Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

TS. Đinh Xuân Quân: Indonesia Thay Đổi Lập Trường Về Biển Đông?

 Theo các cơ quan truyền thông quốc tế và tờ Jakarta Post thì ngày 29/12/2021 phó đô đốc Aan Kurmia, đứng đầu Cơ quan An ninh Hàng hải Indonesia (gọi tắt là Bakamla), đã gửi lời mời đến các đồng nhiệm Brunei, Malaysia, Philippines, Singapore và Việt Nam tham dự một cuộc họp vào tháng 2, 2022 với mục tiêu chính là « đưa ra một cách tiếp cận phối hợp » về các vấn đề ở Biển Đông (BĐ)  « cách ứng phó trên thực địa khi chúng ta phải đối mặt với cùng ‘‘xáo trộn’’ ».

Đề xuất này của lãnh đạo Cơ quan An ninh Hàng hải Indonesia được các quốc gia ven Biển Đông hưởng ứng. Theo ông Thomas Daniel, nhà nghiên cứu tại Viện Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế Malaysia (ISIS), đề nghị nói trên của Jakarta là « táo bạo và rất đáng quan tâm ». Ông Satya Pramata, một quan chức cao cấp trong chính phủ Indonesia, một cựu thuyền trưởng trong lực lượng tuần duyên, cho biết một cuộc họp như vậy sẽ là « cơ hội tuyệt vời để Cảnh sát biển ASEAN và lực lượng thực thi pháp luật hàng hải trao đổi và hợp tác ».

Theo tờ The Diplomat ngày 29/12, nhà báo Sebastian Strangio, chuyên theo dõi về các vấn đề Đông Nam Á, nhận định : Lời kêu gọi đoàn kết nói trên của Indonesia có thể là tín hiệu cho thấy Jakarta « công nhận rõ ràng mức độ nghiêm trọng của thách thức mà Trung Quốc đặt ra trong vùng đặc quyền kinh tế của đất nước, mà quốc gia này không có khả năng xử lý một mình. Đây có thể là dấu hiệu đầu tiên cho thấy các nhà hoạch định chính sách Indonesia - hoặc ít nhất là những người nắm rõ nhất với tình hình thực tế ở khu vực Natuna - đang thức tỉnh trước thái độ phủ nhận (mối đe dọa Trung Quốc) suốt thập kỷ qua ».

Ai cũng biết khó mà 10 thành viên khối ASEAN gồm Miến Điện, Cambodia, Lào và Thailan, và các nước khác là Indonesia, Philippines, Malaysia, Brunei, Singapore và Việt Nam có thể đạt được đồng thuận trong vấn đề Biển Đông.  Trung Quốc đã khai thác thành công chỗ yếu của khối này là nguyên tắc “đồng thuận của ASEAN” để ảnh hưởng đến lập trường chung ASEAN về Biển Đông, cũng như việc thương thuyết về Bộ Quy tắc Ứng Xử ở Biển Đông - COC

Mới đấy sau các chuyến viếng thăm liên tiếp tại ĐNÁ của Phó TT Kamala Harris ở Singapore và Việt Nam, chuyến thăm của Bộ trưởng quốc phòng Lloyd Austin tại Singapore, Philippines, và Việt Nam, chuyến thăm của Phó Ngoại trưởng Wendy Sherman tại Indonesia, Cambodia, và Thailan, và chuyến thăm của phụ tá Ngoại trưởng Daniel Kritenbrink tại Malaysia, Indonesia, Singapore, và Thailan, và Ngoại trưởng Antony Blinken tại Indonesia và Malaysia, có phải chính sách ngoại giao mới của TT Biden đã nhằm tăng cường ASEAN và làm cho Indonesia mạnh mẽ lên tiếng? 


Việc gì đã xẩy ra đối với Indonesia, một nước lớn về dân số, mạnh về quân sự và kinh tế của ĐNA? Tổng Thống Jokowi Widodo của Indonesia một nước với 275 triệu dân đa số là Hồi giáo, có chính sách kinh tế thân thiện với TQ nay có  thay đổi lập trường từ chỗ thân thiện với TQ sang chỗ trung lập hơn, ngả dần về Tây phương?  

Bài này sẽ nói qua quá khứ gần về chính trị, và việc thay đổi từ từ của lập trường Indonesia và của Malaysia. Có phải việc này sẽ đi đến có một khối ASEAN quanh Biển Đông có lập trường khác các nước ASEAN – tách ra khỏi các nước thiên TQ như Lào, Cambodia và Miến Điện? 

Bài này cũng cho thấy những thay đổi quan trọng và các lập trường mới của các nước ASEAN tại ngưỡng cửa 2022.

Vài nét của chính trị khu vực Biển Đông (BĐ)

Trước hết các nước ASEAN chung quanh biển đông thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau từ quân chủ với Brunei tới quân chủ lập hiến ở Malaysia, dân chủ với Indonesia và Singapore trong khi VN theo chế độ Cộng Sản. 

Ngoài chế độ chính trị, việc Trung Quốc đã khéo léo khai thác có lợi cho họ nguyên tắc “đồng thuận của ASEAN” để ảnh hưởng đến lập trường chung của ASEAN về Biển Đông. Khi không có đồng thuận của 10 nước, các nước ASEAN ‘bị động’ không thể có lập trường chung như đường 9 đoạn của TQ không được Liên Hiệp Quốc (LHQ) công nhận hay trong vấn đề  khai thác tài nguyên vùng này. Ví dụ một nước ASEAN bị TQ mua chuộc qua các đầu tư hay hứa đầu tư thì khối ASEAN không có thể có được đồng thuận và trở thành bị động với các vấn đề cốt lõi.

Những khó khăn giữa các nước ASEAN trong vùng là đánh cá và khai thác dầu khí. Đối với việc khai thác dầu khí thì ít có tranh chấp vì các nước đều tuân theo luật quốc tế, khai thác trong vùng lãnh hải độc quyền của họ (EEZ). Tranh chấp ASEAN quanh BĐ và TQ là đường 9 đoạn – tranh chấp vì TQ đòi 90% chủ quyền tại Biển Đông. 

Theo tờ Jakarta Post, các khó khăn trong quan hệ Việt-Indonesia trong nhiều thập kỷ là việc đánh bắt hải sản bất hợp pháp. Việc này cũng dễ hiểu vì ngư dân VN bị TQ ép và xua đuổi ở phía bắc BĐ cho nên phải chạy về phía nam đụng chạm vùng đánh cá của Indo. Năm 2019, Indonesia đã bắt giữ và hủy diệt 38 tàu của ngư dân Việt Nam bị tội đánh cá trái phép. Giới quan sát cũng ghi nhận tình trạng tương tự giữa Việt Nam và Philippines, cũng như giữa Indonesia và Malaysia.

Nay nhưng quan hệ về an ninh biển giữa Indonesia và Việt Nam cũng có bước tiến bộ. Hội nghị trực tuyến ngày 28/12 cho thấy cảnh sát biển Việt Nam và cảnh sát biển Indonesia đã ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác an ninh, an toàn hàng hải giữa hai lực lượng. Theo Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), văn bản ký kết nói trên « đánh dấu chính thức sự khởi đầu của mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và toàn diện giữa hai cơ quan kể từ Ý định thư về tăng cường hợp tác giữa hai bên ký kết ngày 23/8/2017 ».

Lập trường trung lập cố hữu Indonesia trong vùng Biển Đông 

Vì có những thể chế chính trị khác nhau, vì các vấn đề lịch sử ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao cho nên các các nước ASEAN trong vùng BĐ có chính sách khác nhau. Trong trường hợp Indonesia, họ có chính sách ngoại giao độc lập từ vào 1945.  Indonesia là một nước đứng đầu khối thứ 3 không theo bên nào, đứng giữa Tây phương và Cộng sản.


