Hiển thị các bài đăng có nhãn Dan Southerland. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dan Southerland. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

Ðinh Quang Anh Thái: Dan Southerland và những ‘phút cuối cùng’ của Việt Nam Cộng Hòa

Trong số các nhà báo ngoại quốc ở Việt Nam, ký giả Dan Southerland là một trong ít người ở lại tới ngày cuối cùng và chứng kiến ngày chót của Việt Nam Cộng Hòa 30 Tháng Tư 1975.
Từ 1985 đến 1990, ông là giám đốc văn phòng Washington Post tại Bắc Kinh và tường thuật vụ đàn áp đẫm máu phong trào dân chủ Thiên An Môn, và do loạt bài này ông được trao giải Pulitzer.
Trong cuộc chiến Việt Nam, ông làm việc cho hãng tin UPI và tờ The Christian Science Monitor, và cũng từng tường thuật chiến sự tại Cambodia, Lào, và cuộc chiến giữa Ấn Ðộ và Pakistan năm 1971.
Ông từng là phó tổng giám đốc đặc trách chương trình của Ðài Á Châu Tự Do (RFA) và từng viết cho nhiều hãng tin và báo chí quốc tế trong giai đoạn ông thường trú tại Tokyo, Hong Kong, Sài Gòn, Bắc Kinh.
Tháng Tư năm 2011, qua email, ông Dan Southerland trả lời phỏng vấn của Ðinh Quang Anh Thái về những diễn biến ở Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975.

-Ðinh Quang Anh Thái: Khi Sài Gòn sụp đổ cách đây 36 năm, lúc bấy giờ ông ở đâu?

-Dan Southerland: Tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư trước khi Sài Gòn sụp đổ, trong bối cảnh các xe tăng của quân Bắc Việt tiến gần vào Sài Gòn, lúc đó tôi ở tại khách sạn Continental để viết bài cho tờ The Christian Science Monitor. Tôi tường thuật những giây phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa với hai sự kiện trọng đại là việc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và lễ nhậm chức tổng thống của Tướng Dương Văn Minh.

Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hỏi cung 
tù binh cộng sản, bên trái là ông Southerland, 
trong trận Mậu Thân II tháng 5 năm 1968 tại Sài Gòn. 
(Hình: Dan Southerland gửi cho ĐQAT)
-ĐQAT: Tâm trạng của ông ra sao khi chứng kiến những sự kiện lịch sử đó?

-Dan Southerland: Tôi buồn khi nhìn thấy cảnh hỗn loạn của Sài Gòn. Tôi cố trấn an người thầy dạy tôi tiếng Việt và người thông dịch viên lâu năm của tôi. Tôi cũng đưa ra vài ý kiến là họ nên làm gì trong tình huống này. Cả hai quyết định ở lại; người dạy tiếng Việt thì vì hoàn cảnh gia đình, còn người thông dịch thì cho rằng chẳng có gì để lo sợ Việt Cộng. Khi tôi đến căn nhà nhỏ của anh thông dịch viên, anh chỉ cho tôi tình cảnh sống quá nghèo nàn của anh và bảo rằng không có lý do nào khiến anh bị cộng sản kết án.