Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2022

Dịch giả Nguyễn Duy Chính: Việt Nam Và Cuộc Chiến Trung-Pháp

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH


Khi ở bậc Trung Học, những năm đệ nhị cấp (tức cấp 3) chúng tôi được học về thời kỳ người Pháp xâm chiếm nước ta. Dấu ấn của giai đoạn này là những hiệp ước mà mỗi lần ký kết thì đất đai và quyền tự chủ của triều đình Huế lại lùi thêm một bước.


Năm 1862, nước ta mất ba tỉnh miền đông Nam Kỳ, đến năm 1874 phải ký hoà ước nhường đứt 6 tỉnh rồi đến năm 1883 thì nhận quyền bảo hộ của người Pháp trên toàn lãnh thổ. Sau đó một năm, người Pháp sửa đổi một số chi tiết và ký một hoà ước mới năm 1884. Những hiệp ước ấy chúng tôi quen thuộc với những tên hoà ước năm Nhâm Tuất (1862), hoà ước năm Giáp Tuất (1874), hoà ước năm Quí Mùi (1883) và hoà ước năm Giáp Thân (1884). Hai hiệp ước sau vẫn được gọi là hoà ước Harmand và hoà ước Patenôtre lấy tên của những người Pháp ký tên trên đó.


Về giai đoạn lịch sử nhiễu nhương này, chương trình học đặt trọng tâm vào diễn biến thời cuộc như việc quân Pháp đánh Đà Nẵng, Kỳ Hoà, việc sứ thần sang Pháp chuộc ba tỉnh miền Đông rồi mất cả Nam Kỳ đưa đến cái chết của cụ Phan Thanh Giản.


Sau đó không lâu, người Pháp theo sông Hồng tìm đường sang Vân Nam rồi chiếm Hà Nội và các tỉnh lân cận. Trẻ con chúng tôi đứa nào cũng nhớ địa danh Cầu Giấy ở phủ Hoài Đức là nơi Francis Garnier và Henri Rivière bị quân Cờ Đen phục kích giết chết. Tiếp đó là những cuộc khởi nghĩa từ nam ra bắc, Trương Định, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám … đánh dấu giai đoạn mất quyền tự chủ. Tác giả Trần Trọng Kim giải thích trong Việt Nam sử lược:


… Quan ta đem quân về đánh quân Pháp ở Hà-nội, ở Hải-phòng và ở Nam-định nhưng chỗ nào cũng thất bại.


Quân ta bấy giờ không có thống nhất, ai đứng lên mộ được năm ba trăm người, cho mang gươm mang giáo đi đánh, hễ phải độ vài ba phát đạn trái-phá thì xô đẩy nhau mà chạy ; còn quân của nhà vua thì không có luyện tập, súng đại-bác toàn là súng cổ, súng tay thì ít và xấu. Như thế thì chống làm sao được với quân Pháp là quân đã quen đánh trận và lại có đủ súng-ống tinh nhuệ ?


Bấy giờ cuộc hoà đổi ra cuộc chiến, suý-phủ Sài-gòn đuổi quan lĩnh-sự Việt-nam ta là ông Nguyễn Thành-Ý về Huế. Trong khi việc nước đang rối cả lên như thế, thì vua Dực-tôn mất.


Ngài mất ngày 16 tháng 6 năm quí-mùi (1883), trị-vì được 36 năm, thọ 55 tuổi, miếu-hiệu là Dực-tôn Anh-hoàng-đế.


Sau những kháng chiến võ lực thất bại, giới trí thức phát động phong trào canh tân và tìm sự cải cách bên trong, hỗ trợ bên ngoài. Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, những kêu gọi duy tân của Phan Chu Trinh và nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục tuy được sĩ phu hưởng ứng nhưng bộ máy cai trị của người Pháp càng lúc càng hoàn bị. Những mốc thời gian ấy chỉ coi như một đám lửa cháy lan dần, cho đến khi người Pháp hoàn toàn kiểm soát toàn cõi Đông Dương.


