Hiển thị các bài đăng có nhãn Biên giới Việt-Trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biên giới Việt-Trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Huy Đức - Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)


Huy Đức  

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.


Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang thì tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Đào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
Huy Đức

Bài đăng trên 
Sài Gòn Tiếp Thị ngày 9-2-2009, bản đưa lên báo online bị  rút xuống ngay trong buổi sáng.
Nguồn Facebook Huy Đức

Dương Danh Dy - Ý kiến của ông Dương Danh Dy về chiến tranh biên giới 1979Dương Danh Dy - Ý kiến của ông Dương Danh Dy về chiến tranh biên giới 1979


VỀ CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG NĂM 1979
Dương Danh Dy

gửi trực tiếp cho NXD-Blog

Lời dẫn của Dương Danh Dy: Cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung tháng 2 năm 1979 kết thúc đến nay đã hơn 30 năm, nhưng dư luận thế giới vẫn chưa thôi bàn tán, và trên báo, mạng chính thức hay không chính thức của Trung Quốc hầu như không ngày nào là không có bài viết đề cập tới cuộc chiến này. Chỉ có một điều lạ là, không rõ vì nguyên nhân gì, mà phía Việt Nam-đối tác bị hại trong cuộc chiến tranh này, lại hầu như  im hơi lặng tiếng.


Nhất định là các lực lượng vũ trang của nước ta đã có tổng kết (nhưng những tổng kết đó chưa được công khai hóa) …

Là một người có thể nói là ít nhiều dính dáng đến sự kiện này, mấy chục năm qua lòng tôi lúc nào cũng đau đáu một điều: tại sao chúng ta lại không đưa cuộc chiến tranh này ra thảo luận, chí ít là trong phạm vi hẹp giữa những nhà nghiên cứu nhằm có những đánh giá đúng đắn và rút ra một số bài học có thể có ích cho việc xử lý quan hệ giữa ta và Trung Quốc hiện nay và trong tương lai. Việc làm này trở nên cấp bách vì lớp người trong cuộc đều đang già yếu và mất mát dần. Chính vì vậy mà hôm nay, tôi  mạo muội trình bầy bài viết: “một số ý kiến bước đầu về cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979” do nhà đương cục Trung Quốc phát động.

Xin phép được nói trước, bài viết này không đi sâu về mặt quân sự, mà chỉ từ góc độ chính trị, ngoại giao…, trên nguyên tắc khách quan khoa học, tôn trọng sự thật lịch sử… cố gắng tìm ra  những nguyên nhân chủ yếu từ hai phía dẫn tới cuộc chiến tranh, và từ đó rút ra những bài học lớn có ý nghĩa thực tế cho những người có liên quan nhất là cho những cán bộ trẻ chưa có trải nghiệm thấy được một số điều cần biết trong ứng đối với Trung Quốc.

Người viết chịu trách nhiệm trước lịch sử về tính chân thực của một số tư liệu và dẫn chứng  nêu trong bài...

*

Dưới đây là một phần trong bài viết này:

I. Những diễn biến chính của cuộc chiến tranh
Rạng sáng  ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau một thời gian tương đối ngắn tích cực chuẩn bị về mọi mặt, nhất là trong việc tạo dư luận trong nước và thế giới, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một số lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất mà họ có lúc đó tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta.

Lực lượng địch tấn công. Phía Việt Nam nói: địch đã huy động một lực lượng lớn lấy lục quân là chính có không quân sẵn sàng tham chiến, số lượng 60 vạn (chưa kể dân công hỏa tuyến phục vụ) gồm 9 quân đoàn bộ binh, 5 sư đoàn độc lập địa phương, tổng số là 32 sư đoàn, và 41 trung đoàn pháo binh với gần 2000 khẩu pháo các loại, cùng 5 trung đoàn xe tăng, thiết giáp. Ngoài ra còn có mấy trăm máy bay  và một số tầu chiến thuộc hạm đội Nam Hải sẵn sàng tham chiến khi cần thiết.

Lực lượng  Trung Quốc tấn công vào Việt Nam là 29/32 sư đoàn, với phạm vi tấn công trên toàn tuyến biên giới từ Quảng Ninh đến Phong Thổ dài trên 1000 km, tập trung vào 3 khu vực Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai với Lạng Sơn là trọng điểm. Khi bắt đầu rút quân, Trung Quốc đưa thêm sang  2 sư đoàn nữa, nâng tổng số quân tại Việt Nam lên 31 sư đoàn.
(nguồn : tư liệu nội bộ)

Nhận định về số lượng quân địch tham chiến của phía Việt Nam là tương đối chính xác.  Những nguồn tin sau khi cuộc chiến đã kết thúc khá lâu cho thấy điều này. “Hỗ liên võng” Trung Quốc ngày 15/2/2009 trong bài “Chấm dứt thời chính trị dẫn đầu: đánh trả tự vệ Việt Nam  năm 1979 và sự chuyển đổi mô hình của quân giải phóng” đã  cho biết “5 giờ sáng ngày 17/2/1979 chí ít đã có 30 sư đoàn quân đội Trung Quốc nhanh chóng vượt qua biên giới Trung Việt”. Mạng Soho.com Trung Quốc ngày 3/10/2009 trong bài “Kết quả chân thực của cuộc chiến tranh Trung Việt như thế nào?” cho biết trong cuộc chiến tranh gọi là “đánh trả tự vệ” đó, phía Trung Quốc đã sử dụng 9 quân đoàn gồm 29 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn pháo binh, 2 sư đoàn pháo cao xạ cùng một số bộ đội thuộc binh chủng công binh, đường sắt, thông tin, tổng binh lực là 56 vạn quân. Phía Việt Nam có 6 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn pháo binh, tổng binh lực vào khoảng 10 vạn.”

Thời gian tấn công: Cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam bắt đầu từ ngày 17/2/1979 và kết thúc ngày 16/3/1979,  có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tấn công và giai đoạn rút lui.
Giai đoạn tấn công: thời gian 17 ngày (từ 17/2 đến 5/3/1979)

Ngày 17/2-19/2 quân đội Trung Quốc đột kích trên toàn tuyến biên giới dài trên 1000km chiếm một số vị trí tiền duyên của ta.

Ngày 20/2 chiếm thị xã Lào Cai, thị trấn Đồng Đăng
Ngày 21/2 chiếm thị xã Cao Bằng
Ngày 22/2 chiếm thị trấn Bảo Lộc
Ngày 23/2 chiếm thị xã Hà Giang
Ngày 24/2 chiếm thị trấn Cam Đường

Các ngày sau đó hai bên đánh nhau dữ dội tại vùng gần Lạng Sơn, Sapa

Ngày 5/3 chiếm thị trấn Sapa và một phần thị xã Lạng Sơn.

Ngay trong ngày hôm đó, Trung Quốc tuyên bố  đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Việt Nam tuyên bố tổng động viên toàn quốc. Một số sư đoàn chính qui Việt Nam điều từ Cămpuchia và Lào đã về tới sát mặt trận. Liên Xô bắt đầu tăng quân tới biên giới Trung Xô.

Giai đoạn rút lui (từ 6/3 đến 16/3/1979)

Kể từ lúc quân đội Trung Quốc rút lui, bộ đội Việt Nam không tấn công, truy kích địch.

Quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi một phần của thị xã Lạng Sơn từ 5/3, đến 12/3 rút hết khỏi Đồng Đăng
bắt đầu rút khỏi vùng Lào Cai từ 7/3, đến 13/3/1979 rút hết
bắt đầu rút khỏi vùng Cao Bằng từ 7/3, dến 14/3/1979 rút hết
(Theo tin Trung Quốc thì hồi 22 giờ 20 phút ngày 15/3/1979 chiếc xe quân sự cuối cùng của quân đội Trung Quốc đã trở về lãnh thổ Trung Quốc. Ngày 16/3/1979 Trung Quốc tuyên bố hoàn thành việc rút quân, chiến tranh kết thúc)

Thương vong và tổn thất của hai bên:
Cuộc chiến tranh này thực sự chỉ diễn ra chưa đến hai mươi ngày(từ 17/2 đến 5/3/1979) bởi vì khi quân đội Trung Quốc bắt đầu rút quân, bộ đội ta không tấn công, truy kích địch.

Có nhiều sai khác về số thương vong của hai bên:
Trải qua 30 ngày đêm chiến đấu quân dân Việt Nam đã làm thương vong 60.000 tên địch, trong đó 3 trung đoàn, 17 tiểu đoàn địch bị thiệt hại nặng, phá hủy 280 xe tăng, 270 xe thiết giáp, 199 khẩu pháo các loại”
(Nguồn: Tư liệu nội bộ)

Từ 17/2/1979 đến 16/3/1979, tổng cộng giải phóng quân Quảng Tây, Vân Nam tham gia chiến đấu và dân công hỏa tuyến đã hy sinh 6.954 người, bị thương hơn 14.800 người, bắn chết 52.000 quân Việt Nam”
Nguồn : “Tổng kết công tác tác chiến đánh trả tự vệ Việt Nam” do Cục Hậu cần Quân Khu Côn Minh biên tập)

Thương vong của hai bên là gần bằng nhau, phía Trung Quốc khoảng hơn 60.000 người, phía Việt Nam khoảng gần 80.000 người.”

Thống kê chính thức của Đài Loan cho thấy:
                                    Trung Quốc                          Việt Nam
Chết                               26.000                                30.000
Bị thương                       37.000                               32.000
Bị bắt sống                          260                                 1.600
Xe tăng bị phá hỏng            282                                    185
Các loại xe  khác                 490                                    120
Pháo các loại                        670                                    200
Súng các loại                     3.100                                 4.100

Trong cuộc chiến tranh này quân đội Trung Quốc đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa.., của nhân dân ta tại những nơi chúng đã đi qua. Đó là một tội ác “trời không dung đất không tha” một sự trả thù hèn hạ chưa từng có trên thế giới. (Người viết bài này tháng 6 năm 1979, từ Bắc Kinh về nước nghỉ phép đã được một đơn vị bố trí lên thăm thị xã Lạng Sơn, tận mắt thấy phần bên kia sông Kỳ Cùng của thị xã này chỉ là một đống gạch đổ nát, không còn một cây to, một ngôi nhà nào, đồng chí cán bộ tỉnh đưa đi thăm cho biết, trong khi rút quân lợi dụng việc bộ đội ta không truy kích, chúng đã đặt mìn phá từng thanh ray đường sắt, từng gốc cây cổ thụ, từng mái nhà còn sót lại….Dân chúng gọi chúng là bọn “B52 chân đất” để nói lên sự hủy diệt còn dã man hơn cuộc chiến tranh giải phóng vừa qua.)

Thái độ một số nước và khu vực đối với cuộc chiến 1979

Khiển trách Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam, đòi Trung Quốc rút quân, ngừng bắn:  gồm Liên Xô, Cu Ba, Tiệp Khắc, Bulgarie, Đông Đức, Hung, Ba Lan, Mông Cổ, Afganistan, Ethiopia, Mozambique, Albania, Algeria, Angola và chính phủ Cămpuchia mới thành lập.

Biểu thị lấy làm tiếc đối với Trung Quốc, đòi Trung Quốc rút quân: Lào và Ấn Độ

Phản đối hành động quân sự của Trung Quốc tại Việt Nam và của Việt Nam tại Cămpuchia: Canada, Thụy Điển; đồng thời yêu cầu Trung Quốc rút quân: Newzealand

Yêu cầu Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam rút quân khỏi Cămpuchia: Mỹ, Nhật Bản, năm nước Đông Nam Á, Áo, Rumanie, Nam Tư, Anh, Italia, Hà Lan, Na Uy, Phần Lan, Irac.

Biểu thị đáng tiếc với Trung Quốc và Việt Nam, hy vọng Việt Nam và Cămpuchia đều có thể chi phối vận mệnh của mình:  Các nước khác trong khối Cộng đồng châu Âu.

Kêu gọi đàm phán giải quyết vấn đề:  Ai Cập, Mali, Bỉ, Madagasca, Bangladesh và các nước Bắc Âu khác.
Công khai tuyên bố không biểu thị thái độ:  Bồ Đào Nha.

Ủng hộ Trung Quốc: Cămpuchia dân chủ, Bắc Triều Tiên, Myanma.
                    (Nguồn : mạng “ So.so.wen.wen” ngày 3/10/2009)

Trong đó  có một số hiện tượng đáng chú ý sau:

- Ngày 18/2/1979 chính phủ Liên Xô ra tuyên bố: “.. bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào, đều không thể không quan tâm đến việc quân đội Trung Quốc xâm lược Việt Nam.”, “Liên Xô sẽ thực hiện nghĩa vụ phải gánh vác theo hiệp ước hợp tác hữu nghị Xô Việt”, yêu cầu Trung Quốc “đình chỉ ngay khi còn chưa muộn, rút quân ngay lập tức”.

Ngày 22/2 Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô nhân dịp kỷ niệm 61 năm ngày thành lập quân đội Liên Xô cũng nói tới việc sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo hiệp ước Xô Việt hữu nghị. Ngày 23/2 Brezơnhev khi phát biểu với cử tri đã phê phán  sự “bội tín, bội nghĩa và tính chất xâm lược của chính sách nước lớn của Trung Quốc”, “yêu cầu Trung Quốc lập tức chấm dứt hành vi xâm lược Việt Nam rút toàn bộ quân đội cho đến người lính cuối cùng ra khỏi Việt Nam”.

Từ 17/2 đến 21/2 trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc tại Liên Xô đã xuất hiện 7 lần biểu tình thị uy của quần chúng mà phần lớn là sinh viên, học sinh với qui mô khác nhau…

- Ngày 18/2/1979 trong thư gửi Sadat, Tổng thống Mỹ Carter nhấn mạnh lập trường của Mỹ là: Chủ trương giữ được kiềm chế, Việt Nam  rút quân khỏi Cămpuchia, Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam. Ngoài ra Phó Tổng thống Mondale, Ngoại Trưởng Vance của Mỹ còn nói: Mỹ sẽ không trực tiếp cuốn vào các cuộc xung đột liên quan đến các quốc gia cộng sản, quan tâm đến khả năng mở rộng cuộc xung đột này, nhưng lợi ích của Mỹ chưa bị đe dọa trực tiếp…

- Nhật: tối ngày 17/2/1979 người đứng đầu chính phủ Nhật nói: hy vọng không phát triển thành xung đột lớn. Vì sự ổn định của châu Á và hòa bình thế giới càng không thể làm như vậy.

- Ấn Độ: ngày 20/2/1979 Ngoại trưởng Ấn độ lúc đó nói: “Về nguyên tắc chúng ta phản đối sử dụng vũ lực vượt qua biên giới qui định, can thiệp vào công việc nội bộ nước khác”. Ngày 22/2/1979 ông nói: “đặc biệt là các nước lớn đều phải kiềm chế, phải thực hiện sức ép với Trung Quốc buộc Trung Quốc phải rút quân khỏi Việt Nam. Ngày 27/2/1979  khi nói chuyện trên TV, Thủ tướng Ấn Độ  nói Ấn Độ sẽ bảo Việt Nam nên rút quân khỏi Cămpuchia.
……..( Bản  ghi chép theo Đài tiếng nói Việt Nam và “Bản tin tham khảo TTXVN” của người viết)

II. Những nguyên nhân và mục đích của nhà đương cục Trung Quốc khi phát động cuộc chiến  tranh này
Đến nay cuộc chiến tranh đã kết thúc hơn ba mươi năm, trừ phía Việt Nam hầu như im lặng, dư luận thế giới và nhất là dư luận của Trung Quốc đã có không ít bài bình luận, thậm chí có nhiều cuốn sách mà các tác giả đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá tác động của cuộc chiến tranh này. Để tiện theo rõi, người viết xin xếp các đánh giá đó thành hai loại: những ý kiến ngay sau khi cuộc chiến vừa xảy ra và kết thúc chưa lâu, tạm gọi là những ý kiến bước đầu; và những ý kiến khoảng hai mươi, ba mươi năm sau đó, nghĩa là những ý kiến được đưa ra sau khi đã có thời gian tìm hiểu, suy ngẫm khá dài. Cuối cùng là những suy nghĩ tuy gọi là bước đầu nhưng cũng đã qua hơn ba mươi năm nung nấu của tác giả.

1. Một số ý kiến bước đầu của Trung Quốc
- Xã luận “Nhân Dân nhật báo” ngày 17/2/1979 -ngày Trung Quốc phát động cuộc xâm lược viết: “Cuộc đánh trả tự vệ của bộ đội biên phòng ta buộc phái tiến hành trong tình hình lực lượng vũ trang Việt Nam không ngừng xâm phạm biên giới nước ta. Là hành động chính nghĩa phải sử dụng để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ… Trong chiến đấu bộ đội biên phòng ta đã đả kích khí thế điên cuồng của bọn xâm lược Việt Nam, đánh tan thần thoại vô địch của chúng… Quan hệ Trung Việt sở dĩ xấu nhanh chóng và phát triển tới xung đột biên giới nghiêm trọng như vậy hoàn toàn là kết quả của việc  nhà đương cục Việt Nam dưới sự ủng hộ của đế quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô thi hành chủ nghĩa bành trướng dân tộc và chính sách chống Trung Quốc, thù địch Trung Quốc…”

- “Ban lãnh đạo Việt Nam sau khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ đã coi việc thiết lập bá quyền của mình tại Đông Nam Á là quốc sách.

Trước tiên nhà đương cục Việt Nam đầu óc phát cuồng, tự cho mình là “cường quốc quân sự thứ ba trên thế giới” điên cuồng bành trướng lãnh thổ ra ngoài, xâm chiếm đảo của Cămpuchia, đưa quân đội vào Lào, chiếm 6 đảo trên quần đảo Nam Sa (Trường sa) của Trung Quốc … vứt bỏ lập trường trước đây đã công nhận Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là của Trung Quốc, nói bừa là của Việt Nam. Còn ý đồ chia 2/3 vịnh Bắc Bộ là của mình. Biên giới trên bộ được qui hoach qua hiệp định Mãn Thanh-Pháp được hai chính phủ Trung Việt tôn trọng lâu nay không hề có xung đột, nhưng mấy năm gần đây Việt Nam đơn phương thay đổi tình trạng quản hạt thực tế biên giới đề xuất cái gọi là “khu vực tranh chấp” dịch chuyển hoặc phá hoại cột mốc, gây chuyện ở biên giới cho đến nổ súng làm chết làm bị thương quân dân biên giới nước ta… rồi đào chiến hào, chôn mìn chăng dây thép gai, cắm chông v.v… Chỉ từ tháng 8 (sự kiện đổ máu tại Hữu Nghị Quan) đến tháng 12 năm 1978 khi Việt Nam cử đại quân xâm lược Cămpuchia đã có hơn 2000 lượt/người Việt xâm nhập vũ trang vào hơn 100 nơi thuộc tỉnh Quảng Tây, vô lý chiếm giữ lãnh thổ Trung Quốc.

Việt Nam coi Trung Quốc là trở lực lớn nhất trong việc thi hành chủ nghĩa bá quyền khu vực của mình.
Việt Nam tăng cường khiêu chiến vũ trang tại biên giới Trung Việt là để gia tăng áp bức nhân dân Việt Nam.
……..

Vào năm 1978, Việt Nam gia nhập SEV, sau đó lại ký hiệp định thực chất là có tính chất quân sự Xô Việt, gan của Việt nam càng ngày càng lớn, còn Liên Xô đã lợi dụng được Hà Nội cho tham vọng bành trướng của mình.

Liên Xô cần lợi dụng Việt nam làm con tốt cho việc bành trướng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Liên Xô lợi dụng xung đột biên giới Trung Việt để đưa quân hạm vào cảng Đà Nẵng, Cam Ranh của Việt nam, từ đó trực tiếp uy hiếp các nước Đông Nam Á.

Liên Xô cũng lợi dụng Việt Nam làm tướng tiên phong trong chống Trung Quốc, họ cần một “Cu Ba phương đông”…
                  ( Nguồn Tân Hoa Xã Bắc kinh ngày 18/2/1979)

-Ngày 16/3/1979, đúng ngày quân đội Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã có bài nói về tình hình tác chiến tại biên giới Trung Việt tại một hội nghị quan trọng. Báo cáo này gần đây mới được đưa lên mạng, trong đó Đặng đã nói những ý chính như sau về cuộc xâm lược này, xin trích dịch giới thiệu, có thể coi đây  như một tư liệu tham khảo có ý nghĩa.

         .… “Đồng chí Vương Thượng Vinh (Phó Tổng Tham Mưu trưởng kiêm Cục trưởng Cục Tác chiến quân giải phóng Trung Quốc) đã báo cáo, tôi không báo cáo mà nói mấy câu thôi.

Lần phản kích tự vệ Việt Nam này quyết tâm tiến hành một cuộc tác chiến trừng phạt có giới hạn, gọi là giới hạn tức là độ sâu đả kích nông một chút, thời gian ngắn một chút, mục đích là dạy cho, dạy cho tên Cuba phương đông điên cuồng này để đạt được biên giới Trung Việt là đường biên giới tương đối ổn định. Đồng thời cũng là một sự ủng hộ Cămpuchia chống Việt Nam xâm lược. Tất nhiên xét từ ý nghĩa rộng lớn hơn thấy, đó là một hành động quan trọng của chúng ta mở rộng mặt trận thống nhất quốc tế phản đối bá quyền. Hôm nay trận đánh đó thực sự xong rồi, ngày 5 tuyên bố kết thúc chiến tranh, bộ đội bắt đầu rút về phía sau, đến hôm nay rút hết… Mọi người biết, TW đảng, Quân ủy TW hạ quyết tâm này không dễ, trải qua nhiều lần suy ngẫm, trải qua gần hai tháng suy ngẫm mới hạ được quyết tâm đó.  Trong đảng, trong nhân dân chúng ta có rất nhiều lo lắng về vấn đề này… liệu có ảnh hưởng tới xây dựng bốn hiện đại hóa không, liệu đánh tốt hay đánh không tốt… Bây giờ xem ra hạ quyết tâm đó là đúng. Khi hạ quyết tâm mối lo lớn nhất là sợ xét lại Liên Xô có phản ứng mạnh mẽ... Việt Nam  dựa vào hiệp ước Xô Việt mới dám làm như vậy… cho rằng chúng ta không dám có sự trừng phạt qui mô tương đối lớn.

Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới (Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số. ¾ binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài.

Trước khi chúng ta xuất quân mấy ngày bọn chúng (Việt Nam) còn đánh giá chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn…

Chúng ta nói trận này nhất định phải đánh, có 3 lý do lớn phải đánh:

Một là, mặt trận thống nhất chống bá quyền quốc tế đòi hỏi có sự chế tài cần thiết đối với Cu Ba phương đông để thúc đẩy mặt trận thống nhất chống bá quyền quốc tế. Bởi vì trên thế giới đều sợ Liên Xô và vì thế cũng sợ Cu Ba. Dưới con mắt chúng ta, Cu Ba phương đông đưa mười mấy sư đoàn tấn công Cămpuchia, gây chuyện ở biên giới nước ta, dùng đánh trả tự vệ lý do càng đầy đủ, nhưng hành động này không chỉ là hành động biên giới, nhỏ thì quan hệ tới tình hình Đông Dương, cục diện Đông Nam Á, nói rộng hơn một chút là quan hệ tới cục diện thế giới cho nên cần phải làm.

Hai là, chúng ta cần phải xây dựng bốn hiện đại hóa. Chúng ta cần môi trường tương đối ổn định, đáng tin, để cho xét lại Liên Xô, Việt Nam ngày ngày ở phía bắc phía nam đe dọa chúng ta làm cho tinh thần không yên liệu có được không?  Chúng ta thử lợi dụng cơ hội  xem sao. Việt Nam tự thổi phồng rất hung, tự coi là “cường quốc quân sự thứ ba trên thê giới”…lại coi chúng ta là kẻ thù số một… nếu chúng ta không đánh trả thì bọn chúng càng hung hăng, thúc đẩy phương bắc cũng tới …đánh trận này đặc biệt là cảnh cáo Liên Xô một chút.

Lý do thứ ba, là quân giải phóng nhân dân ba mươi năm nay không đánh trận, rốt cuộc quân đội chúng ta liệu có được hay không? Quả thật là chúng ta không có nhiều căn cứ để đánh giá… Đây là cơ hội rất tốt, bây giờ có thể nói quân giải phóng vẫn là quân giải phóng, danh dự được khôi phục một chút. Trên thế giới cho rằng ba mươi năm chúng ta không đánh trận, không nhất định đánh được Việt Nam. Cán bộ cấp tiểu đoàn trở xuống của chúng ta chưa tham gia chiến tranh, cán bộ trung đoàn cũng chỉ có một bộ phận. Cho nên thu hoạch về mặt này là lớn nhất là một trong những hiệu quả lớn nhất.

Ngoài ra trong đánh trả tự vệ:
- Chúng ta đã nâng cao được uy tín quốc tế của Trung Quốc: chí ít là người Trung Quốc đã nói là làm, bắt đầu từ chiến tranh Triều Tiên là như vậy, nhưng rồi có một thời kỳ Trung Quốc động loạn tương đối dài, người ta không tin Trung Quốc, lần này thì khôi phục danh dự, người Trung Quốc vẫn là đã nói thì làm, có vai trò quan trọng trên mặt trận quốc tế chống bá quyền.

- Yên tâm làm bốn hiện đại hóa.

- Rèn luyện quân giải phóng nhân dân

- Trong tuyên bố ngày 5/3 chúng ta đã nói nếu sau này Việt Nam còn gây sự tại biên giới chúng ta bảo lưu quyền dạy cho bài học nữa, quyền đánh trả tự vệ.

- Nhưng có một điều phải đặc biệt đề cập tới tức là giết gà đã phải dùng giao mổ trâu. Lần đánh này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một. Thương vong của chúng ta là 4 so với 1, thần thoại của chúng bị tiêu diệt.

- Bây giờ còn nhiều công tác tư tưởng phải làm, những nhân tố không ổn định rất nhiều, hiện tượng gây chuyện ngày một nhiều, nào là vấn đề thanh niên trí thức về làng, lợi dụng phát huy dân chủ để phá hoại ổn định, nào là Bức tường dân chủ (Tây Đơn)… Có người chạy vào đại sứ quán Việt Nam, phản đối đánh trả tự vệ, điều này không nghiên cứu có được không?


2. Một số ý kiến của một số học giả Trung Quốc sau khi cuộc chiến kết thúc một thời gian khá dài

a. Cuốn “Diễn biến bốn mươi năm quan hệ Trung Việt” do Quách Minh chủ biên, Nhà xuất bản Nhân dân Quảng Tây năm 1992 cho rằng, nguyên nhân xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới Trung Việt tháng 2 năm 1979 là vì các vấn đề sau:
   
+ Vấn đề xua đuổi, bức hại Hoa kiều.

Được bắt đầu từ khi miền nam Việt Nam vừa giải phóng nửa cuối năm 1975 và kết thúc bằng cuộc xua đuổi Hoa kiều qui mô lớn năm 1978, trong đó có mấy sự kiện đáng chú ý:
- Năm 1976, ngày 3/9 tờ “Tân Việt Hoa báo” bị buộc ngừng xuất bản
- Năm 1977 Việt Nam bắt đầu chiến dịch “làm sạch biên giới’ buộc Hoa kiều và người Hoa di cư ở vùng gần biên giới phải chuyển sâu vào trong nội địa, sau đó buộc họ phải trở về Trung Quốc. Đến cuối năm 1977 đã có hơn 40.000 Hoa kiều phải mang theo gia đình rời bỏ Việt Nam.
- Năm 1978 Việt Nam đại qui mô xua đuổi người Hoa và Hoa kiều bằng mọi thủ đoạn tại khắp các nơi trong nước. Bắt đầu từ các tỉnh thành phố có nhiều Hoa kiều như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh…, buộc Hoa kiều phải viết cam kết tự nguyện về nước. Miền  Bắc có gần 30 vạn Hoa Kiều, riêng Quảng Tây tiếp nhận hơn 10 vạn.
Cướp đoạt nhà máy nhà cửa, tài sản sản của Hoa Kiều rất dã man.
+ Vấn đề biên giới
Việt Nam không ngừng xâm nhập lãnh thổ Trung Quốc, đánh đập, giết chóc nhân dân vùng biên, chạm súng với lực lượng biên phòng Trung Quốc, đòi xét lại hiệp định Pháp Thanh về biên giới…
+ Vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam thay đổi lập trường công nhận hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Trung Quốc trước đây, cho rằng hai quần đảo thuộc Việt Nam.
+ Việt Nam xâm lược Cămpuchia…
Cuốn sách này cho rằng mục đích, tính chất và ý nghĩa của “đánh trả tự vệ” đã:
- Về quân sự thể hiện rõ thành công to lớn của bộ đội Trung Quốc
Trung Quốc đã phá hủy toàn bộ hệ thống bố trí quân sự của Việt Nam tại toàn bộ vùng biên giới.
- Về chính trị thể hiện rõ Trung Quốc đã nói là làm
- Phá tan thần thoại “bách chiến bách thắng” của Việt Nam
        - Có cống hiến trọng đại cho việc bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á
b. Cuốn “Ghi chép thực ngoại giao” tác giả Trương Thụ Quân, Nhà xuất bản Kinh tế Trung Quốc xuất bản năm 1997 cho rằng, đó là vì:
- Tập đoàn Lê Duẩn Việt Nam ra sức thi hành kế hoạch “Liên Bang Đông Dương”
-nhà đương cục Việt Nam thực hiện khống chế toàn diện Lào
-nhà đương cục Việt Nam phát động xâm lược vũ trang Cămpuchia
-Việt Nam uy hiếp an ninh của các nước Đông Nam Á
-Việt Nam thi hành chính sách chống Hoa thù Hoa
c-Cuốn “Rung động giữa đỉnh núi và vực sâu”, tác giả Cung Lực, Nhà xuất bản Kinh Tế Trung Quốc năm 1998 viết:
Để bảo vệ biên cương, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân vùng biên giới, bảo vệ việc tiến hành thuận lợi công cuộc xây dựng hiện đại hóa xhcn của Trung Quốc, bộ đội biên phòng Trung Quốc buộc phải vùng dậy đánh trả. Là hành động hoàn toàn chính nghĩa.
Ý nghĩa và ảnh hưởng của hành động chính nghĩa tự vệ đánh trả này là:
- bảo đảm công cuộc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc được tiến hành thuận lợi (cần môi trường quốc tế hòa bình, ổn định nhưng cây muốn lặng gió chẳng đừng..)
- đánh vào khí thế hung hăng cản trở của nhà đương cục Việt Nam, bóc trần thần thoại bất khả chiến thắng của Việt Nam. Cuộc đánh trả tự vệ vừa trừng phạt tội quấy nhiễu xâm lược của Việt Nam lại cũng đánh tan thần thoại “cường quốc quân sự thứ ba thế giới” mà chúng tự khoe khoang.
- chi viện cho cuộc đấu tranh chống xâm lược Việt Nam của nhân dân Cămpuchia, có lợi cho việc giữ gìn hòa bình ở Đông Nam Á và khu vực Châu Á-Thái Bình dương. Sự việc Việt Nam chống Hoa bài Hoa và vũ trang xâm phạm biên giới Trung Quốc đồng thời phát sinh với việc Việt Nam vũ trang xâm lược Cămpuchia, vì vậy hành động chính nghĩa đánh trả tự vệ của Trung Quốc đã trực tiếp chi viện cho cuộc đấu tranh chống Việt cứu nước của nhân dân Cămpuchia.
- làm rối loạn  bố trí chiến lược toàn cầu của Liên Xô, khiến một khâu rất quan trọng trong bố trí chiến lược toàn cầu của Liên Xô ở Đông Nam Á bị phá vỡ, thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bá quyền và giữ gìn hòa bình thế giới.
Ngoài ra thắng lợi của cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam đã làm tăng mạnh uy thế của đất nước cổ vũ quần chúng nhân dân tăng cường lòng tin đoàn kết xung quanh đảng và chính phủ, vượt qua mọi khó khăn trong công cuộc bốn hiện đại hóa. Cuộc tác chiến này còn trực tiếp rèn luyện bộ đội vũ tranh Trung Quốc thúc đấy xây dựng hiện đại hóa quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc
……….

3. Một số phân tích đánh giá của một số nước và khu vực
Uy tín của ban lãnh đạo trung ương, đặc biệt là Đặng Tiểu Bình được nâng cao trong toàn quốc. Lòng tin của dân chúng với Đảng cộng sản Trung Quốc đã tăng lên, đây là điều kiện quan trọng để ổn định, đoàn kết trong nước, tập trung sức xây dựng 4 hiện đại hóa”( Tạp chí “Tranh Minh” Hồng Công số ra ngày 1/4/1979).

Trong cuốn “ Quyết sách của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam” của Bành Mộ Nhiên, một tác giả Đài Loan thuộc Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Chính trị Quốc lập Đài Loan, có nói:
“…Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975 như là con ngựa chiến lại được Liên Xô ủng hộ giúp đỡ nên đã trở thành kẻ tực cao tự đại không coi ai ra gì.”

Trung Quốc luôn lo sợ Việt Nam thống nhất và mạnh lên…” nên “muốn làm theo chiến thuật kéo dài, chậm thống nhất Việt Nam”

Hàng mấy chục năm trời chi viện lớn lao cho Việt Nam đến nay hoàn toàn bị tuột khỏi tay một láng giềng thân cận đó là một thất bại to lớn của chính sách ngoại giao của Trung Quốc”

Mục đích “phản kích” của Trung Quốc có thể gồm 3 tính chất, thứ nhất trừng phạt Việt Nam xâm lược Cămpuchia. Thứ hai trả đũa Việt Nam xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc và kỳ thị Hoa kiều. Thứ ba cho thế giới thấy, Trung Quốc sẵn sàn hành động ngăn chặn chủ nghĩa bá quyền Liên Xô và bá quyền khu vực của Việt Nam.”

Muốn cô lập Việt Nam về ngoại giao làm cho Việt Nam phải thay đổi chính sách thân Liên Xô”

Do nhân tố địa lý, việc Việt Nam xâm lược Cămpuchia và Trung Quốc “phản kích”  đều đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quốc gia Asean, họ mừng vì ý đồ bành trướng của Việt Nam đã bị ngăn chặn, nhưng lại e sợ Trung Quốc sẽ thay Mỹ khống chế Đông Nam Á (Thái Lan và Singapore không ưa Việt Nam, trong khi Malaixia, Indonesia ôn hòa với Việt Nam hơn và nghi ngờ Trung Quốc).

Một tạp chí của Mỹ cho rằng  những lý do khiến CHND Trung Hoa quyết định đi đến chiến tranh với CHXHCN Việt Nam là:
-giấc mộng đế quốc bá quyền của Hà Nội tại Đông Nam Á
-Việt Nam vi phạm biên giới Trung Quốc và tiếp tục xâm nhập lãnh thổ TQ
-Việt Nam đối xử không tốt với Hoa kiều tại Việt Nam
-Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với Liên Xô -nước đang mở rộng ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á
-những cư xử không phải của Việt Nam đối với Trung Quốc từ năm 1975 đã làm tổn thương ý thức của Trung Quốc về vị trí tối cao của mình.
       (Nguồn The China Quarterly số mùa đông năm 2005)

Trong cuốn sách mới xuất bản: “Rút kinh nghiệm lịch sử: lịch trình phát triển của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc” tác giả Edward C.ODowd và JohnF Corbett.JR đã căn cứ vào một số tư liệu do Trường Bộ binh quân khu Quảng Châu và cuốn “70 năm quân giải phóng nhân dân Trung Quốc” tổng kết kinh nghiệm của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, cho rằng :
-chiến thuật cơ bản của bộ binh khi tấn công Việt Nam vô cùng đơn điệu.
- lực lượng pháo binh chưa phát huy được tác dụng hữu hiệu
- kỹ năng của các công trình dã chiến tương đối lạc hậu
- công tác trắc địa có vấn đề
- hệ thống bảo đảm hậu cần kém hiệu quả

Qua đó còn thấy công tác huấn luyện là một trong những khâu yếu kém của quân đội, phải cải cách biên chế…
(Nguồn http://www.milchina.com ngày 29/4/2010 giới thiệu, với nhan đề: “Mỹ quốc nhân nhãn trung đích Trung Việt chiến tranh…”)

Tác giả Giang Tấn trong bài đăng trên Tuần san châu Á số 11-18/7/2010 dẫn lời Nghê Sáng Huy, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung Việt” phát hành tháng 6/2010 cho biết : tư tưởng “tả khuynh” trong, ngoài đảng vẫn tiếp tục trượt theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong trung ương đảng do Hoa Quốc Phong cầm đầu chủ trương vẫn tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn Cách mạng văn hóa. Trong quân đội cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với đường lối và chính sách của Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình nếu chỉ dựa vào chức vụ khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức để quét sạch những chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa…, Đặng Tiểu Bình tìm sự đột phá từ quân đội, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tăng cường đoàn kết nội bộ. Đặng Tiểu Bình cũng muốn sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Có thể nói Đặng Tiểu Bình đã sử dụng chiến tranh Trung Việt để củng cố địa vị của mình.

(Nguồn “Tài liệu tham khảo đặc biệt” Thông Tấn xã Việt Nam ngày 22/7/2010)
Trên đây là một số phân tích, đánh giá có thể nói là khá phổ biến của phía Trung Quốc, thái độ của một số nước và khu vực cũng như một số nhận định của học giả nước ngoài. Để có thể bàn luận một cách tương đối chính xác về các ý kiến đó, người viết thấy cần phải tìm hiểu sâu  hơn về những bất đồng Việt Nam, Trung Quốc .

Những bất đồng lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc xảy ra từ bao giờ
Bất đồng lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc không phải chỉ đến sau ngày Việt Nam thống nhất (năm 1975) mới có như những người cầm quyền Trung Quốc nói cũng như bộ máy tuyên truyền của họ ra sức xuyên tạc nhằm dễ đổ hết lỗi của cuộc xung đột đó cho phía ta, mà đã có từ khi Việt Nam kiên quyết không đi theo Trung Quốc chống Liên Xô khi bất đồng Trung Xô được công khai hóa đầu những năm 60 của thế kỷ trước, nó gay gắt thêm khi Việt Nam chủ động tiến hành đàm phán với Mỹ tại Paris nhằm giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai mà không có vai trò (hoặc  phớt lờ) Trung Quốc. Tuy nhiên do Đảng ta, đứng đầu là Bác Hồ đã có những ứng xử khéo léo, khôn ngoan nhưng cương quyết nên các bất đồng đó không biến thành xung đột (xem thêm: “Hồ Chí Minh  với Trung Quốc” và “Những điều ít biết về quan hệ Việt Trung thời chống Mỹ” của Dương Danh Dy.

Vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước, tình hình quốc tế có những biến chuyển mới: Mỹ ngày càng bị sa  lầy ở Việt Nam, Liên Xô đang ở thế đi lên, quan hệ Trung Xô căng thẳng (chiến tranh biên giới hai nước năm 1969, nguy cơ Liên Xô phát động chiến tranh lớn với Trung Quốc…), quan hệ Trung Mỹ cũng chưa có tiến triển, Trung Quốc vẫn lợi dụng cuộc chiến tranh ở Việt Nam để giương ngọn cờ chống đế quốc. Tuy nhiên hai nước đã có một số động thái nhằm cải thiện tình hình (mà điển hình là sự kiện “ngoại giao bóng bàn”). Ban lãnh đạo Trung Quốc đứng đầu là Mao Trạch Đông đã quyết định có bước đột phá trong quan hệ Trung Mỹ, vì cho rằng với  thực lực đã có và với bước đi tiến tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ, họ có thể phá vỡ thế hai cực Mỹ Xô, đặc biệt là để đối phó và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô.

Chính vì thế, mà vào tháng 7 năm 1971 Trung Quốc đã vui lòng đón Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng Thống Mỹ Nixon. bí mật đến thăm Bắc Kinh.

Chuyến thăm đầu tiên tới Trung Quốc -đối thủ hàng đầu của Mỹ do một phái viên cấp cao Mỹ tiến hành đã  làm rung động thế giới một thời vì ai cũng thấy, đó là một cuộc viếng thăm có ý nghĩa lịch sử. Một số nước liên quan tỏ ra lo lắng, hoặc mừng vui. Biết trước hành động này của mình sẽ tác động lớn tới một vài đồng minh thân thiết nên ngay sau khi đón tiếp xong Kissinger, ban lãnh đạo Trung Quốc đã cử một mình Chu Ân Lai và một phiên dịch là Lương Phong bí mật tới thông báo tình hình với lãnh đạo Việt Nam.

Người viết bài này được một cán bộ cấp trên tin cậy nói cho biết chuyện sau. Trong hội đàm Chu Ân Lai đã trình bầy cho phía ta biết vì sao Trung Quốc cần có bước đột phá quan hệ với Mỹ (phá thế bị Liên Xô kìm kẹp) và hứa bình thường hóa quan hệ Trung Mỹ nếu có, sẽ không ảnh hưởng tới cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam nhiều hơn trước. Tuy nhiên người đứng đầu đảng ta, và một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta tỏ ra nghi ngờ “thiện ý” trên và cho rằng Trung Quốc đã “phản bội”, “bán rẻ” “làm ăn với Mỹ trên lưng ta”.

Ngưòi viết bài này cho rằng bất đồng Việt Trung gay gắt rồi dần dần trở thành xung đột đẫm máu đã qua các giai đoạn sau:
-Từ những năm 1972 đến tháng 5/1975 là thời gian Trung Quốc thi hành chính sách vừa lôi kéo vừa gây sức ép với ta, vừa lôi kéo tức là vẫn tiếp tục viện trợ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân Việt Nam, thậm chí là nhiều hơn trước như đã hứa. Mạng Phượng Hoàng Hồng Công ngày 8/10/2010 trong bài viết “Trong những năm 70 để tranh thủ Việt Nam với Liên Xô rốt cuộc Trung Quốc đã phải chi bao nhiêu tỷ” đã nói cụ thể số viện trợ cho Việt Nam trong 3 năm 1971-1973 như sau:
1971年~1973年成为中国 向越南提供援助最多的三年,签订援助协定的总额近90亿元人民币,单就军事援助来说,近两年的援助物资即超过以往20年的总和。 (Năm 1971-1973 trở thành 3 năm Trung Quốc viện trợ Việt Nam nhiều nhất, tổng mức viện trợ ký kết là gần 9 tỷ NDT, chỉ riêng viện trợ quân sự, trong gần 3 năm viện trợ này đã vượt qua tổng số của 20 năm trước).

Còn gây sức ép tức là bắt đầu kiếm chuyện ở biên giới miền Bắc nước ta và xúi giục, khuyến khích bọn Polpot “gây chuyện” với ta trên đoạn đường mòn Hồ Chí Minh đi qua lãnh thổ Cămpuchia.

Có thể nói trước giai đoạn này, về cơ bản đường biên giới trên lục địa Việt Trung là đường biên giới hữu nghị, không có các vụ tranh chấp thường xuyên mặc dù những ý đồ, hành động xâm lấn biên giới của Trung Quốc đã có nhưng chưa để lộ rõ. Là một trong số người theo dõi trực tiếp tình hình tôi ghi nhận từ năm 1973 trở đi Trung Quốc bắt đầu công khai gây chuyện với ta, như coi một số vùng xâm canh xâm cư trên lãnh thổ của ta là lãnh thổ của họ, xê dịch cột mốc biên giới, coi đoạn nối ray nằm sâu vào lãnh thổ Việt Nam 300 m (đây là sơ hở của ta khi nhờ họ khôi phục đường sắt năm 1954) trên đường sắt Hà Nội Hữu Nghị Quan là lãnh thổ của họ, ngang nhiên cho tầu liên vận đỗ tại đoạn này, gây tranh chấp với ta…

Theo thống kê chưa đầy đủ của phía Việt Nam thì chỉ riêng năm 1974 phía Trung Quốc đã gây ra 179 vụ và năm 1975 đã gây ra 294 vụ lấn chiếm đất đai của Việt Nam (nguồn “Sách Trắng” Bộ Ngoại giao Việt Nam 1979), còn tư liệu của Trung Quốc nói trong năm 1974 Việt Nam đã gây ra 121 vụ xung đột biên giới và năm 1975 là 439 vụ (“Nguyên nhân tranh chấp Trung Việt là ở đâu” Ban đối ngoại Ủy Ban Cách mạng, Khu tự trị Quảng Tây tháng 4/1979).

Đáng chú ý là sau khi được phục hồi công tác, Đặng Tiểu Bình đã có một số câu nói với một số nhà lãnh đạo đảng ta, như “ thuyết ba thế giới mà tôi trình bày tại đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chỉ là lời nói phát ra từ cổ họng” (ngụ ý thuyết đó là của Mao Trạch Đông chứ không phải của mình, cho thấy ông ta khác Mao Trạch Đông người mà ban lãnh đạo ta lúc đó không có cảm tình). Hoặc khi đề cập tới va chạm về biên giới Đặng đã nói: biên giới ở xa, lãnh đạo hai nước chúng ta nên tìm hiểu, lắng nghe rồi hãy nêu ý kiến (ngụ ý khuyên phía Việt Nam cần bình tĩnh thận trọng trong vấn đề biên giới trong khi họ đang cố tình gây sự) khiến một số nhà lãnh đạo Việt Nam không thấy hết ý đồ sâu xa thâm hiểm  và bản chất của ông ta.

Qua những lời kể của một số nhà lãnh đạo quân sự và chính trị có liên quan của ta, bắt đầu từ năm 1973, bọn Polpot đã tìm cách sát hại, cướp đoạt những nhóm cán bộ, bộ đội và những xe chở vũ khí vật tư đi lẻ hoặc mất cảnh giác trên đường mòn Hồ Chí Minh đi qua đất Cămpuchia và những hành động đó ngày một tăng và trắng trợn hơn.

Cần nhấn mạnh thêm, việc nhà cầm quyền Bắc Kinh, sau khi được phía Mỹ thỏa thuận ngầm, ngày 17/1/1974 đã bất ngờ tấn công chiếm nốt nửa phía tây quần đảo Hoàng Sa đang do lực lượng của chính quyền Sài Gòn chiếm giữ từ năm 1956 đã cho ban lãnh đạo và nhân dân ta thấy rõ dã tâm tranh cướp lãnh thổ ta của ban lãnh đạo Bắc Kinh. Tuy vậy do lúc đó cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất còn đang tiếp diễn, nên chúng ta đã kiềm chế không phát biểu gì mà chỉ để Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam nói một số câu ngầm cho thấy quần đảo đó thuộc chủ quyền của Việt Nam.

-Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1979 là thời gian bất đồng giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên vô cùng gay gắt, Trung Quốc chuyển sang chính sách đe dọa (hay cái gậy) là chính đối với Việt Nam. Do Ban lãnh đạo Việt Nam không chịu khuất phục, ngả dần ròi ngả hẳn sang phía Liên Xô, nên cuối cùng xung đột giữa hai bên đã phát triển thành cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979 do nhà đương cục Trung Hoa phát động.

Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là một thắng lợi to lớn trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và thống nhất của dân tộc ta. Đó là một thắng lợi vang dội khiến uy tín và vai trò của Việt Nam được xác lập trên thế giới và khu vực. Thế nhưng thắng lợi đó đã khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh “không vui”, họ không ngờ sự nghiệp thống nhất đất nước của Việt Nam lại huy hoàng đến thế, và hơn nữa còn ấm ức trong lòng vì không ngờ Việt Nam đã nhanh tay thu hồi phần quần đảo Trường Sa đang do chính quyền Sài Gòn chiếm giữ. Nó cho người Mỹ thấy “vai trò” của Trung Quốc đối với Việt Nam là có hạn, và lo ngại “sức mạnh” của Liên Xô đang lớn lên tại khu vực này…

Trong tình hình đó, Trung Quốc đã cố tình gây ra hầu hết những cuộc va chạm, xung đột tại biên giới cũng như tạo ra những sự kiện mới để ép ta.        

Về tình hình biên giới. Theo thống kê của ta năm 1976 phía Trung Quốc đã gây ra 812 vụ, năm 1977 là 873 vụ và năm 1978 là 2.175 vụ (nguồn “Sách trắng”). Còn theo tin của Trung Quốc thì năm 1976 phía Việt Nam đã gây ra 986 vụ, năm 1977 là 752 vụ, năm 1978 là 1108 vụ (Nguồn “Nguyên nhân tranh chấp Trung Việt là ở đâu”). Trong đó có một số vụ đổ máu. Ở đây cần nói rõ, những số liệu mà Trung Quốc đổ cho phía ta gây ra đều là bịa đặt, vì tôi đã hỏi và được người có trách nhiệm trả lời rất rõ là không bao giờ chúng ta dại gì xâm phạm lãnh  thổ của họ. Có những vụ va chạm là do chúng ta bảo vệ phần lãnh thổ của mình mà trước đây họ đã xâm canh, xâm cư hoặc cố tình lấn chiếm khi làm đường vận tải giúp ta.

Trước tình hình trên, từ đầu năm 1977, Việt Nam thi hành chính sách “làm trong sạch vùng biên giới”, như yêu cầu một số cư dân Trung Quốc sang đất Việt Nam lánh nạn từ hồi đầu “cách mạng văn hóa” mà chúng ta đã bao dung cho ở nhờ nay phải về nước.

Tháng 8 năm 1976, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đề nghị với phía Việt Nam thiết lập 3 Tổng lãnh sự quán tại 3 thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nhưng phía Việt Nam chỉ đồng ý thành lập 2 Tổng Lãnh sụ quán tại Hà Nội và Hải Phòng, từ chối không cho lập ở Đà Nẵng (lúc đó chúng ta đang có 3 Tổng lãnh sự quán tại Quảng Châu, Nam Ninh, Côn Minh tại Trung Quốc, chưa kể trước đó chúng ta còn có Tổng lãnh sự quán tại Thượng Hải, nhưng  đã rút ) và đề nghị Trung Quốc phải chờ thông báo của Việt Nam. Sau nhiều lần gặp gỡ thúc giục mãi đến tháng 11 năm 1977 phía Việt Nam mới đồng ý để phía Trung Quốc cử người tới thành phố Hồ Chí Minh, nhưng khi nào mở cửa phải đợi ý kiến của Việt Nam. Đầu tháng 4 năm 1978 cán bộ Trung Quốc chuẩn bị cho việc thành lập Tổng lãnh sự quán đến Hà Nội chuẩn bị trình thư ủy nhiệm, nhưng phía Việt Nam tìm mọi cớ để trì hoãn khiến họ phải chờ tới gần 3 tháng, Cuối cùng, ngày 16/9/1978 ,Trung Quốc quyết định đóng cửa 3 Tổng lãnh sự quán của Việt Nam tại Trung Quốc thì họ không đòi thiết lập Tổng lãnh sự quán tại thành phố Hồ Chí Minh nữa.

Vấn đề người Hoa, phía Trung Quốc cho rằng việc ngày 3 tháng 9 năm 1976 chúng ta buộc tờ báo “Tân Việt Hoa” -tờ báo duy nhất xuất bản bằng tiếng Trung có từ lâu đời tại miền Bắc, ngừng hoạt động nữa là tiếng súng đầu tiên báo hiệu việc nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kỳ thị, bài xích Hoa kiều. Ngày 24 tháng 5 năm 1978, Ủy Ban công tác Hoa kiều của Quốc vụ viện Trung Quốc công bố bài nói với Tân Hoa xã về việc Việt Nam xua đuối người Hoa, ngày 26 chính phủ Trung Quốc quyết định cử tầu thủy đến cảng Việt Nam đón cái gọi là “nạn kiều” nhưng không thành vì chính phủ ta không cho tầu cập cảng.

Xin khẳng định: “kịch bản” Việt Nam xua đuổi bức hại người Hoa và Hoa kiều là do nhà cầm quyền Trung Quốc nặn ra, dùng nó dọa dẫm người Hoa rời khỏi Việt Nam rồi họ đứng ra tiếp nhận chỉ là bản sao gần như nguyên bản mà chính quyền Bắc Kinh đã dựng nên và “công diễn” tại Indonesia năm 1956 (dựng nên chuyện Hoa kiều bị bức hại, bị xua đuổi, nhà nước Trung Quốc cho tầu đến đón “nạn kiều” rồi thành lập một số nông trường tại vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến chuyên tiếp nhận những người chót dại theo về.) (Rất ít người biết chuyện này, một số nhà nghiên cứu nuớc ngoài gần đây khi gặp tôi cũng cho rằng Việt Nam xua đuổi người Hoa, tôi liền hỏi lại: bạn có biết chuyện nhà cầm quyền Indonexia bị Trung Quốc vu cáo là xua đuổi người Hoa ở đó năm 1956 không, anh bạn ngẩn ngưòi ra thừa nhận không biết.Tôi bảo hãy về đọc lại tư liệu cũ đi rồi hãy nói. Ba hôm sau anh bạn này gọi điện đến xin lỗi tôi và thừa nhận là đã mắc lừa luận điệu của Trung Quốc).

Trong vấn đề người Hoa, phía Việt Nam không chủ động buộc họ ra đi, nhưng khi dưới sự xúc xiểm, đe dọa, hứa hẹn của nhà cầm quyền Bắc Kinh thì chúng ta sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho những người muốn ra đi. Tuy vậy cần thấy trong vấn đề này có lúc Việt Nam đã quá cường điệu tính dân tộc, cảnh giác dân tộc quá mức khiến rất nhiều người Hoa đã từng gắn bó chặt chẽ và có công lao nhất định trong hai cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng của Việt Nam cũng phải rời bỏ mảnh đất mà họ thấy thân thiết hơn là “đất mẹ Trung Quốc” (một số người Hoa nói với tôi ở Quảng Đông năm 1994). Ngoài ra một số sai lầm của một số địa phương và một số cán bộ của ta như dọa dẫm, sách nhiễu, bán bãi… đã khiến sau này nhà cầm quyền Trung Quốc giương được ngọn cờ vu cáo và khiến dư luận quốc tế nghiêng về luận điệu “Việt Nam xua đuổi bức hại người Hoa” do Trung Quốc tạo dựng.

Bản “Bị vong lục” của Lý Tiên Niệm, Phó Thủ tướng Trung Quốc trao cho Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng ngày 10 tháng 6 năm 1977.

Trên đường về nước sau khi thăm một số nước Đông Âu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ghé thăm Trung Quốc, được Hoa Quốc Phong, chủ tịch ĐCSTQ kiêm Thủ tướng chính phủ tiếp và có cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Tiên Niệm. Trong cuộc hội đàm đó Lý Tiên Niệm đã đưa cái gọi là bản Bị vong lục gồm 7 điểm, mà thực chất là bản lên án Việt Nam: có một số lời nói làm tổn hại nghiêm trọng đến tình cảm của nhân dân Trung Quốc, tổn hại đến tình hữu nghị hai nước; Việt Nam không chỉ nói mà còn làm; điểm nối ray đã xẩy ra nhiều vấn đề, trên vấn đề Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), vấn đề phân chia vịnh Bắc Bộ, vấn đề Hoa kiều, vấn đề Việt Nam lợi dụng lịch sử để ngầm chống Trung Quốc.

Tiếp đó là các sự kiện sau:
Hội nghị TW 4 của ĐCSVN họp tháng 4/1978 xác định “Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp nhất”
Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế và đặc biệt là sau đó đã ký Hiệp định đồng minh tương trợ với Liên Xô  tháng 8 năm 1978.

Trung Quốc xoá bỏ hợp đồng viện trợ (lấy cớ là để lấy tiền giúp đỡ “nạn kiều” từ Việt Nam về nuớc) rút chuyên gia tại Việt Nam.

Tháng 11 năm 1978, khi thăm Thái Lan Đặng Tiểu Bình tuyên bố phải “dạy cho Việt Nam bài học”, gọi Việt Nam là “côn đồ”.

Ngày 21 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc hủy bỏ hiệp ước vận chuyển hành khách và hàng hóa liên vận, khiến nhiều cán bộ Việt Nam đi công tác và lưu học sinh tốt nghiệp tại Liên Xô, Đông Âu về nước bị dồn lại tại Bắc kinh một thời gian. Sau khi số hành khách này về nước hết bằng máy bay, ngày 15 tháng 11 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố hủy bỏ hiệp định hàng không với Việt Nam. Đến lúc này, giữa hai nước ngoài 2 đại sứ quán và nhân viên đóng tại hai thủ đô của nhau ra hầu như không còn quan hệ gì nữa.

(Trên đây là một số sự kiện tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ chính phủ Trung Quốc áp dụng chính sách “cái gậy” với Việt Nam. Tôi cố gắng đưa nhiều sự kiện để giúp người đọc khách quan trong nhận định đánh giá, hơn nữa ngại rằng thời gian đã khá xa, sợ có người quên, người chưa đọc hết). 

Dương Danh Dy 
Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Trương Nhân Tuấn - Biên giới Việt Trung theo các công ước về biên giới Pháp Thanh 1887 – 1895 (2)

Trương Nhân Tuấn
(Tiếp theo)

4/ Kết quả phân giới và cắm mốc :

4.1 Thời kỳ 1889-1890 do Chiniac De Labastide làm chủ tịch.

Việc phân giới khu vực Quảng Đông chính thức bắt đầu vào buổi họp ngày 1 tháng 11 năm 1889. Phái đoàn Pháp do ông Chiniac de Labastide làm Chủ Tịch. Bên Trung Hoa có Li Sheou-Toung, Tri Phủ Khâm Châu làm Chủ Tịch. Trong thời kỳ này, các quyết định của hai ủy ban về biên giới không hiệu lực tức thời mà phải chờ sự chấp nhận của Tổng Lý Nha Môn. Trước đó, hai bên đã có nhiều cuộc họp để bàn luận nhằm thống nhất quan điểm về đường biên giới. Phía Pháp đặt bản doanh ở Hoành Mô. Các ủy viên Pháp ra thực địa làm công tác trắc địa và lập bản đồ. Có hai bộ bản đồ được lập ra, trên vải lụa, tỉ lệ 1/10.000. Một tấm mô tả biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long- Bắc Thị. Một tấm từ điểm hợp lưu này đến ải Bắc Cương.

Như đã thấy, theo nội dung biên bản phân định, đường biên giới phải đi qua ngọn núi Phân Mao. Đây là nguyên nhân đem lại khó khăn cho vấn đề phân giới. Các ủy viên người Pháp đã bỏ công tìm kiếm trên thực địa, cũng như xem lại các địa chí, hay hỏi thăm dân chúng trong vùng để xác định vị trí núi này. Phía người Hoa, trong một buổi họp, khi các ủy Pháp đặt câu hỏi về vị trí núi này ở đâu trên bản đồ, thì lộ vẻ bối rối, hẹn trả lời trong buổi họp tới. Đến lúc họp mặt lại, thì ông tri phủ Khâm Châu chỉ tay vào một trái núi trên bản đồ rồi cho rằng đó là “Phân mao lãnh”. Phía ủy ban Pháp phản đối, vì họ đã biết vị trí thật của núi này ở đâu. Trong khi đó, khoảng thời gian giữa hai buổi họp, phía người Hoa đã cho người tạo dựng một ngôi đền nhỏ, viết tên đề là đền thờ « Phục Ba tướng quân », rồi đặt tên cho ngọn núi đó là núi Phân mao. Phái đoàn Pháp kịch liệt phản đối, vì họ biết chính xác vị trí núi này ở cách xa khu vực này vài chục cây số, về phía bắc. Phía người Hoa biện luận rằng nhận xét của phái đoàn Pháp là chính xác, những núi đó là núi “Đại Phân mao”, trong khi núi ở khu vực này là “Tiểu Phân mao”. Phía người Hoa lập lại một nguyên tắc đã dùng ở Tụ Long để chiếm đất của Việt Nam, qua việc dựng lên con sông Tiểu Đổ Chú. Chiniac De Labastide, trong một bản tường trình lên Toàn quyền Đông dương, tố giác việc này và yêu cầu phân định lại biên giới, nhưng khong thành công.

Chiniac De Labastide nhật xét: Từ hợp lưu của sông Gia Long cho đến ải Bắc Cương, trên một chiều dài khoảng 40 cây số, người ta đã bỏ biên giới lịch sử để lấy một đường biên giới khác, ở xa về phía nam, một đường biên giới hoàn toàn qui ước. Việc nầy đã nhường cho Trung Hoa 7 xã rưỡi thuộc tổng Bát Tràng và hai xã khác thuộc tổng Kiến Duyên. Ông không chấp nhận nhượng bộ, yêu cầu phân định lại biên giới. Do đó công việc phân giới bế tắt, đến thời kỳ Đại tá Galliéni (1893-1894) mới giải quyết.

Trong buổi họp đầu tiên 1 tháng 11 năm 1889, một biên bản xác định biên giới được hai bên đồng ý thiết lập, liên quan đoạn biên giới từ biển đến hợp lưu sông Gia Long – Bắc Thị. Biên bản này chỉ có hiệu lực vào ngày 2-3-1890, ký tại Thán Sản.

Biên bản này xác định biên giới hai nước là con sông Gia Long, tức chỉ một phần của đoạn 1. Biên bản cũng dự trù việc cắm mốc, mà việc này, phía bên Trung Hoa cũng như phía bên Việt Nam, dĩ nhiên là không cần thiết. Nội dung biên bản như sau :
Chủ quyền các đảo và đoạn biên giới từ biển cho đến hợp lưu sông Gia Long được xác định như sau :
  1. Những hòn đảo ở phía Ðông kinh tuyến Paris, 105° 43’ của kinh độ Ðông, có nghĩa là đường Bắc Nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ 茶古 thì thuộc về Trung Hoa ; những hòn đảo tên Cữu-Ðầu九頭 và những đảo khác ở phía Tây của đường kinh tuyến nầy thì thuộc về An Nam.
  1. Từ Trúc Sơn 竹山, đường biên giới theo dòng sông từ Ðông sang Tây cho tới Ðông Hưng 東興 và Mang Nhai .
Ðường trung tuyến của dòng sông là đường biên giới phân chia địa hạt La Phù 羅浮 và địa hạt Ðông Hưng 東興 thuộc Trung Hoa với vùng Xuân Lạn 春爛 (vùng này bao gồm các địa phận Mũ Sãi, còn được gọi là Ngũ Sĩ 伍仕, địa phận Tử Kinh Sơn 紫京山, địa phận Lục Lâm 陸林) và địa phận Vân Xuân 萬春 (địa phận nầy bao gồm thị trấn Mang Nhai , tức Móng Cái), những vùng nầy thuộc về An Nam.
  1. Từ Ðông Hưng 東興 và Mang Nhai cho tới Gia Long 加隆 (còn viết là嘉隆) và Bắc Thị 北市 đường biên giới khá ngoằn ngoèo và dòng sông đại để đi theo hướng Tây Bắc.
Biên giới phân chia Na Chí 那至 (còn được viết là 那芝),Vọng Hưng 望興, Gia Long 加隆 (hay 嘉隆) và những vùng khác thuộc Trung Hoa với vùng Ninh Dương 寧陽 và vùng Vạn Xuân 萬春 (vùng nầy bao gồm địa phận Thân Phan 櫬潘) và Bắc Thị 北市 thì thuộc về An Nam.


Theo các công ước đã được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công trình phân giới, vào ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của dòng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.


Nếu sau nầy, vì ngập lụt hay vì cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dãi đất hay các cù lao được thành hình, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dãi đất hay cù lao mới thành hình sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó.


Theo biên bản đã ký tại Móng Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 tức ngày thứ năm tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, địa phận Thác Lãnh 托嶺 thuộc về An Nam.


Cả hai ủy ban đã không thể biết địa phận nầy ở đâu, nêu cùng quyết định sẽ không tìm kiếm thêm nữa.
Cũng trong biên bản đó chỉ định rõ rệt rằng địa phận Nam Lý 南里 thuộc An Nam.
Ðịa phận nầy ờ tả ngạn của dòng sông biên giới và tạo thành một vùng đất của An Nam nhưng ở trên nước Trung Hoa, ủy ban Pháp nhượng địa phận nầy cho Trung Hoa.
Ðể bù lại, ủy ban Trung Hoa cam kết sẽ hành động giống như vậy, nếu trong lúc phân giới đoạn thứ hai của biên giới Quảng Ðông, Trung Hoa có một vùng đất tương tự trong nội địa An Nam.
Theo hiệu lực của các điều trên đây, các ủy ban đã thi hành như sau việc cắm mốc trên đoạn thứ nhất của đường biên giới.

TRÊN LÃNH THỔ AN NAM
Cột số 1 : Trên hòn đảo nhỏ mang tên Lionceau (ltg : Sư Tử Lãnh)
Chuẩn điểm : bỏ trắng
Cột số 2 : Tại Tri Kình Sơn 紫京山.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Tại Lục Lâm 陸林.
Chuẩn-điểm :
Cột số 4 : Ðối diện Na Triệu 那旐, trên đường dẫn tới Xuân Thụ 春樹.
Chuẩn điểm :
Cột số 5 : Phía trước lô cốt Móng Cáy.
Chuẩn điểm góc : b 311° 56’ 05’’ ; Mirador 315° 22’ 10’’ ; Fortin 77° 08’ 15’’
Cột số 6 : Ở đầu của con đường Phục Thiên 服扁.
Chuẩn điểm góc : Mirador 273° 44’ 10’’ ; b 33° 14’ 40’’ ; a 56° 21’ 35’’
Cột số 7 : Ðối diện Thác Lãnh 托嶺, ở trước phần dưới thấp của một dãi cát.
Chuẩn điểm :
Cột số 8 : Trước tòa Lộc Phủ 祿俛.
Chuẩn-độ góc : Signal Ðông Bắc Lộc Phù 31° 30’ 05’’ ; a 145° 30’ 50’’ ; a 199° 56’ 55’’
Cột số 9 : Phía trước nhà Tất Na 必那.
Chuẩn độ  góc : a 59° 32’ 20’’ ; h 320° 16’ 40’’ ; s 321° 13’ 20’’
Cột số 10 : Trên một cù lao ở phía trước Trúc Kết, còn gọi là Ðôn Cát.
Chuẩn độ góc : f 345° 38’ 00’’ ; s 349° 16’ 30’’ ; Mã Ðầu Sơn 213° 21’ 10’’.

TRÊN LÃNH THỔ TRUNG HOA
Cột số 1 : Tại chợ Trúc Sơn 竹山.
Chuẩn độ phương vị từ : Sư Tử Lãnh 345° ; Fortin 285°
Cột số 2 : Tại điểm Trắc Ki Thán 測旗灘.
Chuẩn điểm :
Cột số 3 : Ở tại hợp lưu với con suối Kiều Ðầu Câu 橋頭溝.
Chuẩn-độ phương-vị từ : Lô-cốt 311° ; Fortin 331°
Cột số 4 : Phía trên cầu thang dẫn đến ngôi chùa nhỏ ở Ðông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 5 : Ở ngay ngả vào của con đường trổ ra cầu Ðông Hưng.
Chuẩn-điểm :
Cột số 6 : Tại Thủng Bốc, còn được gọi là Thùng Bộc, ở tại bến phà Quá Phố 瓜甫.
Chuẩn độ góc : Fortin 185° 24’ 10’’ ; a 39° 23’ 45’’ ; b 14° 54’ 25’’
Cột số 7 : Tại hợp lưu với con suối Giang Na 江那, phía tả ngạn.
Chuẩn độ góc : b 64° 52’ 45’’ ; a 351° 53’ 55’’ ; a 292°
Cột số 8 : Tại hợp lưu với con suối Vọng Hưng , phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : Signal đông bắc Lộc Phù 98° 15’ 00’’ ; s 15° 20’ 35’’ ; f 1° 57’ 15’’
Cột số 9 : Tại hợp lưu với sông Na Lương , phía hữu ngạn.
Chuẩn-độ góc : f 94° 48’ 15’’ ; s 60° 29’ 45’’ ; Mã Ðầu Sơn 348° 11’ 20’’.
Cột số 10 : Tại Ðại Hà 大河, ở đầu con đường dẫn tới Bắc Thị 北市.
Chuẩn độ phương vị từ : f 114° ; Mã Ðầu Sơn 221° 00’

4.2 Thời kỳ 1893-1894 do Đại tá Galliéni làm chủ tịch.

Vấn đề tranh chấp đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long đến ải Bắc Cương không giải quyết được dưới thời Chiniac De Labastide 1890-1892, phải chờ đến năm 1893-1894, thời kỳ Đại tá Galliéni làm chủ tịch. Nội dung tranh chấp đoạn biên giới này được trình bày trong bản tường trình của Chiniac De Labastide, đính kèm trong phần phụ lục bài này. Vấn đề tranh chấp gồm các điểm:
  1. đường biên giới là nhánh sông tây bắc hay nhánh sông tây nam ? Theo biên bản phân định biên giới ngày 29-3-1887, đường biên giới được mô tả: “Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông,...” Nhưng trên thực tế thì có hai nhánh sông, đều ở về phía tây ngạn sông Bắc Thị, cùng có chiều dài khoảng 30 lí, nhưng một nhánh có hướng tây bắc, một nhánh có hướng tây nam. Chiếu theo bản đồ phân định, hướng đi của đường biên giới, từ hợp lưu sông Bắc Thị - Gia Long, đến điểm A, là hướng tây bắc. Như thế, hợp lý, đường biên giới phải là nhánh sông có hướng tây bắc. Nhưng phía Trung Hoa thì không đồng ý với nhận thức này. Họ quan niệm đường biên giới là nhánh tây nam. Theo họ, chiều dài con sông chỉ tính khi nó chảy trên đồng bằng. Phần chảy trong núi non thì không tính. Như thế, nhánh tây bắc không đủ chiều dài 30 lí! (Xem sơ đồ 1)

  2. Quan niệm về đường thẳng. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 mô tả hướng đi đường biên giới : “khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A () trên bản đồ số 1.” Trên bản đồ do các trác địa viên Pháp thành lập, đường thẳng nối từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến điểm A trên bản đồ số 1 có hướng đông nam – tây bắc. Nhưng phía người Hoa không nhìn nhận đường này là “đường thẳng” mà là “đường nghiêng”. Theo họ, đường thẳng phải là đường “ngang” và đường “dọc”. Đường biên giới theo họ phải là đường nối ngang, từ điểm “đường biên giới rời sông” cho đến phía nam chợ Động Trung. Sau đó, từ điểm này vạch một đường thẳng đến điểm A (cách chợ Động Trung 3 lí). (Nhận diện điểm A trên sơ đồ 1 – so sánh đường biên giới theo đường thẳng trên các bản đồ 1 và 2).

  3. Tranh chấp về vị trí núi Phân Mao. Biên bản phân định ngày 29 tháng 3 năm 1887 phân chia : “Ðường biên giới chia cho phía Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới.” Nhưng núi này ở cách xa vùng phân định vài chục cây số. Nhưng người Hoa đã dựng lên một đền thờ Mã Viện giả ở dưới một ngọn núi kế cận Bản Hưng, gọi đó là Phân Mao Lãnh. Sau khi bị khám phá, họ bào chữa rằng đó là núi Tiểu Phân Mao.
Đó là một số điểm tranh cãi giữa hai phái đoàn Pháp và Trung Hoa (xem them chi tiết ở phần 6). Bài học rút ra ở đây là sự trí trá và ngang ngược của phái đoàn người Hoa về phân định biên giới. Nó có thể giúp ta môt vài kinh nghiệm khi phải đối phó trong trường hợp tương tự sau này.

Ông Chiniac De Labastide đề nghị phân định lại biên giới nhưng không được chấp thuận. Những vị tiếp nối ông, là ông Flandin từ tháng 10 năm 1890 đến tháng 12 năm 1891, ông Servière từ tháng 1 năm 1892 đến tháng 12 năm 1893, đoạn biên giới này vẫn không được giải quyết. Cho đến thời đại tá Galliéni lên làm chủ tịch, từ tháng 1 năm 1894, thì vấn đề xoay chiều. Tất cả những yêu sách phi lý của phe Trung Hoa đều được Pháp đáp ứng. Lý do bề ngoài của việc nhượng bộ là « vùng tranh-chấp có nhiều núi non, ít dân cư và nghèo nàn ». Nhưng thực ra, do thực tiễn và về chiến lược hơn là kinh tế. Giới quân đội Pháp, khi nhận trách nhiệm về phân giới, ưu tiên cho một đường biên giới thiên nhiên như dòng sông, đường sống núi mà bỏ qua đến đường biên giới lịch sử. Quyết định này làm cho VN mất các vùng đất gồm các xã : Bắc Nham, Hoàng Mộng, Tuy Lai, Nật Sơn, Thuợng Lai, Cỗ Hoàng và Vụ Khê thuộc tổng Bát Tràng cùng với một số xã thuộc tổng Kiến Duyên).

Kết quả phân giới và cắm mốc được ghi lại theo biên bản sau :
Ðại-tá Galliéni nhận thấy rằng :
  1. Toàn vùng tranh chấp được gọi là « vùng Hoàng Mô » ở khoảng giữa Bắc Cương Ải và Bắc Phong Sinh thì có nhiều núi non, ít dân cư, và vì sự nghèo nàn của nó, vùng nầy sẽ không có một tầm quan trọng lớn đối với nước Pháp.
  2. Nên áp dụng đúng với tinh-thần biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887 của Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới mà các điều khoản chính đã được lập lại trong Công Ước Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887.
  3. Phải tìm mọi nơi có thể được để đường biên giới giữa hai nước là đường thiên nhiên, như dòng sông, đường sống núi, v.v..

Ông Lý trả lời rằng ông cũng đã nhận được chỉ thị để thi hành đúng với các điều khoản của Công Ước nầy, và ông rất sung sướng được thấy thỏa ước về việc nầy đã được chấp thuận giữa hai chính phủ.

Vì vậy hai bên quyết định rằng, theo các chi tiết của biên bản số 1 ngày 29 tháng 3 năm 1887, sẽ chấp nhận đồ tuyến mà Ủy Ban Trung Hoa năm 1889 đòi hỏi, có nghĩa là bắt đầu từ Bắc Phong Sinh, đường biên giới trước tiên đi ngược lên nhánh Tây Nam của sông Gia Long cho đến giao điểm của nó với đường gạnh nối màu xanh ở trên bản đồ Trung Hoa do ông Labastide thiết lập.

Ðường biên giới theo đường xanh cho đến điểm A, để lại Trung Hoa, đúng như tinh thần Công Ước Bắc Kinh, các vùng Phi Lao, Bản Hưng và Lãnh Hoài.

Từ phía Bắc điểm A cho đến Bắc Cương Ải, đường biên giới sẽ được thiết lập trên đường gạch nối màu xanh. Ðường nầy được vẽ giữa hai điểm trên bản đồ Chiniac De Labastide và phản ảnh đường biên giới mà Ủy Ban Trung Hoa đòi hỏi năm 1889, nhưng để lại cho An Nam vùng Trình Tường như xác định trong biên bản số 1.

1/ Từ Bắc Thị北市, đường biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long 加隆 (Kia-loung), sông nầy là một nhánh tây ngạn của sông Bắc Thị (Pe-che). Khoảng 500 m phía hạ lưu của Bắc Phong Sinh 北風生 (Pe-Foung-Chen), sông nầy chia làm hai nhánh, một nhánh đến từ hướng Đông Bắc, nhánh còn lại đến từ hướng Đông Nam.

Đường biên giới là nhánh sông Đông Nam cho đến khi nhánh sông nầy lại chia lần nữa làm hai nhánh. Chỗ chia nầy được gọi là điểm P.

Từ điểm P, đường biên giới theo nhánh Đông Bắc, nhánh nầy chảy đến từ hướng Bắc và ở phía Tây Nam của làng Việt Nam tên An Bài安排 (An-Paii). Làng An Bài thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới là con suối mang tên An Bài cho tới một ngọn núi (côté 955) mang tên Khanh Hoài Lĩnh坑懷嶺.

Đường biên giới thỏa thuận là trung tuyến của giòng sông và ở dòng nước mà tàu bè có thể thông lưu được. Trường hợp tàu bè không thể thông lưu thì đường biên giới là đường đi qua chỗ sâu nhất hay rộng nhất hoặc có nước nhiều nhất.

Trong trường hợp bị ngập lụt hay bị cạn nước, dòng sông bị thay đổi, đường biên giới đương nhiên sẽ là đường tính theo điều kiện ghi trên. Nếu có những cù lao hay dãi cát xuất hiện, chúng ở phía nào thì chủ quyền sẽ thuộc về quốc gia đó.

Dọc theo những dòng sông biên giới cột mốc sẽ được đóng ở cả hai phía, tại những địa điểm người ta thường qua lại, hay đối diện với những địa hạt quan-trọng, hay tại những điểm hợp lưu của những dòng sông. Tại những nơi khác của dòng sông biên giới, các cột mốc sẽ đóng mỗi lúc một xa và xen kẻ ở mỗi bên bờ.

Trong những đoạn mà đường biên giới đi ngang qua những đỉnh núi cao, sẽ chỉ có một cột mốc được đóng mà hai bên mặt của cột nầy mang những ghi chú của mỗi nước. Các cột mốc mang một con số thứ tự, tiếp theo những cột mốc đã cắm ở phần thứ nhất.

2/ Từ Khanh Hoài Lãnh坑懷嶺, đường biên giới theo hướng tổng quát Đông Tây.

Đường biên giới bắt đầu hướng chút ít về Tây Nam và đến sông 大坑尾 Đại Khanh Vĩ (Ta-Kang-Ouei), rồi theo hướng Tây, cắt các dòng sông 小坑尾 Tiểu Khanh Vĩ (Siao-Kang-Ouei) và Mã Song 馬雙 (Ma-Choang).

Tại điểm nầy, đường biên giới hướng chút ít về Tây Nam, qua đỉnh núi Thanh Long Lãnh 青龍嶺 (T’ang Loung Ling, côté 843), rồi trở lại hướng tổng quát Đông Tây và đến sông Phi Lao.

Sông Phi Lao 披勞 trở thành đường biên giới, để lại Trung Hoa phía hữu ngạn các làng Phi Lao, Bản Hưng 本興 (Pan Hing) , Na Niệp 那捻( Na Ku) ; và để lại Việt Nam phía tả ngạn, làng Cúc Li 菊涖 (Ku-Li).

3/ Đường trung tuyến của dòng sông Đông Mô 洞謨 (Toung Mou), tức là sông Tiên Yên, là đường biên giới cho tới phía bắc của làng Đông Mô.

Những làng Bồ Nam 蒲楠 (Bou Nam), Khôn Văn 坤文 (Kw’an Ouen), Động Trung 峝中 (Toung Tchoung) thuộc về Trung Hoa ; những làng Na Bô 那簿 (Na-Pou), Dinh Kiều (Yng Kiao), Bản Sầm 本岑 (Penn Chin), Đông Phê洞批 (Toung Pi) và Đông Mô 洞謨 (Toung-Mou) thì thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới sau đó là sông Na Sa 那沙 (Na-Cha), phụ lưu phía hữu ngạn của sông Tiên Yên, chảy qua phía Đông làng Na Sa và phía Tây làng Đông Xã 洞舍 (Toung-Sié).

Na Sa thuộc về Việt Nam và Đông Xã thuộc về Tàu.

Đường biên giới sau đó là cũng là phụ lưu nói trên cho tới giao điểm của sông nầy với con suối mà nguồn của nó cách Trịnh Tường呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên giới theo dòng suối nầy từ giao điểm cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên giới theo đường thẳng cho tới Bắc Cương Ải北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây Bắc Trình Tường.

Làng Trình Tường thuộc về Việt Nam ; các làng Vệ Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu Tào 矯曹 (Kiao Tsao) thì thuộc về Trung Hoa.

Tại đỉnh 746, đường biên giới theo đường thẳng đến đỉnh đèo 662, gặp cột mốc số 67 thuộc biên-giới Quảng Tây.

4/ Vị trí các cột mốc trên lãnh thổ Việt Nam :
Cột số 11 : Tại nơi giáp phát của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ Phương vị từ :
Đồn Bắc Thị (angle N.E.) 317°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Na Lang 那浪 (Na-Loung).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam-si (angle N.E.) 286°
signal d 328°
Cột số 13 : Phía Đông Nam của đồn Trung Hoa Tam Tá 三左 (Sann Tao), va ở phía Bắc của nông trại Ðại Đông Điền 大峝田 (Ta Tiong T’inn).
Chuẩn độ phương vị từ: signal l 29°
Cột số 14 : Đối diện hợp lưu của nhánh Tây Nam của sông Gia Long và nhánh Tây Bắc Na Lưu 那流 (Na Liou)
Cột số 15 : Trên vàm phía Tây của hợp lưu sông Gia Long với con suối Vấn Tả 文冩 (Ouen Tou).
Cột số 16 : Phía Đông Nam An Bài安排 (An Pai), trên đồi nhỏ nhìn xuống hợp lưu các nhánh nhỏ của sông Gia Long.

Chuẩn độ phương vị từ:
Ðỉnh Khanh hoài Lãnh 95°
Ðồn Bắc Phong Sinh 290°

Cột không ghi số : Được thay thế bằng một tảng đá thấy rất rõ ở trên đỉnh Khanh Hoài Lãnh, trên đó có khắc những ghi chú chung của hai nước.

Cột chung số 17 : Cắm trên vòm ở phía Đông của dòng sông Đại Khánh Vĩ 大坑尾 (Ta Kang Ouei), cách 1000 m về phía Đông Nam của Khanh Hoài-Lãnh 坑懷嶺.
Chuẩn-độ phương-vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lãnh 南雲嶺 ( Nan Yun Ling) điểm Tam giác đạc :
cote 1157 328°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 119°
Cột chung số 18 : Cắm trên vòm phía Tây của sông Đại Khánh Vĩ.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Tiểu Khánh Lãnh 小坑嶺 (Siao Kang Ling)
Điểm Tam Giác Đạc (point de triangulation) cote 517 187°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 105°
Cột chung số 19 : Trên vàm phía Đông của sông Tiểu Khánh Vĩ 小坑尾 (Siao Kang Ouei).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Nam Vân Lãnh 47°
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 99°
Cột chung số 20 : Trên đỉnh của ngọn núi phân chia thượng nguồn của sông Tiểu Khánh Vĩ và sông Ma Song.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Khanh Hoài Lãnh 101°
Đỉnh Tiểu Khánh Lãnh 145°
Cột chung số 21 : Phía Bắc của hợp lưu sông Ma-Song với một phụ lưu tây ngạn.
Cột chung số 22 : Trên đỉnh Thanh Long Lãnh 青龍嶺 (Te’ing Loung Lin) cote 843.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lộc Lang Lãnh 禄嫏嶺 (Lou Teng Ling) 149°
Đỉnh Trường Nhị 長二 (Tchang Eurl) 204°
Cột số 23 : Tại hợp lưu sông Bi Lao với một phụ lưu nhỏ ở phía tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Trường Nhị 166°
Đỉnh Thanh Long Lãnh 85°
Cột số 24 : Tại điểm hợp lưu của sông Phi Lao 披勞 với một chi nhánh nhỏ bên tả ngạn, trên một cái đồi nhỏ nhìn xuống hai sông nầy.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 姑罵嶺 (Cao Pa Ling) point de triangulation coté 960 314°
Đỉnh Cao Ba Lãnh (Kiou Pang Ling) 9°
Cột số 25: Tại hợp lưu sông Bi-Lao, phía Nam của làng Trung Hoa Cổ Phiêu 姑漂 (Kou-Piao).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cổ Ma Lãnh 18°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 垃甁嶺 côté 551 286°
Cột số 26 : Phía Bắc của làng Cúc Lỵ 菊蒞 (Ku Li) cách 360 m hợp-lưu của sông Tiên Yên với một phụ lưu tả ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp Bình Lãnh (K’iou Pin Ling) cote 551 205°
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 101°
Cột số 27 : Cách làng Na Phố 那浦 (Na Pou) 240 m về hướng Đông Nam
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 106°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 180°
Cột số 28 : Cách làng Bản Sầm 本岑 (Penn Ch’in) 360 m về hướng Đông Bắc.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Lạp Bình Lãnh 107°
Cote 327 (hướng Đông Bắc của đồn Hoàng Mô) 226°
Cột số 29 : Trên khu rừng phía bắc của hợp lưu các sông Đông Mô và Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 85°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 28°
Cột số 30 : Cách làng Na Sa 那沙 60 m về phía Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 65°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 343°
Cột chung số 31 : Cách Trình Tường 呈祥 (Tcheng Siang) 600 m về hướng Đông.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô 347°
Đỉnh Đông Lánh Lãnh 東另嶺 (Toung Linh Ling) cote 763 210°
Cột chung số 32 : Cách làng Trình Tường 1160 m về hướng Bắc Tây Bắc .
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lánh Lãnh 176°
Đỉnh Phá Lai Lãnh (Pa Lai Ling) cote 895 73°
Cột chung số 33 : Trên đèo, khoảng giữa côtes 746 và 750, cách thung lũng Bắc Cương Ải 340 m, về hướng Nam.

5/ Vị trí các cột mốc trên lãnh thổ Trung Hoa :
Cột số 11 : Tại điểm hợp lưu của sông Gia Long 加隆
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Bắc Thị (góc đông bắc) 11°
signal a 51°
Cột số 12 : Đối diện Lục Chân 六真 (Lou Chan).
Chuẩn độ phương vị từ:
signal b 84°
signal g 22°
Cột số 13 : Ở phía Đông Bắc đồn Pháp tên Niệm Thị 捻市 (Yen Che).
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Nam Si (Blockhaus de Nam-Si) (góc Đông-Bắc) 307°
signal d 55°
Cột số 14 : Tại hợp lưu sông Gia Long với sông phía Đông của Thán sản (T’ann San).
Chuẩn độ phương vị từ:
Blockhaus de Nam Si (góc Tây Bắc) 31°
signal q 343°
Cột số 15 : Ở tại hợp lưu của hai nhánh Tây Bắc và Đông Nam, phía hữu ngạn của nhánh gọi là Na Lưu 那流 (Na Liou).
Cột số 16 : Ở vàm phía trên nơi hợp lưu của sông Gia Long và suối An Bài.
Chuẩn độ phương vị từ:
Khanh Hoài Lãnh 277°
Đồn Bắc Phong Sinh (góc Tây Bắc) 292°
Cột số 23 : Tại giao điểm của đường biên giới và sông Phi Lao, bên bờ hữu ngạn.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Thanh Long Lãnh 74°
Đỉnh Cao Ba Lãnh 342°
Cột số 24 : Cách Phi Lao 180 m về hướng Tây Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Cao Ba Lãnh 23°
Đỉnh Cô Mạ Lãnh (Kou ma Ling) point de triangulation cote 960 339°
Cột số 25 :
Đỉnh Cô Mã Lãnh 99°
Đỉnh Lạp Bình Lãnh (Kieu Pin Ling) 191°
Cột số 26 : Cách làng Việt Nam Dinh Khiếu 營叫 (Yng Kiao) 400 m về hướng Tây.
Đỉnh Cô Mạ Lãnh 92°
Cote 327 249°
Cột số 27 : Cách làng Việt Nam Đông Phê 洞批 (Toung-Pi) 720 m, về hướng Bắc, cote 305.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 109°
Đồn Hoàng Mô (phía Đông Nam) 291°
Cột số 28 : Ở về phía Đông của hợp lưu các sông Đông Mô và Na Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 22°
Cote 327 87°
Cột số 29 : Cách làng Việt Nam Na Sa 那沙 (Na-Cha) 380 m về hướng Đông Đông Nam.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 344°
Cote 327 73°
Cột số 30 : Cách làng Trung Hoa Na Xá 那舍 (Na Sié) 100 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 64°
Đồn Hoàng Mô (phía Tây) 337°
Cột số 31 : Cách làng Trung Hoa Đông Xá 洞舍 (Toung Sié) 120 m.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Poste de Hoàng Mô (cote ouest) 336°
Cột số 32 : Cách nơi hợp phát của con suối làm đường biên giới, phía Đông Nam làng Trịnh Tường.
Chuẩn độ phương vị từ:
Cote 327 22°
Khoảng cách với cột mốc ở phía Đông Nam làng Trịnh Tường : 660m
Cột số 33 : Ở tại hợp lưu của con suối đến từ làng Vệ Tàm 衛喒 (Schu-Tsan) với sông Na-Sa.
Chuẩn độ phương vị từ:
Đỉnh Đông Lang Lãnh 60°
Khoảng cách với cột mốc phía Đông Nam Vệ Tàm 400m


Vị trí các cột mốc được ghi chú trên hai bản đồ ở phần 5.
Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Việt Nam)
Hình trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Việt Nam.
Cột mốc vùng Quảng Đông (phía Trung Quốc)
Hình trên : kiểu mẫu cột mốc biên giới khu vực Quảng Đông, phía Trung Hoa.
5/ Bản đồ phân giới :

Hướng đi chính thức đường biên giới, đồ tuyến biên giới theo đề nghị của hai phái đoàn Pháp-Thanh đồng thời vị trí các mốc giới được hoạch định trên hai tấm bản đồ (từ hợp lưu sông Gia Long đến Bắc Cương Ải) do ủy ban Chiniac De Labastide thành lập sau đây :
indo ggi 65361 (03)
indo ggi 65361 (02)

6 / Diễn tiến phân giới trong thời kỳ 1890-1891 :


Tạm dịch biên bản 24-6-1890 :
Các Ủy Ban phân giới và cắm mốc sau khi lập một bản đồ chính xác của đoạn biên giới từ hợp lưu sông Gia Long加隆 cho đến Bắc Cương ải北崗隘,


Sau khi nghiên cứu, giữa hai cực điểm này, đồ tuyến biên giới giữa Trung Hoa và An Nam, tức là đoạn thứ hai của biên giới Quảng Ðông,


Ủy Ban Pháp chiếu đúng theo nội dung biên bản phân định biên giới ký tại Móng Cái ngày 19 tháng 3 năm 1887, nhằm ngày mồng 5 tháng 3 năm Quang Tự thứ 13, giữa Ủy Viên Hoàng Gia Tseng và Bộ Trưởng Pháp Dillon, và chiếu theo bản đồ số 1 trên tất cả các chi tiết của nó đã được công nhận là chính xác, đã vạch đồ tuyến biên giới như sau:
  1. Từ Bắc Thị 北市 và Gia Long 加隆, biên giới theo đường trung tuyến của sông Gia Long mà sông này là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị北市.
Ở khoảng hai phần ba chiều dài, sông chia ra làm hai nhánh có cùng tầm quan trọng. Một nhánh dài độ 35 lý đến từ hướng Tây Bắc, nhánh còn lại có độ dài khoảng 40 lý đến từ hướng Tây Nam.
sơ đồ hướng đi biên giới 1887
Hình trên : Sơ đồ vẽ bản đồ số 1 (bản đồ đính kèm biên bản phân định 19-3-1887)


Bản đồ số 1 chỉ có vẽ nhánh Tây Bắc, là nhánh sông có độ dài tương đương với 30 lí, được các ủy ban phân định biên giới chỉ định là chiều dài của sông Gia Long 加隆.

Sông này, đúng theo biên bản 29 tháng 3 năm 1887 và bản đồ số 1, phải là đường biên giới trên toàn thể chiều dài của nó, cũng như Ủy Ban Trung Hoa đã công nhận nó trong biên bản ký tại Thán Sản 灘散 ngày 2 tháng 3 năm 1890, nhằm ngày mồng mười tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.


Các Ủy Ban Phân Ðịnh đã lấy đường biên giới là nhánh sông Tây Bắc cho đến nguồn của nó. Ủy Ban phân giới Pháp đã lấy điểm nguồn của sông này để làm điểm gốc cho một đường thẳng vạch đến điểm A, điểm này ở cách 3 lý về hướng Bắc ngôi chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中. Ðường thẳng này tạo thành đường biên giới giữa An Nam và Trung Hoa, từ điểm nguồn của sông này với điểm A ().

Ðiểm phải được lưu ý là đường thẳng này theo lẽ đi từ hướng Ðông Nam đến Tây Bắc, như trên bản-đồ số 1, lại đi từ hướng Ðông Bắc đến Tây Nam.

Ủy ban Pháp nhìn nhận rằng, chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các địa hạt Lãnh Hoài 嶺懷, Bi Lao , còn được viết là Phái Lâu 派樓, Bản Hưng 扳興 thuộc về Trung Hoa; nhưng chúng lại ở phía dưới đường thẳng được nhận là đường biên giới, vì vậy tạo thành một số các vùng đất Trung Hoa trên lãnh thổ An Nam.

Một trong các vùng đất này phải nhượng lại cho An Nam, để đổi lại vùng Nam Lý 南里 của An Nam đã nhượng cho Trung Hoa, theo như biên bản ký tại Ðông Hưng 東興 ngày 15 tháng 4 năm 1890, nhằm ngày 26 tháng 2 năm Quang Tự thứ 16.


Về phần trái núi Phân Mao Lãnh 分茅嶺 thì không ở về phía Ðông Bắc của Bản Hưng 扳興, cũng không ở một địa phương nào trong vùng; các vụ tìm kiếm tỉ mỉ nhất cũng đã không tìm thấy, cái tên này hoàn toàn xa lạ trong dân chúng.

Chiếu theo biên bản đã ghi trên, làng Ðộng Trung 峝中 và Na Dương thuộc về An Nam.
Làng sau cùng thì vẽ rất sai trên bản đồ số 1, đáng lẽ nó ở về phía Nam của Ðộng Trung 峝中 và phía Bắc của làng Trình Tường, thì lại ở Tây Bắc của Ðộng Trung 峝中 và phía Tây Nam của Trình Tường, đối diện với biên giới Quảng Tây.
  1. Từ điểm A ()đường biên giới đi về hướng Bắc Cương Ải 北崗隘; bắt buộc bao bọc làng Trình Tường thuộc An Nam, vì vậy tạo thành một vòng cung mà phần lồi quay về hướng Ðông.

Ðường biên giới đi tiếp đến, buộc phải theo địa hình, đỉnh 940, sau đó đỉnh 1032, bắt vào biên giới thiên nhiên cũ của An Nam và Trung Hoa, đến đỉnh 1365 của núi Kiểu Tào Sơn 矯曹山, theo lại đường biên giới cũ là một con suối cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.

Có vấn đề phải làm liên quan đến làng Na Dương 那陽 được trao cho An Nam. Việc nghi nhận về làng nầy được ghi ở trên.


Về ngọn núi Phái Thiên Sơn 派遷山, theo dân địa phương thì nó ở cách nhiều ngày đường về hướng Tây chứ không phải ở vùng chung quanh Bắc Cương Ải 北崗隘. Nhưng vị trí của ải mang tên này cũng không được xác định một cách rõ ràng; nó ở khoảng 30 lí theo đường thẳng từ làng thuộc An Nam tên Bình Liêu苹寮.


Chiếu đúng theo biên bản phân định biên giới, các làng Na Quang 那光 và Bản Thân (Thôn) ở bên phía biên giới (đối diện với An Nam) thì thuộc về Trung Hoa.


Việc nên ghi nhận, ngược với những chi tiết ghi trên bản đồ số 1, Bắc Cương Ải 北崗隘 theo lẽ ở về phía Tây Nam Ðộng Trung 峝中 thì ở phía Bắc của làng này, mà làng này ở về phía Nam chứ không phía Bắc của làng Trình Tường呈祥; hướng tổng quát của đường biên giới đáng lẽ là từ Ðông Bắc đến Tây Nam thì trước hết từ Tây Nam đến Ðông Bắc, sau đó từ Nam lên Bắc và cuối cùng từ Ðông Bắc đến Tây-Nam, có nghĩa là hầu như đi ngược lại hoàn toàn nội dung bản đồ số 1.


sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Pháp
Hình trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Pháp.


Ðồ tuyến của Ủy Ban Pháp thì hoàn toàn đúng với nội dung biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887, Ủy Ban Trung Hoa phản đối như sau:
  1. Bắt đầu từ ngã rẽ của sông Gia Long 加隆, Ủy Ban Trung Hoa lấy đường biên giới là nhánh sông đến từ hướng Tây Nam, nhánh này không có vẽ trên bản đồ số 1, sau đó họ rời nhánh sông này trước rất xa điểm nguồn của nó, tại điểm mà thế nào đường thẳng bắt nguồn từ điểm này để đến điểm ở tại chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 có một hướng chính xác Ðông Tây.
Từ chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 cho đến điểm A cách 3 lý về hướng Bắc, Ủy Ban Trung Hoa cho rằng đường biên giới là một đường thẳng từ Nam lên Bắc.
Không có tranh chấp về vị trí của điểm A ().
Các ủy viên Trung Hoa đã biện luận cho đồ tuyến của họ với những lý lẽ như sau:
  1. Theo họ, nhánh sông Gia Long 加隆 đến từ hướng Tây Nam thì quan trọng hơn nhánh đến từ hướng Tây Bắc; nhánh sau cùng chỉ là một phụ lưu.
  2. Nếu họ không lấy biên giới là con sông cho đến tận nguồn, vì theo họ, toàn thể chiều dài của sông chỉ có nghĩa là toàn thể chiều dài trên vùng đồng bằng; tất cả phần của dòng sông chảy trong núi thì không tính.
  3. Nếu họ nối đến chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中 mà không nối đến điểm A (), là điểm mà đường biên giới rời khỏi sông Gia Long 加隆, vì dưới mắt họ, chỉ có những đường thẳng đi từ Ðông sang Tây hay ngược lại. Tất cả những đường có hướng khác là những đường nghiêng.
Dựa trên căn bản này, họ nối, bằng một đường thẳng thứ hai đi từ Nam lên Bắc, từ chợ cũ Ðộng Trung 峝中 đến điểm A ().


sơ đồ đồ tuyến đường biên giới theo đề nghị của phái đoàn Trung Hoa
Hình trên : sơ đồ đồ tuyến của ủy ban Trung Hoa.


Ủy Ban Pháp phản bác một cách mạnh mẽ tất cả các chi tiết của đồ tuyến nầy, nó đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế.
  1. Nói rằng nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆 thì quan trọng hơn nhánh Tây Bắc là không đúng; lưu lượng hai nhánh sông ở tại nơi hợp lưu thì gần giống như nhau; dân địa phương chỉ định một cách bất kỳ nhánh này hay nhánh kia là dòng chánh của con sông.
Vả lại, nhánh Tây Bắc là nhánh duy nhất hiện hữu trên bản đồ phân định số 1; cũng là nhánh mà độ dài tổng cộng của nó gần nhất với độ dài phỏng chừng được các ủy ban phân định biên giới chỉ định, như vậy không nghi ngờ nhánh này mới là đường biên giới chứ không phải nhánh Tây Nam.
  1. Các Ủy Viên Pháp không thể chấp nhận lý thuyết mới cũng như lạ đời là con sông chỉ bắt đầu tính khi nào nó chảy ở đồng bằng.
Biên bản phân định biên giới chỉ định rằng sông Gia Long 加隆 là đường biên giới trên cả chiều dài của nó; như vậy là phải theo dòng sông cho đến nguồn của nó, có nghĩa là cho đến nguồn của nhánh Tây Bắc được các ủy ban phân định nhìn nhận là đường biên giới.
  1. Các Ủy Viên Pháp cũng không thể chấp nhận lý thuyết còn lạ hơn lý thuyết trước là những đường thẳng chỉ có thể vạch từ Nam lên Bắc hay từ Ðông sang Tây, hoặc ngược lại.
Họ cũng giải thích một cách khó khăn, làm thế nào đường thẳng Ðông Tây bắt đầu tại chợ cũ của làng Ðộng Trung 峝中,cắt nhánh Tây Nam của sông Gia Long 加隆,đúng ngay tại điểm mà sông này rời núi. Ðây là một sự tình cờ đến từ sự huyền diệu.
Các ủy Viên Pháp cho rằng sử dụng các lý lẽ và cách thức như vậy là ngăn chận mọi tranh cãi đứng đắn và trung thực.
  1. Giữa điểm A () và Bắc Cương Ải 北崗隘, Ủy Ban Trung Hoa chỉ trích rằng đồ tuyến của Ủy Ban Pháp thì quá ngoằn nghoèo. Họ đòi hỏi một đồ tuyến trực tiếp giữa hai điểm trên mà không nghĩ đến việc phải tránh làng Trình Tường mà biên bản phân định biên giới đã chỉ định là của An Nam.
Về vấn đề liên quan đến làng này thì Ủy Ban Trung Hoa cho rằng nó không phải là làng đã được biên bản phân định biên giới chỉ định. Họ đặt căn bản lên việc làng này, được gọi tên trong hồ sơ trên đây là Trình Tường 呈祥, được gọi tên trong vùng là Ðịnh Tưởng 定想. Theo các Ủy Viên Thanh triều, làng Ðịnh Tưởng 定想 thuộc về Trung Hoa và phải tìm xa hơn về phía Ðông làng có tên là Trình Tường 呈祥 thuộc về An Nam.

Sự xác nhận nầy không đúng. Trình Tường 呈祥 và Ðịnh Tưởng 定想 chỉ là một làng, đó là làng đã được chỉ định trong biên bản 29 tháng 3 năm 1887, dưới cái tên thứ nhất thì sai, nó chỉ được biết đến qua cái tên thứ hai.

Trong những điều kiện như vậy, Ủy Ban Pháp không chấp nhận đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị, từ điểm A ()cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘.
Mặt khác, các Ủy Viên Thanh triều, thuộc vùng Quảng Ðông, đã cho biết ý kiến của họ rằng, họ không bận tâm đến việc phân giới từ điểm A ()trở đi, vì giữa điểm này và Bắc Cương Ải 北崗隘, biên giới sẽ được ủy viên Quảng Tây phụ trách.


Ủy Ban Pháp chỉ biết ghi nhận lời tuyên bố này mặc dầu thấy rằng các Ủy Viên Trung Hoa dường như mâu thuẫn với các chi tiết địa lý được công nhận cho đến ngày hôm nay cũng như với nội dung của biên bản phân định 29 tháng 3 năm 1887.


Tóm lại, Ủy Ban Pháp giữ nguyên đồ tuyến của họ từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘, vì cho rằng nó phù hợp hoàn toàn với biên bản cũng như những phần đã được công nhận là đúng trong bản đồ số 1 kèm theo biên bản nói trên.


Ủy Ban Pháp phản đối đồ tuyến do Ủy Ban Trung Hoa đề nghị vì nó đi ngược lại hoàn toàn với công ước.
Ủy ban Trung Hoa tuyên bố giữ nguyên đồ tuyến của mình và không công nhận đồ tuyến của Ủy Ban Pháp.


Trong các điều kiện này, sự thỏa thuận không thể đạt được giữa hai Ủy Ban, họ cùng biểu quyết, trong một thỏa ước chung, hai bên sẽ đệ trình vấn đề lên Tổng Lý Nha Môn và Ðặc Sứ Pháp tại Bắc Kinh để giải quyết. Hai ủy ban chia tay và chờ đợi sự quyết định chung cuộc.


Dầu vậy, trước khi rời các Ủy Viên Trung Hoa, Ủy Ban Pháp làm một bản tuyên bố như sau:
Sự so sánh bản đồ thứ 1, đoạn từ nguồn phía Bắc của sông Gia Long 加隆 đến Bắc Cương Ải 北崗隘,với bản đồ được lập lên để dùng vào việc phân giới do các trắc địa viên thuộc ủy ban Pháp thiết lập, cho thấy những chi tiết trong bản đồ số 1 hoàn toàn sai với thực tế.


Trên bản đồ số 1, do các nhà địa dư Trung Hoa vẽ mà các Ủy Viên Pháp tin tưởng và không thể kiểm chứng lại, Ðộng Trung 峝中 được đặt cách hơn 25 cây số, khoảng 45 lí, về phía Bắc của vị trí thật sự của nó.


Như thế theo bản đồ, đường biên giới theo đường thẳng bắt đầu từ nguồn Bắc của sông Gia Long đi về hướng Tây Bắc, rồi sau đó trở lại hướng Ðông Nam về Bắc Cương Ải 北崗隘, nhưng sự thực thì ngược lại.


Từ nguồn Bắc của sông Gia Long 加隆 cho đến điểm A, đường biên giới theo đường thẳng từ Ðông Bắc đến Tây Nam, sau đó lên lại về hướng Bắc để đến Bắc Cương Ải 北崗隘.


Lầm lẫn do bản đồ vẽ không đúng địa hình. Ủy Ban Phân Ðịnh Pháp tưởng rằng vùng đất đó thuộc An Nam, tạo thành một góc nhọn đâm sâu hơn 25 cây-số, khoảng 45 lí, vào Quảng Ðông, nhưng trên thực tế thì đất nầy đâm sâu vào lãnh thổ An Nam như một góc nhọn.


Mặt khác, sự nghiên cứu, trên bản đồ cũng như trên thực địa, về đường biên giới qui ước, cho thấy sai lầm ở khắp nơi và vì vậy không thể chấp nhận được.


Ðường biên giới này thực ra, trên toàn chiều dài của nó, theo một con đường băng qua các sườn núi, cắt những con sông, vượt ngang đồng bằng mà không theo cách cấu tạo hình thể của đất đai.


Vì thế, nếu được phân giới với những cẩn trọng, việc này cũng sẽ đem lại những tranh chấp liên tục và những khó khăn về mọi mặt giữa hai cường quốc láng giềng.


Vì các lý lẽ đó, Ủy Ban Phân Giới Pháp cho rằng:
- Ðường biên giới theo công ước xác định do biên bản 29 tháng 3 năm 1887 xác định thì mọi nơi đều sai và không nơi nào chấp nhận được.

- Ðiều quan trọng là Ủy Ban Phân Ðịnh Pháp đã chỉ công nhận biên bản trên chỉ vì sự tin tưởng của họ đã bị lạm dụng do một tấm bản đồ hoàn toàn sai, nó trình bày một cách sai lạc rằng lãnh thổ An Nam thì tiến sâu vào lãnh thổ Trung Hoa, trong lúc trên thực tế thì ngược lại, lãnh thổ của Trung Hoa lại lấn sâu vào lãnh thổ An Nam.

Vì thế, yêu cầu xét lại sự phân định của đường biên giới An Nam & Trung Hoa từ hợp lưu của sông Gia Long 加隆 cho đến Bắc Cương Ải 北崗隘 và sự chọn lựa chung cuộc trên toàn chiều dài của đoạn biên giới này, là đường biên giới cũ của An Nam và Trung Hoa, duy nhất dựa trên thiên nhiên, duy nhất thuần lý, duy nhất chấp nhận được. Có nghĩa là con sông Bắc Thị 北市 từ Gia Long 加隆 cho đến điểm mà nó không thể lưu thông bằng xuồng, và từ đó cho đến Bắc Cương Ải北崗隘, là (đường nối) các đỉnh cao nhất của dãy núi.