Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội họa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội họa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

Tranh khỏa thân của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình

Về tác giả: Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình sinh năm 1954 tại Hà Nội, thuở nhỏ từng sống tại Tiệp Khắc và Hungary, từ nhiều năm nay sinh sống tại Sài Gòn. Anh là một trong các họa sĩ thành công nhất ở VN từ sau năm 1975 cho đến nay qua nhiều cuộc triển lãm tranh riêng và chung ở trong nước và quốc tế, được đánh giá là một trong vài kỷ lục gia về bán tranh tại Việt Nam với số lượng tranh đã bán trên 5000 bức.

Các chủ đề quen thuộc trong tranh của anh: Hình ảnh quê hương, làng quê Việt Nam với những mái nhà, dòng sông, con thuyền, cây cầu…; Tĩnh vật; Tĩnh vật hoa; Cá; Các cô thiếu nữ, nữ sinh Việt Nam trong những chiếc áo dài, nón lá; Múa ba lê; Trẻ em và Tranh phụ nữ khỏa thân. DĐTK xin giới thiệu một số bức tranh vẽ phụ nữ khỏa thân của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình.



Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2022

Trần Thị Nguyệt Mai : Khánh Trường - người kết nối muôn phương

Khánh Tường, tranh Đinh Cường
Tháng 10/1991, Hợp Lưu ra đời. Tôi đã có mặt ở Mỹ vài năm, còn thuộc diện dân mới nhập cư. Cảm thấy không kham nổi việc làm nặng nhọc với vóc dáng “mình hạc xương mai”, nên dù đã xa tuổi thiếu nữ, tôi vẫn cố công đèn sách tạo dựng tương lai. Xứ sở mới, ngôn ngữ không là tiếng mẹ, đầu óc tiêu thụ chậm, nên trong khi người khác chỉ cần học một giờ thì tôi phải ngốn gấp ba bốn lần nhiều hơn. Cộng thêm gia đình, con nhỏ... chẳng còn thời gian nào để nghĩ đến chuyện văn chương. Thành phố tôi ở có ít người Việt, sách báo tiếng Việt cũng không. Mà nếu như có, chắc tôi cũng đành phải giả đò ngó lơ “cầm bằng như không biết mà thôi”...

Tôi bắt đầu nghe tên anh khi đọc bài viết “Khánh Trường, Sức Mạnh Của Im Lặng” của họa sĩ Đinh Cường vào tháng 1/2012 nhân dịp anh bày 30 bức tranh Thiền. Lúc đó, tôi chỉ biết anh là một họa sĩ như anh Đinh Cường đã nhận xét, “Tôi thật sự cảm phục bạn ở Sức Mạnh Của Im Lặng và tìm chốn nương tựa cho tâm hồn mình: Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Như Nietzsche với hình ảnh Zarathustra đã gợi lên lộ trình sâu rộng của một bậc Đại Bồ Tát giữa lòng đen tối của thế gian. Khánh Trường là hình ảnh của Zarathustra “Trong tất cả những tác phẩm, ta chỉ yêu những tác phẩm nào đươc tác giả viết bằng máu của chính mình. Ngươi hãy viết bằng máu rồi ngươi sẽ biết được rằng máu chính là tinh thần.” Zarathustra đã nói như thế Khánh Trường đã vẽ như thế.” [1]


Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

NGÔ THẾ VINH - GIỮA HAI THẾ KỶ 55 NĂM HỘI HOẠ NGUYÊN KHAI VẪN CHẤT THƠ NGÀY ẤY


TIỂU SỬ NGUYÊN KHAI
Tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh ngày 01.09.1940 tại Huế. Nguyên Khai theo học hai năm đầu tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế (1960-1961), chuyển vào học năm thứ ba và thứ tư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1962-1963). Huy chương Đồng Triển lãm Mùa Xuân Saigon1963, cũng là năm Nguyên Khai tốt nghiệp tại trường này. Là một trong những thành viên sáng lập và là khuôn mặt nổi bật của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam từ 1966. Nguyên Khai hầu như tham dự tất cả những cuộc triển lãm hàng năm do Hội Hoạ sĩ Trẻ tổ chức (1965-1975) cùng với các cuộc triển lãm tranh khác của Alliance Française 24 Gia Long Saigon, Centre Culturel Français trên đường Đồn Đất, Goethe Institute đường Phan Đình Phùng (1968-1975). 
Nhà phê bình hội hoạngười Pháp Marc Planchon, người rất gắn bó với những khuôn mặt tài năng của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam, trên trang báo Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 đã viết về Nguyên Khai cách đây 52 năm [1964]:
"Anh vừa đúng 24 tuổi và thân hình mảnh mai như thiếu ăn, với cái nhìn nóng bỏng ấy trên một khuôn mặt gầy guộc khiến người ta nghĩ tới những sinh viên thời Trung cổ, ở thời kỳ triết học kinh viện, được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng thăng hoa hơn là ham muốn, trong nỗ lực hướng tới tri thức, thấy hạnh phúc xây dựng luận lý trên những tiền đề tưởng tượng, hơn là chỉ chú trọng vào sự kiện vật chất trong thực tế phẳng lì của nó."
"Il a tout juste vingt-quatre ans et, d'apparence, cette maigreur famélique, et ce regard brûlant dans un visage emacié qui font songer à ces escholiers moyennanageux, des temps scholastique, plus nourris d' idées effervescentes que de bonne chair, dans leur effort vers la connaissance, plus heureux de constructions logiques sur des prémises imaginaires, que de considérer simplement le fait matériel dans sa plate réalité."  

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

DÐTK: Họa sĩ Ann Phong triển lãm tại khu Korea Town, Los Angeles.

Họa sĩ Ann Phong

Ðây là cuộc triển lãm đầu tiên của phòng tranh Yoon Space do người Mỹ gốc Đại Hàn tổ chức qui t
ụ 12 họa sĩ đương đại được mời gồm có các họa sĩ Mỹ bản xứ, họa sĩ gốc Đại Hàn, Nhật, Đài Loan và Ann Phong, là người Việt Nam.

Phòng triển lãm: Yoon Space gallery
2330 S. Broadway #102. LA, CA. 90007
(231)820-0366

Ngày khai mạc: 18 tháng 6, lúc 5 - 7 giờ chiều.

Mở cửa từ: 18 tháng 6 đến 9 tháng 7, 2016.


Tiểu sử Ann Phong:
Hoạ sĩ Ann Phong tốt nghiệp Master of Fine Art tại Đại Học Cal State Fullerton. Hiện Ann là giáo sư dạy hội họa tại trường đại học Cal Poly Pomona.Đến nay, Ann Phong đã tham dự hơn 100 cuộc triển lãm, từ các phòng tranh đến viện bảo tàng như Laguna Art Museum, Muzeo Anaheim, Queen Art Gallery ở Bangkok, Krabi Museum ở Thái Lan, Blue Roof Museum ở Chengdu Trung Quốc, và Gang Dong Art Center ở Nam Hàn. Ngoài triển lãm tác phẩm, Ann Phong cũng thường xuyên được mời bởi các phòng tranh, các trường học và viện bảo tàng nói về nghệ thuật tạo hình.website: www.annphongart.com




Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Xem thêm chi tiết


Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Trịnh Cung - xem và đọc lại duy thanh


Trịnh Cung
Nhân sinh nhật của Họa Sĩ DUY THANH
  
Họa sĩ Duy Thanh (hình: Vương Ngọc Minh)

Ông – ngoài là họa sĩ “tự học” nổi tiếng trong nhóm “Bộ 3” Thái Tuấn-Duy Thanh-Ngọc Dũng của Sài Gòn từ năm 1954 đến 1975 – còn là tác giả của nhiều truyện ngắn và thơ đã phổ biến trên tạp chí Sáng Tạo ngay từ những số đầu tiên được phát hành vào năm 1956, đặc biệt là những ý kiến, nhận định, bài viết của ông về quan niệm sáng tác nghệ thuật hội họa.

Duy Thanh sinh ngày 11 tháng 8 năm 1931 tại Thái Nguyên-Bắc Việt, họ Nguyễn. Đến năm nay là sinh nhật thứ 82 của họa sĩ. Ông hiện sống ở San Francisco trong tình trạng sức khỏe yếu kém.

Thời Sài Gòn trước 1975, hình ảnh của ông còn in đậm trong ký ức tôi với khuôn mặt rắn rỏi, khỏe khoắn, đôi mắt lộ và sáng dưới cặp chân mày đậm và to, tiếng cười sang sảng và giọng nói dầy, trầm ấm. Lần tôi gặp ông gần đây nhất là vào dịp Duy Thanh từ vùng Vịnh (San Francisco) xuống quận Cam(Orange County) thăm nhà văn Mai Thảo đang trong tình trạng suy kiệt nghiêm trọng vào năm 1999, cách đây cũng đã trên 10 năm. Lúc ấy trông ông vẫn còn rất “trai trẻ”. Cái cốt cách mà đến nay ông vẫn còn giữ được phần nào dù đang mang căn bệnh hiểm ác ung thư tủy, như trong một bài viết của họa sĩ Ðinh Cường sau khi ghé thăm người bạn vong niên của mình vào năm 2012: “…cùng ngồi bên nhau trong cái không gian bé nhỏ mà ấm cúng, chị (vợ của DT) vẫn tươi tắn với chiếc khăn voal màu đỏ tươi, anh thì quần short áo thun trắng, thân người chắc, đôi mắt lộ, tinh anh… trông như Picasso, mặc dù anh cho biết mình đang bị ung thư tủy…”. Ðối với người bị ung thư, chịu đựng được nó là cả một cuộc chiến đấu lớn với đau đớn và tuyệt vọng, vượt qua được nó là một điều kỳ diệu. Duy Thanh, người họa sĩ từng để lại trong thế hệ họa sĩ chúng tôi những ấn tượng sâu đậm về ngôn ngữ mới cho hội họa Việt Nam thời những thập niên 60-70, đã vừa phải trải qua những năm tháng như thế. Ðể gửi đến ông lời cầu chúc sức khỏe, mong sự kỳ diệu sẽ đến với ông, cho gia đình ông và cũng là cho chúng tôi, bài viết này là một cố gắng tổng hợp khái quát những gì họa sĩ Duy Thanh đã cống hiến cho hội họa, văn chương Việt Nam tự do kể từ ngày ông di cư vào Nam năm 1954.
  
Duy Thanh, Thái Tuấn và Ngọc Dũng 
(hình của Đinh Cường)

Trước khi nói về Hội Họa Duy Thanh, là phần chính của bài viết, tôi xin được lược qua một số bài viết tiêu biểu về hội họa, một số truyện ngắn và thơ của ông đã đăng trên nhiều số của tạp chí Sáng Tạo từ năm 1956 đến 1960.

Tiểu luận về hội họa:
1. Trường Hợp Picasso, Sáng Tạo số 2 – tháng 11 năm 1956
2. Nói Về Hội Họa, Sáng Tạo số 8 – tháng 5 năm 1957

Với 2 tiểu luận này cùng với những phát ngôn trong các Bàn Tròn của tạp chí Sáng Tạo, đặc biệt là bàn tròn Ngôn Ngữ Mới Trong Hội Hoạ (Sáng Tạo bộ mới số 3 – tháng 9 năm 1960) cùng với 8 tác giả khác, có thể thấy Duy Thanh cùng Thái Tuấn và Ngọc Dũng là những họa sĩ tiền phong của phong trào cổ xúy đổi mới ngôn ngữ hội họa Việt Nam.

Trong tiểu luận về Picasso, Duy Thanh viết:
“…Chỉ có Picasso luôn bất mãn, luôn tìm kiếm, luôn phá phách, luôn mâu thuẫn và điều kỳ lạ nhất, Picasso vẫn thành công rực rỡ trước mọi thử thách.”
Và khi đề cập đến vấn đề của người xem tranh luôn đòi hỏi phải hiểu được tác phẩm muốn nói gì một cách cụ thể, Duy Thanh đã mượn lời Picasso:
“…một họa phẩm đến với tôi như tự cõi nào xa lắm, không ai biết được nó bao xa, chỉ có tôi đoán được, trông thấy được và tạo ra được. Làm sao người ta có thể đi sâu vào cõi mộng của tôi, trong bản năng của tôi, trong khát vọng của tôi, khi tất cả những thứ này đã được gạn lọc thấm nhuần từ bao lâu trong tôi rồi bật ra khung vải. Ai đã có thể hiểu được tác phẩm khi ở đó tôi đã vẽ bằng một phần của vô thức.”

Và còn đi xa hơn, cực đoan hơn với tuyên ngôn sáng tạo nghệ thuật của Picasso:
“…Sao chúng ta có thể theo khuôn sáo cũ mà quên mất phần sống bên trong của con người, những tâm trạng con người chúng ta trong thế kỷ này. Tôi đòi hỏi một sự độc tài trong nghệ thuật, sự độc tài của các họa sĩ, sự độc tài của một cá nhân nào đó dám gột bỏ hết thói quen, những trò tiểu xảo, những cái đẹp giả tạo và cùng bao nhiêu thứ khác nữa để dám làm một cái gì mới.”

Với tiểu luận Nói Về Hội Họa, Duy Thanh gần như hưởng ứng những suy nghĩ về sáng tạo nghệ thuật mà Picasso đã chủ xướng một cách triệt để như những trích dẫn đã nêu trên.

Cũng như mượn lời của Braque, danh họa Lập Thể đã nói về cách sáng tác của mình: “Tôi tiến tới độ làm mất đi tính chất của sự vật để cho vật đó một ý nghĩa khác hơn, một sức sống mới, một cuộc đời mới. Khi vẽ cái bình, không phải chỉ là một đồ vật đựng nước. Nói khác đi, những vật được tạo ra giữ một số phận mới trong bức tranh.”

Và Duy Thanh kết luận: “Muốn làm nghệ thuật ít ra phải nắm được cái chất của nghệ thuật, mà phải là thứ nghệ thuật bây giờ, thứ nghệ thuật tiêu biểu cho thời đại của mình. Vẽ chỉ là phương tiện để diễn đạt tiếng nói của linh hồn, vẽ là một thám hiểm nội tâm”.

Với phát ngôn này của Duy Thanh, tôi đặc biệt chú ý đến cụm từ “nghệ thuật bây giờ”, đây là một cách gọi tên rất mới của một họa sĩ Việt Nam vào những năm 50-60 của thế kỷ trước để phân định cho trào lưu nghệ thuật đang làm thay đổi hệ thống mỹ học có từ trước và đến những năm đầu của thế kỷ 21, người Tây mới bắt đầu dùng thuật ngữ Nghệ Thuật Bây Giờ (Art Now) để thay cho Nghệ Thuật Ðương Ðại (Contemporary Art).

Duy Thanh, Chân dung tự họa

Về văn chương:
Truyện ngắn:
- Khép Cửa, Sáng Tạo số 3, tháng 12 năm 1956
- Ðống Rác, Sáng Tạo số Xuân, tháng 2 năm 1957
- Chiếc Lá, Sáng Tạo Bộ Mới số 1, tháng 7 năm 1960
- Lớp Gió, Sáng Tạo bộ mới số 2, tháng 8 năm 1960

Quan niệm về viết truyện của mình, Duy Thanh đã bày tỏ rất rõ trong bàn tròn thảo luận Nhân Vật Trong Tiểu Thuyết của tạp chí Sáng Tạo (bộ mới) số 1, tháng 7 năm 1960: “Khi viết tôi không hề nghĩ đến nhân vật. Khởi đi từ một hình ảnh, một ý tưởng nào đó viết dần rồi nhân vật hiện ra. Tôi muốn mỗi nhân vật của tôi phải là một sự phiêu lưu bất kể mọi giới hạn. Cũng phiêu lưu như khi tôi làm nghệ thuật.”

Thơ:
- Hoang, Sáng Tạo số 7, tháng 4 năm 1957
- Em Ðã Nghe Gì Trong Bài Thơ Hôm Nay, Sáng Tạo số 9, tháng 6 năm 1957
- Bài Thơ Tình Số 3, Sáng Tạo số 11, tháng 8 năm 1957
- Khung Cửa – Dòng Sông, Sáng Tạo số 12, tháng 9 năm 1957
- Bài Thơ Nga, Sáng Tạo số 15, tháng 12 năm 1957

Quan niệm về làm thơ, trong thảo luận về Thơ Bây Giờ (Sáng Tạo bộ mới số 2, tháng 8 năm 1960), Duy Thanh nhận định: ”Nhà thơ nào độc đáo đều có một ngôn ngữ riêng”. Và: “Tôi thường nói chuyện với anh Thái Tuấn rằng muốn làm nghệ thuật ít ra phải nắm được cái chất của nghệ thuật (mà phải là thứ nghệ thuật bây giờ, thứ nghệ thuật tiêu biểu cho thời đại của mình). Chẳng hạn làm thơ, anh cần phải có cái thứ tôi gọi là esprit poétique trong người anh”. 

Sau đây là một số trích đoạn trong Ðống Rác, Lớp Gió (2 truyện ngắn) và Em Ðã Nghe Gì Trong Bài Thơ Hôm Nay, Khung Cửa-Dòng Sông (2 bài thơ) của Duy Thanh:
“Khung vải đặt lên giá, tối ném bừa bãi những hình thể, những màu sắc lên tàn nhẫn. Vẽ để cho vợi một cái gì đương hun bốc trong người. Chiều nắng toả bát ngát lên mặt hoạ phẩm, đan trên sàn gỗ từng phiến màu lồng lộng. Ngón tay xương xẩu của tôi quắp lấy thanh bút, nguêu ngoao, lơ láo như một con nhện rừng. Không phải tôi vẽ như mọi lần nữa, mà chính là tôi đã chửi rủa tàn tệ bằng sắc màu. Vứt vào không gian cái khoái cảm, cái khinh khi tuyệt vời của mình là một điều hể hả biết mấy. Những thỏi sơn ộc ra từng đống quằn quại trên mặt vải.
Đứng trước cửa sổ nhìn xuống bãi cỏ hoang cạnh nhà, tôi muốn lăn vào đó. Lăn vào những mảnh vỏ chai, gạch ngói, rác rưởi, cỏ dại cho xây xát mình mẩy mới hả. Để cho thần xác cũng nhầy nhụa như cái tôi hiện tại. Trong một giây không đắn đo, tôi trút căm hờn vào khung vải đang vẽ. Tôi vồ và ném mạnh ra ngoài. Sắc màu man dại quay một đường vòng trong không gian rồi rơi xuống. Tự dưng thấy nhẹ nhõm tôi nhớ đến người chiến sĩ kháng chiến Hung-gia-lợi nằm chết mục xác trên hè phố Budapest…” (truyện ngắn Đống Rác – Sáng Tạo số đặc biệt Mùa xuân năm 1957).“

“…Trong lá thư để lại cho Trinh, Ngạc viết những dòng này trước khi lên tàu xuống Hải Phòng: “Tao lại đi tìm một lối thoát nữa và tao biết chắc có ở lại cũng không tìm thấy một chân lý nào thêm hơn cả. Tao đã sống với Cộng sản mấy tháng trước khi họ tiếp thu Hà-nội. Học cũng đưa ra nhiều lý lẽ vững vàng lắm, để sống cho tương lai. Kể ra thì lắm khi lý lẽ họ cũng phải. Nhưng cứ suy xét tao lại thấy một cái gì rất sai lạc. Tao nghĩ rồi. Tao không muốn làm một viên gạch nung đều đặn như trăm ngàn viên gạch khác cùng được luyện trong một cái lò. Tao muốn trở nên một cái gì khác. Đấy cũng là một lý lẽ để tao đi. Dù chúng mày chửi tao cũng mặc…” (truyện ngắnLớp Gió – Sáng Tạo bộ mới số 2, tháng 8/1960).

***

“Tiếng thở dài. Và chiếu chăn của một đêm trần xô lệch 
Và mạch máu côi đơn phập phồng ngách thịt 
Có ai nhớ gì tiếng nói hôm qua. Có ai 
Anh và em hoạ chăng là những cánh thư dài 
Kết bằng cỏ những sợi mai nằm chốn ấy.”
(Em Đã Nghe Gì Trong Bài Thơ Hôm Nay – Sáng Tạo số 9, tháng 6/1957)

“Dang dở là cuộc tình duyên những kinh thành nổi loạn – anh ngủ mê trên đỉnh kim tự tháp – hơi thở mặt trời – sa mạc kín bưng – từng biển cát quàn lên thân thể 
Không nhớ làm gì không nhớ làm gì vốc nước suối trong – vì sao đêm đã về thướt tha những vuốt xanh êm 
Anh uống những sợi kim xanh cho linh hồn đỏ lửa – cào cấu những vòng gai tâm can – đau một niềm đau của Budapest
Kẻ bộ hành nào đang đi – quằn quại dấu chân lạc đà – vời xa cát trắng 
Không còn hàng dừa xanh lưu ly bóng nước 
một đốm lửa hay một mảnh trăng vô tình 
không một giọt lệ nào vương trên má 
một vành xe lăn trên đường 
Nếu có đi về tận vô biên hãy đừng nhớ mang chi hành lý – thân thể nặng rồi 
vì không ai nhớ gì 
vô ích…”
(Khung Cửa – Giòng Sông - Sáng Tạo số 12, tháng 9/1957)

Hội Họa Duy Thanh:
Duy Thanh theo hội họa ở Hà Nội từ năm 1952 như ông đã kể: “Tôi theo học lớp hội họa đầu tiên với thầy Nguyễn Tiến Chung. Dáng người gầy cao, xương xẩu, ông này đã lưu lại ở tôi nhiều kỷ niệm tốt. Nhất là lề lối truyền thụ nghề nghiệp cũng không bị gò bó lắm vào khuôn khổ, nề nếp, vốn là truyền thống của các trường mỹ thuật. Tôi thụ giáo với ông đúng một năm rưỡi. Trong thời gian này tôi quen với chàng Ngọc Dũng, xưởng họa chúng tôi ở trên lầu trường tư thục Trí Tri, phố Hàng Quạt…” (trích trong tạp chí Văn số 93).

