Thứ Ba, 29 tháng 11, 2022

Song Chi: Nhà thơ, nhà phê bình văn học Inrasara và những nỗi niềm ưu tư của người Cham

Sinh ra tại làng ChaklengMỹ Nghiệp, thuộc tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam, một trong những làng Cham cổ nhất, Inrasara (Phú Trạm) không chỉ là một nhà thơ, nhà phê bình văn chương nổi tiếng người Việt gốc Cham. Sáng tác của ông luôn là sự tìm tòi kết nối giữa hai dòng ngôn ngữ ViệtCham, giữa việc bảo tồn bản sắc văn hóa cổ Cham và việc cổ suý những cái mới trong văn học nghệ thuật đương đại Việt Nam và thế giới, như Tân hình thức, Hậu hiện đại... 

Nhưng điều đáng nói hơn, ông còn đóng góp rất nhiều trong việc lưu giữ văn học Cham hơn 40 năm nay, qua việc nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, truyền bá văn học và ngôn ngữ Cham, cũng như luôn đồng hành với những vấn đề của cộng đồng Cham trong lòng xã hội Việt Nam…

(Về tên gọi, theo nhà thơ Inrasara, trước đây dân tộc này được gọi là Chiêm, Chàm, Hời, mãi đến năm 1979, do ngộ nhận rằng “Chàm, Hời” có tính miệt thị, nên được đổi thành Chăm. Gọi CHAM là chuẩn nhất, thứ nhất, Champa lược bớt âm tiết tên cuối thành Cham, thứ hai viết bằng chữ Cham Akhar thrah cũng được thể hiện là CHAM. Trong bài phỏng vấn, chúng tôi chấp nhận cách gọi này).


Nhà thơ, nhà phê bình văn học Inrasara.
Photo: Lê Anh Hoài.
Song Chi: Thưa nhà thơ Inrasara, anh có thể nói về những thách thức của cộng đồng Cham trong việc duy trì, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa, bản sắc Cham?


Inrasara: Nói đến Cham, ta cần xác định, đó là Cham nào?

Qua quá trình Nam tiến của Đại Việt, Cham bị tứ tán khắp nơi:

Có thể kể 11 bộ phận:

Cham Hoa, khi Lý Kỳ Tông làm vua Champa cuối thế kỉ X, Cham qua Hải Nam.

Cham Kinh: tù nhân Cham bị đưa ra Bắc và ở lại qua các triều Lý, Trần, Lê…

Cham HroiChàm Cổ: ở Phú Yên, Khánh Hòa, khi Lê Thánh Tông chiếm Đồ Bàn.

Cham Malaysia ở Kelantan thời Po Rome, và đi từ Cambodia sau năm 1975. 

Cham Thái ở Baan Krua, Bangkok, Thái Lan. 

Cham Kur (Khmer Islam): đi nhiều đợt khác nhau, 1692: 5.000 gia đình di cư sang Cambodia, sau đó nhiều cuộc di cư nhỏ lẻ khác.

Cham Biruw (Chàm Mới) là Cham theo Islam, ở An Giang, Tây Ninh. 

Cham Churu ở Nam Lâm Đồng sau các cuộc khởi nghĩa thời Minh Mạng thất bại. Cham Ywơn đang sinh sống tại hai làng Canh Cụ ở Phan Rí - Bình Thuận.

Cham Pangduragga: gồm ba bộ phận Cham ở Ninh Thuận và Bình Thuận.

Cham Việt: là bộ phận Cham lai Việt có mặt suốt miền Trung.

Cham là dân tộc gồm nhiều cộng đồng: sự đa dạng về văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo. Thế nhưng tại sao tôi muốn nhấn về Cham Pangdurangga? Bởi đó là vùng đất cổ của Champa, cư dân Cham hiện nay sinh sống đông nhất, cộng đồng này còn giữ truyền thống văn hóa dân tộc từ thời xa xưa đồng thời là cộng đồng phát triển mạnh nhất cả về văn hóa lẫn kinh tế. 

Còn các cộng đồng Cham khác như “Cham Mới” (Cham Birau) ở An Giang, Tây Ninh, Sài Gòn hay Cham Hroi ở Phú Yên, Khánh Hòa mỗi bộ phận có nền văn hóa khác nhau. Nếu Cham Hroi tiếp nhận văn hóa và ngôn ngữ Bana vào cộng đồng mình, thì Cham Nam bộ tiếp nhận văn hóa Islam. Họ vẫn duy trì, bảo tồn được ngôn ngữ, văn hóa, bản sắc của mình. Ở đây không có ý phân biệt đối xử, tôi muốn nhấn vào 4 yếu tố: Trụ lại mảnh đất cũ, giữ truyền thống văn hóa dân tộc từ thời xa xưa đồng thời là cộng đồng phát triển mạnh nhất cả về văn hóa lẫn kinh tế, nhất là có nhiều công trình về văn hóa dân tộc mình.


Song Chi: Còn về vấn đề ngôn ngữ, chữ viết của người Cham, có những khó khăn nào thưa anh? 


Inrasara: Trước 1975, chữ Cham truyền thống ‘Akhar thrah’ cũng được dạy trong các trường Tiểu học, nhưng cứ năm đực năm cái. Thế hệ chúng tôi nhận được lối học đầy bất cập đó. Dẫu không bị cấm đoán, nhưng sự dạy và học không bài bản ấy thua xa chế độ mới.

Năm 1978, Ban Biên soạn sách chữ Cham được thành lập tại Ninh Thuận, về hành chính trực thuộc Sở Giáo dục còn chuyên môn do Bộ quản lí và chỉ đạo. Bộ sách Tiểu học Ngữ văn Cham được soạn thảo và chỉnh sửa nhiều lần dạy cho con em người Cham ở vùng cộng đồng Cham sinh sống, cả Ninh Thuận và Bình Thuận, rất hiệu quả. 

Nhưng rồi không hiểu nguyên cớ nào, tháng 7-2010 khi Phòng Giáo dục Dân tộc thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo được thành lập, Ban được chuyển về nơi đó, biên chế từ 13 giảm mạnh còn 5 để đến hôm nay chỉ còn một duy nhất! Bà con kêu Ban biên soạn sách chữ Cham bị giải thể không phải không lí do. 

Cộng đồng Cham có nét đặc thù riêng, bởi khác với nhiều dân tộc khác, Cham sở hữu chữ viết sớm và phát triển, Ban Biên soạn sách chữ Cham tồn tại là cần thiết cho nhiều việc liên quan đến ngôn ngữ và chữ viết, chứ không riêng việc dạy và học tiếng, chữ.


Song Chi: Theo anh, chính sách của nhà nước Việt Nam hiện nay đối với các sắc dân bản địa, cộng đồng thiểu số nói chung và người Cham nói riêng thế nào?


Inrasara: Hồi còn làm việc tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, trong buổi gặp mặt với giám đốc Viện Đông Nam Á Thái Lan, bà nhận xét rằng chính sách về dân tộc thiểu số của Việt Nam tốt hơn rất nhiều so với Thái Lan. Thực tế đúng như vậy, giáo sư Thawi, Việt kiều Thái cho biết, thập niên 1990 trở về trước, cộng đồng Việt còn bị cấm nói tiếng mẹ đẻ tại Thái Lan, mãi khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN năm 1995, tình trạng này mới giảm bớt rồi dứt hẳn.  


Nói chuyện văn chương Cham với sinh viên tại Sài Gòn, năm 2012. Photo: Nguyễn Á.


Ở buổi nói chuyện tại Đại học Okinawa, Nhật Bản, vào tháng 6-2019, có nhà báo hỏi “chính quyền người Việt đối xử phân biệt hay xem thường dân tộc Cham không?” tôi trả lời nguyên văn:

“Phân biệt đối xử” là các bạn dùng, chứ tôi thì không. Tôi chỉ kế 4 sự thật. 

Thuở chế độ Việt Nam Cộng hòa, Cham có hai quận riêng tự điều hành hiệu quả (có đòi nước non chi đâu mà sợ); có Trường Trung học Pô-Klong ‘dành riêng’ cho Cham phần nào đó tiếp nối được truyền thống giáo dục ông bà. Cả hai thứ, hôm nay biến mất. Rồi Trung tâm Văn hóa Chàm (trước 1975) dù do Cha xứ người Pháp dựng lên, đã thu hút cộng đồng Cham thường xuyên đến với nó. Chứ Trung tâm hiện nay to đùng, xài biết bao nhiêu tiền thuế của dân, bà con Cham đầu có ghé, bởi nó như thể một cơ sở hành chính, dân xa lánh như chùa Bà Đanh thì không có gì lạ.

Còn Đại biểu Quốc hội của Cham ba nhiệm kì dằng dặc hôm nay là ai? Có ma nào bắt gặp người đại biểu Cham ấy xuất hiện ở các điểm nóng của cộng đồng Cham, và lên tiếng cho cộng đồng chưa? Riêng sự vụ to cồ như Dự án Nhà máy Điện hạt nhân, bà còn trả lời báo chí chẳng biết gì về nó nữa là! Vậy mà được đôn lên đại diện cho Cham. Ai bầu cơ chứ? 

Về việc Việt Nam chọn Ninh Thuận để xây Nhà máy Điện hạt nhân, tôi không cho đó là phân biệt đối xử (dù vài còm trên website Inrasara.com dùng đích xác cụm từ: “họ muốn tiêu diệt Cham”), mà chỉ muốn nhấn về ba điểm:

Đây là vùng đất Cham sống trên hai ngàn năm, nơi chúng tôi có cả trăm điểm tôn giáo tín ngưỡng đang được thờ phụng, sẽ chịu tác hại nặng nề nếu có sự cố hạt nhân. Mảnh đất gần nửa dân số Cham sinh sống, chúng tôi muốn được sống yên lành trên quê hương thanh bình của ông bà mình. Chúng tôi không ham cái lợi nhỏ để nhận về cái hại lớn, cái hại dài lâu không biết bao giờ rửa sạch.

Như vậy chưa đủ sao?” (Trích bút kí “Đối thoại Fukushima, 2019”) 


Song Chi: Nhân tiện anh vừa nhắc tới dự án điện hạt nhân, được biết trước đây anh và cộng đồng Cham đã từng lên tiếng về vụ xây nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Anh có thể kể lại một chút hồi đó bản thân anh và đồng bào đã lên tiếng, tranh đấu như thế nào về việc này không?


Inrasara: Lượt qua quá trình đấu tranh, đầu tiên là bài viết “Cham Pangdurangga, ngang bướng, đau khổ, kiêu hãnh và bất an” của Inrasara đăng trên Boxitvn.net, 24-3-2012, sau đó tôi trả lời phỏng vấn BBC, RFA, Tienve, mở hai cuộc thảo luận trên Inrasara.com: “Người Cham hiểu gì về Điện hạt nhân?”, và “Trí thức Cham nghĩ gì về Điện hạt nhân?” thu hút cả triệu lượt người vào đọc với vài trăm ý kiến phản hồi, cả Việt lẫn Cham, từ trong đến ngoài nước. Tiếc là ở đó không có trí thức khoa bảng Cham nào có ý kiến cả! Ngoài ra tôi còn viết một cuốn tiểu thuyết có tên Tcherfunith, bên cạnh dẫn nhiều đoàn khách nước ngoài và trong nước tham quan khu vực Dự án…

68 người Cham kí tên vào Kháng thư phản đối gửi lên Thủ tướng Nhật Bản và Nga. Dẫu sao qua thảo luận, dư luận Cham tin chắc chắn rằng, nó sẽ bị hủy. Tin vậy thôi, chứ không trên cơ sở nào cả.


Song Chi: Dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận đã tạm dừng theo quyết định tại Nghị quyết 31 năm 2016 của Quốc hội. Anh có nghĩ rằng phần nào do sự lên tiếng, đấu tranh của đồng bào Cham hay còn vì những lý do nào khác? 


Inrasara: Đúng là dự án này được tuyên bố tạm ngưng vào năm 2016, theo báo chí cho biết là do chi phí vượt trội so với loài điện năng khác, ngoài ra không gì thêm. Hỏi nó có bị tác động do sự lên tiếng, đấu tranh của đồng bào Cham hay không thì ta không biết được. Tôi có được chất vấn về khía cạnh này, và trả lời sự lên tiếng của cộng đồng Cham như giọt nước làm tràn li. Bởi nếu cả thế giới đấu tranh mà dân bản địa là Cham im ắng, thì còn đâu ý nghĩa! 


Song Chi: Tuy nhiên, gần đây lại có những ý kiến trong Bộ Công thương và cả Ủy ban Kinh tế của Quốc hội muốn xem xét lại chuyện phát triển điện hạt nhân vì cho rằng thế giới đang quay trở lại với điện hạt nhân. Và rằng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận mới chỉ quyết định tạm dừng chứ không phải hủy bỏ. Về chuyện này anh có thêm những thông tin mới gì không, và quan điểm của anh ra sao thưa anh?


Inrasara: Sau khi thông báo ngưng Dự án, hai lần báo chí có thông tin Dự án sẽ tái khởi động. Còn khởi động thế nào thì không có tin gì thêm.


Song Chi: Vụ người Cham Bà-Ni ở VN năm 2015 khi đi làm Chứng minh nhân dân (CMND) ở mục tôn giáo bị ghi thành Hồi giáo, sau này khi đi làm Căn cước công dân (CCCD) thì lại bị ghi là tôn giáo: khác hoặc Hồi giáo Bà-Ni, khiến người Cham vô cùng bức xúc. Vụ này tới nay sao rồi anh?


Inrasara: Cham có tôn giáo riêng, rất đặc trưng Cham: đó là tôn giáo Ahiêr Awal. 

Cộng đồng Cham Pangdurangga (Ninh Thuận và Bình Thuận), ngoài Muslim chiếm số lượng nhỏ, có ba hệ:

‘Cham Jat’ là bộ phận tiền tôn giáo hiện ở hai làng, còn lại là Cham Bà-la-môn hay ‘Ahiêr’ là Ấn Độ giáo bản địa hóa, và Cham Bà-ni hay ‘Awal’ bản địa hóa Islam. 

Mỗi hệ có hệ thống chức sắc ‘Halau janưng’ riêng. Rồi giữa hai hệ này còn có hệ thứ ba là: ‘Halau janưng Ahiêr Awal’ phụng sự cho cả hai phía tín đồ.    

‘Ahiêr Awal’ là tôn giáo dân tộc, ở đó, Đấng tối cao như Brahma, Vishnu, Shiva hay Allah đã nhạt nhòa, còn lại là: Pô Yang và Muk Kei Ông bà Tổ tiên. 

Kinh sách: Agal Ahiêr (rút một phần nhỏ kinh Bà-la-môn có sáng tạo thêm) và Agal Awal (rút một phần rất nhỏ Kinh Qu’ran có chú thích cách hành lễ). Nơi thờ cúng và hành lễ ‘ngak yang’ có: Bimong Kalan Tháp Đền và Sang Mưgik thường dịch là “Nhà chùa Bà-ni”. Tín đồ là: Cham Jat, Cham Ahiêr và Cham Awal.

Khái quát như vậy để biết, đó là tôn giáo dân tộc đặc trưng Cham. Lạ nhất là tôn giáo ấy không ý định truyền đạo, thế nên Nhà nước Việt Nam không phải lo về sự mở rộng của nó.

Nhưng rồi không hiểu từ đâu, đùng cái năm 2017, Chứng minh nhân dân (CMND) của bà con Cham Bà-ni bị thay “Tôn giáo: Bà Ni” bằng “Tôn giáo: Đạo Hồi”. Thế là bà con Cham Bà-ni lên mạng phản đối, để qua 8 ngày đấu tranh, Tỉnh mới quyết định phục hồi lại tên tôn giáo như cũ. Dù chuyện đã xong, câu hỏi lớn đặt ra: can cớ từ đâu, và ai chịu trách nhiệm về thay đổi lén lút này, với mục đích gì?!

Chưa dừng tại đó, đến năm 2021 trong Danh mục Tôn giáo Chính phủ thì tên Bà Ni mất luôn, ai khai Bà-ni thì hoặc bị biến thành Hồi giáo hoặc tôn giáo khác. 

Con số tín đồ Bà-ni 45.000 người được cộng dồn vào để tín đồ Hồi giáo nở ra thành: 70.394, lấn át hẳn tín đồ Cham Bà-la-môn: 64.547. 

Bà con Bà-ni hỏi, tại sao 9 tôn giáo có ít tín đồ hơn Bà-ni được giữ tên tôn giáo mình, Bà-ni thì không?! (Tứ Ân Hiếu nghĩa: 30.416, Cơ Đốc Phục lâm: 11.830, Mormon: 4.281, Bửu Sơn Kỳ hương: 2.975, Tịnh Độ Cư sĩ: 2.306, Bàhá’í giáo: 2,153, Hiếu Nghĩa Tà lơn: 401, Minh Sư đạo: 260, Minh Lý đạo: 193 người).  

Thêm một câu hỏi lớn khác, cần đến câu trả lời rốt ráo…


Song Chi: Như vậy hiện tại trong Căn cước công dân mới, tín đồ Bà-ni đã được ghi đúng tôn giáo chưa? 


Inrasara: Hiện tại trong Căn cước công dân mới, như mọi tín đồ khác, Bà-ni cũng không được tên tôn giáo. Riêng trong hồ sơ (công an giữ) thì Bà-ni chuyển thành Hồi giáo hay tôn giáo “Khác”.


Song Chi: Về vụ mất tên Bà-ni trong Danh mục Ban Tôn giáo của chính phủ năm 2021 như anh nói, vậy bà con có định đấu tranh tiếp không anh?


Inrasara: Về vụ này, bà con quyết đấu tranh tới cùng. Cả đấu tranh để thay đổi tên Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bà-ni tỉnh Ninh Thuận thành Hội đồng Sư cả Bà-ni tỉnh Ninh Thuận, như Báo cáo Tổng kết Đại hội năm 2016 đã quyết. Cần phải bỏ chữ “Hồi giáo” ra, bà con Bà-ni muốn thế, không thể khác.


Song Chi: Một cách thành thực, anh có nghĩ rằng các sắc tộc bản địa, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị thiệt thòi về nhiều mặt so với người Kinh?


Inrasara: Đông hiếp cô, mạnh hiếp yếu ở đâu và thời nào cũng vậy, cộng đồng nhỏ, ít người luôn ở thế lép, yếu, thiệt thòi là điều khó tránh. Thậm chí nguy cơ diệt vong hay bị đồng hóa luôn nhãn tiền.

Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, đa phần văn hóa dân tộc ở Tây Nguyên là văn hóa làng, thế nên khi không gian văn hóa này bị phá vỡ, tính cố kết của cộng đồng vỡ theo, bản sắc bị mất, để dần tiêu tán vào cộng đồng đông dân là người Việt. 

Khía cạnh này, Cham may mắn hơn.

Múa đạp lửa trong lễ Rija Nưgar.
Photo: Jaya

Sinh viên dân tộc bản địa Okinawa về Việt Nam ghé palei Cham, năm sau cũng nhóm đó khi nghe tôi thuyết, đã ngạc nhiên rằng, sau hai thế kỉ sống xen cư và cộng cư với người Việt, bao phen chịu áp lực đồng hóa mà một dúm Cham vẫn tồn tại. Đầy bản sắc nữa là đằng khác. Lạ! Trong khi họ (nhiều dân tộc bản địa ở Nhật) mới đấy mà đã nhạt nhòa.

Tôi nói, đó là do “sức mạnh nội tại của tinh thần văn hóa Cham” (xem Văn học Cham khái luận, 1994). Cụ thể hơn, tinh thần Pangdurangga: ngang bướng, đau khổ và kiêu hãnh hun đúc nên. 

Cham Pangdurangga đi bất kì đâu chưa bao giờ để mất bản sắc: Lịch sử và Akhar thrah, Tôn giáo với Pô Yang, vân vân. Cả khi bà con “lưu lạc” đến nửa vòng trái đất: Hoa Kỳ, cũng hệt. Bảo tồn bản sắc đã quyết liệt, mà “cắn xé” nhau cũng dữ dội (và buồn cười) không kém. Tại sao? Có 3 yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại của cộng đồng Cham: Họ có cùng lịch sử dài lâu, có ngôn ngữ và chữ viết riêng, và nhất là có tôn giáo dân tộc là Tôn giáo Ahiêr Awal. 


Chuẩn bị lễ vật cho Katê. Photo: Jaya

Song Chi: Bao nhiêu năm tự nguyện gánh vác trách nhiệm bảo vệ ngôn ngữ, bản sắc văn hóa Cham trên vai, điều anh ưu tư, trăn trở nhất là gì? So với hai, ba chục năm trước, sự quan tâm của giới trẻ Cham bây giờ đối với văn hóa, sự sinh tồn của dân tộc Cham ra sao thưa anh?


Inrasara: Hậu duệ hay thế hệ tiếp nối, nếu có thể nói thế là điều tôi quan tâm hơn cả. 

Ở đây may mắn nữa, Cham là dân tộc duy nhất có đặc san riêng là Tagalau, Sáng tácSưu tầmNghiên cứu Văn hóa Cham, là điều các dân tộc thiểu số hay bản địa khác không có. Thế nên không lạ, khi từ cộng đồng này bật ra rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc mình. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, Cham luôn xuất hiện các khuôn mặt nỗ lực làm sống dậy văn hóa dân tộc: Thiên Sanh Cảnh, Dohamide đến Po Dharma, Nguyễn Văn Tỷ sang Thành Phần, Sakaya Trượng Văn Món cho đến thế hệ mới nhất Isan Campa Quảng Đại Tuyên, Sohanim, Jaka Phú Tuệ Năng, Bá Minh Truyền…

Với truyền thống yêu và “làm văn hóa” ấy của dân tộc mình, tôi tin văn hóa Cham còn sống, và sống mạnh nữa qua sáng tác của thế hệ nhà văn nhà thơ Cham hôm nay bổ sung vào vốn cũ của ông bà. Dĩ nhiên tất cả tên tuổi ấy mạnh về lĩnh vực của họ: nghiên cứu chuyên sâu, chứ không thể đòi hỏi họ như một Inrasara là “dân thập cẩm” đúng nghĩa, vừa sáng tác, nghiên cứu, phê bình, diễn thuyết và cả hoạt động xã hội.


Song Chi: Thêm một câu hỏi cuối, có lần anh từng nhắc đến cụm từ “văn học ngoại vi” trong đó có văn học của các sắc dân bản địa, cộng đồng thiểu số. Sự e ngại, bảo thủ trong chính sách về văn học văn hóa của nhà nước Việt Nam khiến cho những dòng “văn học ngoại vi” trong đó có văn học của các sắc dân bản địa, cộng đồng thiểu số hoặc hoàn toàn không xuất hiện hoặc chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong “dòng chính” của văn học Việt Nam. Anh nghĩ gì về điều này?


Inrasara: Văn học Việt Nam không chỉ quanh quẩn ở sáng tác thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, nếu vậy thì văn học ta nhỏ và yếu là phải, mà còn ở nhiều nơi khác. Tôi gọi đó là văn học ngoại vi Việt Nam. Văn học ngoại vi là đâu?

Văn học miền Nam trước 1975, Văn học Việt hải ngoại, các tác giả với tác phẩm in ngoài luồng, tác giả chưa là (hay không muốn vào) Hội Nhà văn Việt Nam, văn học dân tộc thiểu số, các cây bút vùng sâu vùng xa, và cả người Việt viết bằng ngoại ngữ nữa.

Tại sao văn học ngoại vi đáng quan tâm? 

Chả là, do chúng bị phân biệt đối xử, ít được đến với đại đa số bạn đọc. Từ đó người đọc hoặc không biết đến, hoặc biết mơ hồ, lắm khi biết sai về chúng. Gom tất cả chúng lại để làm giàu sang nền văn học Việt Nam, không hay sao!

Hành vi loại chúng ra khỏi nền văn học hiện đại là thiệt thòi lớn cho độc giả, cho nền văn học Việt Nam đa dân tộc và đa vùng miền. Hòa giải hòa hợp dân tộc trong văn học phải khởi từ suy nghĩ, thái độ và hành động thực lòng. Chứ phân biệt đối xử (với văn học dân tộc thiểu số), loại trừ (mang tính hận thù) với văn học ngoại vi, thì chúng ta mất, chứ chả được gì cả.

Về các dòng văn học này, tôi không nghĩ, mà làm – từ nhập cuộc phê bình. Viết tiểu luận, phê bình, tổ chức Bàn tròn Văn chương, chủ trì cà-phê thứ Bảy Văn học, cả luận chiến với thái độ lạc hậu… 

Thuyết lí, tôi nhấn về tự do thể hiện qua tinh thần giải trung tâm hậu hiện đại. Phê bình, tôi ưu tiên thể loại thơ; thơ, tôi tập trung vào thơ Việt đương đại và nhấn về phía bộ phận sáng tác (bị cho là) ngoại vi. Tôi đã có khá nhiều tác phẩm đã xuất bản và chưa in về những chủ đề này. 


Song Chi: Cảm ơn nhà thơ, nhà phê bình văn học Inrasara về cuộc trò chuyện này.


Song Chi



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét