Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2022

Ngự Thuyết: Thử Nhìn Lại Cung Oán Ngâm Khúc Của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều

 Cung Oán Ngâm khúc là một hiện tượng lạ trong văn học cổ điển Việt Nam. 

Trong một thời gian trên dưới nửa thế kỷ, từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, ba tác phẩm dài bằng thơ rất giá trị đã ra đời: Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm (1705-1748) [1], Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), và Đoạn Trường Tân Thanh, tức Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820). Kiệt tác Truyện Kiều là một lâu đài đồ sộ, rực rỡ nhất trong văn học Việt Nam, điều đó ai cũng đồng ý, do đó nó được đề cập đến nhiều nhất, và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Cũng có nhiều tác phẩm nghiên cứu, phê bình Chinh Phụ Ngâm. Cuốn này cũng được dịch ra tiếng Pháp, Anh, Nhật.


Nhưng với Cung Oán Ngâm Khúc, tình hình khác hẳn. Nó chịu số phận khá hẩm hiu, gần như bị quên lãng. Nó không được quảng đại quần chúng đón nhận vồn vã đã đành, trong giới nghiên cứu hàn lâm, cũng có người không mấy quan tâm đến Cung Oán Ngâm Khúc, hoặc chỉ đề cập một cách sơ lược.


Chẳng hạn Giáo Sư Phạm Văn Diêu (GS Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn) với tác phẩm Việt Nam Văn Học Giảng Bình [2]. Tác phẩm này dày trên 670 trang gồm có hai phần: Phần Thứ Nhất bình giảng Các Tác Giả, Tác Phẩm Quốc Âm Tiêu Biểu từ thời Lê Trịnh đến Nửa Đầu Thế Kỷ XX, và Phần Thứ Nhì nói về Văn Xuôi Hiện Đại, trong đó có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, vân vân ... 


Trong Phần Thứ Nhất, một số thơ của những thi gia như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Cao Bá Nhạ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình  Chiểu, Trần Tế Xương v.v. đều được nói đến, kể cả mấy bài thơ nôm của Dương Khuê. Một tác giả ít người biết là Dương Lâm, em ruột của Dương Khuê, cũng có bài được bình giảng. Nhưng tuyệt nhiên không có một dòng nào về Nguyễn Gia Thiều và Cung Oán Ngâm Khúc


Sự kiện GS Phạm Văn Diêu bỏ sót Cung Oán Ngâm Khúc, dù cố ý hoặc vô tình, là một trường hợp hiếm hoi, thế nhưng cũng phần nào nói lên sự thờ ơ của giới nghiên cứu văn học đối với áng thơ đặc biệt đó. Tại sao vậy? Phải chăng tại vì Cung Oán Ngâm Khúc có nhiều khuyết điểm?


Thật ra sản phẩm do con người tạo nên không thể nào toàn bích, nhất là trong lãnh vực văn chương. Dưới những góc nhìn khác nhau, việc khen chê tất nhiên cũng khác nhau. Hoặc giả tự thân của một tác phẩm nào đó có nhiều sai sót, cho nên không xứng đáng đứng ngang hàng với những tác phẩm giá trị khác. 


Ngay trong Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du, một con đường vạn dặm đầy hoa thơm cỏ lạ với độ dài đến 3254 câu, cũng có mấy đám cỏ dại mọc lên đây đó. Chỉ xin nêu ví dụ sau đây: Lặp lại từ ngữ ngoài ý muốn, và lúng túng trong cách chọn chữ để gieo vần. [3]


Chưa hết, Truyện Kiều mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. Nếu cốt truyện cũng do Nguyễn Du sáng tác, Truyện Kiều càng thêm giá trị.


Chinh Phụ Ngâm với số câu ít hơn nhiều – 408 câu – dường như không có khuyết điểm nào đáng kể. Nỗi lòng của người chinh phụ được diễn tả một cách sâu lắng bằng những câu thơ khi êm đềm, khi réo rắt, lúc sầu muộn, lúc mơ màng. Nhưng đó lại là bản dịch từ bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, thỉnh thoảng có những đoạn ngắn mô phỏng thơ Trung Hoa, nhất là thơ Đường. Đúng ra, lỗi này do tác giả nguyên tác là Đặng Trần Côn vấp phải. Đoàn Thị Điểm chỉ là người dịch. [4]


Vậy Cung Oán Ngâm Khúc, với 356 câu, ngắn hơn Chinh Phụ Ngâm 52 câu, do Nguyễn Gia Thiều sáng tạo, không có những câu dịch từ thơ Tàu, không vay mượn cốt truyện ngoại quốc, có những ưu, khuyết gì?


Trước hết, xin tóm tắt diễn tiến trong Cung Oán Ngâm Khúc. Rất đơn giản. Người đẹp tài sắc hơn người được tuyển vào cung làm cung nữ. Sau một thời gian được sủng ái, nàng bị chán bỏ. Sống trong cô đơn, nàng đau đớn nhớ tiếc những ngày hoan lạc cũ, buồn khổ than thân trách phận, giận trời oán người, và mong có ngày được nhà vua hồi tâm nhớ lại nàng. 


Câu chuyện đơn sơ như thế rất dễ bị nhạt nhẽo, nhàm chán nếu không được viết bởi một ngòi bút lỗi lạc. 


Bắt đầu là tám câu dẫn nhập [5] viết rất tài tình về một người cung nữ, trong một căn phòng lạnh lẽo, bên ngoài gió thu hiu hắt thổi, miên man nghĩ đến thân phận bạc bẽo của mình từ khi bị thất sủng.


Tiếp theo ngay sau đó, tác giả dành một phần rất dài, 124 câu, mô tả tài sắc của nàng cùng những ý nghĩ về cuộc sống vô thường, bèo bọt, dâu biển. 


Đây là một thứ nhan sắc hiếm có khiến cho cỏ cây, chim cá không những đều mê đắm, mà lạ ở chỗ là còn muốn “nổi tình mây mưa” với nàng. Những tuyệt thế giai nhân như Hằng Nga, Tây Thi đều phải nể sợ:  


Áng Đào Kiển đâm bông não chúng

Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành

Bóng gương thấp thoáng sau mành

Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa

Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn

Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa

Hương trời đắm nguyệt say hoa

Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình 


Còn tài thì sao? Thơ hơn Lý Bạch, vẽ hơn Vương Duy, cờ như Đế Thích, rượu như Lưu Linh. Lại giỏi cả thổi sáo, đánh đàn, ca, múa. Tóm lại cầm, kỳ, thi, họa đủ bộ sậu, và còn thêm tửu, địch, ca, vũ, mọi môn đều đoạt giải quán quân:


Câu cẩm tú đàn anh họ Lý

Nét đan thanh bậc chị chàng Vương

Cờ tiên rượu thánh ai đang

Lưu Linh, Đệ Thích là làng tri âm

Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã

Địch lầu thu đọ gã Tiêu Lang

Dẫu mà tay múa miệng xang

Thiên tiên cũng ngảnh Nghê Thường trong trăng


Thế nhưng nàng lại sớm bi quan, yếm thế. Với nàng, đời là bể khổ, bến mê. Ngay cả núi sông cũng phong trần, cỏ hoa cũng tang thương:


Phong trần đến cả sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này

...

Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ

Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu

Sóng cồn cửa bể nhấp nhô

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh

...

Tuồng huyễn hoá đã bày ra đấy

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì


Qua những phần vừa trình bày, người đọc thấy ngay rằng lời thơ của Cung Oán Ngâm Khúc rất điêu luyện, trau chuốt nhưng thỉnh thoảng tác giả phóng bút quá đà. 


Tài và sắc của nhân vật này đều ngoại hạng, thế gian có một không hai. Cho nên biết bao nhiêu người trong nước xôn xao khi nghe nói về nàng. Trong suốt tác phẩm, tất cả đều nghiêm túc, có khi đanh thép. Nhưng chỉ chi tiết này thôi chứng tỏ tác giả cũng có cái lối hài hước rất đặc biệt. Nói đùa mà mặt mày nghiêm nghị: Chỉ mới nghe nói về người đẹp, người ta đã nổi cơn bệnh Tề Tuyên:


Tài sắc đã vang lừng trong nước

Bướm ong càng xao xác ngoài hiên

Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn

Bệnh Tề Tuyên Đã nổi lên đùng đùng


Nàng còn có tài uống rượu. Một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn đến thế có cần phaỉ kiêm thêm tài uống rượu? Cái tài đó có khiến cho ta thêm ngưỡng mộ nàng hay không? Ngày xưa chưa có ai dám ca tụng tài uống rượu của phái nữ trừ Nguyễn Gia Thiều. Thế bây giờ? Đành rằng vào thời đại nam nữ bình quyền, bình đẳng này, người nữ có thể làm bất cứ chuyện gì người nam đã và đang làm, nhưng do cấu trúc thể chất khác nhau cho nên vẫn có một số lãnh vực thích hợp riêng cho mỗi phái. Ví dụ Nam khoe “cơ bắp”, nữ khoe “đường cong”. Nam thô cứng, Nữ dịu dàng. Có cuộc thi Hoa Hậu thế giới hàng năm, nhưng đàn ông thì thi Lực Sĩ Đẹp. Và cũng chưa thấy Thế Vận Hội nào tổ chức những cuộc tranh tài giữa Nam và Nữ để cổ võ vấn đề Nam Nữ bình đẳng. 


Thế quan niệm về nhân sinh của người đẹp? Mới lớn lên, còn là một thiếu nữ đào tơ khi chưa được tuyển vào cung, đáng lẽ phải nhìn đời qua lăng kính màu hồng, nàng lại chán đời quá sớm. Tất nhiên nàng chưa có thì giờ nếm đủ mùi đời đến chán ngán, chưa có thể đi hết con đường dài đầy chông gai để gót chân bị rỗ kì khu. Vậy sự chán đời do đó không thật, gượng gạo.


Ngoài một số chi tiết vừa nêu lên, người đọc còn có cảm tưởng người cung nữ này thiếu nữ tính. Hay là tại vì tác giả vốn thuộc phái nam đã không dằn được “cái tôi” khi sáng tác? Những biểu lộ về tình cảm, những phản ứng trước nghịch cảnh, thường dữ dội, cứng cỏi, đôi khi thô vụng, sấn sổ như một người đàn ông cục mịch và bạo tàn.


Người đẹp tự nghĩ về giá trị cao sang của mình:


Hương trời sá động trần ai

Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khi


Tự thấy mình có mùi hương đặc biệt:


Hồng lâu còn khóa then sương

Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành


Coi đấng tạo hoá như trẻ con:


Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán

Chết đuối người trên cạn mà chơi


Tự đắc khi được vua yêu:


Trên trướng gấm Chí tôn vòi vọi

Những khi nào gần gũi quân vương

Dẫu mà ai có nghìn vàng

Đố ai mua được một tràng mộng xuân


Bị thất sủng, nàng liền tỏ vẻ bất kính ví nhà vua là cá no mồi khó nhử:


Vốn đã biết cái thân câu trõ

Cá no mồi cũng khó nhử lên


cùng lời mắng suồng sã, sống sượng, gay gắt:


Khoảnh làm chi bấy chúa xuân

Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi


Khi nổi giận nàng cũng phản ứng một cách bất thường. Thay vì khóc tấm tức hay “vật mình vật mẩy” như những người con gái khác, đằng này nàng lại hung hăng tay thì muốn giật đứt dây tơ hồng, chân thì co lên đạp tiêu phòng để lao thoát ra ngoài. Hùng hổ như một võ sĩ Thiếu Lâm:


Tay Nguyệt Lão chẳng xe thì chớ

Xe thế này có dở dang không

Đang tay muốn dứt tơ hồng

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra


Những điều vừa nêu trên có thể xem như khuyết điểm. Ngược lại, ưu điểm trong Cung Oán Ngâm Khúc cũng không thiếu. 


Đoạn văn đề cập đến nhân sinh quan của người cung nữ trước khi vào cung đúng là không thích hợp với tuổi thanh xuân. Trái lại nếu áp dụng vào hoàn cảnh của một vị lão thần bị nhà vua hắt hủi, thì đấy là một thiên đại luận về tính cách vô thường, bèo bọt, khốn khổ của kiếp người:


Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc

Lớp cùng thông như đục buồng gan

Bệnh trần đòi đoạn tâm can

Lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da

Gót danh lợi bùn pha sắc xám 

Mặt phong trần nắng nám mùi dâu

Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê


Đoạn trên chỉ là một dẫn chứng về một lối văn chải chuốt, điêu luyện, đầy hình ảnh, súc tích, già dặn, rắn rỏi, và cô đọng. Phong cách đó tràn ngập suốt tập thơ chẳng khác gì những viên ngọc quý đính vào tấm thảm nhung. 


Có những câu thơ rất ngắn nhưng cực tả được thân phận nhỏ nhoi, hèn mọn của con người trong vũ trụ bao la:


Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm


Lại có nhiều câu mở rộng ra và khêu gợi lên biết bao nhiêu là tình ý. Hai câu thơ dưới đây thường được các nhà phê bình văn học nhắc nhở bằng những lời ca ngợi na ná nhau:  


Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ

Quán thu phong đứng rũ  tà huy


Riêng GS Nghiêm Toản trong Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu [6] đã cao hứng bình luận khá dài về hai câu thơ trên. Xin tóm tắt:


Bên bến đò ngang có cái quán tranh nhỏ, chủ quán là bà già tóc bạc phơ. Những người lỡ chuyến đò thường ghé lại quán nghỉ chân, kẻ ngồi trên phản, người ngồi xuống đất hoặc ngoài hiên, đói thì ăn củ khoai lang, khát thì uống bát chè tươi, rồi rít điếu thuốc lào. Chuyện trò với những người quen cũ hoặc mới quen tự nhiên nổ ra vui như hội. Cảnh tượng thật là thân thương và náo nhiệt. Nhưng rồi chiếc cầu được bắt ngang qua sông, bên dưới nước chảy miên man (thệ thuỷ) như dòng thời gian trôi. Từ đó, bến đò xưa (cổ độ) không người đến, ngồi trơ bên sông. Quán tranh cũ, không ai ghé, đứng rũ dưới bóng chiều để mặc gió thu vào.


Những chuyện phòng the giữa nhà vua và cung nữ được diễn tả tuy bóng gió nhưng rất lộ liễu, bạo dạn, và đầy hình ảnh khêu gợi:


Cái đêm hôm ấy đêm gì

Bóng Dương lồng bóng Đồ My trập trùng

Liều thược dược mơ mòng thụy vũ

Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu

Cành xuân hoa chúm chím chào

Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai

...

Đệm hồng thuý thơm tho mùi xạ

Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh

Mây mưa mấy giọt chung tình

Đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn

...

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt

Lúc cười sương cợt tuyết đền phong

Đoá lê ngon mắt cửu trùng

Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu

Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt

Lòng quân vương chi chút trên tay

Má hồng không thuốc mà say

Nước kia muốn đổ thành này muốn long


Người đẹp lại còn nhân đó lả lơi, uốn éo, khiến cho đấng quân vương càng mê đắm:


Thôi cười nọ lại nhăn mày liễu

Ghẹo hoa kia lại nhíu gót sen

Thân này uốn éo vì duyên

Cũng cam một tiếng thuyền quyên với người


Đến khi nàng bị thất sủng, người đọc gặp những câu thơ nghe thật bi thiết:


Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ

Gác thừa lương thức ngủ thu phong

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng

Gương loan bẻ nửa giải đồng xẻ đôi 

Chiều ủ dột giấc mai trưa sớm

Vẻ bâng khuâng hồn bướm ngẩn ngơ

Thâm khuê vắng ngắt như tờ

Cửa châu gió lọt rèm ngà sương gieo


Khi nỗi buồn khổ lên đến cực điểm, suốt đêm không ngủ sờ vách đi quanh, nàng đay nghiến:


Đêm năm canh lần nương vách quế

Cái buồn này ai dễ giết nhau

Giết nhau chẳng  cái Lưu Cầu

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa


Lắm lúc tưởng nhà vua hồi tâm nhớ lại nàng:


Khi trận gió lung lay cành bích

Nghe rì rào tiếng mách ngoài xa

Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra

Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn

Ai ngờ tiếng dế ran ri rỉ

Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng

Vắng tanh nào thấy vân mòng

Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh


Cách đây gần ba thế kỷ Nguyễn Gia Thiều đã viết hay đến thế, bạo đến thế, tha thiết đến thế.  Đúng là một hiện tượng. 


Cho nên những khuyết điểm như đã nêu không thể nào lấn lướt được ưu điểm. 


Thế nhưng tại sao Cung Oán Ngâm Khúc bị lạnh nhạt? Có thể vì hai lý do sau đây.  


Thứ nhất, các cụ ta xưa thường lên án hoặc không muốn đề cập tới nhục dục [7], cho đó là chuyện xấu xa, phạm thuần phong mỹ tục. Văn dùng để chuyên chở đạo lý (Văn dĩ tải đạo) chứ không phải dùng để ca tụng xác thịt, vật chất, nhảm nhí. Nguyễn Gia Thiều thì khác hẳn. Như đã nói, tác giả Cung Oán Ngâm Khúc, không chút ngại ngùng, đã đem tài ba kiệt xuất của mình diễn tả thú yêu đương chăn gối với tất cả niềm sảng khoái, mê ly, hăm hở.


Nguyễn Gia Thiều, với những câu thơ liên quan đến thú nhục dục, đã đi trước thời đại hơn hai thế kỷ. Hơn xa Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan của thế kỷ XX (Xin xem chú thích 7). Ngay cả Nhất Linh với sự nghiệp văn học lớn lao, cũng phải chờ đến hai tác phẩm cuối đời là Bướm Trắng, Xóm Cầu Mới mới phần nào mạnh dạn mô tả cái thú yêu đương xác thịt. Hiện nay “Ca Tụng Thân Xác”, lấy từ nhan đề một tác phẩm của GS Nguyễn Văn Trung, không còn là điều cấm kỵ.

Thứ nhì, tư cách của người cung nữ cũng bị chê trách. Khi nàng được sủng ái thì thoả thích, tự đắc quá đáng; khi bị chán bỏ thì giận dữ, gay gắt cũng không kém. Nhưng trong thâm tâm vẫn mong có ngày được hưởng ân huệ cũ. Người cung nữ như thế bị lên án là giả dối, trơ trẽn. [8]


Tuy nhiên tư cách người cung nữ không nhất thiết làm tổn hại giá trị của tác phẩm. Có thể tác giả muốn tả người cung nữ “xấu tính” như thế đấy: tay đã nhúng chàm thì buông thả luôn, nên không thoát ra khỏi vòng tục lụy. 


Trong văn học Việt Nam hay thế giới, những tác giả lừng danh không phải chỉ viết về những nhân vật thánh thiện, đạo cao đức trọng, những đấng anh hùng, liệt nữ. Nhân vật phản diện cũng được nói tới. Nguyễn Du từng mô tả Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, độc ác trong Truyện Kiều, hay Gustave Flaubert trong kiệt tác Madame Bovary dựng nên  nhân vật nữ Emma Bovary muốn sống xa hoa vượt ra ngoài tầm tay của mình, muốn thoát ly ra khỏi những nhàm chán của đời sống tỉnh lẻ, rồi ngoại tình, rồi cuối cùng đi đến cái chết. Khi được hỏi Bà Bovary là ai vậy? Là một nhân vật có thật hay hư cấu? Tác giả trả lời ngay: Bà ấy chính là tôi.


Tóm lại, nếu Truyện Kiều là một lâu đài đồ sộ, lộng lẫy, Chinh Phụ Ngâm là một dòng suối huyền diệu chảy quanh co uốn khúc, thì Cung Oán Ngâm Khúc đứng sừng sững như một pho tượng cổ cô đơn, tuyệt đẹp làm bằng một thứ ngọc quý chạm trổ công phu, tinh vi.