NHỮNG ẨN SỐ LỊCH SỬ


Trong thời gian mấy chục năm biến động đó, chương trình bậc trung học không ngoài hai thế lực chính, một bên là người Việt Nam là nạn nhân và phía bên kia là người Pháp xâm chiếm nước ta. Những bài học là diễn tiến việc bị chiếm đóng, các phong trào vận động giành độc lập, và dĩ nhiên chính sách và hệ thống cai trị song song của Pháp và Nam triều. Chúng tôi không hề biết rằng, những biến chuyển ở Việt Nam luôn luôn có sự can thiệp và tham gia rất tích cực, rất rốt ráo của một nước khổng lồ ở bên cạnh, tuy đang trong thời kỳ suy tàn nhưng vẫn đầy tham vọng muốn khai thác xung đột Pháp – Việt để thủ lợi, vừa đưa chiến trường xuống phía nam vừa tìm một cơ hội bành trướng lãnh thổ để bù lại những gì đã mất cho các cường quốc khác.


Những trận đánh giữa Pháp và quân triều đình, quân Cờ Đen và quân Tàu đã không vẽ ra được một khung cảnh rõ rệt. Hầu như ít ai tìm hiểu tại sao lại có mặt của nhiều thế lực trên cùng một địa bàn và hậu quả thế nào đối với vận mệnh Việt Nam.

 


Giới thiệu

Nghiên cứu của Long Chương là một công trình biên khảo lớn, tập trung vào can thiệp của Trung Hoa khi người Pháp phát động chiến tranh chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Những chi tiết được trình bày hầu như rất ít người trong chúng ta biết đến, hoặc nếu có thì cũng chỉ một cách mơ hồ. 


Theo sự giới thiệu của chính tác giả, giai đoạn nghiên cứu này là thời kỳ trước của luận án ông viết về những biến chuyển của Trung Hoa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đã xuất bản dưới nhan đề La Chine à l’aube du XXème siècle (Paris: Nouvelles Editions Latines, 1962) tập trung vào chính sách ngoại giao của nhà Thanh trong khoảng từ 1894 đến 1905.


Việt Nam dữ Trung Pháp chiến tranh (越南與中法戰爭) được soạn bằng tiếng Pháp khi Long Chương sống ở Paris sử dụng các tài liệu trong văn khố quốc gia (Bibliothèque Nationale) và được bổ túc nhiều lần trước khi được dịch sang tiếng Trung Hoa và ấn hành năm 1993 ở Đài Bắc (Đài Loan thương vụ ấn thư quán, 1993). Việc Long Chương có điều kiện tập trung nghiên cứu vào giai đoạn nhiễu nhương này có lẽ sau khi ông trình luận án tiến sĩ (1962), chính quyền Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan đã ấn hành nhiều kho đáng án đồ sộ [trong tài liệu tham khảo của Long Chương khi đối chiếu hai công trình 1962 và 1993 ta thấy có thêm những bộ sách lớn được ấn hành sau này, điển hình là Thanh Đức Tông thực lục (1987), Trung Pháp Việt Nam giao thiệp đáng (1963), Quang Tự Triều Đông Hoa Lục (1963) và nhiều di cảo của danh nhân cận đại …] soi sáng nhiều bí ẩn, đưa cuộc chiến tại Bắc Kỳ ra khỏi những bóng đen lịch sử. Những tài liệu mới xuất hiện đã khiến ông hứng thú để biên soạn và là một công trình lớn sau 30 năm nghiên cứu, được ấn hành khi ông đã 75 tuổi.


Cũng thật ngậm ngùi khi trong một giai đoạn dầu sôi lửa bỏng, vận mệnh của Việt Nam không phải được quyết định ở Hà Nội, Huế hay Saigon mà ở những nơi xa xôi như Paris, Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải … Những tranh biện ngoại giao, những nhượng bộ thương mại đưa đến việc quyết định nhiều khu vực biên giới được giữ lại cho nước ta hay thuộc về lãnh thổ của Tàu. Những thương thuyết đó không hiểu triều đình Huế có biết đến hay không, nhưng chưa thấy đề cập trong quốc sử.


Cũng không mấy ai biết được rằng hai hiệp ước quan trọng liên quan đến vận mệnh của cả nước là hòa ước Harmand và Patenôtre lại chỉ là những văn bản đã viết sẵn của người Pháp rồi đem đến ép triều đình Huế ký trong một buổi lễ đơn giản chứ không thông qua đàm phán để hai bên trao đổi và đồng thuận, ngoại trừ thay đổi một vài từ ngữ không thực sự có ý nghĩa.


Tham vọng của Trung Hoa


Trong khoảng gần ½ thế kỷ, kể từ cuộc chiến tranh nha phiến năm 1842, Trung Hoa bị liệt cường hiếp bách nên phải ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng. Những “quốc nhục” đó dấy lên một số vận động tự cường và nhờ vào cải cách kỹ thuật và học hỏi từ Tây phương nên nhà Thanh đã đạt được một số tiến bộ quân sự. Nhiều cánh quân được huấn luyện, trang bị theo lối mới như Tương quân (quân của Tăng Quốc Phiên), Hoài quân (quân của Lý Hồng Chương), Sở quân (quân của Tả Tông Đường), Tụy quân (quân của Phùng Tử Tài) … Thanh triều cũng mua nhiều khí giới, mướn sĩ quan Âu Châu huấn luyện quân đội, thuê đóng tàu, mở công xưởng nên khi có một số thành tựu nhiều tướng lãnh cũng muốn có dịp thử sức để cho thế giới biết rằng nhà Thanh nay không còn bạc nhược như vài mươi năm trước. 

 

Cũng vì thế, khi có sự thỉnh cầu từ triều đình Huế, nhân danh tông chủ quốc giúp phiên thuộc, nhà Thanh đưa quân sang và dùng miền bắc nước ta như một trận địa thí nghiệm để xem họ đã có khả năng trực diện đọ sức với Tây phương hay chưa? Quan điểm của nhiều đại thần là tuy trên mặt biển thì họ chưa bằng Tây phương nhưng trên bộ thì họ có ưu thế về nhân lực và địa thế. Cũng vì thế, khi quân Cờ Đen giết được Francis Garnier và Henri Rivière thì báo chí Trung Hoa đã làm ầm lên như một chiến công rửa mặt cho nỗi bại nhục của nước Tàu.


Ngay từ 1870, trước khi ký hiệp ước Giáp Tuất thì miền bắc nước ta đã có những lực lượng quân Thanh đông đảo đóng rải rác ở nhiều tỉnh phía bắc sông Hồng. Theo Đại Nam Thực Lục (quyển XLIII) thì:


… Trước đấy, toán giặc nước Thanh là Ngô Côn (có tên là Á Chung) trốn sang Cao, Lạng quấy nhiễu, nước ta đưa thư cho quan Tuần phủ tỉnh Quảng Tây đệ lên nước Thanh. Đại hoàng đế nước Thanh [lúc này là vua Đồng Trị] bèn sai Đề đốc Phùng Tử Tài coi đem 31 doanh ra ngoài cửa quan cùng đánh (xuất quan hội tiễu).


Như thế, việc quân Thanh sang nước ta là do chính triều đình Huế viết thư mời họ. Ba mươi mốt doanh tính ra có đến hàng vạn quân (một doanh quân số khoảng 500 người), còn đông hơn cả đoàn quân của Tôn Sĩ Nghị sang đánh Thăng Long. Quân Thanh không dẹp được bọn Cờ Đen, Cờ Vàng nên khi quân Pháp ra Bắc Kỳ, triều đình Huế đành phải dùng đám phỉ đó như những lực lượng đánh thuê, phong quan tước và trả lương để họ đánh Pháp. Những chiến công giết được Garnier, Rivière sau này cũng là của quân Cờ Đen, chứ lực lượng của Việt Nam không làm được. Từ đó trở đi quân Thanh qua lại biên giới nước ta không cần phải thông báo, binh lính sinh sống không khác gì dân bản xứ.


Đến tháng 10 năm 1883 (tháng Chín, Quang Tự 9), Quế quân (quân tỉnh Quảng Tây) ở Bắc Kỳ tăng thêm 22 doanh nữa, quân sĩ tổng cộng lên tới 15000 người nhận lệnh chặn giữ Bắc Ninh, Lạng Sơn. Đến đầu năm 1884, quân số Trung Hoa ở Bắc Kỳ ước chừng 27000 người.


Nếu tính thêm cả vài nghìn quân Cờ Đen, số lượng quân Tàu ở thường trực trên đất nước ta lên đến 3 vạn người, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của một tổng đốc (Sầm Dục Anh), một tuần phủ (Từ Diên Húc), 1 đề đốc, 2 tổng binh và nhiều quan lại từ các tỉnh nam Trung Hoa. Họ cũng sử dụng được một số thổ binh vùng thượng du nước ta nên đã âm mưu sáp nhập các khu vực này vào lãnh thổ nội địa.


Sinh mệnh của miền bắc Việt Nam nay ở trong tay Từ Hi, Lý Hồng Chương, Tăng Kỷ Trạch, Phùng Tử Tài, Trương Thụ Thanh, Tăng Quốc Thuyên và những vương công đại thần trong Tổng Lý Nha Môn. Việc triều đình Việt Nam nhờ người Tàu sang đánh Pháp là một kế sách rất tệ vì quân Tàu luôn luôn nhũng nhiễu, đòi hỏi cung ứng mà miền Bắc thì nghèo khổ nên dân chúng ta thán rất nhiều. Mà không phải chỉ vài tuần, vài tháng mà họ ở nhiều tỉnh trong 14 năm trời, nhiều người đã sinh cơ lập nghiệp, lấy vợ nước Nam, đến khi phải thi hành điều ước Thiên Tân rút về bên kia biên giới thì gồng gánh, lếch thếch rất bệ rạc.


Trong giai đoạn đó, hiệp ước năm Giáp Tuất 1874 là bản lề quan trọng nhất của người Pháp vì triều đình Huế phải công khai nhường 6 tỉnh Nam Kỳ, “ba tỉnh lại chầu ba” như cụ Phan Thanh Giản đã than thở.3 Hiệp ước này đúng ra chỉ xác định một việc đã có sẵn vì Nam Kỳ đã mất từ 6 năm trước (1868) khi Phan Thanh Giản qua đời. Thế nhưng cũng chính từ những điều kiện của hiệp ước này đưa đến nhiều vấn đề. Quan trọng nhất, người Pháp phủ nhận cái quyền tông chủ của nhà Thanh đối với Việt Nam mà họ vốn chỉ coi là nghi thức ngoại giao, triều cống phương vật để biểu lộ một vị thế chứ không phải là một thuộc quốc theo nghĩa hành chánh.


Thế nhưng, một mặt do lòng tham của Trung Hoa muốn giải thích sao cho có lợi, mặt khác tạo một lý do chính đáng để can thiệp nên nhà Thanh đã khẳng định quyền tông chủ của họ cũng không khác gì quyền bảo hộ của người Pháp. Cụ thể hơn nữa để hợp thức hoá vai trò của họ là sự cầu viện của triều đình Huế, nên nhà Thanh lấy tiếng là tiễu phỉ để đưa quân sang đối đầu với người Pháp ở Bắc Kỳ.


Kể từ đó, việc chống Pháp ở miền bắc do quân Thanh và quân Cờ Đen là chính, còn quân của triều đình Tự Đức thì lại xuống hàng thứ yếu, đưa đến những thất bại nhanh chóng khi một lực lượng nhỏ của Pháp cũng lấy được nhiều tỉnh trong vùng châu thổ sông Hồng, kể cả cố đô là Hà Nội. Hai vị lão thần Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu chỉ biết lấy thân đền nợ nước để tránh nỗi nhục bị xử án như Phan Thanh Giản ở trong nam.


Quan hệ tông phiên


Một trong những vướng mắc trên danh nghĩa của Việt Nam là vị thế phiên thuộc của Trung Hoa, mỗi lần thay đổi triều đại, thay đổi ngôi vua thì đều phải có khâm sứ Trung Hoa sang làm lễ thì mới “chính danh định phận”. Mặc dù quyền nội trị, ngoại giao của nước ta vẫn độc lập, có nước nào đến thông hiếu, giao thiệp triều đình Việt Nam đều được tự quyết không phải hỏi ai nhưng khi phải đối phó với sự xâm lăng của người Pháp, vua Tự Đức đã không còn giữ được sự độc lập – dù chỉ là hình thức – mà lại đi theo vết xe đổ của các triều đại trước khi thấy vương quyền bị đe doạ. Đó là cho người sang cầu viện Trung Hoa.


Thế nhưng triều đình Huế không biết rằng chính Trung Hoa cũng đang gặp nhiều khó khăn về cải cách. Mọi cơ cấu của Thanh đình đều giữ nguyên như cũ, một số duy tân và vận động chưa đi đến đâu. Đứng đầu triều đình là vua Quang Tự lên ngôi năm 1875 khi mới có 3 tuổi, quyền hành nằm trong tay thái hậu Từ Hi.


Điều khoản thứ 2 hoà ước Giáp Tuất (1874) có ghi:

 

2- Đức Giám quốc nước Pháp nhận quyền độc lập của vua nước Nam không phải thần phục nước nào, và hứa khi nào vua nước Nam cần, sẽ giúp đỡ cho để đánh dẹp mà giữ cuộc trị an trong nước, chống với nước ngoài đến xâm lăng và phá tan bọn cướp bóc đương khuấy nhiễu ở một phần bờ biển nước Nam.


Tuy nhiên nước ta lại không muốn áp dụng điều khoản này nên vẫn tiếp tục triều cống nhà Thanh theo lệ 2 năm một lần, 4 năm hai lần gộp một.


Để hiện thực hóa cái liên hệ vốn chỉ trên hình thức, nhân dịp có mấy vạn quân đóng trên đất nước ta, nhà Thanh đòi chia đôi để mỗi bên “bảo hộ” một nửa, lấy Quảng Trị làm ranh giới, rồi rút dần lên để trả giá với người Pháp. Những chi tiết đó không bao giờ được nhắc đến trong lịch sử vì là những mặc cả ở Paris, ở Thiên Tân, ở Bắc Kinh mà người Việt Nam không hề được biết đến.


Tự tiểu tồn vong


Mỗi khi can thiệp vào nội bộ nước ta, Trung Hoa thường lấy cớ là bảo vệ một triều đại vốn được họ công nhận nay đang thất thế. Việc can thiệp đó luôn luôn bị bắt buộc phải trả công cho họ, thường là nước ta phải tự nguyện dâng cho một số đất ở biên giới. Việc chiếm đất được nguỵ trang như một sự đồng thuận, tình nguyện, có khi nhân danh trả lại một khu vực.


Cái lý do “nuôi nấng một nước nhỏ, phục hồi một triều đại đã mất” [tự tiểu, tồn vong] ấy đã được lập lại nhiều lần, từ đời Mạc sang đời Lê để động binh và nay lại được nhắc đến dưới triều Nguyễn.


Tính đến năm 1883, quân Tàu đã chiếm đóng mấy tỉnh phía bắc trong hơn một thập niên, ban đầu do lời yêu cầu của triều đình Huế. Ngoài số quân Thanh đóng ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hoá, Bắc Ninh, Sơn Tây còn những đám thổ phỉ võ trang hùng cứ một phương như bọn Cờ Đen (Lưu Vĩnh Phúc), Cờ Vàng (Hoàng Sùng Anh), Cờ Trắng (Bàn Văn Nhị) từ nam Trung Hoa chạy sang.


Riêng lần này, Trung Hoa đòi phân chia nước ta một cách trắng trợn, một phần của Pháp, một phần cho họ. Từ những đòi hỏi phi lý như lấy sông Hồng làm ranh giới (phần tô màu vàng đậm + vàng nhạt), họ rút về phía bắc nhưng vẫn còn rất rộng (vàng nhạt). Nếu người Pháp không quyết tâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa – hay ít ra cũng duy trì một xứ bảo hộ Đông Dương thuộc Pháp - thì có lẽ giang sơn của chúng ta ngày nay không còn được như bây giờ, mặc dù sau cùng cũng phải nhường cho nhà Thanh nhiều nơi giàu khoáng sản (những địa điểm hình sao là đất bị nhà Thanh lấn chiếm) qua mấy lần vẽ lại biên giới mà chính triều đình Việt Nam không bao giờ được tham dự, hay không bao giờ lên tiếng vì còn vướng bận những vấn đề nội bộ.


Sau khi ký hoà ước năm Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế không ý thức được sự yếu kém của mình mà tự lực canh tân, ngược lại còn đi sâu thêm vào việc tự cô lập, theo kiểu tự chui đầu xuống cát. Tác giả Phan Khoang viết:

 

… Trong hoà-ước Giáp-tuất, hai khoản thứ ba, thứ tư biếu ta một số tầu, súng, và cấp ta người huấn-luyện quân-sự, kỹ-sư để giúp việc và bầy dậy cho, nếu vua quan ta biết khéo lợi dụng cơ-hội ấy thì có lẽ nước ta cũng đã tiến được một bước trên đường văn minh mới, ngặt vì tinh-thần bài Pháp quá hăng, chưa thấy rõ giá-trị của văn-minh mới, nhất định không chịu bắt chước gì của kẻ địch bầy dạy, nên hoà-ước ký rồi thì Triều-đình bỏ vào tủ, rồi trong mọi việc, đường lối nghìn xưa thế nào thì nay cứ tiếp theo thế mà làm, không chịu tự-tu, tự-chỉnh, tự-tân, tự-cường, cho nên chẳng bao lâu, mảnh đất Trung, Bắc-Kỳ còn lại cũng sa nốt vào lao-lung ngoại-quốc.

 

 

C:\Users\Pham Phu Minh\Desktop\bản đố.png

 

Khu vực ở Bắc Kỳ Trung Hoa tranh đoạt với Pháp

 

Chủ hoà


Chúng ta thấy có hai giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 10 năm (1862-1874 và 1874-1883) nếu biết canh tân có lẽ cũng đi được những bước dài. Tuy nhiên thực tế gần như Việt Nam đứng tại chỗ, nếu không nói là đi giật lùi. Trong thời gian sinh tử đối với vận mệnh đất nước, triều đình Huế đã không đánh giá được đúng mức nhu cầu cải cách. Không nói gì đến những cường quốc kỹ nghệ, sự canh tân của nước ta còn kém cả những quốc gia có cùng hoàn cảnh như Xiêm La, Nhật Bản.


Năm Mậu Thìn (1868) có kỳ thi Hội, đề thi “quân xâm lăng hiện nay càng ngày càng thêm gây hấn, đồn luỹ khắc dân gian, vậy nên đánh hay nên hoà?”. Vũ Duy Tuân (sau làm ngự sử nên thường gọi là ngự Lạc Tràng) trong bài làm có câu:

 

朝廷擁百萬之精兵,見義不爲無勇也。

Triều đình ủng bách vạn chi tinh binh, kiến nghĩa bất vi vô dũng dã.

Triều đình sẵn hàng trăm vạn quân tinh nhuệ, thấy việc nghĩa không làm thì không phải là dũng vậy.


Vua Tự Đức châu phê vào bên câu này:

Kim nhật thỉnh chiến, minh nhật thỉnh chiến, chiến nhi bất thắng, tương trí trẫm ư hà địa?

今日請戰,明日請戰,戰而不勝,將置朕於何地。

Hôm nay xin đánh, ngày mai xin đánh, đánh mà không thắng thì để trẫm ở chỗ nào?


Trong một lá thư riêng gửi Lý Hồng Chương để xin vận động nhà Thanh giúp đỡ, vua Tự Đức đã viết:

 

Nói về Nhật Bản, Xiêm La, Miến Điện thì phong tục hung hãn, cũng chẳng khác chúng [tức người Tây phương] mấy tí nên học tập dễ dàng hơn, cũng vì thế mà có thể tự bảo vệ được. Còn nước tôi thì dân chúng kiệm phác, chuyên về nông tang, lại bị chúng ngăn trở nên giao thiệp không được rộng, học tập chưa xong, đâu có thể dùng tay không mà trêu mãnh thú, không chống nổi cũng thật rõ ràng.

 

當謂日本暹羅緬甸風俗獷猂。與彼較近。故習之易。而制之亦僅可自保耳。若下國民俗儉樸。專事農桑。而且為彼所阻。交未廣。習未得。徒以空拳而攖猛獸。不當明矣。


Chính vì thế, khi nghe tin quân Thanh phải rút ra khỏi Bắc Kỳ theo sự điều đình với người Pháp, vua Tự Đức đã xin họ ở lại giữ nước cho mình:

 

Nay nghe tin thượng quốc đang dần dần rút binh về, bọn chúng càng thêm càn rỡ, thật là đáng sợ. Chiến thì sinh linh rất khổ, bậc nhân giả không yên. Hoà thì họ đòi hỏi không chán, để lại hoạn nạn càng sâu, không biết kế nào vạn toàn, thật khó mà báo lên cho rõ ràng được. Chỉ mong đại nhân ở thượng quốc giúp đỡ chỉ cho tính toán làm sao để không cần đánh mà vẫn khuất phục được quân giặc. Lệnh rút quân về xin tạm khoan vì tình thế cấp bách trước mắt, sao cho cả trong lẫn ngoài đều không sai sót, sau đó mau chóng đưa ra phương lược để cho được toàn thiện, mà tuyệt hậu hoạn, như thế mới ổn cũng là nhờ vào thần toán, lẽ nào không tuân theo.

 

而聞上國漸有抽兵。彼將益肆。竊甚懼焉。戰則生靈甚苦。非仁者所安。和則要求無厭。遺患愈深。未知何計萬全。是以難於明告。惟憑上國大人護持。作何妙算。使不戰而屈人兵。令之速退。暫寬目前之急。保得中外無虞。然後速施方畧。以收全善。而絕後患。想為較稳。惟藉神算。敢不是從。


Ông Ích Khiêm, một đại thần đã mỉa mai việc nhờ nhà Thanh qua bài thơ như sau:

Áo chúa cơm vua đã bấy lâu,

Đến khi có giặc phải thuê Tàu!

Từng phen võng giá mau chân nhẩy,

Đến bước chông gai thấy mặt đâu?

Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp,

Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu.

Ai ôi hãy chống trời Nam lại,

Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu. 


Về tác phẩm của Long Chương


Mặc dù sử dụng chủ yếu là tài liệu tiên nguyên (primary sources) và cố gắng giữ thái độ khách quan khi miêu tả sự việc nhưng chúng ta vẫn thấy đôi chỗ tác giả Long Chương biện hộ cho “cái gọi là” quyền tông chủ của Trung Hoa và tính chính đáng của việc tranh đoạt vai trò bảo hộ với người Pháp. Thực tế, nếu không có sự can thiệp quyết liệt của phe chủ chiến nước Pháp muốn chiếm Việt Nam làm thuộc địa, nhà Thanh coi đây là cơ hội tốt để lấn chiếm nhiều tỉnh của Việt Nam mà việc đòi lại được từ tay họ sẽ hao tốn rất nhiều xương máu.


Tác phẩm của Long Chương soi sáng một góc tối mà trước đây hầu như chúng ta không biết – hay biết rất ít – đó là vai trò của Trung Hoa trong giai đoạn người Pháp xâm chiếm nước ta. Theo lời tâu của Sầm Dục Anh, tổng đốc Vân Nam, chúng thấy rất rõ ý đồ và tham vọng muốn sáp nhập vùng tây bắc nước ta vào lãnh thổ của họ.

 

KẾT LUẬN


Tuy không phải vì thiện chí muốn giữ nước cho mình nhưng sự hiện diện của đoàn quân viễn chinh Pháp lại đóng một vai trò tích cực, nếu không miền bắc Việt Nam có lẽ không còn được như ngày nay. Về giai đoạn lịch sử phức tạp này, chúng ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu nhưng chủ yếu chỉ tham khảo các tài liệu của người Pháp tại Đông Dương, phần nhiều dựa trên những tường thuật của các sĩ quan Pháp tham gia các trận đánh. Về phía Việt Nam, tài liệu lịch sử do triều đình biên soạn cũng không mấy khi hoàn toàn trung thực, xấu che, tốt khoe nên cũng không có được cái nhìn toàn cục mà chỉ tập trung vào những việc đang xảy ra ở trong nước.


Những tài liệu tham khảo mà tác giả đề cập, phần lớn được tìm thấy từ hơn nửa thế kỷ trước có lẽ chưa phải là những kho đáng án sau cùng vào thời điểm hôm nay. Trong vài mươi năm qua, số lượng bản gốc được xuất bản theo dạng ảnh ấn rất đồ sộ được lưu trữ trong các thư viện và đại học lớn trên toàn thế giới. Với tiến bộ trong khoa học tàng thư và ấn loát, người đi sau cũng dễ dàng tìm thấy những chi tiết chưa ai khai phá, soi sáng những bí ẩn lịch sử mà cảm tính dân tộc hay định kiến chính trị khiến chúng ta chùn bước.


Chúng tôi hi vọng rằng bản dịch tác phẩm Việt Nam dữ Trung Pháp chiến tranh sẽ mở ra được một góc nhìn mới về lịch sử Việt Nam, mặc dù chỉ mới xảy ra chưa lâu nhưng vẫn còn mang nhiều ẩn số.

 

Nguyễn Duy Chính



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét