Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

Mai Xuân Dũng - Có nên công an hóa bộ máy Nhà nước?

Mai Xuân Dũng

Trong mọi vấn đề mà chính trị không là ngoại lệ, những nhầm lẫn chính sách hiện diện khắp nơi ở mọi giai đoạn lịch sử. Có những nhầm lẫn do ấu trĩ, có những nhầm lẫn mang tính hệ thống có chủ định.


Một ví dụ: Khi đời sống dân chúng được nâng lên từ chỗ ngày hai bữa, sáng sắn chiều cơm đến chỗ ngày ba bữa sáng phở, trưa cơm, chiều thích cơm có cơm thích phở có phở thì đảng bảo: dưới sự lãnh đạo của đảng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và từng bước giầu lên. Ai cũng thừa nhận chuyện dân ta có cái ăn cái mặc tốt hơn trước nhưng bé cái nhầm ở chỗ đâu phải nhờ lộc đảng ban cho. Dân có cái ăn cái mặc do chính dân vẫn vật lộn với đất gội nắng dầm mưa như đã từng như vậy nhưng khác ở chỗ trước đây đảng trói dân trong cơ chế hợp tác hóa nhưng khi sợi thừng cơ chế được tháo bỏ, nhân dân đã thở được, chân tay được tự do nhiều hơn để hết lòng cày cuốc trên các thửa ruộng. Điều đó không phải đảng hay bất cứ ai ban cho.

Cũng vậy, tư duy của mấy chục năm trước ở lĩnh vực khác như quản lý tư tưởng có thể sẽ là sợi thừng trói chân tiến bộ xã hội trong khi tiến bộ xã hội là tiền đề cho bước đi của đất nước hướng đến một xã hội công bằng, thúc đẩy sự giải phóng năng lượng sáng tạo của con người đóng góp vào tương lai phồn vinh cho một dân tộc, cho nhân loại. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định bổ nhiệm Trung tướng Phạm Dũng - Uỷ viên Đảng ủy Công an Trung ương, Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh II, Bộ Công an - giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Việc thuyên chuyển cán bộ từ một lĩnh vực công tác này sang một lĩnh vực công tác khác là một việc rất bình thường trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên việc một cán bộ công an cao cấp được cơ cấu vào một lĩnh vực công tác vốn mang tính dân sự như Nội vụ và Tôn giáo lại là điều rất đáng quan tâm. Đó có phải là tư duy công an hóa bộ máy nhà nước và siết chặt quản lý Tôn giáo?

Trong bộ máy nhà nước Việt nam hiện nay, chức năng chính của Bộ Nội vụ là tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, quản lý cán bộ.

Nhìn vào hệ thống cơ cấu nhà nước có thể sơ bộ đoán định được tính ưu việt hoặc thiên hướng chính trị của nhà nước đó. Dù là nhà nước ở chế độ chính trị nào đi nữa thì : “Nhà nước là một bộ máy để cho giai cấp này áp bức giai cấp khác” (như  Lê nin đã từng viết).

Trong một xã hội có giai cấp, giai cấp bị áp bức luôn là giai cấp không có quyền lực, nghèo khổ muốn thay đổi số phận bằng tranh đấu. Bởi vậy, giai cấp có quyền lực, có đặc lợi phải dùng nhà nước làm công cụ áp bức, đè bẹp giai cấp kia. Trong bộ máy nhà nước, công an, cảnh sát  là một công cụ sắc bén đàn áp giai cấp đối kháng. Nếu nhà nước là một thanh gươm thì công an là lưỡi gươm. Trong cỗ máy nhà nước, một bộ không hoặc chưa có cán bộ công an làm nòng cốt sẽ là một điều “khiếm khuyết”?

Tất nhiên, bất kỳ một “công cụ nào” cũng có mặt trái của nó. Trong lịch sử phát triển các nhà nước, đã là “công cụ” thì “tố chất” cốt tử là phải được “rô bốt” hóa “lập trình” hóa. Trên thế giới đã từng có những Nhà nước cảnh sát. Thuật ngữ “Nhà nước cảnh sát” (police state) được dùng để chỉ một quốc gia mà chính phủ của nó thực hiện các biện pháp kiểm soát cứng rắn và có tính áp bức đối với đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của toàn dân. Nhà nước cảnh sát thường bộc lộ các yếu tố của Chủ nghĩa toàn trị và kiểm soát xã hội. Thông thường, có ít hoặc không có khác biệt giữa luật pháp và việc thực thi quyền lực chính trị của người đứng đầu nhà nước trong một nhà nước cảnh sát. Nhưng nếu đưa công an cảnh sát nắm quyền lực trong bộ máy nhà nước có phải là một cứu cánh cho một nhà nước khi nhà nước đó bị mất niềm tin do lỗi hệ thống biểu hiện bằng các hiện tượng tham nhũng, bất công, ức hiếp quần chúng tràn lan?

Platon (427-347 tr.CN) – nhà triết học xuất sắc thời Hy Lạp cổ đại, ông tổ của thuyết duy tâm khách quan, xuất thân quý tộc, nhưng không chịu nổi thói cơ hội của bọn cầm quyền Athena. Bị thôi thúc  bởi cái chết bi tráng do dám đối đầu với nhà nước của ông thầy Xôcrat  đã ám ảnh ông suốt đời. Platon trăn trở tìm những phương cách để nâng cao chất lượng lãnh đạo nhà nước. Nhà nước lý tưởng, theo ông là mô hình được đề cập trong tác phẩm Cộng hòa. Theo đó, xã hội được cai trị bởi nhà nước chủ nô quý tộc, tồn tại trên cơ sở 3 đẳng cấp: những người cai trị xã hội, những người giữ xã hội và những người nuôi xã hội. Mỗi đẳng cấp có một quyền uy và địa vị khác nhau. Con người sống trong xã hội phải phục tùng nhà nước, phải sống vì nhà nước. Và để tồn tại nhà nước này, các nhà triết học và vệ binh không được có tài sản riêng, gia đình riêng vì họ làm việc công, nếu có tài sản riêng, gia đình riêng họ sẽ chỉ phục vụ cho gia đình mình, mang tài sản về nhà mình. Dù có mâu thuẫn và bất hợp lý, nhưng với tư tưởng này, Platon đã manh nha xóa bỏ chế độ tư hữu.

Hêghen, đại biểu tư tưởng cho giới quí tộc Phổ lại cho rằng Nhà nước Phổ (thế kỷ XVI - XVII) là "hình mẫu lý tưởng", là hình thức Nhà nước "tuyệt đích cuối cùng" mà loài người có thể mơ thấy và do đó trách nhiệm của mỗi công dân là phải phục tùng nó.

Đối lập với những quan niệm ấy, Mác và Ăngghen khi chứng minh và luận giải về tính tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản, đã đi đến kết luận rằng: chuyên chính vô sản là "đỉnh cao cách mạng" của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản. Song ngay từ lúc đó, các ông đã ý thức được rằng Nhà nước chuyên chính vô sản chẳng qua cũng chỉ là "Nhà nước nửa Nhà nước", là hình thức quá độ để nhà nước tiêu vong. Điều này được thể hiện rõ ngay trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản". Khi phác thảo những nét cơ bản của xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai, Mác và Ăngghen viết: "... nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt chế độ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt chế độ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt cả sự thống trị của giai cấp mình”.

Đi tìm mặt trái của mô hình nhà nước chuyên chính, có thể đưa ra vài ví dụ ở Liên xô cũ, các nước trong khối Hiệp ước Vác sa va, Bắc Triều tiên hoặc ở nước ta, nếu nhà nước cơ cấu cho một số cán bộ công an đổi cảnh phục để mặc áo vét như trường hợp ông Nguyễn Văn Thành Bí thư Thành ủy Hải phòng là một trong nhiều ví dụ khác. Sự kiên quyết lạnh lùng khi quyết định điều động lực lượng công an quân đội hùng hậu để cưỡng chế một cái đầm tôm của nông dân ở Tiên Lãng giống như thực hiện một chiến dịch quân sự vừa qua của chính quyền thành phố Hải Phòng cho thấy vai trò “tố chất công an” đã đem đến một sự khủng hoảng chính trị tiềm ẩn nhiều nguy hiểm như thế nào.

Trong vụ việc cưỡng chế và hậu cưỡng chế đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, vai trò nổi bật của các ông Nguyễn Văn Thành, Đỗ Hữu Ca là không thể phủ nhận. Tính “rô bốt” và những hạn chế đương nhiên của nó, sự thiếu vắng tư duy nhân bản dẫn lối cho hành động đã khiến ông Thành ông Ca luôn “vấp” ở tất cả các khâu quan trọng trong quá trình “vận động theo lập trình cũ”. Một loạt các sai phạm nghiêm trọng như sử dụng quân đội đàn áp nhân dân, xả súng quá mức, ủi phá nhà nạn nhân của chính quyền Hải Phòng chưa kịp sửa chữa thì các sai phạm tiếp theo: vu vạ, đổ tội phá nhà dân cho “nhân dân”, bao che, chối tội v.v và v.v…đã làm cho bộ mặt “nhà nước Hải phòng” lõa lồ trước công luận trong nước và thế giới. Chưa hết. Một khiếm khuyết bất ngờ khác ở Hải phòng  xảy ra ngoài sự tính toán của chính phủ. Khi người đứng đầu cỗ máy nhà nước “rì pe” con “rô bốt” Hải phòng, bỗng nó giở chứng tự “đoản mạch” tóe lửa, người vận hành trên thực tế bị “bỏng mặt”. Đó là việc ông Thành bí thư Hải phòng dám công khai “đánh nguội” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc tiếp xúc với các cụ hưu trí lão thành cách mạng tại câu lạc bộ Bạch Đằng.

Trở lại việc Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Trung  tướng công an cỡ Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh II, Bộ Công an - giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Nếu trước đây Ban Tôn giáo chính phủ đã có thành tích trong công tác “quốc doanh hóa” một số Giám mục Giáo hội Công giáo thì thành tích đó cũng có mặt trái át cả cái “lợi” mà nó đem lại. Thành tích mậu dịch Công giáo đã làm chính quyền mất sự cảm nhận tinh tế chính trị nên mới để xảy ra những vụ Đồng chiêm, Cồn dầu, Khâm sứ, Thái hà. Hậu quả của chính sách đó chưa thể lường hết. Đây là các núi lửa đã tạm dừng phun trào nham thạch nhưng sự vận động nội tại tiềm ẩn các đợt bùng phát có thể dữ dội hơn nữa. Điều đó có xảy ra sớm hay muộn trong thời gian tới phụ thuộc nhiều vào yếu tố chính sách của Ban Tôn giáo chính phủ. Lợi bất cập hại là điều chắc chắn khi nhà nước tính toán để hiện thực việc công an hóa Ban Tôn giáo chính phủ. Chính vì thế việc giải quyết các vấn đề tôn giáo cần phải được đặt ra như là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có những phương pháp giải quyết đúng đắn. Công an hóa Ban Tôn giáo có là khôn ngoan? Hãy đọc lại chính mấy ông tổ cộng sản Mác – Lênin đã từng chỉ ra rằng: “Chỉ những kẻ ngu ngốc mới tuyên chiến với tôn giáo”.

Tôn giáo là hiện thực tự nhiên của sự vận động tất yếu trong xã hội con người. Mác nói: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Dùng bạo lực tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt Tôn giáo cũng có nghĩa tiêu diệt luôn cả những điều kiện của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt cả sự thống trị của giai cấp mình. Cách thức đưa Việt nam trở lại một thể chế Nhà nước cảnh sát như Bắc Triều tiên hiện nay  chắc là con đường ngắn nhất đến với một nhà nước tiêu vong.

Đó là lý thuyết được thực tế kiểm chứng trên khắp thế giới từ Ceausescu đến Gaddafi. Lẽ nào ở điều kiện Việt nam với hơn 80 triệu dân, tính“đặc thù” sẽ hoàn toàn khác với quy luật tự nhiên phổ quát của toàn thể nhân loại?

Trong một thời điểm nào đó, thực thể vận hành “rô bốt” liệu có thể là nạn nhân, là đối tượng chịu sự điều khiển của chính cỗ máy mình tạo ra?

Nguồn: Blog Mai Xuân Dũng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Ngô Nhân Dụng - Chế độ lấy ghế che mặt


Ngô Nhân Dụng

Nhìn cảnh một anh công an chìm nâng chiếc ghế lên che mặt khi Kỹ sư Đỗ Nam Hải đưa máy lên chụp hình khiến người coi phải động lòng trắc ẩn. Nó chứng tỏ người công an này biết xấu hổ. Anh bạn trẻ này không muốn phơi bộ mặt cho mọi người biết mình là công an. Không muốn đi đâu cũng có người nhận ra mà hỏi: Anh chính là anh công an vẫn “canh cửa” nhà ông Đỗ Nam Hải phải không, sao tôi thấy giống quá? Anh cũng không muốn đám con anh bị bạn bè trong trường dò hỏi: Bố mày làm công an hả? Hay vợ anh đi chợ bị người ta chỉ chỏ: Vợ công an đấy!

Kỹ sư Đỗ Nam Hải
Hà Sĩ Phu có lần phân tích tình trạng nước ta bây giờ đầy tham nhũng, trấn lột, thấy một nguyên nhân là trong xã hội nhiều người không còn biết xấu hổ nữa. Cho nên khi một anh công an còn biết xấu hổ, chúng ta phải mừng. Và thương cảm. Phản ứng nhanh chóng cho thấy anh công an này biết xấu hổ thật! Các cụ nói: “Xấu hổ lấy rổ mà che, lấy nong mà đè, lấy đấu mà đong” (Trong Ca Dao Nhi Đồng, do Doãn Quốc Sĩ sưu tầm). Ngồi trên lề đường giữa thành phố không kiếm ra cái rổ, anh công an của Đỗ Nam Hải lấy ngay cái ghế mình ngồi đưa lên che mặt. Ghế là đồ dùng để ngồi lên, đem ghế che mặt là vạn bất đắc dĩ, cũng không khác gì lấy cái đũng quần mà che lên mặt. Mạnh Tử coi tính biết xấu hổ là một dấu hiệu của tính Thiện bẩm sinh trong mỗi người. Biết xấu hổ là một trong bốn đầu mối (Tứ Đoan) của các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Mạnh Tử viết: “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã.”

Khi Kỹ sư Đỗ Nam Hải điện thoại cho Trung tá Nguyễn Văn Tâm, truởng phòng công an 35 thành phố trình bầy mình bị một công an canh cửa tấn công, thì bị ông này hỏi: “Anh có chắc thằng đó là công an không?” Ông hỏi một câu con nít nghe cũng phải bật cười! Rõ ràng là ông trung tá này không thèm lấy cái gì che mặt hết. Buột miệng hỏi như vậy mà không tự thấy ngượng miệng. Nhưng cũng chẳng nên phê phán ông Nguyễn Văn Tâm. Ông ta phản ứng đúng với vai trò một trung tá công an. Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi. Nó cũng giống như phản ứng của ông Đỗ Trung Thoại, phó chủ tịch thành phố Hải Phòng khi bị nhà báo hỏi về vụ đem công an, bộ đội kéo theo côn đồ đến phà sập nhà ông Đoàn Văn Vươn. Ông Thoại cũng nói xưng xưng: Nhân dân “bức xúc” đến phá đấy!

Những phản ứng nhanh chóng này cũng không phải vì các ông Tâm, ông Thoại sáng trí, nhanh miệng. Nó là do hệ thống đã đào luyện cho họ, tạo thành một phản xạ do điều kiện, như những con chó của Pavlov nghe tiếng chuông là chảy nước bọt. Hệ thống bảo phải bất chấp mọi thủ đoạn gian dối, vu cáo, ngụy tạo, che đậy, gian trá, không cần biết phải trái, chỉ cần bảo vệ quyền lợi của Đảng. Gian dối không phải một tính xấu của một vài cá nhân mà là một thứ “Lỗi hệ thống.” Nó nằm trong cốt tủy các chế độ cộng sản, từ xưa đến nay vẫn vậy. Lại nhắc lời nhà văn Solzhenitsyn nói về chế độ độc tài cộng sản ở Nga: Một hệ thống đàn áp luôn luôn phải đi kèm với một hệ thống dối trá để bưng bít, che đậy những cái ác.

Phản ứng xạ nhấc ngay cái ghế che lên mặt cũng là do thói quen che đậy, bưng bít mà các cán bộ học được trong hệ thống đó. Ông Đỗ Trung Thoại đưa “Nhân dân” ra làm cái ghế che mặt ngay lập tức. Bởi vì ông đã được đào tạo như thế từ trong lò của hệ thống. Không riêng gì anh công an gác cửa nhà Kỹ sư Đỗ Nam Hải, mà tất cả các cán bộ đảng viên cộng sản chân chính đều phải thấm nhuần Chủ nghĩa Lấy ghế Che mặt.

Như trong vụ cướp đất của gia đình Đoàn Văn Vươn chẳng hạn. Một bản kiến nghị do Luật sư Phạm Vũ Hải đã vạch ra là anh em ông Đoàn Văn Vươn là nạn nhân của một trình tự vi phạm pháp luật “có hệ thống.” Hơn nữa, còn sự “toa rập” của cả hệ thống tòa án từ huyện lên tỉnh. Đây là một vụ ăn cướp có hệ thống, do hệ thống sinh đẻ ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã cố làm dịu nỗi phẫn uất nổi lên khắp nước Việt Nam bằng lời thú nhận là nhà nước sai lầm từ đầu đến cuối. Cho phép ông Đoàn Văn Vươn dùng một phần đất đã sai luật. Ra lệnh lấy lại đất lại còn sai hơn. Đem lính tráng, côn đồ, súng ống đến cướp đất, phá nhà càng sai hơn nữa.

Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng cũng biết đem ngay một cái ghế đưa lên che mặt. Cái ghế này là việc đổ tội cho đám quan chức cấp dưới ở Hải Phòng. Gọi là cái ghế không ngoa. Ông Dũng ngồi trên cái ghế thủ tướng là vì ông đang làm đại biểu quốc hội. Ông được bầu vào quốc hội là nhờ đám quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng “cơ cấu” cho các lá phiếu. Ông dùng họ như một phương tiện để leo lên ngồi ghế thủ tướng. Chính đám này là những cái chân trong cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Trước cuộc tấn công của dư luận cả nước vì vụ Đoàn Văn Vươn, Nguyễn Tấn Dũng đã đưa cái ghế đó lên che mặt.

Nhưng cái ghế đó lủng. Nó thủng lỗ chỗ, những lỗ thủng rất to. Nó không che đậy được cái mặt của mạng lưới lạm dụng quyền hành chia chác quyền lợi riêng tư giữa đám tham quan, từ xã, từ huyện lên thành phố, lên đến trung ương! Cái ghế lủng đó càng bất lực không che đậy được cả chủ trương không cho phép nông dân làm chủ ruộng đất của họ. Nó không che đậy được một hệ thống gian trá tham tàn đang lợi dụng mồ hôi nước mắt của dân Việt Nam để làm giầu.

Cuộc họp báo “trấn an” của Nguyễn Tấn Dũng không che đậy được cái mặt thật của chế độ, mà còn kéo dài thêm tình trạng bất an. Bởi vì nó “đánh bùn sang ao,” như nhiều người mô tả. Nó không giải quyết những oan ức của các nạn nhân là gia đình Đoàn Văn Vươn. Nó không xác định những kẻ gây ra tội lỗi phải chịu trách nhiệm gì. Bọn họ chỉ cần kiểm điểm trong nội bộ với nhau! Những lệnh thu hồi đất bị thu hồi vì sai luật, nhưng những mảnh đất do gia đình Đoàn Văn Vươn khai khẩn vẫn có thể bị mất bất cứ lúc nào. Gia đình đó vẫn không được coi là chủ đất. Chỉ có nhà nước làm chủ. Họ chỉ cần sửa lại mấy quyết định cũ, làm sao cho nó đúng luật hơn là gia đình Đoàn Văn Vươn lại có thể mất hết. Cũng như hàng triệu nông dân Việt Nam khác. Không những thế, Đoàn Văn Vươn còn có thể đi tù nữa! Tất cả chứng tỏ vụ án lịch sử Đoàn Văn Vươn sẽ còn kéo dài chưa biết bao giờ xong. Cái ghế mà ông Nguyễn Tấn Dũng đưa lên che mặt không chỉ bị lủng không thôi. Nó đang rách nát cả rồi.

Chính miệng ông thủ tướng còn vu oan giá họa cho gia đình Đoàn Văn Vươn tội “giết người.” Không có ai bị giết làm sao có tội giết người? Súng hoa cải bắn ra vì phẫn uất trước những hành động phi pháp, làm sao súng đó giết được người? Sáu trăm nhà trí thức lên tiếng yêu cầu phải xóa bỏ tội danh “giết người” của ông Đoàn Văn Vươn. Mấy trăm nông dân nạn nhân bị cường hào cướ đất đã kéo đến thăm nơi gia đình Đoàn Văn Vươn ở, họ đến từ những tỉnh Hà Đông, Hưng Yên. Bao giờ thì những nạn nhân cướp đất này kéo nhau về Hà Nội, đem theo hình ảnh ông Đoàn Văn Vươn đi biểu tình? Bao giờ nông dân Việt Nam đứng lên đòi phải xóa bỏ chế độ cướp đất của nông dân mà đảng Cộng sản đã bắt đầu từ khi thi hành chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin và Cải cách Ruộng đất của Mao Trạch Đông? Không cái ghế nào đưa lên che được bộ mặt đó.




Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Ngô Nhân Dụng - Nguyễn Tấn Dũng giơ cao đánh khẽ



Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại cuộc họp - Ảnh: CP 
Ông ĐoànVăn Vươn đã thắng một hiệp đầu. Phải nói, giới nông dân Việt Nam đã thắng một hiệp đầu. Muốn biết kết cục ra sao, phải chờ xem hồi sau mới rõ.
Ba chục năm nay trên toàn quốc đã xẩy ra hàng ngàn vụ nông dân biểu tình ôn hòa chống việc cướp đất, cướp ruộng của họ. Đây là lần đầu tiên một vị thủ tướng của đảng Cộng sản phải đích thân ra trước công chúng nhận các lỗi lầm của chính quyền và hứa hẹn các phương pháp giải quyết một vụ cướp mồ hôi nước mắt của dân. Từ thời cải Cách Ruộng Đất mới có một hành động công khai nhận lỗi như vậy. Nhưng cũng như lần trước, khi ông Nguyễn Tấn Dũng họp báo, ông vẫn đổ lỗi cho cấp dưới làm sai chứ không hề nhắc tới nguyên nhân sâu xa gây ra những sai lầm chồng chất. Nguyên nhân chính, là chế độ độc tài đảng trị khiến cho những nỗi oan ức của người dân không thể nào được nói lên trước khi quá muộn. Nếu gia đình ông ĐoànVăn Vươn không bị đẩy đến chân tường phải dùng vũ khí kháng cự, thì chắc đến giờ này không ai biết đến nỗi uất hận của họ; các quan chức Hải Phòng và Tiên Lãng có thể đang ăn mừng chia nhau “quả thực” sau khi vụ cướp đất thành công. Hành động táo bạo vì cùng quẫn của ông ĐoànVăn Vươn bất ngờ gây thành dư luận phẫn nộ trong nước, tin tức được loan đi khắp thế giới! Vì thế một ông thủ tướng cộng sản phải đích thân xuất hiện giải quyết dù nội vụ chỉ liên can đến một gia đình, về quyền sở hữu 40 mẫu đất.
Đây là một bài học cho tất cả các nông dân Việt Nam có dịp rút kinh nghiệm. Người ta không thể cúi đầu chịu đựng oan khiên nhục nhục nhã mãi được. Can đảm đứng lên bảo vệ quyền lợi của chính mình thì những thế lực đen tối dù lớn trùm khắp thiên hạ cũng phải lùi.
Nhưng, cuối cùng thì ông Nguyễn Tấn Dũng đã giải quyết những gì trong cuộc họp báo hôm qua? Rất ít. Rất mơ hồ. Và hời hợt.
Đặc điểm thứ nhất: Rất ít, vì tựu chung ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn chỉ hô toàn những khẩu hiệu quen thuộc như đọc trong báo Nhân Dân, và chỉ nói đến vài việc cụ thể. Thứ nhất là rút lại các quyết định thu hồi đất của ông ĐoànVăn Vươn vì làm sai luật. Thứ hai là điều tra, truy tố những người tổ chức phá nhà ông ĐoànVăn Vươn. Và sau cùng là truy tố ông Vươn về tội “giết người” cũng như việc chống lại nhân viên công lực.
Rút lại các quyết định cũ thu hồi đất vì làm sai luật, có nghĩa là sau này vẫn có thể sẽ thu hồi nhưng làm sao khéo léo, đúng luật hơn. Mà luật đất đai, như chính ông Nguyễn Tấn Dũng thú nhận, đã sửa đi sửa lại bao nhiêu lần, muốn bẻ cong theo hướng nào chẳng được? Vì thế mới có chuyện sẽ truy tố gia đình ông ĐoànVăn Vươn, với chỉ thị cho tòa án địa phương (gọi là “kiến nghị”) hãy “xem xét tình hình tiết giảm nhẹ” tội. Chắc chắn sẽ có một vụ mặc cả với gia đình họ Đoàn, để họ chịu một số điều kiện nếu muốn được tòa án “nương tay!” Ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho cấp dưới truy tố ông ĐoànVăn Vươn với tội “giết người,” một tội có thể đưa tới án tử hình, trước khi các cơ quan tư pháp thụ lý! Với cái án tử hình treo trên đầu, chắc ông ĐoànVăn Vươn sẽ phải suy nghĩ rất nhiều về các điều kiện họ đưa ra!
Điểm thứ hai là những giải pháp của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng rất mơ hồ. Không hề có một quyết định nào về tội trạng của những người cầm quyền ở huyện, ở thành phố ngoài việc ngưng chức một số người bị tiếng xấu nhiều nhất. Những điều ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, từ nhóm lãnh đạo Hải Phòng cho xuống dưới đều là “kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc” và “làm rõ trách nhiệm.” Tức là không hề có một cuộc điều tra nào từ cấp trung ương để nghiên cứu các nguyên ủy sâu xa, về các hành động của cấp địa phương, trong khi vụ này đã kéo dài năm, bẩy năm trời. Không hề có ý kiến gì về việc lợi dụng cả quân đội, đem lính tráng, súng ống đi phụ tay với công an và du đãng trong việc cướp đất, phá nhà. Có quân đội bị lôi dính vào việc cướp đất, nhưng trong cuộc họp báo của ông Nguyễn Tấn Dũng đông đủ bá quan mà lại thiếu đại diện của bộ Quốc phòng!
Trao việc kiểm điểm về cho các cấp chỉ huy cấp dưới, có nghĩa là quý vị đứng đầu Hải Phòng, Tiên Lãng sẽ đóng vai trọng tài thổi còi một trận đá bóng mà chính họ cũng đóng vai cầu thủ. Người ta biết trước kết quả: Sẽ không ai bị kết tội cả. Ông thủ tướng “giơ cao đánh khẽ” vì vẫn hết lòng bảo vệ địa vị và quyền lợi những người đồng đảng với ông ở Hải Phòng, những người đã bảo đảm cho ông đắc cử đại biểu quốc hội! Rồi sẽ có một ít người nhận đã phạm sai lầm. Sẽ được chuyển từ công tác này sang công tác khác; có khi lại được đưa về trung ương hưởng những suất ngon lành hơn! Vì họ đã được che chở bằng một cái mộc do chính ông Nguyễn Tấn Dũng trao cho.
Vì trước khi các “đồng chí” ngồi xuống kiểm điểm với nhau, ông thủ tướng đã hết lời khen ngợi họ rồi! Chắc để họ yên tâm, không đứa nào phản thùng! Trong cuộc họp báo, trước khi tuyên bố các quyết định ông Nguyễn Tấn Dũng đã hát “mào đầu” với những lời ca ngợi nồng nàn đối với đám lãnh đạo huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng. Hãy nghe “mèo khen mèo” như thế này: “Trong những năm qua, cấp uỷ, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói chung và đất bồi ven biển nói riêng, góp phần phát triển kinh tế xã hội khá nhanh và toàn diện, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.” Với những thành tích được ông thủ tướng đề cao “tuyệt vời” như vậy, họ thiếu gì lý do để “xá tội” cho nhau? Ông còn không quên “hoan nghênh việc lãnh đạo thành phố Hải Phòng nghiêm túc kiểm điểm, nhận khuyết điểm, trách nhiệm và đã lãnh đạo, chỉ đạo cần thiết đối với vụ việc này.” Làm như ông không hề biết việc ông Phó chủ tịch Đỗ Huy Thoại nói rằng vụ cướp đất là “đúng pháp luật,” việc đập phá nhà ông Vươn là do “dân chúng bức xúc” nên (lái xe ủi đất) tới phá! Một nhà bình luận trên mạng đã hỏi: Thành ủy Hải Phòng chỉ phải rút kinh nghiệm! Thế thì ông Vươn liệu có được phép “rút kinh nghiệm” một cách đơn giản như thế không, về những hành động đề kháng của gia đình ông? Ông Vươn có thể tự bào chữa về tội danh “giết người” lấy lý do phải tự bảo vệ trước cuộc tấn công vũ bão của bọn quan lại tham ô hay không?
Cuối cùng, cuộc họp báo của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói đến những chuyện hời hợt, bồng bềnh nổi bên trên, không hề nói đến những căn nguyên sâu xa, thấu đáo, của biến cố ĐoànVăn Vươn. Một nguyên nhân làm hàng vạn nông dân phẫn uất là chủ trương không cho người dân có quyền sở hữu trên mảnh đất mà họ đổ mồ hôi khai khẩn, trồng trọt. Căn nguyên lớn hơn, là một chế độ không cho dân được tự do bầu cử, không có quyền tự do phát biểu, báo chí không được tự do điều tra và thông tin. Chế độ như vậy thì phải đẻ ra tham nhũng, lạm quyền, không cách nào tránh được. Chính nó gây ra bao nhiêu nỗi oan ức, mà việc cướp đất của nông dân chỉ là một hiện tượng nổi bật. Chính nó đẻ ra một thứ quốc hội bù nhìn, khiến một đại biểu vùng Tiên Lãng như Nguyễn Tấn Dũng không hề biết đến những cảnh oan trái mà người dân chịu đựng từ bao nhiêu năm qua, cho tới khi súng nổ. Cũng giống như hồi Đảng Cộng sản nhận lỗi về cải cách ruộng đất, Nguyễn Tấn Dũng không hề nói đến lỗi lầm của chính mình cũng như của cả đảng Cộng sản.
Một đảng viên cộng sản trong nước đã nhận xét biến cố Đoàn Văn Vươn là một tiếng chuông thức tỉnh cho đảng Cộng sản Việt Nam. Để họ nhìn thấy rõ “tất cả sự thối nát, hiếp đáp dân chúng của các cấp chính quyền.” Và “Người dân sẽ phẫn uất, và sẽ có nhiều vụ như ông Đoàn Văn Vươn diễn ra trong cả nước.” Quả thật, một người “liều mạng” tiên phong như ĐoànVăn Vươn sẽ làm gương cho tất cả các nạn nhân khác, đã đau khổ trong quá khứ cũng như trong tương lai. Đài phát thanh quốc tế của Pháp đã ghi nhận: “Cái tên Đoàn Văn Vươn từ nay đã đi vào lịch sử.”
Một bài học khác cho các nhà nông Việt Nam rút kinh nghiệm là cuộc phản kháng của nông dân Trung Quốc tại Ô Khảm (Wu kăn,乌坎), tỉnh Quảng Đông, vào tháng Chín năm ngoái, đã hoàn toàn thắng lợi. Làng Ô Khảm, đúng tên gọi dịch là Vũng Quạ, vốn là một vùng đầm lầy ven biển, được nhiều thế hệ nông dân rút nước mặn, đắp bùn biến thành đất ruộng, không khác gì vùng đất mà gia đình Đoàn Văn Vươn đã đổ mồ hôi khai khẩn, với một đứa con gái đã hy sinh. Chính quyền địa phương cũng cướp đất, nhưng họ làm ăn lớn hơn, 250 mẫu tây đất, đem bán làm đất công nghiệp. Dân Ô Khảm không ngăn cản được, nhưng cuối cùng vẫn nổi dậy đòi bồi thường xứng đáng. Chắc họ cũng không “nổi loạn” nếu không vì vụ ông Tiết Cẩm Ba (Xue Jinbo, 薛錦波),một người đại diện của dân bị công an giữ lại, rồi chết trong đồn công an. Việc thường dân bị giữ rồi chết trong đồn công an đã xẩy ra nhiều lần ở Việt Nam, hầu như thường xuyên; nhưng dân Quảng Đông họ không chấp nhận. Họ biểu tình, tấn công trụ sở đảng Cộng sản, tấn công đồn công an, đốt xe công an biệt kích; rồi kéo năm, bẩy ngàn người (làng có 20,000 dân) lên huyện, trương biểu ngữ xanh đỏ rợp đường. Ở Trung Quốc có 180,000 vụ nông dân phản đối việc cướp đất ruộng trong năm 2010. Tại Ô Khảm, sau ba tháng dân biểu tình không nghỉ, chính quyền Bắc Kinh phải can thiệp, đứng ra thỏa hiệp, bắt các quan chức địa phương phải nhượng bộ nông dân.
Trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng đích thân giải quyết vụ cướp đất của Đoàn Văn Vươn, chắc ông cũng đã nhận được những tín hiệu từ Bắc Kinh về vụ Ô Khảm. Đồng bào nông dân của chúng ta, nhờ các mạng lưới trong nước, chắc cũng đã nhận được các tín hiệu từ các nông dân Ô Khảm. Một thông điệp “Dậy Mà Đi” được họ truyền đi trên mạng kêu gọi: “Hãy thức dậy, bà con ơi! Nếu bây giờ chúng ta không đoàn kết thì chúng nó sẽ đem bán hết đất đai của tổ tiên chúng ta, cho đến thước đất cuối cùng! Nếu không đoàn kết ngay, con cháu chúng ta sẽ hết đất để sống!”
Tất nhiên, người dân Ô Khảm chỉ nói đến việc các tham quan bán đất của người Trung Hoa cho những người Trung Hoa khác. Ở Việt Nam, tình trạng còn có thể bi đát hơn: Cướp đất của dân bán cho người ngoài! 

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Ngô Nhân Dụng - Tại sao đạo đức nhem nhuốc

Ngô Nhân Dụng
Nhà văn Phạm Thị Hoài

Gần đây trong trang Blog của nhà văn Phạm Thị Hoài có bài phỏng vấn một đảng viên cộng sản Việt Nam, lấy tên là La Thành. Trước khi cho biết “Đầu năm 2011, tôi đã quyết định chia tay với sinh hoạt Đảng,” ông La Thành đã nói đến “bức tranh văn hoá tăm tối” do đảng của ông tạo ra trong nước Việt Nam. Ông nhận xét: “bức tranh văn hoá tăm tối” này có hai thành tố: “sự mông muội của luật pháp và sự nhem nhuốc của đạo đức.” Trong mục này, bài trước đã giải thích người Việt Nam bây giờ khó tin vào chính quyền cộng sản thay đổi, vì đảng Cộng sản đã phá hư cả di sản đạo đức của tổ tiên chúng ta. Đặc biệt, họ nói dối nhiều quá, nói dối một cách có bài bản, có hệ thống. Cựu đảng viên La Thành cũng nhận thấy như thế.
Ông nói: “Văn hoá Đảng Cộng sản quả thật có một truyền thống chủ đạo: Sự dối trá.” Ông kể với bà Phạm Thị Hoài kinh nghiệm của hai thế hệ: “Cha tôi, một đảng viên cộng sản có trên 40 năm tuổi Đảng, sinh thời từng nói với tôi rằng từ năm mươi năm trước, khi ông còn là một trai trẻ bị cuốn vào cơn bão chính trị do Đảng Cộng sản khởi xướng, ông đã nhận ra rằng khôn lỏi, dối trá và thủ đoạn luôn luôn là bí quyết thành công dưới chế độ cộng sản.” Vì “khôn lỏi, dối trá và thủ đoạn” là bí quyết để thành công tiến lên trên các nấc thang quyền lực và tài sản của những người tự nhận vai trò “lãnh đạo nhà nước và xã hội” như họ ghi trong điều 4 hiến pháp, cho nên các bí quyết kiểu đó sẽ trở thành những chuẩn mực cho mọi người bắt chước. Hệ quả tất nhiên là đạo đức phải “nhem nhuốc.”
Bên những nhận xét rất chính xác đó, ông La Thành nói một điều có thể coi là sai, khi ông ghép chủ nghĩa Marx-Lenin với Khổng giáo. Ông nói “Chủ nghĩa xã hội hiện thực trong hơn nửa thế kỷ qua ở Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam thực chất là sự thực hành Khổng giáo dưới một hệ thống thuật ngữ mới.”
Nói cho đúng, việc thi hành “Chủ nghĩa Xã hội” ở các nước Á Đông đã áp dụng một số kỹ thuật của chế độ quân chủ chuyên chế ở Trung Quốc, nhưng tinh vi hơn nhiều. Vì các lãnh tụ cộng sản đã học được các kỹ thuật mới của Cộng sản Quốc tế. Các hoàng đế Trung Hoa đã nhân danh Khổng giáo; nhưng phương pháp cai trị của họ là các mưu thuật của Pháp gia, một trường phái chính trị vào thời Chiến Quốc. Các kỹ thuật này được Tần Thủy Hoàng áp dụng rồi các vua nhà Hán tiếp tục thi hành vì thấy có lợi nhất để củng cố quyền hành. Thí dụ, Khổng Tử, Mạnh Tử không bao giờ chủ trương người ta phải tuyệt đối trung thành với ông vua; ai chịu khó đọc Luận Ngữ và Mạnh Tử đều biết như vậy. Hai ông Khổng Mạnh không ai nói “trung thần bất sự nhị quân,” như “văn nô” của các ông vua đời sau xuyên tạc. Nếu hai ông trung quân kiểu đó thì họ đã không bôn ba đi gặp hết ông vua này này tới ông vua khác để “tìm việc làm!”
Các hoàng đế Trung Hoa đề cao hai chữ “Trung Quân” để bắt dân phải tuân lệnh một cách mù quáng. Các đảng cộng sản ở Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam đã áp dụng những kỹ thuật của các ông vua chuyên chế Trung Hoa chứ không “thực hành Khổng Giáo” như ông La Thành nghĩ. Trên đường đi vào thành Bắc Kinh ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông để trên xe bộ sử “Tư Trị Thông Giám” của Tư Mã Quang, trong đó chứa đầy các thuật chính trị của hai ngàn năm lịch sử các hoàng đế Trung Hoa. Trong đó có thể học những trò “khôn lỏi, dối trá và thủ đoạn,” mà ông Mao đã thực hiện. Ông đã thành công, vì các trò đó thích hợp với tâm lý dân Trung Hoa. Các đảng Cộng sản Bắc Hàn, Việt Nam cứ việc học tập ông Mao rồi đem áp dụng!
Thí dụ, một khẩu hiệu mà Cộng sản đã đưa ra là “Trung với Đảng, Hiếu với Dân.” Người Việt Nam đã quen nghe hai chữ Trung, Hiếu từ hàng ngàn năm; chấp nhận đó là hai giá trị đáng quý. Hai chữ diễn tả hai bổn phận của con người đối với xã hội. Nguyễn Công Trứ viết: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất.” Đối với xã hội, ngày nay loài người đề cao bổn phận: Phải tôn trọng luật pháp. Đời xưa thì các ông vua nắm toàn quyền, làm ra luật pháp và thi hành luật pháp, cho nên chỉ nói Trung Quân.
Nói “Trung với Đảng, Hiếu với Dân” là một thủ đoạn lợi dụng tâm lý quần chúng đã quen thuộc với một giá trị cũ. Bao nhiêu thế kỷ các triều đình phong kiến đã nhồi sọ dân Á Đông hai chữ Trung Hiếu theo nghĩa đề cao quyền hành tuyệt đối của vua và cha, người dân rất dễ chấp nhận phải giữ hai bổn phận đó. Cộng sản chỉ thay thế đối tượng của lòng trung thành và lòng hiếu thảo thôi. Hiển nhiên là họ đã mang Đảng thế vào chỗ ông Vua. Bây giờ có ai thắc mắc tại sao đảng Cộng sản lại khinh thường dân như trong những vụ cướp đất ruộng, vụ Bô Xít, vụ Hoàng Sa, thì cứ quay lại nhìn vào cái khẩu hiệu “Trung với Đảng” là hiểu nguyên nhân tại sao. Họ đã quen Làm Vua từ lâu rồi. Đưa ra khẩu hiệu Trung với Đảng; đặt Đảng lên ngai vàng thay thế Vua, là một “thủ đoạn khôn lỏi,” một trò lường gạt dối trá rất cao tay!
Hiếu là một giá trị khác. Ngày xưa các cụ dậy phải Hiếu Thảo với Cha Mẹ. Nay hô khẩu hiệu mới “Hiếu với Dân,” hệ quả đầu tiên là Cha Mẹ bị mất chỗ trong bảng thang giá trị. Trong 5 điều “Bác Hồ dậy thiếu nhi” không có một điều nào nói trẻ em phải làm bổn phận với cha mẹ cả. Một quan hệ xã hội căn bản, một nền tảng của đạo đức, là bổn phận trong gia đình đã biến mất. Đạo Đức Cách Mạng là vâng lời Đảng chứ không phải vâng lời Cha Mẹ. Vì thế, các em nhi đồng có thể dò xét cha mẹ, kể tội cha mẹ, con cái đứng ra tố khổ, vu oan cho cha mẹ mà vẫn không bị coi là “Bất Hiếu!”
Nhưng Hiếu với Dân nghĩa là hiếu với ai? Đây lại là một trò bịp bợm rất tinh khôn. Dân là một danh từ trừu tượng; nói chung chung đến một tập thể rất nhiều người, nhưng không cho biết cụ thể là những người nào cả. Vậy ai là Dân trong khẩu hiệu Hiếu với Dân? Tất nhiên, Đảng đã sẵn sàng có câu trả lời: Đảng bảo ai là “Nhân Dân,” thì quý vị biết đó là “Nhân Dân.” Ngược lại, Đảng chỉ tay bảo ai là “Kẻ thù của Nhân Dân,” thì tha hồ bắt, giết. Nhưng tại sao người ta cứ phải nghe theo ngón tay chỉ trỏ của Đảng như vậy? Vì đã có mệnh đề thứ nhất: Trung với Đảng.
Một thí dụ trước mắt cho thấy đảng Cộng sản áp dụng trò lừa bịp này quen tay như thế nào, chúng ta mới thấy trong biến cố Đoàn Văn Vươn. Các tham quan đem công an và côn đồ du đãng tới giật sập nhà ông Vươn, phá cả cái bàn thờ của người ta. Một quan ở Hải Phòng nhưng nhưng giải thích: Đó là Dân phá. Dân bức xúc vì một người dám cưỡng lại nhà nước nên tự động đến phá nhà anh em ông Vươn!
Thời sinh tiền cụ Hoàng Minh Chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dùng những thứ họ gọi là “Dân” như thế đến phá phách nhà cụ. Họ cũng phá nhà cô ông Nguyễn Thanh Giang, cô Trần Khải Thanh Thủy với những đám “Dân” như vậy. Gọi đám côn đồ đánh thuê là Dân thì tất nhiên những người bị côn đồ hành hạ phải gọi là “Kẻ thù của nhân dân!” Mánh khóe bịp bợm này đã được các lãnh tụ dùng trước đây hơn 50 năm, trước cả thời họ lập ra những Tòa Án Nhân Dân. Ngày nay đám con cháu, những lãnh tụ thuộc thế hệ thứ ba thứ tư, chỉ cần mở “gia phả” ra học tập rồi áp dụng lại!
Những trò bịp bợm đó là thứ hàng nhập cảng, được Cộng sản đem từ bên Nga về, chứ trong xã hội Á Đông xưa kia không mấy ai nghĩ ra. Vì không cần thiết. Vua chúa quan lại đời xưa nói thẳng là họ chuyên chế, họ nắm hết mọi quyền hành. Họ không cần nói dối như các đảng Cộng sản. Ngày nay thì phải nói dối. Vì loài người đã trải qua hàng thế kỷ cách mạng dân chủ. Các ông Lenin, Stalin miệng phải nói dân chủ, vì đó là một giá trị mới ai cũng yêu quý. Muốn hành động giống như các Sa hoàng đời trước, thì phải bầy ra những trò Dân Chủ giả.
Năm 1953 ngày 17 tháng Sáu, Cộng sản Đông Đức đã đàn áp tàn nhẫn “Dân” Berlin nổi dậy biểu tình. Chủ tịch Hội Nhà văn tuyên bố “Dân đã làm cho Đảng mất tin tưởng. Cần phải lao động gấp đôi để chuộc lại. Thi sĩ Bertolt Brecht đã chế nhạo trong bài thơ “Giải Pháp” (Die Lòsung), đề nghị rằng: “Tại sao không làm theo cách giản dị hơn: Nhà nước hãy giải tán (cách chức) Nhân Dân đi! Rồi bầu lên một Nhân Dân mới!” Nhà văn Phạm Thị Hoài mỗi lần đi qua con đường mang tên 17 Tháng Sáu chắc có dịp lại mỉm cười với Brecht! 
 
Đảng Cộng sản khắp thế giới đã lạm dụng hai chữ Nhân Dân, một trong những trò dối trá mà thân phụ ông La Thành đã dậy con. Nhưng Cộng sản Việt Nam hay Trung Quốc thật ra không cần học nhiều từ các bạo chúa Phương Đông. Các ông thầy bên Nga đã dậy họ đủ các mánh khóe bịp bợm. Họ biết “áp dụng sáng tạo” các thủ đoạn quốc tế vào hoàn cảnh tâm lý xã hội Á Đông. Khi dân có truyền thống tôn kính các giá trị Khổng Giáo, thì họ hô các khẩu hiệu cho phù hợp. Các ông vua đời Hán, đời Tống đã lợi dụng Khổng Giáo và đạt kết quả rồi, tội gì họ không bắt chước để xây dựng chế độ độc tài đảng trị? Không nên hiểu lầm mà nói rằng các đảng Cộng sản đã “thực hành Khổng Giáo” với ngôn ngữ mới. Họ có thể dùng các ngôn ngữ cũ để làm trò bịp bợm mới.

Ghi thêm về Khổng Tử, Mạnh Tử:
Một học trò Khổng Tử là Tử Cống hỏi ý kiến thầy về Quản Trọng (725 – 645 trước Công Nguyên). Quản Trọng là người từng đi theo một hoàng tử nước Tề, rồi sau lại đi với người đối nghịch đã giết chủ của mình. Sau Quản Trọng giúp chủ mới, vua Hoàn Công nước Tề làm nên nghiệp bá. Khổng Tử đã ca ngợi công ơn của Quản Trọng chứ không chê việc chạy theo người đã giết chủ mình.
Mạnh Tử xác định quyền của người dân được lật đổ chính quyền. Vào thời Chiến quốc Trung Hoa chưa biết tục lệ bầu cử. Vậy làm cách nào thay đổi chính quyền? Mạnh Tử nói thẳng là người dân có quyền giết vua. Trong Lương Huệ Vương, hạ, chương 8, vua Tề Tuyên Vương hỏi chuyện Thành Thang đánh vua Kiệt, Vũ đuổi vua Trụ; Mạnh Tử đáp, “Sử chép đúng thế.” Tuyên Vương lại hỏi, “Như vậy thì bầy tôi có thể thí vua sao?” (Thần thí kỳ quân khả hồ?) Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều nhân, gọi là Tặc; làm hại điều nghĩa, gọi là Tàn. Kẻ Tàn và Tặc, chỉ gọi là một thằng người mà thôi. Tôi nghe chuyện chém đầu một người tên Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.” (Tặc nhân giả, vị chi Tặc, tặc nghĩa giả, vị chi Tàn; Tàn, Tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn trù nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân dã.)


Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Ngô Nhân Dụng - Người Miến Điện còn tin nhau

Ngô Nhân Dụng


Tại sao người Miến Điện họ tin nhau như vậy? Đây là một thắc mắc chung khi chúng ta thấy bà Aung San Suu Kyi chấp nhận ghi tên tranh cử, và nhiều ứng cử viên thuộc đảng Liên minh Dân tộc Dân Chủ của bà cũng ra tranh cử; trong những cuộc bầu cử bổ túc vào một quốc hội đã được bầu lên năm ngoái.

Năm ngoái, Liên minh này (viết tắt là NLD theo tên trong tiếng Anh) đã hoàn toàn tẩy chay cuộc bỏ phiếu vì nhiều người trong đảng vẫn còn ở trong tù, mà cũng vì họ không tin tưởng vào chính quyền của Tổng thống Thein Sein vẫn do nhóm quân phiệt đứng sau điều động. Năm nay, những tù nhân mới được tự do cũng sẵn sàng “đánh cá” vào thiện chí của ông Thein Sein. Nhiều người còn trong lớp tuổi dưới 40, đã bị cầm tù hàng chục năm từ 1988, đã nói với nhà báo: “Bà Suu Kyi tin ông Thein Sein nói thật. Chúng tôi tin ở óc phán đoán của bà.” Người ta tin Bà Suu Kyi đủ khôn ngoan, mà bà thì tin ông Thein Sein nói thật. Người Miến Điện còn tin nhau như vậy, thật là một điều đáng quý, một hiện tượng hiếm thấy trong đời sống chính trị ở các nước còn chưa phát triển!

Vấn đề này không đặt ra ở các nước đã có kinh nghiệm sống dân chủ tự do. Những người ra ứng cử tổng thống hay vào quốc hội ở Mỹ hay ở Pháp năm nay không ai đặt vấn đề tin hay không tin chính quyền. Bởi vì người ta quen sống trong những xã hội có luật pháp, họ đã sẵn có lòng tin ở hệ thống dân chủ trọng pháp. Trong những xã hội đó guồng máy hành chính tổ chức việc bầu cử không theo đảng nào cả; công an cảnh sát không phục vụ một nhóm nào cả. Các đảng phái chính trị tha hồ tranh giành nhau, guồng máy nhà nước đóng vai trọng tài, hoàn toàn trung lập, độc lập đối với các đảng phái. Quyền trung lập và độc lập đó được hiến pháp bảo đảm; nhưng quan trọng hơn nữa là được dư luận dân chúng, báo chí, truyền thông tự do bảo đảm. Sống trong không khí trong sạch như vậy, các nhà chính trị bắt buộc phải tôn trọng kết quả những cuộc bỏ phiếu; tôn trọng luật chơi dân chủ.

Ở những nước chậm tiến, không có các điều kiện trên. Những người cầm quyền thường dùng dùng công an cảnh sát như đám tay sai để áp lực dân bỏ phải phiếu cho họ. Họ dùng guồng máy cai trị để ban ân phát huệ mua chuộc nhân viên trong bộ máy tổ chức bầu cử, mua chuộc các nhóm cử tri. Báo chí không được tự do thông tin và phê phán, các ông nắm quyền tự tung tự tác. Và có khi họ bác bỏ ngay kết quả cuộc bỏ phiếu nếu thấy không được dân tín nhiệm. Năm 1988, chính quyền quân phiệt Miến Điện đã làm việc đó. Khi cho dân bỏ phiếu tự do mà thấy đảng NLD thắng đa số trong quốc hội, các ông tướng xóa bỏ luôn kết quả rồi bắt bớ giam cầm những người đối lập hàng chục năm trời.
Vậy tại sao bây giờ phe đối lập ở Miến Điện lại tin vào lời hứa hẹn cải tổ của Tổng thống Thein Sein? Vì họ đã thấy những hành động cụ thể chứng tỏ nhóm quân phiệt đã nhượng bộ, trả lại nhiều quyền tự do cho người dân. Nhưng nguyên nhân quan trọng hơn, là trong 40 năm nắm quyền, các tướng lãnh quân phiệt chưa giết chết niềm tin trong xã hội Miến Điện.

Mặc dù nhóm tướng lãnh Miến Điện trước đây cũng độc tài và tàn bạo không thua gì những nhà độc tài khắp thế giới, nhưng họ chưa làm tan rã hết nền tảng đạo đức của dân tộc Miến, trong đó có niềm tin của mỗi con người đặt vào người khác. Quân phiệt Miến Điện là những nhà “độc tài non;” tuy cũng tham quyền và tàn bạo nhưng không biết dối trá một cách có hệ thống tinh vi như các đảng cộng sản.

Các chế độ cộng sản hủy hoại đạo đức của xã hội vì họ nối dối một cách có hệ thống với những phương pháp tinh vi được sử dụng tận tình. Các đảng cộng sản đều có một bộ máy tuyên truyền khổng lồ để làm công việc nói dối. Họ dùng các thủ đoạn gian trá đánh lừa dân, đánh lừa các đối thủ, và thường hãnh diện khi các thủ đoạn đó đạt kết quả. 

Tại sao các chế độ cộng sản phải dựa trên dối trá? Bởi vì các đảng Cộng sản dựa trên chủ nghĩa Marx – Lenin. Họ đã học tập các thủ đoạn lường gạt và tuyên truyền theo kinh nghiệm quốc tế, chỉ việc đem về mỗi nước thi hành. Chế độ phải nói dối trước hết vì lý do thực tế. Khi sự thật trái ngược hẳn với các lý tưởng được đề ra, thì phải nói dối để ngụy biện, bào chữa. Sau đó, phải nói dối lần thứ hai để chữa cho lần nói dối trước. Rồi cứ thế tiếp tục không bao giờ ngưng! Nhưng lý do quan trọng không phải là do thực tế mà nằm trong bản chất của các đảng cộng sản, khiến họ tự cho phép sống gian dối mà không cần hổ thẹn.

Cộng sản quốc tế đã biến chủ nghĩa Marx – Lenin thành một thứ tín ngưỡng vô thần. Bản chất của tín ngưỡng này dựa trên lòng tin tuyệt đối, Đảng tự cho mình đã nắm được Chân Lý, Lẽ Phải. Cho nên, những đảng viên cuồng tín không từ nan một hành động tàn ác nào, không ngần ngại giết người, chôn sống người, và không ngần ngại dùng các thủ đoạn gian trá, khi làm nhiệm vụ đối với Đảng. Tất cả được biện minh bằng niềm tin rằng họ đang đi đúng chiều hướng của lịch sử nhân loại. Đảng Cộng sản muốn thay đổi cả thế giới, trong đó phải triệt để thay đổi những nền nếp đạo lý cũ, thay thế bằng một nếp sống tinh thần mới. Hồ Chí Minh đã viết mấy bài huấn luyện cán bộ và đảng viên về “Đạo Đức Cũ và Mới,” hay “Đạo Đức Cách Mạng.” Sau khi phê phán nền đạo đức cũ, bị coi là hủ lậu, Hồ Chí Minh chỉ kết luận một điều: Nền Đạo Đức Mới, hay Đạo Đức Cách Mạng, là tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh của Đảng. Đọc hết các tài liệu trên (vẫn còn in trong Hồ Chí Minh Toàn Tập) thì chúng ta hiểu tại sao nền tảng đạo đức ở nước ta đã bị sụp đổ.

Các đảng viên cộng sản vì thế chỉ cần tuyệt đối trung thành với Đảng là đủ; nếu vì quyền lợi Đảng thì không một thủ đoạn gian ác, dối trá nào không dám làm. Giống như những tín đồ quá khích ôm bom tự sát gần đây, sẵn sàng hy sinh vì tín ngưỡng. Nhiều đảng viên bị đầy đọa đến chết vẫn còn nghĩ: Đảng không thể nhầm được! Đảng sẽ minh oan cho mình! Chính thứ tín ngưỡng vô thần này đã giết chết niềm tin trong xã hội. Vì khi còn có địa vị và nắm quyền hành thì chính các đảng viên bị oan ức này vẫn nhân danh Đảng thản nhiên dùng mọi thủ đoạn gian dối và độc ác, nghĩ rằng mình vẫn theo duổi một lý tưởng tốt đẹp! Người nắm quyền dùng các thủ đoạn gian trá thì người dân cũng bắt buộc phải sống dối trá, dối mình, dối người, ngay cả trong gia đình cũng phải gian dối với nhau. Thứ chất độc này đã thấm nhiễm vào tất cả mọi tế bào trong cơ thể xã hội. 

Nước Miến Điện không gặp tai họa đó. Những nhà tranh đấu dân chủ ở Miến Điện nhìn chế độ độc tài quân phiệt thấy bản chất của nó là do dốt nát, vô minh, chứ không do một chủ nghĩa vô thần đem từ bên ngoài tới áp đặt trên nhân dân. Chế độ quân phiệt Miến sai lầm từ khi ông Newin theo chủ trương kinh tế tự cung tự cấp, bài xích các nước dân chủ Tây phương, thân thiện với các nước cộng sản, khiến mức sống dân Miến Điện bị tụt hậu không khác gì Việt Nam trước khi thay đổi. Nhưng các nhà quân phiệt không tạo ra một bộ máy tuyên truyền dối trá một cách có hệ thống. Họ không làm nước Miến Điện nhiễm độc bằng một lý tưởng hão huyền nào để biện minh cho chế độ độc tài. Cho nên họ vẫn còn tôn trọng những đạo lý Phật giáo đã thấm nhiễm trong dân tộc Miến Điện từ hàng ngàn năm giờ vẫn chưa thay đổi. 

Vì vậy người Miến Điện còn có niềm tin; những nhà tranh đấu dân chủ thấy có thể tin vào lời hứa của ông Thein Sein khi có thể kiểm chứng bằng việc làm. Niềm tin đó không phải là vô điều kiện mà dựa trên những hành động cụ thể, được thi hành từng bước một. Trước khi gặp bà Aung Sang Suu Kyi để trình bầy ý định dân chủ hóa chế độ, ông Thein Sein đã nới lỏng cho báo chí và các mạng lưới internet được tự do hơn. Các quan sát viên nước ngoài đã ngạc nhiên, đánh giá tình trạng thông tin ở Miến Điện trở thành tự do nhất trong vùng Đông Nam Á, không kém Thái Lan hoặc Singapore. Sau khi đã thỏa hiệp với Bà Suu Kyi, chính quyền Thein Sein tiếp tục chứng tỏ thiện chí qua những hành động cụ thể khác: Trả tự do cho các tù nhân chính trị, và tổ chức bầu cử để những người đối lập này có cơ hội xuất hiện chính thức trên diễn đàn chính trị.

Việc làm mạnh dạn nhất của ông Thein Sein là đã ngưng ngay việc xây dựng đập nước ở Myitsone đã được giao khoán cho Trung Quốc sau khi dư luận dân chúng bầy tỏ nỗi lo ngại kinh tế ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phía Bắc. Hành động này cho thấy các tướng lãnh cầm quyền biết lắng nghe ý dân. Họ quyết định trở về với quyền lợi chung của dân tộc chứ không mù quáng tự ái chỉ biết quyền lợi riêng để bị ngoại bang mua chuộc. Thái độ cương quyết với Trung Quốc cũng là một thứ đảm bảo, vì người ta biết hậu quả kinh tế của chính sách chấm dứt lệ thuộc Trung Quốc là phải mở cửa giao thiệp với các nước dân chủ tự do.

Hành động Miến Điện mời mọc rồi tiếp đón ngoại trưởng Mỹ cũng giúp người dân Miến Điện tin tưởng hơn. Vì từ bao năm nay, một điều kiện mà các chính quyền Mỹ vẫn đòi hỏi trước khi bãi bỏ cấm vận là nhóm quân phiệt phải trả các quyền tự do cho dân Miến Điện. Xin bang giao lại với nước Mỹ tức là cũng chấp nhận sẽ thi hành những điều kiện đó. Phản ứng của cộng đồng quốc tế trở lại giao thiệp với Miến Điện là một thứ bảo đảm cho người dân thấy có thể tin rằng chủ trương dân chủ hóa của Thein Sein là một sự thật. Chính vì thế, họ có thể mạnh dạn nói: Hãy bỏ qua quá khứ. 

Nhìn vào tấm gương nước Miến Điện chúng ta học được một điều: Muốn tái tạo niềm tin trong xã hội Việt Nam, chúng ta cần những hành động cụ thể, chứng tỏ lời nói đi đôi với việc làm. Muốn tạo dựng niềm tin phải bắt đầu bằng những hành động công khai, minh bạch. Phải tôn trọng sự thật. Người dân chỉ tin có sự thật khi họ có các quyền tự do phát biểu. Bao giờ các báo, đài, các mạng lưới ở nước ta mới được tự do? Nếu chưa đạt được điều kiện tối thiểu đó thì còn chưa muốn bắt đầu tái tạo niềm tin.

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Trung Quốc và chủ nghĩa dân tộc kiểu mới

Trần Vinh Dự -

Google Images

“Trung Quốc không hạnh phúc” (Unhappy China) là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong năm 2009 ở Đại Lục. Cuốn sách này là một tuyển tập các bài viết của những người theo chủ nghĩa dân tộc cực hữu ở Trung Quốc về cách nhìn của họ đối với đất nước này. Được xuất bản vào tháng 3, 2009, cuốn sách này nhanh chóng thu hút được sự chú ý của cả người Trung Quốc và phương Tây.

Các bài viết trong “Trung Quốc không hạnh phúc” đều cổ vũ cho thái độ cứng rắn đối với các kẻ thù của Trung Quốc, bao gồm cả tổng thống Pháp Nicholas Sarkozy vì ông này đã gặp Dalai Lama hồi năm 2008. Cuốn sách cũng rất mạnh mẽ về thái độ của phương Tây đối trước sự đối xử của Trung Quốc với người Tây Tạng trước Olympic Bắc Kinh 2008. Một phần trong cuốn sách thậm chí viết “hãy khiêu chiến đi nếu tụi bay có bản lĩnh, còn nếu không thì câm mồm lại”[i].

Zhang Xiaobo, người xuất bản cuốn sách này, cho rằng “chúng tôi vẫn cảm thấy bị chèn ép vì nhiều khi phương Tây lên án hoặc phê phán chúng tôi.” Một trong số tác giả, Wang Xiaodong, trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên BBC[ii] đã trả lời rằng ý của ông ta khi viết “Trung Quốc không hạnh phúc” là “Nếu các cậu không tôn trọng chúng tôi, chúng tôi sẽ đánh các cậu. Nếu có một quốc gia hùng mạnh, và nếu các cậu không làm nó hài lòng, thì các cậu sẽ gặp rắc rối. Và đó chính là điều nước Mỹ đang làm”.

Khi được hỏi về việc liệu Trung Quốc có nên có một quân đội mạnh và sẵn sàng chiến đấu, Wang Xiaodong trả lời: “Đương nhiên, một đất nước mạnh như Trung Quốc tất nhiên cần một quân đội mạnh, một quân đội có thể chinh phục bất kỳ ai trên bất kỳ phần nào của thế giới. Đó phải là tầm nhìn tổng quát của chúng tôi.”

Ngôn ngữ và quan điểm cực hữu trong “Trung Quốc không hạnh phúc”, và quan trọng hơn là việc nó nằm trong số các cuốn sách bán chạy nhất, đã làm giấy lên lo ngại về chủ nghĩa dân tộc theo tư tưởng cực hữu ở Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tới chính sách ngoại giao của đất nước này.

Nhìn rộng ra, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay được định hình bởi ba yếu tố. Thứ nhất là niềm kiêu hãnh về lịch sử “hào hùng” của một nền văn minh vĩ đại kéo dài tới 5000 năm. Thứ hai là cảm giác bị Nhật Bản và phương Tây làm nhục trong suốt 100 năm trước khi Thế Chiến II kết thúc. Thứ ba là sự thức tỉnh về sức mạnh mới do thành quả của hơn 30 năm cải cách và phát triển kinh tế. Sức mạnh mới này khiến người Trung Quốc cần phải xác định lại vị thế của dân tộc mình trên thế giới.

Peter Hays Gries, chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc, cho rằng “nỗi nhớ về hào quang bị đánh mất trong quá khứ cùng với việc là nạn nhân của thực dân đế quốc là tâm điểm tạo nên chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc”[iii]. Trung Quốc coi mình là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc của phương Tây, bắt đầu từ Chiến tranh Thuốc phiện lần I và nước Anh chiếm Hồng Kông năm 1842 và kéo dài mãi tới khi kết thúc Chiến tranh Thế Giới II năm 1945 (tổng cộng hơn 100 năm), trong suốt thời gian này họ liên tục chịu đựng nỗi nhục mất chủ quyền.

Một yếu tố khác thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc chính là Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc. Theo Peter Hays Gries, “không có tính chính đáng đến từ việc bầu cử chính quyền qua con đường dân chủ và đối mặt với sự xụp đổ của ý thức hệ, Đảng cộng sản Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào các tiêu chuẩn dân tộc chủ nghĩa để nắm quyền và sử dụng nó như là chất kết dính xã hội’.

Quan tâm hàng đầu của Bắc Kinh ngày hôm nay là duy trì hòa bình trong nước trong khi theo đuổi các mục tiêu phát triển và vai trò to lớn hơn trong các vấn đề quốc tế. Trong khi chủ nghĩa dân tộc có thể có ích trong việc duy trì hòa bình trong nước, nó có thể làm hỏng hình ảnh của nước này trên thế giới. Minxin Pei, một học giả trong chương trình Trung Quốc của Carnegie Endowment for International Peace cho rằng chủ nghĩa dân tộc là một vật cản trong việc chứng tỏ Trung Quốc là một bên đối tác có trách nhiệm “một công chúng có tinh thần dân tộc chủ nghĩa cao sẽ làm người nước ngoài lo ngại và sẽ làm tổn hại hình ảnh của Trung Quốc”[iv].

Ngay cả trong nước, chủ nghĩa dân tộc không kiểm soát được cũng là một thách thức đối với chính quyền. Nhà nước Trung Quốc luôn quan tâm chặt chẽ và dập tắt tất cả các hoạt động mang tính dân tộc chủ nghĩa trong các cộng đồng thiểu số như Tây Tạng hay Uighurs. Chủ nghĩa dân tộc ở Đài Loan cũng được coi là mối đe dọa đối với Bắc Kinh trong mục đích thống nhất hòn đảo này. Các lãnh đạo Trung Quốc cũng e ngại rằng các phong trào dân tộc chủ nghĩa phát triển quá mức có thể sẽ quay mũi dùi chống lại nhà nước một khi chính quyền không thực hiện được các cam kết mang tính dân tộc.

Liu Lixin, lãnh đạo ban nhạc Ordinance, là một trong những nhân vật cổ súy nhiệt tình cho chủ nghĩa dân tộc cực hữu. Trong một album ra hồi năm 2009, Rock City, ban nhạc này đã chỉ trích chính quyền và hát về các chủ đề như dân chủ và tham nhũng. Một đoạn lời bài hát nói “Đài Loan của chúng ta. Tây Tạng của chúng ta. Thỏa hiệp với Mỹ và Nhật Bản là nỗi nhục nhã”.

Liu và ban nhạc của anh là đại diện cho một thế lực đang lên của phong trào dân tộc chủ nghĩa mới. Những người này gần như luôn luôn thù địch với Mỹ và Nhật, và luôn cho rằng các nước khác đang tìm cách ngăn chặn sự tiến bộ của Trung Quốc. Họ cũng là người không mấy hài lòng với chính quyền. Trả lời hãng thông tấn BBC, Liu cho biết “hiện nay chính quyền đang tẩy não người dân để họ tin rằng đất nước này đang mạnh. Họ đã cấm các bài hát của chúng tôi, nhưng chúng tôi không sợ. Tôi nghĩ chính họ mới là người đang sợ hãi, và vì thế họ cấm đoán chúng tôi”[v].

Theo Chen Zhimin, giáo sư chính trị học quốc tế tại trường Fudan, Thượng Hải[vi], kết quả thăm dò hồi năm 1995 của China Youth Daily trên hơn 100 nghìn thanh niên Trung Quốc cho thấy 96,8% người Trung Quốc vẫn căm thù Nhật Bản vì những gì người Nhật làm hồi năm 1930s và 1940s, 98,6% cho rằng họ sẽ không bao giờ quên phần lịch sử đó. Cũng trong cuộc điều tra này, 87,1% số người trả lời cho rằng nước Mỹ là nước “ít thân thiện nhất” đối với Trung Quốc và 57,2% cho rằng Mỹ là đất nước họ ghét nhất.

Đó là kết quả trước khi xảy ra các sự kiện như Mỹ ném bom nhầm vào Đại sứ quán của Trung Quốc ở Belgrade (tháng 5, 1999) và việc máy bay do thám của Mỹ, U.S. EP-3, đâm vào máy bay chiến đấu của F-8 của Trung Quốc, giết chết phi công điều kiển máy bay này.



[i] http://www.telegraph.co.uk/finance/g20-summit/5071299/Unhappy-China-bestseller-claims-Beijing-should-lead-the-world.html
[ii] http://news.bbc.co.uk/2/hi/8363260.stm
[iii] Gries, Peter Hays (2005): “Nationalism, Indignation, and China's Japan Policy” SAIS Review - Volume 25, Number 2, Summer-Fall 2005, pp. 105-114
[iv] http://www.cfr.org/china/nationalism-china/p16079
[v] http://news.bbc.co.uk/2/hi/8363260.stm
[vi] Chen Zhimin (2005): “Nationalism, Internationalism and Chinese Foreign Policy” Journal of Contemporary China (2005), 14(42), February, 35–53

Nguồn: Blog Trần Vinh Dự

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Mối lo của đảng Cộng Hoà

Ngô Nhân Dụng -


Mối lo của đảng Cộng Hoà tên là Newt Gingrich. Nếu còn tiếp tục giành vai ứng cử viên tổng thống trong một vài tháng nữa thì ông Gingrich sẽ tấn công ông Mitt Romney tới tấp và tàn nhẫn. Hành động đó sẽ giúp tổng thống Obama trong mùa Hè sắp tới khi đối đầu ông Romney. Nếu ông Gingrich lại thắng, trở thành ứng cử viên Cộng Hòa thì sẽ rất khó địch nổi ông Obama, vì ông cựu chủ tịch Hạ Viện có quá nhiều nhược điểm cho đối thủ khai thác.  

Một trong hai viễn tượng trên có thể sẽ diễn ra nếu ông Gingrich thắng trong cuộc tranh cử sơ bộ tại tiểu bang Florida, hoặc chỉ thua ông Romney rất nhẹ; nhiều người sẽ còn “bỏ vốn” giúp ông Gingrich theo đuổi cuộc đua lâu hơn. Hai cuộc nghiên cứu dư luận Rasmussen và Insider Advantage, một tuần trước khi đảng Cộng Hoà ở Florida bỏ phiếu, cho thấy Romney dẫn trước Gingrich 8 đến 9 điểm, Rick Santorum và Ron Paul tụt phía sau rất xa. Nếu tỷ số chênh lệch thấp thì ông Newt Gingrich vẫn còn nhiều hy vọng trong các cuộc bỏ phiếu sắp tới tại Nevada, Missouri, Minnesota và Colorado. Vì trong quá khứ ông có lúc tưởng như bị loại rồi mà vẫn quay trở lại, mạnh hơn trước.

Giữa năm 2011, tất cả bộ tham mưu tranh cử của ông Newt Gingrich từ chức, nhiều người chạy sang giúp các ứng cử viên Cộng Hoà khác. Lý do: Quỹ tranh cử gần hết tiền trong khi ông Gingrich bỏ đi du lịch ở Âu Châu với bà vợ thứ ba, kém ông 23 tuổi. Tới đầu tháng Giêng năm 2012, không ai tin rằng Newt Gingrich sẽ còn sức, sau khi bị Mitt Romney bỏ hơn triệu đô la tấn công vũ bão ở Iowa qua màn ảnh ti vi. Quả nhiên, ông Gingrich về hạng tư; Rick Santorum thắng ở Iowa và Mitt Romney tại New Hampshire. Tại tiểu bang South Carolina, Romney dẫn trước Gingrich hàng chục điểm trong dư luận cử tri sắp đi bỏ phiếu. Nhưng trong hai tuần giữa Tháng Giêng, Newt Gingrich được tiếp hơi “sống lại.” Ông tấn công Mitt Romney với 5 triệu đô la quảng cáo truyền hình, nhấn mạnh rằng ông Romney không phải là một người “bảo thủ” đích thực. Kết quả là ông đã đại thắng, vượt trên Romney 13 điểm. 

Cử tri Cộng Hòa ở South Carolina vốn rất bảo thủ. Hai phần ba họ ở lớp tuổi trên 45; họ còn nhớ ông Newt Gingrich là một lãnh tụ Cộng Hòa bảo thủ nổi bật năm 1994, khi ông đưa đảng trở lại chiếm đa số ở Hạ Viện, ông đóng một vai chủ yếu trong việc đàn hạch Tổng thống Bill Clinton về vụ Monica.
Với khả năng chuyển bại thành thắng nhanh chóng như vậy, ông Gingrich sẽ không bỏ cuộc nếu ở Florida chỉ thua ông Romney dưới 10 điểm. Kết quả bất ngờ tại South Carolina cho thấy một nhược điểm của ông Mitt Romney: Thành phần bảo thủ nhất trong đảng Cộng Hòa, trong đó có các giáo phái Tin Lành Nhiệt Tín (Evangelicals), không tin tưởng ông, sẵn sàng bỏ rơi Mitt Romney nếu thấy một ứng cử viên khác bảo thủ hơn. Nhiều cử tri Cộng Hòa ở các tiểu bang miền Nam có thể có khuynh hướng đó. Ông Gingrich có lý do để nuôi hy vọng, nhất là càng đi xa hơn trong cuộc chạy đua này ông càng thu được nhiều người góp tiền ủng hộ.

Một lý do khiến ông Gingrich thành công ở South Carolina là trước đó ông được Sheldon Adelson, một tỷ phú ở Las Vegas góp ngay 5 triệu đô la vào quỹ của một “Siêu Ban Vận Động” (Super PAC) giúp ông. Đây là một thứ ủy ban vận động “độc lập,” trên danh nghĩa không liên hệ với ứng cử viên, cho nên không cần theo đúng các thủ tục khai báo hoặc giới hạn số tiền quyên tặng như các quỹ vận động tranh cử bình thường. Siêu Quỹ này có thêm số tiền 5 triệu của Adelson dùng làm khí giới tấn công Romney trên truyền hình khắp South Carolina, với một phim quảng cáo dài 27 phút tố cáo ông Romney như một loại “tài phiệt” đã bỏ tiền mua các công ty rồi đóng cửa để đem bán các tài sản khiến hàng trăm công nhân thất nghiệp – lấy ngay một thí dụ tại South Carolina. Sau đợt đó, ông Sheldon Adelson lại góp thêm 5 triệu nữa. Nhờ thế ông Gingrich đã có tiền chi 6 triệu thuê giờ truyền hình ở Florida, tố cáo ông Romney khi làm thống đốc tiểu bang Massachussetts đã ban hành một đạo luật cải tổ y tế không khác gì đạo luật mà Tổng thống Barack Obama đã ký sau này. Hiện chỉ còn hai ông Romney và Gingrich có thể đọ với nhau trong số tiền thuê giờ ti vi đấu với nhau, vượt xa các ứng cử viên khác.

Tỷ phú Sheldon Adelson với tài sản trên 20 tỷ, là chủ nhân các sòng bài, trong đó có các sòng bài Venetian ở Las Vegas và ở Macao, Trung Quốc. Adelson thân thiện với Gingrich vì cả hai người đều tích cực vận động giúp chính phủ Israel, kể từ khi ông Gingrich đang làm chủ tịch Hạ Viện. Trong cuộc tranh cử năm nay, ông Gingrich đã bầy tỏ một lập trường ủng hộ Israel hơn tất cả mọi ứng cử viên. Nhiều lần ông bác bỏ sự có mặt của một “dân tộc Palestine,” coi đó là một ngụy tạo. Ủng hộ Israel cũng phù hợp với lập trường các giáo phái Tin Lành Nhiệt Tín (Evangelicals); vì họ giải thích trong Kinh Thánh đã nói dân Do Thái  được Chúa chọn. Ông Gingrich sẽ trở lại Las Vegas gặp ông Adelson trong tuần tới, chuẩn bị cho cuộc bỏ phiếu sơ bộ ở Nevada vào ngày 4 tháng Hai.

Ông Newt Gingrich càng đi xa tiếp thì càng hại cho ông Romney trong trận đấu cuối cùng với Tổng thống Barack Obama. Vì vậy, hiện nay nhiều lãnh tụ đảng Cộng Hòa đã đứng ra báo động không nên ủng hộ Newt Gingrich. Cựu Nghị sĩ Bob Dole, ứng cử viên Cộng Hòa đối đầu với cựu Tổng thống Clinton năm 1996, đã chính thức ủng hộ ông Romney, và chỉ trích Newt Gingrich là người ý kiến thay đổi lung tung, “mỗi phút lại có một ý kiến mới, chẳng đâu vào đâu!” Cựu nghị sĩ Cộng Hòa Tom Coburn, đã từng làm việc với ông Gingrich thì nói thẳng, là bầu ai làm tổng thống cũng được, miễn không phải là Newt Gingrich!

Tại sao ông Gingrich bị chê bai như vậy? Thứ nhất là đời tư của ông khiến nhiều người không tin. Khi bà vợ thứ nhất của ông đang bị bệnh ung thư chờ qua đời thì ông đã ép bà phải ký giấy ly dị để ông tự do cưới bà thứ nhì. Trước ngày bỏ phiếu ở South Carolina bà Marianne, vợ thứ nhì, đã lên ti vi kể lại bà đã từ chối đề nghị của ông Gingrich là hai vợ chồng được tự do quan hệ với người khác (open marriage) để ông tiếp tục gian díu với cô Callista Bisek – trong thời gian đó ông vẫn chỉ trích ông Clinton về vụ cô Monica. Cô Bisek bây giờ là vợ thứ ba theo sát ông trên đường tranh cử.

  tiền bạc rồi bị toàn viện “khiển trách vì vi phạm đạo đức,” bị phạt 300 ngàn đô la năm 1997. Năm 1998 ông tái đắc cử nhưng bị các dân biểu Cộng Hòa làm áp lực phải từ chức. Sau đó ông làm nghề vận động hành lang cho các công ty lớn, trong đó có công ty tài chánh địa ốc Freddie Mac, và được trả công 1.6 triệu đô la. Ông từng vận động hành lang quốc hội để ủng hộ chương trình 4 tỷ đô la trợ cấp tiền thuốc cho người già hưu trí của cựu Tổng thống Gorges W. Bush.

Điều khiến các nhà chính trị Cộng Hòa lo ngại về Gingrich là ông không có một lập trường nào chắc chắn. Ông đã từng ủng hộ một loại thuế về kiểm soát khí thải của các nhà máy để bảo vệ môi trường, cùng với bà Nancy Pelosi, hiện là lãnh tụ khối Dân Chủ ở Hạ Viện. Nhưng nay ông chống lại một chương trình tương tự của Tổng thống Obama. Bà Pelosi mới nói rằng nếu Gingrich ứng cử tổng thống thì bà đã có sẵn hàng ngàn trang hồ sơ về những vi phạm đạo đức của ông ta; vì bà ngồi trong ủy ban lưỡng đảng bốn người cứu xét những điều tố cáo ông vào năm 1997.

Ông Gingrich cũng từng tuyên bố chủ trương buộc mọi người Mỹ phải có bảo hiểm y tế, đây là một điều trong đạo luật mà ông Obama đã ban hành bị đảng Cộng Hòa chống đối triệt để. Gần đây nhất, ông Gingrich lúc đầu phản đối kịch liệt việc nước Mỹ giúp cuộc nổi dậy ở Libya, nhưng sau đó lại ủng hộ khi cuộc cách mạng thành công. Ông Gingrich mang hình ảnh một nhà chính trị gió chiều nào xoay chiều đó. Các bạn đồng viện cũ đã ép ông rút khỏi chức chủ tịch Hạ Viện năm 1998 vì thấy ông làm việc tùy hứng (erratic), không có quy tắc và vô tổ chức.

Với một nhân vật chính trị như vậy đang trên đường giành vai trò đại diện đảng tranh cử tổng thống năm nay, đảng Cộng Hòa mang một mối lo lớn. Những người dẫn đầu dư luận đã đồng thanh ủng hộ ông Mitt Romney và lên tiếng phê bình ông Newt Gingrich trên các diễn đàn bảo thủ trong mấy tuần nay. Người ta thấy cần phải chặn đứng ông Gingrich, càng sớm càng tốt. Không mấy ai tin rằng cuối cùng ông sẽ thắng ông Romney trong đại hội đảng vào Tháng Bẩy. Nhưng chỉ cần ông tiếp tục cuộc chạy đua trong một vài tháng nữa cũng đủ đặt ông Romney vào thế rất bất lợi khi bước vào cuộc tranh cử thực thụ với Tổng thống Obama.

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

D

  • Diễn đàn Thế kỷ
  • Dr Nikonian (Blog)
  • Duy Nhân