                                                                                                                                              

6/2022


Chú thích


  1. Có thuyết cho rằng Phan Huy Ích (1750-1822) là dịch giả nguyên tác Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn (sinhvào khoảng đầu thế kỷ 18 đời vua Lê Dụ Tông)


  1. Việt Nam Văn Học Giảng Bình in lần thứ ba, nhà xuất bản Hoành Sơn, Sài Gòn, 1970.


  1. Dùng từ ngọc vàng trùng lặp, và lúng túng trong các âm an, quan, hàng, nàng, vàng:


Đóng quân làm chước chiêu an



Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng

Lại riêng một lễ với nàng

Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân   

(người viết bài này tô đậm)


Hoặc trong suốt 12 câu liên tiếp tác giả luẩn quẩn không thoát ra khỏi các âm na ná nhau:


Nhân khi bàn bạc gần xa

Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào

Rằng: “Ơn thánh đế  dồi dào

Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu

Bình thành công đức bấy lâu

Ai ai cũng đội trên đầu biết bao

Ngẫm từ dấy việc binh đao

Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu

              Làm chi để tiếng về sau

Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào

Sao bằng tước lộc quyền cao

Công danh ai dứt lối nào cho qua

(người viết bài này tô đậm)


           4. Thơ Lý Bạch:

Hán hạ Bạch Đăng Thành

Hồ khuy Thanh Hải Khúc

(Hán xuống thành Bạch Đăng

Hồ dòm bãi Thanh Hải)

Chinh Phụ Ngâm:

Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại

Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua


Thơ  Vương Xương Linh:

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

(Chợt thấy đầu đường màu dương liễu

Hối hận đã khuyên chồng đi kiếm Phong Hầu)

Chinh Phụ Ngâm:

Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu

Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong


        5. Trải vách quế gió vàng hiu hắt

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

Oán chi những khách tiêu phòng

Mà xui phận bạc nằm trong má đào

Duyên đã may cớ sao lại rủi

Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang

Vì đâu nên nỗi dở dang

Nghĩ mình mình lại thêm thương nỗi mình


6. Nhà Sách Vĩnh Bảo, 46 Lagrandère – 156 Pellerin, Sài Gòn, ngày 23  tháng Tư năm 1949


              7. Hồ Xuân Hương thì khác. Nữ sĩ này nói đến nhục dục bằng lối văn cười cợt, châm biếm, đả phá, chứ không có ý ca tụng thân xác. 


Ngay cả những nhà phê bình thời tiền chiến như Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam, Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đều tỏ ra dị ứng  với những câu thơ “vẩn đục”, “suồng sã” của Hàn Mạc Tử. 

Hoài Thanh viết: “Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập này (Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội- NT chú thích) là trong trẻo hơn cả. Còn từ thơ Đường luật với những câu

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn 

cho đến Gái Quê, Thơ Điên, Xuân Như Ý và các tập khác, lời thơ thường vẩn đục.”

Vũ Ngọc Phan nhận định về Gái Quê: “Đến bài Hát Giã Gạo (Gái Quê trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây đầy đặc vật chất, làm cho người ta phải lợm giọng.”


           8. GS Hà Như Chi (Nguyên GS trường Quốc Học - Huế) trong Việt Nam Thi Văn Giảng Luận, sách dày trên 850 trang (in lần thứ năm, Nhà Xuất Bản SỐNG MỚI, 30 B Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, 24-11-70 ) đã viết một bài đặc sắc về Cung Oán Ngâm Khúc. Trong phần nhận định giá trị của Cung Oán Ngâm Khúc về các mặt kết cấu, tâm lý nhân vật, văn chương, khi bàn về người cung nữ, Giáo Sư viếtnhư sau: 

Khi bị chán bỏ, nàng trách móc nhà vua rất nặng nề, giọng điệu rất mỉa mai, chua chát, nàng đã tỏ ra oán ghét thậm tệ cái địa vị cao sang, thế mà cuối cùng vẫn có một lời hy vọng ngấm ngầm mong mỏi được hưởng cái ân huệ đã mất ... Thái độ của nàng chỉ là thái độ hèn kém của hạng người thiếu suy nghĩ, được sung sướng thì khen lơn, bị khổ cực thì lập tức hờn ghét, không đắn đo sau trước, giả dối và trơ trẽn.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét