ sau cùng, khi mà nho học đã bắt đầu tàn tạ, lịch sử bắt đầu xung đột giữa cũ và mới, thầy đồ nho là Tú Xương cũng quay lại châm chọc cái học của chính mình.


Thầy Đồ Cóc, tranh Đông Hồ.

Ngoài các tranh trên, còn có loại tranh tứ bình, gọi là tứ bình vì thường diễn bốn bức thành một bộ theo thể liên hoàn, dựa vào những truyện tích đã được đại-chúng-hóa như truyện Kiều, Tam-quốc, Bích-câu-kỳ-ngộ, Chiêu-quân cống Hồ..., hay dựa vào các biểu tượng đã trở thành quá quen thuộc với quần chúng như tranh Tứ Quí (Xuân, Hạ, Thu, Ðông), tranh Tố Nữ, Hoa Ðiểu... Loại tranh sau này không được độc đáo cho lắm, màu sắc tẻ nhạt ngả dần sang những màu sậm và kín đáo, bố cục cũng quá cầu kỳ trau chuốt như tranh cổ điển, có lẽ bởi tại chịu ảnh hưởng phần nào thế giới cổ kính cũng như tranh mộc bản Trung-hoa, điều ấy đã làm hại không ít tính chất cá biệt của tranh dân gian ta.

3. Tắt lại một lời, tranh mộc bản là một trong những sức sống độc đáo của ngôn ngữ Việt, ngôn ngữ tinh túy của tâm hồn thơ, nó tiềm tàng một cảnh đời cá biệt của dân tộc, cho nên có thể nó rất chất phác, dung dị, hồn nhiên. Ðó là thứ hoa khai nở trên một miền đất riêng của những tâm hồn thành thực, của một dòng văn hóa riêng biệt, được đào xới, vun trồng qua nhiều thế hệ, nghĩa là một công trình nghệ thuật tập thể, nhưng nó vẫn luôn luôn đòi hỏi điều kiện đầu tiên là sự rung động chân thật. Ta không lấy làm lạ khi mà trước đây, ngay sau mùa thu 1945, có những lực lượng chính trị muốn lợi dụng tính-chất quần-chúng của tranh mộc bản để biến thành lợi khí tuyên truyền, và họ đã thất bại. Thời gian đã xóa nhòa công việc nhất thời, và đóa hồng nhung chỉ nở ra vì nó nở ra trong sự tinh khiết của chính nó, mặc cho người ta dùng nó vào việc gì, dù phi-nghệ-thuật đến đâu.

Tranh mộc bản quí báu vì sự độc đáo về đường nét, màu sắc mà còn bởi đó là một bài thơ đẹp ngợi ca đời sống dân tộc. Trước đây, thời tiền chiến, một số họa sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Ðỗ Cung, Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Ðệ đã từng đi vào các làng mạc thôn xóm, tìm kiếm lại sắc màu xưa, nghiên cứu lại những công trình nghệ thuật truyền thống nơi tranh mộc bản, đó là những việc làm ý thức, quí và hiếm mà bây giờ cần phải được tiếp tục, chúng ta trông đợi công việc đó ở những họa sĩ mới sau này.

HUỲNH HỮU ỦY
(12-1969)

(1) Phạm Văn Diêu, Văn học Việt nam, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1960, trang 169.
(2) Thái Tuấn, “Loại tranh mộc bản Việt-nam”, Câu Chuyện Hội Họa, Nxb Cảo Thơm, Sài Gòn, 1967, trang 138.
(3) Có thể tham khảo:
- Tranh tượng dân gian Việt-nam, nhà xuất bản Mỹ Thuật, Hà-nội, 1959.
- Tạp chí Bách-khoa Thời-đại, Sài Gòn, số 241-242, tháng 1, 1967.
- Imagerie populaire Vietnamienne, Maurice Durand, Publication E.F.E.O., Paris, 1960.
- Les Arts décoratifs au Tonkin, Marcel Bernanose, Paris, 1922, đặc biệt là chương Décoration du papier.
(4) “Tranh hứng dừa là cả một bài thơ trữ tình với cái duyên dáng trào lộng đầy táo bạo dựa trên biểu tượng của cái giống và của tình dục diễn tả qua người đàn ông cầm hai quả dừa ngồi trên cây, người đàn bà đứng dưới với cử chỉ hớ hênh chờ đợi”. (Nhận xét của Lê Văn Hảo và Vĩnh Phối, tạp chí Bách-khoa Thời-đại, số đã dẫn).


MỘT SỐ TRANH MỘC BẢN KHÁC:


Lợn ăn cây dáy, tranh Đông Hồ



Đại Cát (nhiều điều tốt lành), tranh Đông Hồ


Đám rước Rồng, tranh Đông Hồ


Phú quý, tranh Đông Hồ


Tam Đa (Phúc - Lộc - Thọ), tranh Đông Hồ


Thất Đồng, tranh Hàng Trống



1   2