Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

Phạm Đình Trọng: Những Cánh Buồm—Chân Dung Lê Duẩn (P.1)

Lời giới thiệu: Được sự đồng ý của tác giả, nhà văn—nhà báo Phạm Đình Trọng, Diễn Đàn Thế Kỷ xin trích đăng chương viết về chân dung Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1976Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1976 đến năm 1986, trong tập chân dung chính trị “Những cánh buồm” của Phạm Đình Trọng.

xxxx


K.MAC VIẾT HỌC THUYẾT BAO LỰC ĐẤU TRANH GIAI CẤP CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN. LÊ NIN THỰC HIỆN BẠO LỰC CỘNG SẢN BẰNG MÁU NGƯỜI NGA


HỒ CHÍ MINH ĐƯA HỌC THUYẾT CỘNG SẢN BẠO LỰC ĐẤU TRANH GIAI CẤP VỀ VIỆT NAM. LÊ DUẨN THỰC HIỆN BẠO LỰC CỘNG SẢN BẰNG MÁU NGƯỜI VIỆT.


MỘT. TỰ HÀO VÀ BIẾT ƠN TỘI ÁC


Định kì, cứ đến năm chẵn ngày sinh đảng trưởng bạo liệt nhất, sắt máu nhất của đảng cộng sản Việt Nam, một trăm năm, trăm mười năm, trăm mười lăm năm . . . , cả bộ máy truyền thông khổng lồ lề đảng lại đồng loạt rập đầu tụng niệm, ồn ào ngợi ca, ngút trời tâng bốc ông đảng trưởng gốc nông dân miền cát trắng Triệu Phong, Quảng Trị, họ Lê, tên Duẩn.

Nào là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một nhà lý luận xuất sắc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam.

Nào là đã có những đóng góp quan trọng, góp phần đưa lý luận cách mạng Việt Nam lên tầm cao mới.

Nào là một nhân cách lớn về lẽ sống và đạo lý làm người. Một tấm lòng bao dung, độ lượng đậm lòng nhân ái cao cả.

Nào là đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Nào là người chiến sĩ quốc tế cộng sản trong sáng đã cống hiến suốt cuộc đời mình cho Đảng, cho dân tộc. Đảng ta, nhân dân ta mãi mãi tự hào và biết ơn sâu sắc công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí tổng bí thư Lê Duẩn.

Đưa học thuyết cộng sản đấu tranh giai cấp về Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam đã đẩy dân tộc Việt Nam hiền hòa vào cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu, đã dìm đất nước Việt Nam gấm vóc vào lò lửa chiến tranh giai cấp, người Việt vô sản, không tài sản vật chất, không tài sản trí tuệ, bắn giết, đấu tố, tù đày, thảm sát người Việt hữu sản giầu của cải, giầu trí tuệ suốt gần một thế kỉ, từ 1930 đến nay. 


Đưa giai cấp lên trên dân tộc, vì đấu tranh giai cấp, đảng cộng sản Việt Nam đã chấp nhận để cho thế lực cộng sản quốc tế cắt đôi đất nước, chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai trận tuyến thù hận không đội trời chung rồi đảng lại quyết lấy máu của người Việt tiến hành cuộc nội chiến đốt cháy cả rừng già Trường Sơn, xẻ dọc cả núi cao Trường Sơn để tiêu diệt một nửa dân tộc hận thù, “giải phóng miền Nam”. 


Đưa học thuyết giai cấp sắt máu về đánh tan tác khối đồng bào ruột thịt Việt Nam, biến đổi con người dân tộc Việt Nam thương yêu đùm bọc giống nòi thành con người giai cấp, chỉ biết có giai cấp, sôi sục hận thù giai cấp, đảng cộng sản Việt Nam đã đưa văn hóa hận thù giai cấp về thay cho văn hóa yêu thương của dân tộc Việt Nam, giết chết tức tưởi đạo lí Việt Nam và nền văn minh sông Hồng đầy bản sắc. 


Đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam suốt 26 năm, tạo ra những sự kiện chết chóc khủng khiếp nhất, đau thương nhất, đảng trưởng Lê Duẩn có vai trò quyết định nhất và phải chịu trách nhiệm lớn nhất về những đau thương mà đảng cộng sản Việt Nam đã để lại cho dân tộc Việt Nam, cho lịch sử Việt Nam. Khi cuộc chiến Nam Bắc do đảng trưởng Lê Duẩn phát động, dân số cả nước chỉ có ba mươi mốt triệu người. Cả chục triệu người, một phần ba dân số Việt Nam bị nướng trong cuộc nội chiến Nam Bắc được núp dưới vỏ bọc mỹ miều “giải phóng miền Nam”, “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Hàng triệu người chết trong đấu tố, trong ngục tù, trong đày đoạ của những vụ án nguỵ tạo không bản án, không xét xử, không thời hạn Nhân Văn Giai Phẩm, Xét lại chống đảng, tập trung cải tạo đều diễn ra ai oán, đau thương thời đảng trưởng Lê Duẩn.


Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những bậc vai vế của đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm về những di họa nặng nề để lại cho dân cho nước nhưng đảng cộng sản cầm quyền vẫn dốc tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân nghèo, nước kiệt, suy tôn những con người tội phạm đó. Dựng tượng ngàn tỉ. xây nhà tưởng niệm thênh thang và nguy nga nhưng lạc lõng và bất nhẫn giữa cuộc sống lam lũ khốn khổ của người dân. 


Nhiều trẻ thơ không được đến trường vì cơm ăn còn chưa đủ. Nhiều người bệnh không có tiền chữa bệnh đành nằm nhà đợi chết. Nhiều trường học ở miền núi còn rách nát, xác xơ, trống trải và hoang tàn như chiếc chòi canh nương. Nhưng đảng cộng sản cầm quyền vẫn vô cảm, bất nhẫn, thản nhiên đổ hết ngàn tỉ đồng này đến ngàn tỉ đồng khác tiền của dân nghèo nước kiệt cho những cộng trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trần Phú, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh… Rồi ngày sinh, ngày giỗ của những đấng bậc cộng sản đã mang đau thương về cho dân, mang hận thù về cho giống nòi, mang bom đạn về tàn phá đất nước lại được bộ máy truyền thông khổng lồ của đảng hối hả, miệt mài dựng lên những công trạng ảo để biến tội ác thành công trạng, để đầu độc, ngu dân hoá người dân và người dân cứ mãi mãi phải rập đầu ơn đảng, ơn bác, tự hào và biết ơn tội ác.


Từ đảng trưởng Trịnh Đình Cửu, năm 1930, đến đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng, năm 2021, chin mươi năm, đảng Cộng sản Việt Nam đã có 13 đảng trưởng. Là đảng trưởng thứ tám suốt 26 năm, 1960–1986, Lê Duẩn là đảng trưởng lâu năm nhất, bạo liệt nhất, tạo ra những biến động lịch sử đau đớn nhất, đẫm máu nhất, người dân phải chịu đựng mất mát đau thương lớn nhất, cuộc sống khốn cùng, tồi tệ nhất cả trong đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần. Dân tộc Việt Nam bị đánh những đòn độc ác nhất, chia rẽ li tán sâu sắc nhất. Đất nước bị tàn phá tan hoang nhất, tổ chức xã hội đảo lộn, nát bét nhất.


Dưới họng súng, còng sắt và nhà tù chuyên chính vô sản, xã hội Việt Nam chìm trong đêm tối và đau thương vẫn tồn tại như tới vô cùng, vô tận và Lê Duẩn vẫn hống hách ngự trị đến lúc lìa đời. Lìa đời rồi lại được truyền thông cộng sản dựng thành thần thánh!


Trước sự giả dối vô lương, trước sự đổi trắng thay đen, đánh tráo sự thật, những lương tri không thể im lặng mãi. 


HAI. NGỌN ĐÈN HAI TRĂM NẾN


Dù trước khi hoạt động cộng sản chuyên nghiệp, Lê Duẩn có ba năm làm nhân viên đường sắt nhưng xuất thân từ những mảnh ruộng manh mún giữa những cồn cát xác xơ nắng lửa, hầm hâp gió Lào Quảng Trị, Lê Duẩn vẫn là anh nông dân thăm căn cố đế. Anh nông dân mới học năm đầu trung học tỉnh lẻ, tương đương lớp sáu hệ giáo dục phổ thông mười hai năm hiện nay, đã phải bỏ học đi làm kiếm sống.


Chưa từng đi ra thế giới để có tầm nhìn nhân loại, chưa có đủ nền tảng văn hoá để có tầm nhìn lịch sử, chưa từng làm việc ở cơ quan toàn quốc của đảng để có tầm nhìn quốc gia. Trước khi trở thành người đứng đầu đảng, cả quãng đời dài của tuổi sung sức nhất, năng nổ nhất, khát khao lí tưởng nhất để dung nạp thực tế, tích luỹ kiến thức xã hội và thực tiễn cách mạng, hình thành tầm nhìn và vóc dáng con người lãnh đạo, Lê Duẩn đều hoạt động ở một vùng miền xa xôi nhất, biệt lập nhất, chỉ là thủ lĩnh một vùng, sứ quân một cõi, chỉ thấy thực tế một vùng miền, chỉ có tư duy cục bộ của một thủ lĩnh vùng miền, một lãnh chúa cát cứ.


Cuộc kháng chiến chống Pháp do Hồ Chí Minh, người đứng đầu đảng cộng sản cầm quyền phát động ngày 19.12.1946: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có súng gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Bạo lực là lí tưởng cách mạng, là lẽ sống của cộng sản. Chiến tranh giành quyền cai trị trong nước và chiến tranh phân chia thế giới luôn gắn liền với nhà nước cộng sản. 


Năm 1945, nhà nước cộng sản Hồ Chí Minh vừa ra đời trong thế cô, sức yếu, để được lực lượng Đồng Minh chống phát xít trên thế giới ủng hộ và thu hút người dân tham gia kháng chiến, trước toàn quốc kháng một năm, ngày 11.11.1945, đảng cộng sản tuyên bố tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật. Là người đứng đầu đáng ở Nam Bộ xa xôi, biệt lập nhưng Lê Duẩn chỉ có chức danh công khai là trưởng phòng Dân Quân trong bộ chỉ huy kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ do trung tướng Nguyễn Bình là tư lệnh. 


Hàm tướng và chức danh tư lệnh lực lượng kháng chiến Nam Bộ của Nguyễn Bình do chính Hồ Chí Minh vinh thăng và trao quyền, cùng những hoạt động của vị tướng trẻ mang đầy tính anh hùng hảo hớn nghĩa hiệp của buổi đầu kháng chiến, còn mang nhiều tính tự phát ở vùng đất của những cư dân mở cõi rất coi trọng nghĩa khí và người dân đã coi tư lệnh Nguyễn Bình như thủ lĩnh, như niềm tự hào của những người mở cõi. Tên tuổi Nguyễn Bình ở Nam Bộ còn sáng chói và hấp dẫn hơn cả tên tuổi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Vừa sáng chói, vừa gần gũi, người dân Nam Bộ chỉ biết có trung tướng tư lệnh Nguyễn Bình. Người dân hướng về kháng chiến, đi kháng chiến chống Pháp cũng là đi theo trung tướng tư lệnh Nguyễn Bình. 


Chỉ có những người cộng sản hoạt động nửa công khai nửa bí mật mới biết Lê Duẩn, người dân không ai biết đến Lê Duẩn. Chỉ sau cái chết bí ẩn, mờ ám, âm thầm của tư lệnh Nguyễn Bình rồi đảng Cộng sản đổi tên thành đảng Lao động và công khai hoạt động, Lê Duẩn mới thực sự có vai trò người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. 


Lê Duẩn vừa thực sự nắm quyền thủ lĩnh lực lượng kháng chiến trong rừng U Minh, lập tức trong nội bộ cộng sản Nam Bộ liền có ngay giai thoại về tài trí anh Ba Duẩn sáng chói như ngọn đèn hai trăm nến, như bóng đèn điện hai trăm watt.  Cần có ngay giai thoại ngọn đèn hai trăm nến để thay thế, để che mờ, xua tan những huyền thoại về con người anh hùng hảo hớn Nguyễn Bình. Sau này ở Hà Nội, đàn em Tố Hữu còn tụng đại ca Lê Duẩn thời Hai Trăm Ngọn Nến bằng những câu mùi mẫn hơn cả những câu tụng cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Cha già dân tộc dù tôn kính cũng chỉ là người bề trên, ngoài dân, trên dân: 


Người là cha, là bác, là anh 

Trái tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ. 

Còn Anh Ba, Chú Ba là máu trong lòng dân, là ánh sáng của lí tưởng cộng sản: 

Xuồng bơi sông rạch 

Anh bơi trong huyết mạch lòng dân 

Cô bác gọi anh là Chú Ba yêu thân 

Đồng chí gọi anh là Hai Trăm Ngọn Nến. 


Giai thoại ngọn đèn hai trăm nến xuất hiện tức thời và lan truyền mạnh mẽ, rộng rãi, bền bỉ là biểu thị, là bằng chứng nỗi thèm khát sùng bái, thèm khát quyền lực, thèm khát ngôi vị lãnh tụ của người được tụng ca.


Nhà văn Văn Lê làm việc ở xưởng phim tài liệu, hãng phim Giải Phóng, Sài Gòn, khi tìm kiếm tư liệu lịch sử làm phim đã tìm đến bà Thanh, vợ cố trung tướng Nguyễn Bình và được bà gửi gắm cho nhà văn tất cả tư liệu, tất cả nỗi niềm về cái chết âm thầm, oan khuất của vị tướng tài danh chồng bà. Ông bạn Văn Lê nói với tôi rằng ông có đủ tư liệu xác thực về cái chết oan khuất của vị tướng can trường, trung thực, nghĩa khí Nguyễn Bình nhưng chưa phải lúc công bố. Lịch sử luôn đi những lối bất ngờ và lịch sử cũng luôn giữ lại những bí ấn huyền ảo để thành truyền thuyết, thành dã sử. Bà Thanh đã chết. Người được bà Thanh trao lại những bí ẩn về cái chết ẩn khuất của tướng Nguyễn Bình chồng bà, nhà văn Văn Lê bạn tôi, cũng đã đột ngột lẹ gót về cát bụi tối ngày 6.9.2020 khi đang ngồi trước màn hình television theo dõi một phim tài liệu.


Hiệp định Genève 1954 kí kết ngày 20.7.1954 chia đôi lãnh thổ Việt Nam ở vĩ tuyến 17 cho hai chính quyền trong hai năm, chính quyền cộng sản ở phần lãnh thổ phía Bắc và chính quyền không cộng sản ở phía Nam. Ngày 20.7.1956 người dân cả nước sẽ bỏ phiếu Tổng tuyển cử, chính quyền nào nhận được nhiều phiếu bầu chọn của người dân sẽ là chính quyền duy nhất của đất nước Việt Nam thống nhất. 


Ra đời trong bạo lực đấu tranh giai cấp. Tồn tại bằng bạo lực chuyên chính vô sản. Mê muội học thuyết cộng sản đấu tranh giai cấp của ông Mác, chỉ tin vào bạo lực, chỉ tin vào máu dân, máu quần chúng cách mạng mới mang lại chiến thắng chắc chắn cho những người cộng sản. Hoà bình hiệp thương theo ý nguyện người dân không bao giờ có trong tư duy của người cộng sản. Người dân áp đặt ý chí cho chính quyền chỉ có ở nhà nước dân chủ. Với nhà nước độc tài cộng sản, chỉ có chính quyền áp đặt ý chí cho người dân bằng bạo lực chuyên chính vô sản. Không tin tưởng và không chấp nhận sự áp đặt ý chí của người dân bằng lá phiếu, quyết dùng bạo lực thâu tóm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đặt bút kí hiệp định Genève 1954 nhưng những người cộng sản chỉ rút lực lượng nổi ở miền Nam ra miền Bắc theo hiệp định, còn phần chìm nặng kí, cả hệ thống lãnh đạo cộng sản, khoảng mười ngàn cấp uỷ, từ chi uỷ viên, bí thư chi bộ đến Bí thư xứ uỷ Nam Bộ, những đảng viên từng trải hoạt động bí mật ở miền Nam vẫn ém lại. 


Chỉ nêu vài cấp uỷ gộc được ém lại miền Nam để gây dựng lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, phát động cuộc nội chiến lật đổ nhà nước không cộng sản ở phía Nam, nhuộm cả lãnh thổ Việt Nam xanh tươi thành một màu máu, màu cộng sản. 


Ém lại cả cơ quan đầu não Xứ uỷ Nam Bộ, bí thư Lê Duẩn, phó bí thư Nguyễn Đức Thuận, Thường vụ xứ uỷ Phạm Văn Xô, Phan Văn Đáng, Hoàng Dư Khương. Bí thư khu uỷ Sài Gòn Chợ Lớn, Trần Quốc Thảo. Bí thư đặc khu Sài Gòn – Gia Định, Nguyễn Văn Linh. Khu uỷ viên Xứ uỷ Nam Bộ kiêm Phó bí thư liên tỉnh uỷ Vĩnh Long – Cần Thơ, Võ Văn Kiệt. Phó Bí thư khu uỷ khu Năm, Võ Chí Công. Bí thư tỉnh uỷ Quảng Nam, Hồ Nghinh. Bí thư tỉnh uỷ Kon Tum, Trần Kiên. Phó Bí thư tỉnh uỷ Bến Tre, Nguyễn Thị Định. Phó bí thư tỉnh uỷ Quảng Ngãi, Nguyễn Phú Soại. Thường vụ tỉnh uỷ Tây Ninh, Hoàng Lệ Kha. Uỷ viên khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Trần Văn Kiểu. Bí thư quận uỷ quận Ba, Nguyễn Thị Ráo. . . Cùng với ém lại những hạt nhân tập hợp, lãnh đạo quần chúng cách mạng là chôn lại những hầm súng đạn ở đồng bằng. Chôn lại cả những hầm muối trên cao nguyên miền Trung.


Ở lại miền Nam, thống lĩnh lực lượng chìm hùng hậu, những xứ uỷ, khu uỷ, tỉnh uỷ, những tư lệnh của đội quân quần chúng cách mạng còn ém lại, những kho vũ khí được chôn lại. Trên chiếc ghe nhỏ tự do dọc ngang khắp kênh rạch sông Tiền sông Hậu mênh mông đã mang lại cho anh Ba, Bí thư xứ uỷ Nam Bộ ngất ngây vui sướng trong cảm nhận đất trời sông nước này mãi mãi là giang sơn của cộng sản, giang sơn của xứ uỷ, giang sơn của anh Ba. Bình yên sống trong ngôi nhà cơ sở bí mật giữa trung tâm đô thành Sài Gòn nghe tiếng xe cuồn cuộn chạy ngoài đường phố mỗi sớm, nghe tiếng rao quà như tiếng thở của đêm Sài Gòn đã đem đến cho anh Ba, Bí thư xứ uỷ Nam Bộ cảm hứng rằng người dân Sài Gòn, người dân cả miền Nam đều là dân cộng sản của anh Ba. Cảm hứng đó đã cho Lê Duẩn niềm tin sắt đá vào lực lượng có trong tay, vào sức mạnh bạo lực. Cách mạng tháng tám 1945, Hồ Chính Minh làm sao có được lực lượng như Lê Duẩn có lúc đó. Cách mạng tháng tám đã thành công vang dội cả nước thì cách mạng miền Nam phải thành công vang dội cả thế giới. 


Với cảm hứng lạc quan vào lực lượng có trong tay, với niềm tin sắt đá vào bạo lực cách mạng, trong căn nhà dừa lộng gió sông nước Cửu Long giữa bát ngát bưng biền Nam Bộ, trong ngôi nhà bình yên của cơ sở đảng đường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao, giữa đô thành Sài Gòn, Lê Duẩn miệt mài viết đề cương cách mạng niềm Nam. Với anh Ba Lê Duẩn, cách mạng Việt Nam ở bất cứ đâu, miền Nam hay miền Bắc, ở bất cứ giai đoạn nào, thời cả nước một dải chống Pháp hay thời đất nước chia đôi, miền Nam trong thể chế không cộng sản Sài Gòn cũng chỉ có con đường bạo lực cách mạng đánh đuổi quân can thiệp, đánh sập chính quyền không cộng sản, cộng sản hoá cả đất nước Việt Nam, cộng sản hoá cả dân tộc Việt Nam. 


Đầu năm 1957, khi được gọi ra Hà Nội chuẩn bị cho đại hội Ba của đảng, Lê Duẩn đã có trong tay phác thảo đầu tiên của văn bản sau này được gọi là nghị quyết 15 lịch sử, nghị quyết lấy bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền không cộng sản ở miền Nam, thống nhất đất nước, áp đặt chính quyền cộng sản trên cả nước Việt Nam.


BA. NGHỊ QUYẾT 15/1959 THỔI BÙNG LÊN NGỌN LỬA NỘI CHIẾN VIỆT NAM 1960–1975


Đi con đường vòng. Theo đường bộ Lê Duẩn bí mật đến Phnông Pênh, Cambodia. Từ Phnông Pênh lên máy bay đến Quảng Châu, Trung Quốc. Quảng Châu tuy là đất Trung Quốc nhưng là Trung Quốc của giai cấp vô sản. Ngày đó các nước cộng sản đều còn nghèo đói, còn cắm mặt lo miếng ăn, còn êm ả, hoà thuận với nhau, thế giới cộng sản còn là phiên chợ đang đông vui. Quan san muôn dặm một nhà / Bốn phương vô sản đều là anh em. Thơ Hồ Chí Minh viết thời đó. Đường từ Quảng Châu về Hà Nội đang thênh thang, khỏi bận tâm. Tháng tư, 1957 Lê Duẩn về đến Hà Nội. 

Đường lối cách mạng miền Nam do Lê Duẩn soạn thảo được đưa ra ở hội nghị trung ương lần thứ 15 bàn bạc lần đầu tháng giêng, 1959. Sau lần bàn bạc thứ hai, tháng bảy, 1959, ngoài mặt được toàn thế chấp nhận, thông qua, trở thành nghị quyết trung ương 15/1959. Ngoài mặt vì nghị quyết 15 được toàn thể hội nghị biểu quyết thông qua nhưng trong thảo luận còn có vài lương tâm nhỏ bé lên tiếng rằng bạo lực giải phóng miền Nam là bạo lực người Việt với người Việt. Lương tâm bé bỏng, lẻ loi băn khoăn cho số phận giống nòi Việt Nam trong máu lửa bạo lực cách mạng nào có ý nghĩa gì giữa những con người chỉ biết có giai cấp, cần bộc lộ ý chí cách mạng, kiên định lập trường giai cấp. Vì vậy khi biểu quyết, lương tâm bé bỏng, lẻ loi phải thuận theo ý chí số đông. 

4.1957–1.1959, gần hai năm. Khi trong căn phòng rộng, yên tĩnh trên lầu nhà số 6 phố Hoàng Diệu có cửa sổ hướng về hoàng thành Thăng Long, lại có cửa sổ đón ngọn gió mát dịu hơi nước sông Hồng. Khi trong biệt thư nhà nghỉ của trung ương đảng ở Quảng Bá dào dạt gió Hồ Tây. Khi trong toà villa duyên dáng kiến trúc Pháp trên ngọn đồi khu Đông Đồ Sơn, Hải Phòng  nhìn ra vịnh Bắc Bộ. Ở những nơi có không gian và điều kiện tốt nhất cho tư duy, Lê Duẩn sửa đi sửa lại dự thảo đường lối cách mạng miền Nam. Càng sửa càng tô đậm, càng khẳng định bạo lực là tư tưởng xuyên suốt của chủ nghĩa Mác Lê nin, là sách lươc phải kiên định, là công cụ phải nắm chắc, là con đường duy nhất và ngắn nhất bảo đảm chiến thắng cho cách mạng miền Nam. Chỉ có bạo lực cách mạng vô sản Việt Nam mới loại bỏ được nhà nước không cộng sản ở phía Nam, nhanh chóng đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội.

Tháng bảy, 1959 nghị quyết 15/1959 mới được chính thức thông qua nhưng thực ra với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán của Lê Duẩn, người hùng cách mạng miền Nam, với quyền uy và ảnh hưởng trong đảng của anh Ba Lê Duẩn, ngay từ tháng giêng 1959, ngay từ lần đầu đường lối cách mạng miền Nam của Lê Duẩn chính thức trình ra hội nghị trung ương, linh hồn bạo lực của Lê Duẩn, linh hồn bạo lực của hội nghị trung ương tháng giêng, 1959 đã là linh hồn của đảng. 

Tháng năm, 1959, với linh hồn bạo lực của hội nghị trung ương tháng giêng 1959, đại tá Võ Bẩm người cộng sản quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi cùng bộ tham mưu ngồi xe com măng ca vào miền Tây Quảng Bình rồi rời xe, chống gậy, leo núi, vượt những con suối đầu nguồn sông Bến Hải, vượt vĩ tuyến 17, đi về phía Nam mở con đường mòn Trường Sơn đưa quân và vũ khí xâm nhập lãnh thổ nhà nước không cộng sản phía Nam. Con đường mang kí hiệu 559, ghi nhớ năm tháng con đường ra đời, tháng năm, năm 1959.

Tháng bảy, 1959, vừa từ Trường Sơn về Hà Nội, đại tá Võ Bẩm lại xuống Hải Phòng gặp cục trưởng cục Hải quân, đại tá Tạ Xuân Thu và đảng uỷ Hải quân hoạch định việc mở con đường biển bí mật đưa vũ khí vào miền Nam. 

Phải thiết kế và đóng mới những con tàu đặc biệt cho nhiệm vụ đặc biệt. Phải mở bến bãi ở hai đầu, đặc biệt là bến bãi bí mật, an toàn phía Nam. Phải chọn và đào tạo con người. Mãi tháng mười, năm 1961 đơn vị hải quân vận tải vũ khí công khai trên đường biển nhưng bí mật cập vào bến bãi phía Nam mới ra đời và chở chuyến súng đạn đầu tiên vào miền Nam. Đơn vị có phiên hiệu là đoàn 759, ghi nhớ tháng bảy năm 1959, thời điểm con đường ra đời trong hoạch định của đảng uỷ Hải quân, trong ý chí tiến công cách mạng của nghị quyết 15/1959. Nhưng trong ngôn ngữ những người trong cuộc và trong lịch sử cuộc nội chiến Nam Bắc, đơn vị Hải quân chuyển vũ khí vào miền Nam thường được gọi là Đoàn Tàu Không Số. Những con tàu không số sức chở 50 tấn đưa súng đạn từ bến bãi bí mật trong rừng sú vẹt Thuỷ Nguyên, Hải Phòng vào Sa Kỳ, Quảng Ngãi, Vũng Rô, Phú Yên, Lộc An, Bà Rịa, Thạnh Phong, Bến Tre, Gành Hào, Cà Mau.  

Có nghị quyết 15/1959. Có con người và vũ khí từ miền Bắc tiếp sức, lực lượng bạo lực cộng sản phát triển khắp miền Nam. Nguyễn Thị Định đã là bí thư tỉnh uỷ Bến Tre. Ngày 17.1.1959 bí thư tỉnh uỷ Bến Tre Nguyễn Thị Định phát lệnh cho du kích xã Bình Thuỷ, huyện Mỏ Cày nổ súng chống lại đội quân của nhà nước không cộng sản Sài Gòn. Tiếng súng ở Bình Thuỷ, Mỏ Cày, Bến tre ngày 17.1.1960 như tiếng súng lệnh mở đầu cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai, mở đầu cuộc chiến tranh trên cả miền Nam, trên cả nước, kéo dài 15 năm nên được những người cộng sản tôn vinh là tiếng súng Đồng Khởi. Bến Tre trở thành quê hương Đồng Khởi và được coi như là Xô Viết Nghệ Tĩnh của Nam Bộ. 

Diễn giải những chứng cứ lịch sử ở trên để thấy rõ rằng Nghị quyết 15/1959 đã khơi dòng cho những nguồn thác lũ bạo lực từ nhà nước cộng sản miền Bắc ồ ạt đổ vào lãnh thổ nhà nước không cộng sản miền Nam. Nghị quyết 15/1959 đã khơi ra dòng máu người Việt xối xả chảy suốt 15 năm, 1960–1975. Và cuộc chiến tranh Việt Nam 1960–1975 do những người cộng sản nắm quyền lực nhà nước cộng sản ở phía Bắc Việt Nam phát động thôn tính nhà nước không cộng sản ở phía Nam thực sự là cuộc nội chiến tương tàn. 

Nhưng để giành chính nghĩa về mình, để kích thích lòng yêu nước của người dân, hút kiệt máu dân vào cuộc chiến tranh áp đặt ách cai trị cộng sản trên cả nước, cả hệ thống tuyên truyền nhà nước cộng sản miền Bắc đã đánh tráo ngôn từ, đánh tráo khái niệm, biến cuộc chiến tranh độc ác giành độc quyền cai trị Việt Nam của những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam thành cuộc chiến tranh hào hùng giải phóng dân tộc, thành cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước!

Còn những nhà nghiên cứu chính trị xã hội trên thế giới vốn ngoài cuộc, thiếu thực tế lại thừa mỹ từ chữ nghĩa thì định tên cho cuộc chiến tranh Việt Nam 1960–1975 là cuộc chiến tranh uỷ nhiệm. Lực lượng cộng sản độc tài quốc tế uỷ nhiệm cho Bắc Việt Nam và lực lượng tư bản dân chủ thế giới uỷ nhiệm cho Nam Việt Nam tiến hành chiến tranh phân định thắng bại của hai ý thức hệ cộng sản và tư bản. 

Thực tế chiến tranh Việt Nam 1960–1975 là tham vọng quyền lực, tham vọng đế vương của lãnh đạo cộng sản áp đặt ách cai trị cộng sản lên cả dân tộc Việt Nam. Tất cả chính quyền về tay giai cấp công nông và tham vọng quyền lực nung nấu nhất, lớn nhất ở ông nông dân Lê Duẩn. Chỉ có bạo lực, ông nông dân Lê Duẩn quyết lấy bạo lực đấu tranh giai cấp đưa ông lên ngôi đế vương cộng sản phong kiến phương Nam.  Không có lực lượng chính trị nào uỷ nhiệm cho ông nông dân Lê Duẩn phải trở thành bạo chúa bằng máu người dân.

Tham vọng thống trị cả nước Việt Nam, lấy máu người dân Việt Nam thâu tóm giang sơn rồi lại lấy thân xác người dân Việt Nam làm chuột bạch trong cuộc thí nghiệm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tham vọng quyền lực thống trị cả nước Việt Nam là tham vọng tội ác của đảng cộng sản. Không có thế lực chính trị nào được phép uỷ nhiệm cho tội ác được thi thố. 

Chiến tranh Việt Nam 1960–1975 là cuộc chiến tranh giữa hai nửa dân số Việt Nam. Một nửa dân số bị lừa dối, u mê đổ máu cho tham vọng độc tài của lãnh đạo cộng sản Việt Nam và nửa dân số phải chiến đấu ngăn chặn hoạ cộng sản, giữ gìn những giá trị của xã hội dân chủ văn minh. Máu người Việt Nam cũng là máu loài người. Đau thương của dân tộc Việt Nam cũng là đau thương của mọi dân tộc trên thế giói. Không ai có quyền uỷ nhiệm cho người dân Việt Nam phải chịu đau thương, đổ máu.


BỐN.  NGHỊ QUYẾT 9/1963 XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG BẠO LỰC THEO MAO, CHỐNG LIÊN XÔ, NGUỴ TẠO VỤ ÁN XÉT LẠI CHỐNG ĐẢNG, BẠO LIỆT DIỆT TRỪ NHỮNG NHÂN CÁCH CÒN SÓT LẠI TRONG TỔ CHỨC CỘNG SẢN VIỆT NAM

Sau cái chết của Stalin, người đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô, từ 1953 quyền lực Bí thư thứ nhất đảng cộng sản Liên Xô thuộc về Nikita Khrushev. Năm 1956, tại đại hội 20 đảng cộng sản Liên Xô, Nikita Khrushchev đã cho nổ quả bom rung chuyển cả thế giới cộng sản bằng bản báo cáo chính trị lịch sử. Báo cáo chính trị của Khrushchev về đối nội gay gắt chống tệ sùng bái cá nhân Stalin. Đối ngoại khởi xướng chủ trương chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. 

Chủ nghĩa cộng sản của ông Mác là cộng sản công nghiệp hiện đại. Theo ông Mác, khi chủ nghĩa tư bản đi vào công nghiệp hiện đại, phát triển đến tột cùng và gây chiến tranh đế quốc thôn tính nhau, trở thành thây ma lịch sử. Giai cấp công nhân công nghiệp hiện đại được đảng cộng sản lãnh đạo phải làm sứ mệnh lịch sử là đào mồ chôn thây ma tư bản, xây dựng thế giới cộng sản, mùa xuân nhân loại. Nhưng cộng sản của Lénin, Stalin, Mao Trạch Đông chưa qua văn minh công nghiệp là cộng sản phong kiến. 

Bạo lực đấu tranh giai cấp đưa lãnh đạo cộng sản phong kiến lên ngôi đế vương. Đế vương cộng sản dùng chuyên chính vô sản cai trị dân trong nước và gây chiến tranh thế giới mở rộng không gian cai trị. Muốn có quyền uy cai trị phải sùng bái cá nhân. Sùng bái cá nhân và chiến tranh là bản chất, là sự sống của cộng sản phong kiến. Nay Khrushchev lên án sùng bái cá nhân, hạ bệ đế vương cộng sản và hoà hoãn đấu tranh giai cấp, chung sống hoà bình với các nước trên thế giới là Khrushchev đã xoá bỏ cộng sản phong kiến khi cộng sản phong kiến đang ở đỉnh cao phát triển, đang ở đỉnh điểm thịnh trị và đỉnh điểm phát triển thế giới cộng sản phong kiến chính là sự kiện cộng sản phong kiến được mở rộng tới tận Cuba sát nách Mỹ ở Tây bán cầu, năm 1959.

Đại hội 20 đảng cộng sản Liên Xô mở đầu xung đột, chia rẽ, tan rã trong hệ thống cộng sản thế giới và xung đột trực tiếp, quyết liệt, dẫn đến đổ máu là xung đột Xô – Trung. Sau thời Stalin thì Mao Trạch Đông là bậc đế vương cộng sản phong kiến điển hình nhất, đảng cộng sản Trung Quốc là triều đình cộng sản phong kiến tàn bạo, man rợ nhất và xã hội Trung Quốc là xã hội cộng sản phong kiến Trung cổ tối tăm nhất, lầm than nhất.  

Với dân số lớn nhất thế giới, chiếm một phần tư dân số thế giới, với đảng số ngày càng chiếm tỉ lệ lớn trong đảng số cộng sản thế giới, ngay sau khi làm chủ đại lục Trung Hoa, 1949, Mao Trạch Đông đã rắp tâm giành vai trò trung tâm thế giới cho đất nước Trung Hoa và giành quyền lãnh đạo cộng sản thế giới của đảng cộng sản Liên Xô bằng kích thích bạo lực, phát động chiến tranh cục bộ trên khắp thế giới. Chiến tranh tàn phá làm suy yếu thế giới để Trung Quốc hoà bình phát triển lớn mạnh. Khrushchev chủ trương thế giới chung sống hoà binh trái với mưu đồ của Mao nhưng cũng là thời cơ tốt nhất để cộng sản Trung Quốc phát động thế giới cộng sản chống đảng cộng sản Liên Xô, giành lấy lá cờ lãnh đạo cộng sản thế giới đang phấp phới bay trên đỉnh tháp Kremlin đưa về cắm giữa quảng trường Thiên An Môn.

Thế giới cộng sản phân rã vì sự kích động của cộng sản Trung Quốc. Tháng mười một, 1960, Khrushchev tổng tư lệnh các tổ chức cộng sản thế giới liền triệu tập hội nghị cộng sản thế giới thống nhất tư tưởng và hành động chung sống hoà bình cho các tổ chức cộng sản thế giới.

Trước đó hai tháng, tháng chín, 1960, đại hội ba đảng Lao động Việt Nam đưa Lê Duẩn lên là người thực sự nắm quyền lực cao nhất trong đảng, Bí thư thứ nhất ban chấp hành trung ương. Trong nội bộ tổ chức cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ còn vị trí danh dự, hình thức, chủ tịch đảng, như vua ở nuóc Anh ngày nay mà thôi.

Trở thành người nắm thực quyền cao nhất trong tổ chức cộng sản Việt Nam nhưng với cộng sản quốc tế, Lê Duẩn vẫn chỉ là kẻ vô danh. Thế giới cộng sản chỉ biết có Hồ Chí Minh. Tháng chín, 1960, Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ nhất trong tổ chức cộng sản Việt Nam. Nhưng tháng mười một, 1960, Lê Duẩn chỉ là nhân vật thứ hai trong đoàn cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh dẫn đầu đến Moskva dự hội nghị 81 đoàn cộng sản thế giới quán triệt sách lược mới của cộng sản thế giới do đảng cộng sản Liên Xô vạch ra: Chung sống hoà bình giữa các chế độ chính trị khác nhau. Không chạy đua vũ trang, chỉ chạy đua kinh tế. Thay đối đầu bằng hợp tác. 

Trong đoàn cộng sản Việt Nam đến Moskva nhận chỉ thị của Khrushchev ngoài nhà đường lối Lê Duẩn còn có nhà lí luận Trường Chinh và nhà hành động Nguyễn Chí Thanh. Đoàn cộng sản Việt Nam kí tên trong Tuyên bố chung của hội nghị cộng sản quốc tế về thời kì thế giới chung sống hoà bình, bên cạnh chữ kí Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng còn có chữ kí của nhà đường lối Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất ban chấp hành trung ương đảng. 

Nghị quyết 15/1959 của Lê Duẩn phát động chiến tranh xoá bỏ nhà nước không cộng sản miền Nam trở thành sai trái, lạc lõng với Tuyên bố chung Moskva 11.1960. Theo đường lối thế giới chung sống hoà bình của Liên Xô thì phải huỷ bỏ nghị quyết 15/1959. Nhưng nghị quyết 15/1959 còn là sự khẳng định rằng tư tưởng, sách lược của Lê Duẩn là tư tưởng sách lược của đảng. Lê Duẩn là đảng. Nghị quyết 15/1959 đã thực sự đưa Lê Duẩn lên nắm toàn quyền thống lĩnh, chỉ huy trong đảng. Không có vốn văn hoá để có lí luận, Lê Duẩn chỉ có bạo lực. Loại bỏ bạo lực là loại bỏ Lê Duẩn. Loại bỏ nghị quyết 15/1959 là loại bỏ vai trò thống lĩnh, chỉ huy đảng của Lê Duẩn. Dù kí tên vào Tuyên bố chung Moskva 1960 thế giới chung sống hoà bình nhưng làm sao Lê Duẩn có thể chấp nhận Tuyên bố chung Moskva 1960!

Lê Duẩn (áo mầu sẫm, bên phải) và Mao Trạch Đông

May mắn cho Lê Duẩn là toan tính bạo lực của Lê Duẩn lại phù hợp với toan tính thế giới đại loạn, Trung Quốc đại trị của Mao Trạch Đông. Bạo lực làm thế giới bất ổn và chia rẽ để Trung Quốc âm thầm phát triển, lớn mạnh đứng đầu thế giới, dẫn dắt thế giới. Có chỗ dựa là đảng cộng sản Trung Quốc, là chủ trương phát động thế giới bạo loạn của Mao Trách Đông, Lê Duẩn cho đám thư lại giáo điều thảo nghị quyết chống chủ nghĩa Xét lại hiện đại, thực chất là chống lại Tuyên bố Moskva 1960 và trở thành nghị quyết trung ương 9/1963.

Nghị quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại đưa ra các hội nghị cấp cao của đảng đã gặp làn sóng phản đối mạnh mẽ chưa từng có từ những nhà lí luận có học hành bài bản nguyên lí chủ nghĩa Mác – Lê nin, có trí tuệ thực sự của đảng như Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiên Giang, Minh Tranh đến hàng loạt sĩ quan quân đội cấp cao, những người lính xuất thân từ trí thức, học sinh, tiểu tư sản thành thị đi kháng chiến, không xuất thân từ bần cố nông như ông tá điền Nguyễn Chí Thanh nay mang hàm đại tướng. Chưa bao giờ trong nội bộ cấp cao cộng sản Việt Nam có chuyện đường lối, chủ trương, nghị quyết do lãnh đạo đảng đưa ra lại gặp làn sóng phản đối mạnh mẽ như vậy. Ngay cả chủ trương sai lầm tệ hại gây tổn thất nặng nề cả lực lượng và uy tín cộng sản là cải cách ruộng đất cũng không bị phản đối dữ dội và gây bất ổn, chia rẽ trong đảng như nghị quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại.

Quá trình thảo luận nghị quyết 9/1963 chống chủ nghĩa xét lại hiện đại cho thấy những cán bộ cộng sản xuất thân nông dân ít học, đời đời kiếp kiếp sống dưới đáy xã hội, nhờ cách mạng vô sản, nhờ bạo lực đấu tranh giai cấp đưa giai cấp vô sản lên nắm quyền lực, họ mới có vị trí cao trong xã hội. Với họ, bạo lực là lẽ sống, đương nhiên họ là người của nghị quyết 9/1963. Những người có trí tuệ, có hiểu biết, đã sống trong xã hội chớm bước vào văn minh công nghiệp, văn minh đô thị, biết quí trọng giá trị cuộc sống và giá trị làm người, có tầm nhìn lịch sử đều thấy bạo lực không những là giá máu quá đắt người dân Việt Nam ở hai chiến tuyến đều phải chi trả, mà bạo lực cộng sản phong kiến Mao Trạch Đông còn là thứ xiềng xích Bắc thuộc mới vô cùng hiểm độc. 

Giữa hai phái bạo lực và không bạo lực là rất đông những nhân cách thư lại, cơ hội, không có chính kiến riêng, chỉ lựa thời, gió mạnh chiều nào theo chiều đó. Với đảng cộng sản của đất nước nông nghiệp cổ hủ như Việt Nam, chỉ riêng thành phần cố nông đã chiếm số lượng áp đảo, lại thêm đám thư lại xu thời nhiều như cỏ dại thì nghị quyết mang ý chí bạo lực của Lê Duẩn phải thắng thế là dĩ nhiên. Quá trình đi đến nghị quyết 9/1963 cũng hình thành một liên minh quyền uy Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất – Lê Đức Thọ, uỷ viên bộ Chính trị, trưởng ban Tổ chức trung ương – Nguyễn Chí Thanh, uỷ viên bộ Chính trị, đại tướng, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Dư luận dai dẳng đồn đại có hai nhân vật cộng sản hàng đầu công khai không biểu quyết nghị quyết 9 của Ba Duẩn là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. 

Là nhân vật tiếng tăm ở hàng lãnh tụ cộng sản thế giới, Hồ Chí Minh đã đặt bút kí Tuyên bố Moskva 1960, ông không thể biểu quyết nghị quyết 9/1963 chống Tuyên bố Moskva 1960 cũng là lẽ đương nhiên. Hồ Chí Minh không thể nhục nhã xoá bỏ chữ kí của mình trong Tuyên bố Moskva 1960, không thể hèn nhát tự phản bội, tự bôi nhọ danh dự, uy tín Hồ Chí Minh trước thế giới cộng sản. Còn tướng Giáp? 

Thời tướng Giáp lĩnh ấn thống lĩnh ba quân đánh Điện Biên Phủ thì Lê Liêm là tướng chính trị và Đặng Kim Giang là tướng hậu cần đứng ngay sau lưng tướng Giáp ở sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Về Hà Nội, tướng Giáp ngồi ghế bộ trưởng trong hành dinh bộ Quốc phòng thì đại tá Lê Minh Nghĩa là chánh văn phòng bộ, đại tá Đỗ Đức Kiên là cục trưởng cục Tác chiến, đại tá Lê Trọng Nghĩa là cục trưởng cục Quân báo. Trong chiến tranh và trong hoà bình, các tướng tá nhiều tài năng và công lao Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Lê Minh Nghĩa, Đỗ Đức Kiên, Lê Trọng Nghĩa là những chiến hữu tin cậy, trung thành nhất, những cấp dưới thân cận, gần gũi  nhất của tướng Giáp. 

Lê Duẩn (áo mầu sẫm, bên phải) và Mao Trạch Đông

Khi liên minh ma quỉ Duẩn Thọ Thanh lộng hành nguỵ tạo ra vụ án xét lại chống đảng, trả thù những người không tán thành nghị quyết 9, bắt giam, tù đày hàng loạt sĩ quan thân tín, gắn bó với tướng Giáp như Đặng Kim Giang, Lê Minh Nghĩa, Đỗ Đức Kiên, Lê Trọng Nghĩa . . . thì trung tướng, thứ trưởng bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh đã khảng khái lên tiếng bảo vệ những người lính trung thực và đầy công lao bị nạn oan khuất. Dù bị Duẩn, Thọ, Thanh khai trừ đảng, tước chức thứ trưởng và hàm trung tướng, Nguyễn Văn Vịnh đã để lại cho đời nét đẹp nhân cách, để lại tiếng thơm trong lịch sử. Còn tướng Giáp thì im lặng nín thở giấu kín thái độ, bó thân giao mình cho quyền uy, bỏ mặc đồng đội, bỏ mặc cấp dưới bị nạn tai bay hoạ gió. Con người bạc nhược, ươn hèn trong chính trường như vậy làm sao tướng Giáp dám không biểu quyết nghị quyết 9 của liên minh quyền uy DuẩnThọ Thanh.

Bất kì vấn đề gì đặt ra cho nhiều người đều có những ý kiến trái chiều là đương nhiên, bình thường. Những người có ý kiến xuôi ngược với nghị quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại của Lê Duẩn đều cùng trong một tổ chức cách mạng, cùng một chí hướng, một lí tưởng, một sự nghiệp. Tranh luận gay gắt, nảy lửa đến đâu rồi cũng ổn thoả và đồng lòng thực thi theo quyết định của số đông. Nghị quyết 9/1963 đã được biểu quyết theo số đông và trở thành linh hồn của đảng. Nhưng với ông đế vương cộng sản phong kiến Lê Duẩn như vậy vẫn chưa đủ. Phải cho những kẻ không tán thành nghị quyết 9/1963 của Ba Duẩn hiểu rằng Ba Duẩn là đảng, chống Ba Duẩn là chống đảng, là kẻ thù giai cấp. Chống Ba Duẩn thì chỉ có thân bại danh liệt. 

Tiếng súng cách mạng bạo lực đang rung chuyển khắp miền Nam. Cách mạng bạo lực ở miền Nam đang cần máu người Việt cả nước, lại càng cần súng đạn của Trung Quốc, súng đạn của bác Mao. Trừng trị thân bại danh liệt những kẻ không tán thành nghị quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại còn để làm hài lòng Mao, để Ba Duẩn tâu với Mao rằng Ba Duẩn quyết đi theo con đường bạo lực cách mạng của Mao, quyết thẳng tay diệt trừ những kẻ hèn nhát, ảo tưởng, muốn hoà hoãn, thoả hiệp với kẻ thù của giai cấp vô sản thế giới.

Viện trưởng viện triết học Hoàng Minh Chính hai lần gửi kiến nghị cho hội nghị trung ương do Ba Duẩn triệu tập. Kiến nghị đầu phê phán nghị quyết 9/1963 chống lại Tuyên bố Moskva 1960 mà Hồ Chí Minh và Lê Duẩn đã kí kết đồng thuận. Kiến nghị sau phân tích đường lối quốc tế sai trái của đảng Cộng sản Trung Quốc. Liên minh quyền lực Duẩn  Thọ Thanh không có lí luận, chỉ có bạo lực và bạo lực đã lên tiếng đáp trả tác giả hai bản kiến nghị chặt chẽ luận cứ khoa học bằng 12 năm tù đày không xét xử, không bản án. Nhà triết học số một của đảng sau 12 năm bị nhục hình cả thể xác và nhân phẩm, còn bị quản chế thêm 8 năm.

Thiếu tướng, phó chủ nhiệm tổng cục Hậu cần trong chiến tranh, thứ trưởng bộ Nông trường trong hoà bình Đặng Kim Giang bị tù đày không xét xử, không bản án, bị nhục hình suốt 7 năm đến khi đổ bệnh hiểm nghèo mới được trả về nhà chờ chết và tướng Giang đã chết giữa đêm mưa đầu mùa hạ năm 1983, trong căn nhà mười bốn mét vuông dột nát ở ngõ nghèo Liên Phái, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xác đặt trong quan tài rẻ tiền, ván vừa vênh vừa nứt, hở đầu, hở chân.

Phó bí thư thành uỷ, phó chủ tịch uỷ ban hành chính thành phố Hà Nội Trần Minh Việt sang học trường đảng cộng sản Liên Xô, viết tay tiếng Nga luận văn phó tiến sĩ phát hiện và phân tích về căn bệnh mãn tính của cộng sản Việt Nam: Chủ Nghĩa Giáo Điều Ở Việt Nam. 

Cái được gọi là luận văn khoa học của những nhà chính trị cộng sản thường chỉ là xào xáo lại những văn bản chính trị mòn cũ đã có. Luận văn chỉ để đầy đủ hồ sơ cho ra đời một học vị khoa học của một nhà chính trị cộng sản liền chìm ngay vào quên lãng. Nhưng luận văn Chủ Nghĩa Giáo Điều Ở Việt Nam của nhà chính trị Trần Minh Việt đã có nhiều phát hiện tinh tế và nhận định sắc sảo về thứ lí luận cộng sản rập khuôn, vay mượn đang mang lại những tai hoạ lớn cho cách mạng Việt Nam. Vì vậy bản tiếng Việt Về Chủ Nghĩa Giáo Điều Ở Việt Nam đã được lan truyền trong giới chính trị thức thời ở Hà Nội. Lập tức bản luận văn viết ở trường đảng cộng sản Liên Xô từ hơn hai năm trước bị đám DuẩnThọ Thanh vu cho là “Cương lĩnh chính trị của tổ chức xét lại chống đảng”. 

Bị tống ngục Hoả Lò cùng tác giả Chủ Nghĩa Giáo Điều Ở Việt Nam còn có vợ chồng nhà trí thức, nhà báo Phạm Viết, phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới và vợ là giảng viên tiếng Anh trường đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, Nguyễn Thị Ngọc Lan, vì tội không giao nộp luận văn Chủ Nghĩa Giáo Điều Ở Việt Nam cho công an. 

Thời kháng chiến chống Pháp, ông Phạm Viết và bà Ngọc Lan cùng là đảng viên cộng sản hoạt động bí mật cho kháng chiến trong nội thành Hà Nội. Ông là thương binh chống Pháp. Bà ba lần bị Pháp bắt tống ngục Hoả Lò. Biết rõ bà là cộng sản hoạt động trong tổ chức Việt Minh chống Pháp nhưng ba lần xét xử không đủ chúng cứ buộc tội, toà án thuộc địa Pháp phải tuyên vô tội, trả tự do cho bà. Nay thời cộng sản, vợ chồng ông bà Phạm Viết, Ngọc Lan lại bị vào xà lim Hoả Lò vì một luận văn khoa học hợp pháp được lưu trữ đàng hoàng trong kho tư liệu trường đảng cộng sản Liên Xô. Sau hai năm tù không xét xử, không bản án, bà Ngọc Lan được nhận tờ giấy ra tù về nhà còn chồng bà, phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Viết phải trải qua hết nhà tù này đến nhà tù khác. Khi nhà báo Phạm Viết chết ở nhà tù Phú Sơn, Thái Nguyên, bà Ngọc Lan chạy hết các cửa xin xác chồng đưa về quê. Lời cầu xin tâu lên đến Bí thư thứ nhất Lê Duẩn. Tàn bạo với đồng chí, đồng đảng đến tận cùng, dù đồng chí, đồng đảng đã chết, chỉ còn cái xác, Duẩn cũng không tha. Xác nhà báo Phạm Viết được bạn tù đặt trong chiếc hòm mỏng manh đóng bằng những tấm ván nhặt nhạnh rồi bạn tù đưa ra chân đồi cạnh nhà tù vùi xuống sỏi đá!

Những thủ lĩnh cộng sản thừa quyền uy, thừa bạo lực nhưng thiếu trí tuệ đều ngấm ngầm đố kị, hậm hực căm ghét trí thức. Nhân ngụỵ tạo ra vụ án mơ hồ Xét lại chống đảng, liên minh quyền uy DuẩnThọThanh tiện thể liền đẩy hàng loạt trí thức vào vụ án để ra uy. Nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà biên kịch điện ảnh Vũ Huy Cương, nhà báo Bùi Ngọc Tấn đều không phải đảng viên cộng sản. Nhà báo Trần Châu, nhà báo Lưu Động, đạo diễn điện ảnh Huy Vân, bác sĩ Phan Thế Vấn dù là đảng viên cộng sản nhưng chẳng liên quan gì đến xét lại, chẳng ho he gì về nghị quyết 9/1963. . . cũng bị công an xông vào nhà còng tay tống vào tù mút mùa. Chín năm thân tù nhà văn Vũ Thư Hiên phải qua đủ các nhà tù cộng sản ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, từ nhà tù của công an đến nhà tù quân đội. Đến lúc cầm giấy ra tù nhà văn Vũ Thư Hiên cũng không biết bị tù về tội gì.

Liên minh ma quỉ DuẩnThọThanh ngụỵ dựng lên vụ án Xét lại chống đảng không xét xử, không bản án đã tống vào ngục tù đầy đoạ thân xác, xúc phạm nhân phẩm hơn ba trăm nhân cách, hơn ba trăm trí tuệ như vậy, trong đó có hơn ba mươi lãnh đạo cộng sản cấp cao.


(còn tiếp)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét