Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Đào Hiếu: Chuyện rắc rối trong khách sạn

Có thể nói chàng trai 19 tuổi ấy chưa bao giờ sử dụng súng. Nếu không tại sao ở cự ly 2 mét mà cậu ta bắn trượt? Cô gái khai rằng cậu ta bắn thẳng vào ngực mình nhưng viên đạn lại bay vào cửa sổ. Kính vỡ loảng xoảng, rơi xuống tầng dưới khách sạn. Cô gái vơ vội tấm drap trải giường choàng lên mình để che thân thể trần truồng của mình. Khi bảo vệ khách sạn tông cửa vào thì cô ta đang đứng nép vào tường, run rẩy, còn chàng trai thì ngồi im trên chiếc ghế bành, hút thuốc. Khẩu súng K54 vứt dưới chân.

Những ngày sau đó các nhân vật có liên quan đến vụ án được lần lượt hỏi cung tại trụ sở công an quận.

LỜI KHAI CỦA NẠN NHÂN:

- Tôi tên là Ngọc Trâm, 28 tuổi, chủ cửa hàng điện tử Hậu Giang. Tôi lên thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch mua bán.

- Trước đây chị có từng quen biết tên Lê Trung không?

- Tôi mới quen cậu ta cách đây một tuần lễ. Một buổi sáng khi tôi ngồi uống cà phê tại khách sạn X thì thấy một thanh niên trạc mưới chín, hai mươi tuổi, mặt lầm lì. Cậu ta đến ngồi ở bàn đối diện, gọi một ly cà phê đen và một bao thuốc con mèo. Sáng hôm ấy cậu ta không có vẻ gì muốn làm quen với tôi, chỉ nhìn tôi chằm chặp khiến tôi rất khó chịu. Những ngày sau đó cậu ta thường lảng vảng trước khách sạn để theo dõi xem tôi đi đâu. Lúc đó tôi nghĩ rằng cậu ta thích tôi nhưng vì nhát gan nên không dám bắt chuyện.

- Thế thì sao gọi là quen?

- Chỉ quen nhau khi ở hồ bơi.

- Hồ bơi nào?

- Hồ bơi của khách sạn X.

Trưa hôm đó, tôi đi bơi với một người đàn ông. Một đầu mối cung cấp các loại hàng điện tử cho cửa hàng tôi như tivi màu, cassette, máy tính…. Ông ta có nhã ý mời tôi đi bơi và dùng cơm trưa với ông. Lúc tôi xuống nước thì ông ngồi uống bia bên bờ hồ. Ông có thói quen uống một lon bia rồi mới đi thay đồ và xuống hồ.

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Đào Hiếu: Cây Kim May




Nhân vụ rùm beng “Việt Nam sắp sản xuất ô-tô-con hiện đại” do ông chủ mì ăn liền làm sếp, tôi xin kể lại câu chuyện về cây kim may mà tôi từng là người trong cuộc. 

CHUYỆN KỂ RẰNG: 

Ngày xửa ngày xưa, vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn. 

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được. 

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống. 

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất. 

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Blog Đào Hiếu - Những kẻ giết người bằng nước lũ


Blog Đào Hiếu - 

Về nạn lũ lụt, nhất là ở miền Trung, điều rõ ràng đầu tiên là tính chất khủng khiếp của nó trong những năm gần đây ngày càng tăng và người dân thường ở vùng này đang sống trong tình trạng tuyệt vọng kéo dài không biết đến bao giờ. Dù “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” có đến sớm hơn những người lãnh đạo cấp cao dự báo, thậm chí đến ngay bây giờ, họ cũng cứ phải hứng chịu lũ lụt mỗi năm mấy đợt, với những ngôi nhà (hay túp lều) ngập đến tận nóc, với những cái bụng lép kẹp, với những “khối tài sản” không có gì khác ngoài vài chiếc quần áo cũ rách, và một tương lai tối đen tuyệt đối. Dù cái cỗ máy cứu trợ khổng lồ có vận hành rầm rộ liên tục thì cũng thế mà thôi!


Tôi về miền Trung trong đợt lũ vừa qua, một đợt lũ hoàn toàn bất ngờ ập đến khi người dân không có thông tin gì để đề phòng. Sau hàng tuần mệt mỏi “triển khai” phòng chống cơn bão Hayan mà theo dự báo thì nó sẽ triệt hạ cả miền Trung, xóa sổ mọi nếp nhà “cấp 4”, người dân vừa xả hơi được vài ngày, bỗng tai họa bất ngờ ập đến, không có sự cảnh báo nào của cái cơ quan gọi là Cục dự báo khí tượng – thủy văn.

Tôi gặp anh trai mình, người lớn hơn tôi 3 tuổi nhưng già hơn tôi tới 30 tuổi, người có căn nhà vừa bị lũ cuốn trôi. Đứng trước thân hình tiều tụy của anh, tôi uất nghẹn. Không một lời hỏi thăm, an ủi, bởi tôi thực sự không dám hé răng nói lên những lời đó.

Tôi tìm chỗ ngồi tạm cho đỡ mỏi chân, trong khi ông anh tôi vẫn đứng lom khom. Mắt anh tối lại và vằn lên những tia máu.

 “Mẹ cha chúng nó.” Cuối cùng anh cũng lên tiếng. “Quân giết người. Bọn diệt chủng.”

Tôi hơi bối rối. Sao đang trong cơn hoạn nạn thế này mà anh lại nói đến bọn diệt chủng nào ở đâu đâu? Liệu có phải tai họa làm anh suy nghĩ mất bình thường rồi chăng?

 “Anh nói bọn nào?” Tôi khẽ hỏi.

 “Bọn thủy điện, thủy lợi chứ bọn nào?”

 “Sao?”

 “Vậy mày có biết tại sao lũ lớn như ri không? Tại vì chúng xả lũ chớ sao! Đầu trận mưa, chúng làm ra vẻ giữ nước để cứu dân khỏi lụt. Đến khi nước lên ngang mặt đập, chúng bất ngờ đồng loạt xả lũ, làm gì dân chả chết? Hả? Mẹ cha chúng nó!” Anh tôi cố kìm để khỏi gào lên.

 “Nhưng, họ đã cố giữ… Nhưng nước lớn quá, nêu không xả thì bể đập. Mà khi bể thì cũng giống như xả lũ, lại thiệt hại bao nhiêu tài sản nhà nước…”

 “Đồ ngu.” Anh tôi trợn mắt, chỉ tay vào mặt tôi. “Bởi vì có biết bao nhiêu kẻ được ăn được học như mà vẫn ngu như mày nên cái bọn đó vẫn đàng hoàng tồn tại, đàng hoàng giết dân đó. Mả cha chúng nó!”

Tôi vẫn chưa thật hiểu.

 “Nhưng…”

 “Nhưng nhưng cái chi? Sao chúng nó lại không xây đập sao cho khi có lũ lớn đập cũng không bể, hả?”

Trong phút chốc, tôi quên mất anh tôi đang khổ sở ra sao. Tôi quyết định tranh luận với anh cho ra lẽ.

 “Anh ơi, lụt dữ như thế đập nào trụ nổi hả anh? Sức chịu đựng của con đập thì có giới hạn, sức tàn phá của thiên nhiên thì không có giới hạn…”

 “Đó, cái ngu là ở chỗ đó. Tao chưa nói chúng nó làm đểu. Cho là chúng nó làm ăn chân chính. Nhưng tao hỏi mày: Nếu con đập trên kia kìa, thay vì 20 mét chiều cao, nếu bê tông tốt, mà nó làm thấp bớt đi, chừng 12-13 mét thôi, mà chiều dày vẫn như rứa, thì nó có bao giờ bể không? Không thì giữ nguyên cao 20 mét, nhưng chiều dày tăng gấp rưỡi, thì nó có vỡ vì lụt không, hả?”

 “Làm thì người ta phải có bản thiết kế, thuyết minh, có luận cứ khoa học, chứ nói chừng như anh mà được…”

 “Thì đã đành. Nhưng mà ý tao là nếu sợ không trụ được lũ thì xây thấp thôi, hoặc đủ chiều dày. Khi lũ lớn quá, nó tự tràn qua thì có đỡ khốn nạn cho dân hơn nhiều không, hả? Có hơn là cố xây cho cao, lại còn ăn bớt vật liệu, rồi tích nước lại, rồi bất ngờ xả hay không?”

Tôi bắt đầu thấy anh tôi nói có lý, nhưng vẫn cố nói thêm.

 “Nhưng nếu làm đập thấp quá thì lại được ít điện…”

Anh tôi lắc đầu không muốn nói tiếp. Còn tôi, trong thâm tâm tôi đã hiểu: thà thiếu điện còn hơn chịu cảnh thế này.

 “Còn bọn làm đường nữa. Chúng nó cũng là bọn giết người.” Anh tôi nói tiếp. Lần này tôi chỉ lặng im nghe. “Mỗi lần chúng nó làm lại đường, chúng nó không đào đất xuống, chỉ để vậy, đổ thêm mấy chục phân đất đá, bê tông hoặc nhựa lên trên. Cống thoát thì quá ít, quá nhỏ. Mỗi lần lụt thì đường trở thành đê chắn nước, mà không phải chắn nước từ sông từ biển vào, mà chắn không cho nước ngập thôn bản làng mạc rút đi. Thật khốn nạn.

Và đằng sau tất cả những bọn đó, bọn thủy điện, thủy lợi, giao thông,… là cả một cỗ máy khổng lồ giữ cho chúng không bị động đến lông chân.

Quân giết người. Bọn diệt chủng. Mẹ cha chúng nó.”

NGUYỄN TRẦN SÂM


Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Đào Hiếu - Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ


Đào Hiếu - 

Bác XÍT và bác MAO

Trong thời Cổ Đại, chế độ nô lệ được thiết lập bằng bạo lực. Kẻ mạnh tạo ra quanh mình một nhóm những kẻ trung thành với nó, dùng bạo lực bắt những thành viên khác trong quần thể phải làm nô lệ cho chúng. Kẻ nào chống lại sẽ phải chết.

Từ thời Trung Đại đến nay, trên danh nghĩa không còn chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, ở nơi này nơi khác, bằng cách này hay cách khác, các nhà nước phong kiến và nửa phong kiến thực chất vẫn tạo ra trong lòng nó những kiểu chế độ nô lệ “không toàn phần”. Đặc biệt, về tư tưởng, đại đa số quần chúng thực chất vẫn phải sống trong chế độ nô lệ. Lợi dụng sự dốt nát của quần chúng – do chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu và cũng do chính sách ngu dân – giới cầm quyền nhồi sọ con người đến mức họ có thể coi những điều vô lý và ngu xuẩn nhất như chân lý tuyệt đối. Trong số những “chân lý” khốn nạn đó có những tín điều như: vua là con trời (hay lãnh tụ là thánh) và mọi thứ ta được hưởng đều là của vua ban (hay lãnh tụ đem đến cho).
Sở dĩ kiểu nô dịch như vậy tồn tại được hàng ngàn năm là vì bên cạnh sự áp đặt ách cai trị và tư tưởng, nó còn được duy trì bởi chính tâm lý quần chúng, một thứ tâm lý của kẻ thiếu bản lĩnh và thiếu ý thức về giá trị cá nhân: tâm lý thích dựa bóng thần tượng, và do đó rất thích (cùng nhau) xây dựng thần tượng.

Vì sao con người thích thần tượng?

Có vài lý do để người ta thích thần tượng. Thứ nhất, do cảm thấy thần tượng là người che chở và đem lại quyền lợi cho mình. Điều này có khi đúng, có khi là ảo tưởng. Lãnh tụ của một cuộc khởi nghĩa chống lại một chế độ hà khắc và thối nát là nhân vật chủ chốt tạo ra sự thay đổi (ít ra ban đầu là theo chiều hướng tốt lên) cho cuộc sống của hàng vạn, hàng triệu người. Người đứng đầu một quốc gia, trước sự xâm lăng của một thế lực ngoại bang độc ác, nếu có bản lĩnh, có thể là ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng chống xâm lăng. Một nhà cải cách thông minh có thể định hướng cho xã hội phát triển nhanh… (Tuy nhiên, đừng bao giờ quên rằng đó mới là sự định hướng; kết quả của sự thay đổi chỉ có thể đạt được bằng mồ hôi xương máu của hàng triệu người!) Nhưng trong rất nhiều trường hợp, đông đảo quần chúng ngộ nhận kẻ bóc lột mình là ân nhân. Thứ hai, người ta bám vào những lời giáo huấn của thần tượng như những chân lý để khỏi phải động não (mặc dù chẳng mấy khi làm theo). Và thứ ba, khi có thần tượng, người ta cảm thấy chính mình dường như cao giá hơn.

Với sự châm biếm nhẹ nhàng, câu ca dao cổ nói:
“Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn mãn kiếp nằm trong thuyền chài.”

Thuyền rồng là quyền lực, cũng là sự sang trọng. Người “ở trong thuyền rồng” là thần tượng. Càng gần người đó, người ta càng cảm thấy mình danh giá, có quyền ngẩng cao đầu trước những kẻ đứng xa thuyền rồng hơn.

Hơn thế, chưa cần chạm được vào thần tượng hay được thần tượng vấn an, chỉ cần được nói về thần tượng thôi, người ta cũng cảm thấy rưng rưng xúc động vì hạnh phúc rồi. Đó, chi tiết này trong cuộc sống của thần tượng của tôi, liệu đã mấy ai biết. Thế mà tôi biết đấy nhé. Và tôi hiểu được giá trị của chi tiết đó. Tôi biết nói về nó. Tôi có thể làm cho mọi người hiểu thêm được vĩ nhân của chúng ta (và so với người chung quanh thì tôi được quyền “sở hữu” vĩ nhân nhiều hơn chút ít). Hiểu biết về vĩ nhân cũng là một kiểu tri thức, và ở chỗ này, tôi hơn các anh đấy nhé!
Thần tượng được xây dựng như thế nào?

Khi xảy ra một sự kiện gắn với tên tuổi một người nổi tiếng, ví dụ kỷ niệm một trận chiến mà người đó là chỉ huy bên thắng cuộc, người ta, đặc biệt là giới truyền thông, bắt đầu thi nhau nói thật nhiều, bằng những cách mà người ta cố gắng làm cho hay hơn, độc đáo hơn của những kẻ nói khác, về người nổi tiếng đó. Chỉ cần một ngày mà toàn bộ giới truyền thông đều thi nhau ca ngợi thần tượng, cuối ngày hôm đó cảm nhận của người nghe/xem về sự vĩ đại của thần tượng sẽ rõ nét hơn hẳn ngày hôm trước.

Cứ thế, nếu năm nào người ta cũng nói về người đó hàng tháng ròng trên phương tiện truyền thông, và kháo nhau tại gia đình, trên bàn nhậu ở quán xá, một đồn thổi thành mười, mười đồn thổi thành trăm, tiếng tăm của nhân vật đó tăng theo cấp số nhân… , thì sau ba-bốn mươi năm, người ta có thể biến một chính khách ban đầu có ít nhiều nổi trội thành một vĩ nhân hạng một của nhân loại. Người này thấy người khác ca ngợi mà mình chưa góp lời được thì cũng cố ca ngợi vài câu, nếu biết được một vài chi tiết cụ thể về con người đó thì càng hãnh diện. Ít có người nào tuy biết chút ít nhưng vì thấy mọi người ca ngợi quá nhiều rồi nên thấy mình nói thêm cũng thừa và nhiêu khê.

Đặc biệt, khi có một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài ca ngợi thì tốc độ vĩ nhân hóa đối với nhân vật đó có thể vượt lên trên mọi sự tưởng tượng.

“Mày nói thế nào ấy chứ… Cụ được bao nhiêu người ở các nước văn minh ca ngợi cơ mà. Chính khách A ở nước X nói thế này. Phóng viên B ở nước Y nói thế kia…”

Một yếu tố rất thuận lợi cho việc thần tượng hóa một nhân vật chính là tâm lý thích thần tượng của người đời, thậm chí đơn giản là tâm lý ngưỡng mộ kẻ có quyền thế, đặc biệt khi người ta chưa va chạm với kẻ cường quyền. Bạn được một người lạ ôm chầm lấy trong lần gặp mặt đầu tiên, bạn sẽ thấy bình thường. Nhưng nếu người ôm bạn là một yếu nhân của một quốc gia, thì dù người đó không có gì thật sự kiệt xuất, bạn cũng sẽ thấy xúc động và nhớ mãi cái ôm đó. Sự việc như vậy có thể định hướng nhận thức về cường quyền của bạn cho toàn bộ cuộc đời. Cho nên, về mặt nhận thức, thật may mắn cho những ai thời trẻ không một lần được một vị lãnh tụ nào ôm vai bá cổ. Tôi đã chứng kiến một số nhà khoa học tài ba hết lời ca ngợi một vài hành vi rất bình thường của một chính khách có hạng, coi đó như những quyết sách cực kỳ thông minh, thể hiện một trí tuệ siêu đẳng.

Với tâm lý của đa số quần chúng như thế, việc xây dựng thần tượng càng dễ dàng, nếu giới cầm quyền thi hành một chính sách nhằm thần thánh hóa lãnh tụ. Hãy nhớ: một dân tộc văn minh bậc nhất như dân tộc Đức cũng đã từng phát cuồng phát dại vì Adolf Hitler. Nếu giả dụ tài năng của y cũng chỉ như y sẵn có, nhưng y bớt ngông cuồng chút ít, đừng tấn công Liên Xô, dừng tàn sát dân Do Thái, và thỉnh thoảng y ôm chầm lấy một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài, thì y sẽ được xem là một trong những lãnh tụ vĩ đại của nhân loại. Bạn có thể nói: thì chính vì y không có được cái đó nên y mới không vĩ đại như một vài lãnh tụ của các dân tộc khác? Đúng vậy, nhưng đòi hỏi đó cũng có gì cao siêu lắm đâu, và làm được điều đó đâu cần phải là một thiên tài?

Và hãy nhớ lại: hàng triệu người Bắc Hàn đã và đang tin rằng cha con ông cháu họ Kim là những lãnh tụ vĩ đại. Hãy nhớ: “Gangnam Style” đang làm hàng trăm triệu người phát rồ. Và nếu có “chiến lược” quảng cáo hợp lý, khiêm tốn hơn chút ít, đồng thời đừng dùng một người “tâng” thô thiển như vị giáo sư nọ, thì Huyền Chíp cũng đã có thể trở thành thần tượng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam…

Tâm lý đám đông có thể làm nên những điều ghê gớm. Đặc biệt, khi nó được một tầng lớp có thế lực khéo léo lợi dụng thì nó có thể tạo ra những biến chuyển long trời lở đất. Đám người sùng bái một thần tượng có thể nghiền nát bất cứ nhóm người nào dám nói những điều không hay về thần tượng của họ.

Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ

Một khi người ta tôn thờ một thần tượng, hầu hết là suốt đời người ta sẽ trung thành với thần tượng đó, và không bao giờ đặt ra câu hỏi: Liệu ở góc độ này hay góc độ kia, vị thần tượng của mình có đúng hay không. Dưới chế độ phong kiến, chỉ cần hé răng hỏi liệu vua có sai không đã bị xử trảm rồi. Ở các nước cựu cộng sản, tình trạng cũng không khá hơn là mấy. Tại Liên Xô, ngay cả khi Stalin đã chết thì Khruschëv và một vài ủy viên bộ chính trị khác phải vất vả lắm mới tiến hành được khá thành công cuộc chiến chống lại được tệ sùng bái cá nhân Stalin, và nhiều lúc ông ta đã ở trong tình trạng nguy hiểm cả đến tính mạng. Ở hầu hết các quốc gia độc tài hay độc đảng khác, việc huyền thoại hóa lãnh tụ cũng là cản trở đáng sợ, làm cho tiến trình dân chủ hóa phải chịu biết bao hy sinh mất mát đau đớn. Nhà cầm quyền nắm được cái “thóp” đó, nên họ thường xuyên tiến hành và “mồi” cho quần chúng tham gia xây dựng và “bồi đắp” cho thần tượng. 

Việc trung thành với thần tượng gần như đồng nghĩa với việc trung thành với chế độ mà thần tượng đó đã tham gia dựng nên. Vì vậy, những ai có ý thức vươn tới tự do, hãy đừng mắc mưu những kẻ muốn xây dựng thần tượng để duy trì chế độ.

Một người có công với dân tộc hay nhân loại cần phải được ghi nhận và tôn vinh. Nhưng chỉ nên làm việc đó ở mức độ vừa phải và xứng đáng. Việc ngày nào cũng ra rả ca ngợi, thường xuyên tổ chức hội thảo, tưởng niệm,… cuối cùng chỉ góp phần làm cho xã hội đi thụt lùi, kéo dài sự nô dịch.

*
Đức Phật Gautama (Thích Ca Mâu Ni) – người mà ngày càng được nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà bác học thừa nhận là có tư tưởng cao siêu nhất và cũng đúng đắn nhất – đã từng dạy:
“Con người phải là chỗ dựa của chính mình. Chớ tìm nơi trú ẩn ở chỗ khác.”


Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Đào Hiếu - Phá rừng và trồng rừng


Đào Hiếu

Có anh bạn đi Trung Quốc về, nói: Hàng Châu đẹp quá. Hỏi: đẹp ở chỗ nào thì đáp: nó có nhiều rừng, rừng ở ngay trong thành phố, xanh mát, yên tĩnh. Công viên như rừng mà đường phố cũng như rừng, đặc biệt là rừng trúc.


Nhưng không phải chỉ có Hàng Châu, Singapore, Kuala Lumpur… mà cả Paris, Boston, Washington DC… đều có rừng ngay trong thành phố. Ý niệm “thành phố rừng” đã có từ lâu lắm. Khi triều đại các vua Louis bên Pháp xây dựng điện Versailles thì đó cũng là nơi rừng tiếp giáp rừng, các Sa hoàng xây Cung điện Mùa Hè ở Saint Petersburg cũng đã trồng cả những khu rừng bạt ngàn trong khuôn viên mênh mông của mình.

Đà Lạt của Việt Nam cũng là một thành phố rừng. Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa, thuở người ta còn biết quý rừng, biết trân trọng từng ngọn thông, từng tán lá. Ngày nay Đà Lạt đang bị “quy hoạch” phân lô, bán nền nhà…Rừng bị đẩy lùi về phía xa, phía những dãy núi…

Nhật Ký Đỗ Thọ có kể một giai thoại: Ngày nọ, tổng thống Ngô Đình Diệm lên nghỉ mát ở Đà Lạt. Buổi sáng như thường lệ ông mở cánh cửa sổ để ngắm rừng thông thì ngạc nhiên khi nhìn thấy một khoảng trống ở cuối tầm mắt. Ông gọi điện thoại cho thị trưởng Đà Lạt. Thị trưởng sợ quá, lập tức có mặt. Vừa đẩy cửa bước vào, chưa kịp vái chào “cụ” thì cái gạt tàn thuốc đã bay thẳng vô mặt. Không dám né tránh, thị trưởng run rẩy thưa: “Bẩm cụ, cụ có điều chi dạy bảo?”. Ông Diệm hét lên: “Ai chặt rừng?!”.

Phải chi chúng ta cũng biết yêu rừng như tổng thống Ngô Đình Diệm thì hy vọng có thể cứu được Đà Lạt.

*

Bạn tôi là giáo viên cấp ba, sau 75 bị “mất dạy” chuyển nghề chạy xe ôm. Từ Quy Nhơn anh bạn tót lên Gia Lai kiếm sống. Ngày ngày anh chở dân buôn qua lại, dọc biên giới Campuchia, Lào. Đó là các chị buôn thuốc lá, nhu yếu phẩm, đó là các tay lâm tặc vô rừng buôn gỗ lậu, cần những tay lái gan dạ thuộc lòng các trạm kiểm lâm, luồn lách, băng rừng vượt suối vào sâu trong rừng giao dịch làm ăn với các “đối tác” sơn lâm khác.

Đồng nghiệp và cũng là đồng hương của anh là một gã hồi nhỏ bị “té vô thùng đinh” nên mặt lồi lõm trông rất ngầu. Gã có một chiếc BS tức là chiếc xe máy hiệu Bridgestone hai thì chạy xăng pha nhớt. Loại xe này rất đắc dụng đối với đường rừng hiểm trở vì nó chạy mát máy. Những tay lâm tặc có vẻ ưa chuộng gã hơn anh bạn tôi vì gã rất dày dạn và quan trọng hơn: gã hiểu biết nhiều về gỗ của rừng Gia Lai, tất nhiên không phải nhờ vào trình độ văn hóa cấp hai của gã, mà nhờ đã lăn lộn với nghề cưa xẻ gỗ nhiều năm trên địa bàn này.

Các tay lâm tặc từ các nơi về Gia Lai tìm mua gỗ vừa nhờ gã đưa rước vừa nhờ gã mách nước cho chỗ nào có loại gỗ quý mà bọn họ cần mua. Ban đầu các lâm tặc chỉ trả tiền xe ôm, cộng chút ít tiền “bo”, về sau thấy gã xe ôm nọ lanh lợi quá, đắc dụng quá, thấy vai trò của gã như một cố vấn, chẳng những về nghề gỗ mà còn về cách luồn lách tránh né hoặc mua chuộc kiểm lâm nên các đại gia buôn gỗ nọ phải thỏa mãn một số yêu sách của gã, chẳng hạn như khi chở gỗ về đồng bằng, họ bằng lòng cho gã “ké” chừng 5 hoặc 10 mét khối gỗ của gã.

Nhờ khai thác nhiều đại gia như thế nên gã đã đưa ra thị trường khá nhiều gỗ mà không cần xin giấy phép gì cả. Gã trở nên giàu có. Gã từ giã nghề chạy xe ôm và trở thành một tay buôn gỗ lậu chuyên nghiệp.

Nhưng bước ngoặt đời gã bắt nguồn từ khi gã trúng đợt gỗ pơ-mu.

Pơ-mu (fokienia) là một loại gỗ rất quý hiếm, còn có tên gọi là “bách Phúc Kiến” mùi thơm, vân gỗ đẹp, nhìn bề ngoài nó rất giống gỗ thông nhưng trong khi thông là một thứ gỗ xấu, chỉ dùng làm giàn giáo, đóng bàn ghế loại bình dân thì pơ-mu là gỗ quý, không hề bị mối mọt, bền chắc, người ta dùng nó để chế tác các mặt hàng gỗ mỹ nghệ và trang trí nội thất cao cấp, ngoài ra rễ cây pơ-mu còn có tinh dầu rất quý được chưng cất dùng trong ngành hóa mỹ phẩm và trong y học. Cây pơ-mu đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 1996 vì đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Khi phát hiện ra loại gỗ này, gã đã trà trộn nó với gỗ thông và kiếm lời gấp trăm lần số vốn bỏ ra. Có thể nói gỗ pơ-mu là chiếc đũa thần đưa gã lên hàng đại gia từ đó.

Khi đã có nhiều tiền, gã loại bỏ các đối thủ như chị Tư, chị Bạch…làm bá chủ võ lâm, phô trương thanh thế, mua chuộc, cấu kết với giới cầm quyền các cấp, kinh doanh nhiều lãnh vực khác như đá granit, địa ốc…

Hệ thống ngân hàng trở thành đồng minh thân cận của gã.

Các dịch vụ của gã nghe thì to lớn, “tầm cỡ” “đẳng cấp”… nhưng thực chất là chặt rừng bán gỗ làm giàu.

Còn anh bạn giáo viên của tôi, đồng nghiệp của ngài lâm tặc kia thì nay đã trở lại nghề dạy học. Và thỉnh thoảng trong chút men rượu, anh cũng không quên “khoe” mình từng là chiến hữu của đại gia đó!

*

Cây đước tự mọc thành rừng trong nhiều ngàn năm. Lửa trời cũng từng đi qua trong những mùa khô hanh, đốt phá rừng. Chiến tranh cũng từng đến, bom lân tinh thiêu rụi từng mảng, rồi con người chặt cây làm nhà, hầm than, thả bè trôi về phố chợ làm vật liệu xây dựng. Nhưng những khu rừng ngập mặn vẫn tồn tại. Cây đước tự phát triển, biết cách để sinh tồn, biết sinh đẻ, nhân giống, biết xếp hàng thành rừng. Những thế hệ rừng nối tiếp, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh cũng giống như cỏ trên thảo nguyên mênh mông không ngừng sinh diệt mà vẫn tồn tại.

Cây đước già ra hoa kết trái. Trái nó dài chừng hai gang tay, mình tròn, treo lủng lẳng như những trái dưa chuột dài ốm nhách. Hàng triệu trái đước đong đưa chực chờ phía trên mặt nước, phía trên mặt bùn nhão, như một thế hệ đông đảo những cư dân mới, sẵn sàng thả mình cắm phập một đầu xuống bùn để xác định chỗ đứng, xác định sự góp mặt của mình trên mặt đất.

Từ chỗ vừa “cắm dùi” ấy, chúng sẽ lớn lên thành khu rừng mới, vươn những ngón chân dài bấu vào đất, bám trụ vững chắc như “kiềng ba chân”, thân thì ngoi lên khỏi mặt nước, mọc ra những cái nhánh, phủ xanh một vùng lãnh thổ.

Mặc cho con người tàn phá, rừng vẫn tự tái tạo, vẫn sống và ôm ấp, bảo lãnh, che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: con người, con cua, con còng, con cá. Và chim chóc, khỉ, rắn, cá sấu. Và ong.

Cũng có khi, do tham vọng, con người hối hả tàn phá rừng với tốc độ nhanh gấp mấy lần một chu kỳ sinh trưởng. Rừng hở lưng, lạnh gáy, lạnh xương sống. Rừng thấy trống trải và yếu đuối trước những cơn bão, những trận lũ quét, những mưa nguồn.

Rừng hấp hối.

Rừng Tây Nguyên cũng hấp hối. Những dãy núi chết phơi tấm da màu huyết dụ giữa trời. Con người lột da rừng, trơ ra lớp thịt bầm dập bị hun khói nám đen. Đó là những khu rừng ở Tây nguyên đã bị hỏa thiêu ngay trước mắt tôi, nằm chết khô giữa tro than và đất cằn, vụn nát.

Rừng Cà Mau cũng đang bị tàn phá theo từng thời vụ: nó đang trở thành nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cho những thành phố, nguồn than cho những khu dân cư…

*

Vậy mà từng ngày vẫn có những cô gái nhỏ chèo xuồng dọc theo những con nước len lỏi giữa rừng già, một tay quẫy mái chèo, một tay gom những trái đước già đang nổi trôi trên mặt nước đục.

Những chiếc xuồng lặng thầm nối đuôi nhau đi nhặt những trái đước. Những chiếc xuồng không chở trăng sao, không chở tao nhân mặc khách. Những chiếc xuồng đi nhặt sự sống của rừng, những chiếc xuồng đi gom góp một thế hệ mới cho đất.

Và sau đó là những đôi chân khẳng khiu, đen đủi, lội trong nước mặn, trong bùn sình trồng từng mầm sống xuống đất đen.

ĐÀO HIẾU


Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Đào Hiếu - BLOG LỀ TRÁI - Những vùng đất “chó ỉa”




Đào Hiếu

Chuyện mua bán trong xã hội là một sinh hoạt rất cần thiết vì nó giúp lưu thông hàng hóa, phục vụ cho đời sống hàng ngày. Đất đai cũng là hàng hóa vì vậy việc mua bán đất cũng là chuyện bình thường.

Tuy nhiên chính vì luật đất đai ở Việt Nam hiện nay quy định người dân không được quyền sở hữu đất, kể cả đất mình đang ở, đang canh tác, kể cả đất do ông bà tổ tiên để lại. Chính vì vậy mà dân không được quyền “bán đất”, không có quyền “ra giá” mà cũng không có quyền từ chối bán đất nếu khu đất đó đã “dính” quy hoạch.


Từ đó đẻ ra những tranh chấp quyết liệt: ẩu đả, kêu khóc, nguyền rủa, biểu tình, đàn áp…nhiều khi phải đổ máu, chết người, tù tội…

*

Tất nhiên một khu đất “chó ỉa”, một khu đất “không ai thèm mua” bây giờ có người mua đương nhiên họ phải trả giá rẻ.

Nhưng thế nào là “đất chó ỉa”?

Đất của Đoàn Văn Vươn có phải là “đất chó ỉa” không? Đất ở Tây Nguyên cho Trung Quốc vào khai thác bauxite, những mỏ than ở Hòn Gai, mỏ ti-tan ở Bình Định cũng từng là “đất chó ỉa”.  Những cánh đồng cỏ lát ngập úng quanh năm ở Nhà Bè (nay là khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng) chẳng phải cũng từng là đất chó ỉa đó sao?

Vậy vì cớ gì mà các nhà đầu tư nước ngoài tranh nhau đi lượm cứt chó vậy?

*

Cứ cho là anh phải bỏ ra một số tiền lớn gấp 10 lần tiền mua đất để xây dựng đường sá, công viên, hệ thống thoát nước… Nhưng rồi sau đó là gì? Là anh sẽ bán lại số đất đó với giá gấp 100 lần. Như vậy anh cũng còn lời đến 90 lần giá vốn.

Lấy ví dụ khu Phú Mỹ Hưng, quận 7 TPHCM. Công ty Central Trading & Development của Đài Loan phối hợp với chánh quyền địa phương thực hiện việc giải tỏa đền bù và xây dựng cơ bản. Họ đã mua đất của nông dân với giá 19.000 VNĐ một mét vuông, sau khi xây dựng cơ bản xong mỗi mét vuông đất cứ cho là sẽ tăng gấp 10 lần là 190.000 VNĐ. Vậy mà hiện nay giá đất ở Phú Mỹ Hưng là 40.000.000 VNĐ một mét vuông.

Đó là siêu lợi nhuận.

Anh mua một khu đất mà anh biết là mình sẽ lời gấp trăm lần, vậy mà anh không đền bù thích đáng cho người nông dân, khiến họ phải tiếp tục sống đời nghèo khổ lầm than thì tôi phải nghĩ anh là người như thế nào?

Chúng ta ai cũng muốn nhìn thấy đất nước phát triển, nhà cao tầng mọc lên, khu đô thị mới mọc lên… nhưng anh không thể nhân danh “khu đô thị mới” không thể nhân danh “xây dựng đất nước” để ăn hiếp dân nghèo.
Dân số Phú Mỹ Hưng có 40% là người nước ngoài bao gồm: Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, Tàu… và đông nhất là Hàn Quốc. 60% còn lại là những cán bộ giàu có người Việt và những đại gia người Việt. Dân thường không dám mơ tới đó.

Hàng ngày chúng ta nhìn ngắm khu đô thị ấy với sự thán phục và ngưỡng mộ, nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: những người chủ của các vùng đất “chó ỉa” này bây giờ đang sống ở đâu, sống ra sao?

Các khu đô thị ấy đã mọc lên trong nước mắt, trong sự bất công, trong cưỡng chế, trong xua đuổi, trong những chiếc còng số 8, trong nhà tù và trong cả dùi cui, ma-trắc…

Cho nên thực tế xây dựng đất nước hiện nay ở Việt Nam hoàn toàn khác và không hề đơn giản như cụ Phan Bội Châu từng viết ở cái thời xa lắc xa lơ nào:
“Nếu như mà lầu cao muôn trượng xây rồi thì sao trời, trăng biển bên cửa sổ ngắm như ở trong bàn tay, khí mát gió trong vờn quanh dưới gót. Ngạo nghễ nơi cửa cao ghế đá mà nhìn thấy được ba đảo năm châu, sướng biết chừng nào! Được như vậy mà ban đầu không chịu phí tổn, trù hoạch, khó nhọc thì thành sao được? Bây giờ nói đến việc làm những công trình lớn lao như thế sao lại cúi đầu thất sắc? Vì chưa biết rằng sau khi lầu cao đã xây rồi là sướng đó thôi! Biết sau này có sự ngọt bùi khôn cùng, thì cái cay đắng hôm nay phải chịu đựng chỉ là cái điểm tiến tới cái ngọt bùi đó, ta nguyện nếm cái cay đắng ấy.” Phan Bội Châu “Tân Việt Nam – Sáu điều mong mỏi lớn“ Võ Văn Sạch dịch (ProContra).

Tội nghiệp cho cụ Phan, thời đó cụ không hề biết rằng chỉ sau hơn 100 năm trên cái thế giới đốn mạt này lại đẻ ra những “sát thủ kinh tế” (Economic Hit Man) kiểu như John Perkins chuyên đi gạ gẫm chính quyền các nước chậm tiến để cho vay nặng lãi, gây ra biết bao cảnh nhà tan cửa nát cho dân nghèo.

*

Người Việt Nam nào cũng ủng hộ việc xây dựng các công trình, các khu đô thị, các hệ thống đường sá hiện đại vì đó là xu thế phát triển không thể đảo ngược được. Và việc mua lại đất của nông dân, biến những vùng “đất chó ỉa” thành những đô thị hiện đại là điều tất yếu.

Nhưng vấn đề quan trọng nhất, cốt lõi nhất mà nhà nước phải giải quyết là GIÁ ĐỀN BÙ GIẢI TỎA PHẢI HỢP LÝ để cho người nông dân có thể xây dựng cuộc sống mới an cư lạc nghiệp.

Mà muốn như vậy thì nhà nước phải đứng về phía nông dân (chứ đừng đứng về phía các nhà đầu tư như hiện nay).

Và phải sửa luật đất đai.

Người dân phải có quyền sở hữu đất đai thì mới có quyền “bán đất”. Khi có quyền đó rồi thì mới có quyền “ra giá” và có quyền từ chối bán đất nếu không công bằng, tránh được việc dùng vũ lực cưỡng chế.

Đất “chó ỉa” hay đất “đại gia ỉa” thì cũng là đất. Mà đất là vàng. Không phải là cứt.

ĐÀO HIẾU


Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Đào Hiếu - Cuộc chiến tranh bất tận



Đào Hiếu


Tranh ghép của Libera

Cách đây không lâu trên mạng facebook có người đưa một bức tranh ghép của một nghệ sĩ Ba Lan tên là Libera, tác giả này đã “cải biên” bức ảnh nổi tiếng của Nick Út từng đoạt giải Pulitzer, chụp bé gái Phan Thị Kim Phúc đang bị bom napalm đốt cháy năm 1972 tại Trảng Bàng, Tây Ninh.

Blogger này có lẽ vì sợ độc giả không hiểu nên đã giải thích rằng tuy bức ảnh gốc mô tả nỗi đau của chiến tranh Việt Nam nhưng hiện nay cuộc chiến ấy đã đi vào dĩ vãng, Việt Nam đã có hòa bình, và đang xây dựng đất nước, nên người nghệ sĩ Ba Lan này đã nảy ra sáng kiến sửa chữa các nạn nhân trong ảnh gốc thành những nhân vật sexy, tươi cười, vui đùa trong xã hội mới (mời xem ảnh). Bên dưới tác phẩm ấy, nhiều bạn đọc cũng đã viết những comments với ý kiến tương tự.

Mới đây, một blogger khác cũng đã đề nghị gọi ngày 30/4/75 là ”ngày Hòa Bình”.


Ảnh gốc của Nick Út

CÓ PHẢI VIỆT NAM ĐANG SỐNG TRONG HÒA BÌNH?

Tôi đã sống ở Việt Nam trong ngày 30/4/1975, nhưng tôi không thấy hòa bình đâu cả. Rồi những tháng năm kế tiếp, và cả đến bây giờ, xã hội Việt Nam không có giây phút nào hòa bình.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: “Ngày 30/4/75 có một triệu người vui nhưng cũng có một triệu người buồn”.  

Tuy con số “một triệu” chỉ là con số biểu kiến, nhưng vì sao lại có “một triệu người buồn” ấy?

Vì thực tế Việt Nam chưa có hòa bình.

Ngày 30/4/75 mở đầu cho những đợt học tập cải tạo rộng lớn, đều khắp trên cả nước. Đó là những trại giam khổng lồ, là những trung tâm thù hận, là chốn lưu đày của những người Việt Nam được gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Tiếp theo là phong trào vượt biên của hàng triệu người chạy trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển. Bị bắt, bị tù, bị tống tiền, bị hải tặc trấn lột, cưỡng hiếp, rồi nào là bão tố, biển động, tan xác trên biển, vùi thây trong bụng cá.

Trên đất liền thì đưa dân thành phố đi kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản, đổi tiền. Tiếp đến là Pol Pot tràn qua biên giới Tây Nam giết người cướp của, xác chết người Việt Nam bị vứt xuống sông, nghẽn cả dòng chảy. Kế đến là chiến tranh biên giới phía Bắc vì Đặng Tiểu Bình muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Những trận đánh ấy vô cùng ác liệt, thương vong bởi bom mìn (nhất là mìn) lớn đến nỗi có người nói tổng số sĩ quan từ cấp úy trở lên đã chết trong hai cuộc chiến này không thua kém cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Trên các mặt trận văn học, nghệ thuật, âm nhạc… cũng đã diễn ra những cuộc chiến tranh âm ỉ nhưng không kém phần gay cấn (mời đọc Hồi Ký của nhạc sĩ Tô Hải, hồi ký Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất của Nguyễn Khải…).

Lắng dịu được ít lâu thì Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ông vua “đổi mới” Nguyễn Văn Linh xoay 180 độ. Việt Nam ôm chầm lấy Trung Quốc hun chùn chụt.

Tuy nhiên, nhờ “đổi mới tư duy” nhờ “kinh tế thị trường” Việt Nam bắt đầu biết làm ăn, biết bắt tay kinh doanh cùng tư bản.

Thế là lại đẻ ra cuộc chiến tranh mới: vay vốn WB, vốn IMF, vốn ODA… rồi bán tài nguyên thiên nhiên, vừa trả nợ vừa chia chác, đẻ ra nạn tham nhũng, tràn lan như cỏ trên thảo nguyên.

Từ đó mọc ra những tư sản đỏ.

Tư sản ngoại bang giao cấu với tư sản đỏ đẻ ra chiến tranh giành đất đai, cưỡng đoạt đất dân nghèo để bán cho các nhà đầu tư, các nhà tài phiệt khổng lồ.

Chiến tranh giành đất dân nghèo đã nổ ra khắp cả nước. Đó là trận Mậu Thân của thời đại mới. Một cuộc tổng tiến công và nổi dậy của NÔNG DÂN Miền Nam anh hùng chống lại bọn chủ đầu tư tài phiệt nước ngoài cướp đất dưới sự hỗ trợ của chánh quyền. Trong các cuộc chiến tranh ấy không phải là không có đổ máu và người chết mặc dù người nông dân chỉ dùng gạch đá, tay không, tiếng la khóc và thậm chí tự lột quần áo mình để ngăn những người “thi hành công vụ”.

Mãi cho tới khi Đoàn Văn Vươn xuất hiện thì mới có tiếng nổ. Tuy chỉ là những tiếng nổ của vũ khí tự chế bằng pháo hoa rất thô sơ nhưng đã gây tiếng vang rất lớn vượt ra ngoài biên giới Việt Nam. Thế mà sau khi tòa xử Đoàn Văn Vươn 5 năm tù, mặt trận Tiên Lãng lại bùng nổ.

Ngày nào trong hiến pháp còn ghi “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước làm đại diện và chủ động quyết định” thì chiến tranh giành đất sẽ còn tiếp diễn dài dài.

Đó sẽ là cuộc chiến tranh bất tận.

Dường như tôi chưa nhắc đến cuộc chiến giữa nhà nước Việt Nam và những người đòi nhân quyền, đòi dân chủ. Các nhà tù sẽ còn mở cửa đón các tù binh chiến tranh thời đại Internet.

Và Việt Nam sẽ không bao giờ có hòa bình.

Vì thế tôi muốn mời tác giả Libera của Ba Lan đến Việt Nam để đi thực tế các chiến trường đang nóng bỏng trên đất nước tôi. Và để tự tay ông xé bức tranh ghép nổi tiếng của ông, vứt vào sọt rác.
Tại sao phải làm vậy?

Vì nếu nó không phản ánh đúng thực tế Việt Nam hiện nay thì bức tranh ấy chỉ mang ý nghĩa phỉ báng nỗi đau của các nạn nhân chiến tranh mà thôi.

ĐÀO HIẾU



Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Người ngoại quốc nhận xét về người VN?

TRẦN THÀNH NAM

Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.

Hình minh họa

Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.