Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Ngô Thế Vinh: In Retrospect - Nguyễn Văn Trung - Nhìn Lại Một Hành Trình Trí Thức Lận Đận

“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1]Nguyễn Văn Trung

*
Hình 1: trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019. [nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]

TIỂU SỬ


Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930, tại làng Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; còn có bút hiệu là Phan Mai và Hoàng Thái Linh. Xuất thân trường Dòng Puginier và chủng viện Hoàng Nguyên trước khi chuyển qua học Chu Văn An, Hà Nội. Từ 1950 đến 1955 ông được gửi đi du học Âu châu, ban đầu ở Pháp rồi qua Bỉ, đậu cử nhân triết học Đại học Louvain, Bỉ. Năm 1955 về Sài Gòn dạy trường trung học Chu Văn An, và sau đó là Đại học Huế.

Năm 1961 ông trở lại Bỉ, trình luận án tiến sĩ về Phật Học cũng tại Đại học Louvain với đề tài: “La Conception Bouddhique du devenir, Essai sur la notion du devenir selon la Stharivanâda.”

Về nước ông dạy Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Đại học Huế. Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông là Trưởng ban Triết Tây phương, có thời gian được bầu làm Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sài Gòn (1969).

Khánh Hà: Mùa thu chết

Hìnnh minh hoạ, FreePik


Mùa thu chết là mùa thu đang sống
Cả đất trời vạn vật bỗng nở hoa
Sống một lần rồi tan tác lìa xa

Hẹn trở lại một mùa sau diễm tuyệt


Thu của đời nguời nhắc giờ từ biệt
Ra đi rồi là khuất bóng ngàn năm
Hạc nội mây ngàn mấy cõi xa xăm
Thanh thản tiêu diêu, không lần ngoảng lại


Đuờng trần thế còn đây sao xa ngái
Nguời đi rồi vẫn để lại dấu chân
Từng con đuờng, từng hè phố bâng khuâng
Sớm nắng chiều mưa, còn ai đứng đợi


Cuối nẻo đuờng sao nghe vời vợi
Kỷ niệm gánh gồng một kiếp nhân sinh

KH



Nguyễn Đặng Bắc Ninh: Một Thoáng Về Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm và tác giả

Hà Nội 1994:

Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo.

Suốt thời gian chúng tôi ở Hà Nội ông đến thăm nhiều lần vì khách sạn chúng tôi ở gần nhà ông trong khu phố cổ. Tôi nhớ một buổi sáng ông dẫn chúng tôi đi ăn bún riêu ở ngõ Tạm Thương. Lâu rồi không được ăn cua đồng, thấy ngon tuyệt. Ông tặng chúng tôi mấy quyển thơ và một cuốn băng do ông đọc. Và cả những lời thơ ông viết trên cuốn Tự Điển Việt Nam tặng chúng tôi, mang nặng hình ảnh quê hương:

Ta con chim cu về gù dặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm…

Trịnh Thanh Thủy: Cung Tích Biền, một đời hoa sương cỏ

Trong tuyển tập "Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử" nhà văn Cung Tích Biền đã cảm nhận đời mình là "đời hoa sương cỏ" và ông đang đi cho hết một đời hoa sương mỏng manh, bé nhỏ ấy. Tuyển tập này ghi lại toàn bộ các cuộc phỏng vấn ông và là một trong năm cuốn sách được ra mắt hôm nay. Bốn đứa con tinh thần khác của ông được trình làng là "Nhạc điệu của bầy Ong", "Bạch hoá", "Thằng Bắt Quỷ", và "Mùa xuân cô mơ Bay".

Nhà văn Cung Tích Biền và phu nhân Hoàng Thị Kim

Một sáng Thứ Bảy, giữa mùa thu Cali của quận Cam, quán Café & Té xinh xắn, thanh nhã được đón tiếp rất nhiều bằng hữu của Cung Tích Biền đến tham dự buổi ra mắt sách rất đặc biệt này. Đặc biệt là vì ông chưa từng ra mắt sách tại VN hay bất cứ nơi nào trước đây. Buổi RMS được tổ chức với mục đích chính là giới thiệu sách mới in cùng bạn bè đã lâu không được gặp nhau, nên không có người ngoài tham dự.

Từ sáng sớm nhà văn Đặng Thơ Thơ và hoạ sĩ Paulina Đàm đã có mặt để giúp bà Hoàng Thị Kim là phu nhân của nhà văn Cung Tích Biền sắp xếp mọi thứ, sẵn sàng cho một buổi ký sách và đón tiếp bạn bè. Nhiều nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và cả ca sĩ cũng có mặt. Những hiện diện ghi nhận được phía các nhà văn gồm có: Nhã Ca, Đặng Thơ Thơ, Phạm Phú Minh, Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Y Thư, Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương; phía các nhà thơ có Đặng Phú Phong, Thành Tôn, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần, Lê Đình Nhất Lang; bên hoạ sĩ có Nguyễn Đình Thuần và phu nhân, hoạ sĩ Paulina Đàm, cùng sự góp mặt của nhà báo Thanh Huy; ca sĩ Thu Vàng và phu quân Thân Trọng Mẫn. Một vài người bạn thân như Mai Tất Đắc và phu nhân, Lê Phước Bốn, Lê Hùng, Nguyễn Hà và phu nhân, Nguyễn Thị Phương Lan là em gái nhà văn Phùng Nguyễn và phu quân là Thắng….

h o à n g x u â n s ơ n: Biền

B I Ề N,
T Í C H T Ụ

[mừng hội sách Cung Tích Biền]



thao thao ừ*

viết

thaothao

viết bất tuyệt. viết

mời chào thế nhân

thập bát sung mãn như thần

dư vài tuổi lẻ

nắn gân cho đời


h o à n g x u â n s ơ n

tháng mười, 2021

*Thao: tên thật của tác giả CTB, và nhà xuất bản tên Thao Thao

Trần Thị Nguyệt Mai: Chúc mừng Thư Quán Bản Thảo Hai Mươi Tuổi

Thời gian như ngựa chạy tên bay. Thoáng chốc, TQBT đã hai mươi tuổi. Chẳng thể ngờ! Những người chủ trương dù lúc ban đầu đang ngấp nghé ở tuổi hưu xứ Mỹ nhưng vẫn còn mạnh tay khỏe chân, đầu óc, trái tim còn nồng nàn chữ nghĩa. Nay cộng thêm hai mươi năm, nghĩa là hai mươi lần sức lực đã giảm, đi đứng đã phải cần đến cái chân thứ ba, cộng thêm bệnh tật thời “máy móc rệu rạo” hoành hành. Họ chỉ còn lại trái tim mạnh mẽ với tình yêu văn chương và một tình bạn keo sơn, gắn bó. Văn chương thật diệu kỳ và thật đẹp biết bao!

Điển hình trong suốt ba ngày của tháng 7 năm nay, từ ngày 14 đến ngày 16, “nhóm Doãn Dân” gồm mười người từ những tiểu bang xa xôi đã cùng tụ họp đến nhà anh Trần Hoài Thư mang thêm sinh khí, tiếng nói cười nồng ấm cho ngôi nhà đã từ lâu hiu quạnh vì vắng bóng hiền nội của anh hiện trú ngụ trong nursing home. Họ đã giúp vệ sinh nhà cửa, vừa nói chuyện văn thơ: về nhà văn Doãn Dân, về những lần làm báo, đi sưu tập ở thư viện các Đại học Cornell và Yale của Hoa Kỳ, ... Ba ngày ấy đã được chị Doãn Cẩm Liên – con gái nhà văn Doãn Quốc Sỹ – ghi lại trong bài Thư Quán Bản Thảo và Trần Hoài Thư “Lì” đi trên số TQBT 94, tháng 8/2021:
... ba ngày dường như dài vô tận, với tràn trề âm thanh vui, với dư thừa màu xanh tưng bừng. Chúng tôi nói cười ròn tan, đọc thơ nói thơ, kẻ tung người hứng. Ai nấy đều vui vì có nhau.

Ba ngày khó quên

Cháu hỏi số 46
Chủ đề về Doãn Dân
Chú nói chú không còn
Nhưng sẽ in cho cháu
Thế rồi hai chú cháu
Cùng nhau xuống căn hầm
Cháu xếp giấy xếp trang
Chú dán bìa dán gáy…

*Song Thao: Vịt

Tượng ba chú vịt tại quê hương của foie gras Perigord (hình do tác giả chụp)

Vào một tiệm ăn Việt, mở tờ thực đơn, nếu có món bún măng vịt là có tôi. Tôi đã nghiện món tủ này đủ nơi đủ chỗ bên Canada cũng như bên Mỹ. Bên Mỹ, nhất là khu Little Saigon thì khỏi nói. Hầu như tiệm nào cũng có, tiệm nào cũng ngon. Không biết có phải vì ăn thịt vịt hay quên không mà tôi không nhớ tên một tiệm nào ở khu thủ đô của người Việt hải ngoại này. Có lẽ vì tiệm nào cũng sêm sêm như nhau. Tại Portland, đất của ông Từ Công Phụng, cũng có tiệm bán bún măng vịt rất ngon. Ông nhạc sĩ này dẫn tôi tới ăn nên tôi cũng chẳng cần nhớ tên tiệm. Bún măng vịt ngon thịt phải dày, mềm và đậm đà nhưng quan trọng là, theo khẩu vị của tôi, thịt phải để riêng trong một đĩa gỏi có nước mắm gừng. Chính đĩa gỏi này mới làm nên sự nghiệp của bún măng vịt. Thiếu nó là vất đi. Tại Vancouver, Canada, có nhiều tiệm đạt được tiêu chuẩn này. Nhưng tại Montreal chúng tôi thì hầu như không có tiệm bún măng vịt nào ra hồn. Trước khi có dịch Covid, có một tiệm mới mở trên đường Saint Laurent đạt được mức bún măng vịt ngon. Sau thời gian đóng cửa vì dịch, tiệm phẹc-mê-bu-tích vĩnh viễn luôn.

Thịt vịt không phải thứ hiếm ở Montreal. Tại các chợ tây cũng như chợ Việt, vịt của Lac Brome bán ê hề. Lac Brome chỉ cách thành phố Montreal chừng một tiếng lái xe là nơi nuôi vịt quy mô. Thành lập vào năm 1912, họ chuyên nuôi giống vịt Bắc Kinh. Vịt Bắc Kinh?

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

Trần Mộng Tú: Chùm Thơ Năm Chữ

Hình minh hoạ, Frepik

Lá Rơi


Một chiếc lá vừa rơi
Hai chiếc lá cùng rơi
Thôi em đừng ngờ vực
Mùa Thu đến thật rồi.

Hạt Nắng


Hạt nắng rơi rất tròn
Trên chiếc lá phai xanh
có con chim ngực đỏ
mổ hạt nắng rất nhanh

hạt nắng vỡ làm đôi
một nửa còn trên lá
một nửa chim mang đi
lá nghiêng mình ngơ ngác

Hình như Thu đã về.

Mưa Bụi


Xòe bàn tay ra hứng
Mưa lấm tấm trên tay
đường chỉ tay co lại
Trông giống như nụ cười

Mùa Thu Tới


Chân bước qua thềm nhà
nắng cũng vào tới cửa
nồi cơm ai vừa thổi
Cùng chín với mùa Thu.

Tiếng chim


Chim mổ trên mái nhà
Nghe như tiếng gõ cửa
ngập ngừng rồi bỏ đi
Không phải đâu, Thu về.

Khi Trở Về


Cầu thang thư và báo
chữ tràn ra đợi người
những phong thư chưa mở
ai lạ ai quen mình
những tờ giấy quảng cáo
Rao vặt cuộc tử sinh.

Mưa


Những hạt mưa lên tiếng
gọi mãi sợi tóc về
tóc đã đi theo nắng
Mưa như lệ đỏ hoe

Mặt Trời


Mặt trời gay gắt quá
Nên không soi rõ em
đốm lửa trong mắt anh
Một đời em soi suốt.

Trong Gương


Tôi nhìn tôi trong gương
Hai tôi hay là một
Hai mặt đối mặt nhau
Thời gian làm giám khảo

Nằm Mơ


Trong mơ thấy mình trẻ
thức dậy thấy mình già
muốn nằm xuống mơ lại
Trên gối tóc trắng phau

Trăng


Người đàn bà thức dậy
bỏ đi lúc mờ sương
vết trũng trên mặt giường
Còn ngập đầy bóng trăng.

Chiếc Lá


(Gửi BH)

Chẳng đọc được điều gì
Ngoài màu đỏ im lặng
chiếc lá ngậm câu Kinh
Tôi ngậm tên một người.

tmt-Tháng 10- 12- 2021

Trịnh Y Thư: Trần Vũ - Phép tính của một nho sĩ

1.

Hai phẩm cách đáng kể nhất của một nhà văn là ngôn ngữ và sự tưởng tượng. Nhà văn Trần Vũ – qua tập truyện Phép tính của một nho sĩ (Công ty sách Nhã Nam liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, 2019) – hình như có cả hai. Đây không phải là cuốn sách sáng tác theo công thức có sẵn, kể lể một câu chuyện mà người đọc chưa đọc hết mươi dòng đầu đã biết tác giả muốn nói gì, kết cục ra sao. Nó không phải là cuốn sách đọc qua là quên ngay, chẳng lưu lại trong bộ nhớ người đọc được vài sát-na. Nó khó khăn bắt người đọc trăn trở cùng nó, cùng chiêm nghiệm những góc cạnh đầy gai nhọn nhức nhối từ lịch sử đến siêu hình; từ bản thể đến bản nguyên con người; từ dục vọng thấp hèn đến lý tưởng cao vợi. Nó là cuốn sách đầy cá tính – You either hate it or love it, there is no midway here, no equidistance – để từ đó, hiển lộ một tính cách khai phá cực đoan hiếm thấy trong ngôi nhà văn chương Việt Nam. Những truyện ngắn của Trần Vũ trong tập truyện, tác giả viết không phải để làm cái gì phải đạo, viết không để làm vừa lòng ai, thậm chí viết để thách thức, để đưa ra một Cái Khác, một Lịch sử khác, một Thực tại khác. Bạn hoặc đồng ý, hăng hái tán thành, hoặc phẫn nộ phản đối, mà theo tôi, cả hai phản ứng đều là chỉ dấu cho sự thành công của ngòi bút, bởi như nhà văn Franz Kafka từng nói, “Một cuốn sách phải là chiếc búa tạ dùng để đập vỡ tan biển cả đóng băng bên trong chúng ta.”

Bao trùm trên tất cả những điều đó là thủ pháp siêu hư cấu mà tác giả sử dụng tới hạn trong hầu hết các truyện. Siêu hư cấu là một thủ pháp văn chương, trong đó phần tự sự, miêu thuật cũng như nhân vật luôn luôn nhắc nhở người đọc rằng những gì anh/chị đang đọc chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu, chẳng có gì thực. Siêu hư cấu phá bỏ bức tường ngăn chia giữa người viết và người đọc, xóa mờ đường biên, giải trừ tính lưỡng phân, giữa thế giới thực tại và thế giới hư cấu. Nó trực tiếp nhắm thẳng vào người đọc, khiến người đọc có thể tra vấn chính văn bản của câu chuyện. Hơn nữa, siêu hư cấu cho phép tác giả đắp thêm một tầng tưởng tượng bên trên tầng tưởng tượng thông thường thường thấy trong bất kỳ một tác phẩm tiểu thuyết hay truyện ngắn nào. Hiệu ứng của nó là một trải nghiệm văn chương bất chấp quy ước, gây thú vị cho người đọc, và làm bật mở những chiều kích bình thường không cảm nhận được. Sử dụng một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không gượng ép, thủ pháp siêu hư cấu đánh đổ rào cản nhận thức quy ước để sự thật hiển lộ, để đưa ra cái nhìn khác – tuy thậm xưng, gay gắt, nhưng lại vô cùng chính xác và đau đớn – về thân phận con người. Nói như thế bởi tôi đang nghĩ đến cuốn tiểu thuyết Chiến hữu trùng phùng của nhà văn Mạc Ngôn.

Gió ViVu: Abdulrazak Gurnah Được Trao Giải Nobel Văn Học - 2021

Abdulrazak Gurnah,
Hình 
PalFest - originally posted to Flickr as Abulrazak Gurnah on Hebron Panel,
CC BY 2.0, Wikipedia 

Abdulrazak Gurnah - nhà văn Anh gốc Tanzanian - người da đen đầu tiên đoạt giải Nobel văn học sau gần hai thập niên (sau Toni Morrison 1993) - ông được vinh danh là người cương quyết vạch trần thực chất của chủ nghĩa thực dân và niềm cảm thông sâu sa với số phận của những người tỵ nạn vì sự khác biệt về văn hóa lẫn cuộc sống ở mỗi đại lục.

"Đánh mất một quê hương" rồi đau khổ, nhớ thương, hoài niệm về quê xưa đã tạo cho Gurnah những nguồn cảm hứng để viết lên những tác phẩm để đời của ông."

Abdukrazak Gurnah sinh ngày 20 tháng 12 năm 1948 tại Sultanate, Zanzibar - bây giờ gọi là Tanzania (thuộc phía Đông Phi Châu - Ấn Độ Dương). Ông là người tỵ nạn đến Anh quốc sau cuộc nổi dậy ở Zanzibar vào thập niên 1960. Ông theo học tại University of London, sau đó lấy bằng tiến sĩ tại University of Kent, và ông cũng giảng dạy tại trường đại học này cho đến khi về hưu.

Sinh ra và lớn lên tại Zanzibar, một quần đảo ngoài khơi của Tanzania, Châu Phi. Từ thuở nhỏ, Gurnah không bao giờ nghĩ đến ông sẽ trở thành một nhà văn, vậy mà nay ông đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thế giới, đoạt giải Nobel văn học năm 2021.

Gió ViVu: Maria Ressa Được Trao Giải Nobel Hòa Bình - 2021

Maria Ressa
By Joshua Lim (Sky Harbor) -
Own work, CC BY-SA 3.0 ph,
Wikipedia
Maria Ressa - một phụ nữ Mỹ gốc Philippine - một nhà báo - một nhà tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận - đã được trao giải Nobel hòa bình. Bà Ressa là người đàn bà đầu tiên đoạt giải Nobel năm 2021. Cùng nhận giải với bà Ressa còn có nhà báo Dmitry Muratov, người đứng đầu tòa báo độc lập "Novays Gazeta"ở Nga.

Bà Maria Ressa sinh ngày 2 tháng 10 năm 1963 tại thủ đô Manila - Philippine. Cha mất lúc bà lên một tuổi. Bà theo mẹ đến Hoa Kỳ sống từ nhỏ. Bà tốt nghiệp tại Đại Học Princeton với hạng danh dự về tiếng Anh.

Đoạt giải Nobel về hòa bình là một vinh dự và cũng là một thắng lợi lớn lao của bà Ressa với sự tranh đấu không ngừng cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Philippine. Hội nhà báo hải ngoại của Philippine cũng hy vọng với giải thưởng danh dự này sẽ làm dư luận thế giới quan tâm đến sự đấu tranh đầy khó khăn, gian khổ của họ là hằng ngày luôn bị tấn công và đe dọa trên mạng thông tin xã hội. Những tòa báo trong nước bị kiểm duyệt, những nhà báo bị đánh đập, bắt bớ, tù đày và giết hại.

Philippine là một quốc gia thật đáng sợ đối với những nhà báo trên thế giới, vì những kẻ giết người rất ngang nhiên và không hề bị xét xử trước pháp luật.

Hội Nhà Báo Thế Giới đã xếp hạng: Philippine đứng hàng thứ ba trên thế giới là một quốc gia chuyên đàn áp, gây hại cho giới báo chí, chỉ thua sau Iraq và Mexico.

Trụ sở báo của Philippine ở Brussels, Bỉ đã đưa tin có 159 nhà báo đã bị giết ở trong nước Philippine từ năm 1990 đến 2020.

Đoạt giải Nobel về Hòa Bình - bà Maria Ressa đã thề quyết đấu tranh cho sự thật, cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Philippine và cho nền hòa bình lâu dài. Đối với bà Maria, việc thu thập tin tức là quan trọng hàng đầu và những người đưa tin phải được tự do nói lên sự thật, được luật pháp bảo vệ, và không nhượng bộ trước mọi bạo lực chống đối hay ngăn chận của chính phủ đương quyền muốn bưng bít sự thật.

Cung Tích Biền: Một Thời Nên Vắng Mặt

một

Lời âm u khói núi

Hãy rộng lòng với tôi những điều tôi đã nói.
Hãy hiểu cho tôi những điều tôi chưa nói.
CTB

Gọi rằng, tập thể những con người có-mặt-chúng-tôi, là một khu rừng. Rừng rú ấy non thế kỷ qua chỉ toàn cây trái độc. Cây này tỏa chất/khí độc làm tàn héo cây kia. Cây nọ rụng trái/giống độc xuống làm què quặt mầm non khác.

Cuộc anh em choảng nhau kịch liệt đang tới hồi cực điểm. Vừa mấy tháng qua là cuộc chơi nhãn hiệu Tết Mậu Thân. Một cuộc nhang khói quanh co, lẫn ngậm ngùi.

Quanh co, vì suy tới nghĩ lui vẫn ngần ấy nội dung tranh chấp. Có khi tới trăm năm cũng chỉ vậy. Có khi rối mù, tàn tật trí não hơn.

Ngậm ngùi qua-về, vì cái nôi mẹ ru con có giới hạn quá hẻo. Mẹ ru tuổi thơ. Tuổi lớn, tụi con chúng tự tính sổ với nhau. Bên này bên kia một lũy tre, cách một bờ mép chiến hào, qua một màn sương bờ lau sậy, vẫn ngần ấy anh em.

Cha lăn đùng rồi, có anh con cầm dao găm thay. Cha già nua, có anh con thông minh hơn nói hộ. Vẫn ngần ấy nội dung, ông cao từng nói, ông cố đã nói, ông nội từng khẳng định, cha của mình có bổ sung, tới mình thay mặt Buổi-hôm-nay, nói, phải đúng bon vậy. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Tôi ngồi rất lâu trong đêm thâu. Nghĩ về khói hương một ngày đầu năm mới. Những đóa hoa sẽ nở trong mùa xuân tới.

Người ta đồn rằng có những bà mẹ còn ôm cuốn kinh Phật trong lòng tay, và nhiều em bé còn mang theo món đồ chơi quà tết cha mẹ cho trước khi tử nạn.

Ngự Thuyết: Ra Đi (Trích từ MẸ, xuất bản 10/2021, thêm nhan đề)

Một buổi trưa mùa đông. Trời lạnh lẽo dù vẫn còn sót chút nắng vàng vọt, yếu ớt. Đã ba mươi ta, năm hết tết tới. Làng xóm vắng teo. Mọi người đều lui cui quanh quẩn trong nhà lo sửa soạn đón ngày Tết Nguyên Đán. Học trò con nít, khách hàng nghèo nàn thường xuyên của mẹ, đã nghỉ học, mẹ vẫn nách rổ khoai sắn một mình đi lang thang như người lưu lạc ngay trong làng xóm của mình. Không biết đi đâu, không mục đích.

Ở nhà thì buồn quá. Bất cứ cái chi, nơi cánh cửa, góc xó bếp, trên bàn thờ, dưới mái tranh, trong chiếc phản, ngoài sân cỏ, cũng đều nhắc nhở tới hình bóng của chồng, của con. Đi ra ngoài đường khuây khoả hơn. Thì phải đi. Hơn nữa, biết đâu lại “gặp mối”, kiếm thêm năm đồng ba trự đỡ khổ.

Đôi chân uể oải, rã rời, tuy nhiên, cũng còn đủ sức đưa mẹ tới nơi nghỉ trưa quen thuộc hàng ngày.

Mẹ đặt rổ khoai sắn ngay dưới gốc cây bàng cành lá xác xơ. Vài ba con kiến mon men bò tới ngay. Mẹ lượm một chiếc lá bàng rụng đỏ ối cầm khua khua đuổi mấy con kiến đi chỗ khác. Chúng lì lợm, bò ngay lên chiếc lá đang xua đuổi chúng. Mẹ ném chiếc lá đó về phía gốc cây bàng, lượm lá khác để đuổi kiến. Mẹ không muốn sát sanh. Mẹ luôn luôn nghĩ rằng mình tu nhân tích đức, không giết hại ai cả, dù một con kiến, thì con sẽ mau thoát được mọi hiểm nguy để về với mẹ.

Đằng sau cây bàng, một cái miếu nhỏ bỏ hoang lâu ngày. Mái ngói nhiều nơi đã vỡ; bốn tường đều rêu phong, nứt nẻ; bàn thờ không đèn, không bát nhang, vôi loang lổ lâu ngày xám, đen. Một con chim bé nhỏ từ trong vòm cây bỗng kêu lên mấy tiếng, rồi vụt bay đi, bay xa, bay qua bên kia con hói. Chim chi rứa, mẹ không biết tên. Mẹ nhìn theo cho đến khi mất dấu chim bay, rồi ngồi bệt xuống đất trong lòng chiếc nón lá rách.

Mẹ có nhớ rõ bữa ni ba mươi Tết. Không chừng con chim nó muốn nhắc mình đi qua cồn mồ thăm “ba hắng”. Mà nhắc nhở như rứa là “dư hơi” thôi, mẹ nói lên thành tiếng. Vì chiều ni ba mươi Tết làm răng mình không qua được, mà còn nhắc khéo. Tức cười, mẹ lầm bầm nói chuyện với con chim đã bay xa. Khi không có ai trước mặt, mẹ thường nói năng lẩn thẩn như người mất trí.

SÁCH MỚI NHẬN

Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được các sách do tác giả hoặc nhà xuất bản gửi tặng sau đây :

Vũ Mạn Tạp Lục Thư, nguyên văn chữ Hán của Ôn Khê Nguyễn Tấn, xuất bản lần đầu năm 1898,
do Nguyễn Đức Cung sưu tầm, khảo cứu, dịch và chú giải, 526 trang,
do nhà xuất bản Hà Nội ấn hành.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

100 năm Phạm Duy

Nhạc sỹ Phạm Duy sinh  ngày 5 tháng Mười năm 1921 tại Hà Nội, mất ngày 27 tháng 1, 2013 tại Sài Gòn. Tính tới năm nay, 2021, nhạc sỹ vừa tròn 100 tuổi.

Có khi nào chúng ta thử ngẫm nghĩ, trong một trăm năm qua nếu không có Phạm Duy, thì đời sống của người Việt Nam sẽ ra sao? Chắc mọi người có thể trả lời dễ dàng: "Tôi, tôi vẫn sống, tôi vẫn ăn, và tôi vẫn thở" như Phạm Duy đã hát trong bài Tâm Ca số 1 của ông. Vâng, mọi người vẫn ăn và vẫn thở để sống, nhưng về mặt tình cảm và tinh thần, nếu không có ông trong một trăm năm qua, đời sống của người Việt Nam sẽ nghèo đi nhiều. Phạm Duy đã cống hiến cho Việt Nam một sự nghiệp âm nhạc phong phú và đồ sộ khiến cho thế giới âm thanh của chúng ta trở nên lộng lẫy, xinh đẹp từ những nét tinh tế nhất đến những tình cảm rộng lớn bao la nhất.

Tưởng niệm ông hôm nay, Diễn Đàn Thế Kỷ chỉ xin đăng lại một số bài viết nho nhỏ của bạn bè có tính cách trao đổi thân tình với nhạc sỹ trong quá khứ, đồng thời mời độc giả xem một phim tài liệu ngắn về Phạm Duy có tên Người Tình Già, do Charlie Nguyễn và Y Sa thực hiện năm 2002, ghi lại một số hình ảnh và sinh hoạt của Phạm Duy tại Little Saigon, California, trước khi ông về lại Việt Nam và qua đời tại đó.

DĐTK


Trần Mộng Tú: Lời Cám Ơn Nhạc sĩ Phạm Duy

Trên mười ngón tay anh chẩy xuống ngàn ngàn dòng lệ long lanh ngũ sắc, bật lên những tiếng cười hoan ca cho dân tộc Việt.

Anh viết những dòng sử Việt bằng âm nhạc, anh bắn những nốt nhạc thay đạn vào suốt chiều dài của cuộc chiến chống ngoại xâm.

Anh nhắc nhở công ơn tổ tiên, anh hùng dân tộc mỗi ngày trên môi người Việt.

Anh khóc cười bằng nốt nhạc lời ca cho tình yêu, con người, quê hương, dân tộc,

Anh băng bó vết thương trong chiến tranh, anh đốt lửa tìm kiếm hòa bình.

Anh vung tay, mây trôi như lụa giũ, nước như thủy tinh vỡ, anh khắc hình cha Lạc Long Quân vào núi, núi không còn là đá, anh thả tình mẹ Âu Cơ xuống biển, biển không còn là đại dương.

Ngôn ngữ trong những ca khúc của anh trong suốt, lãng mạn, bát ngát tình tự dân tộc, đẹp như những viên ngọc trắng, trong như những giọt nước mưa.

Anh lên rừng, rừng thay lá, anh xuống suối, suối khóc òa. Bằng âm nhạc, bằng tình tự dân tộc anh đi từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu suốt cuộc đời mình không ngơi nghỉ.

Tình yêu quê hương trong ca từ của anh làm cho cả người hát và người nghe ứa lệ.

Lê Hữu: “Việt Nam, Việt Nam”, giấc mơ rạn vỡ

(Ảnh: Na Sơn)

Tôi nhớ, trong một lần được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ tin vui có thêm ít ca khúc của ông vừa được cấp phép phổ biến ở trong nước, tôi nói rằng có một bài tôi thực sự mong cho ông, hơn bất cứ bài nào khác, được phép lưu hành.

“Bài gì?” ông hỏi.

“Việt Nam, Việt Nam,” tôi nói.

Ông im lặng. Tôi nói thêm là tôi chờ cái ngày bài hát ấy được hát vang vang trên khắp mọi miền đất nước, hát vang vang trong màn kết thúc một chương trình nhạc Phạm Duy. Ông im lặng. Tôi gửi ông nghe/xem cho vui ít màn trình diễn bài hát ấy ở nước ngoài trước và sau ngày ông về nước. Ông im lặng. Tôi nghĩ mình hiểu được sự im lặng ấy, và không nhắc tên bài hát ấy nữa.

Vì sao bài hát ấy, bài “Việt Nam, Việt Nam”, vẫn chưa được cấp phép? Có gì lấn cấn chăng? Có “vấn đề” gì chăng?

Bài hát có những lời lẽ khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại và những giá trị phổ quát của các quyền làm người trong một đất nước tự do dân chủ.

Việt Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…

Phạm Xuân Đài: Cái Chết Trong Ca Khúc Phạm Duy

Trong buổi lễ tưởng niệm Ðỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:

1.

Hồn xuân vừa tàn hơi
Hay nắng ấm lung linh qua đời
Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời
Người yêu dù xa xôi
Xin nhớ tới quê hương u hoài
Trong giá rét đêm đông đang trông vời

Một lần người đưa tiễn nhau
Như vẫn cầu lời hứa năm nào
Ðằm thắm cho vui lòng nhau
Một lần người xa cách nhau
Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu
Vì đó... không ai quên đâu...

2.

Người đi về mai sau
Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu
Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu
Người đi vào không gian
Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn
Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn

Phim tài liệu NGƯỜI TÌNH GIÀ

Thân mời bạn đọc xem cuốn phim Người Tình Già, một phim tài liệu ngắn về nhạc sĩ Phạm Duy do Charlie Nguyễn và Y Sa thực hiện năm 2002, khi ông vẫn còn cư ngụ tại Thị Trấn Giữa Đàng (Midway City), trong khu vực Little Saigon, Nam California.





CÁC BÀI KHÁC


Nguyễn Đức Tùng: Nguyễn Linh Khiếu, Nếu Ta Có Một Nắm Đất

Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu
Thơ Nguyễn Linh Khiếu là dòng thơ trữ tình mới. Anh tin vào khả năng của ngôn ngữ trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa, mang đi ý niệm truyền sinh, phồn thực, ca ngợi thiên nhiên, trong khi vẫn thường xuyên tra hỏi các vấn nạn lịch sử. Đó là kết hợp giữa tự sự sinh thái và trữ tình xã hội. Những điều ấy được thực hiện trong thể thơ tự do, với những câu dài, kỹ thuật trùng điệp, với các nút thắt mở của trường ca. Nguyễn Linh Khiếu cần thơ trữ tình để vượt qua các khoảng cách, kết nối sự vật trong không gian và thời gian. Anh cũng vượt qua các tập quán, thiết chế, điển lễ, các rào cản xã hội, bằng cách đối thoại với thiên nhiên; và tôi cho rằng đó là chọn lựa thích hợp. Thơ của anh mở ra từng đợt như sóng, nhiều bài nối tiếp nhau, ngay cả những bài ngắn, độc lập, cũng dễ dàng được đặt vào giữa các bài khác, thành những chuỗi, thành chủ đề.

nếu ta có một nắm đất
ta sẽ vùi hạt hạnh vào trong
cầm trên tay đợi khi mùa xuân tới
hạt hạnh trong tay sẽ lặng lẽ nảy mầm

nếu ta có một cánh đồng
ta sẽ cày bừa xới vun đất đai màu mỡ
trên cánh đồng ta chỉ trồng hoa hạnh
ai đi qua cũng trầm trồ cánh đồng hoa hạnh của nhà thơ

nếu ta có một quốc gia
trên lãnh thổ nhiệt đới phì nhiêu của mình ta chỉ trồng hoa hạnh
người yêu hoa khắp thế gian hành hương về chiêm ngưỡng
thiên đường hoa hạnh của thi nhân.

Câu hỏi của Nguyễn Linh Khiếu nhiều hơn câu trả lời. Câu trả lời giới hạn trí tưởng tượng, trong khi câu hỏi mở rộng chúng. Câu hỏi của anh: chúng ta đến từ đâu, chúng ta là ai, tự do là gì, chúng ta đi về đâu, ý nghĩa của tồn tại của dân tộc. Thơ cũng cố gắng giải thích nhiều sự vật, tuy vậy giải thích không phải là công việc chính. Ngôn ngữ thơ cần một tiếp cận toàn bộ, trọn vẹn, không tách rời từng bộ phận. Câu hỏi: mỗi con người đứng ở đâu trong dòng chảy của lịch sử.

đây những người đàn ông bị săn lùng dồn đuổi tận cùng tuyệt diệt
đây những người đàn bà bị chà đạp bị giày vò hãm hiếp

Thiên nhiên đối với anh là hiện thực đẹp đẽ hoang dại, dung hợp cao quý và dung tục. Chất dã thú trong thiên nhiên của Nguyễn Linh Khiếu là sự hồn nhiên nguyên thủy. Cái tàn bạo đáng sợ, tính ác, cũng có mặt trong thơ anh nhưng không nổi bật bằng tính cao quý, thiêng liêng, sự liên tục, như người mẹ.

Trùng Dương: Nhân bộ báo Sóng Thần ‘tái xuất’ trên Mạng, duyệt qua các trang mạng sách báo Miền Nam


Bài này gồm hai phần, như nêu trong tựa bài. Phần đầu giới thiệu bộ báo Sóng Thần và một số báo khác do anh Võ Phi Hùng ở Virginia thực hiện, và được Kho Sách Xưa của ông Hùynh Chiếu Đẳng phổ biến gần đây. Và phần thứ hai nhằm duyệt lại và bổ túc một bài tôi soạn cách đây trên hai năm về các nỗ lực phục hồi sách báo xuất bản ở Miền Nam truớc 1975. Có thể còn những nỗ lực khác mà người viết không được biết tới, xin độc giả tùy nghi bổ túc.

Bộ báo Sóng Thần & kho báo Miền Nam


Vào đầu tháng Chín vừa qua, Võ Phi Hùng, một cựu học sinh Petrus Ký hiện đang cư ngụ tại tiểu bang Virgnia, viết thư cho nguyên tổng thư ký Uyên Thao và tôi, nguyên chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần (Saigon, 1971-1975), thông báolà đã gần hoàn tất việc scan xong bộ báo Sóng Thần từ toàn bộ bẩy cuộn microfilm 35mm mượn của thư viện Đại học Cornell qua chương trình Interlibrary Loan. Anh Hùng cho biết “đang tiến hành công việc chụp lại từng film một tại thư viện địa phương Fairfax Regional Library ở Fairfax, VA, và sau đó về nhà ráp từng trang lại thành một số báo.” Anh hy vọng trong hai tuần nữa thì hoàn tất.

Sóng Thần là một trong những bộ báo xuất bản tại Miền Nam, từ 1971 tới 1975, mà anh Hùng “vì yêu đọc sách báo và muốn phổ biến cho việc tham khảo các báo chí Việt Nam đã phát hành ở Miền Nam trước năm 1975” nên đã bỏ công sức ra thực hiện. Những báo kia, Hùng cho biết, hoặc đã hoàn tất, gồm có Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, và An Hà Nhật Báo, đã gởi đăng trên trang mạng Kho Sách Xưa; hoặc đang thực hiện, ngoài nhật báo Sóng Thần, là Chính Luận (tồn tại lâu nhất trong làng báo Miền Nam, từ 1964 đến 1975), Đông Pháp Thời Báo, và Đuốc Nhà Nam.

Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế 2021 Công Bố Các Phim Trình Chiếu Trên Màn Hình Trực Tuyến, Trong Rạp Và Drive-In

Bước vào năm thứ 12, với kỹ thuật chiếu phim trực tuyến (online), Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế (Viet Film Fest) 2021 sẽ giới thiệu một chương trình quy mô hơn nhằm tôn vinh những câu chuyện và văn hoá Việt trong điện ảnh. 

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 (Quận Cam, CA) - Viet Film Fest 2021, do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức, vừa công bố toàn bộ chương trình cho kỳ thứ 12 của Đại Hội trên trang nhà www.vietfilmfest.com. Bắt đầu từ ngày 15 đến 30 tháng 10, lần đầu tiên với phần chiếu trực tuyến (online), Viet Film Fest sẽ tiếp cận với khán giả trên toàn quốc tại Hoa Kỳ và quốc tế. Viet Film Fest 2021 sẽ tạo nhiều cơ hội cho các nhà làm phim đưa những tác phẩm của mình đến với khán giả và tiếp cận với khán giả qua các buổi “Hỏi & Đáp” trực tuyến. Với những suất chiếu trực tuyến khán giả có thể thoải mái xem phim ở nhà. Ngoài ra, Viet Film Fest sẽ có hai buổi chiếu drive-in và hai buổi chiếu tại rạp với sự tuân theo các nguyên tắc về an toàn và sức khỏe cộng đồng. 

“Đại dịch COVID-19 bắt buộc Viet Film Fest tổ chức lại cách thức chiếu phim. Chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi đã tìm ra cách để khán giả có thể xem phim một cách thoải mái,” Tony Nguyễn, Giám đốc kỹ thuật của Viet Film Fest 2021, cho biết. “Là Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam quốc tế lớn nhất ngoài Việt Nam, những suất chiếu trực tuyến năm nay sẽ cho phép chúng tôi tiếp tục gửi đến khán giả những câu chuyện, tiếng nói của người Việt trên toàn thế giới. ” 

Trong số các phim được gửi, tổng cộng 17 phim dài và 38 phim ngắn đã được tuyển chọn vào danh sách chính thức của Đại Hội Điện Ảnh năm nay. Trong số các phim truyện được chiếu trong liên hoan phim năm nay, có 6 phim chiếu lần đầu ở vùng Bắc Mỹ. Phim được gửi đến từ các quốc gia bao gồm Canada, Pháp, Đức, Việt Nam, Úc và Hoa Kỳ. Phim không nói tiếng Anh sẽ có phụ đề tiếng Anh. 


Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Lời Mở Đầu

Sau 11 năm vui buồn với bạn đọc hàng ngày, bắt đầu từ hôm nay, ngày 1 tháng Mười, 2021 Diễn Đàn Thế Kỷ sẽ đến với mọi người hàng tuần, vào ngày thứ Sáu.

Chúng tôi mở đầu số “tuần báo” đầu tiên với chủ đề nhà văn Võ Phiến, vì ngày 28 tháng Chín vừa rồi là ngày giỗ lần thứ sáu của ông, nhắc nhở nhiều kỷ niệm về ông. Bức ảnh trên đây được trích chụp lại từ bìa số báo Thế Kỷ 21 số 78, tháng Mười năm 1995, nhằm gợi lại vị trí lớn lao của nhà văn trong nền văn chương nước nhà từ nửa sau thế kỷ hai mươi cho tới nay.

Ước mong Diễn Đàn Thế Kỷ trong giai đoạn mới này vẫn tiếp tục được sự tham gia của văn hữu và sự quan tâm ủng hộ của đông đảo độc giả khắp nơi như bao năm qua.

DĐTK

Thư Võ Phiến: Chuyện Gia Đình

Los Angeles ngày 30.5.1991

Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Thư trước gửi anh đã hơn một tháng, nay mới lại có thì giờ để bắt đầu viết lá thư thứ ba.

Bây giờ xin nói về ba tôi. Ba tôi tên là Đoàn Thế Cần. Ba tôi mất năm 1983, thọ 80 tuổi; lúc ấy tôi được 58 tuổi. Suốt đời tôi, tổng cộng thời gian bố con tôi cùng sống chung dưới một mái nhà chắc là không tới ba năm. (Và thời gian tôi được sống gần má tôi có lẽ hơn chín năm, nhưng chưa tới mười năm). Tôi không có được bao nhiêu kinh nghiệm về tình cảm cha con. Có thể vì vậy mà trong các tác phẩm của tôi không thấy bao nhiêu nhân vật được hưởng thứ tình cảm ấy.

Tôi đoán một phần do ông nội tôi mất sớm nên ba tôi và chú tôi (ông nội tôi có hai con trai) đều không chịu học đến nơi đến chốn. Lúc bấy giờ trường Qui Nhơn đã có rồi, ba và chú tôi có thể học xong trung học dễ dàng; vậy mà không ai đủ kiên nhẫn. Ba tôi xong bậc tiểu học thì thôi; chú tôi tiếp tục vài năm trung học rồi cũng bỏ học luôn.

Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc

Hồi đó một người có bằng tiểu học (primaire) đã tìm được việc làm “tử tế”. Ba tôi làm giáo học ở huyện Hoài Ân, chẳng bao lâu xích mích thế nào với tri huyện Hoài Ân và bỏ việc. (Có điều ngộ nghĩnh là trước đó thân phụ của nhà tôi, sau khi hỏng tú tài ở Huế, cũng từng dạy ở Hoài Ân, cũng xích mích với quan huyện, và cũng bỏ việc.)

Nguyễn Hoàng Văn: Võ Phiến, tình nghĩa giáo khoa thư

Lần đầu tiên đọc Võ Phiến, tôi đọc trong sách giáo khoa. Cái đoạn trích của bài tuỳ bút trong trang sách học, như một bài văn kiểu mẫu, nói về cái thị xã già nua mà tôi đang ngày ngày hai buổi cắp sách tới trường: phố thị có cảnh người khách ngồi bên lề Chùa Cầu, hay Lai Viễn Kiều, vội vàng co chân mỗi khi có chiếc Landrover nào đó chạy ngang để khỏi bị quẹt.

Chùa Cầu ngày đó hãy còn xe cộ thung thăng qua lại và những ông thầy bói vừa ngồi ủ rũ đuổi ruồi vừa nghe ngóng khách hàng. Chùa Cầu với hình ảnh mấy con khỉ và chó ngồi trấn yểm mối hoạ của nước Nhật đã là biểu tượng cho niềm tự hào địa phương về những giao tiếp sớm sủa của mình, và bây giờ, trong ngòi bút của Võ Phiến, lại là bằng chứng sống động nhất cho sự chật hẹp và cổ lỗ của cái phố thị dưỡng già này.

Và Hội An, chốn phố thị ấy nhỏ thực, nhỏ hơn Đà Nẵng, cái đô thị sinh sau đẻ muộn nằm sát nách nó rất nhiều. Ngày nay người ngồi hai bên Lai Viễn Kiều khỏi phải co chân nữa vì cầu chỉ dành cho những người đi bộ với hai rào cản bằng gỗ cao ngang gối chặn ở hai đầu. Móng cầu nghe đâu đã lún. Những ông thầy bói đã bị đuổi đi từ lâu. Và mối giao tiếp bên ngoài của chốn phố buồn trong bài học ngày nào lại có dịp hồi phục với hình ảnh những du khách Tây phương lượn lờ đầy phố. Nhưng Võ Phiến chưa hề có dịp trở lại chốn ấy để một lần nữa bắt gặp lịch sử, bắt gặp cả cao lầu để ngồi đâu đó bẻ cúc cắc mấy mảng bánh tráng, ăn từ từ, vừa ăn vừa ngắm nghía những cây cột tròn to tướng và đen bóng để suy nghĩ về từng ngọn ngành chi li của cái lịch sử cao cả của vùng đất ấy...

Võ Phiến viết nhiều và viết với một giọng văn vừa dí dỏm vừa tinh tế như những sợi tóc chẻ ra làm tư làm tám, với những ý tưởng dàn trải từ đề tài rộng lớn nhất đến những cái nhỏ nhất và tinh tế nhất. Như có thể lắng tai nghe ngóng sự lay động của những chồi cây bật mầm giữa những âm thanh hỗn độn của một thời đại đang rầm rập chuyển mình, ông có thể lặng yên thả hồn theo sự lay động của một vạt áo dài, theo mùi hương nước mắm đọng trên đầu lưỡi bà cô già giữa những cơn trở mình trằn trọc với những băn khoăn phù thế, với những ý tưởng vô cùng buồn thảm về cuộc chiến tưởng sẽ không bao giờ dứt.

Trùng Dương: Mùa thu đi thăm nhà văn Võ Phiến

Tuần trước, qua điện thư, Phan Nhật Nam bảo, “Khi nào đi thăm ông bà Võ Phiến, bác rủ tôi đi với.” Thứ bẩy vừa rồi, 12 tháng 11 năm 2011, có dịp ghé Quận Cam, Nam Cali, bèn rủ. Chẳng ngờ tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa dẫn theo ông hàng xóm đặc biệt: tác giả Khu Rừng Lau Doãn Quốc Sỹ, mới dọn từ Houston qua sau khi người bạn đời mất. Tất nhiên là tôi không bỏ lỡ cơ hội thủ theo một cái máy hình. Tới nơi, lại gặp cả chủ bút báo điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ Phạm Phú Minh và nhà văn Ngự Thuyết, mới viết sau 1975 và là tác giả của nhiều bài viết nhiều tính sưu tập công phu. Như thường lệ, ông bà Võ Phiến tiếp đón chúng tôi niềm nở. Buổi viếng thăm ngắn ngủi song đượm tình đồng hương và, đặc biệt, văn nghệ.


Hai nhà văn lớn của nền văn học Miền Nam, Võ Phiến, trái, và Doãn Quốc Sỹ, phải. Cả hai ông nay cùng xấp xỉ 90, một người, ông Võ Phiến, ra đi từ 1975 vì biết số phận nào đã dành cho mình dưới chế độ Cộng sản của hận thù và thanh toán, chưa một lần đặt chân lại quê hương; trong khi ông Doãn Quốc Sỹ kẹt lại và bị cộng sản cầm tù trước sau cả thẩy 14 năm. Họ là những vì sao sáng và là niềm hãnh diện của nền văn học Việt Nam tự do, không chỉ vì danh mục tác phẩm đồ sộ của một đời cầm bút của mỗi người, mà còn vì tinh thần bất khuất trong sáng của những người cầm bút chân chính, tôn trọng sự thật và yêu thương chữ nghĩa.


Hình bên trái, từ trái qua, các nhà văn Ngự Thuyết, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam và Phạm Phú Minh. Hình bên mặt, bà Viễn Phố, tiền cảnh, ông Võ Phiến, giữa, và Trùng Dương. (TD, 11/2011)


Tài liệu đọc thêm:

Võ Phiến

Doãn Quốc Sỹ

Nguyễn Tường Thiết: Mưa đêm cuối năm

1975 - Năm đó tôi gặp lại anh thật bất ngờ. Đúng vào cái buổi sáng đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ. Chiều hôm trước chúng tôi được chuyển đến một trong bốn trung tâm tiếp cư cho nguời tỵ nạn, trại Indiantown Gap thuộc tiểu bang Pennsylvania. Sáng sau tôi đến Processing Center lập thủ tục nhập trại. Chúng tôi ở barrack số 8. Từ đó đến khu Trung Tâm tôi phải cuốc bộ khá xa, trên một con đường có hàng cây phong thâm thấp trồng rất thẳng hàng. Bên trái là dẫy mess halls một tầng nền xi-măng nhô cao mái màu xanh lá cây dùng làm phòng ăn cho dân tỵ nạn. Bên phải là bãi cỏ trống rất rộng hình như là sân banh của trại lính. Tuy là tháng sáu mùa hè nhưng sáng hôm đó trời cũng lành lạnh như đã vào thu. Khi đi qua cánh đồng cỏ trống tôi hít thở không khí của nước Mỹ và cảm thấy không khí nhẹ tênh. Một con sóc từ trên đùm lá phong thoăn thoắt đổ dọc thân cây, chạy băng mặt đường. Một con khác đứng cạnh thùng rác của barrack, nó đứng thẳng trên hai chân sau đang gậm nhấm thức ăn bằng hai chân trước, đôi mắt lơ láo nhìn tôi thách đố. Hồi đó tôi không quen thấy cái dạn dĩ của những con thú hoang nên rất đỗi ngạc nhiên.

Từ trái: Thế Uyên, Nguyễn Tường Thiết, ông và bà Võ Phiến

Làm xong thủ tục tôi đi lơ ngơ trong khu Trung Tâm nơi được xem là downtown của trại Indiantown Gap. Ở đây người tỵ nạn đông vô kể. Đông nhưng lại không ồn. Cố nhiên. Vui nhộn sao được những ngày tan tác ấy. Từng đám từng đám thầm lặng đứng xếp hàng. Đâu đâu cũng thấy xếp hàng. Tôi cũng tấp vào một đám đứng xếp không cần biết cái hàng này nó dẫn mình đến đâu. Nửa giờ sau khi đã lọt vào trong phòng tôi mới biết đó là nơi phát chẩn quần áo cũ. Mỗi người được chọn hai bộ. Tôi bước vào cái kho tôi tối dành cho đàn ông. Quần áo được móc tươm tất trên những giá cao đặt song song, giữa là lối hẹp người đi phải lách vai để tránh nhau. Tôi chọn cái sơ-mi ướm thử vào người. Không chắc ăn tôi lại đưa thẳng hai cánh tay ra trước căng cái áo ra ngắm nghía, vô tình tôi bước thụt lùi đụng mạnh vào đít một người đàn ông, chắc cũng đang lui cui thử áo như tôi. Tôi quay hẳn người lại tính nói xin lỗi. Bỗng tôi kêu lên sửng sốt: “Trời! Anh Võ Phiến...”.

Trần Hữu Thục: Võ Phiến - tâm và cảnh

Thế giới trong tác phẩm của Võ Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi những ý nghĩ thoáng qua, những nhớ, những tiếc, những trạng thái tâm lý tủn mủn tỉ mỉ, chợt buồn chợt vui, chợt băn khoăn, chợt xao xuyến. Đọc văn ông, chúng ta sốt ruột đợi một chuyện gì đó đáng đồng tiền bát gạo xảy ra: một cuộc tình, một tấn thảm kịch hay ít nhất cũng là một biến cố có ý nghĩa nào đó. Nhưng không. Ông nhẩn nha, nhẩn nha kể chuyện “trong nhà ngoài phố” y như thế giới này cứ thế, chẳng có gì quan trọng lắm, ghê gớm lắm. Võ Phiến bắt ta nhìn vào vật này, rồi nghe thứ âm thanh gì ở một xó xỉnh nọ. Ông bắt ta rờ cái này, thoắt cái, nhớ đến chuyện khác. Chuyện con kiến, tiếng thở, cái hắt hơi, tờ báo nằm trên đỉnh mùng, bàn tay đè trên sống mũi, mấy cái hũ mắm, vân vân…

Võ Phiến và Trần Hữu Thục

Ông kể chuyện một anh chàng dẫn mẹ đi khám bịnh, gặp cô y tá. Ta những tưởng sẽ có một mối tình lớn chi đây. Ấy thế mà, chẳng có gì cả. Chỉ thấy anh chàng nhìn, rồi nghe, rồi ngẫm nghĩ, rồi nhơ nhớ, rồi…Chẳng đâu ra đâu hết. Không hề có một mối tình da diết nào. Ông nhắc đến cái chéo áo bà mẹ vướng nơi cửa xe, mấy sợi lông măng trên tay cô gái…Hầu hết các “chuyện” của ông đều như thế, là thế. Trong Võ Phiến, dường như mọi chi tiết đều được tận dụng tối đa. Các giác quan đều rộng mở để tiếp nhận mọi ngóc nghách của cuộc sống chung quanh. Thêm vào đó là những hồi tưởng, liên tưởng, suy gẫm. Chúng ta đọc thử vài trích đoạn, nhặt ra một cách tình cờ từ các bài viết của ông: Chán rồi anh nghiêng đầu tò mò nhìn qua lỗ hở của sàn gác, trông thấy người chủ nhà của tầng dưới, một người đàn ông xấp xỉ năm mươi, mập mạp, tóc hớt “cua”, mặc cái quần đùi rộng thồng thềnh và dài tới đầu gối, nằm ôm đứa con nhỏ ngủ trên đi-văng, tay không rời chiếc quạt giấy thỉnh thoảng được phất một cái để đuổi muỗi. (Đèn ở nhà tầng dưới vẫn sáng vì ông chủ nhà có người con trai thường học khuya, chuẩn bị thi trung học năm nay). Có lúc, Mạnh nằm yên nghe tiếng xe chạy rêm rêm trên khắp các nẽo đường đô thành, nghe như thế rất lâu.

Phạm Xuân Đài: Nhà văn Võ Phiến an hưởng tuổi già

Ở tuổi 86, hiện nay nhà văn Võ Phiến đang sống những ngày an hưởng tuổi già trong tình thân của gia đình và bạn bè. Từ năm 1980 làm việc và cư ngụ tại Highland Park City thuộc Los Angeles, nhưng vào năm 2003 ông bà Võ Phiến đã mua nhà tại Santa Ana và dời hẳn về đây, để gần gũi con cháu và bạn bè người Việt Nam.

Họp mặt tại nhà ông bà Võ Phiến dịp Tết Kỷ Sửu 2009. Từ trái : Hà Dương Thị Quyên, Thái Vân, Trần Mộng Tú, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Tường Thiết, Phạm Phú Minh, Võ Phiến-Viễn Phố, bà Đỗ Ngọc Yến.

Ngôi nhà cũng êm đềm như cuộc sống của ông bà. Trong một cư xá yên tĩnh cuối đường số 5 thuộc thành phố Santa Ana, ngôi nhà hai tầng nhỏ nhắn xinh xắn, có một mảnh vườn be bé bên cạnh với những cây hoa hồng ở bờ dậu, cây quít, cây hồng dòn, cây thanh long và những cây hoa khác chạy vòng ra đến sân sau. Đó là nơi để bà Viễn Phố (tức bà Võ Phiến) săn sóc cây cỏ hàng ngày, và là nơi mỗi buổi sáng nhà văn Võ Phiến đi tha thẩn ngắm lá, ngắm hoa, tức là thưởng thức tài chăm nom vườn tược của bà.

Nếu căn nhà ở Los Angeles là nơi sống để làm việc, thì ngôi nhà hai tầng ở Santa Ana là nơi để an hưởng tuổi già. Cả hai căn nhà đều có đặc tính chung gọn gàng, văn vẻ, một chút gì có thể gọi là thơ mộng. Nhà ở Los Angeles tuy xa Little Saigon nơi tập trung đông đảo người tị nạn Việt Nam, nhưng các văn hữu xa gần vẫn thường lui tới thăm ông bà, và ai cũng ưa thích vẻ thanh tao và mỹ thuật của ngôi nhà lẫn vườn cây. Trong khu vườn khá rộng trồng nhiều loại cây ăn trái, có dựng bức tượng bán thân bằng đồng của nhà văn Võ Phiến, tác phẩm của điêu khắc gia Ưu Đàm, một nghệ sĩ di dân thuộc thế hệ thứ hai. Trong khung cảnh của căn nhà Los Angeles, nhà văn Võ Phiến đã viết các tác phẩm quan trọng của ông tại hải ngoại: Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, Thư Gửi Bạn, Nguyên Vẹn, Truyện Thật Ngắn, Đối Thoại, bộ Văn Học Miền Nam v.v... Võ Phiến đã sống tại đây từ năm 1980, và sau 15 năm đi làm công chức cho thành phố Los Angeles ông nghỉ hưu vào năm 1992, vẫn tiếp tục sống và viết tại đây 11 năm nữa. Đến năm 2000 khi bà Võ Phiến nghỉ hưu, không còn nhu cầu ở gần sở làm nữa, thì hai ông bà mới dần dần có ý định dời về vùng Orange County để gần con cái và bạn bè hơn. Việc đó đã được thực hiện năm 2003, sau 23 năm cư ngụ tại Los Angeles.

Võ Phiến: Rụp Rụp

Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt và một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, ngồi im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.

Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể nhìn hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến với người Tàu Quảng Đông, người Tàu tỉnh này với người Tàu tỉnh khác.1

Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi có dăm ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt lấy làm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với các tiệm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi có thể nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với một người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Bình Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách khác, tôi có cảm tưởng mình cũng... tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!

Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, kbông vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó; tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v... Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Động tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.