Duy Thanh bắt đầu chính thức triển lãm cá nhân ở Sài Gòn năm 1956, tại Phòng Triển Lãm Ðô Thành ở góc đường Tự Do – Lê Lợi, và tại Pháp Văn Ðồng Minh Hội, đường Gia Long (tên có từ trước 1975). Và sau đó, ông nhiều lần triển lãm cá nhân hoặc với nhiều họa sĩ khác của Miền Nam.

Trong một lần trả lời phỏng vấn của tuần báo Bách Khoa, Duy Thanh đã từ chối mình là họa sĩ theo trường phái Dã Thú (Fauvisme), và còn khẳng định mình không theo trường phái nào, tuy nhiên, quan sát về hình thái nghệ thuật, tranh của Duy Thanh đã bộc lộ rất rõ tính cách của hội họa Dã Thú, màu: tươi, nóng; độ tương phản cực đoan; nét vẽ: đơn giản, mạnh mẽ; tinh thần: trực phát, sinh động. Đó chính là những đặc trưng cơ bản của hội họa Dã Thú. Điều này còn có thể thấy rõ hơn qua những phát ngôn, ý kiến của ông trong các bàn tròn thảo luận về thơ, về tiểu thuyết hay về hội hoạ trên tạp chí Sáng Tạo. Ông rất thường hay trích dẫn lời của các danh họa Dã Thú Phương Tây mà ông tâm đắc:
- “Cõi đời này buồn và đáng chán quá nên tôi phải tạo ra một thế giới rực rỡ hơn bằng tác phẩm của tôi.” (Van Dongen)
- “Tôi dùng những màu xanh, đỏ, vàng, nguyên chất hòa hợp với nhau để khuấy động cái dục tính của con người, và tôi vẽ trước hết để tả nỗi xúc động mà tôi cảm thấy ở sự vật.” (Matisse)
- “Tôi dùng màu xanh, đỏ để chỉ sự say mê kinh khiếp của con người.” (Van Gogh) 

Van Dongen, Ngón tay trên má nàng (1910) 

Henri Matisse, Niềm vui cuộc sống (1905-06) 

Duy Thanh, Những sắc màu 
(acrylic trên bố, 57×100) 

Duy Thanh, Chim của giấc mộng 
(acrylic trên bố, 85×100)

Mặt khác, trong truyện ngắn Ðống Rác, Duy Thanh đã viết: “…Khung vải đặt lên giá, tôi ném bừa bãi những hình thể, những màu sắc lên tàn nhẫn. Vẽ chỉ để cho vơi một cái gì đang hun bốc trong người”. Có thể coi đây là một tự sự của chính ông, của một họa sĩ thuần về cảm xúc dữ dội, những rung động bốc lửa, những tâm trạng muốn vỡ tung, muốn bung phá… – những nét đặc trưng tính cách thường thấy ở những họa sĩ thuộc trường phái Dã Thú – một khuynh hướng sáng tạo chống lại tính cách dịu dàng, ngọt ngào cảm xúc của trường phái Ấn Tượng và là sự mở đầu cho thời Hậu Ấn Tượng (Post-Impressionisme).

Về kỹ thuật hội họa, Duy Thanh thừa nhận sự cần thiết có mức độ của kỹ thuật cho việc thực hiện tác phẩm: “Tất nhiên, vì lẽ dễ hiểu, mỗi họa sĩ cần có chút ít kỹ thuật mới mong sáng tác được”. Ông có thể sử dụng tốt nhiều loại chất liệu, từ vẽ màu nước, bột màu, vẽ ký họa đến sơn dầu. Tuy nhiên, với Duy Thanh, sơn dầu là một chất liệu thích hợp với cá tính của ông nhất vì nó mạnh như cảm xúc của ông, vì nó dễ hành động ngay tức thì khi ông cần ném nó lên khung vải, và vì nó có khả năng chịu đựng bền bỉ, không kêu than khi ông muốn dầy vò, chà xát nó đến đâu và chỉ có nó mới làm ông đạt tới tột đỉnh của khoái cảm sáng tạo. Sơn dầu là một chất liệu vô địch cả trong cảm xúc (khi vẽ), biến hóa (kỹ thuật) và bền vững (thời gian).

Nhưng cuộc “nổi loạn” nào cũng phải có lúc dừng lại, phải kết thúc. Tự nó, hoặc bị một cuộc nổi loạn khác kết thúc giùm. Ðó là sự mâu thuẫn đầy bản năng của tuổi trẻ và tuổi già. Trong nghệ thuật ai nổi loạn bằng Picasso? Thế mà vào những năm cuối đời, ông không vẽ tranh Lập Thể để quay về với hội họa Hữu Hình (Figurative) đầy dục tính.

Ở gần chúng ta hơn, trong văn chương, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên, hai nhà thơ tự do một thời khuấy đảo làm nổ tung nền thơ mới Việt Nam bằng thơ Tự Do, sau khi đi tù “cải tạo” nhiều năm về đã bỏ thơ Tự Do. Thanh Tâm Tuyền quay về với thơ vần để trở lại với chính mình, trở về với con người mình vừa đi qua một chặng đường dài đầy bất hạnh. Tô Thùy Yên cho xuất bản tập thơ Thắp Tạ ở Mỹ với một giọng thơ rất kinh điển, trầm tư như một “Tỳ Bà Hành”. Duy Thanh cũng không ra khỏi ngoại lệ, ở những năm cuối đời ông vẽ rất khác, với những tranh vô ngôn, vô sắc, vô hình, bằng mực trên giấy, cho thấy một thể trạng tinh thần khác, hoàn toàn khác với một Duy Thanh thời trẻ tuổi luôn hừng hực dấn thân, nồng nhiệt phiêu lưu vào thế giới sáng tạo, khám phá ngôn ngữ mới. Bây giờ, ông dùng hội họa như một cuộc mạn đàm với hư vô, để trở về cái nguồn cội con người của ông. 

Kết:
Với gần 60 năm vẽ-viết trên tinh thần khai phóng, vận động không mệt mỏi cho một phát triển canh tân văn học và nghệ thuật Việt Nam, Duy Thanh là một họa sĩ hiếm có trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Trong tất cả những công việc ấy luôn nhất quán và chín muồi một tư duy rộng và một trái tim đầy chân tình của ông dành cho hội họa.

Những thông điệp kêu gọi làm mới ngôn ngữ nghệ thuật và hướng về nội tâm con người mà ông đã gửi tới chúng ta đã từ rất sớm, mà cho đến nay cái ý niệm ấy vẫn không hề lạc hậu. Cái quy trình của lật đổ và phục hưng trong đời sống sáng tạo của nhà văn-nghệ sĩ ấy vẫn đang được các thế hệ làm nghệ thuật ngày nay tiếp tục nối dài thêm con đường vinh quang của nó.

Viết tại Arcadia-California, 6/8/2013. 
Trịnh Cung


Duy Thanh trong studio ở San Francisco (hình: Hạnh Tuyền)


Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Lê Thành Nhơn (1940-2002)


Trích từ quyển "Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại" của Huỳnh Hữu Ủy, VAALA xuất bản 2008.

Về điêu khắc gia Lê Thành Nhơn, trong khoảng thời gian 1970-1975, anh được công chúng chú ý đến một cách đặc biệt vì dự án xây dựng mười tượng đài danh nhân tầm cỡ của Việt Nam. Tập trung suy nghĩ, thu thập tài liệu và thực hiện liên tục nhiều phác thảo trong tình trạng nghiên cứu, Lê Thành Nhơn hăm hở, nhiệt tình dồn hết sức lực của mình, quyết dựng những tượng đài to lớn của các danh nhân đất nước, mỗi tượng đài sẽ là một tác phẩm cô đọng những nét đặc trưng nhất. Trước tiên anh bắt tay thực hiện chân dung Nguyễn Trung Trực, pho tượng lớn được đắp bằng đất sét thử nghiệm nơi xưởng làm việc của  anh giữa một khu vườn ở đường Nguyễn Du, dự trù sẽ đúc đồng để dựng ở Rạch Giá, trên chính vùng đất nhà anh hùng dân chài đã đổ dòng máu nóng dâng trào vào những ngày đầu tiên Nam Bộ kháng Pháp. Thời kỳ này, pho tượng Phan Thanh Giản cao 2,5 mét cũng đã được hoàn tất, thực hiện bằng xi măng cốt sắt.

Đầu thập niên 1970, đang giảng dạy tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, được mời thỉnh giảng ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Trong những ngày đi về làm việc ở Huế, ý định của anh về những công trình này càng được thôi thúc thêm giữa bầu không khí sôi sục của một thành phố hừng hực lửa đấu tranh. Những tượng đài Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Du, Phan Bội Châu... nhất định sẽ phải được dựng lên. Chân dung Phan Bội Châu, linh hồn cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã hình thành trong bối cảnh ấy. Giữa khuôn viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, pho tượng được hoàn tất đợt đầu bằng đất sét. Khuôn mặt nhà ái quốc vĩ đại được đắp tạc khá hoàn hảo, đầy tính chiến đấu, lột tả được nét kiên cường, cứng rắn cũng như sự thông tuệ, rực rỡ vô song. Tượng chỉ là khuôn mặt phóng lớn đầy tính diễn tả, thêm vào đó là những mảng phù điêu đắp nổi phía hậu diện pho tượng hình ảnh cuộc đấu tranh bền bỉ của đất nước từ kỷ nguyên thứ nhất cho đến ngày nay. Bức tượng đất sét được những người thợ đúc truyền thống của Huế đúc thành tượng đồng cao hai thước, nặng gần bốn tấn, công trình đang thực hiện dở dang thì biến cố năm 1975 xảy đến. Gần 15 năm qua, pho tượng nằm hoang phế giữa Phường Đúc gần đồi Long Thọ, và mãi đến cuối năm 1987, di tích lịch sử và mỹ thuật này mới được chuyển về dựng tại vườn cũ của cụ Phan, rất trang trọng trên đầu dốc Bến Ngự.

 Cùng với thời kỳ này, Lê Thành Nhơn thực hiện khá đạt tượng chân dung Quan Thế Âm trước trung tâm văn hóa Liễu Quán của Phật giáo ở Huế. Là tượng Phật Quan Âm, tất nhiên phải giữ qui cách và ước lệ cũ để gợi ý về biểu tượng này. Tuy nhiên chúng ta cũng nên xem đây là chân dung của một người phụ nữ với phong cách rất lạ, phía trên đầu là một khối hình chóp gần với thể dạng quen thuộc trong mỹ thuật Chàm, với các vũ nữ múa Apsaras, các tượng nữ thần Laksmi hay Siva, khuôn mặt rất bay bổng do đôi mắt thanh nhã, môi mỏng, cổ cao mà tác giả đã tìm cảm hứng hiện thực từ khuôn mặt của một ca sĩ thời danh và rất phiêu lãng lúc bấy giờ. Gần như phong cách tượng Phật Quan Âm vừa đề cập, chúng ta còn tìm thấy vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng cứng cáp và chắc nịch của khối thể nơi tượng Bà Mẹ Việt Nam với chiếc khăn trùm quen thuộc của những bà mẹ Nam Bộ. Tượng này vẫn còn ở nguyên chỗ cũ, trước sân xưởng làm việc ngày trước của Lê Thành Nhơn (101 Nguyễn Du, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh), chỉ đáng tiếc là chẳng còn ai để ý tới nên không còn được bảo vệ tốt giữa bao nhiêu sắt, gạch, gỗ, đá chồng chất của một cơ sở xây dựng hiện nay.



Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

Du Tử Lê - Tạ Tỵ, người mở những cánh cửa lớn cho hội họa Việt Nam


Du Tử Lê

Theo ghi nhận riêng của tôi, thì trong sinh hoạt hội họa của 20 năm văn học nghệ thuật miền Nam, họa sĩ Tạ Tỵ là người có công du nhập vào Việt Nam hai trường phái hội họa lớn là Lập Thể và, Trừu Tượng.Tuy nhiên, ông lại không được nhắc tới nhiều, như những họa sĩ khác. (1)
   

Họa Sĩ Tạ Tỵ. (Hình: giaoduc.net.vn)  

Tôi không biết có phải sự nghiệp của ông được định hình quá sớm, ngay từ giữa thập niên (19)40, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân Việt bùng nổ?

Trong một bài viết nhan đề “Tạ Tỵ - ông ‘tổ’ tranh trừu tượng Việt Nam,” tác giả Bội Trân ghi nhận:
“...Vào năm 1948, trong chiến khu, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái và Văn Cao đã tổ chức một cuộc triển lãm nhóm đầu tiên. Tạ Tỵ khi ấy trưng bày những bức tranh lập thể, trừu tượng, còn Bùi Xuân Phái bày những bức tranh ấn tượng với những khu phố cổ cũ và những hẻm ngõ buồn heo hắt. Sau lần triển lãm này, các họa sĩ ít nhiều đã gặp rắc rối.” (2)

Giải thích cho sự kiện họa sĩ Tạ Tỵ ít được truyền thông của 20 năm VHNT miền Nam nhắc đến, có người cho rằng vì họa sĩ Tạ Tỵ thành danh quá sớm; lại ở giai đoạn “bản lề” hay “gạch nối” giữa hai giai đoạn VHNT quan trọng là tiền chiến và kháng chiến. Chưa kể ông vào Nam trước 1954, nghĩa là không thuộc thành phần văn nghệ sĩ miền Bắc di cư vào Nam, nên giới này đã đặt ông qua một bên (?).

Dù vậy, vai trò, vị trí tiền phong của họa sĩ Tạ Tỵ trong những năm tháng gần đây, đã được đánh giá và, nhìn nhận một cách công bằng, khách quan hơn, bởi chính những tên tuổi lớn trong sinh hoạt hội họa của chúng ta. Như một việc làm cụ thể liều lĩnh, của họa sĩ Bùi Xuân Phái, sau biến cố 30 tháng 4, 1975, họ Bùi đã không chỉ nói lên tình bạn giữa hai tên tuổi mà, còn thể hiện tấm lòng trân trọng của ông trước tài năng và, những đóng góp to lớn, quý báu cho hội họa Việt của họa sĩ Tạ Tỵ, qua trích đoạn dưới đây, cũng của tác giả Bội Trân:
“Năm 1953, Bùi Xuân Phái đã từ chối khi Tạ Tỵ rủ ông cùng vào Nam định cư, Bùi Xuân Phái có kể lại chuyện này, và có những giai đoạn quá ngặt nghèo, ông cũng đã tỏ ra than tiếc và đổ lỗi cho số phận. Tuy tình bạn của họ phải xa cách trong thời kỳ hai miền Việt Nam chia cắt, nhưng Bùi Xuân Phái vẫn thường kể lại những kỷ niệm về tình bạn với Tạ Tỵ với các bạn hữu. Năm 1979, Bùi Xuân Phái vào thăm Saigon và yêu cầu Thái Tuấn đưa đến thăm gia đình Tạ Tỵ, một họa sĩ di cư vào Nam rồi trở thành trung tá trong quân dội Saigon, hành động của Bùi Xuân Phái lúc bấy giờ được xem là can đảm và cảm động.”


 “Lần cuối cùng tôi chứng kiến cảnh gặp lại của Tạ Tỵ với Bùi Xuân Phái, đó là lần Tạ Tỵ được ra khỏi trại cải tạo, trước khi trở lại Saigon đoàn tụ với gia đình, Tạ Tỵ đã tìm đến nhà Bùi Xuân Phái. Dáng người Tạ Tỵ cao lớn, ông đứng trước cửa nhà và gọi to khi vừa thấy Bùi Xuân Phái. Hai người bạn tay bắt mặt mừng khi gặp lại nhau sau hơn hai mươi năm xa cách. Nhưng chỉ sau những câu hỏi han ban đầu tiếp theo là sự im lặng của cả hai người. Tôi ấn tượng mãi về sự im lặng khó hiểu ấy, cả hai ông ngồi bên nhau hàng giờ đồng hồ mà chỉ im lặng thôi, nước mắt nhòe ướt đôi mắt họ.” (3)


Nói tới tài năng ngoại khổ của họa sĩ Tạ Tỵ mà, không nhắc tới biệt tài vẽ chân dung của họ Tạ, tôi cho là một thiếu sót, khó được tha thứ.

Như sự hiểu biết giới hạn của tôi thì, hầu hết các họa sĩ, dù theo đuổi trường phái nào, cũng thường tìm tới nghệ thuật vẽ chân dung. Chân dung chính họ, hay người khác.

Ở lãnh vực này, họa sĩ Tạ Tỵ cũng đã được ghi nhận như một trường hợp ngoại lệ. Phong cách vẽ chân dung của họ Tạ thường chỉ là vài nét phác. Nhưng chân dung với những nét tiêu biểu của người được ông phóng bút đã hiển lộ một cách sống động. Và, ngay cả khi ông không ký tên, người xem vẫn lập tức nhận ra, đó là nét vẽ (như khắc) của Tạ Tỵ.
   

Tranh sơn dầu “Cất cánh” của Tạ Tỵ  

Về những giờ phút cuối cùng của họa sĩ Tạ Tỵ, người có công mở những cánh cửa lớn cho lịch sử hội họa Việt Nam, tôi đã xúc động khi được đọc bài của nhà văn Văn Quang. Trong bài, có một chi tiết nhỏ, nhưng với cá nhân tôi, nó thật ý nghĩa! Tôi tin, ở thế giới bên kia, người họa sĩ ngoại khổ của chúng ta, chắc sẽ hài lòng. Ðó là:
“Trong số hàng trăm vòng hoa của thân hữu ở VN, tôi thấy có vòng hoa của anh Ðinh Cường từ Virginia đưa đến và một vòng hoa của Hội Nghệ Thuật thành phố Saigon.” (4)

Tôi biết, vòng hoa của họa sĩ Ðinh Cường ở Virginia, được gửi về từ tâm thái riêng của ông. Nhưng tôi muốn nhìn việc làm này như một đại diện và, hơn thế, một lời xin lỗi (dẫu muộn,) của những người làm hội họa miền Nam, 20 năm.

Du Tử Lê
(Tháng 7, 2012)

Chú thích:
(1) Họa sĩ Tạ Tỵ tên thật Tạ Văn Tỵ. Ông sinh ngày 24 tháng 9 năm 1921 tại Hà Nội. Nhưng khai sinh lại ghi sinh năm 1922. Ông tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương năm 1943. Cũng thời gian này, bức tranh “Mùa Hè” của ông được trao giải Salon Unique. Trước đó, khi còn là sinh viên Cao Ðẳng Mỹ Thuật, năm 1941, ông cũng đã được trao tặng một giải thưởng khác về hội họa. Từ giải thưởng này, ông được Quốc Trưởng Bảo Ðại mời viếng thăm Cố đô Huế. Và, ông được mời ngồi chung xe ngựa với Quốc Trưởng Bảo Ðại thưởng lãm toàn cảnh cố đô cổ kính này. Tạ Tỵ tham gia kháng chiến chống Pháp từ năm 1946, là một trong vài giáo sư mỹ thuật đầu tiên ở Liên Khu 3. Năm 1950, họa sĩ Tạ Tỵ bỏ vùng kháng chiến về lại Hà Nội. Năm 1951, ông có cuộc triển lãm cá nhân tại Hà Nội, với 60 bức tranh gồm cả Lập Thể và Trừu Tượng. Năm 1953, ông rủ một trong 2 người bạn thân của ông là họa sĩ Bùi Xuân Phái, vào Saigon. Họ Bùi từ chối. (Bùi Xuân Phái bỏ chiến khu về lại Hà Nội năm 1952.) Tại Saigon, họa sĩ Tạ Tỵ có hai cuộc triển lãm cá nhân quan trọng vào những năm 1956, 1961. Năm 1982, sau nhiều năm tù cải tạo, ông cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ. Năm 2003, khi người bạn đời qua đời, ông quyết định trở về Saigon. Và, chỉ một năm sau, ông từ trần giữa quê nhà.
(2) Bội Trân, “Saigon xanh ký ức,” Hợp tuyển thơ, nhạc, họa Bến Tâm Hồn, trang 255, Nhà XB Thanh Niên, Saigon, 2012.
(3) Bội Trân, sđd. Trang 255, 256.
(4) Văn Quang, sđd. Trang 262.  


Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Đầu Xuân, Vãng Cảnh Và Chiêm Ngắm Các Pho Tượng Nơi Những Ngôi Chùa Cổ

HUỲNH HỮU UỶ

Chùa Tây Phương, Sơn tây. Ảnh W&B Forman
Phật giáo đã gắn bó với dân tộc gần 2000 năm. Từ những thế kỷ đầu Công Nguyên cho mãi đến ngày nay, qua nhiều thời kỳ lịch sử với những dấu mốc đặc biệt, Phật giáo đã ăn sâu trong những cơ tầng cấu trúc dân tộc, lan toả nơi mỗi nguồn mạch tâm linh, văn hoá, phong tục, tập quán. Có thể nói nghệ thuật Phật giáo chiếm một phần hết sức quan trọng trong toàn bộ nền nghệ thuật đất nước.
          

Là tiếng nói sâu đậm, cụ thể và hiện thực, nền nghệ thuật này trở nên một sức mạnh của tình cảm, tư tưởng và tâm linh. Từ những vết tích đầu tiên thực hết sức đáng kể ở Luy Lâu của đất Giao Châu xưa (nay là Thuận Thành, Hà Bắc), giữa trung tâm của đồng bằng sông Hồng, khi dân tộc tiếp nhận nguồn tôn giáo lớn này, khi các tăng lữ Tây Trúc trên đường hoằng pháp sang các xứ phương Đông dừng chân nơi đây, rồi đi ngược lên phía Bắc hoặc đi về phương Nam, cho mãi đến năm 562, khi Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), một tăng lữ gốc người phương Nam Ấn Độ, đến trụ trì luôn ở trung tâm này, trú tại chùa Pháp Vân, giảng dạy Phật pháp thì Phật giáo đã được lập thành một thiền phái, đây là dòng thiền tông thứ nhất, rồi hoà hợp với tính cách văn hoá bản địa mà tạo nên một sức sống tinh thần lạ lùng. Nhà Phật học Nguyễn Lang (tức thiền sư Nhất Hạnh) còn cho rằng vào thời Hán, khi Việt Nam còn nội thuộc Trung Quốc, trung tâm Luy Lâu được hình thành rất sớm, đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương (kinh đô của nhà Hán) sau đó ở Trung Hoa (1). Như vậy, khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch, đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam, rồi qua nhiều thời kỳ kế tiếp, Phật giáo có lúc đã trở thành quốc giáo, là thời kỳ “chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng nên, nát đi rồi lại sửa lại, lâu đài, chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư”(2), trang bị cho toàn bộ dân tộc một sức mạnh tinh thần hết sức đặc biệt, và vào những thời kỳ ấy, nghệ thuật Phật giáo đã để lại nhiều dấu vết thực là rạng rỡ.
          

Rồi lan toả đến từng mỗi ngóc ngách của cuộc sống đất nước, nghệ thuật Phật giáo thấm đậm nơi mỗi chùa làng. Chưa nói đến các trung tâm văn hoá Phật giáo lớn, chưa nói đến các quốc tự lừng lẫy, các danh lam, tự viện danh tiếng, chỉ mới đề cập đến các chùa làng rải rác nơi mỗi làng mạc Việt Nam, đã phát triển rất rực rỡ vào các thế kỷ 16, 17, 18. Một nhà nghiên cứu nghệ thuật đã đúc kết: “Thế kỷ 18, chỉ từ Thanh Nghệ trở ra, đã có hơn 12,000 làng xã với ít nhất bấy nhiêu ngôi chùa. Mỗi ngôi chùa làng dù nhỏ nhất cũng có vài chục tới vài trăm pho tượng. Nước ta có vài triệu pho tượng. Nếu tập trung lại ta sẽ có hơn một Bôrôbudur hay một Ăng-Co sơn son thiếp vàng.”(3)
          

Dưới cái nhìn quan chiêm pha chút tò mò hiếu cổ, yêu cái đẹp tạo hình, thì mỗi ngôi chùa làng rải rác khắp nơi, đặc biệt là những cổ tự mang nhiều dấu vết rêu phong của thời gian, đều là những nhà bảo tàng nghệ thuật của đất nước. Nơi những nhà bảo tàng ấy, từng pho tượng sẽ lặng lẽ mà sinh động nói với chúng ta nhiều điều. Những pho tượng ấy dù có những điểm riêng, nhưng bao giờ cũng được tạo hình theo những qui thức và ký hiệu chung. Và những pho tượng thường là được bài trí theo một cách chung, dù ở trong một ngôi chùa có kết cấu theo lối chữ Công là lối phổ biến nhất, hoặc chữ Đinh, hay chữ Tam, hay cả kết cấu theo hình chữ Quốc.(4)
          

Trừ những ngôi chùa của phái Tiểu Thừa (Nam Tông) chỉ thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, tất cả các chùa khác theo phái Đại Thừa thì thờ nhiều vị Phật, nhiều vị Bồ Tát, không những thế đôi khi còn thờ cả những tượng Thánh của Đạo giáo và Khổng giáo, và cả những nhân vật lịch sử. Điều này phản ánh được phần nào về một thời Tam giáo đồng nguyên, tỏ rõ sự dung hợp ba nền đạo lý thâm diệu của phương Đông, đến từ hai trung tâm văn hoá lớn Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nên một vẻ đẹp hài hoà giữa ba nguồn gốc Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo. Hơn thế nữa, nó đã hoà hợp, gần gũi và chia sẻ cả với những tín ngưỡng cổ truyền trong đại chúng, bàng bạc khắp nơi, từ nhiều đời trước để lại.
          
TƯỢNG THỜ Ở NHÀ BÁI ĐƯỜNG
         

Phật Quan Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt, chi tiết, điêu khắc gỗ, chùa Bút Tháp, ảnh Milós Rév
Bước vào một ngôi chùa, ở gian rộng ngoài cùng là bái đường, nơi tín đồ thập phương đến lễ bái, cũng là nơi các nhà sư ngồi tụng niệm thường nhật. Nơi gian phòng này, bài trí hai bên, bên phải và bên trái, tượng Thập Điện Diêm Vương.
           

Paul Lévy, giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ (L’Ecole Francaise d’Extrême-Orient), trong dịp Triển Lãm Cổ Tích Việt Nam ở Viện Bảo Tàng Bác Cổ Hà Nội năm 1948, dựa trên vũ trụ quan Phật giáo, đã giải thích về ý nghĩa và việc bày biện các tượng Diêm Vương như thế này: Đối với các tín đồ nhà Phật, nhục hình dưới âm ty có nhiều và phức tạp. Tuy nhiên, kẻ phạm tội không chịu nhục hình mãi mãi, vì theo đạo Phật linh hồn không phải là bất diệt, không phải là vô thuỷ, vô chung. Sau khi sinh sinh, hoá hoá, phù trầm qua bao kiếp khác nhau- là vật, là người, là thần, có khi là cây cỏ nữa- nhờ những giáo lý của Đức Phật, con người được giác ngộ, bắt đầu hiểu rõ được duyên cớ nỗi khổ của mình và căn do sự biến hoá không ngừng từ kiếp này sang kiếp khác. Lúc đó, người ta sẽ bỏ hết dục vọng, bỏ hết hành động, bỏ đời sống cũ, thế phát đi tu, sống một cuộc đời đạm bạc, khắc khổ, để hồn người trở về với hồn vũ trụ, về với Đại khí, về cõi hư vô, nơi mà người ta thực sự chỉ là một hạt bụi. Bấy giờ là lúc sắp sửa lên cõi Niết Bàn. Đối với người Việt, sống ở vùng nhiệt đới, khao khát sự nghỉ ngơi, giấc ngủ trường miên chỉ có khi hình hài đã hoàn toàn tan biến vào vũ trụ.(5) Như vậy, tượng Thập Điện Diêm Vương gợi nên cảnh âm phủ, bày ra ngay ở bên phải và bên trái nơi các thiện nam, tín nữ đến lễ bái, là một cách nhắc nhở con người tìm đường giác ngộ, vượt qua mọi nghiệp quả để đạt đến cõi niết bàn, tịnh độ, đến cực lạc thế giới.
          

Cũng ở nhà bái đường, có tượng Thổ ĐịaGiám Trai, là những vị thần được dân Trung Quốc và Việt Nam thờ phượng. Thổ Địa là vị thần coi sóc, giữ gìn đất đai, chính là vị thần làm chủ vùng đất thuộc khu vực nhà chùa, thường giữ gìn, bảo hộ điền thổ và tài sản của nhà chùa. Cạnh đấy là hai tượng Hộ Pháp đồ sộ, đắp bằng đất thó và sơn quét, tô vẽ màu sắc lên bên ngoài.(6) Tượng Hộ Pháp trong dáng vẻ uy nghi, cầm khí giới, mặc áo giáp, đội mũ trụ, hoặc đứng thẳng, hoặc cưỡi trên một con nghê (Trần Trọng Kim gọi là con sấu)(7), là những vị thần hộ trì Phật pháp.

          TƯỢNG THỜ SAU NHÀ BÁI ĐƯỜNG
          
Sau nhà bái đường, trước khi dẫn vào chánh điện, thường được bày biện tượng các vị La Hán, Tứ Bồ Tát, và Bát Bộ Kim Cương. Tứ Bồ Tát và Bát Bộ Kim Cương là những vị thần đã phát bồ đề tâm và đang vận dụng thần lực để bảo vệ, hộ trì phật pháp.


Tổ Tây Thiên Ðông Ðô Việt Nam lịch đại tổ, tượng sơn thiếp, chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, ảnh Milós Rév
La Hán (phiên âm từ Phạn ngữ Arhat, tiếng Hán-Việt là A-La-Hán, gọi tắt là La Hán) là các vị thánh đã ngộ đạo, tuy ngộ đạo nhưng chưa thành Phật. Khái niệm La Hán (Arhat) du nhập vào Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ 7, nhưng qua thế kỷ thứ 10 mới được Thiền Tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền Tông tìm thấy nơi La Hán yếu tính tự lực để đạt đạo (self-salvation), La Hán từ chối các lực phổ độ đến từ bên ngoài (universal salvation), nên khái niệm này rất phù hợp với tinh thần thiền. Các vị La Hán nhờ trí huệ siêu việt nên đạt được nhiều thần thông, như biết các tiền kiếp của mình, nhìn thấy địa ngục, chư thiên, biết rõ mình đã giải thoát, đoạn diệt mọi ố nhiễm để thắng trí xuất thế, và trước mắt là nghe được tất cả mọi âm thanh cũng như rõ được ý của người khác.
            

Trong nhiều chùa chiền của Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam, người ta có thể tìm thấy tượng của 500 La Hán, hay hình vẽ 18 thánh nhân này trên vách tường chính điện với nét mặt và cử chỉ rất đặc biệt. Tượng 500 La Hán được tạc nên là để nhớ lại lần kết tập thứ nhất có 500 vị thánh nhân hiện diện, cũng như lần kết tập thứ tư ở Kashmir cũng có 500 vị La Hán tham dự. Về hình tượng 18 La-Hán là do lời truyền tụng: Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-La-Hán; 16 vị này bất tử để giữ gìn giáo pháp cho đến thời mạt pháp hoàn toàn thì mới nhập niết bàn.Vào thế kỷ thứ 10, con số 16 A-La-Hán đã được nâng lên thành 18 vị.(8)
          

Tượng Thập Bát La Hán thường được bài trí thành hai dãy, hai bên hành lang dẫn vào chánh điện, hoặc ở hai bên chái của chánh điện, từ đây có thể đi tiếp vào hậu điện. Cũng có nơi, tượng La Hán được bày ở hậu điện. Có một số chùa chỉ bày mười pho tượng La Hán nên gọi là Thập Điện La Hán như ghi nhận của Phan Kế Bính trên Đông Dương Tạp Chí thời khoảng 1913-1914. Cụm từ “Thập Điện La Hán” của Phan Kế Bính không thấy ở những kinh sách nghiên cứu về Phật giáo khác. Có lẽ do Phan Kế Bính quan sát và ghi nhận hình ảnh này từ một vài ngôi chùa nào đó rồi viết ra mà thôi.(9)
          

Tượng Phật Cửu Long cũng được thiết trí ngay giữa khu vực này. Phật Cửu Long là tượng Phật Thích Ca sơ sinh.(10) Theo truyền kỳ Phật giáo, mẫu thân Đức Phật nằm mộng thấy con voi trắng sáu ngà hoá thành hào quang rực rỡ chiếu vào thân mình, rồi mang thai mười tháng mà sinh ra ngài. Lúc Thích Ca đản sinh, có chín con rồng hiện đến, cuộn mình tung lượn giữa đám mây mù, phun nước tắm cho ngài. Và sau khi tắm xong, ngài đứng dậy đi bảy bước, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất mà nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.” Hình ảnh đản sinh là một tượng trưng đặc biệt của Phật giáo, vì đó là bước đầu của hành trình đi đến giác ngộ và niết bàn mà chúng ta sẽ gặp thấy ở những pho tượng Phật khác trong tư thế ngồi và nằm. Liên hệ đến chuyện truyền kỳ này, ở nhiều chùa, cứ hàng năm đến ngày lễ Phật đản, tượng Phật Cửu Long được rước ra tắm và thay áo mới. Dưới các triều đại nhà Lý, có lẽ bắt đầu từ thời Lý Thánh Tông, lễ tắm Phật bằng nước thơm được cử hành trọng thể ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) vào sáng ngày mồng tám tháng Tư, với sự có mặt hầu như đông đủ nhà vua, hoàng hậu, hoàng gia,và triều thần bá quan văn võ, dân chúng cũng tụ tập về tham dự rất đông.(11)
          

rong tất cả các chùa chiền Việt Nam, tượng các vị La Hán có lẽ là đặc sắc nhất vì đã vượt qua khỏi những kiểu mẫu có tính công thức. Mỗi pho tượng là một nét riêng, có nhiều tính sáng tạo, suy nghĩ và đóng góp riêng tư của người nghệ sĩ điêu khắc xưa. Trên khuôn mặt của từng mỗi vị La Hán hiện lên hơi thở và bóng dáng nhân sinh của người thợ chạm khắc, và qua đó đôi lúc là cả bầu khí sinh hoạt của xã hội đương thời. Những pho tượng ấy vì thế mà ít giống nhau, biểu lộ được tính cách của tác giả pho tượng, mà chính ở đó cũng là tính cách riêng của nền điêu khắc cổ truyền Việt Nam. Những pho tượng La Hán ở chùa Tây Phương (1794) ở Quốc Oai, Sơn Tây, thực hết sức đẹp và sinh động là một điển hình. Đây là một thành tựu suất sắc của nghệ thuật thời Tây Sơn, để lại những kiệt tác trong di sản nghệ thuật cổ Việt Nam. Điêu khắc gỗ nơi mười tám pho tượng La Hán này đạt được cái tài tình, lão luyện từ một nền nghệ thuật truyền thống lâu dài từ nhiều thế kỷ trước để lại, rất sâu sắc, hiện thực và sống động. Cao lớn như người thật, được sơn son thiếp vàng, mỗi pho tượng như muốn biểu lộ một chân dung tâm lý riêng, toả ra một tính cách riêng, một tâm trạng riêng, một tinh thần riêng. Qua hình tượng các vị tổ trong đạo Phật, nhà điêu khắc đã phát biểu rất tài tình một thế giới nhiều chiều sâu, đôi lúc pha chút dí dỏm, hóm hỉnh, và rất rõ ràng là chứa đựng nhiều chất con người trong bối cảnh xã hội đương thời.
               

Tượng Phật Đà Nan Đề (Buddhanandi), vị tổ thứ tám, đúng là một bậc trí giả thượng thừa, vui vẻ, nhưng nghiêm trang và đức độ dưới ánh đạo vàng Phật pháp. Mặc áo trạc ngực, bày ra cả bụng và rốn, thoải mái trong cử chỉ đang ráy tai, miệng tươi cười dí dỏm, phong thái giản dị, khinh khoái. Kinh Phật nói rằng ngài giảng kinh rất thông tuệ, không bao giờ vướng mắc điều gì.


Tổ La Hầu La Ða, tượng gỗ sơn thiếp, chùa Tây Phương, ảnh Milós Rév
Bà Tu Mật (Vasumitra), vị tổ thứ bảy của phái Đại Thừa thì trông vồn vã, tươi cười, ăn mặc chỉnh tề, hai cổ tay mang hai chiếc vòng, hai tay chắp lại đưa ra đằng trước như đang đảnh lễ hay cầu nguyện.
             

Hiếp Tôn Giả (Parcva), vị tổ thứ mười, đứng tựa vào gốc cây, tay cầm quạt, đôi mắt trông có vẻ lơ đãng nhưng nhìn thấy suốt mọi việc, ngài là người cực kỳ thông minh, rất cần mẫn, chăm chỉ, ít nói và chỉ nhìn. Nhà nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn Đỗ Cung cho rằng đây là pho tượng thành công bậc nhất trong loạt các pho tượng này, ông đề nghị chúng ta thưởng thức cái thần khí của pho tượng, tinh thần cần mẫn của Hiếp Tôn Giả nơi hai con mắt đang nhìn lơ mơ của pho tượng.(12)
            

Tổ Long Thụ (Nagarjuna), vị tổ thứ mười bốn, ngồi trên một toà sen lớn, dáng người uyên bác, thâm trầm, nghiêm túc.
           

Tổ Ca Tỳ Ma La(Kapimala), vị tổ thứ mười ba, với hai con mắt nhìn trừng trừng rất oai nghiêm, nhưng vẫn toả ra một vẻ đức độ tràn đầy.
            

Chúng ta thử chiêm ngắm thêm một pho tượng khác nữa rất đẹp, tượng La Hầu La Đa (Rahulabhadra), vị tổ thứ mười sáu. Là chân dung một cụ già trầm tĩnh, đĩnh đạc, y phục nghiêm chỉnh, móng tay để dài, những thớ thịt ở tay, ở cổ làm nổi bật dáng gầy gò của cơ thể, cái miệng ngậm lại với bờ môi trông thật mềm mỏng, con mắt lim dim, tay cầm chiếc gậy để tựa vào người, bên cạnh là con hươu nằm quay người nhìn về phía tổ, càng tạo nên một vẻ hoà điệu thâm trầm cho pho tượng. Thêm vào đó, một chút ấn tượng tôn giáo ở chỗ hai dái tai thả dài xuống, làm dáng dấp pho tượng càng thêm phần nghiêm trang, trầm tĩnh. Đây là một chân dung của tuổi già đã chín muồi trong đời sống, đang trầm tư mặc tưởng.
             

Ở các pho tượng khác cũng thế, như tượng Mã Minh (Acvaghosha), tổ thứ mười hai, tượng Ma Ha Ka Diếp (Kasyapa),vị tổ thứ nhất, tượng Ất Nan (Ananda), vị tổ thứ hai…, hết thảy mười tám pho tượng La Hán này đều mang lại một vẻ sinh động kỳ diệu, tuyệt vời. Tính sinh động nơi các pho tượng ấy đã được ghi nhận và mô tả một cách tài tình dưới ngọn bút của nhà thơ Huy Cận.

                    Các vị La Hán chùa Tây Phương
                    Tôi đến thăm về lòng vấn vương
                    Há chẳng phải đây là xứ Phật
                    Mà sao ai nấy mặt đau thương?

                    Đây vị xương trần chân với tay
                    Cớ chi thiêu đốt tấm thân gầy
                    Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
                    Tự bấy ngồi yên cho tới nay

                    Có vị mắt giương, mày nhíu xệch,
                    Trán như nổi sóng biển luân hồi,
                    Môi cong chua chát tâm hồn héo,
                    Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

                    Có vị chân tay co xếp lại
                    Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
                    Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
                    Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn.
            
                 Các vị ngồi đây trong lặng yên
                 Mà nghe giông bão nổ trăm miền
                 Như từ vực thẳm đời nhân loại
                 Bóng tối đùn ra trận gió đen.

                 Mỗi người một vẻ mặt con người
                 Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
                 Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
                 Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

                 Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
                 Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
                 Một câu hỏi lớn. Không lời đáp.
                 Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

                 Có thực trên đường tu đến Phật
                 Trần gian tìm cởi áo trầm luân
                 Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
                 Các vị đau theo lòng chúng sinh?

                 Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
                 Sống lại cho tôi hỏi một câu:
                 Bác tạc bao nhiêu hình khổ hạnh,
                 Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

                 Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
                 Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
                 Là ông cha đó bằng xương máu
                 Đã khổ, không yên cả dáng ngồi.
                 ….
      Vẻ đẹp trên các tượng La hán chùa Tây Phương càng trở nên bi tráng, thấm đẫm mùi vị nhân sinh mà cũng đầy hùng lực qua mắt nhìn Huy Cận, soi sáng thêm một lần nữa tính sáng tạo của nhà tạc tượng Việt Nam xưa, chúng ta có thể gọi đó là cái riêng của điêu khắc cổ Việt Nam.

      TƯỢNG THỜ Ở CHÍNH ĐIỆN

       Bước vào chính điện, chúng ta sẽ thấy tượng thờ các vị tu hành đã đắc đạo, đạt chính quả. Phía đằng trước là tượng Phật nhập niết bàn, rồi đến Phật Di Lặc, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Quan Âm. Sau cùng là Phật A-Di –Đà và tượng Tam Thế Tôn. Tam Thế Tôn là ba pho tượng có lẽ quan trọng nhất ở gian chính điện, thường bày cao lên gần sát mái nhà và kề sát vách chính điện, tức là Thường trụ tam thế diệu-pháp thân, là biểu tượng của chư Phật thường trụ qua thời gian: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. Có người cho rằng ý nghĩa của ba tượng Phật này chẳng khác gì ý nghĩa Tam-vị-nhất thể (Trinité) của đạo Ky Tô.
        

Phật A-di-đà (Amita) là giáo chủ của cõi Tây phương cực lạc. Gốc Phạn ngữ Amita nghĩa là vị Phật của ánh sáng vô lượng (Amitatàbha: The Buddha of Infinite Light) và cũng là vị Phật của vô lượng thọ (Amitàyus: The Buddha of Infinite Life.) Tượng Phật A-di-đà thường được tạc đang ngồi trên toà sen, tay bắt ấn, phía bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokites’vara), biểu hiện của lòng từ bi, và bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahasthamprata), biểu hiện của ánh sáng trí tuệ.
         

Trong các điện thờ Phật Đại Thừa, tượng Phật A-di-đà thường được tạc lớn nhất, tuỳ vào kích thước của từng ngôi chùa. Tượng A-di-đà ở chùa Phật Tích (Hà Bắc) cao 1m87, không kể bệ và toà sen, là một di tích quí giá của lịch sử văn hoá và mỹ thuật Việt Nam.(13)
         

Quan Thế Âm là vị bồ tát thần thông quảng đại, thường hiện ra để cứu khổ cứu nạn chúng sinh. Thế gian là một biển khổ mênh mông, nên ở đâu có tiếng kêu cứu khổ cứu nạn thì ngài đều đưa tay cứu vớt. Kinh Pháp Hoa nói: “Khổ não chúng sinh nhất tâm xưng danh, Bồ tát tức thị quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan-Thế-Âm.” (Chúng sinh bị khổ não mà nhất tâm gọi đến tên Bồ-Tát, tức thời Ngài sẽ xem đến âm thanh kêu xin mà độ cho được giải thoát. Bởi thế gọi tên Ngài là Quan-Thế-Âm.)
         

Một trong những sắc tướng thường được nhớ đến rất đặc biệt của Ngài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát, nghĩa là một vị bồ tát đại từ đại bi, có thần thông vô lượng, pháp nhãn và pháp lực đến không cùng, không điều gì là ngài không thấy, không việc gì là ngài không làm được, nên ngài có sắc tướng của một bồ tát có nghìn tay nghìn mắt.
         

Chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh hiện rất may mắn còn bảo lưu được pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, được tạc từ năm 1656, rất tinh xảo, là một kiệt tác của nền mỹ thuật cổ Việt Nam. Nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh cho chúng ta biết: Nam tước Trương văn Thọ thời Hậu Lê đã đặt thợ tạc pho tượng này để dâng cúng vào chùa, và cũng như tất cả các tượng cổ Việt Nam khác, chúng ta không biết điêu khắc gia nào đã tạc nên pho tượng này. Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên có thể đúc kết là, trong tất cả các tượng Quan Âm cổ của Việt Nam, chắc chắn đây là pho tượng đẹp nhất.(14)
           

Hình tượng và bố cục của pho tượng, mặc dù cũng chỉ là bắt nguồn từ cái chung có từ nhiều đời trước, như tượng Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt của Trung Hoa và Ấn Độ,  nhưng vấn đề ở đây là cái tài tình của một người nghệ sĩ Việt Nam nào đó, hơn 350 năm trước, đã thực hiện nên công trình kỳ diệu này, và đã để lại cho chúng ta một niềm tự hào vô hạn về một tác phẩm mỹ thuật toàn bích.
          

Ông Nguyễn Phi Hoanh đã nhận xét về pho tượng này: “Cái đặc sắc của tượng Quan Âm chùa Bút Tháp là ở chỗ tác giả, với nghệ thuật điêu luyện đã làm cho một hình kỳ quái có nhiều đầu, nhiều tay vẫn giữ được vẻ tự nhiên không có gì chướng mắt. Ba hình mặt lớn ở dưới là mặt Phật vào loại đẹp nhất của nghệ thuật tôn giáoViệt Nam. Bốn bàn tay để phía trước rất mềm mại, tự nhiên và nghệ sĩ có cái ưu điểm là không để rơi vào chỗ mềm yếu như trong nhiều tượng khác. Bố cục chung và động tác của những bàn tay lớn rất thoải mái, chứng tỏ trình độ cao của nghệ sĩ trong việc giải quyết một hình thể khó khăn như tượng này.”(15)
        

Nhắc đến tượng Phật nơi các cổ tự, chúng ta cũng không thể quên được pho tượng Phật tạc bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, cao 1m96, bày ngay ở phòng bát giác chính của Bảo TàngViện Sài Gòn trước đây, với những quí tướng đặc biệt, nghĩa là theo qui cách tượng trưng cố hữu, nhưng vẫn toả ra một hấp lực đặc biệt đối với người quan chiêm, kính ngưỡng.
          

Đây là tượng Thích Ca Mâu Ni Phật (Sàkyamuni Buddha.) Phật A-di-đà là báo thân của Phật thì Thích Ca Mâu Ni là ứng thân của Phật, tức là hai mặt của một bản thể thường trụ không sanh không diệt. Tượng Phật này cũng gọi là tượng Đức Cồ Đàm vì Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật lịch sử, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhàrtha), thuộc dòng họ Cồ Đàm (Gautama), con trai của một tiểu vương ở gần Hi Mã Lạp Sơn, thuộc vùng Népal ngày nay.
         

Pho tượng được tạc ngồi kiết già (Vajrãnasa) trên toà sen. Hai bàn tay thanh thản xếp vào nhau, tay mặt để trên tay trái, hai ngón cái chạm đầu vào nhau. Có chữ vạn      nổi ở giữa ngực, tượng trưng của pháp lực chuyển động tới vô cùng vô tận, có cục gồ usnĩsa nổi cao trên đỉnh đầu, tóc xoắn hình khu ốc. Khuôn mặt đầy đặn, hai cánh mũi lớn, đôi mắt lim dim như đang tập trung huyền lực, hai trái tai dài xuống đến gần ngang cằm. Cổ có ngấn, góp phần tạo nên một ấn tượng mềm mại, duyên dáng. Thân mình được phủ chiếc áo cà sa rộng, có những lằn xếp đều đặn rất nghiêm trang. Người chiêm ngắm có thể nhìn thấy ở đây dáng vẻ của một bậc trí giả trầm lặng, an tĩnh, hay đúng hơn là hình ảnh của một vị Phật rực rỡ như vàng thắm, trầm tư mà oai nghiêm như sư tử.


Toàn cảnh chùa Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh, ảnh W&B Forma
Tượng Phật Cồ Đàm này có một lịch sử khá đặc biệt. Nguyên là pho tượng được vua Minh Mạng dâng cúng vào chùa Khải Tường nhân ngày khánh thành ngôi chùa này. Chùa Khải Tường ở thôn Hoạt Lộc, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, được xây dựng năm Nhâm Thìn 1832, để kỷ niệm nơi vua Minh Mạng chào đời. Khi Gia Long Nguyễn Phúc Ánh chưa thống nhất sơn hà và còn bôn tẩu ở phương Nam, Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, thứ phi của chúa Nguyễn Ánh đã sinh hoàng tử Đảm (về sau là vua Minh Mạng) ở nơi này vào năm Tân Hợi 1791. Vua Minh Mạng cho dâng cúng pho tượng để tạ ơn Phật và cũng là để kỷ niệm một nơi quí tường của hoàng gia và đất nước. Chùa được trùng tu vào năm Bính Thân 1836, đời vua Minh Mạng thứ 17.(16)
        

Trong cuộc chiến tranh Pháp-Việt, chùa từng đã là một cứ điểm kháng Pháp, được Nguyễn Tri Phương lập đồn năm 1859. Chùa Khải Tường, Pháp gọi là Pagode Barbé vì đêm 6-12-1860, kháng chiến quân đã phục kích giết chết đại uý thuỷ quân lục chiến Barbé tại đây. Chùa Khải Tường (Pagode Barbé), cùng với các ngôi chùa khác là Hiển Trung (Pagode aux Mares), Kiểng Phước (Pagode des Clochetons) ở Chợ Lớn, chùa Cây Mai ở Phú Lâm đã tạo thành một chiến tuyến mà Pháp gọi là ligne des Pagodes, để chống lại sự tiến quân của Pháp về phía Chợ Lớn. Chinh chiến tiếp diễn từ năm 1860, rồi sau đó khi Pháp đã chiếm đóng được toàn bộ Sài-Gòn, chính quyền thuộc địa đã huỷ phá một số đền chùa cũ của ta để xây dựng một thành phố mới theo kiểu Tây Phương. Chùa Khải Tường bị phá huỷ, pho tượng Phật của vua Minh Mạng may là còn nguyên vẹn, nương náu chỗ này chỗ khác cùng với Hội Cổ Học Ấn-Hoa (Société des Etudes Indochinoises), sau cùng được đưa về trưng bày ở Viện Bảo Tàng Sài-Gòn.
         

Ở bên trên, chúng ta vừa vẽ phác về cách bày biện những pho tượng thờ trong những ngôi cổ tự, cũng nhân đó mà chiêm ngắm một số danh tác của nền điêu khắc cổ Việt Nam.
         

Đối với kho tàng mỹ thuật Phật giáo vô cùng phong phú, đây chỉ là vài nét đan thanh, chúng ta sẽ có dịp trở lại với đề tài này vào một dịp khác, công phu, tỉ mỉ, và toàn diện hơn.
                                                                               
 
Tết Nhâm Thìn 2012

HUỲNH HỮU U
CHÚ THÍCH
(1) CF. - Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,”Chương I, Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu”, Lá Bối, Sài-Gòn,1974, trang 13-22.
             - Nhất Hạnh, Thiền Sư Tăng Hội, Sơ Tổ của Thiền Tông Việt Nam, Nxb An Tiêm, Paris, 1998.
(2) Lời trích từ bài minh của Lê Quát trên bia chùa Thiệu Phúc ở Bái Thôn, Lộ Bắc Giang. Dẫn lại trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1967, trang 161.
(3) Nguyễn Quân, ”Chùa làng hay các bảo tàng điêu khắc”, Đất Mới, Montréal, số 2, tháng 2.1990.
(4) Những ngôi chùa lớn thường dựng theo kiểu nội công ngoại quốc (trong hình chữ công, ngoài hình chữ quốc), được gọi như thế vì khu nhà chính giữa có hình chữ công và ở chung quanh có những dãy nhà bao quanh lại theo hình vuông.
(5) “Triển lãm cổ tích Việt Nam”, phần tượng Phật do Paul Lévy ghi chú. Dân Việt Nam (Le Peuple Vietnamien), Viện Đông Phương Bác Cổ xb, số 2 tháng 12.1948.
(6) Hầu hết các tượng Hộ Pháp ở hai gian bên cạnh nhà bái đường được đắp bằng đất sét, hoặc vôi vữa, nhưng các pho tượng Phật thì lại được tạc bằng gỗ, đôi lúc được đúc bằng đồng hoặc chạm khắc bằng đá. G.Dumoutier trong Lược Khảo về người Bắc Bộ (Essais sur les Tonkinois) cũng đã từng cho chúng ta biết về kỹ thuật thực hiện các pho tượng gỗ này. Gỗ làm tượng thường là gỗ mít, màu vàng, thớ nhỏ và se, dễ đục đẽo và không bị cong. Tượng đã tạc xong, các phần của tượng được ghép lại với nhau đâu vào đấy, người thợ lấy đất sét trắng trộn với sơn sống để bịt những chỗ nứt, chỗ nối, rồi trát lên toàn pho tượng một lượt và mài nhẵn chỗ lồi lõm. Thực hiện nhiều lượt như thế cho đến lúc vừa ý thì sẽ để cho khô, rồi quét sơn và thếp vàng. (Dẫn lại trong Dân Việt Nam, Le Peuple Vietnamien, bài đã dẫn.)
(7) CF. Trần Trọng Kim, Phật lục, Nxb Tôn Giáo tái bản, Hà Nội, 2002, trang 117.
(8) Theo Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách, Từ Điển Phật Học, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1999, trang 222-223.
(9) Xem Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, Phong Trào Văn Hoá xb, Sài-Gòn, 1974, trang 122.
(10) Theo ông Trần Nho Thìn, sau nhiều cuộc thăm viếng, khảo sát các chùa chiền cho biết: ở một vài ngôi chùa, có đến năm hay bảy tượng Phật Thích Ca sơ sinh, sở dĩ như vậy vì các Phật tử vào dịp này dịp khác đã thành tâm cúng vào chùa các pho tượng ấy, cứ mỗi lần như thế, nhà chùa lại bày biện thêm chứ không quan tâm đến chuyện các pho tượng chỉ mang một nội dung, hình thức cũng là mẫu hình tương tự. Các pho tượng được cúng vào chùa thường là vào các dịp trùng tu, tôn tạo chùa. Và cứ như thế, số lượng tượng Phật cứ tăng mãi, ví dụ như ở chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) ở Sơn Tây có đến 287 pho tượng các loại, ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm Tự) có 153 pho tượng các loại. (CF. Trần Nho Thìn, Vào Chùa Thăm Phật, sự tích- ý nghĩa- cách bài trí, Hà Nội, 1991.)
(11) Xem Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II, trang 37-38, Nxb Lá Bối, Paris,1978.
(12) Nguyễn Đỗ Cung, “ Mỹ Thuật Thời Tây Sơn “, Mỹ Thuật số 5, 1969, Viện Mỹ Thuật- Mỹ Nghệ Hà Nội, trang 84-93.
(13) Xem thêm: Huỳnh Hữu Uỷ,” Chùa Phật Tích và mấy di tích mỹ thuật thời Lý ”, Thế kỷ 21, California, số 76, tháng 8.1995.
(14) Nguyễn Phi Hoanh, Lược Sử Mỹ Thuật Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1970, trang 95.
(15) Nguyễn Phi Hoanh, sđd, trang 96.
(16) CF. – Thái Văn Kiểm,” Từ Trần-Tộc-Từ đến Khải-Tường-Tự “, Đất Việt Trời Nam, Nxb Nguồn sống, Sài-Gòn,1960, trang 466-473.
               - Trương Bá Phát, “Lịch sử những vị Phật gỗ trong Viện Bảo Tàng Quốc- Gia Việt-Nam”, Văn Hoá Tập San, Sài-Gòn, bộ XX(1971), số 1, trang 118-147.
       Ở đây, có một điểm cần lưu ý: Hai ông Thái văn Kiểm và Trương Bá Phát chỉ nói rằng chùa Khải Tường được xây dựng năm 1832 để kỷ niệm nơi vua Minh Mạng chào đời. Ông Vương Hồng Sển lại nói rõ ràng hơn, là hoàng tử Đảm, tức vua Minh Mạng đã được sinh ra tại hậu liêu của ngôi chùa này. Như vậy, trước năm 1791 (năm sinh của vua Minh Mạng), đã có chùa Khải Tường, và có lẽ chỉ là một ngôi chùa nhỏ ở địa phương, ít người biết đến, về sau vua Minh Mạng đã cho xây cất khang trang, lại cho gửi pho tượng Phật từ Huế vào để thờ phượng, nên Khải-Tường-Tự đã trở thành một quốc tự và là một vết tích khá đặc biệt. (Xem Vương Hồng Sển, Sài Gòn Năm Xưa, Nxb T.ph. Hồ Chí Minh tái bản, Sài Gòn, 1997, trang 216.)




Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

Khánh Trường, Sức Mạnh Của Im Lặng

ĐINH CƯỜNG

 

Những ngày giáp Tết, nhận được e-mail Khánh Trường gởi cho biết sẽ bày tranh Thiền ,* gồm 30 bức, thật không còn gì vui hơn . Đời sống tâm linh đã cứu rỗi con người, một con người tưởng như đã chết đi và sống lại, sống lại lẫm liệt để Qua Bờ. Bờ của an trú tịch nhiên. Khánh Trường lấy tên chung cho lần bày tranh hiếm có này là Đáo Bỉ Ngạn (Crossing to the other shore) như lời chú trong Bát nhã ba la mật đa tâm kinh :

Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn vượt qua, tuệ giác thành tựu)

Khánh Trường đã vượt qua như thế nào: Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình. Với cá nhân tôi, Thiền chỉ giản dị thế thôi .

Nên khi vẽ những bức tranh liên quan đến chủ đề Thiền, tôi luôn tự nhủ sẽ tuyệt đối trung thành với ý niệm trên . Vì vậy 30 bức tranh trong lần triển lãm này đều được gạn lọc, hạn chế tối đa từ đường nét, màu sắc đến đề tài, cũng như không để mình bị cuốn vào những lãnh địa mới, lạ mà hầu hết họa sĩ đều mong thử nghiệm, khai phá .

Cũng có nghĩa tôi dùng một bút pháp rất chân phương, mộc mạc để chuyển tải những giáo lý cơ bản của Phật Giáo với mong ước ai cũng có thể tiếp cận và hiểu dễ dàng.


Lời bộc bạch trên của tác giả như dẫn chúng ta đi vào tranh ảnh, một thế giới khác so với những thập niên trước, một con người năng động, đầy sắc màu trong văn chương nghệ thuật, cũng phải kể đến thời sung mãn khi anh đứng mũi chịu sào làm tờ Hợp Lưu, một tờ nguyệt san đẹp về hình thức lẫn nội dung, cho đến nay Đặng Hiền vẫn tiếp tục, trong tình hình kinh tế khó khăn, hai ba tháng ra một số…

Xem qua 30 bức tranh trên internet không bằng đứng trước những tấm toile nhưng sự xúc động đã đến với tôi, tôi bắt gặp ở đó sự chân thật của xúc cảm và sáng tạo, vẫn Khánh Trường với màu xanh trong mênh mông, vẫn vầng trăng, núi đồi, vẫn tĩnh vật mấy quả táo, vẫn chiếc khăn phơi, vẫn những kỷ niệm từ một thời niên thiếu bên triền cát trắng, đến thời thanh niên với những lần hành quân qua Khe Sanh miền địa đầu giới tuyến trùng điệp núi rừng, bom đạn … để bây giờ là Bầu Rượu Bể, là Tịch Lặng, là Khổ Hải, là Vô Thường … để đi đến Hành Trình Giác Ngộ như trong Thập Mục Ngưu Đồ … Khánh Trường đã thỏng tay vào chợ, chỉ còn một vòng trống không … người trâu đều quên. Và thật sự Khánh Trường, người họa sĩ tài hoa, nhiều nghị lực ấy đã quên chưa Nghiệp Chướng.

Mười năm trước người vẽ bị tai biến mạch máu não. Chân bất khiển dụng 90%, phải ngồi xe lăn, hai tay lọng cọng, cầm đũa, viết, vẽ không được. Mắt mờ, nhìn một thành hai. Nói năng ngọng nghịu khó khăn. Một năm sau bị thêm hai bạo bệnh, ung thư thanh quản và loét bao tử…


Thế mà người vẽ vẫn tiếp tục sáng tác được, dù vô cùng khó khăn. Song khó khăn này đến từ thể chất, thuần vật lý, hoàn toàn không liên quan đến cảm hứng sáng tạo. Gần 100 Tác phẩm đã được khai sinh. Đây là lần triển lãm thứ ba sau bạo bệnh.


Khánh Trưòng cũng tự bộc bạch, để thấy rõ hơn sức mạnh của nguồn cảm hứng sáng tạo nơi anh. Tôi thật sự cảm phục bạn ở Sức Mạnh Của Im Lặng và tìm chốn nương tựa cho tâm hồn mình: Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Như Nietzsche với hình ảnh Zarathustra đã gợi lên lộ trình sâu rộng của một bậc Đại Bồ Tát giữa lòng đen tối của thế gian. Khánh Trường là hình ảnh của Zarathustra “Trong tất cả những tác phẩm, ta chỉ yêu những tác phẩm nào đươc tác giả viết bằng máu của chính mình. Ngươi hãy viết bằng máu rồi ngươi sẽ biết được rằng máu chính là tinh thần.” Zarathustra đã nói như thế Khánh Trường đã vẽ như thế.

Virginia, 8 Janv, 2012
Đinh Cường