  1. Dưới thời Sukarno, Indonesia theo chính sách trung lập (khối thứ 3). Họ là một trong các nước đầu tàu về chính sách này với hội nghị Bandung. Ngược lại, dưới thời Suharto, Indonesia theo chính sách chống cộng vì đảng CS Indo (PKI) theo TQ, theo Mao Trạch Đông do đó TT Suharto đã sát hại hơn nửa triệu thành viên PKI, đa số người gốc Hoa. Sau 32 năm thời Suharto, Indonesia bị Hoa kỳ cấm vận vì có các vụ đàn áp tại Đông Timor vào 1998 khi hòn đảo này dành độc lập từ Indo. Dưới thời Obama, người đã từng sống tại Jakarta, chính phủ Indo có phần thân Hoa kỳ hơn.  Dưới thời TT Widodo, TQ đã trở thành một nước đầu tư nhiều về xa lộ, nhà máy điện, xe lửa cao tốc, và cung cấp 80% vaccin chống Covid. Sau một cuộc bể dâu về các si-căn-đan về xe lửa cao tốc và vaccine (hơn 300 BS đã thiệt mạng vì vaccine không hiệu nhiệm), chính phủ Indo đi từ phía thân TQ sang trung lập và nay có phần thiên với Hoa kỳ và tây phương vì vấn đề Biển Đông.

 

  1. Vì thiên về đầu tư TQ, theo GS. Laksmana của  Đại Học Singapore’s Lee Kuan Yew School of Public Policy thì trong nhiều năm chính sách ngoại giao của Indo là làm ngơ chính sách đường 9 đoạn của TQ (đòi 90% BĐ). Indo lúc nào cũng nói là họ không có tranh chấp tại BĐ, tại vùng Natuna – một hòn đảo miền nam Biển Đông. Họ làm ngơ chính sách ngày càng quyết đoán của TQ. TQ lúc nào cũng dùng chính sách ngoại giao vùng xám (còn gọi là chính sách tằm ăn dâu lấn áp, xâm chiếm nhưng không bao giờ đến nỗi phải có xung đột).     


  1. Chính sách của TQ là làm ngơ mọi luật lệ quốc tế, triệt để áp dụng đường 9 đoạn do họ tự dựng lên nhưng bị một phán quyết của tòa án LHQ 2016 bác bỏ.  TQ muốn áp dụng chính sách “cá lớn ăn cá nhỏ”, không có luật rõ ràng có khi đi ngược với các luật quốc tế mà chính họ đả đặt bút k‎í (UNCLOS hay luật biển 1982). Muốn thực hiện chính sách xâm chiến BĐ họ muốn đẩy các nước ngoài vùng ra khỏi, muốn đàm phán song phương để dễ lấn áp các nước nhỏ, xây dựng các hỏn đảo nhân tạo để quân sự hóa, kiểm soát vùng này, dùng dân quân và kiểm ngư và cảnh sát biển, dùng sức mạnh hàng hải, tuần duyên để đẩy các nước này ra khỏi vùng họ kiểm soát – cấm họ khai thác dầu khí trừ khi các nước này chấp nhận khai thác với các công ty TQ, biến từ từ chỗ không có tranh chấp đến chỗ có tranh chấp. Hơn nữa TQ còn ra các luật cấm đánh cá và hải quân của TQ liên tiếp tập trận bắn đạn thật trong vùng BĐ, nói chung luôn luôn dùng chính sách hù dọa.  

  2. Chính sách “đế quốc Hán – ăn hiếp các nước nhỏ - tầm ăn dâu” của TQ khá rõ (mặc dù khi nào họ cũng nói là láng giềng tốt – 4 tốt và 16 chữ vàng), ve vãn các nước nhỏ và nếu cần ra tay hăm dọa, trừng phạt kinh tế đối với các nước không thân thiện với họ (nhìn những gì TQ áp dụng với  Nhật khi có tranh chấp tại Senkaku (tẩy chay hàng hóa và xe hơi), với Nam Hàn vì Nam Hàn cho Hoa Kỳ đặt hòa tiễn (tẩy chay các siêu thị Lotte), với Phi vì tranh chấp BĐ (cấm nhập trái thơm, chuối và nông phẩm), Đài Loan vì tranh chấp chủ quyền (cấm nông phẩm, du lịch). Gần đây tại biên giới Việt – Trung đã có trên 5,000 xe chở nông phẩm VN bị ứ đọng tại biên giới vì phía TQ cho là trái Thanh Long có dính Covid).    

  3. Các nước kể cả Hoa Kỳ đã thấy rõ chính sách này trên thực tế. Hoa Kỳ đã thay đổi từ từ chính sách từ khi chuyển trục (pivot) hải quân từ Tây sang Thái Bình Dương (2010), thi hành chính sách tự do hàng hải với các tuần tra của hải quân Hoa Kỳ, chính sách an ninh Ấn Độ - Thái Bình Dương.  Các chính sách Hoa Kỳ bị các nước ASEAN trong vùng nghi ngờ khi TQ chiếm Vành Khăn (Scarborough Shoal) nằm rõ ràng trong EEZ của Phi năm 2012 mà Hoa Kỳ không nhúc nhích. Hơn nữa năm 2017, dưới thời TT Trump, Hoa Kỳ đã rút ra khỏi TPP một hiệp ước thương mại phải mất 10 năm để xây dựng nên. Các chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong quá khứ không mấy rõ ràng, thay đổi liên tiếp đã gây cho nhiều nước trong khu vực thất vọng và phải nghi ngờ với những cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực BĐ. Trước thái độ như thế của Hoa Kỳ, các nước ĐNA nghi ngờ về quyết tâm Hoa kỳ tại ĐNA, nhất là khi họ chọn phải đứng về bên nào. 


  1. Nay chính quyền Biden đã nói rõ là các nước ĐNA không cần chọn bên. Hoa Kỳ chỉ nhấn mạnh việc tuân thủ các luật lệ quốc tế, về luật biển và tự do hàng hải. Chính quyền Biden qua Ngoại Trưởng Blinken tái xác nhận các chủ quyền các nước trong vùng BĐ (độc quyền khai thác trong các vùng EEZ) của Indo, Malaysia, Phi và VN. Chính sách này đi ngược với chính sách đường 9 đoạn của TQ tại BĐ. Tại Singapore, Bộ trưởng quốc phòng Austin nêu lên chính sách các nước nhỏ trong vùng có quyền quyết định về việc khai thác ngư nghiệp hay dầu khí mà luật quốc tế cho phép họ làm. Các việc đưa ra căn bản của chính quyền Biden mới đây – việc viếng thăm của các quan chức Hoa kỳ, các chính sách tái xác nhận các khu độc quyền kinh tế (EEZ) và việc quyết định khai thác tài nguyên là một việc tái xác nhận một nước Hoa Kỳ dựa trên luật quốc tế chứ không phải luật rừng. Rõ ràng là Hoa Kỳ cho thấy là các nước ASEAN hợp tác là quyền lợi của chính của họ, mà không cần phải theo phe nào. Hoa Kỳ sẽ đứng sau ủng hộ luật pháp quốc tế (qua các cuộc tuần tra – tập trận đa phương và yểm trợ kinh tế của họ). 

  2. Mới đây trong quan hệ Hoa kỳ - ĐNA, chính quyền Biden đưa ra một chính sách mở rộng gồm thay đổi khí hậu, chuỗi cung cầu (sản xuất - kinh tế), chính sách chống COVID (Indo đã có nhiều kinh nghiệm đau thương  với vaccin TQ Sino Pharm – hiện nay trên thế gới vaccin NRnA là vaccin tốt nhất có thể có chưa kể Hoa kỳ là nước duy nhất sản xuất thuốc chữa bệnh).  Đối với các nước ĐNA đây là tình hình mới và họ có thể mong trong tương lai gần sẽ có chính sách kinh tế đi kèm theo các chính sách an ninh vùng. 


Chính sách của chính quyền Biden về nhân quyền, tự do và dân chủ dựa trên luật lệ nhưng cũng thực tế, có phần nhẹ tay vì các nước trong vùng không phải nước nào cũng là nước dân chủ.  Tại Singapore, bộ trưởng Austin cho là dân chủ của Hoa Kỳ cũng không phải là l‎í tưởng (flawed) cho là các chính phủ đều phải cố hoàn thiện.  Như vậy là chính sách của chính quyền Biden có phần thiết thực hơn để kéo các nước trong vùng như Singapore, Việt Nam, và Thái Lan về phía họ. Tại Jakarta, Indonesia, NT Blinken chỉ nói về cái nhìn (vision for the region), nhưng chính sách (strategy) cho vùng thì chưa rõ. 


Đánh giá lời kêu gọi của Jakarta


Kêu gọi của cơ quan an ninh hàng hải Indonesia với mục tiêu « đưa ra một cách tiếp cận phối hợp » về các vấn đề ở Biển Đông là một tiến bộ đáng kể mặc dù đây chưa phải là kêu gọi ở cấp chính phủ mà ở cấp các cơ quan thực thi hành pháp của Indonesia. Cũng như nhà bình luận  Sebastian Strangio nói, nay Indonesia không chối cãi là họ không có tranh chấp và dính vào BĐ. Theo các cơ quan truyền thông, nay TQ yêu cầu Indonesia ngưng thăm dò và khai thác dầu khí trong khu độc quyền EEZ của Indonesia gần đảo Natuna. Có lẽ đây là lằn ranh đỏ đối với Indonesia và nay phải nhập cuộc.  Các nước khác đều có tranh chấp với TQ.  VN đã có rất nhiều kinh nghiệm tranh chấp với TQ trong nhiều năm và đã phải ngưng thăm dò và phải bồi thường công ty Tây Ban Nha mặc dù là việc khai thác dầu khí trong vùng EEZ của VN.  Malaysia bị TQ quấy phá các vụ thăm dò và kêu gọi ngưng khai thác. Brunei thì quá nhỏ còn tranh chấp Trung – Philippines thì thái độ quá rõ, mặc dù TT Duaterte có lúc thiên TQ.

Vì chính sách đồng thuận trong ASEAN cho nên khối này bị tê liệt hoàn toàn nhất là về các vấn đề BĐ. Việc kêu gọi của các nước ASEAN trong BĐ là một tiến bộ ngoài tưởng tượng, nhất là đến từ Indo. Lời kêu gọi từ Indo cũng rất quan trọng vì Indo là nước có ảnh hưởng lớn trong ASEAN. Đây có phải là việc thay đổi lập trường của Indo?  

Trong thời gian gần, TQ nay coi vùng Natuna là một vùng có “tranh chấp” với đường 9 đoạn. Từ 2019 – 2020 đã có trên 60 chuyến tàu TQ lấn vào EEZ của Indo. Nước này lúc nào của làm giảm các vụ này. Năm 2021 thì có 2 đụng độ trong vùng Natuna và việc TQ yêu cầu Indonesia ngừng thăm dò và khai thác dầu khí (theo các nhà ngoại giao TQ thì Indonesia đang thăm dò trong lãnh hải của TQ). Indonesia là một nước xuất khẩu dầu khí từ lâu và đây là lần đầu tiên Indo làm lớn việc này và đã từ chối tuân theo yêu cầu của TQ. 


Mặc dầu nay còn quá sớm để biết kết quả của cuộc họp “phối hợp” này nhưng đây là một bước tiến quan trọng trong vấn đề phối hợp nhằm ngăn cản các hành động quá trớn của TQ tại đây.  Việc họ sẽ làm gì – ngoài việc phối hợp có kêu gọi áp dụng luật biển UNCLOS, kêu gọi các nước ngoài vùng tham gia sẽ không quan trọng bằng việc Indonesia “thức tỉnh” về mối đe dọa của TQ tại BĐ. Có phải đây là việc thay đổi lập trường mới bớt thân TQ của Indo hay chỉ là hiện tượng nhất thời?


Kết luận tạm thời


Chính sách của chính quyền Biden đặt trọng tâm vào ĐNÁ và hơn nữa có mặt tại đây cho thấy ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ và chính sách này thúc đẩy các nước ASEAN trong BĐ. 


Chính sách này dựa trên luật quốc tế và trên lợi ích của từng nước chứ không phải theo bên nào, sẽ làm cho các nước ĐNA tái xét lập trường của họ đối với Hoa Kỳ và TQ. 


Các kinh nghiệm với chính sách thực thi đầu tư hay hứa đầu tư của TQ tại ĐNA nay cho thấy giới hạn của nó vì không mấy thành công (đường xe lửa cao tốc tại Jakarta, buôn bán quân cụ TQ cho Thái Lan, hứa đầu tư tại Philippines, các công trình xây dựng chung cư – thành phố cho người TQ  tại Malaysia, hay cách TQ ứng xử với VN). 


Các lời hứa (ví dụ Tập Cẩn Bình hứa không quân sự hóa các đảo nhân tạo vào 2015), cho thấy tuyên bố của TQ không đi song song với việc làm trên thực tế. Khi nghe lời chúc mừng đầu năm 2022 của Tập cẩn Bình thì TQ rất hòa hoãn, không nói đến Đài Loan, chỉ nói đến phát triển. Nó không đi đôi với những hành động dọa nạt đối với Đài Loan, đối với Phi, vv. TQ chỉ dừng tay khi thấy các nước khác phản đối và sẵn sàng can thiệp (lời của cựu TT Abe Nhật và của TT Biden về Đài Loan hay việc tăng ngân sách quốc phòng Nhật, AUKUS - hay cung cấp tàu ngầm nguyên tử cho Úc, vv).   


Rõ ràng là Biden có chính sách mới, nhẹ nhàng đối với ĐNÁ, khá rõ ràng và quyết liệt hơn so với cựu TT 45. Đã có nhiều cố gắng về phía Hoa Kỳ để củng cố, xiết chặt các đồng minh. Việc này cho thấy ông TT 46 trong một năm đã làm khá hơn trong chính sách ngoại giao với ĐNA.

Việc Indonesia phải lên tiếng “phối hợp” là một tiến bộ rõ ràng. VN nay sẽ có thêm đồng minh trong vùng BĐ. Một Indonesia giàu hơn, dân chủ và tự tin hơn (không hoàn toàn theo Hoa kỳ) sẽ là một đối trọng đối với sức ép của TQ tại ĐNA. 


Indonesia đã bỏ thái độ “thụ động và trung lập”. Nay họ tham gia nhiều hơn vào công việc BĐ và việc này sẽ giúp không những chính họ mà còn giúp VN và các nước trong khu vực quanh BĐ có lập trường đồng nhất hơn trước chính sách chia rẽ của TQ đối với ASEAN. Không phải không có lý do khi Phụ tá NT Kurt Campbell tuyên bố là Indonesia và VN sẽ là hai nước đóng góp vào tương lai ĐNA. 


Việc Indonesia kêu gọi phối hợp là một bước tiến không ngờ và là một điềm tốt.  Mong 2022 sẽ là năm Việt Nam có thêm đồng minh trong cuộc đương đầu với TQ tại Biển Đông. 


ĐXQ 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét